Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:51:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử nước Mỹ thời kỳ tái thiết 1863-1877  (Đọc 20834 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2023, 02:21:07 pm »


❖ CHÍNH SÁCH GIẢI PHÓNG NÔ LỆ VÀ CUỘC CHIẾN KẾT THÚC

Khoảng giữa năm 1864, một cư dân da trắng ở Chattanooga nhận định đời sống trong phần đất phía Nam quân đội Liên bang chiếm đóng có phần khác với khi xưa. Có giáo viên miền Bắc dạy học cho người da đen; hàng trăm ngàn nô lệ cũ giờ đây làm việc được trả công. Tuy vậy, diễn tiến các sự kiện ở miền Nam như muốn chia rẽ những người Cộng hòa ở phương Bắc. Với chủ đề giải phóng nô lệ là một yếu tố cấu tạo sự trung thành với Đảng, các cuộc tranh luận chính trị tập trung vào số phận những người được lự do trong thời hậu chiến. Những diễn biến ở bang Louisiana khiến nhiều đảng viên Cộng hòa lo ngại.

Năm 1864, những đảng viên Cộng hòa cấp tiến quan tâm nhiều đến quyền bình đẳng trước pháp luật của người da đen được giải phóng hơn là quyền đi bầu và việc kiểm soát các chính phủ tiểu bang ở phương Nam bởi những người chân chính theo chủ nghĩa kết hợp. Bang Louisiana thiếu cả hai yếu tố này. Hệ thống lao động do Banks đề ra và quan điểm bài da đen rõ rệt của những người ủng hộ Banks khiến cho nhiều người Cộng hòa tin chắc rằng các chính quyền thành lập do Kế Hoạch 10% của Lincoln không hề có sự đối xử công bằng với những nô lệ được giải phóng.

Từ sự bất mãn về những diễn biến ở bang Louisiana và mối lo âu về số phận những nô lệ được tự do, dự luật Wade-Davis ra đời vào tháng 7 năm 1865, dự kiến đưa ra trước Quốc hội để biểu quyết. Dự luật đề nghị tạm hoãn công cuộc tái thiết ở mỗi tiểu bang đến khi nào đa số những người nam da trắng cam kết ủng hộ Hiến pháp của Liên bang. Sau đó, một đại hội lập hiến sẽ được tổ chức nhưng quyền đi bầu sẽ giới hạn cho những người đã tuyên thệ chưa bao giờ giúp đỡ phe Liên minh miền Nam. Dự luật cũng chỉ bảo đảm bình đẳng trước pháp luật nhưng không đảm bảo quyền bầu cử cho người da đen. Ngại rằng dự luật này sẽ buộc phải gạt bỏ chính quyền hiện hữu ở bang Louisiana, Lincoln phủ quyết ngầm dự luật và bị các tác giả của nó là những người cấp tiến như Benjamin F. Wade, thượng nghị sĩ bang Ohio và Henry Winter Davis, dân biểu (đại biểu ở Hạ nghị viện) bang Maryland phản đối; trong một bản tuyên bố họ lên án Tổng thống tiếm quyền một cách “độc tài”.

Bất chấp những lời lẽ gay gắt của Wade và Davis, Lincoln vẫn duy trì mối giao hảo với những đảng viên Cộng hòa cấp tiến. Giữa họ, các điểm đồng thuận - quyết tâm thắng cuộc chiến và bảo đảm bãi bỏ chế độ nô lệ - đã thắng những bất đồng. Tuy nhiên những tranh luận về công cuộc tái thiết lại chia rẽ họ. Lincoln xem cuộc tái thiết là một chiêu bài để thắng cuộc chiến và bảo đảm việc giải phóng nô lệ; ông nhắm thiết lập những chính quyền tiểu bang được hậu thuẫn rộng rãi ở miền Nam hòng làm suy yếu Liên minh miền Nam. Những người cấp tiến trong đang Cộng hòa thì muốn cuộc tái thiết phải thay đổi toàn diện cơ cấu xã hội ở miền Nam. Vì thế họ muốn trì hoãn tiến trình tái thiết cho đến khi chiến tranh chấm dứt và chỉ cho những người đã cam kết trung thành được quyền bầu cử. Dự luật Wade-Davis chỉ cho những người da trắng có quyền bầu cử, nhưng nhiều đảng viên cấp tiến tin rằng người da đen sẽ có được quyền này. George S. Boutwell cho rằng những người nô lệ được giải phóng là những người ủng hộ đáng tin tưởng nhất cho Liên bang. Không phải những đảng viên Cộng hòa cấp tiến đã biến vấn đề quyền bầu cử của người da đen thành trung tâm điểm của các hoạt động chính trị mà là người da đen tự do ở thành phố New Orleans đã vận động để dành được quyền này.

Ngay sau đại hội lập hiến năm 1864 ở bang Louisiana, tờ Tribune (Diễn đàn) ra đời ở New Orleans để các đảng viên cấp tiến bày tỏ quan điểm. Người sáng lập tờ báo là Louis C. Roudanez, con trai một nhà buôn giàu có người Pháp với một phụ nữ da đen mới được tự do. Louis tốt nghiệp y khoa tại Viện Đại học Paris (Pháp) và trường Đại học Darmouth. Tháng 11 năm 1864, một chính khách nổi tiếng trong cuộc tái thiết, Jean-Charles Houzeau, được mời làm chủ bút cho tờ báo. Sinh ra trong một gia đình quý tộc tại Bỉ, Jean-Charles vốn là một nhà thiên văn kiêm nhà báo di cư sang Hoa Kỳ và sinh sống tại bang Texas từ năm 1858. Ông chống lại việc bang này ly khai với Liên bang và dọn sang bang Louisiana năm 1864. Nhận xét về bác sĩ Roudanez và những người cộng tác với tờ Tribune, ông viết “đây là những người tiên phong của dân gốc châu Phi tại Hoa Kỳ”.

Ngay cả trước khi Houzeau tham gia vào tờ báo, tờ Tribune đã bày tỏ quyết tâm tranh đấu cho quyền bầu cử của những người da đen, những “cộng sự viên kín”. Nhưng chính Houzeau là người đã biến Tribune thành tờ báo có uy tín lớn trong phe Cộng hòa ở miền Bắc và qua tờ báo ông đã chuyển những thông điệp bao gồm một chương trình mạch lạc đòi hỏi quyền bầu cử, sự bình đẳng trước pháp luật, xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc trong nhà trường và trên xe điện ở New Orleans, và phân chia các đồn điền cho người nô lệ được giải phóng. Ông đã biến sự liên minh giữa người da đen tự do và nô lệ được giải phóng thành nền tảng chính trị của tờ báo, xem đây là biện pháp ngăn ngừa không để cuộc cách mạng do nội chiến tạo ra trở thành một cuộc phản loạn. Tờ báo tự nhận xét không thể quay ngược một khi đã cam kết đòi quyền bầu cử cho người được tự do và cũng đã lôi kéo luôn đảng cấp tiến ở bang Louisiana. Tháng 12 năm 1864, nhiều cuộc xuống đường rầm rộ diễn ra ở New Orleans và nghe các diễn giả phát biểu, trong đó có nhà cấp tiến da trắng là Thomas J. Durant và hai người da đen tự do, Oscar J. Dunn và James H. Ingraham. Dunn tuyên bố: “Chúng tôi xem mọi người da đen và da màu đều là nạn nhân”.

Vì thế, trong khi cuộc nội chiến sắp chấm dứt, cộng đồng da đen thông hiểu chính trị và nhanh nhạy nhất nước đã thoát ly toàn diện khỏi các giới chức quân đội và dân sự của bang Louisiana tự do. Tại Washington, mọi người đều tỏ cảm tình với những nguyện vọng của họ. Sự tiếp xúc với nhóm người có văn hóa và thành đạt về kinh tế đã làm phai mờ những giả định chủng tộc phổ biến ngay trong nội bộ đảng Cộng hòa và đã khiến Lincoln nghĩ tới chủ nghĩa bình đẳng cho công cuộc tái thiết. Do bang Louisiana mà vấn đề tái thiết vẫn chưa được giải quyết. Tháng 3 năm 1865 trong lúc Quốc hội ngưng họp thì nhóm cấp tiến nỗ lực thuyết phục nhân dân miền Bắc ủng hộ quyền bầu cử của người da đen.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #11 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2023, 02:21:54 pm »


Bất chấp vấn đề bang Louisiana đang bế tắc, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa 38 là một sự kiện lịch sử. Năm 1864, Thượng viện đã thông qua Tu chính án 13, bãi bỏ chế độ nô lệ trên toàn quốc. Ngày 31 tháng 1 năm 1865, Hạ nghị viện bằng số phiếu thuận/nghịch chênh lệch lớn, 119/56, cũng đã thông qua bản Tu chính án này, và gửi đến các tiểu bang để phê chuẩn. “Vấn đề của thời đại đã được giải quyết”, Dân biểu Cornelius, một chiến sĩ chống chế độ nô lệ, tuyên bố. Nhưng cũng giống như bao thành quả khác của cuộc nội chiến, Tu chính án giải quyết được một vấn đề nhưng lại dẫn đến một loạt vấn đề khác. “Tự do là gì?” James A. Garfield sau này đặt câu hỏi. “Phải chăng nó chỉ là ân huệ không bị xiềng xích?... Nếu chỉ có thế thì tự do chỉ là một trò hề cay đắng, một ảo tưởng tàn nhẫn”. Nhiều đảng viên Cộng hòa khi ấy tin tưởng Tu chính án 13 sẽ đem lại cho người da đen quyền công dân với mọi quyền lợi căn bản được chính quyền Liên bang bảo vệ.

Ngay cả phong trào bãi nô cũng không quyết định được Tu chính án là đoạn kết hay sự khởi đầu. William Lloyd Garrison khi đề nghị giải tán trong vinh quang Hội Chống nô lệ Hoa Kỳ tại buổi họp thường niên vào tháng 5, 1865 tuyên bố: “Cám ơn Chúa, tâm nguyện của tôi về sự thủ tiêu chế độ nô lệ đã hết”. Nhưng Frederick Douglas đáp lại: “Chế độ nô lệ chưa bị thủ tiêu chừng nào người da đen chưa được cầm lá phiếu”. Kết cuộc, Hội Chống nô lệ Hoa Kỳ chưa thể giải tán, và Wendell Phililips được bầu làm chủ tịch Hội. Một khẩu hiệu mới được trưng ra: “Không có tái thiết nếu người da đen chưa được bỏ phiếu”.

Đằng sau các cuộc tranh luận này là câu hỏi lớn hơn khi chế độ nô lệ đã bị thủ tiêu: Liệu người nô lệ được tự do có sẵn sàng hành xử như những công dân và tham gia vào thị trường cạnh tranh không, hay là khi đó chính phủ Liên bang vẫn còn phải giúp đỡ họ một cách đặc biệt? Mặc dù các nhà cải cách đều chấp nhận mở rộng quyền lực quốc gia trong cuộc chiến nhưng đa số lại có ý tưởng để nó phát triển tự nhiên. Trợ giúp sẽ sinh ra lệ thuộc, William C. Gannett, một giáo viên ở khu Sea Island cảnh báo: “Người da đen sẽ mau chóng tự cứu rỗi chừng nào họ buộc phải tự lo”.

Mặt khác, một nhóm người cấp tiến chủ trương chính phủ Liên bang phải can thiệp: phân chia đất đai cho người nô lệ cũ. Vị dân biểu ủng hộ ý kiến này nhiều nhất là George W. Julian, chủ tịch Ủy ban Công thổ Hạ nghị viện. Ông nói, nếu không cải cách ruộng đất thì người nô lệ được giải phóng sẽ lại bị “ràng buộc bởi chế độ tiền công cũng tàn nhẫn chẳng khác gì chế độ nô lệ”. Sự thành lập Cục Vấn đề người được tự do vào tháng 3 năm 1865 tượng trưng niềm tin của những người Cộng hòa ở chính quyền Liên bang sẽ gánh vác nhiều trách nhiệm hơn đối với những nô lệ được giải phóng, kể cả việc giao đất cho họ.

Cục Vấn đề người được tự do có nhiệm vụ phân phát lương thực, quần áo, chất đốt cho những người nô lệ cũ nghèo khổ và giám sát những vấn đề liên quan đến đời sống của họ ở miền Nam. Thời gian hoạt động của Cục Vấn đề người được tự do được ấn định một năm. Thượng nghị sĩ Charles Summer ở bang Massachusetts đã đề nghị cho Cục được hoạt động thường xuyên và ngang cấp Bộ nhưng gặp nhiều ý kiến chống đối. Xét về một góc độ thì Cục vấn đề người được tự do hứa hẹn đổi đời cho người nô lệ cũ. Quốc hội cũng đã cho phép phân chia các đồn điền bị tịch thu và những khu đất bỏ hoang thành những thửa đất rộng 40 mẫu Anh (acre = 4.047 mét vuông) để cho người nô lệ được tự do và dân tị nạn thuê và sau cùng là mua. Luật thành lập Cục Vấn đề người được tự do dự kiến chính phủ cũng sẽ trợ giúp một số người da đen trở thành điền chủ độc lập trên vùng đất phương Nam “lao động tự do”.

Trong lúc Quốc hội đang thảo luận thì vị tướng chiến thắng William T. Sherman lại làm vấn đề đất đai thêm phức tạp. Ngày 12 tháng 1 năm 1865, với sự cổ vũ của Bộ trưởng Chiến tranh Edwin M. Stanton khi đó đang đi thị sát thành phố Savannah (bang Georgia) - nơi quân Liên bang dưới sự chỉ huy của Sherman đã chiếm đóng từ tháng 12 năm 1864 - Sherman triệu tập 20 lãnh đạo cộng đồng da đen của thành phố, đa số là mục sư đạo Tin Lành. Buổi nói chuyện cho thấy những lãnh đạo da đen này hiểu rất rõ ý nghĩa của tự do. Garrison Frazier, một mục sư Tin Lành đã chịu cảnh nô lệ hơn 60 năm trước khi mua được sự tự do vào năm 1857, định nghĩa tự do là “đặt chúng tôi ở vị trí được hưởng những thành quả lao động của chúng tôi”. Ông nói: “Cách tốt nhất là chúng tôi có đất, để chúng tôi cày bừa bằng chính sức lao động của chúng tôi”. Bốn ngày sau, Sherman ký ban hành Lệnh chiến trường đặc biệt số 15, đặt vùng Sea Islands và một phần đất thấp ven biển trồng lúa ở phía Nam thành phố Charleston vào sau nội địa khoảng 30 dặm (48km), thành vùng định cư tuyệt đối của người da đen. Mỗi gia đình được nhận 40 mẫu Anh; sau đó Sherman lại cho phép họ được thuê mướn những con la của quân đội. Đến tháng 6, khoảng 40.000 người nô lệ được tự do đã định cư trên 400.000 mẫu Anh “đất của Sherman”. Ngay lúc này trên vùng duyên hải các bang Nam Carolina và Georgia đã có sự hình thành một xã hội phương Nam cấp tiến hơn cả khi chế độ nô lệ chấm dứt.

Lúc này cuộc chiến bước sang giai đoạn cuối. Quân lính của Sherman tiến vào bang Nam Carolina, đem lại “luồng gió mới của cuộc giải phóng nô lệ”. Nhà cửa, kho xưởng của các chủ điền bị cướp bóc; một giám thị bị giết, và tại một đồn điền các phu da đen chẳng những từ chối nghe theo lệnh của chủ da trắng mà còn la hét và “ca hát theo kiểu cách của họ”, như một chủ điền kể lại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #12 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2023, 02:22:35 pm »


Ngày 18 tháng 2 năm 1865, thành phố Charleston bang Nam Carolina thất thủ. Trong số các binh đoàn quân Liên bang tiến vào chiếm đóng có Trung doàn 54 bộ binh Massachusetts gồm toàn binh sĩ da đen; họ vừa đi vừa hát bài “Thân xác John Brown”. Năm tuần sau thành phố này được chứng kiến lễ hội tự do; tất cả mọi cộng đồng da đen túa ra đường nhảy múa, ca hát. Trên bốn ngàn người da đen - gồm binh sĩ, lính cứu hỏa, những người buôn bán lẻ, trẻ em, học sinh cầm các biểu ngữ ghi “Chúng tôi không có ai là chủ; chỉ biết có chúng tôi”. Ngược về phía Bắc, cảnh lễ hội tương tự cũng diễn ra khi các binh đoàn của tướng Grant tiến vào thành phố Richmond, bang Virginia ngày 3 tháng 4. Hàng ngàn người da đen xuống đường, nhảy múa, cầu nguyện, ca hát “Xiềng xích nô lệ cuối cùng cũng bị chặt đứt”. Tổng thống Lincoln, không để ý tới vấn đề an ninh, đi bộ trên các đường phố ở Richmond, có chừng một chục thủy thủ đi kèm. Mỗi bước ông đi ông đều bị những người nô lệ cũ vây quanh; họ tung hô ông như đấng “Cứu Thế”, quỳ gối trước mặt ông làm ông lúng túng cố đỡ họ đứng lên. Một người da đen ở Richmond đã nói thẳng thừng với người chủ nô cũ, “mọi cái đều bình đẳng... Đất đai nay thuộc sở hữu của người Yankee, và họ chia đều cho người da màu chúng tôi”. Ngày 9 tháng 4, 1865, tướng Grant chấp nhận sự đầu hàng của tướng Lee (quân đội Liên minh miền Nam) tại Appomattox.

Cuộc tái thiết nổi cộm giữa hàng loạt các biến cố lịch sử liên tiếp xảy ra như là vấn đề trung tâm cần giải quyết. Nhưng, như James G. Blaine nhận định sau này, Lincoln không có kế hoạch “cố định” cho cuộc tái thiết. Tổng thống đã chấp thuận những chính sách khoan dung của Tướng Banks ở bang Louisiana và các đạo luật loại trừ của Andrew Johnson ở bang Tennessee, cũng chỉ vì ông muốn sớm chấm dứt chiến tranh và bảo đảm việc hủy bỏ chế độ nô lệ hơn là có kế hoạch tái thiết miền Nam thời hậu chiến. Cuộc tái thiết đang lúc có chiến tranh cũng không đem lại kết quả. Các chính quyền thân Liên bang được tạo ra trong lòng phe Liên minh miền Nam tại bang Virginia, Tennessee, Arkansas, và Louisiana, nhưng chẳng được sự hậu thuẫn rộng rãi của công chúng mà cũng không có sự chuẩn thuận của Quốc hội.

Ngày 11 tháng 4, tại Nhà Trắng, Tổng thống Lincoln đọc bài diễn văn mà sau này người ta gọi đó là bài diễn văn cuối cùng của ông. Đây là lần đầu tiên ông lên tiếng công khai ủng hộ quyền bầu cử của người da đen. Bằng lời nói thận trọng và ngắn gọn, ông nói: “Tôi rất mong muốn những người thật thông minh và những người đã chiến đấu trong hàng ngũ chúng ta được quyền đi bầu”. Bài diễn văn điển hình phong cách của Lincoln - ông bảo tồn hậu thuẫn của quần chúng và sự đoàn kết trong đảng bằng cách quay về phía những người cấp tiến mà không nói gì về một miền Nam bại trận. Tờ Thời Báo New York nhận định Lincoln thấy chưa phải lúc để phát biểu các chính sách về cuộc tái thiết. Bốn ngày sau, Tổng thống Lincoln bị John Wilkes Booth, một diễn viên kịch, ám sát chết trong khi đang xem một vở bi hài kịch tại rạp hát Ford ở thủ đô Washington.

Nhiều năm trước ngày tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ, Charles I. Reason, mọi người chủ trương bãi nô đã tiên đoán việc bãi bỏ chế độ nô lệ sẽ tạo nhiều “thử thách” cho người nô lệ được tự do. “Rồi đây họ sẽ phải chịu đựng thành kiến là nô lệ, và thành kiến này sẽ không dễ tan biến đi”. Trong một xã hội dựa vào lý tưởng chủ quyền cá nhân và sự bình đẳng trong cạnh tranh, liệu có thể cùng tồn tại chế độ nô lệ và quyền công dân không?” Khái niệm mơ hồ về “tự do” biến đổi theo mỗi vùng nhưng ở đây sự giải phóng nô lệ có nghĩa là đòi hỏi quyền bình đẳng và bầu cử của người da đen. Nếu người da đen không có được những quyền này thì có thể giai cấp chủ nô trước đây sẽ tái lập sự bá chủ về chính trị. Những câu hỏi này được nhắc tới nhiều lần khi cuộc nội chiến sắp sửa chấm dứt nhưng chẳng có câu trả lời.

Hơn nữa, rõ ràng không chỉ người da trắng bàn cãi những vấn đề này mà cả người da đen nữa. Isaac Brinckerhoff, một mục sư Tin Lành ở phương Bắc thuộc bang Florida do quân đội Liên bang kiểm soát tổ chức một loạt buổi nói chuyện về Hiến pháp Hoa Kỳ và những nguyên tắc của chính quyền Cộng hòa. Ông nhận xét, “người da đen rất quan tâm đến những vấn đề này. Khi tôi hỏi người hầu già da đen của tôi là lão Meredith có thích các bài giảng của tôi không, ông ấy xòe hai bàn tay nói ‘tôi đều lớn khôn hơn mỗi lần được nghe’. Vậy là có thêm một quần chúng mới trên diễn đàn chính trị và họ cũng sẽ phải định nghĩa ‘tự do’ là gì”.

Khi cuộc tái kiến thiết sau chiến tranh bắt đầu, Sidney George Fisher, một luật gia bảo thủ ở Philadelphia, nhận xét chiến tranh đã để lại nhiều vấn đề chưa được giải quyết:

“Có vẻ như số phận chúng ta sẽ không thoát nổi vấn đề người da đen. Chúng ta vừa mới bãi bỏ chế độ nô lệ thì một đảng chính trị đang lớn mạnh lại đưa ra vấn đề bầu cử của dân da đen. Như vậy thì câu hỏi ‘chúng ta phải làm gì với người da đen’ còn lâu mới có câu trả lời. Thật vậy, không thể có giải pháp nào thỏa mãn cả miền Bắc lẫn miền Nam”.

Fisher hiểu sẽ có cuộc tranh chấp tiếp nối theo sau việc bãi nô. Frederick Douglas nhận định: “Thật vậy, công việc chưa thể xong với sự ra đi của chế độ nô lệ; ngược lại, tất cả mới chỉ bắt đầu”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #13 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2023, 08:21:41 am »


3

Ý NGHĨA CỦA TỰ DO



Tự do đến với người da đen ở các vùng lãnh thổ miền Nam theo nhiều cách khác nhau. Ở nhiều vùng rộng lớn thì chế độ nô lệ đã tan rã trước khi tướng Lee đầu hàng còn ở những nơi khác thì mãi đến mùa xuân năm 1865 người nô lệ mới được nghe nói đến giải phóng. Lúc đầu họ rất vui mừng khi được tự do. Houston H. Holloway, một nam nô lệ đã bị mua đi bán lại ba lần trước ngày anh vừa tròn 20 tuổi vào năm 1865, nhắc lại cái ngày khó quên ấy tại nơi anh sinh sống trong bang Georgia: “Tôi cảm thấy mình như chim sổ lồng. Amen, Amen, Amen! Chưa bao giờ tôi được vui sướng như ngày hôm ấy!”.

Một mục sư da đen nhận định, “Con tim người da đen vốn đã khát khao tự do từ lâu rồi". Nhưng, tự do là gì? Chúng ta cần phải định nghĩa câu này", O. Howard, Cục trưởng Cục vấn đề người tự do nói trước một đám đông người da đen năm 1865. “Đây là một vấn đề rất dễ hiểu sai”.

Người da đen vừa thoát khỏi cảnh nô lệ thì hiểu cuộc sống mới từ kinh nghiệm làm nô lệ và nhìn vào xã hội tự do quanh mình. Như mục sư da đen Henry M. Turner phát biểu “Tự do có nghĩa là ta được hưởng quyền lợi chung với những người khác”. Henry Adams thì nói với người chủ cũ: “Nếu tôi không được hoạt động giống như người da trắng thì tôi không có tự do. Tôi cần phải hoạt động như người da trắng nghèo khổ, nếu không tôi vẫn chỉ là nô lệ”.

Nhưng cuộc giải phóng nô lệ đã đem lại cho người da đen những ý tưởng mới: không chịu sự kiểm soát của người da trắng; có quyền tự chủ với danh nghĩa cá nhân và là thành viên của cộng đồng. Trước chiến tranh, những người da đen tự do đã có nhà thờ, trường học và tạo lập những hội đoàn công ích của riêng họ, trong khi người da đen nô lệ thì chỉ nghĩ về gia đình và tôn giáo họ theo. Khi được tự do, người nô lệ cũ cùng người da đen tự do củng cố, mở rộng những thể chế này và tiến tới sự độc lập về kinh tế. Suốt thời kỳ tái thiết, người da đen đặt nền móng cho một kiểu xã hội riêng có gốc rễ từ thời nô lệ nhưng cơ cấu và giá trị thì từ hệ quả của giải phóng.


❖ TỪ NÔ LỆ ĐẾN TỰ DO

Suốt một thời gian dài sau cuộc nội chiến người da đen được giải phóng vẫn còn bị ám ảnh về cảnh nô lệ đã trải qua. Họ vẫn còn căm hận những sự bạc đãi và nhất là cảnh sống nô lệ. Một mục sư người Scotland đến Richmond, ông David Macrae, kể lại ông rất ngạc nhiên khi nghe một nô lệ cũ than phiền vì bị đối xử tồi tệ “mặc dù chưa hề bị đánh dập”. “Vậy tại sao anh lại nói anh bị đối xử tàn tệ?” Macrae hỏi. Anh nô lệ được tự do trả lời: “Vì tôi bị giữ làm nô lệ”.

Bằng rất nhiều kiểu, những người nô lệ vừa được tự do luôn tìm cách thoát khỏi quyền lực của người da trắng. Họ tìm mọi dịp để không làm theo những qui định đã từng áp đặt cho họ. Tự do họp mặt; làm những nghi thức tôn giáo cho riêng họ mà không có sự giám sát của người da trắng; nuôi chó; mua súng đạn, rượu; và không nhường đường cho người da trắng. Họ ăn mặc theo ý thích riêng; phụ nữ da đen mặc quần áo lòe lẹt, mang ô (dù), đầu đội mũ và choàng khăn sặc sỡ. Nhiều người da trắng than phiền tính “xấc láo” và “bất trị” của đám người được tự do không còn ngoan ngoãn như khi còn là nô lệ. Tại đồn điền Bradford ở bang Florida liên tiếp xảy ra những vụ đụng độ. Đầu tiên là người đầu bếp da đen nói thẳng với bà chủ “nếu bà muốn ăn cơm thì hãy tự nấu lấy”. Còn những người nô lệ cũ khác đang làm việc trên đồng ruộng cũng bỏ đi, đến gặp các binh lính phương Bắc để nghe nói chuyện về “tự do”. Chị hầu gái trong gia đình cũng dắt con đi nghe. Khi bà chủ nói ở nhà làm việc thì chị nói lại, “chúng tôi được tự do rồi; chúng tôi muốn làm gì thì đó là quyền của chúng tôi”.

Người nô lệ căm ghét nhất là luật lệ không cho phép họ tự do đi lại. Muốn đi đâu thì phải có giấy phép để trình cho các toán tuần tra. Khi được giải phóng, họ tự do đi lại. Khoảng nửa dân số nô lệ cũ ở miền Nam sau ngày có Tuyên ngôn giải phóng nô lệ đã ùa ra đường, đổ xô về các thành phố và thị trấn phương Nam trong và sau chiến tranh. Khoảng giữa các năm 1865 và 1870, dân số da đen tại 10 thành phố lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ đã tăng gấp đôi, trong khi dân số da trắng chỉ tăng có 10%. Các thị trấn nhỏ vốn trước đây không cho phép người da đen tới thì nay cũng tràn đầy.

Những di dân tự do da đen đến đô thị tìm việc thường gặp thất vọng nặng nề. Họ đứng đầy tại các chợ lao động và trông đợi có được việc làm, thường là lao động phổ thông với giá rẻ mạt. Họ sống trong những căn nhà ổ chuột ở ngoại vi các thành phố lớn, trước sự đe dọa của bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác. Hậu quả là một sự đổi thay lớn lao về cuộc sống thành thị. Trước chiến tranh, dân da trắng và dân da đen cùng sống rải rác khắp các thị trấn phương Nam nhưng giờ đây với công cuộc tái thiết thì cảnh quan đô thị phương Nam hoàn toàn thay đổi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #14 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2023, 08:22:18 am »


Một điều người da đen được tự do quan tâm nhất là tìm lại người thân đã bị bán đi xa trong thời kỳ nô lệ. Một nhân viên Cục vấn đề người được tự do viết: “Công cuộc giải phóng nô lệ chưa thể hoàn tất cho đến khi các gia đình bị ly tán bởi chế độ nô lệ được đoàn tụ”. Một người nô lệ cũ ở bang Texas viết thư nhờ Cục vấn đề người được tự do tìm lại những người thân gồm anh chị em, các cháu trai, gái, chú, dì, và gia đình “anh chị sui” mà anh ta không được gặp lại kể từ ngày anh bị bán đi ở bang Virginia 24 năm trước. Một mẩu tin nhắn trên báo Người da màu bang Tennessee xuất bản tại Nashville đăng như sau:

“Khoảng năm 1849, Thomas Sample mua và đem đi làm nô lệ con gái của tôi là Polly và con trai tên... Tôi xin hậu tạ 100 đôla cho ai giúp mỗi đứa con tôi trở về Nashville, hoặc cho biết hiện nay chúng đang ở đâu”.

Tuy bị chia ly nhưng người da đen luôn giữ các mối liên hệ gia đình chặt chẽ suốt thời kỳ nô lệ. Nhiều gia đình người da đen được tự do ngoài việc nuôi nấng con cái và những người thân còn nhận nuôi thêm con nuôi, thường là con cái của bạn bè hoặc người thân đã qua đời.

Một đặc trưng khác của sự “đổi đời” này là phụ nữ da đen không còn lao động ngoài đồng như nam giới dưới thời nô lệ. Nhiều đồn điền vắng bóng người phụ nữ da đen cùng cày cấy như xưa kia. Có nhiều lý do nhưng rõ nét nhất là phụ nữ da đen giờ đây muốn dành nhiều thời gian để chăm sóc con cái và chu toàn nhiệm vụ nội trợ như nấu cơm, khâu vá và giặt giũ. Tuy nhiên, hiện tượng phụ nữ da đen bỏ lao động để làm nội trợ cũng chỉ có tính giai doạn mà thôi vì đa số thuộc thành phần nghèo, lại xảy ra suy thoái vào những năm 1870 nên sau này hầu như mọi người nữ cũng lao động giống như phái nam để mưu sinh. Suốt thời kỳ này có nhiều phụ nữ và trẻ em da đen cùng đi làm việc để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Ở những gia đình khá giả hơn thì phụ nữ ở nhà lo việc nội trợ và trẻ em thì tới trường nhưng vào những kỳ nghỉ hay vụ mùa thì tất cả cũng ra đồng làm việc. Tự họ quyết định ra ngoài làm việc hay ở nhà; không ai bắt buộc.

Đối với người da đen, thoát khỏi sự kiềm chế của người da trắng là yếu tố cần thiết của tự do. Cơ cấu tổ chức gia tộc người da đen cũng thay đổi sau ngày giải phóng nô lệ. Mặc dù các nhà sử học không nhắc tới điều người nô lệ da đen vốn theo mẫu hệ nhưng do chủ nô quyết định mọi việc cho cả nam lẫn nữ, mặc nhiên đem lại sự bình đẳng về giới tính cho họ. Và khi được giải phóng, với người chồng, người cha quyết định hầu hết mọi việc thì gia đình người da đen đã dần chuyển qua phụ hệ một cách vô ý thức.

Những vụ việc bên ngoài tổ ấm gia đình là nguyên nhân chính cho sự đổi đời. Quân đội Liên bang tuyển dụng trực tiếp nam thanh niên da đen. Cục vấn đề người được tự do khi lập danh sách các hộ da đen cũng chỉ định người nam làm chủ hộ để ký các hợp đồng lao động chẳng hạn, và nam lao động thường được trả tiền công nhiều hơn nữ lao động. Sau năm 1867, người nam da đen được tham gia bồi thẩm đoàn, bỏ phiếu, điều hành văn phòng, và được thăng cấp trong đảng Cộng hòa. Người nữ da đen, cũng giống như nữ da trắng, không có những quyền này. Các mục sư, thầy giảng, nhà báo, và chính trị gia da đen thường nói tới nhiệm vụ của phụ nữ là giữ cho gia đình luôn là “chốn an bình và tiện nghi” cho chồng, cha... và đòi hỏi phụ nữ phải biết phục tùng chồng.

Tuy nhiên, không phải tất cả phụ nữ da đen đều chấp nhận quyền uy của người chồng trong gia đình. Nhiều phụ nữ đã đưa những xích mích trong gia đình ra trước cơ quan pháp luật. Văn phòng Cục vấn đề người được tự do lưu trữ cả trăm đơn từ khiếu nại của phụ nữ da đen tố cáo chồng hoặc cha đánh đập họ, ngoại tình hay không trợ giúp nuôi dạy con cái. Một số phụ nữ da đen cũng kiện ông chồng đã ký hợp đồng lao động để lĩnh tiền công thay cho họ, đòi được tự tay lĩnh tiền, và không chịu trách nhiệm về các khoản nợ nần của chồng. Nếu sự bãi bỏ chế độ nô lệ chẳng những thể chế hóa gia đình người da đen mà còn phát sinh tình trạng căng thẳng ngay trong gia đình họ thì người nam và nữ da đen cùng muốn duy trì sự ổn định cho cuộc sống gia đình và đây chính là nền tảng cho một cộng đồng da đen mới được phát triển.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #15 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2023, 08:23:21 am »


❖ XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG DA ĐEN

Đối với người da đen, “nhà thờ” tức là tôn giáo, có ý nghĩa quan trọng thứ nhì, sau gia đình. Thời kỳ tái thiết cũng là lúc họ củng cố và biến đổi tôn giáo. Khi chế độ nô lệ bị tiêu hủy, những người da đen ở thành thị lập tức nắm quyền kiểm soát các nhà thờ của họ. Một kiểu sống đạo mới của người da đen được hình thành.

Trước chiến tranh, tất cả người da đen, nô lệ hay tự do, đến nhà thờ đều phải ngồi ở phía cuối hay đứng ngoài hành lang trong khi hành lễ. Họ không được dự các lớp học giáo lý ngày chủ nhật và tham gia việc điều hành nhà thờ. Tại những thành phố lớn mặc dù có nhiều người da đen họp thành giáo đoàn riêng và xây dựng nhà thờ cho riêng họ, luật lệ vẫn buộc họ phải có mục sư da trắng dẫn dắt. Sau ngày được giải phóng hầu như tất cả người da đen đều rời bỏ các giáo đoàn có hai chủng tộc. Toàn cảnh tôn giáo ở miền Nam đã thay đổi lớn; người da đen giờ đây có những nhà thờ và sinh hoạt tôn giáo cho riêng họ. Có hai nguyên nhân cùng kết hợp dẫn đến sự hình thành một tôn giáo độc lập cho người da đen: Người da trắng từ chối sự bình đẳng đối với người da đen trong giáo đoàn; và người da đen muốn được tự khẳng định.

Trên toàn miền Nam, người da đen thoát khỏi nô lệ đem hết của cải của mình để mua đất và xây dựng giáo đường. Khi chưa có giáo đường họ thường cử hành các nghi lễ tôn giáo trong các kiến trúc thô sơ đa dạng: một toa xe lửa bỏ phế, như trường hợp nhà thờ Tin Lành Baptist đầu tiên ở Atlanta (bang Georgia) hoặc một lùm cây như nhà thờ Tin Lành Baptist đầu tiên ở Memphis (bang Tennessee). Giáo đường xây dựng đầu tiên của người da đen là một kiến trúc giữa đống đổ nát trên đường Calhoun ở thành phố Charleston (bang Nam Carolina); đến năm 1866, có thêm 10 nhà thờ nữa được xây dựng ở miền Nam. Ở vùng nông thôn, thường chỉ có một giáo đường để các hệ phái Tin Lành của người da đen luân phiên sử dụng. Đến cuối thời kỳ tái thiết, năm 1877, đại đa số người da đen phương Nam không đến các giáo đường có nhiều người da trắng dự. Tại bang Nam Carolina trước ngày cuộc nội chiến nổ ra, có khoảng 42.000 người da đen theo giáo phái Methodist (Hội Giám lý) đến các nhà thờ của người da trắng nhưng đến những năm 1870 chỉ còn khoảng 600.

Nhà thờ là thể chế xã hội đầu tiên người da đen tạo dựng ở Hoa Kỳ; giáo đường trung tâm của mọi sinh hoạt: trường dạy học, nơi sinh hoạt xã hội, hội họp chính trị, v.v... Ở nông thôn, nhà thờ còn là nơi tổ chức lễ hội, vui chơi ngoài trời và du ngoạn. Ngoài ra nhà thờ cũng là một thứ tòa án thuộc giáo hội phổ biến những giá trị đạo đức, dàn xếp những bất hòa trong gia đình, kỷ luật những ai phạm tội ngoại tình hoặc làm bậy. Tại các cộng đồng da đen, giáo sĩ (thầy giảng) hay mục sư là người được kính trọng nhất, được quý mến vì có tài hùng biện, tổ chức và xét đoán công minh những vấn đề của cộng đồng và của cá nhân.

Vì thế, các giáo sĩ giữ vai trò trọng tâm trong đời sống chính trị suốt cuộc tái thiết. Charles H. Pearce, người chỉ đạo công việc tái thiết ở bang Florida nhận xét không thể tách rời tôn giáo khỏi chính trị: “Không vị mục sư nào ở Bang này có thể làm tốt nhiệm vụ nếu không biết quan tâm đến nguyện vọng chính trị của giáo dân”. Những giáo sĩ không có mưu đồ chính trị nhiều khi cũng bị lôi cuốn vào hoạt động chính trị. Đôi khi họ bị buộc phải làm nhiệm vụ ghi danh cử tri cho những người da đen mù chữ hoặc phải tranh cử cho một chức danh nào đó. Đã có trên 100 vị mục sư da đen thuộc các hệ phái Tin Lành đến từ miền Bắc hoặc ngay tại miền Nam, có nguồn gốc là người da đen tự do hoặc nô lệ, đã được bầu vào các vị trí lập pháp trong thời kỳ tái thiết.

Suốt thời kỳ tái thiết, chính những nhận thức về tôn giáo của người da đen đã tạo nên chính kiến về các sự vụ việc xảy ra và ngôn từ họ dùng để nói lên khát vọng về sự công bằng và chủ quyền. Người da đen thừa hưởng một phong thái đặc biệt thuộc tín ngưỡng đạo Thiên Chúa ngay từ thời còn là nô lệ. Họ tin Giê-su là đấng Cứu Chuộc đem lại sự an ủi khi họ gặp bất hạnh; theo Cựu Ước thì họ là dân được Chúa chọn, tương tự như dân Do Thái ở Ai Cập được Chúa cứu khỏi ách nô lệ. Một vị tuyên úy da trắng kể lại năm 1866: “Họ cho rằng họ rất giống ‘con cái nhà Israel’ trong sách Thánh Kinh”.

Một loạt tổ chức xã hội, hội đoàn ái hữu, từ thiện được thành lập cùng với sự lớn mạnh của tôn giáo riêng cho người da đen. Ngay từ thời kỳ đầu của tái thiết, người da đen đã có hàng ngàn tổ chức như trên: hội mai táng, câu lạc hộ hùng biện, nhà nghỉ của hội Tam Điểm (tổ chức mang tinh chất tôn giáo chuyên làm việc từ thiện), đội phòng cháy chữa cháy, đoàn kịch, và hiệp hội kinh doanh. Những tổ chức này thể hiện tinh thần cùng nhau tự cải tiến của người da đen, và tinh thần này cũng lan tỏa đến những người không là thành viên của tổ chức, những người cùng khổ trong xã hội. Những năm 1865 và 1866, dân da đen ở những thành phố lớn như Nashville, Jackson, New Orleans, Atlanta và ở nhiều vùng nông thôn đã quyên góp tiền để lập nhà nuôi trẻ mồ côi, tổ chức bếp từ thiện, trung tâm tìm việc làm, và gây quỹ giúp người nghèo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #16 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2023, 08:23:57 am »


Có lẽ sự khát khao về giáo dục là nét nổi bật nhất trong việc tự cải tiến của dân da đen được tự do. Trước chiến tranh, toàn miền Nam, ngoại trừ bang Tennessee không cho phép người nô lệ được đến trường; theo thống kê năm 1860 trên 90% dân số da đen đều mù chữ; chỉ một số ít do tự học (nhờ thiện cảm của chủ nô) hoặc là người tự do được quyền đi học. Tính ham học của người da đen, cho bản thân họ và con cái của họ, làm người da trắng ngạc nhiên. Một giáo viên từ miền Bắc dạy học ở bang Florida cho biết có một bà lão tuổi ngoài 60 rất ham học: “mới biết đọc mà bà ta ôm sách cả ngày, đọc suốt đêm, chỉ mơ thấy sách và khi tỉnh giấc thì chỉ nghĩ đến sách mà thôi”.

Các hội từ thiện miền Bắc, Cục vấn đề người được tự do, và chính quyền các bang sau năm 1868 đều là những tổ chức tài trợ cho giáo dục của dân da đen trong thời kỳ tái thiết nhưng chính người da đen đã khởi xướng. Họ đã tổ chức các lớp học ngay từ lúc đầu, có khi ngay tại các nhà kho bỏ hoang, phòng chơi bi-da, hay như ở New Orleans và Savannah họ đã biến các “chợ nô lệ" cũ thành trường sở. Nhiều nhân viên Cục vấn đề người được tự do rất ngạc nhiên khi thấy ở vùng nông thôn người da đen đã có những lớp học tổ chức tại các giáo đường, trong các căn hầm nhà, hay tại tư gia. Họ còn ngạc nhiên hơn khi thấy ở nhiều nơi, các em học sinh da đen đang chỉ cho cha mẹ cách đánh vần, hay dạy học cho các lao động trong giờ nghỉ trưa.

Trên toàn cõi miền Nam vào những năm 1865 và 1866, người da đen lập quỹ mua lại đất, xây dựng trường học và trả lương giáo viên. Có những cộng đồng da đen tự định ra các thứ thuế để có tiền, và nhiều trường tự quy định học phí nhưng lại miễn cho học sinh con nhà nghèo. Nhiều thợ thủ công da đen tình nguyện xây trường không lấy tiền công, và có những gia đình tự nguyện cung cấp nơi ăn ở ngoài tiền lương cho các giáo viên. Ước tính đến năm 1870, dân da đen đã tự chi trả trên một triệu đôla cho giáo dục; một việc làm rất đáng tự hào của các cộng đồng da đen. Một cư dân da đen ở thành phố Selma (bang Alabama) viết về một cô giáo da đen năm 1867: “Chúng tôi sẽ không bao giờ quên ơn cô Lucy Lee, một nô lệ cũ, đã là người tiên phong mở lớp dạy học cho con em chúng tôi mà không có sự trợ giúp của những hội đoàn phương Bắc”.

Tất nhiên các giáo viên da đen đầu tiên không tránh khỏi sự chê bai của những người miền Bắc vì họ chỉ biết lõm bõm, không đủ khả năng để dạy. Một giáo viên da đen tự biện bạch, “biết làm sao hơn được vì chưa bao giờ tôi được cắp sách tới trường. Tôi chỉ biết lõm bõm đôi ba chữ nhưng vì không có ai nên tôi phải nhận đi dạy!”. Một điều chắc chắn là những giáo viên da đen này rất nhiệt tình và can đảm nữa. Ở nhiều nơi nhất là vùng nông thôn họ thường gặp phải sự chống đối lẫn đe dọa của cư dân da trắng khi họ đến mở trường cho người da đen. Những giáo viên này ngoài việc dạy học còn đảm nhiệm nhiều công việc khác như giúp những nô lệ được tự do viết đơn, làm hợp đồng, và giúp việc nhà thờ, v.v... Nhiều giáo viên cũng tham gia công việc chính trường. Trong thời gian tái thiết có ít nhất 70 giáo viên da đen trở thành nghị viên của tiểu bang. Nghị viên Benjamin S. Turner ở bang Alabama là một ví dụ điển hình: Xuất thân là một nô lệ, ông tham gia làm chính trị sau khi được tự do và đã tài trợ xây một trường học ở Selma.

Trường học xây dựng bởi người da đen trong thời kỳ tái thiết là biểu tượng cho sự ra đời của một kiểu cộng đồng mới kết hợp những người da đen tự do với những người da đen được tự do (giải phóng khỏi ách nô lệ), dân da đen miền Bắc với dân da đen miền Nam. Người da đen miền Bắc vốn được tự do từ lâu còn tại miền Nam thì người da đen tự do tập trung ở các thành phố phần đông là tại bang Louisiana. Nhìn chung, người da đen tự do vì được đi học nên có trình độ văn hóa, và điều kiện kinh tế tốt hơn người da đen gốc nô lệ. Tuy cả hai nhóm người da đen này chung sống trong cộng đồng, giữa họ nảy sinh loại tình cảm khá phức tạp. Người da đen tự do một mặt truyền bá kiến thức cho người da đen mới được tự do, mặt khác lại không muốn hội nhập với họ. Có nhiều gia đình da đen tự do giàu có tuy góp tiền xây nhà thờ, trường học cho người được giải phóng nhưng không muốn bị đồng hóa, không cho con họ học chung với con của những gia đình nô lệ cũ. Và cũng có trường hợp con trai, con gái những gia đình da đen tự do nổi tiếng trong xã hội sẵn sàng về nông thôn để dạy học cho con em các gia đình trước đây là nô lệ. Những cô cậu này còn trẻ, ở độ tuổi trên dưới hai mươi; họ là nhưng mục sư và thầy cô giáo đầy nhiệt tình. Nhiều người trong số họ sau này trở thành những nghị viên thành phố và tiểu bang, hoặc viên chức chính phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #17 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2023, 08:25:02 am »


❖ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA TỰ DO

Người da đen được giải phóng khỏi ách nô lệ chứng tỏ sức mạnh của sự tự do nổi bật nhất trong kinh tế. Tự do mang lại cho họ ý niệm rõ ràng về mình là “một giai cấp lao động trong nhân dân” từ lâu đã bị bóc lột tàn tệ. Người da trắng trước nay vẫn cho rằng dân da đen không muốn lao động nhưng ngược lại người da đen lại nói chính các chủ điền da trắng “lười biếng”, không lao động và chỉ biết hưởng thụ thành quả lao động của người nô lệ da đen. Sự thật thì người da đen được tự do làm việc tương đối ít hơn lúc họ còn là nô lệ mặc dù giờ đây họ được trả công lao động. Lý do: “Tại sao chúng tôi phải làm việc như xưa kia, từ tờ mờ sáng đến tối mịt ở ngoài đồng? Chúng tôi không còn là nô lệ, và chúng tôi chỉ làm việc cho chúng tôi”.

Tự do đối với người da đen được giải phóng không chỉ là lao động ít giờ và có tiền công; nó còn có ý nghĩa về điều kiện lao động của họ. Không còn phụ thuộc chủ nô; làm việc theo nhu cầu của cá nhân và cho gia đình. Mong muốn của đa số là lĩnh canh hơn là làm thuê đổi lấy tiền công, hoặc thuê đất canh tác thay vì cấy rẽ. Nói chung, họ muốn có đất để tự canh tác. Đối với họ, “có đất” là biểu hiện của sự độc lập hoàn toàn.

Đây cũng là tâm trạng của tất cả những nô lệ cũ ở khắp nơi: ở Haiti, quần đảo Ca-ri-bê thuộc Anh và Tây Ban Nha, hay Brazin, v.v... Tất cả đều như không muốn lao động trên các đồn điền họ đã làm nô lệ.

Nhưng có một điểm khác biệt với người nô lệ cũ ở Hoa Kỳ: họ muốn chính phủ Liên bang cấp đất cho họ. Họ đòi được chia một mảnh đất từ đồn điền của các chủ nô cũ. Tại một hội nghị ở Alabama, một đại biểu lên tiếng nói: “Những tài sản mà các chủ nô có là do chúng tôi ‘đổ mồ hôi sôi con mắt’ làm ra”.

Năm 1865 tại nhiều nơi miền Nam, hàng trăm người nô lệ cũ không chịu ký hợp đồng lao động hoặc rời đồn của chủ nô; họ nói giờ đây đất đai thuộc về họ, và đồn điền là tài sản chung của họ. Tại bang Tennessee, những nô lệ cũ trong một đồn điền nọ chẳng những chiếm đoạt ruộng đất mà còn chiếm ngụ cả nhà ở của chủ điền. Cũng có những người da đen được giải phóng rời bỏ đồn điền để sang một bang khác hay về những vùng nông thôn hẻo lánh kiếm đất hay thuê đất để trồng trọt nhưng con số này rất ít vì nhiều lý do: Không có tiền; chủ điền da trắng không bán hoặc nhượng đất. Và họ phải chấp nhận làm thuê hoặc lĩnh canh.

Nhiều người da đen được tự do có chút ít vốn tìm đến các thành phố lớn để mở tiệm buôn bán các mặt hàng “thượng vàng hạ cám”. Họ đi về nông thôn mua các nông sản phẩm như đường, phô mai, cá mòi, và vải vóc, v.v... để về bán lại. Họ nhanh chóng nắm bắt quy luật cung và cầu của thị trường và biết cách chi phối thị trường. Họ cũng dành dụm tiền bạc để xây nhà thờ, trường học và gửi con em đi học.

Những người da đen thành thị thì làm công nhân trong các nhà máy, cơ xưởng và dần dà ý thức được quyền lợi của họ. Trong thời kỳ tái thiết đã xảy ra những vụ đình công đòi tăng lương của lao động da đen như công nhân nhà máy ở Richmond, thợ giặt nữ ở Jackson, phu bốc vác ở New Orleans và Savannah, thợ cơ khí ở Columbus (bang Georgia). Tại nông thôn, các lao động cũng ra yêu sách đòi có hợp đồng tập thể với mức tiền công cao và đồng nhất cho tất cả các phu đồn điền.

Tuy nhiên, những ký ức về thời kỳ nô lệ trên các đồn điền đã khiến những lao động da đen được tự do từ chối làm những việc có lợi nhuận cao như trồng bông vải. Họ nói “bông vải là hoa màu của sự nô lệ”. Một nô lệ cũ ở hang Georgia nói thẳng thừng với người chủ thuê mướn anh ta: “Nếu ông muốn trồng bông vải thì ông tự làm lấy đi".

Trái lại, họ chỉ muốn trồng các cây lương thực để tự nuôi sống chứ không cần biết giá trị của bông vải trên thị trường. Warren Kelsey, đại diện một công ty chế biến bông vải ở miền Bắc nhận xét:

“Tham vọng duy nhất lúc này của người da đen được tự do là sở hữu một khoảnh đất nhỏ đủ để xây cất một căn nhà, sống bình an và được hưởng những thú vui đơn sơ. Nếu muốn họ sẽ canh tác bông vải ngay trên thửa đất của mình theo khả năng và sở thích chứ không phải làm theo giờ giấc người khác quy định. Trường hợp họ thích trồng ngô hay khoai thì họ có thể bỏ cây bông để trồng ngô, khoai; không bị cấm cản. Đó là ý tưởng, nguyện vọng và mong muốn của người nô lệ cũ”.

Nhưng có đất không thôi cũng chưa thể bảo đảm cuộc sống thoải mái cho người da đen. Họ cần phải có vốn và khả năng thâm nhập thị trường. Hơn nữa, nếu cơ cấu chính trị địa phương không thiện cảm thì họ phải chịu sưu cao thuế nặng cùng những chính sách gò bó, không để họ được phát triển kinh tế. Việc tái phân bố ruộng đất rõ ràng không phải là liều thuốc trị bách bệnh mà nó còn có tác dụng sâu xa đến nền kinh tế phương Nam, làm suy yếu sức mạnh kinh tế chính trị của giai cấp thống trị miền Nam cũ, và buộc người nô lệ được giải phóng phải từ bỏ ý muốn được tự chủ về kinh tế để chấp nhận đi làm công ăn lương.

Chính ý muốn độc lập về kinh tế của người da đen chẳng những làm lung lay các nền tảng kinh tế chính trị phương Nam mà còn đẩy người được giải phóng vào thế đối kháng với những chủ nô cũ muốn lập lại kỷ cương lao động trong các đồn điền và những nhà kinh doanh phương Bắc muốn thúc đẩy sản xuất cây bông vải. Nhiệm vụ trọng tâm của các cộng đồng da đen là xác định rõ ý nghĩa của tự do. Những nguyện vọng của họ, từ quyền tự quyết về gia đình đến việc xây dựng nhà thờ, trường học có được thỏa mãn hay không phụ thuộc việc họ có muốn lao động hay không và biết khai thác những tài nguyên kinh tế của miền Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #18 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2023, 08:26:04 am »


❖ NGUỒN GỐC CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI DA ĐEN

Vì mục đích giành quyền tự chủ người da đen tự rút khỏi các tổ chức tôn giáo và xã hội do người da trắng điều hành và tự quyết định số phận nhưng họ cũng hiểu chữ “tự do” có nghĩa là kết hợp thay vì chia rẽ. Và như thế trong thời kỳ tái thiết đã nảy sinh trào lưu đòi quyền công dân bình đẳng cho người da đen. Suốt mùa xuân và mùa hạ năm 1865 liên tiếp xảy ra hàng loạt các cuộc họp mặt, diễu hành cùng những đơn thỉnh cầu của người da đen đòi quyền bình đẳng dân sự và quyền bầu cử, coi đây là những hệ quả tất yếu của việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Khoảng giữa mùa hè năm này hình thành những “hội đoàn kín” của người da đen cấp tiến tại các thành phố lớn bang Virginia. Đầu tiên dân da đen ở Richmond xuống đường phản đối quân đội vây bắt những “người đi lang thang” để buộc lao động trong các đồn điền; sau đó họ biểu tình đòi quyền đi bầu và phế bỏ “ngụy quyền” tại địa phương.

Năm 1865 và đầu năm 1866 nhiều hội nghị cấp tiểu bang diễn ra khắp miền Nam, là bằng chứng rõ nét nhất về tổ chức chính trị của người da đen. Rất nhiều thành phần tham dự những cuộc họp này: đại biểu của địa phương, nhà thờ, các hội đoàn ái hữu, liên đoàn thuộc trung ương, đơn vị quân đội da đen, và cả những người tự phong cho mình là đại biểu. Các đại biểu gồm nhiều màu da và “có lẽ đại diện cho nhiều thành phần khác nhau trong xã hội” nhưng nổi bật nhất vẫn là những người lai da đen; họ giữ những vai trò quan trọng nhất trong các đại hội. Dân da đen nô lệ cũ thì hầu như không giữ vai trò nào. Nhưng kể từ năm 1865 nhiều nhóm thành phần khác bắt đầu nổi. Tại bang Mississippi, trước chiến tranh có rất ít người da đen tự do, các cựu chiến binh xuất thân là nô lệ và người thân của họ chiếm số đông trong các hội nghị. Các bang Alabama và Georgia thì có nhiều đại biểu là mục sư, thầy giảng. Thợ thủ công hầu như có mặt tại tất cả các hội nghị.

Sự nổi lên của người da đen tự do, mục sư, thợ thủ công và các cựu quân nhân da đen tại các đại hội báo trước thứ chính trị của người da đen trong suốt cuộc tái thiết. Nhiều đại biểu trong các hội nghị bang sau này trở thành những chính khách nổi tiếng, như James T. Rapier, dân biểu bang Alabama; James D. Lynch, bộ trưởng ngoại vụ của bang Mississippi. Tại các bang miền Nam, xu hướng hoạt động chính trị phát triển nhanh ở các thành phố và vùng nông thôn do quân đội Liên bang chiếm đóng trong thời chiến hơn là ở những quận, hạt có nhiều đồn điền, là những nơi tụ tập đa số nô lệ da đen được giải phóng. Tại hai bang Louisiana và Nam Carolina, người da đen tự do tham gia hoạt động từ trước vẫn tiếp tục nắm giữ vai trò lãnh đạo trong thời tái thiết. Ở những bang khác, nhiều nhóm lãnh tụ da đen mới xuất hiện; họ là những người da đen tự do từ các vùng khác đến thế chỗ cho những người tiên phong vào năm 1865.

Những cuộc tranh cãi tại các hội nghị cho thấy những dòng tư tưởng trái nghịch nhau trong các nhóm người da đen sau ngày giải phóng nô lệ. Nhiều cãi vã căng thẳng giữa họ thỉnh thoảng xảy ra như trường hợp một đại biểu da đen tức giận khi một đại biểu da đen từ miền Bắc được chọn làm chủ tịch kỳ đại hội ở bang Bắc Carolina. Nhưng nhìn chung các diễn biến đều không có sự bất đồng lớn lao nào và hầu hết các đại biểu đều bàn luận và đi đến những vấn đề thống nhất người da đen. Tại đại hội bang Nam Carolina các đại biểu đòi người da đen có những cơ hội và đặc quyền như người da trắng: quyền đi học, mang vũ khí, tham gia bồi thẩm đoàn trong các vụ xử án, xuất bản báo chí, tụ họp trong trật tự, và nhất là quyền tham gia các hoạt động nông nghiệp, thương mại,...

Mối quan tâm hàng đầu của các đại biểu tại các hội nghị là sự bình đẳng trước pháp luật và quyền bầu cử. Để chứng minh cho yêu sách về quyền bầu cử họ nhắc lại truyền thống Cộng hòa ở Mỹ đặc biệt là bản Tuyên ngôn độc lập — “Định nghĩa bao quát, sâu sắc, toàn diện và trung thực nhất về tự do của con người chưa từng có trên thế giới”. Đại hội của những người da đen tự do bang Bắc Carolina mô tả cuộc nội chiến và giải phóng nô lệ như những giai đoạn của nền văn minh tiến bộ, hiện thân những căn bản của “chân lý” đã nêu trong điều lệ về tự do của đảng Cộng hòa là bản Tuyên ngôn độc lập. Ngôn từ này không chỉ dành riêng cho các đại biểu tham dự hội nghị. Mười một người da đen bang Alabama than phiền về những gian dối trong hợp đồng, bất công của tòa án cùng những sai trái khác, đã hô to: “Đây không phải là sự mưu cầu hạnh phúc”.

Tương tự như các bạn phương Bắc trong nội chiến, người da đen miền Nam cũng đòi được xác minh vai trò trong lịch sử, vận mệnh và hệ thống chính trị của dân tộc. Qua các đơn từ, báo cáo các cuộc họp mặt của người da đen gửi cho các sĩ quan quân đội Liên bang, Cục vấn đề người tự do, các cơ quan chức năng thuộc Liên bang và tiểu bang, và quyết định của các đại hội gửi đại diện đi Washington để tranh đấu cho quyền lợi người da đen có thể thấy dân da đen phần nào có ảnh hưởng tới đường lối chính trị. Tại một hội nghị ở Norfolk (bang Virginia), các đại biểu da đen đã hô to: “Chúng ta là người Mỹ. Chúng ta không có tổ quốc nào khác; chúng ta yêu đất nước nơi chúng ta đã sinh ra”. Tiếng hô của họ nhắc nhở người da trắng ở bang Virginia câu nói: “cha ông chúng tôi cũng như cha ông các hạn đã phải vất vả trên các đồn điền bên Sông James” và sự kiện Crispus Attucks, người da đen, đã là người đầu tiên “đổ máu” trong cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ. Có nhiều người da đen đã chiến đấu và hy sinh để bảo vệ Liên bang. Một hội nghị cũng đã kết luận: “Hoa Kỳ giờ đây là tổ quốc của chúng ta vì thật sự là nơi đã thấm máu của những người anh em chúng ta”.

Bất kể những lời hô hào đòi các quyền bình đẳng, nghị quyết các hội nghị và các bài diễn văn trước công chúng thường ôn hòa, chỉ đề nghị người da trắng miền Nam thông cảm. Hội nghị ở bang Nam Carolina tuy nói thẳng thừng về quyền bình đẳng dân sự và chính trị cũng chỉ nhắc tới quyền lợi của “hàng triệu người bị đàn áp” và hứa hẹn “tính hiền hòa” của người da đen đối với thiểu số da trắng, ý thức về “tài sản và sự cao quý của người da trắng cùng sự nghèo khổ và yếu kém của dân da đen”.

Ở một mức độ nhất định, giọng điệu ôn hòa này phản ánh sự thừa nhận thực tế về tình hình chính trị lúc Tổng thống Johnson tái lập quyền hành cho người da trắng miền Nam và Quốc hội chưa đưa ra chính sách tái thiết. Nhưng sự hỗn hợp giữa “tính cấp tiến” và “hòa giải” này cũng cho thấy cấp lãnh dạo da đen mới nổi cũng có nhiều do dự - những nhà lãnh đạo này nguyên là những người da đen tự do ở thành thị, các mục sư, nhà giáo vốn có mối giao hảo hài hòa với dân da trắng địa phương và không bị đau khổ như người nô lệ cũ ở nông thôn.

Cũng không có chương trình phát triển kinh tế nào được đưa ra tại các đại hội. Chỉ ở cấp địa phương các đại biểu mới đề cập vấn đề đất đai. Giới lãnh đạo các hội nghị cũng chỉ nói đến sự “trợ giúp lẫn nhau” về vốn và lao động, hô hào tự thăng tiến. Những điều này cho thấy các lãnh tụ mới nổi chỉ quan tâm nhiều đến sự bình đẳng về chính trị và phương thức tự phát triển, ít quan tâm đến người nô lệ cũ ở nông thôn khát khao có đất.

Tuy nhiên, những hội nghị ban đầu này của người da đen cũng đã chỉ ra nhiều phương thức vận động chính trị. Như tại bang Tennessee nhiều đại biểu sau khi dự hội nghị trở về địa phương liền xúc tiến phổ cập giáo dục trong cộng đồng da đen, phản kháng với chính quyền địa phương và Cục vấn đề người tự do về các vụ bạo lực và vi phạm hợp đồng, đấu tranh không cân xứng tại tòa án nhằm bảo vệ công lý cho người da đen. Hiến chương của Hiệp hội-giáo dục và quyền bình đẳng bang Georgia, ra đời ở kỳ đại hội tháng 1 năm 1866, trở thành “trường học dạy cho người da màu biết về quyền lợi của họ”. Đến cuối năm này Hiệp hội có chi nhánh tại 50 hạt, quận, và các buổi họp luôn có tới 2.000 người nô lệ cũ tham dự. Họ đến để nghe tin tức thời sự trong ngày và đọc các sách báo của đảng Cộng hòa.

Nhìn chung, cuộc vận động chính trị của người da đen không đồng đều, có nơi mạnh, có nơi yếu. Nhiều tiểu bang tiến hành liên tục trong hai năm, 1865 và 1866 nhưng cũng có nhiều tiểu bang như Mississippi thì như thể bất động cho đến năm 1868 khi người da đen được quyền bầu cử.

Hầu như không có hoạt động chính trị nào tại Vành đai Đen nhưng nhiều người da đen vùng này cũng hay biết có những cuộc thảo luận về tái thiết tại Quốc hội và về đạo luật quyền công dân ban hành năm 1866. Tờ Diễn đàn New Orleans số tháng 9 năm 1866 viết: “Người da đen ngày nay không giống như cách đây sáu năm... Họ biết rõ về quyền lợi của mình vốn bị xâm phạm đã bao lâu nay". Nhưng chỉ từ 1867 người da đen mới tham gia vào chính trường tuy chỉ giới hạn ở tổ chức, lãnh đạo và ý thức hệ dẫn tới việc đòi hỏi sự bình đẳng cho mọi công dân vốn đã nhen nhúm từ những năm đầu tiên được giải phóng khỏi nô lệ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #19 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2023, 08:26:32 am »


❖ BẠO LỰC VÀ CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY

Cuộc vận động chính trị, xã hội và tôn giáo của cộng đồng người da đen ở miền Nam đã gặp phải làn sóng bạo lực xảy ra trong thời hậu chiến. Nạn nhân của những vụ bạo lực này là người nô lệ được giải phóng và kẻ thủ ác thường là người da trắng.

Ở nhiều nơi, làn sóng bạo lực này tới đỉnh điểm của tội ác, với quy mô rộng lớn ngay sau khi chiến tranh chấm dứt. Riêng tại thành phố Shreveport, bang Louisiana, có hơn 2.000 người da đen bị tàn sát dã man trong năm 1865. Gần bên thị trấn Pine Bluff, bang Arkansas, cả khu định cư của dân da đen bị thiêu hủy ra tro, các cư dân gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em bị treo cổ.

Mức độ lan tỏa bạo lực cho thấy người da trắng dùng cách riêng để đối phó sự giải phóng nô lệ da đen và sự tự khẳng định quyền tự chủ của mình trong gia đình, xã hội và ở nhà thờ. James Jeter, một nô lệ cũ ở bang Georgia bị những người da trắng đánh đến gần chết vì anh đã đánh roi đứa con của mình. Chỉ những người chủ da trắng mới có quyền đánh đòn con của anh! Có những việc làm, lời nói chỉ người da trắng có quyền còn người da đen thì không. Một điền chủ ở bang Bắc Carolina than phiền với sĩ quan quân đội Liên bang rằng hắn bị một binh sĩ da đen xúc phạm: người lính da đen này đã cúi gập người chào hắn! Hắn nói dân đen không được phép nói trước người da trắng! Báo cáo của Cục vấn đề người tự do cho biết từ năm 1865 đến 1868 đã xảy ra khoảng 1.000 vụ giết hại dân da đen vì những lý do rất vớ vẩn: không giở mũ khi gặp người da trắng; không giấu ly rượu đang cầm tay khi có người da trắng bước vào phòng,... Những cử chỉ hung bạo này cũng không tha phụ nữ và trẻ em. Một phụ nữ da đen bị người chủ da trắng đánh đập tàn nhẫn vì tội đã có lời lẽ xấc láo; một phụ nữ khác cũng bị đánh đập vì không “thưa ông chủ”; một bé gái bị đánh vì đã khóc khi thấy mẹ bị chủ đánh đập.

Làn sóng bạo lực này xảy ra cho thấy phản ứng thô bạo của những chủ nô da trắng cũ trước cao trào đòi tự do và quyền công dân của những nô lệ da đen cũ. Người da trắng phải chứng kiến trật tự xã hội cũ bị đẩy lùi trong khi một trật tự mới chưa được xác lập. Nguyên thống đốc bang Bắc Carolina, David L. Swain, nhận xét vào năm 1865: “Lúc người nô lệ được giải phóng thì cũng là lúc bắt đầu của chiến tranh”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM