Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:09:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam không thể nào quên - Quyển 2  (Đọc 21866 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:19:56 pm »

Đầu tháng 2, các đồng chí Việt Nam mời chúng tôi đón năm mới theo âm lịch. Trong buổi gặp này, các đồng chí Việt Nam nói nhiều lời cảm ơn đến nhân dân Liên Xô và các chuyên gia quân sự Liên Xô đã và đang giúp đỡ nhân dân Việt Nam anh em.

Sau một thời gian đã định, chúng tôi lại được chuyển đến Hà Đông. Tại đây, chúng tôi tiếp tục dạy phần lý thuyết cho các đồng chí Việt Nam. Học viên là trắc thủ của các khẩu đội bệ phóng, khẩu đội kỹ thuật vô tuyến và khẩu đội trạm ra đa trinh sát và xác định mục tiêu (gọi tắt là trạm P-12). Đầu tháng 1, các đồng chí của chúng tôi từ Liên Xô đã sang để dạy thực hành trên thiết bị.

Trong tháng 3, tháng 4, chúng tôi được cử đến các trận địa chiến đấu để dạy thực hành cho các khẩu đội. Chúng tôi được giao nhiệm vụ dạy các học trò của mình trong tình huống chiến đấu, ngồi trong xe P-12, quan sát tình hình trên không, nhưng không cung cấp bất kỳ một thông tin chiến đấu nào đến các đơn vị trong trận địa.

Chúng tôi đã dạy các trắc thủ cách trinh sát không phận, bắt và theo dõi các mục tiêu; dạy cách báo cáo cho chỉ huy Tiểu đoàn về tình hình trên không. Sau khi được huấn luyện thực tế, Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không có số hiệu 41 được thành lập. Tiểu đoàn trưởng phía Liên Xô là Trung tá Igor Vladimirovich Bondarenko, phía Việt Nam là Đại úy Thành. Khẩu đội P-12 bao gồm: Tôi - với tư cách là người đứng đầu tình báo của Tiểu đoàn, Trường xe P-12, phía Liên Xô là Trung sĩ Leschenko và phía Việt Nam là đồng chí Mão, tôi không nhớ tên những đồng chí khác.

Chúng tôi đã cùng với các đồng chí Việt Nam đến một làng quê để bàn giao bộ khí tài C-15 (Trạm ra đa P-12). Khi nhận trạm P-12 MP, đồng chí Mão trưởng xe và các chiến sĩ của ông đã kiểm tra mọi thứ một cách rất cẩn thận. Ngay cả khi, nếu có thừa một số bu-lông, vòng đệm, ốc vít thì vẫn được coi là bình thường, nhưng nếu ở đâu đó trong gói không có đủ một vài chi tiết nhỏ, đều được ghi vào biên bản kiểm kê và báo cáo lên chỉ huy Tiểu đoàn. May mắn thay, không có sai sót nghiêm trọng.

Trong quá trình thực hành đã xảy ra một sự cố làm cho tôi hú vía - ăng-ten có thể bị gẫy và trạm P-12 sẽ bị hỏng. Tôi đang ở trong cabin dạy và giới thiệu cho học viên các bộ phận của trạm P-12, đồng chí trưởng xe Mão lại chỉ huy cho nâng ăng-ten về vị trí làm việc. Tại thời điểm này, hình như trong tôi có một linh tính nào đó, nó đã khiến tôi ra khỏi cabin và tôi nhìn thấy ăng-ten đang được nâng lên sai với qui phạm trong hướng dẫn lắp ráp và đưa ăng-ten về vị trí làm việc. Vì trên cột ăng-ten có một mộng đặc biệt dùng để ngoặc cái móc của tời kéo vào, còn trên động cơ điện cũng có một đinh ốc vòng, nó chỉ được sử dụng để nâng cột ăng-ten. Nếu tời được móc vào đinh ốc vòng của động cơ điện, thì khi nâng ăng-ten đã lắp ráp đến một độ cao nhất định sẽ bị rơi xuống, vì đinh ốc vòng không chịu được trọng lượng như vậy. Ăng-ten đã bị rơi, thì không thể phục hồi được. Vì tôi thấy cái móc của tời lại móc vào động cơ điện, và ăng-ten đã được nâng lên cách mặt đất khoảng 0,5 m, tôi lập tức ra lệnh cho toàn khẩu đội bám vào ăng-ten, và lệnh cho người đang đứng trên tời hạ sản phẩm xuống. Lệnh đặt ăng-ten lên giá đỡ, chuyển móc của tời vào mộng đặc biệt trên cột ăng-ten. Sau đó mới nâng ăng-ten lên vị trí làm việc một cách an toàn.

Sự cố này là bài học thực hành cho các học viên.

Trong thời gian chúng tôi ở nông thôn, chúng tôi được người dân địa phương coi chúng tôi như những người thân, mời chúng tôi uống nước chè, ăn trái cây, cho chúng tôi cả rau để đưa vào bữa ăn. Mỗi khi gặp nhau, tay bắt, mặt mừng, về phần mình, chúng tôi cũng đã cho họ những viên đường trắng và kẹo Liên Xô. Nói ngắn gọn là chúng tôi sống trong bầu không khí hữu nghị và nồng ấm nhất. Đặc biệt là các cháu thiếu nhi, chúng rất vui khi chúng tôi cho phép các cháu lên xe buýt và ngồi trong đó một lúc. Không thể diễn tả hết được cảm xúc trên khuôn mặt của cả trẻ em và người lớn khi họ được bước vào xe buýt của chúng tôi.

Trở lại ký ức về công việc. Sau khi trạm ra đa P-12 đa được lắp ráp, chúng tôi cho các học viên thực tập trên máy. Trong một ca thực hành, thày và trò chúng tôi đã căn cứ vào góc phương vị “0”, phát hiện có một mục tiêu đang tiến vào Tiểu đoàn của chúng tôi. Nhìn vào màn hình chỉ thị IKO thấy có một loại tia sáng nào đó phát ra từ mục tiêu. Chúng tôi ngay lập tức báo cáo Chỉ huy Tiểu đoàn. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng ngay lập tức ra lệnh quay ăng-ten của ca bin “P” (xe thu phát - ND) đi hướng khác và tắt các máy phát. Chỉ sau một thời gian ngắn, chúng tôi nghe thấy tiếng rơi của đạn Shrike phát nổ ở ngoại khu vực khí tài trên trận địa. Chúng tôi đã hai lần gặp địch phóng Shrike.

Sau một số lần thực tập, Tiểu đoàn chúng tôi triển khai khí tài ra trận địa hỏa lực. Chúng tôi bắt đầu mong chờ thời điểm phóng tên lửa lên các mục tiêu của địch. Sự kiện này đã xảy ra vào ngày 21 tháng 5 năm 1967 - Tiểu đoàn 41 của chúng tôi đã bắn hạ hai máy bay Mỹ: một F-105 và một A-6A.

Chúng tôi luôn thay đổi trận địa, hành quân qua cầu, qua phà và lên cả vùng núi Tam Đảo khi thực hiện chiến thuật “phục kích”. Thời kỳ đầu, các đồng chí Việt Nam chưa đồng ý với các đề xuất của chúng tôi về việc Tiểu đoàn triển khai ngay sau mỗi đợt hành quân chuyển địa điểm, các bạn lý luận: “Các đồng chí (các chuyên gia Liên Xô - ND) làm việc với chúng tôi chỉ trong thời gian từ 6-12 tháng, còn nếu chúng tôi làm việc với tốc độ này, thì chúng tôi sẽ không đủ sức cho nửa năm”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:21:20 pm »

Các điều kiện làm việc trên trạm ra đa P-12 thật tồi tệ - nhiệt độ đạt tới 60 o C. Chúng tôi ngồi trong xe chỉ mặc một chiếc quần cộc (quần sook) với chiếc khăn quanh cổ, ướt đẫm mồ hôi. Xuất hiện những vết hăm ở vùng kín. May là vợ tôi đã gửi cho tôi 18 tuýp kem trẻ em, nên cả khẩu đội P-12 chúng tôi chữa khỏi được bệnh này.

Những cơn mưa rào nhiệt đới, muỗi đốt và cái nóng như thiêu, như đốt của mặt trời đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chúng tôi. Nhưng tất cả chúng tôi - những người con Xô Viết đều quyết tâm thực hiện tốt các nhiệm vụ đã được giao.

Đã đến thời điểm chúng tôi có thể an tâm trao tay lái cho các đồng chí Việt Nam. Nhiệm vụ của chúng tôi là: 7 giờ sáng hàng ngày kiểm tra chức năng của trạm ra đa P-12, và sau đó, nhằm đảm bảo an toàn cho các chuyên gia quân sự Liên Xô, chúng tôi đã được đưa đến một địa điểm cách không xa trận địa hỏa lực của tiểu đoàn. Để có thể nghỉ ngơi gần trạm ra đa P-12, các đồng chí Việt Nam đã dựng một chiếc lều bạt ngay sát trạm, trong lều có cả giường xếp và màn chống muỗi.

Thời khắc mong chờ đã đến khi ba chiếc máy bay Mỹ bay vào Tiểu đoàn chúng tôi từ phía sau dãy núi Tam Đảo. Nhận được lệnh “Vào vị trí chiến đấu!” và ngay sau đó là lệnh “phóng”. Một trong những chiếc F-105 bị bắn hạ, hai chiếc còn lại bắt đầu ném bom trận địa chúng tôi. Xe cabin “P” bị các mảnh bom làm thủng một số chỗ ở thành xe. Bom Mỹ rơi nhiều vào vị trí thuộc khẩu đội bệ phóng tên lửa và pháo phòng không 36 ly và nơi chứa nhiên liệu và dầu nhờn, một số thùng nhiên liệu bị cháy nổ. Điều này đóng một vai trò nhất định trong việc đánh lạc hướng của phi công Mỹ xác định vị trí trận địa hỏa lực của Tiểu đoàn. Một lệnh đã phát ra: “Tắt máy trạm P-12! Tất cả vào hầm trú ẩn!” Do sức nổ của bom quá mạnh mà cửa của xe ca bin “U “(xe điều khiển tên lửa - ND), bị bật tung và đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn, Trung tá Bondarenko cũng bị hất theo khi ông mở cửa để thoát ra ngoài. Bom bi của Mỹ ném xuống đã làm một trắc thủ bám sát mục tiêu bằng tay của chúng tôi, Binh nhất Mikhail Boletsky bị thương. Ngoài đồng chí Binh nhất, không có ai bị thương. Ngay sau khi máy bay rời đi, có lệnh “Thu hồi khí tài”. Tôi phải nói rằng, tất cả các khẩu đội trong Tiểu đoàn đã vượt chỉ tiêu về “thời gian thu hồi khí tài”. Tiểu đoàn đã phân tán dưới hàng cây cách trận địa một khoảng cách an toàn. Vâng, tôi cũng muốn lưu ý rằng, trong số các chiến sĩ Phòng không Việt Nam đã bị thương, đều được các bác sĩ và nhân viên y tế của chúng tôi và Việt Nam kịp thời cứu chữa.

Ngày hôm sau, cũng tại trận địa mà hôm qua Tiểu đoàn chúng tôi mới rút đi, năm máy bay Mỹ đã bay đến và ném bom. Khi vụ đánh bom kết thúc, các đồng chí của chúng tôi muốn đến đó xem hậu quả, nhưng các đồng chí Việt Nam đã không cho phép. Chúng tôi chỉ được đồng chí phiên dịch kể lại rằng, nơi đặt trạm P-12 có một hố bom khá lớn

Sau trận chiến này, tôi được triệu tập về Hà Nội đến Cục Tham mưu gặp Trưởng đoàn chuyên gia Bộ đội Tên lửa Phòng không - Tướng Kislyansky Viktor. Tại buổi gặp này, tôi được thông báo rằng gia đình tôi đang lâm vào tình trạng khó khăn và tôi sẽ phải kết thúc nhiệm kỳ công tác để về Liên Xô.

Vài ngày sau, tôi được về Hà Nội và ở trong khách sạn Kim Liên. Tôi sống ở đó một tuần vì phía Trung Quốc không cho phép bay qua đất nước này.

Tôi luôn luôn nhớ đến đồng chí Shilov - Trung đoàn trưởng và Đại úy Nemtsov, các đồng chí đã đến thăm tôi tại khách sạn và đã thay mặt Lãnh đạo của cả Liên Xô và Việt Nam cảm ơn tôi đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, trao cho tôi những lá thư cảm ơn và huy chương Hữu nghị của Chính phủ Việt Nam.

Sau khi được Trung Quốc cho phép bay, tôi là thành viên trong Đoàn Ngoại giao, chúng tôi bay từ Hà Nội vào buổi tối đến thành phố Nam Kinh. Sáng hôm sau, chúng tôi bay và hạ cánh xuống một thành phố (tôi không nhớ tên), ở đây, chúng tôi ăn trưa và tiếp tục bay đến Bắc Kinh.

Sau khi đã về đến Moskva, tôi được báo cáo với các đồng chí có trách nhiệm của Cục 10 Bộ Tổng Tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô về tình hình hoạt động của các thiết bị kỹ thuật quân sự do Liên Xô trong điều kiện khí hậu ở Việt Nam vừa nóng và độ ẩm cao. Tôi cũng báo cáo tình hình công việc mà tôi đã tham gia thực hiện, cũng như tình hình chiến sự ở Việt Nam.

Sau đó, tôi được về thăm gia đình ở Frunze. Vợ tôi đón tôi tại sân ga xe lửa Frunze và nghẹn ngào cho tôi biết là mẹ tôi đã qua đời. Bà đã qua đời ở tuổi 67. Khi tôi sang Việt Nam, mẹ tôi đã khóc rất nhiều. Hình như mẹ tôi có linh cảm sẽ không còn được nhìn thấy con trai của mình nữa. Việc tôi đến Việt Nam đã ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe của bà và làm cho bà mỗi ngày một yếu. Thật đáng buồn khi tôi phải kết thúc chuyến đi công tác thực hiện nghĩa vụ quốc tế mà Chính phủ Liên Xô đã giao trong bối cảnh gia đình tôi như thế!!!.

Bạn không thể mô tả tất cả những gì bạn đã thấy, những gì bạn đã chịu đựng. Bạn sẽ không nói tất cả những gì Chính phủ Liên Xô cần phải làm liên quan đến những người lính làm nghĩa vụ quốc tế. Hãy bù đắp những gì mà hiện nay chưa làm được cho các sĩ quan và binh sĩ của chúng tôi, những người không tiếc sức khỏe và xương máu để hoàn thành nhiệm vụ của Chính phủ giao.

Thành phố Ekaterinburg, tháng 2 năm 2008
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:24:35 pm »

KÝ ỨC DƯỚI BẦU TRỜI VIỆT NAM

Todorashko Valentin Ivanovich


Vài nét về tác giả

Thiếu tá Todorashko Valentin Ivanovich ngày 7 tháng 10 năm 1936 tại vùng Odessa, Ukraina.

Năm 1959, ông tốt nghiệp trường Pháo binh Phòng không Odessa.

Từ năm 1959 đến năm 1960, ông là Trung đội trưởng Trung đội pháo 100mm thuộc Trung đoàn Pháo binh Phòng không 244 ở thành phố Reutovo.

Từ năm 1960 đến năm 1965, ông là Kỹ thuật viên hệ phát lệnh RPK tổ hợp tên lửa S-75.

Từ ngày 16 tháng 4 năm 1965 đến tháng 5 năm 1966, với cương vị là một chuyên gia hệ phát lệnh RPK tổ hợp tên lửa S-75, ông đã dạy các chiến sĩ Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam và cùng họ tham gia chiến đấu bắn máy bay Mỹ xâm phạm trời Việt Nam.

Từ năm 1966 đến năm 1970, ông là giáo viên Trường Tên lửa Phòng không mang tên Engels.

Từ 1970 đến 1983, ông là giáo viên Trường Đào tạo các chuyên viên cơ sở thành phố Sverdlovsk.

Năm 1983, ông về nghỉ hưu

Ông được Chính phủ Liên Xô tặng Huân chương Sao Đỏ, tám huy chương vì những thành tích phục vụ trong quân đội. Ông được Chính phủ Việt Nam tặng thưởng Huy chương “Hữu nghị”.

Nhớ về những kỷ niệm khi tham gia công tác tại Việt Nam, ông đã viết những trang hồi ức “Những ký ức dưới bầu trời Việt Nam”.

Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.


Ban Biên soạn
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:25:47 pm »

Ký ức dưới bầu trời Việt Nam

Cuối năm 1964, Đại tá Mikhailov, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cận vệ đề nghị tôi tham gia Đoàn chuyên gia thực hiện một nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ Liên Xô. Tôi đồng ý. Và tháng 1 năm 1965, tôi được cử đến thành phố Sverdlovsk. Tại đây, một đoàn gồm nhiều sĩ quan Liên Xô đã tập trung, trong đó bảy sĩ quan trong đoàn được chọn vào một nhóm “kỹ thuật đặc biệt” và chúng tôi được giao nhiệm vụ đến thành phố Baku - Thủ phủ nước Cộng hòa Azerbaijan - để nhận thiết bị quân sự ở “kho”. Chúng tôi có trách nhiệm đưa bộ thiết bị đó đến trường bắn để kiểm tra hoạt động của chúng. Sau khi kiểm tra, kết quả là thiết bị đã sẵn sàng chiến đấu, chúng tôi mới chuẩn bị cho việc vận chuyển thiết bị sang Việt Nam.

Đoàn của chúng tôi gồm có:

- Trưởng đoàn là Thiếu tá Meshkov, ông là kỹ sư ở Trung đoàn Tên lửa phòng không;

- Đại úy Ivanov là đại đội trưởng kỹ thuật vô tuyến.

- Thượng úy Konstantinov là sĩ quan điều khiển tên lửa.

- Thượng úy Shelestov là kỹ thuật viên hệ tọa độ.

- Thượng úy Kolesnik là kỹ thuật viên hệ lập lệnh.

- Thượng úy Pustovoitov là kỹ thuật viên xe thu - phát.

- Còn tôi là Thượng úy Todorashko, kỹ thuật viên hệ phát lệnh.

Chúng tôi tiếp nhận bộ khí tài thuộc loại sử dụng ở các các quốc gia vùng nhiệt đới. Chính vì thế, mọi người đều phỏng đoán, chúng tôi sẽ được cử đến nước nào. Bởi vì chúng tôi đã biết cách đây không lâu - ngày 5 tháng 8 năm 1964, máy bay Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam.

Ngày 5 tháng 4 năm 1965, sau khi thử nghiệm bộ khí tài mà chúng tôi đã chọn trong các điều kiện khác nhau trên trường bắn, các tham số kỹ - chiến thuật của bộ khí tài đều đạt yêu cầu. Chúng tôi xếp khí tài lên tàu và đưa chúng về thành phố Chelyabinsk. Ở đây, một đoàn tàu đặc biệt được chuẩn bị để chở trang thiết bị và có một đoàn hộ tống. Chúng tôi nhanh chóng khởi hành.

Đoàn tàu đặc biệt của chúng tôi đến ga Zabaikan, biên giới Liên Xô - Trung Quốc và dựng lại ở đó để thay bộ đồng phục dân sự, thay các cặp bánh xe cho đoàn tàu, vì độ rộng của đường ray Trung Quốc hẹp hơn so với đường sắt Liên Xô. Sau 4 ngày đêm, đoàn chúng tôi đến Bắc Kinh. Chúng tôi dừng ở đó 8 giờ, được các bạn Trung Quốc đón tiếp nhiệt tình và thiết đãi các món ăn Trung Quốc. Chúng tôi cùng chúc mừng nhau, cùng chúc cho mối quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Sau đó, chúng tôi tiếp tục đến biên giới Trung Quốc - Việt Nam. Chúng tôi dừng lại ở ga Bằng Tường. Tại đây, chúng tôi lại phải chuyển thiết bị, vì đường ray ở Việt Nam thậm chí còn hẹp hơn so với ở Trung Quốc. Chúng tôi được thông báo và hướng dẫn cách trú ẩn trong trường hợp gặp máy bay Mỹ, vì không quân Mỹ định kỳ ném bom tuyến đường sắt này.

Đêm ngày 16 tháng 4 năm 1965, đoàn chúng tôi đã vượt qua biên giới Trung Quốc - Việt Nam an toàn và cũng không gặp sự cố nào trên đường về Hà Nội. Thiết bị của chúng tôi đã được bốc xuống, xếp lên các xe ô tô vận tải và đưa đến Trung tâm huấn luyện trong rừng.

Còn chúng tôi đi trên xe chở khách về Trung tâm huấn luyện. Đêm hôm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi được ngủ trong rừng.

Trưởng Trung tâm huấn luyện đầu tiên ở Việt Nam là Đại tá Xugankov; Phó chỉ huy Trung tâm phụ trách Chính trị là Trung tá Barsuchenko; Tham mưu trưởng là Thiếu tá Egorov và Kỹ sư trưởng Trung tâm là Thiếu tá Meshkov.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tư, 2023, 10:02:09 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #64 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:26:52 pm »

Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị để dạy các học viên Việt Nam. Đúng ngày 1 tháng 5, mọi công việc đã sẵn sàng, các lớp học đã được khai giảng. Việc học và dạy lúc đầu phải qua phiên dịch. Người dịch đầu tiên cho tôi là đồng chí Trần Phúc Căn. Tôi đã giới thiệu phần lý thuyết của tài liệu và chỉ cho các học viên thấy cần phải làm thế nào để thực hiện được từng động tác, và đồng chí Căn dịch những điều tôi nói, các học viên ghi lại. Mỗi ngày chúng tôi dạy và học trên lớp khoảng 12 giờ. Ngoài 12 giờ trên lớp, học viên còn có 2 giờ tự học. Đây là yêu cầu xuất phát từ tình hình chiến tranh ở Việt Nam.

Theo kế hoạch ban đầu, thời gian trong chương trình huấn luyện là 3 tháng. Chúng tôi đã sống và dạy các bạn Việt Nam học kỹ thuật quân sự trong một môi trường mà chúng tôi chưa bao giờ gặp. Nóng đến 35-45 độ và độ ẩm lại rất cao. Trong 2-3 tháng, chúng tôi không nhận được thư của gia đình. Có hỏi cấp trên, câu trả lời đều giống nhau. Ngoài ra, trong đoàn chúng tôi cũng có những đồng chí bị bệnh. Tất nhiên, các bác sĩ đã dùng mọi biện pháp cần thiết, nhưng không phải tất cả các bệnh đều được điều trị khỏi. Một số bệnh nhân phải gửi trở lại Liên Xô. Các chuyên gia mới được cử sang thay thế những đồng chí đó.

Nhiệt độ khu vực chúng tôi đang sống và làm việc thật là khủng khiếp. Trong các xe kỹ thuật, nhiệt độ lên đến 60 độ. Chúng tôi đã phải làm việc trong điều kiện như thế trong suốt thời gian 2 tháng rưỡi, mặc dù thời gian đào tạo đã được dự tính là 3 tháng.

Vấn đề là ở chỗ, ngay từ ngày đầu chúng tôi đến Việt Nam, đài phát thanh “Hoa Kỳ” đã loan tin: Việt Nam đã có tên lửa “SAM”, dự kiến 3 tháng sau sẽ đưa vào sử dụng. Và người Mỹ bắt đầu tìm kiếm chúng tôi. Song công tác ngụy trang của chúng tôi đã được làm rất tốt, Mỹ rất khó phát hiện ra các đơn vị trong Trung tâm huấn luyện. Các đơn vị pháo cao xạ của Quân đội nhân dân Việt Nam bảo vệ chúng tôi. Họ được cấp trên chỉ thị là chỉ được bắn khi nào thấy có mối nguy hiểm trực tiếp đến Trung tâm.

Khi đã tìm mọi cách ngụy trang, nhưng vẫn có nguy hiểm, trong trường hợp này, Trung tâm huấn luyện của chúng tôi được chuyển đến địa điểm gần thủ đô Hà Nội. Vì chúng tôi đã biết, Tổng thống Mỹ đã ra lệnh không ném bom xuống Hà Nội trong phạm vi bán kính 60km. Ở đó, chúng tôi đào tạo các chiến sĩ tên lửa Việt Nam. Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp và Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, tướng G. Belov đã đến thăm Trung tâm. Chúng tôi được giao nhiệm vụ: chuẩn bị bộ khí tài để đào tạo các chiến sĩ tên lửa Việt Nam, đồng thời cũng để chiến đấu. Đại tá Xưgankov, Trưởng Trung tâm huấn luyện đã ra lệnh phải thực hiện nhiệm vụ này trong một thời gian càng sớm càng tốt. Có nhiều vấn đề liên quan đến công tác sẵn sàng chiến đấu: trước tiên là độ tin cậy của thiết bị quân sự Liên Xô, và quan trọng nhất là cuộc sống của rất nhiều người. Do đó, mỗi người trong chúng tôi cần phải điều chỉnh thiết bị kỹ thuật của mình sao cho độ chênh lệch của các tham số đều bằng “0”, nghĩa là, hoàn toàn chính xác, cần phải làm như thế, không có bất kỳ một dung sai nào. Hai tiểu đoàn Tên lửa Phòng không - Tiểu đoàn 63 và Tiểu đoàn 64 - đã được thành lập. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân giao nhiệm vụ cho hai tiểu đoàn hành quân vào ban đêm và chiếm lĩnh trận địa cách Hà Nội 60km về phía Tây Bắc.

Đội hình chiến đấu gồm có các chuyên gia Liên Xô và cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, những người mà chúng tôi đã huấn luyện. Xét về mặt kỹ thuật, các trận địa hỏa lực đã được chuẩn bị tốt. Khi chúng tôi triển khai trận địa, nhân dân địa phương đã giúp chúng tôi ngụy trang các vị trí chiến đấu. Họ trồng các cây chuối và đắp bao cát vào xung quanh thiết bị, họ đào hào trong trường hợp bị bắn phá...

Gần sáng, chúng tôi đã sẵn sàng chiến đấu. Công tác ngụy trang tốt đến mức phi công Mỹ không thể tìm thấy chúng tôi.

Hai tiểu đoàn 63 và 64 của Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 - đơn vị Tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam - đã được triển khai chiến đấu. Tôi ở Tiểu đoàn 63, chỉ huy Tiểu đoàn là Trung tá Mozhayev và Đại úy Nguyễn Văn Thân. Chỉ huy Tiểu đoàn 64 là Trung tá llynyh và Đại úy Nguyễn Văn Ninh.

Cùng chiến đấu với tôi trong cabin, “RPK” là đồng chí học trò của tôi Nguyễn Đình Khoan. Đồng chí Khoan là một sĩ quan và một kỹ thuật viên tốt. Sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 63 là Thượng úy Konstantinov và Trung úy Lã Đình Chi; sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 64 là Thượng úy Bondarev và Trung úy Phạm Trương Uy. Sau này, đồng chí Phạm Trương Uy được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Tôi cũng muốn nói thêm, hiện nay, nhiều thao tác trên máy được thực hiện bằng công nghệ tin học. Nhưng khi đó, yếu tố con người đóng vai trò cơ bản. Các bài toán chiến đấu được tính như thế nào, tên lửa sẽ bay như thế.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #65 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:28:16 pm »

Tình hình trên bầu trời vẫn còn phức tạp. Chúng tôi chỉ bắn máy bay vào lúc trời chập choạng tối để sau mỗi trận đánh, chúng tôi nhanh chóng thu hồi khí tài và chuyển đến trận địa mới. Thời gian vào buổi tối đặc biệt phù hợp với chúng tôi. Trong ngày, chúng tôi không thể ngụy trang để địch không phát hiện được vì lý do sau đây: Ngoài vịnh Bắc Bộ luôn luôn có 3 tàu hàng không mẫu hạm của Mỹ. Các máy bay Mỹ cất cánh từ hàng không mẫu hạm đó, chỉ sau 5 - 10 phút, chúng đã vào đất liền Việt Nam. Nếu họ tìm thấy chúng tôi, ưu thế sẽ thuộc về họ. Đặc biệt nguy hiểm nếu cuộc tập kích diễn ra ở các độ cao khác nhau và từ các hướng khác nhau. Tất nhiên bộ đội tên lửa Việt Nam có thể bắn tên lửa vào ban ngày, tiêu diệt một hoặc hai máy bay. Nhưng khi đó, các máy bay ném bom của Mỹ còn lại sẽ “tập trung” tiêu diệt tiểu đoàn tên lửa, và khi đó chính các đơn vị pháo cao xạ đã bảo vệ các trận địa của chúng tôi.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965, tình hình trên bầu trời miền Bắc Việt Nam đã trở nên phức tạp do các máy bay Mỹ gây ra. Chúng tôi đã ra quân trận đầu ở Việt Nam, dùng tên lửa chống lại máy bay Mỹ.

Ngay từ sáng sớm, đã có nhiều máy bay bay qua, ở đâu đó vang lên tiếng bom nổ như sấm rền. Tất cả các tiểu đoàn chúng tôi đều đặt trong tình trạng cảnh giác cao độ. Tất cả các hệ thống hoạt động bình thường. Và bỗng mệnh lệnh của Trung tá Mozhaev vang lên, Tiểu đoàn trưởng: “Mục tiêu bay thành tốp - tiêu diệt!”. Sĩ quan điều khiển Konstantinov phát hiện một tốp máy bay địch. Chỉ huy Đại đội kỹ thuật vô tuyến Brusnikin kiểm tra công việc của tất cả các khẩu đội. Khi các trắc thủ phát hiện được mục tiêu đi đầu, lúc đầu bám sát bằng tay, sau đó chuyển sang bám sát tự động. Rồi khi mục tiêu đã sát với giới hạn vùng sát thương, sĩ quan điều khiển Konstantinov ấn nút “phóng”. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam “Rồng lửa” đã bay lên.

Với một tiếng ầm như sấm, tên lửa phóng lên và lao tới mục tiêu. Sau 6 giây, sĩ quan điều khiển lại ấn nút “phóng” quả đạn thứ hai. Cả hai tên lửa đều bay đến mục tiêu, tiêu diệt hai chiếc máy bay. Tiểu đoàn hỏa lực 64 cũng bắn hạ một chiếc máy bay khác. Trong tốp bốn chiếc máy bay Mỹ xâm phạm bầu trời Việt Nam, ba chiếc đã bị bắn rơi, còn chiếc thứ tư biến mất về đâu không rõ. Một phi công đã bị bắt.

Các bạn Việt Nam gọi trận đánh này là “Rồng lửa Việt Nam trận đầu ra quân đánh thắng”. Sau khi bắn rơi ba chiếc máy bay, tất cả mọi người - các bạn Việt Nam và chúng tôi - đã ôm nhau và đồng thanh hét lên “Hoan hô, máy bay Mỹ rơi rồi”. Trận đánh này đã diễn ra vào hồi 14 giờ 25 phút, ngày 24 tháng 7 năm 1965 tại hai xã Phú Sơn và Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội - NCK), cách Hà Nội 60km.

Chúng tôi nhanh chóng thu hồi khí tài trên trận địa, tập kết trong một khu rừng và ngay tối hôm đó hành quân về trận địa mới. Sáng sớm ngày 25 tháng 7, chúng tôi đã sẵn sàng chiến đấu.

Trước khi diễn ra trận đánh ngày 24 tháng 7, các đồng chí Việt Nam đã chuẩn bị mô hình trận địa tên lửa giả. Các thiết bị giả của bộ khí tài S-75 được làm bằng tre, nứa và cót, rồi sơn màu như màu của tên lửa thật. Sau khi chúng tôi thu hồi thiết bị di chuyển đi nơi khác, các bạn Việt Nam đã bố trí các thiết bị giả vào các vị trí trận địa, coi như tiểu đoàn hỏa lực vẫn chưa di chuyển. Trong hơn 10 ngày máy bay Mỹ không bay qua lãnh thổ Việt Nam. Mỹ đang cố gắng xác định ai đã bắn hạ máy bay của họ. Sau khi trinh sát, họ tiếp tục không kích vào trận địa này, và các xạ thủ pháo cao xạ của Việt Nam đã bắn hạ thêm 5 chiếc máy bay Mỹ trên trận địa này.

Mặc dù người Mỹ đã thay đổi chiến thuật bay, chúng tôi vẫn bắn rơi máy bay Mỹ và duy trì các đơn vị tên lửa phòng không luôn luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trong tình huống đơn giản, chúng tôi đã dạy các đồng chí Việt Nam tự bắn các mục tiêu trên không. Trong những lần như thế, chúng tôi luôn ở sát bên các đồng chí Việt Nam và sẵn sàng hành động chính xác khi cần thiết.

Chúng tôi đã chứng minh được thiết bị quân sự của Liên Xô rất đáng tin cậy và hiệu quả. Chúng tôi đã giúp các bạn Việt Nam hiểu được kỹ thuật tên lửa là một loại vũ khí tập thể, và thành công của trận chiến đấu phụ thuộc vào từng trắc thủ. Vâng, thành công của trận chiến đấu cũng còn phụ thuộc vào các công việc quan trọng khác như: việc sản xuất tên lửa và vận chuyển chúng đến các trận địa sao cho an toàn, bí mật và nhanh chóng. Sau khi phóng tên lửa, khẩu đội bệ phóng phải nhanh chóng dùng xe chở đạn để nạp tên lửa mới vào bệ phóng và nhanh chóng đưa xe chui vào hầm trú ẩn, mà chúng tôi gọi là nạp đạn. Thao tác này tiến hành càng nhanh thì bệ phóng càng sớm ở tư thế sẵn sàng chiến đấu

Sau một thời gian, Thiếu tá Solomatin nói với chúng tôi rằng, chúng tôi đã bắn hạ “Con ma” (máy bay F-4).

Tháng 8 năm 1965, các tiểu đoàn 63 và 64 chúng tôi được giao nhiệm vụ mới: Hành quân và triển khai trận địa ở phía Nam tỉnh Thanh Hóa. Trên bầu trời vùng này, các máy bay Mỹ vẫn bay một cách ngang nhiên, họ cho rằng bộ đội tên lửa chưa thể đến đây được. Chính vì thể, Tiểu đoàn 63 của chúng tôi đã phóng năm quả tên lửa và bắn rơi hai máy bay A-6A bay từ Hàng không mẫu hạm Midway. Lúc này, chúng tôi chỉ còn một quả tên lửa dự phòng. Do đó, chúng tôi hành quân về Hà Nội.

Khi các cán bộ và chiến sĩ bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam đã được học đầy đủ cả phần lý thuyết và thực hành, tự độc lập chiến đấu có hiệu quả, Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam đã quyết định để một số các chuyên gia trong đoàn chúng tôi ở lại với những bộ phận thiết yếu trong các tiểu đoàn; số chuyên gia còn lại được cử đến Trung tâm huấn luyện mới, đào tạo các trung đoàn tên lửa phòng không mới cho Việt Nam.

Năm cán bộ được chọn để đến trung tâm đào tạo thứ hai bao gồm: Konstantinov, Pustovoitov, Kolesnik, Shelestov và tôi. Trước khi chúng tôi đến trung tâm đào tạo thứ hai, chúng tôi được đi nghỉ trên Tam Đảo, cách Hà Nội khoảng 100km về phía Bắc. Tam Đảo ở độ cao 1.000 mét so với mặt biển. Đường lên đỉnh núi quanh co hình xoắn ốc. Ở trên cùng là những nhà nghỉ dưỡng, ở độ cao 1.000 mét, thời tiết không nóng như khi ở Trung tâm huấn luyện. Chỉ cần mở cửa sổ là gió mát sẽ lùa vào phòng, cảm thấy như một đám mây lạnh đổ vào ngực bạn...

Sau khi nghỉ ngơi, chúng tôi được đưa đến một trung tâm đào tạo mới, nằm trong rừng rậm. ở Trung tâm này, đồng chí Trương Văn Ta, mà chúng tôi thường gọi là đồng chí Ta, là phiên dịch của tôi. Sau 3 tháng học tập với thời gian biểu căng thẳng, các khẩu đội tên lửa Việt Nam đã sẵn sàng chiến đấu. Các đồng chí Việt Nam đã nhanh chóng nắm bắt và thành thạo các thao tác chiến đấu một cách dễ dàng hơn.

Chẳng bao lâu, tiểu đoàn của chúng tôi và các đơn vị khác đã được giao nhiệm vụ triển khai trận địa để bảo vệ bầu trời Hà Nội, Hải Phòng khỏi các cuộc không kích của không quân Mỹ. Tiểu đoàn chúng tôi ở lại tại chỗ trong thời gian vài tháng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #66 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2023, 09:42:42 pm »

Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên Xô
sang thăm Việt Nam và đến thăm các chuyên gia quân sự Liên Xô

Tháng 1 năm 1966, Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên Xô do đồng chí Shelepin dẫn đầu đã đến thăm trận địa chúng tôi. Trong đoàn còn có Bí thư ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Ustinov và Tư lệnh Bộ đội Chiến lược Liên Xô, Thượng tướng V.F. Tolupko. Các đồng chí trong đoàn đánh giá cao sự đóng góp của chúng tôi vào cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ tại Việt Nam, chúc mừng chúng tôi nhân dịp năm mới 1966 và trao các phần thưởng cao quí của Chính phủ Liên Xô cho chúng tôi vì lòng dũng cảm và lập được những chiến công. Tôi được thưởng Huân chương “Sao Đỏ”, vì đã tham gia trong đội hình Tiểu đoàn 63 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236, Quân chủng Phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Đồng chí Shelepin đã trao phần thưởng cho tôi. Vào thời điểm đó, tôi đang ở tuổi 29. Tôi nhớ cha mình, Todorashko Ivan Timofeevich, người đã tham gia Chiến tranh vệ quốc vĩ đại và hy sinh vào tháng 8 năm 1944 tại Moldavia. Ngày ông hy sinh, ông cũng 29 tuổi.

Chúng tôi phải chiến đấu trong những điều kiện khác nhau. Một ngày hạ tuần tháng 2 năm 1966, chúng tôi được chuyển từ Hà Nội đến Hải Phòng, thành phố có tầm quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp mọi thử cần thiết cho Việt Nam. Chúng tôi bảo vệ thành phố cảng trong điều kiện phải liên tục thay đổi trận địa chiến đấu. Có khi chúng tôi phải bắn máy bay trong điều kiện sương mù dày đặc. Chúng tôi bắn hạ một chiếc máy bay Mỹ với hai tên lửa, nó rơi xuống biển. Do sương mù, nên thời điểm máy bay rơi xuống biển không ghi lại được, đồng nghĩa với việc chiếc máy bay bị bắn rơi không được tính vào thành tích của tiểu đoàn chúng tôi. Vì theo quy định, các bạn Việt Nam chỉ ghi vào bảng thành tích bắn rơi máy bay khi đã có trong tay mảnh máy Mỹ với các chữ số và ký hiệu của máy bay.

Chúng tôi đã bảo vệ bầu trời Hải Phòng cho đến cuối tháng 4 năm 1966. Trong số các chuyên gia Liên Xô đầu tiên đến Việt Nam hồi tháng 4 năm 1965 (khoảng 100 người), chỉ có năm sĩ quan chưa có người từ Liên Xô sang thay thế.

Trở về Tổ quốc

Chúng tôi chuyển giao hệ thống khí tài cho các đồng chí Việt Nam khi họ đã thành thạo kỹ năng sử dụng và lên xe về Hà Nội. Ở Hà Nội, chúng tôi được Đại tá Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân mở tiệc chiêu đãi. Chúng tôi được trao tặng Huy chương “Hữu nghị” của Chính phủ Việt Nam và quà của Tư lệnh Quân chủng. Trong buổi chiêu đãi, chúng tôi được ăn món mằn thắn của Liên Xô là món ăn lần đầu tiên được ăn ở Việt Nam. Thật xúc động và lưu luyến khi phải chia tay với các bạn Việt Nam, những người mà chúng tôi đã kề vai, sát cánh trong chiến hào bảo vệ bầu trời Việt Nam. Chuyến công tác của tôi đến Việt Nam đã kết thúc sau 13 tháng 4 ngày. Chúng tôi chia tay nhau, tặng cho nhau những tấm ảnh kỷ niệm. Ngày 10 tháng 5 năm 1966, chúng tôi lên máy bay, rời Việt Nam sang Trung Quốc.

Do thời tiết xấu đi, máy bay của chúng tôi phải hạ cánh xuống Vũ Hán. Chúng tôi nghỉ qua đêm trong một khách sạn, và sáng ngày hôm sau, ngày 11 tháng 5, chúng tôi bay đến Bắc Kinh. Những ngày này, trên đường phố Bắc Kinh lực lượng Hồng vệ binh hoạt động hầu như 24/24, nên chúng tôi phải ở lại trong Đại sứ quán Liên Xô và mãi đến sáng ngày 16 tháng 5 mới rời khỏi Trung Quốc và cùng ngày bay tới Moskva.

Ở thủ đô Moskva, chúng tôi được bố trí ăn nghỉ trong khách sạn của Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm người chúng tôi gồm: Đại úy Ivanov, các thượng úy Konstantinov, Kolesnik, Shelestov và tôi được giao nhiệm vụ ở lại Moskva vài ngày để báo cáo Bộ Quốc phòng về chiến thuật của không quân Mỹ và các trận chiến đấu với không quân Mỹ của các tiểu đoàn tên lửa phòng không Việt Nam bằng bộ khí tài tên lửa C-75. Sau đó, chúng tôi được phép về nhà hai tuần trước khi trở lại đơn vị cũ.

Sau khi trở lại đơn vị ở thành phố Ufa, tôi được một kỳ nghỉ phép của hai năm 1965-1966 là 88 ngày. Khi tôi sang Việt Nam, con trai tôi tròn hai tuổi rưỡi, bây giờ nó đã gần 4 tuổi. Cuộc hội ngộ gia đình rất xúc động và vui vẻ. Cả gia đình tôi đi nghỉ. Đầu tiên chúng tôi đến Odessa thăm mẹ tôi, sau đó đến thành phố Baksan thuộc Kavkaz thăm mẹ vợ tôi.

Sau kỳ nghỉ, tôi được bố trí tiếp tục phục vụ trong trường đào tạo bộ đội Tên lửa Phòng không mang tên Engels. Sau đó, từ tháng 2 năm 1970, tôi phục vụ tại Sverdlovsk. Ngày 26 tháng 10 năm 1983 tôi chuyển sang chế độ sĩ quan dự bị và đảm nhiệm vị trí đặt hàng của Phòng số 161 do Đại tá Buev Evgeni Mikhailovich làm trưởng phòng. Cho đến năm 2008, tôi làm việc tại Phòng số 100 thuộc doanh nghiệp “Vector” vinh quang.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #67 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2023, 09:44:30 pm »

Mơ ước trở lại Việt Nam

Trong những năm qua, tôi luôn luôn nhớ đến Việt Nam, tôi kính phục tính kiên cường và lòng dũng cảm của quân và dân Việt Nam. Tôi không giấu các bạn đôi khi tôi mơ ước được đến Việt Nam một lần nữa, mà Việt Nam nay đã là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đến Việt Nam để được nhìn thấy mảnh đất thân yêu này, để được nhìn thấy những người con tuyệt vời của Việt Nam đang sống và làm việc trong một môi trường hòa bình, để được gặp lại những người bạn đã một thời cùng chúng tôi trong một chiến hào bảo vệ bầu trời Việt Nam.

Và sau 42 năm, mơ ước đó đã đến với tôi. Mùa thu năm 2007, tôi đã được quay trở lại Việt Nam. Tôi thực hiện được mơ ước đó là nhờ có Hội Hữu nghị Nga - Việt thành phố Ekaterinburg do Mikhail Anatolievich Morozov làm chủ tịch và Anatoly Viktorovich Davydov làm phó chủ tịch, các thành viên của Hội là những Cựu chiến binh Xô Viết đã chiến đấu ở Việt Nam. Một số hội viên đã đến thăm Việt Nam. Và bây giờ, tôi đã được Hội Hữu nghị Nga - Việt mời đến thăm Việt Nam - một đất nước xa xôi về địa lý, nhưng lại rất gần gũi và thân yêu về tình cảm. Tôi sẽ được gặp những người vừa là học trò, vừa là những người bạn cùng chung chiến hào. Tôi thực sự muốn tận mắt nhìn thấy những gì mà nhân dân Việt Nam đã đạt được trong những năm hòa bình kể từ năm 1975.

Đoàn chúng tôi gồm bốn người: Davydov Antoly Viktorovich làm trưởng đoàn, các thành viên của đoàn gồm: Skoryak, tôi và nữ bác sĩ Skipina Marina Valerievna - bác sĩ quân y viện tâm thần, thần kinh học lâm sàng tỉnh Sverdlovsk của các Cựu chiến binh. Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Ekaterinburg, Tiến sĩ Luật Lê Quý Quỳnh đã cấp thị thực cho chúng tôi. Chúng tôi được hỗ trợ tiền cho chuyến đi. Một doanh nhân Việt Nam, ông Hoàng Văn Vinh đã dành cho cá nhân tôi 30.000 rúp. Các thành viên khác của đoàn được Giám đốc nhà máy luyện kim - ông Vladimir Ivanovich Butenko và Giám đốc quân y viện tâm thần thần kinh học lâm sàng tỉnh Sverdlovsk của các Cựu chiến binh tài trợ cho chuyển đi.

Ngày 24 tháng 9, chúng tôi bay từ sân bay Koltsovo, Ekateringburg đến sân bay Quốc tế Domodedovo, Moskva. Tại đây, chúng tôi chuyển sang máy bay Boing 777 để đến Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Chúng tôi bay thẳng từ Moskva đến Thành phố Hồ Chí Minh hết 10 giờ 30 phút.

Đón chúng tôi tại Thành phố Hồ Chí Minh là các bạn Việt Nam - thành viên diễn đàn “Nước Nga trong tâm hồn tôi” do anh Cương dẫn đầu. Tham gia diễn đàn “Nước Nga trong tâm hồn tôi” là những nam, nữ thanh niên Việt Nam đã học ở Liên Xô cách đây 15-20 năm. Chúng tôi được đưa về khách sạn và anh Cương đã giới thiệu với chúng tôi chương trình của đoàn:

- Ngày 25, gặp các thành viên trong diễn đàn “Nước Nga trong tâm hồn tôi”,

- Ngày 26, gặp các Cựu chiến binh Việt Nam,

- Ngày 27, du thuyền trên sông Cửu Long và thăm miệt vườn dọc bên sông,

- Ngày 28, chúng tôi rời Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội. Trên chặng đường 1.500km, chúng tôi sẽ dừng chân tham quan 3 thành phố.

Một cuộc hội ngộ diễn ra rất vui và cảm động. Chúng tôi được các bạn Việt Nam thết đãi các món ăn Việt, hát rất nhiều bài hát của Nga và tặng quà cho nhau. Chúng tôi tặng các bạn Việt Nam những món quà lưu niệm vùng Ural.

Sau hơn 40 năm mới được gặp lại, các Cựu chiến binh Việt Nam và chúng tôi đều rất vui mừng và ai cũng muốn được nói những điều mà mình muốn nói. Các Cựu chiến binh Việt Nam đã cám ơn chúng tôi về sự giúp đỡ vô tư trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Những người có mặt trong buổi gặp này đã dành một phút mặc niệm những người đã hy sinh vì nền độc lập và tự do của Việt Nam. Nhà văn Lưu Trọng Lân, một Cựu chiến binh Việt Nam đã tặng mỗi thành viên trong Đoàn chúng tôi một cuốn sách - tuyển tập các hồi ức có tên gọi “Điện Biên Phủ trên không”.

Trong bữa cơm tối thân mật, chúng tôi và các bạn Việt Nam đã chia sẻ những kỷ niệm về một thời khói lửa, đã chụp ảnh làm kỷ niệm, đã nâng cốc chúc tình hữu nghị giữa nhân dân và quân đội hai nước. Phiên dịch trong các buổi gặp mặt là anh Cương, con trai Thiếu tướng Trần Chi Cường. Thiếu tướng là người trong những năm chiến tranh đã tổ chức vận chuyển tên lửa phòng không của Liên Xô sang Việt Nam. Chúng tôi đã đến thăm gia đình Cựu chiến binh Huỳnh Văn Thanh, nguyên chỉ huy khẩu đội bệ phóng tên lửa thuộc Tiểu đoàn 63 Trung đoàn Tên lửa phòng không 236. Trong tập hồi ức của các Cựu chiến binh Xô Viết có tên gọi “Chiến tranh ở Việt Nam... là thế đó (1965- 1973)”, Cựu chiến binh Xô Viết Kolesnik Nikolai Nikolaevich, người thầy của đồng chí Huỳnh Văn Thanh hồi năm 1965, đã viết: “Tôi nhớ Trung sĩ Huỳnh Văn Thanh - người chỉ huy khẩu đội bộ phóng đầu tiên của tôi, ông là người con sinh ra ở Sài Gòn, ông nổi bật trong những người Việt Nam là ngoài thân hình cao và chắc, còn có đức tính bình tĩnh, chính xác và thông minh”. Trong buổi gặp tại gia đình Cựu chiến binh Huỳnh Văn Thanh, nữ nghệ sĩ Nguyệt Hải đã hát những bài hát tiếng Nga, còn chúng tôi cùng với các Cựu chiến binh Việt Nam đã vỗ tay cổ vũ, ủng hộ. Chủ nhà đã giới thiệu với chúng tôi một bức ảnh mà ông tự viết vào đó dòng chữ “Phóng tên lửa đầu tiên đã bắn hạ một chiếc máy bay không người lái của Không quân Hoa Kỳ đang bay ở độ cao 800 mét”. Thiếu tướng Trần Chi Cường đã trao cho chúng tôi và Skoryak Valery huy hiệu “Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam” vì chúng tôi đã đóng góp vào thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng tôi cảm nhận được tấm lòng chân thành sâu sắc và tình cảm anh em của các Cựu chiến binh Việt Nam đã dành cho chúng tôi, những cuộc hội ngộ như thế này không bao giờ bị lãng quên.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tư, 2023, 09:57:53 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #68 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2023, 09:45:45 pm »

Ngày hôm sau, chúng tôi được đưa đi tham quan sông Mê Kông. Chúng tôi đi về phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Xe đưa chúng tôi trên con đường đã được rải nhựa tốt. Trong khoảng thời gian một tiếng rưỡi xe lăn bánh trên đường, chúng tôi chưa bao giờ gặp bất cứ một hố bom nào. Đất nước đã được hồi phục hoàn toàn. Mọi thứ đều được xây dựng lại như mới. Phía bên phải và bên trái là những ruộng lúa, ao, hồ, cảnh vật rất đẹp, đặc biệt là ở miền Nam. Giữa cánh đồng lúa, chúng tôi luôn nhìn thấy những nơi chôn cất, những nấm mồ. Ở Việt Nam, Phật giáo chiếm đa số. Theo niềm tin của đạo Phật, người chết được chôn gần nhà nhưng không để vĩnh viễn. Ba năm sau, những ngôi mộ này được “cất”, xương của người quá cố được bốc lên, rửa sạch sẽ, xếp vào trong một hộp bằng sành gọi là “tiểu sành” và đưa đi chôn vĩnh viễn.

Đến sông Mê Kông, chúng tôi đi phà sang bờ phía Nam. Ở đó, có nhiều nơi nghỉ ngơi, giải trí, kể cả trên đảo. Ở đó cũng có một bảo tàng và công viên cây xanh kỳ lạ. Dòng sông có lưu lượng lớn và chảy qua 5 quốc gia.

Chúng tôi đi ca nô theo kênh rạch vào sâu tận trong rừng. Hành trình của chúng tôi mang tính tham quan. Chúng tôi dừng lại ở một ngôi làng. Chúng tôi rất vui mừng được làm quen với cuộc sống của người dân nông thôn. Trong vườn, người dân địa phương hầu như trồng dừa là chính. Có rất nhiều quả dừa ở trên cây cao tự rơi xuống đất, người dân cứ mặc chúng để chúng nảy mầm, mọc lên những cây mới và sau một thời gian lại được một lớp dừa xanh.

Người dân vùng này đang được làm giàu bởi những món quà của rừng già. Những vỏ dừa xếp thành đống ở sau nhà. Chúng tôi rất thích uống nước dừa, nó vừa tươi, vừa mát. Chưa ai muốn xa khu rừng này. Song theo lịch trình, chúng tôi đã phải xuống ca nô về nơi ở.

Sớm ngày hôm sau, chúng tôi bắt đầu chuyến đi ra Hà Nội theo lộ trình của một công ty du lịch. Sau 9 giờ ngồi trên xe, chúng tôi đã đến thành phố Nha Trang.

Chúng tôi ở lại Nha Trang 2 ngày. Nha Trang là thành phố biển. Nếu không tắm nắng ở đây thì đó là một thiếu sót lớn. Hai ngày sau. buổi tối chúng tôi đến thị trấn Hà Tĩnh. Chuyến đi rất khắc nghiệt, suốt cả đêm cơn bão “Lekima” luôn bám đuổi chúng tôi. Hơn mười tiếng đồng hồ, xe chúng tôi phải xuyên qua bức tường nước mưa dày đặc. Chúng tôi đến Hả Tĩnh giữa lúc đỉnh cao của cơn bão. Bão đã tàn phá nhiều nhà cửa, làng mạc và hoa màu. Trong khách sạn “Nika”. nơi chúng tôi ở, nhiều khung cửa sổ đã bị văng ra ngoài. Những cây dừa trong thành phố, một loại cây được coi là cứng rắn, cũng bị bão quật đổ. Thành phố bị mất điện nhiều lần.

Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Nga thành phố Hà Tĩnh Nguyễn Xuân Tinh đã ân cần đón tiếp chúng tôi.

Hà Tĩnh là địa phương rất giàu khoáng sản, và nền nông nghiệp cũng có nhiều lợi thế phát triển. Phía Đông thành phố là biển, và phía Tây là dãy Trường Sơn.

Hội Hữu nghị Việt - Nga tỉnh Hà Tĩnh đã xây dựng chương trình tham quan cho đoàn chúng tôi. Chúng tôi thăm bảo tàng nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Du. Chúng tôi đến thăm Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng chí Hà Văn Giáp đã tiếp đón chúng tôi. Các nhà doanh nghiệp bày tỏ mong muốn được hợp tác với các lĩnh vực công nghiệp phát triển của thành phố Sverdlovsk của chúng tôi. Buổi tối ngày cuối cùng ở Hà Tĩnh, chúng tôi đã được những người bạn mến khách địa phương đến tiễn chúng tôi lên đường ra Hà Nội.

Sáng sớm ngày hôm sau, chúng tôi đã đến Hà Nội. Chúng tôi đã được bố trí ở trong khách sạn “Thống Nhất”. Cũng như ở Thành phố Hồ Chí Minh, đa số người dân Thủ đô đi lại bằng xe máy, mặc dù cũng có xe ô tô. Hà Nội hiện có 5 triệu người. Chúng tôi được biết, năm 1975 dân số Việt Nam có 40 triệu người, và năm 2005 đã có 85 triệu người. Mặc dù đã có khuyến nghị trong mỗi gia đình trẻ, không nên đẻ quá hai con.

Sau 30 năm, tại thủ đô Hà Nội đã xây dựng nhiều tòa nhà mới, trong đó có các tòa nhà cao tầng. Chúng tôi mua bản đồ thành phố, đánh dấu vị trí khách sạn chúng tôi đang ở và tự đi tham quan các danh lam, thắng cảnh của Thủ đô. Chúng tôi đến thăm hồ Hoàn Kiếm, địa danh lịch sử nổi tiếng của Hà Nội.

Ngày 6 tháng 10, chúng tôi được đưa tới “hòn ngọc” của Việt Nam. Đó là vịnh Hạ Long - một khu nghỉ mát tuyệt vời. Có thể nói vắn tắt hành trình trong một ngày như sau: từ Hà Nội đi về phía đông nam, khoảng 1 giờ 30 phút đã đến khu nghỉ mát, ở đó 4 giờ và tối cùng ngày có thể trở về Hà Nội được. Trong thời gian đó, chúng tôi đã có bao nhiêu ấn tượng tuyệt vời! Nhiều khách sạn được xây dựng ở đây, bao gồm cả những khách sạn sang trọng được xếp vào loại “sao”. Chúng tôi được ngồi trên ca nô đi thăm vịnh, quan sát nhiều hòn đảo cổ tích tuyệt vời trong vịnh, ngưỡng mộ môi trường xung quanh đẹp như tranh vẽ... Sức nóng 35 - 40 độ nhưng vẫn dễ chịu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #69 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2023, 09:49:06 pm »

Cuộc hội ngộ của những người bạn chiến đấu

9 giờ sáng ngày 7 tháng 10, chúng tôi đi thăm làng lụa Vạn Phúc nổi tiếng ở ngoại ô thủ đô. Buổi chiều, tham quan một số đường phố Hà Nội và mua quà lưu niệm; lúc 18 giờ sẽ diễn ra buổi gặp mặt thân mật với những người tham gia diễn đàn “Nước Nga trong tâm hồn tôi”, ăn tối.

Ngày 8 tháng 10 - chúng tôi được các Cựu chiến binh Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam đưa đến thăm trận địa của Tiểu đoàn 63 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 ở Ba Vì, Sơn Tây, nơi mà hồi tháng 7 năm 1965 chúng tôi đã cùng nhau ra quân đánh thắng trận đầu. Trên đường đến trận địa cũ, chúng tôi được đến thăm gia đình đồng chí Trương Văn Ta - nguyên là phiên dịch của tôi hồi năm 1965. Buổi chiều, chúng tôi được Lãnh đạo Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp đón, sau đó thăm Bảo tàng Phòng không - Không quân. Chiều tối cùng ngày, tới thăm Sư đoàn Phòng không 361 và được Lãnh đạo Sư đoàn mời cơm thân mật.

8 giờ sáng ngày 9 tháng 10 được gặp lại các Cựu chiến binh Bộ đội Tên lửa Phòng không. Trong buổi gặp này có sự tham gia của các phóng viên truyền hình và phóng viên giới truyền thông đại chúng. Buổi chiều, chúng tôi được gặp Giám đốc Viện Châm cứu trung ương, và buổi tối, được tới thăm toà soạn báo “Tiền Phong”. Tất cả các sự kiện đều được các phóng viên báo chí, cũng như truyền hình, phóng viên ảnh chụp và đưa tin.

Ngày 7 tháng 10, chúng tôi được đến thăm làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội 15km. Trong làng có truyền thống sản xuất nhiều sản phẩm lụa tơ tằm cũng như tranh thêu lụa. Ngành truyền thống này có tính giáo dục truyền thống rất cao. Sau khi mua quà cho người thân, chúng tôi trở về trung tâm Hà Nội.

Tối hôm đó, chúng tôi đã tham dự diễn đàn “Nước Nga trong tâm hồn tôi”. Tới dự buổi diễn đàn này có rất nhiều người Việt Nam đã tốt nghiệp các trường đại học ở Liên Xô. Tất cả đều biết tiếng Nga và văn học Nga ở một trình độ nào đó. Ngày hôm đó là sinh nhật lần thứ 71 của tôi. Các bạn Việt Nam đã nồng nhiệt chúc mừng tôi, tặng tôi quà và một lẵng hoa lớn. Và trong niềm vui này có một điều bí ẩn nào đó, chưa nói hết ra được. Hình như mọi người đang chờ đợi ai đó sẽ đến. Và đây rồi! một người đang ôm một bó hoa đi tới. Từ xa, tôi chưa nhận ra đó là ai. Và khi anh đến gần hơn, tôi vui mừng nhận ra Nguyễn Đình Khoan, người mà tôi đã dạy học cách đây hơn 40 năm và cùng chúng tôi vai kề vai, ngồi cạnh nhau trong xe ca bin phát lệnh trong trận đầu ra quân đánh thắng ngày 24 tháng 7 năm 1965. Chúng tôi và Nguyễn Đình Khoan đảm bảo việc điều khiển tên lửa đến thời điểm nổ khi tên lửa gặp chiếc máy bay của Mỹ. Bây giờ anh ấy cũng là Cựu chiến binh Bộ đội tên lửa như tôi. Đối với cả hai chúng tôi, cuộc hội ngộ sau hơn 40 năm là một bất ngờ thú vị. Chúng tôi ôm nhau, hôn nhau như những người bạn thân nhất. Chúng tôi vui mừng vì chúng tôi còn sống và chúng tôi hạnh phúc khi được trải nghiệm một khoảnh khắc vui vẻ như vậy đã dành cho chúng tôi. Chúng tôi nhớ lại những giai đoạn của cuộc chiến tranh đã qua, nhớ đến các đồng đội của chúng tôi, và kể cho nhau nghe về một cuộc sống hạnh phúc sau khi chiến thắng đế quốc Mỹ. Nguyễn Đình Khoan tặng tôi một bức ảnh cả gia đình mình. Các phóng viên đã chăm chú quay lại khoảnh khắc đầy xúc động của chúng tôi.

Trong diễn đàn này, tất cả chúng tôi đều nâng cốc chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Nga - Việt Nam, chúc lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn luôn cảnh giác và đứng vững trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền đất nước. Sau đó, rất nhiều người trong chúng tôi đã hát vang các bài hát của Nga. Nữ ca sĩ Tuyết Thanh đã biểu diễn rất chân thành, mọi người đều im lặng lắng nghe. Các bạn Việt Nam rất thích những bài hát Nga, đặc biệt là bài “Kachyusa”, “Chiều Moskva” cũng như các bài hát chiến tranh: bài “Cư dân trái đất”... Thật tuyệt vời khi ở trong một bầu không khí thân thiện và đầy cảm xúc như thế này. Chúng tôi cũng hát với họ. Valery Vasilyevich Skoryak đã giới thiệu với các bạn Việt Nam những bức ảnh đã ngả màu vàng chụp trong chiến tranh ở Việt Nam. Vào cuối buổi diễn đàn, chúng tôi đã chúc nhau sức khoẻ, đạt nhiều kỳ vọng trong cuộc sống. Buổi giao lưu này cho thấy đất nước chúng ta, với sự giúp đỡ vô điều kiện mà chúng ta đã dành cho nhân dân Việt Nam trong những năm khó khăn, đã chinh phục được tâm hồn của người dân Việt Nam.

Sáng hôm sau, một chiếc xe buýt nhỏ từ trụ sở Sư đoàn Phòng không 361 đã đến khách sạn “Thống nhất” đón chúng tôi đến dự cuộc họp mặt với các sĩ quan Việt Nam. Chúng tôi được mời ngồi ở hàng ghế danh dự, được mời uống nước trà xanh. Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hải thông qua phiên dịch đã giới thiệu với chúng tôi những Cựu chiến binh Bộ đội Tên lửa Phòng không, những người đã tham gia trong trận đầu ra quân đánh thắng ngày 24 tháng 7 năm 1965. Họ là:

- Đại tá Phạm Trương Uy - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Cựu chiến binh Bộ đội Tên lửa Phòng không, nguyên sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 64;

- Nguyễn Văn Thân - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 63;

- Lã Đình Chi - sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 63;

- Nguyễn Văn Thực - Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tiểu đoàn trưởng;

- Nguyễn Quang Hùng là một Cựu chiến binh Bộ đội Tên lửa phòng không;

- Nguyễn Đình Khoan nguyên trắc thủ RPK. (Trắc thủ hệ lập lệnh - ND);

- Đại tá Quách Hải Lượng, chỉ huy đơn vị phiên dịch quân sự Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236. Trong số phiên dịch đó có Trần Phúc Căn và Trương Văn Ta.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM