Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:51:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam không thể nào quên - Quyển 2  (Đọc 21824 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2023, 07:59:34 pm »

Đường đến Việt Nam

Sáng sớm ngày 31 tháng 8 năm 1965, chúng tôi được triệu tập đến nhà họp dành cho sĩ quan và được thông báo: nơi đến công tác là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian lên đường là 6 giờ sáng ngày 01 tháng 9. Yêu cầu từ thời điểm này, không ai được rời doanh trại, vì thời gian và địa điểm thực hiện những nhiệm vụ quân sự là bí mật quốc gia. Một đồng chí mặc thường phục đã thông tin cho chúng tôi về tình hình chính trị - quân sự ở Đông Dương. Buổi nói chuyện kéo dài vài tiếng đồng hồ.

Qua buổi nghe nói chuyện, chúng tôi hiểu Việt Nam là một nước nông nghiệp, 80% dân số sống ở nông thôn. Lương thực chính là lúa. Lãnh thổ Việt Nam có diện tích 330.000 km2, có chiều dài tính từ cực Bắc đến cực Nam là 1750 km và chiều rộng từ Đông sang Tây là 600 km. Việt Nam có 3800 km chiều dài bờ biển. Việt Nam có gần 80 triệu người. (Đây là con số của bạn, tôi hiểu khi đó Việt Nam chưa có đến 80 triệu người - ND), gồm trên 50 dân tộc, như dân tộc Kinh chiếm tới 88%, dân tộc Hoa chiếm 4%, dân tộc Thái, dân tộc Mường, dân tộc Mèo v.v... Khí hậu ở Việt Nam là nhiệt đới gió mùa. Thời tiết mùa xuân và mùa thu không ổn định, miền duyên hải hay có bão. Nhiệt độ trung bình ít thay đổi và dao động từ +25 độ C đến +29 độ C.

Rừng núi chiếm phần lớn diện tích của cả nước, tới 40%. Có 2 sông lớn là sông Mê Kong và sông Hồng, về mùa mưa, mực nước 2 sông này được dâng lên cao, có thời kỳ cao hơn 10 mét. Việt Nam có nhiều sông với dòng chảy mạnh và có nhiều cảng.

Hà Nội là Thủ đô của Việt Nam. Hà Nội có truyền thuyết rất hay về sự hình thành của vùng đất này. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ - người sáng lập ra Triều Lý, đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về vùng có vị trí chiến lược lợi thế nhất. Khi thuyền của nhà vua tới bờ, nhà vua thấy hình ảnh có một con rồng vàng đang bay lên trời. Đó là một dấu hiệu tốt đẹp và ngài đã quyết định đặt tên gọi mới cho Thủ đô là Thăng Long. Các thành phố lớn ở Việt Nam, ngoài Bắc có Hải Phòng - thành phố công nghiệp và cảng biển, Nam Định, Vinh, Thanh Hóa, Hòn Gai; trong Nam có Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang. Mỗi thành phố đều có lịch sử và thắng cảnh riêng của mình. Chẳng hạn như Nha Trang nổi tiếng về những tháp của người Chăm được xây dựng từ thế kỷ VIII và hoàn thành vào thế kỷ XII. Hiện nay chỉ còn lại 4 tháp, một trong số đó là tháp Sivo, thứ 2 là tháp Ganese, thứ 3 là Uma - đây là ngọn tháp cao nhất và cuối cùng là tháp của vợ vua Sivo. Ngay ở cửa vào tháp thử 4 là pho tượng toàn thân vua Sivo có 4 tay ngồi trên lưng trâu. Nội thất của tháp vẫn được giữ nguyên như xưa. Người dân vẫn cầu nguyện thánh Bo Noga là người dạy dân nghệ thuật trồng lúa.

Có cần phải nói là tôi rất muốn đến đó tham quan tháp? Nghe báo cáo viên, tôi đã tin và lại không tin rằng sau vài ngày nữa chúng tôi sẽ sống trong rừng và dạo chơi trong các vườn xoài.

Báo cáo viên thứ 2, có lẽ người của Bộ Ngoại giao hoặc Tổng cục Tình báo, đã khái quát bức tranh về tình hình chính trị - quân sự ở Đông Dương. Tính đến nửa năm 1965, số lượng quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam trong 1 năm đã tăng từ 30 nghìn đến 200 nghìn người. Ngoài ra, Mỹ còn có 56 nghìn lính hải quân và phi công trên Hạm đội 7. Thêm vào đó là 25 nghìn lính Pắc Chung Hy, Uc và Tân Tây Lan. Quân đội Ngụy Sài Gòn có khoảng 600 nghìn người.

Chiến tranh đã trở thành thực tế hàng ngày ở Việt Nam. Từ tháng 4 năm 1965, Mỹ đã bắt đầu các cuộc tập kích bằng không quân không chỉ vào các mục tiêu quân sự mà cả vào các công trình dân sự, vào Thủ đô và các thành phố ở miền Bắc Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, miền Nam Việt Nam trở thành tiền tuyến lớn và miền Bắc trở thành hậu phương lớn.

Sau mỗi lần nghe báo cáo viên nói chuyện, tôi càng hiểu chúng tôi sẽ đương đầu với kẻ thù vừa mạnh, vừa xảo quyệt. Nét mặt của các bạn trẻ trở nên nghiêm nghị hơn. Trong số đó, tôi có những người bạn đồng cấp cùng Trung đoàn như Trung úy Bulgakov, Vagin, Borođin.

Chúng tôi chuẩn bị lên máy bay với tâm trạng buồn. Mỗi người được trao hộ chiếu ra nước ngoài, còn chứng minh thư, thẻ đảng viên, chúng tôi giao cho người đại diện của Cục 10 Bộ tổng Tham mưu. Ngày mai lên đường. Tôi xin phép trưởng đoàn được về nhà một đêm. Sáng sớm ngày 01 tháng 9, xe ô tô buýt đưa chúng tôi ra sân bay. Đã đến giờ cất cánh, song có gì đó không bình thường, Sư đoàn trưởng, Thiếu tướng Guso được mời vào trong nhà của sân bay. Sau một giờ, chúng tôi được lệnh lên xe trở lại thị trấn Sao Đỏ của thành phố Yakutsk. Chúng tôi nhớ lại điềm gở phải quay trở lại. Chúng tôi ngủ trong doanh trại của những người lính. 4 giờ sáng ngày 02 tháng 9 có báo động và tất cả chúng tôi bật dậy, nhanh chóng ra xe ô tô và đi ra sân bay. Một bầu không khí im lặng bao trùm cả trong xe, cả trên sân bay. Ai cũng sợ nói, vì nói sẽ có điềm gở, bỗng lại có lệnh dừng chuyến đi.

Chúng tôi làm công tác kiểm tra xuất cảnh nhanh và chiếu lệ. Tiễn chúng tôi lên đường có Tư lệnh trưởng Sư đoàn và một số đồng chí nữa. Tất cả đều chúc chúng tôi sẽ quay trở lại Tổ quốc sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đoàn chúng tôi lên máy bay IL-18.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Ba, 2023, 10:59:27 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2023, 08:00:38 pm »

Tư lệnh Sư đoàn lên máy bay chúc mừng chúng tôi. Song mọi người cảm thấy lâng lâng như đang bay! Vang lên tiếng cười đùa. Chúng tôi biết đây là máy bay quân sự, người lái cũng là lính và tất cả họ đều chưa sang Việt Nam lần nào. Một câu hỏi được nêu ra là chúng tôi đem theo cái gì. Sau khi nghe chúng tôi kể là trong đoàn nghiêm cấm đem theo rượu và đồ ăn đi theo, các phi công đã buồn thực sự. Trả lời thắc mắc của chúng tôi ở dạng: “Thế vậy thì được đem theo cái gì?” họ trả lời rất hóm hỉnh “Các đồng chí bay đến đó và các đồng chí sẽ biết!!”.

Máy bay đã cất cánh và bay trên bầu trời. Sau 1 tiếng bay, chúng tôi đã qua biên giới Mông Cổ. Không rời khỏi cửa ánh sáng trên máy bay, tôi quan sát cảnh quan bên dưới. Những đàn ngựa, đàn cừu đang say đắm với những mồi ngon trên cánh đồng cỏ của đất nước Mông Cổ.

Tiếp sau đó là những cồn cát sa mạc, phía trước mắt tôi là một dải đất lạ? Tôi hỏi tổ lái mới biết đó là Vạn lý Trường thành của Trung Quốc. Tôi vui mừng thông báo tin này tới mọi người. Thế là mọi người đổ xô về bên phải máy bay để xem một trong các kỳ quan của thế giới. Bỗng máy bay tròng trành nghiêng về phía bên phải. Đồng chí hoa tiêu từ buồng lái đi ra và hét toáng lên để ai về chỗ người đó, không làm cho máy bay bị tròng trành nữa.

Chúng tôi được nghỉ quá cảnh tại Bắc Kinh. Thời gian này ở Bắc Kinh đang diễn ra cuộc Cách mạng văn hóa. Nhạc điệu nghiêm trang “Quốc tế ca” được phát ra từ các loa phóng thanh. Cùng lúc đó là bài Quốc ca Trung Quốc. Tôi trở nên tò mò không biết họ dịch bài Quốc tế ca ra tiếng Trung như thế nào? Vì từ vựng của bài hát này bao gồm những âm tố phức tạp.

Chúng tôi ra cầu thang máy bay để xuống đất. Các nhân viên Sứ quán Liên Xô cùng các đại diện của Trung Quốc ra đón chúng tôi. Trong phòng nghỉ ở sân bay sạch bóng như băng tuyết, nền nhà được lát đá hoa cẩm thạch. Chúng tôi thận trọng bước từng bước và ngồi vào bàn. Trên mỗi bàn đều có trước tác Mao Trạch Đông và ảnh, huy hiệu, tờ rơi của Mao Trạch Đông. Chúng tôi không đoái hoài đến những thứ đó và ngồi chờ bữa ăn trưa.

Sau một lúc, bức rèm ngăn phòng chúng tôi đang ngồi chờ được kéo mở ra và trước chúng tôi là một dãy bàn dài. Trên bàn được bày la liệt các món ăn, có cả rượu cô nhắc, votka, rượu vang và một số món không biết gọi là gì.

Chúng tôi chưa biết phải làm như thế nào. Vì ngồi cùng chúng tôi là các chiến sĩ mà họ lại bị cấm uống rượu. Còn các sĩ quan... họ được uống rượu chứ! Tất cả mọi người đều chăm chú nhìn vào Trưởng đoàn, còn Trưởng đoàn lại nhìn vào Đại điện của Sứ quán với ánh mắt như dò hỏi “uống hay không uống?”.

Người đại diện Sứ quán đứng dậy và lên tiếng như ra lệnh: “Tôi đề nghị tất cả chúng ta hãy nâng cốc”. Thế là các sĩ quan nhanh chóng cầm lấy chai cô nhắc các chiến sĩ bắt đầu uống các đồ giải khát, rồi chuyển sang uống rượu vang và loại rượu nặng hơn một chút... Cốc đầu tiên chúc tình hữu nghị Xô - Trung. Bắt đầu dùng các món ăn nguội. Các nữ tiếp viên nói tiếng Nga trơn tru, giải thích cho chúng tôi đây là xúp tôm, đây là trứng rùa, vây cá mập, v.v... Chúng tôi đang thưởng thức món khai vị, các tiếp viên đã đem tiếp món nóng thứ 1, thứ 2 và còn nữa. Chúng tôi đã ăn no, uống say, song các tiếp viên vẫn tiếp tục đem thức ăn ra. Chỉ tiếc là không được đem lên máy bay vì còn phải bay lâu.

Sau khi ăn trưa, chúng tôi được đi thăm thành phố Bắc Kinh. Chúng tôi thấy thành phố sạch sẽ và có nhiều cây xanh. Rất ít thấy ô tô, chủ yếu là xe đạp, xe máy và xích lô. Trước tiên, chúng tôi được đưa đến tham quan sông Dương Tử, nơi mà “Người cầm lái vĩ đại” Mao Trạch Đông đã cùng hàng trăm thanh niên Trung Quốc bơi vượt qua sông. Một dòng sông rộng, nước phù sa và chảy xiết. Có nghĩa là bơi qua được dòng sông này phải là người thanh niên cường tráng. Để chứng minh điều này, các bạn Trung Quốc đã đưa đoàn chúng tôi đến thăm sông Dương Tử.

Chúng tôi chỉ được xem bên ngoài Cung điện nhà vua. Tuy thế chúng tôi vẫn trầm trồ ca ngợi tài nghệ của các kiến trúc sư cổ xưa của Trung Quốc. Công trình tiếp theo là Quảng trường Thiên An Môn, dịch ra có nghĩa là quảng trường dưới bầu trời bình yên.

Quảng trường Thiên An Môn là một trong những quảng trường lớn trên thế giới, là trung tâm chính trị - hành chính của thành phố. Bao bọc quảng trường là những ngôi nhà có sắc thái khác nhau, ở phía Bắc là Cổng thành Thiên An Môn, phía trên cổng thành là khán đài dành cho Chính phủ trong thời gian duyệt binh. Phía Nam cũng có cổng thành Hạ Môn là di tích còn lại của thành cổ Bắc Kinh. Phía Tây là Đại lễ đường Quốc hội. Trung tâm Quảng trường được dựng một đài tưởng niệm người anh hùng của dân tộc.

Cuộc dạo chơi của chúng tôi ở Bắc Kinh đã đến hồi kết. Chiều ngày thứ 2, chúng tôi được đưa ra sân bay. Chúng tôi tiếp tục bay và cũng nghỉ quá cảnh tại một thành phố gọi là Trần Sa. Tại đây, chúng tôi cũng được đi dạo phố. Trước khi máy bay cất cánh, các bạn Trung Quốc tặng chúng tôi rất nhiều dưa hấu. Máy bay tiếp tục cất cánh và bay về phương Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2023, 08:03:02 pm »

Những bất ngờ đầu tiên

Máy bay chúng tôi bay trên lãnh thổ Trung Quốc thêm vài giờ. Qua cửa ánh sáng trên máy bay, tôi đã nhìn thấy biển xanh mênh mông. Chẳng khác nào như một bàn cờ, chúng tôi có thể nhìn thấy những cánh đồng lúa xanh tươi. Tổ lái đã thông báo cho chúng tôi là máy bay đã qua biên giới Việt Nam. Tất cả chúng tôi đều dán mắt vào các cửa ánh sáng trên máy bay. ôi bức tranh sơn thủy không hề thay đổi. Núi, rừng và cánh đồng lúa bất tận. Máy bay đang hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm. Với tâm trạng vừa vui, vừa hồi hộp chúng tôi đặt chân lên đất Việt Nam.

Theo kế hoạch đã được thông báo trước, ra sân bay đón chúng tôi sẽ có Thiếu tướng Bagienov Nikolai Ivanovich - Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, đoàn đại diện Quân đội nhân dân Việt Nam và các chuyên gia quân sự Liên Xô đã sang Việt Nam hồi tháng 3 và tháng 7 năm 1965. Song đồng chí Thiếu tướng chưa đến. Bạt được dựng ngay bên cạnh để ăn tối. Chúng tôi đem dưa hấu Trung Quốc vào bữa ăn tối và ngồi chờ đồng chí Thiếu tướng. Một người đàn ông trung tuổi, đi đôi dép cao su, đầu đội loại mũ mà chúng tôi lần đầu tiên mới biết, đã mời tất cả chúng tôi ngồi vào bàn. Tôi dò hỏi mới biết người đó chính là Thiếu tướng Bagienov. Bữa ăn tối vẫn được chuẩn bị theo thực đơn Nga. Các chuyên gia sang Việt Nam đợt trước chúng tôi đã đến, chúc mừng chúng tôi đã hạ cánh an toàn và hỏi luôn một câu: “Các bạn đem theo sang được nhiều cá trích và bánh mì đen không?”. Đó là câu hỏi bất ngờ đối với chúng tôi. Im lặng, chúng tôi nhìn nhau. Nhìn thấy sự bối rối của chúng tôi, các đồng chí ấy buồn và nhún vai. Các đồng chí phi công với vẻ bực mình và cười nói: “Chúng tôi đã nói là không có nhận áo măng tô san và áo sơ mi...”. Đó là thất bại đầu tiên trong chuyến công tác. Ngay tại sân bay Gia Lâm, chúng tôi đã nộp hộ chiếu cho đại diện Sứ quán Liên Xô. Như thế trong người chúng tôi không có một loại giấy tờ tùy thân nào. Thời điểm này, chúng tôi chẳng khác nào người vô gia cư thực thụ.

Các đồng chí Việt Nam dùng xe ô tô loại chiến lợi phẩm của Pháp để đưa chúng tôi về nơi ở và phải đi vào ban đêm. Đường bị bom Mỹ phá hỏng, song xe ô tô vẫn phải chạy bằng đèn gầm. Ở nông thôn càng ít ánh sáng, phải đảm bảo tốt công tác ngụy trang. Đến cửa ngõ Thủ đô Hà Nội, xe chúng tôi phải dừng lại trước đồn Cảnh sát giao thông. Các đồng chí cảnh sát xem kỹ giấy tờ của chúng tôi, nhìn vào trong xe và khi đồng chí phiên dịch nói đây là các chuyên gia Liên Xô, các đồng chí Cảnh sát nở nụ cười rất tươi, vẫy tay và mở ba-ri-e cho xe chúng tôi đi. Hà Nội đón chúng tôi trong bầu không khí bình an. Mặc dù thành phố ít ánh sáng, song vẫn có nhiều người đi dạo phố. Ít xe ô tô chạy trên phố. Đường phố hẹp, nên lái xe luôn bấm còi xin đường. Không tin nổi là một đất nước như Việt Nam đang tiến hành một cuộc chiến tranh ác liệt chống một kẻ thù mạnh như thế. Chúng tôi đã qua cầu Long Biên vào thành phố.

Thời gian đi trong phố cũng khá lâu. Vì thế, khi chúng tôi đi đến khu sát ngoại thành Hà Nội, người dân đã nằm ngủ trên hè phố. Chỉ cần trải chiếu ra nền xi măng hoặc nền gạch, không cần mái che, thế là người ta có một giấc ngủ ngon. Chúng tôi thấy lạ và ngạc nhiên bởi hiện tượng này. Đồng chí phiên dịch giải thích cho chúng tôi vì ban ngày trời nắng, nhiệt độ trong các nhà đá hoặc mái tôn sẽ rất cao, độ ẩm trong không khí cũng cao, nên buổi tối trong các ngôi nhà đó rất ngột ngạt. Chính vì thế, buổi tối người ta ra khỏi nhà, tìm nơi thoáng mát ngoài phố để ngủ. Đối với người Việt Nam, sân hoặc hành lang ngoài phố đều là nhà.

Sau 2 tiếng đồng hồ chúng tôi ra khỏi thành phố. Một bóng tối dày đặc bao trùm chúng tôi. Con đường nhỏ đến doanh trại của chúng tôi cũng bị bom Mỹ cày xới, bắt buộc chúng tôi phải đi vòng. Vì nóng bức mà áo của chúng tôi lấm tấm mồ hôi. Các cửa kính trên xe đều mở, nên rất nhiều muỗi bay vào trong xe. Mãi nửa đêm xe mới đưa chúng tôi đến nơi ở. Không bật điện sáng hoặc đốt đèn, các đồng chí Việt Nam bố trí chúng tôi ở trong một nhà lán tạm thời được chia thành từng phòng. Cửa sổ được che kín bằng chiếu. Giường sắt dùng cho chiến sĩ được trải đệm và ga. Muốn phơi quần áo chỉ việc treo lên giường. Mặc dù sau một ngày hành quân vất vả, song không sao ngủ được. Tôi nhớ lại những gì đã được nhìn thấy trong những ngày qua. Lo cho người vợ, không biết sẽ ra sao khi tôi không ở nhà...

Hình như tôi không ngủ được. Tôi nghĩ lung mung. Tại sao người Việt Nam quá cực nhọc? Tại sao máy bay Mỹ lại bay vào không phận Việt Nam? Chúng tôi phải làm gì? Chạy đi đâu? Hầm tránh bom ở đâu? Nghe rõ tiếng nổ giòn giã của pháo cao xạ và những đợt bắn của súng tiểu liên. Họ bắn vào ai? Tôi ra lệnh cho cấp dưới:

- Tất cả dậy! Báo động!

Chúng tôi chạy ra ngoài đường. Trời hết sức tối. Các đợt bắn của pháo cao xạ và súng máy đã tạo ra những tia sáng soi mặt đường. Trên trời máy bay địch gầm thét. Dưới mặt đất, pháo cao xạ và súng máy thi nhau nhả đạn vào máy bay địch. Tôi tức giận vì mình bất lực. Các chiến sĩ ở xung quanh tôi chẳng khác nào đàn gà con đang vây quanh mẹ. Không biểu hiện run sợ, tôi ra lệnh: “nằm xuống”. Tôi là người đầu tiên nằm xuống ngay vũng nước gì đó. Các chiến sĩ cũng nằm bên cạnh tôi. Máy bay bay qua đầu chúng tôi, nhưng tiếng bom nổ ở phía nào đó. Thời gian cũng khá lâu, song chưa rõ đã kết thúc cuộc hỗn loạn đó chưa. Trước tiên là máy bay phải bay đi khỏi đây và sau đó mới im tiếng súng cao xạ và súng máy, vẫn còn một đèn chiếu đang tìm ai đó trên bầu trời đen nghịt của vùng nhiệt đới.

Người chúng tôi ai cũng bẩn, nhưng chúng tôi tự hào vì đã trải qua một “cuộc thử thách” đầu tiên. Chúng tôi nhìn nhau và bỗng nhiên phá lên cười. Tất cả mọi người khi chạy ra khỏi phòng ở chỉ có một manh quần đùi và cùng nằm đúng vào vũng nước gì đó! Trông cứ như hề một loạt. Chúng tôi nhanh chóng vào nhà tắm để xua hết bẩn đi. Ở các phân đội khác đã phải mất nhiều thời gian đi tìm các chiến sĩ.

Sau này chúng tôi mới rõ là Tình báo Mỹ biết có đoàn chuyên gia Liên Xô sang Việt Nam và biết cả vị trí đoàn sẽ ở. Bọn Mỹ đã chuẩn bị chào đón chúng tôi. Song, các đồng chí Việt Nam đã làm một trận địa già cách nơi chúng tôi đang ở 3 km. Các đồng chí Việt Nam đã chiếu sáng trận địa đó và triển khai những hoạt động sôi nổi. Đêm hôm đó, địch đã đánh vào trận địa giả, còn chúng tôi bị một phen hú vía.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2023, 08:05:39 pm »

Những nhiệm vụ đầu tiên

Trung tâm huấn luyện số 2, căn cứ của Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238, cách Hà Nội không xa. Tại đây, chúng tôi đã rèn luyện để thích nghi với khí hậu và thích nghi với cuộc sống trong điều kiện chiến tranh và khí hậu nóng bức. Chúng tôi cũng được giao nhiệm vụ xuống các trận địa hỏa lực của các Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không để sửa chữa và bảo dưỡng định kỳ các thiết bị thông tin liên lạc. Tại thời điểm này, đang thành lập thêm các đơn vị nhằm tăng cường cho 2 Trung đoàn Tên lửa Phòng không.

Vận may đến với chúng tôi là thời tiết. Ban ngày nhiệt độ chỉ tới 35 độ C, ban đêm 30 độ C, độ ẩm 100%. Những ngày đầu mới đến, chúng tôi cảm thấy khó khăn quá. Phía trên giường nằm được trang bị một thứ gọi là màn. Lúc đầu, chúng tôi chưa thấy tác dụng của nó. Nhưng ban đêm đang ngủ say thấy đau, tỉnh dậy, mới hiểu bị muỗi đốt, khi đó mới thấy giá trị của cái màn. Nếu không có màn, sáng ngủ dậy, ai cũng bị muỗi đốt và trên người xuất hiện nhiều chấm đỏ. Các chấm đỏ đó có thể bị mưng mủ. Khi độ ẩm cao, mồ hôi ra nhiều, nên áo mặc lúc nào cũng ẩm, ướt. Chính vì thế việc sấy quần áo thấy không cần thiết. Sau một đêm, quần áo cũng không khô được.

Mỗi nhóm chuyên gia có 1 phiên dịch. Các đồng chí phiên dịch đã giúp chúng tôi học tiếng Việt. Ngày đầu chúng tôi học chữ số từ 1 đến 1 triệu và hơn nữa. Khi biết chữ số hàng đơn vị như 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, v.v... có thể thêm bất kỳ một số nào đó vào hàng đơn vị, ta sẽ. được chữ số hàng chục. Tương tự như thế ta sẽ được chữ số hàng trăm. Thí dụ: một một = 11; một một một = 111; một một một một = 1111. Không thể đơn giản hơn được nữa.

Khó khăn nhất là học tiếng Việt. Vì trong tiếng Việt một âm tiết có nhiều nghĩa. Thí đụ: âm cá dùng để chỉ các loài động vật sống trong nước, còn trong tiếng Nga, mỗi loại, có một tên riêng. Tuy thế, sau một tuần chúng tôi có thể giao tiếp được với các bạn Việt Nam không cần phiên dịch.

Trong khi thành lập các đoàn, tôi và các chiến sĩ Aleksanđr Shatrovưy và Vladimir Tataevưy được cử xuống trận địa hỏa lực của một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 để sửa chữa trạm thông tin chuyển tiếp P-401 bị hỏng.

Sáng sớm một ngày, chiếc xe “Varsava” đã cũ, vốn là chiếc xe “Popeđa” của Liên Xô đã được cải tiến, đưa chúng tôi cùng đồng chí phiên dịch và đồng chí bảo vệ lên đường xuống trận địa. Chúng tôi phải qua một chặng đường khoảng 70 km. Tiểu đoàn đóng quân trong vùng núi, nằm ở phía nam Trung tâm huấn luyện của chúng tôi.

Ai chưa từng ở Việt Nam vào thời điểm này, khó hình dung ra nổi những con đường bộ. Đó là một dải đất nhỏ được đắp lên giữa cánh đồng lúa và được gọi là đường. Ngoài việc nó bị các loại phương tiện vận tải như xe ngựa, xe bò, xe ô tô đào xới mỗi lần sau cơn mưa, nó còn bị máy bay Mỹ ném bom phá hoại. Thế rồi các nhánh sông, nhánh suối cũng trở thành những chướng ngại vật khó khắc phục. Các cầu qua sông đã trở thành mục tiêu chính của không lực Hoa Kỳ. Đã một số lần, khi cầu mới bị phá hoại, chúng tôi phải quay đầu xe đi vòng qua rừng để đến đơn vị, mặc dù chỉ cách đó 10 km. Đường trong rừng rất hẹp, chẳng khác nào đi trong đường hầm, hai bên đường cành lá xum xuê. Dọc đường, ở những nơi có vách đá đều được sử dụng làm trận địa pháo cao xạ. Khi qua các trạm gác công an, thỉnh thoảng chúng tôi cũng bị dừng lại kiểm tra. Bất ngờ xuất hiện các xe quân sự có lưới và lá ngụy trang, đó là xe chở khí tài Tên lửa phòng không S-75 “Đvina”.

Loại khí tài này được trang bị cho Quân đội Liên Xô từ năm 1957. Nó gồm có xe điều khiển, xe trinh sát và chỉ thị mục tiêu (trạm ra đa nhìn vòng), quả đạn tên lửa 2 tầng, 6 bệ phóng, các xe nạp đạn TZM và các xe cung cấp điện. Đảm bảo công tác thông tin liên lạc có đài thông tin tiếp sức P-401, đài liên lạc vô tuyến sóng cực ngắn P-109. Chính bộ khí tài này đã cắt đứt các chuyến bay của máy bay do thám Mỹ trên bầu trời Liên Xô. Nhằm tránh tổn thất cho các chuyến bay trên bầu trời Liên Xô, Cục Tình báo Mỹ đã đặt mua hàng của Công ty “Lokkheed” loại máy bay bay ở tầm cao U-2. Loại máy bay này có thể bay ở độ cao 24400 m, và được trang bị máy chụp ảnh, không có vũ khí. Từ ngày được đưa vào sử dụng cho đến đầu tháng 5 năm 1960, các máy bay U-2 đã xâm phạm bầu trời Liên Xô mà không bị trừng phạt. Ngày 01 tháng 5 năm 1960, Mỹ đã quyết định cho máy bay xâm phạm bầu trời Quảng trường Đỏ ở Moskva khi đang tiến hành duyệt binh. Máy bay do Pauers lái, cất cánh từ Trung Á. Hệ thống ra đa Phòng không của Liên Xô đã phát hiện đường bay của nó. Đơn vị Tên lửa S-75 đã phóng 2 quả đạn. Một quả trúng vào máy bay của Liên Xô, quả thứ 2 trúng vào phần đuôi U-2. Tên giặc lái bị các nông trang viên bắt. Nỏ bị kết án 8 năm tù và năm 1962 nó được trao đổi với một điệp viên nổi tiếng của Liên Xô tên là Ruđolph Abel.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2023, 08:06:58 pm »

Thực hiện Hiệp định đã ký giữa hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô, đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đầu tiên đến Việt Nam vào tháng 4 năm 1965. Đoàn có gần 100 người, chủ yếu là lính tên lửa và cao xạ. Trưởng đoàn là Đại tá Đzưza A.M.

Nhiệm vụ của Đoàn chuyên gia là đào tạo 2 Trung đoàn Tên lửa Phòng không đầu tiên của Việt Nam và sau thời gian ngắn nhất, hai trung đoàn này có thể hành quân ra trận địa.

Vì tình hình chiến sự tại thời điểm này rất phức tạp, hàng ngày máy bay Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc Việt Nam, nên việc huấn luyện Bộ đội Tên lửa Việt Nam phải tiến hành khẩn trương theo nguyên lý “Bạn hãy làm theo tôi”. Các học viên phải làm việc với cường độ 14-15 giờ/ngày trong điều kiện khí hậu tới 40 độ C và độ ẩm cao. Tuy thế, trung tuần tháng 7 năm 1965, chương trình huấn luyện cơ bản đã được hoàn thành. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, 2 Tiểu đoàn 63 và 64 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 đã ra quân chiến đấu và đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Đó là những chiếc máy bay thứ 399, 400 và 401 của Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam. Chỉ huy Tiểu đoàn 63 là Thiểu tá Boris Mozaev, đồng chỉ huy là Đại úy Nguyễn Văn Thân. Chỉ huy Tiểu đoàn 64 là Thiếu tá Phedor Ilin, đồng chỉ huy là Đại úy Nguyễn Văn Ninh.

Thắng lợi giòn giã trong việc sử dụng tên lửa Phòng không Liên Xô đã gây cho Mỹ một cú sốc lớn. Đối với Mỹ, không còn là bá chủ trên không và các cuộc ném bom sẽ bị trừng phạt. Mỹ phải ngừng ném bom 2 tuần. Phi công Mỹ được trả gấp đôi lương cho mỗi chuyến bay. Và chi sau những yếu tố đó, Mỹ lại tiếp tục ném bom miền Bắc Việt Nam. Một bộ phận nhỏ phi công trên hàng không mẫu hạm đã bị thay đổi. Và lúc này, một trong các nhiệm vụ chính của Không quân Mỹ là phát hiện và tiêu diệt khí tài Tên lửa Phòng không của Liên Xô.

Trước khi sang Việt Nam, tôi cũng đã một số lần đến công tác ở các trận địa Tên lửa Phòng không ở trong nước. Theo thông lệ, thì các trận địa này đều là trận địa cố định và giấu kín trong các hầm bê tông hoặc dưới đất. Các xe ca bin được nối với nhau bằng đường dây cáp đẹp. Đặc biệt việc ngụy trang cho toàn Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không được làm rất đẹp. Đối với các đồng chí Việt Nam, chúng tôi không phải dạy cách đánh lừa địch. Công tác ngụy trang và rừng núi đã giấu kín binh khí một cách đáng tin cậy.

Tôi có ý định tìm hiểu việc bố trí khí tài trên trận địa như thế nào. Nhưng tiếc là trong Tiểu đoàn không có chuyên gia Liên Xô. Trước khi bắt tay vào công việc, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Việt Nam đã ra lệnh đem bữa ăn đến cho chúng tôi. Chỉ sau mấy phút, các đồng chí Việt Nam đã đem đến cho chúng tôi những đĩa cơm cá. Trên bàn ăn còn có nước mắm, rau, bát ăn cơm và đôi đũa tre.

Điều hạnh phúc đến với chúng tôi là đồng chí Tiểu đoàn trưởng đã học ở Liên Xô, đồng chí đã lệnh đem cùi rìa và móng sét cho chúng tôi. Chúng tôi hiểu không chỉ cần phải học tiếng Việt, mà cần phải biết cả phong tục, tập tục và phải biết sử dụng đũa trong các bữa ăn. Đồng chí phiên dịch của chúng tôi nhanh nhẹn cầm đôi đũa và sẻ một phần khẩu phần ăn trong đĩa vào bát con và bắt đầu ăn. Hai đồng chí trong nhóm chúng tôi - Shatrov và Tataev cũng bắt chước các động tác của đồng chí phiên dịch. Những người xung quanh được một trận cười chảy nước mắt khi thức ăn trong các bát của 2 người đồng hương của tôi bị rơi xuống quần. Không sao, chúng tôi sẽ biết dùng đũa, chỉ cần thêm một thời gian nữa thôi.

Sau ăn trưa, chúng tôi được đưa đến đài tiếp sức. Đài được đặt trên sàn xe Gat-63 và được lá cây ngụy trang kin. Xe nạp ắc qui dã chiến được đặt ngay bên cạnh xe ô tô đặt đài tiếp sức. Hai đồng chí Việt Nam có ý định mắc nối tiếp 2 bình ắc qui không cùng ký hiệu, do đó họ bị anh em quát ầm lên để ngăn lại. Chúng tôi trèo lên xe Gaz-63. Trời ơi! Đây không phải là xe thông tin mà là một phòng tắm hơi. Tôi tìm nhiệt kế. Kim nhiệt kế chỉ con số +70 độ C, cao chút nữa là đến mức ngưỡng. Theo yêu cầu của chúng tôi, đồng chí Trung sĩ trực ban nhanh chóng bật quạt máy. Hơi nóng đập vào mặt chẳng khác nào vừa trong nhà xông hơi ra. Tôi hiểu tất cả. Tôi tự tắt quạt máy. Trên xe không có các khối riêng biệt. Tôi băn khoăn hỏi đồng chí Trưởng đài về những ô trống rỗng. Câu trả lời đại loại như thế này:

“Trong điều kiện dã ngoại, chúng tôi không sử dụng những khối đó”.

“Vì đó là những khối dự bị? Các khối nạp ắc qui tự động có thể cần tới trong bất kỳ lúc nào?”.

Im lặng. Để kiểm tra đài thông tin chuyển tiếp, tôi lấy nửa khối thứ nhất điều chỉnh nửa khối thứ 2.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2023, 08:09:18 pm »

Đài đang ở chế độ làm việc. Tôi lưu ý là các tần số của máy thu phát bị mờ. Tôi hỏi: để kiểm tra liên lạc với các đài đối thì lấy tần số làm việc ở đâu? Đồng chí trưởng đài trả lời: Tần số bị mờ nhằm để địch không biết được tần số đó (??!!). Sau cuộc trao đổi chớp nhoáng, đồng chí Trưởng đài miễn cưỡng đã cho tôi tần số làm việc để kiểm tra liên lạc. Đài đối không trả lời phiên gọi của tôi. Công việc căng thẳng. Trong buồng máy chật chội, ngoài tôi và đồng chí phiên dịch, còn có đồng chí Trưởng đài và 2 đồng chí chuyên gia cùng đi với tôi. Tôi mời tất cả mọi người ra khỏi buồng máy. Đồng chí Việt Nam đem đến 1 xô nước. Tôi đổ nước ra sàn. Trên thế gian không có điều tuyệt diệu nào hơn nếu như nửa thứ nhất của bộ khí tài điều chỉnh được nửa thứ hai và đảm bảo được liên lạc, thì khi làm việc bên thứ 2 ở đâu? Có thể ở đầu bên kia máy bị hỏng? Tôi nhớ lại qui tắc của hiệu thính viên: “Nếu không có liên lạc, phải tìm nguyên nhân ở ngay chính mình!!”.

Màn đêm đã xuống. Tiếng kêu ve sầu phá tan yên tĩnh, nhiều đom đóm bay lập lòe. Trong rừng vang lên những tạp âm khác nhau Trong đầm bên cạnh vang lên tiếng kêu của mấy chú ễnh ương và tiếng sủa hình như của chó... Không phải, đó là tiếng kêu của những chú ếch to. Nhưng... tôi không còn tâm trí để quan sát thế giới kỳ lạ đó. Không có liên lạc! Cự ly đến đài đối - tất cả chừng 15 - 20km. Tôi nhớ lời thầy dạy ở Kyakht. Thôi, cứ áp dụng một cách máy móc đi, tôi lấy một đoạn cáp thay cho ăng-ten 14 mét để đấu vào khối mất liên lạc. Mở máy và điều chỉnh. Thật là kỳ diệu: có liên lạc rồi!!! Đồng chí Trưởng đài nhìn tôi một cách ngạc nhiên: “Sao lại thế? không có ăng-ten mà liên lạc được! Chúng tôi lại định thảo khối này đi, vì chẳng ai cần đến nó!!!”. Tôi ra lệnh nhanh chóng hạ ăng-ten xuống, dùng cồn rửa các phích cao tần, kiểm tra cực tính của tần số. Ái chà chà, cực tính của ăng-ten bị nhầm lẫn!!! Gần sáng thì đường liên lạc tải 3 (đài chuyển tiếp) đã được điều chỉnh và trên chỉ huy sở của Tiểu đoàn đã có chiếc máy điện thoại.

Tôi báo cáo Tiểu đoàn trưởng kết quả công tác. ông chăm chú nghe. Tôi đặc biệt nhấn mạnh sai sót không thể dung thứ được về việc mất đồng bộ trên xe thông tin liên lạc chuyển tiếp. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng hứa với tôi là ông sẽ đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự buổi họp đầu tiên của các cán bộ chủ chốt. Câu trả lời của đồng chí Tiểu đoàn trưởng làm tôi hơi ngạc nhiên. Tại thời điểm này, trong Quân đội nhân dân Việt Nam chưa có chế độ 1 thủ trưởng. Trong một vài trường hợp, Chính ủy Tiểu đoàn có thể thay đổi chỉ thị của Tiểu đoàn trưởng, cấp dưới cũng có quyền thảo luận chỉ thị và không chấp hành chỉ thị đó. Tất cả mọi công việc đều do Hội nghị các cán bộ chủ chốt quyết định. Theo quan điểm của tôi, trong điều kiện chiến đấu, những hành động tương tự như trên không đem lại cho sự nghiệp chung một kết quả khả quan.

Tiểu đoàn trưởng đề nghị tôi lên lớp dạy cách nạp các bình ắc qui. Thôi được, khi ở đại đội chỉ huy ở Yrkutsk tôi đã phải làm việc này. Binh nhất Shatrov sẽ phụ trách các bài thực hành. Khi kiểm tra xe nạp ắc qui, chúng tôi phát hiện có nhiều bình không có chất điện phân. Vì thế không chỉ dạy cách nạp mà còn phải dạy cách chuẩn bị chất điện phân, cách đo nồng độ các điện phân và nhiều vấn đề khác.

Sau đợt huấn luyện, đồng chí Tiểu đoàn trưởng mời tôi đến lán của đồng chí ấy ăn bữa cơm tối theo “thực đơn Nga”. Cũng lại cơm, một miếng thịt gà, rau thỏa sức, dứa và chuối. Tối hôm đó chúng tôi cùng ngủ trong lán có màn “chống muỗi”. Buổi tối chúng tôi đã xua hết muỗi trong màn và đêm đó ngủ rất ngon. Tuy thế, cũng vài lần phải thức dậy để xua muỗi ra khỏi màn. Không hiểu tại sao muỗi vẫn chui được vào màn? Đơn giản thôi, có thể đoán được câu trả lời. Sớm dậy chúng tôi nhanh chóng lên xe “Varsava” để về Trung tâm huấn luyện.

Sau khi về đến Trung tâm, tôi báo cáo kết quả chuyến công tác cho đồng chí Thiếu tá Rưzik - Trưởng đoàn chuyên gia, đặc biệt là nguyên nhân làm mất đồng bộ trạm thông tin chuyển tiếp. Lãnh đạo Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 đánh giá cao kết quả công tác của chúng tôi. Đồng chí Trưởng đoàn chuyên gia đề nghị tôi ở lại Trung đoàn 238 làm cố vấn cho Trung đoàn trưởng về công tác thông tin. Khi tôi trình bày lại là ở trong nước tôi chỉ chỉ huy một Trung đội thông tin, đồng chí Thiếu tá - Trưởng đoàn đã trả lời: “Các đồng chí Việt Nam đề nghị đấy”. Tôi phải đồng ý.

Chẳng bao lâu chúng tôi nhận được tin vui, ở tiểu đoàn nơi tôi đến sửa chữa thiết bị thông tin, đã bắn rơi 2 máy bay của địch. Tôi cảm thấy tự hào về tiểu đoàn đó, tiểu đoàn của “chúng ta” đã thân quen rồi. Tự hào về các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam. Trong chiến thắng này có một phần sức lao động của tôi.

Sau một số ngày, tất cả chuyên gia trong đoàn đều được phân chia xuống các đơn vị chiến đấu. Mỗi Trung đoàn Tên lửa Phòng không có từ 30-40 chuyên gia Liên Xô. Đồng chí Shatrovury về Trung đoàn 238. Trước khi chúng tôi sang Việt Nam, ở Trung đoàn chưa có chuyên gia - thông tin Liên Xô. Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu hệ thống thông tin của Trung đoàn. Nhưng nghiên cứu thế nào? Không có một tài liệu nào nói về tổ chức thông tin. Sơ đồ cũng không có. Thông qua đồng chí phiên dịch, tôi hỏi đồng chí quyền Trưởng đài về mặt tổ chức thông tin liên lạc. Tôi nhận được câu trả lời rành rọt - về trạm thông tin chuyển tiếp và thông tin VTĐ. Tôi nhớ lại tần số làm việc đã bị mờ ở trạm thông tin chuyển tiếp. Tôi hiểu đồng chí Trưởng trạm thông tin của Trung đoàn chưa tin vào tôi, người trung úy trẻ này.

Chúng tôi tiếp tục sống ở Trung tâm huấn luyện. Hàng sáng, sau khi ăn sáng xong, xe lại đưa chúng tôi đến các trận địa hỏa lực. Tôi cùng đồng chí phiên dịch và đồng chí phụ trách thông tin liên lạc của Trung đoàn bắt đầu công việc trên xe thông tin. Không thể gọi công việc chúng tôi đang làm là bảo dưỡng định kỳ, vì đây là dạy thực hành các qui tắc sử dụng và bảo dưỡng kỹ thuật cho cán bộ chiến sĩ thông tin đang làm việc trên các đài R-401; R-118B và đài vô tuyến sóng cực ngắn. Đồng chí Binh nhất Shatrov đã phục vụ 2 năm trong Đại đội chỉ huy với nhiệm vụ là cơ công chính của đài R-401. Sau một thời gian ngắn, các chiến sĩ thông tin của đài tiếp sức R-401 và đài sóng ngắn công suất trung bình đã nắm được những kinh nghiệm bảo dưỡng kỹ thuật mà mình đang phụ trách. Thật thú vị khi nhìn thấy các đồng chí Việt Nam và chúng tôi đã nhanh chóng có tiếng nói chung khi làm việc trong lĩnh vực thông tin liên lạc.

Trong quá trình dạy học, phần lớn thời gian chúng tôi làm động tác, dùng các bản vẽ và sơ đồ chức năng để giải thích nếu như có cái gì đó chưa rõ. Trong trường hợp cần thiết mới đề nghị đồng chí phiên dịch hỗ trợ. Tốt vui biết mấy, nếu khi người dịch có kiến thức về kỹ thuật hoặc làm việc với kỹ sư và sẽ giảng giải giúp. Tôi cũng ngạc nhiên về bản thân, vì tôi cũng nhanh chóng hiểu được nghĩa của các danh từ kỹ thuật bằng tiếng Việt. Thí dụ các từ sau đây: điện trở, bán dẫn, đèn điện tử, tụ điện, rơ le, v.v... Hiểu biết những từ đó đã giúp chúng tôi rất nhiều trong khi trao đổi những vấn đề kỹ thuật.

Chỉ sau một tuần làm việc, sự cách biệt giữa chúng tôi không còn nữa. Chúng tôi biết, đồng chí phụ trách thông tin liên lạc của đơn vị đã chiến đấu trong chiến trường miền Nam và là Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Về phần mình, tôi cũng không giấu giếm, tôi cũng là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô.

Một hôm vào buổi sớm, khi chúng tôi đang làm việc, bỗng vang lên tiếng súng của đại đội pháo cao xạ 37 ly. Chúng tôi nhanh chóng chạy ra khỏi xe. Chúng tôi thấy ở độ cao không quá 200 mét có 2 máy bay đang bay thẳng về phía chúng tôi. Trong tích tắc, chúng đã đến rất gần khu vực chúng tôi. Chúng tôi lao nhanh xuống hào, tìm nơi ẩn nấp. Một loạt tiếng nổ của rốc két “không đối đất” vang lên cách chúng tôi khoảng 10 mét. Cũng lúc đó, bọn chúng còn nhả đạn súng máy vào các công trình ở gần đó. Đây là lần đầu tiên chúng tôi bị bọn Mỹ uy hiếp trên mảnh đất Việt Nam. Tất nhiên là sẽ có nhiều lần như thế, nhưng không ai có thể nhớ và viết hết được, song lần đầu tiên và lần cuối cùng thì nhớ suốt đời.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2023, 08:12:54 pm »

Chuẩn bị cơ sở huấn luyện

Cuối tháng 9 năm 1965, tôi được gọi về Sứ quán Liên Xô tại Hà Nội gặp đồng chí Thiếu tá Gromov Aleksanđr Ivanovich. Trong buổi làm việc, đồng chí Thiếu tá hỏi tôi:

- Đồng chí có biết các loại máy thông tin vô tuyến trên mặt đất và trên máy bay dùng vào việc liên lạc với không quân không?

- Báo cáo đồng chí, tôi học ở trường Cao đẳng Hàng không quân sự Khrakov. Song trong quân đội, tôi chưa có thực tế.

- Trong số chuyên gia ở Việt Nam, chưa có ai biết các loại thiết bị này. Đồng chí hãy dạy các đồng chí Việt Nam nhé!

Đồng chí Thiếu tá còn thông báo cho tôi biết quyết định của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô về việc từ nay tôi làm việc dưới quyền điều hành của đồng chí Thiếu tá. Nhiệm vụ của nhóm chúng tôi là đào tạo các chuyên gia Việt Nam, biết sửa chữa các thiết bị thông tin. Theo đề nghị của tôi, các đồng chí binh nhất Shatrov, Tataev và Sheglov được điều về nhóm này.

Thiếu tá Gromov là trưởng nhóm chuyên gia bộ đội thông tin ở Việt Nam. Đồng chí đã tham gia trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, tốt nghiệp Học viện Thông tin Quân sự. Đồng chí quyết định mọi vấn đề về tổ chức, dự trù, phân phối và sửa chữa các thiết bị thông tin liên lạc cho tất cả các Trung đoàn Tên lửa Phòng không.

Ngày hôm sau, chúng tôi chuyển về khách sạn Kim Liên, nơi có nhiều chuyên gia nước ngoài đang ở và được làm tốt công tác bảo vệ. Ngoài chuyên gia Liên Xô, còn có các chuyên gia Trung Quốc, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức và Nam Tư.

Trong khu tập thể này có 5-6 nhà loại 4 tầng, một nhà ăn 2 tầng, có cửa hàng tạp hóa, có sân bóng chuyền và bóng rổ. Người ra, vào khu tập thể này đều phải qua thường trực cảnh sát bảo vệ.

Bổ sung vào nhóm của tôi có: Đại úy Larionov E. I., Đại úy Rưbin I.A., Đại úy Voznesensky V.A., Đại úy Bakulin O.I., Thượng úy Kanhyuk V.I và tôi - Trung úy Skreblyukov A.I., có các chiến sĩ Shantrov, Tataev và Sheglov. Ngoài việc huấn luyện, tôi còn được phân công phụ trách số chiến sĩ thông tin nói trên.

Sĩ quan và chiến sĩ đều được bố trí 2 người 1 phòng. Thiếu tá Aleksanđr Ivanov Gromov ở riêng một phòng dành cho cán bộ chỉ huy. Thời gian đào tạo cán bộ sửa chữa thiết bị thông tin là 3 tháng.

Để huấn luyện cần phải có máy phục vụ cho công tác kiểm tra. Vì thế phải tháo máy ra khỏi xe ô tô và các thiết bị thông tin dã ngoại, sau đó lại phải lắp đặt lại vào xe ô tô. Công việc thật là phức tạp. Nếu việc này tiến hành trong thời bình hoặc ở Liên Xô thỉ chỉ có đại diện của nhà máy sản xuất mới được làm. Trong số các chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam vào thời điểm đó, chỉ có tôi đã được học trong trường Cao đẳng Thông tin và biết sử dụng đài thông tin R-842M. Song chỉ học phần lý thuyết mà chưa có thực hành. Ngoài quyển tài liệu kỹ thuật đi cùng máy, không có một loại tài liệu giáo trình.

Thiết bị dùng để dạy các học viên không phải là thiết bị mới mà là thiết bị đã trải qua một chặng đường dài từ Liên Xô qua Trung Quốc sang Việt Nam. Trên đường vận chuyển, thiết bị đã bị lưu lại trong rừng ở Việt Nam hay ở Trung Quốc trong điều kiện không được che chắn nắng mưa.

Trước khi tháo máy ra khỏi xe ô tô Zil-157, phải mất nhiều công sức để đưa máy vào trạng thái làm việc. Đó quả thật là một việc khó đối với người chưa có kinh nghiệm thực tế, song tôi đã cố gắng hoàn thành tốt công việc này.

Trung tâm huấn luyện là một sân của hợp tác xã nông nghiệp có vài gian nhà tạm, các cửa sổ được chiếu che kín. Trong khuôn viên của sân có bếp ăn dã chiến và mái che cho xe thông tin. Các học viên sống ở xóm bên cạnh. Cách đó khoảng 100 mét là nhà vệ sinh công cộng, người nông dân sử dụng nó để lấy phân hữu cơ bón ruộng.

Chúng tôi làm việc từ 12 đến 14 giờ trong ngày. Hàng ngày chúng tôi dậy sớm, ăn sáng ở khách sạn Kim Liên, đến Trung tâm và chiều tối muộn mới quay trở về Kim Liên. Buổi trưa, chúng tôi chỉ uống nước chè với các đồng chí phiên dịch. Sau một số ngày, công tác chuẩn bị để dạy các bạn Việt Nam đã được hoàn tất.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2023, 09:11:21 pm »

Khởi đầu công tác đào tạo Bộ đội Thông tin

Trong thời gian công tác ở Việt Nam, tiền lương của chúng tôi được trả như sau: 100% lương của chúng tôi (lương trung úy như tôi là 120 rúp) được để ở trong nước cho gia đình, ở Việt Nam, chúng tôi được lĩnh một khoản lương bằng tiền Việt Nam tương ứng với chức vụ và quân hàm. Tôi được lĩnh 210 đồng/ tháng. (Tại thời điểm đó 1 VND = 0,5 rúp Liên Xô).

Chúng tôi chỉ trả tiền ăn, các dịch vụ khác như nhà ở, phương tiện đi lại, nước uống, bảo vệ, do phía Việt Nam chi trả. Số tiền còn lại chúng tôi chi cho các nhu cầu khác của cá nhân hoặc chuyển sang thẻ tín dụng màu xanh dùng để mua các mặt hàng trong cửa hàng “Bạch dương” dành riêng cho các chuyên gia Liên Xô hoặc là gửi vào Ngân hàng để lấy tiền rúp.

Sau khi chúng tôi về ở khách sạn Kim Liên, đoàn chúng tôi ăn ở nhà ăn của khách sạn theo định lượng của mình, do đó chúng tôi có thể tiết kiệm được thêm ít chút.

Tại trung tâm huấn luyện, tất cả đã sẵn sàng tiếp nhận những học viên đầu tiên. Mỗi sĩ quan Liên Xô phụ trách một trung đội thông tin Việt Nam. Tôi được phân công dạy máy thu phát R-824M là loại thiết bị khó nhất và hiện đại nhất thời bấy giờ. Trung đội học viên của tôi có 12 người do đồng chí Thiếu úy Thanh làm chỉ huy. Trung sĩ Hoan (hoặc Hoàn - ND) có thân hình béo, có 3 con, là phiên dịch cho chúng tôi.

Tại Trung tâm huấn luyện có tất cả 6 trung đội: trung đội của tôi, trung đội của Thượng úy Kanhyuk cũng học loại máy thu phát sóng cực ngắn R-814. Trung đội của Đại úy Voznesensky học loại máy P-312 và P-303. Trung đội của Đại úy Bakulin học thiết bị thông tin chuyển tiếp R-401M, R-405. Trung đội của Đại úy Rưbin và trung đội của Đại úy Larionov học loại thiết bị thông tin có công suất trung bình R-118BM và R-102M.

Những giờ học đầu tiên chúng tôi gặp nhiều khó khăn, vì đồng chí phiên dịch không có kiến thức về kỹ thuật. Trước tiên, chúng tôi phải nói và giải thích cho đồng chí phiên dịch, rồi đồng chí phiên dịch mới dịch cho học viên. Các học viên rất chịu khó, cố gắng ghi tất cả những điều nghe được vào vở. Cuối mỗi tiết học, các học viên lại bắt đầu nêu ra những câu hỏi. Tất nhiên đồng chí phiên dịch dịch theo ý của mình. Nhiều câu hỏi phải được làm rõ và đính chính lại, và cuối cùng chúng tôi mới trả lời đúng.

Chúng tôi rất cảm phục tinh thần yêu lao động và sự khát khao kiến thức của các học viên. Chỉ sau mấy ngày, chúng tôi đã gắn bó với nhau. Đồng chí phiên dịch đã có kinh nghiệm giao tiếp, các học viên hiểu tiếng Nga (một số trong họ đã học tiếng Nga trong trường phổ thông), các giáo viên kiên trì học các từ kỹ thuật bằng tiếng Việt. Đồng chí phiên dịch không chỉ gắn bó với giáo viên trong phạm vi bài giảng, mà luôn trò chuyện về sinh hoạt, gia đình, cha mẹ, vợ con và bạn bè. Các học viên luôn hỏi về Liên Xô và chú ý lắng nghe... Tất cả chúng tôi cố gắng lảng tránh những vấn đề chính trị.

Cách dạy và học như thế, đến cuối tháng đầu tiên của khóa học, chúng tôi đã có thể sử dụng ½ ngôn ngữ dạy học là tiếng Việt và các đồng chí học viên có thể sử dụng 1/2 ngôn ngữ là tiếng Nga để trả lời các câu hỏi của thày giáo. Chúng tôi đã hiểu nhau và gắn bó với nhau như thế đó.

Bắt đầu mỗi bài học, chúng tôi đều chào nhau. Sau mỗi đợt giải lao, khi vào lớp, nhất thiết phải bắt tay đồng chí Trung đội trưởng và chào cả lớp. Chúng tôi nói tiếng Việt:

- Chào các đồng chí!

Cả lớp đồng thanh:

- Chào đồng chí!

Cứ như thể, 7 lần trong ngày. Trong khi chúng tôi lên lớp, đồng chí cấp dưỡng (đồng thời cũng là quản trị của chúng tôi) đến chợ hoặc tìm mua thực phẩm của người dân, chuẩn bị bữa ăn trưa cho chúng tôi. Thực đơn chủ yếu là gạo và cá. Một số học viên đã đem từ đồng quê nhiều loại rau, trong đó có loại từ cây tre non mà các bạn Việt Nam gọi là măng.

Giờ nghỉ ăn trưa đã đến. Mỗi học viên đem theo một bát tô và xếp hàng để nhận khẩu phần ăn. Chiến sĩ nuôi quân nhanh chóng đưa cơm vào tô thứ nhất và thức ăn vào tô thứ 2. Các chiến sĩ Việt Nam đứng xung quanh bàn ăn hoặc ngồi lên cái gì thấy thuận tiện, vừa ăn, vừa nói chuyện, vui đùa với nhau. Sau khi uống nước chè, mọi người đi nghi.

Buổi chiều còn 2 tiết học trên lớp. Sau đó, các học viên tự học. Rất khó phân biệt giữa học trên lớp và tự học, bởi vì quá trình tự học diễn ra sôi nổi và căng thẳng. Tôi có nhận xét là Binh nhì Hạnh là người có khuôn mặt tròn, thân hình cao, thường xuyên giải thích những vấn đề nhiều người chưa rõ. Vì thế tự học chẳng khác gì lên lớp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2023, 09:12:27 pm »

Những tổn thất đầu tiên của chúng tôi

Tháng 10 năm 1965, bắt đầu mùa khô. Tư lệnh quân đội Mỹ mở đầu cuộc tấn công chiến thuật mà chúng gọi là “kế hoạch quả đấm thép”. Tham gia cuộc tấn công này có 200 nghìn binh sĩ quân đội viễn chinh Mỹ, 500 nghìn quân đội bù nhìn Nam Việt Nam. 28 nghìn quân đội các nước chư hầu. 2300 máy bay và trực thăng, 1200 pháo, 1400 xe tăng và xe bọc thép, 50 tàu chiến. Mục tiêu chính của chiến dịch này là đánh vào hai hướng chính: ở miền Trung Việt Nam: từ cảng biển lên phía tây biên giới với Lào và Campuchia. Ở miền Nam Việt Nam: từ Sài Gòn lên phía Tây - Bắc biên giới Campuchia. Chúng tăng cường ném bom xuống miền Bắc Việt Nam.

Chúng tôi có linh cảm là trên đất nước Việt Nam tình hình chiến sự đang xảy ra một cách ác liệt. Do chưa có thông tin chính thống, nên đoàn chúng tôi dùng máy thu thanh riêng để nghe các đài phát thanh Moskva, Trung Quốc và Rumani, thậm chí chúng tôi nghe cả các buổi phát thanh phát đi từ các đài trên hàng không mẫu hạm của Mỹ. Trong đơn vị có nhiều cán bộ, chiến sĩ Việt Nam sinh ra từ miền Nam. Mặc dù không biết tiếng, song chúng tôi cũng có thể nhìn thấy họ đang lo lắng về gia đình, về những người thân đang sống dưới chế độ Mỹ - Ngụy.

Hàng ngày Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc Việt Nam. Trước đây, ngày chủ nhật, phi công Mỹ được nghỉ. Nhưng từ khi mở chiến dịch này, chúng hoạt động cả ban ngày, ban đêm và ngày nghỉ.

Ngày chủ nhật 17 tháng 10 năm 1965 là ngày chúng tôi phải chịu những tổn thất đầu tiên tại trận địa Tiểu đoàn 82 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238.

Theo lời kể của Đại úy Đemchenko - Đại đội trưởng Đại đội bệ phóng, 8 giờ sáng hôm đó, họ tiến hành kiểm tra khí tài. Sau khi đã kiểm tra xong, một tổ trực chiến được phân công ở lại trận địa, số còn lại trở về nơi tạm trú. Mọi người chưa kịp ăn sáng đã nghe tiếng còi báo động và nhanh chóng lên xe ra trận địa. Đã gần 10 giờ sáng. Khi chúng tôi đến trận địa, tất cả các ca bin đều đã được mở máy, các quả đạn đều đã được tháo bạt, các khẩu đội tiến hành sục sạo mục tiêu. Chiến sĩ đại đội bệ phóng ở trong hầm, một số đồng chí tập trung theo dõi mục tiêu trên bản tiêu đồ được kéo ra từ một xe nằm sát lều bạt.

Toàn Tiểu đoàn tập trung vào mục tiêu đang bay ở phía bắc trận địa. Nhưng địch thả nhiễu quá nhiều, trên màn hình không thể xác định được mục tiêu và không thể ra lệnh bắn được. Trong khi đó, từ phía Nam trận địa, một tốp A-4 của địch bay ở tầm thấp, khi gần tới trận địa tên lửa, chúng đã đột ngột bay vọt lên và lao xuống, ném bom vào trận địa tên lửa phòng không. Đơn vị pháo cao xạ 4 nòng ở vòng ngoài trận địa tên lửa đã kịp nhả đạn và đã làm cho một máy bay địch bốc cháy và rơi xuống vùng núi cách trận địa tên lửa khoảng 500 mét.

Cũng trong thời gian đó. bất ngờ từ phía Tây trận địa đã vang lên một tiếng nổ không khác nào tiếng sấm, vả sau vài giây tiếp theo là 3 tiếng nổ ở ca bin, 2 cột khói đen bốc lên. 3 máy bay Mỹ F-104 đã vòng sang bên trái và sau mấy giây chúng đã ném bom xuống trận địa. Hai bệ phóng tên lửa bị bom phá hủy hoàn toàn và xe chỉ huy cũng bị thiệt hại nặng. 7 chiến sĩ bị thương, trong đó có Binh nhất Vitaly Smimov. Đồng chí Smimov bị 2 vết thương, một vào sườn và một vào chân. Máy bay trực thăng từ Hà Nội nhanh chóng đến trận địa và đưa các thương binh về bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Sau này chúng tôi được thông tin cho biết, tại Quân y viện 108, tập thể bác sĩ giỏi đã tập trung tiến hành phẫu thuật để lấy mảnh đạn ra khỏi thận của đồng chí Smimov. Song vết thương của đồng chí ấy quá nặng, ngày 24 tháng 10, đồng chí Smimov đã hy sinh. Vợ và con gái 1 tuổi của đồng chí ấy đang sống ở khu vực ga xe lửa Yaya tỉnh Kemerovskaya đau buồn khi nhận được tin dữ này.

Đó là tổn thất đầu tiên của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô ở Việt Nam.

Trên trận địa của Tiểu đoàn 82 Trung đoàn Tên lửa Phòng không đã diễn ra một cuộc họp khẩn cấp để đánh giá tình hình của đơn vị: Tinh thần chiến đấu của cán bộ chiến sĩ rất cao, khí tài có thể nhanh chóng được sửa chữa... Bộ chỉ huy quyết định khẩn trương dùng mọi biện pháp để đưa Tiểu đoàn vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Gần 12 giờ ngày hôm đó, một tốp máy bay Mỹ lại bay vào khu vực hoạt động của tên lửa phòng không. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 82 ra lệnh phóng 2 quả đạn, một máy bay F-105 của không lực Hoa Kỳ đã bị bắn rơi.

Như vậy, trong trận đầu, Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không 82 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư khen ngợi Tiểu đoàn. Do có lòng quả cảm và tinh thần chiến đấu cao, các chuyên gia Liên Xô đang làm việc tại Việt Nam lúc bấy giờ đã gọi Tiểu đoàn 82 là “Tiểu đoàn thép” của Trung đoàn Tên lửa Phòng không.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2023, 09:14:22 pm »

Nhiệm vụ chiến đấu

Kế hoạch học tập của chúng tôi không được thực hiện một cách có hệ thống, nhiều khi bị gián đoạn vì các yêu cầu sửa chữa khẩn cấp số thiết bị thông tin bị hỏng từ các đơn vị chiến đấu gửi tới. Các đồng chí học viên Việt Nam lại bị thu hút vào công việc này. Cuối tháng 10 năm đó, Thiếu tá Gromov đột nhiên đến Trung tâm huấn luyện. Đồng chí Gromov thông báo, đài thông tin chính tại sân bay Kép, nơi có các máy bay MiG-17 đã bị hỏng, đã cho mở máy thông tin dự phòng R-824M, nhưng nó không hoạt động được. Hiện tại việc liên lạc với các máy bay được duy trì là nhờ vào một trạm cơ động nào đó. Một điều rất rõ là việc liên lạc với các máy bay bảo vệ Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 và Thủ đô Hà Nội đang nằm trong tình trạng chẳng khác nào ngàn cân treo trên sợi tóc. Đã có chỉ thị của cấp trên là cử ngay 2 đồng chí học viên lên đường gấp đến sân bay Kép để sửa chữa đài thông tin.

Việc lựa chọn cán bộ đi sửa chữa được tiến hành rất nhanh. Đồng chí Thiệu là một trong 2 số học viên được chọn. Cùng đi với chúng tôi còn có 2 chiến sĩ bảo vệ được trang bị súng AK-47. Tất cả chúng tôi ngồi trên xe Gaz-69 và hành quân lên đường ngay buổi tối hôm đó. Đi từ phía Nam lên phía Bắc Hà Nội phải qua những con phố vào ban đêm trong thời chiến quả là một việc không đơn giản. Trên đường phố đã chật hẹp lại đầy người đi xe đạp, đi bộ và cả xe xích lô nữa. Lái xe chúng tôi luôn bấm còi xin đường, song tốc độ của xe chẳng khác nào con bò đang kéo xe. Đồng chí bảo vệ hiểu tính chất khẩn cấp của nhiệm vụ, nên đã ngó đầu qua cửa xe và giải thích điều gì đó với đồng chí cảnh sát giao thông. Song dù có bằng phương pháp nào cũng không thể thay đổi được tình hình này.

Sau nhiều giờ, xe chúng tôi mới đi tới cây cầu nổi tiếng bắc qua sông Hồng - cầu Long Biên. Xe chúng tôi bị chặn lại trước cầu. Tất cả mọi lý lẽ chứng minh chúng tôi cần được ưu tiên trong giao thông đều vấp phải tính ngang bướng của các đồng chí cảnh sát giao thông. Họ đã có một qui định rất nghiêm ngặt: 20 phút dành cho ô tô, xe đạp và xe xích lô đi từ nội thành ra, sau đó 20 phút dành cho các phương tiện từ ngoài vào thành phố. Trời tối đến mức tôi không thể chiêm ngưỡng công trình nổi danh của Kiến trúc sư người Pháp Eiffel.

Trong đêm tối đen như mực mà xe chỉ được đi bằng đèn gầm, song chúng tôi đã vượt qua cầu Long Biên, đi được ra ngoài thành phố. Không hiểu đồng chí lái xe đã định hướng thế nào trên con đường như thế? Đối với tôi bây giờ vẫn là điều bí mật. Trong đêm tối như thế, cái xe khốn khổ của chúng tôi cứ phải tạt ngang, tạt ngửa trên đường. Đi khoảng được mấy trăm mét, xe chúng tôi bị sa xuống một hố sâu. Thế là mọi người phải xuống và cùng nhau đẩy nó lên mặt đường. Hình như con đường là vô tận. Tôi nhầm rồi, xe chúng tôi đã đến cuối đường. Thông qua đồng chí phiên dịch, đồng chí lái xe buồn rầu báo cáo với tôi rằng xe không thể tiếp tục đi nữa; nước sông lên cao đến mức không thể qua cầu được. Đồng chí lái xe nhìn thấy sông ở đâu? Đây chỉ là nước lũ tràn về, chẳng có một dòng chảy nào cả, nó như một vùng hồ. Tất cả chúng tôi có 6 người. Tôi cũng sợ và cũng liều, nên quyết định: tiếp tục đi. Trong đêm tối, chúng tôi chỉ mặc quần đùi, cùng với đồng chí lái xe và 1 đồng chí bảo vệ lội xuống nước dò tìm đường cũ. Có những chỗ sâu, nước tới ngang cổ các đồng chí Việt Nam, còn tôi nước đến ngang lưng.

Hạnh phúc đến với chúng tôi là có một đơn vị quân đội hành quân thần tốc. Đồng chí phiên dịch đã trao đổi nhanh với đồng chí chỉ huy đơn vị và đồng chí chỉ huy đơn vị cất lên một tiếng hô rất hữu nghị vang lên: “Liên Xô - Việt Nam muôn năm” và họ đã kéo xe chúng tôi sang bờ bên kia sông. Tôi đã cám ơn đồng chí chỉ huy đơn vị hành quân thần tốc về sự giúp đỡ. Đồng chí chỉ huy đã bắt tay tôi và nói “Liên Xô - Việt Nam - Tình hữu nghị”.

Trời sáng, công việc của chúng tôi trở lên sôi nổi hơn. Cánh rừng đã lùi lại sau, nhường cho những cánh đồng lúa xanh rờn. Tôi thiêm thiếp ngủ và nghe thấy trong cuộc trao đổi giữa đồng chí lái xe và đồng chí phiên dịch có nhiều điều lo lắng. Song tôi lại nghĩ rằng, chúng tôi đã đi đến nơi rồi. Chúng tôi hơi hoảng khi nhìn thấy ở phía trước xe chúng tôi đang đứng là một cái hố nước to khoảng 6 mét. Đó là hố bom. Đồng chí phiên dịch nói: “Đây là hố bom napan, chúng ta phải cẩn thận, có thể bên cạnh còn sót bom chưa nổ hoặc bom hẹn giờ”.

Có rất nhiều người nông dân, mà chủ yếu là phụ nữ, đang hăng say lao động lấp hố bom. Sau một giờ, hố bom đã được lấp kín và xe chúng tôi lại được tiếp tục lăn bánh trên đường đến sân bay.

Trong thời kỳ này, đường bộ và đường sắt ở Việt Nam luôn luôn nằm trong tình trạng bị đào xới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM