Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:07:01 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử nước Mỹ thời kỳ tái thiết 1863-1877  (Đọc 20805 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2023, 07:34:53 pm »


4

TÍNH CHẤT MƠ HỒ CỦA LAO ĐỘNG TỰ DO


Sau khi nội chiến chấm dứt các phóng viên báo chí miền Bắc đổ xô về miền Nam và các báo cáo của họ đều nói về một xã hội bị tàn phá nặng nề. Những nơi nào quân Liên bang đi qua chỉ còn là những vùng đổ nát. Thung lũng Shenandoah trước chiến tranh được xem là vùng lúa mì lớn của bang Virginia nhưng giờ đây chỉ là một “hoang địa”. Ở đây, các kho lúa mì và nhà cửa trong các nông trang đều bị thiêu rụi; hàng rào, máy móc dụng cụ bị phá tan; gia súc bị giết chết hay bắt đi. Vùng đất phía bắc bang Alabama, nơi diễn ra các trận đánh giữa quân Liên bang và quân Liên minh miền Nam suốt ba năm trời, đặc biệt là “sự phẫn nộ của đạo kỵ binh Liên bang hồi đầu năm 1865”. Trên đường hành quân của tướng Sherman tại bang Georgia và Nam Carolina chỉ còn lại đổ nát; mọi nơi đều có chứng tích của chiến tranh hủy diệt. Một cư dân bang Georgia viết trong nhật ký kể lại cuộc hành trình bằng xe lửa qua “vùng hoang địa”. “Ở đâu tôi cũng chỉ thấy những cột nhà cháy, nhiều ống khói lò sưởi xiêu vẹo,... tất cả đều do những hành động phá hoại!”

Chẳng những nhà cửa, kho xưởng, trại chăn nuôi trong các nông trại bị tàn phá mà hầu như mọi công trình kiến trúc thủy lợi như đê điều, kênh mương cũng chung số phận; chắc chắn phải mất thời gian dài để phục hồi nông nghiệp tại miền Nam. Nhưng tổn thất về người là hậu quả khủng khiếp nhất của chiến tranh. Trên 37.000 người da đen, đa số trong quân đội Liên bang, và hàng chục ngàn người khác thuộc tàn dư của quân đội Liên minh miền Nam đã bỏ mạng hoặc biến thành phỉ. Chiến tranh đã cướp đi mạng sống của gần 260.000 binh sĩ da trắng trong quân đội Liên minh miền Nam, tương đương một phần năm dân số da trắng phái nam ở miền Nam lúc bấy giờ. Toàn bộ cơ cấu kinh tế miền Nam sụp đổ; nặng nhất là những thiệt hại về nông nghiệp. Từ 1860 đến 1870, diện tích trồng trọt ở phương Nam thu hẹp thê thảm. Đàn ngựa (dùng để cày bừa) giảm 29%; đàn lợn giảm 35%; giá trị sản xuất của nông trang nông trại giảm 50%. Giá trị thật năm 1870 của tất cả tài sản không kể trị giá nô lệ giảm 30% so với lúc trước chiến tranh. Và giá trị của các nông sản chủ lực như bông vải, gạo, đường, thuốc lá và cây lương thực như bắp và khoai tây đều giảm sút so với trước chiến tranh. Tướng Liên minh miền Nam Braxton Bragg sau chiến tranh trở về trang trại của ông ở bang Alabama trước đây vốn rất sung túc đã thốt lên lời ta thán: “Mất hết rồi, mất tất cả! Chỉ còn nợ nần mà thôi!”.

Việc phục hồi kinh tế miền Nam không chỉ gồm việc xây dựng lại các nông trại, đồn điền và cầu cống mà còn phải tái lập trật tự xã hội. Cả một xã hội trật tự biến mất sau chiến tranh; giờ đây cần phải tái lập trật tự theo nhiều cách ở các nơi khác nhau trên toàn miền Nam. Nhưng đối với người da đen cũng như da trắng chiến tranh chấm dứt đã đưa đến một tình trạng lộn xộn như không bao giờ kết thúc.


❖ NHỮNG NGƯỜI CHỦ NÔ KHÔNG CÓ NÔ LỆ

Thật sự ở Hoa Kỳ chế độ nô lệ không phải hoàn toàn bao trùm miền Nam. Trên vùng vành đai các đồn điền, nơi có đất đai phì nhiêu nhất nước và có nền kinh tế nông nghiệp giàu mạnh và cũng là nơi tập trung đông đảo các nô lệ nhất, đã hình thành một giai cấp thống trị với đầy đủ các định chế văn hóa, chính trị và xã hội, từ trường học, nhà thờ chính quyền địa phương để phục vụ lợi ích của giai cấp. Giai cấp này làm chủ những đồn điền rộng lớn bao la chuyên canh những hoa màu giá trị cao trên thị trường thế giới; họ đòi hỏi một lực lượng lao động có kỷ luật. Giờ đây, những lao động nô lệ được tự do nên các đồn điền đều thiếu người làm nhất là ở những nơi các lao động da đen tự do được quyền mua hoặc thuê đất đai. Điều tệ hại nhất là các chủ điền không dễ sai khiến người lao động da đen trong nông trại của mình. Tranh chấp thường xuyên xảy ra giữa chủ điền da trắng và lao động da đen nguyên là nô lệ cũ: giới chủ điền muốn lập lại tôn ti trật tự trong lao động còn người lao động thì muốn chứng tỏ mình tự do trên mọi mặt cuộc sống.

Các chủ nhân đồn điền phương Nam là giới chịu tổn hại nhiều nhất do cuộc nội chiến về đủ các mặt vật chất và tinh thần. Hàng ngàn thanh niên thuộc các gia đình da trắng giàu có phương Nam đã bỏ mạng trong cuộc chiến; nhà cửa, nông trại bị tiêu hủy, tài sản mất sạch; các nô lệ được giải phóng, nói chung họ chẳng còn gì để bước vào giai đoạn tái thiết.

Đối với giới chủ điền cũng như những nô lệ cũ, thảm bại của Liên minh miền Nam và sự bãi bỏ chế độ nô lệ tạo ra những tình huống khó khăn trong quan hệ về chủng tộc và giai cấp. Đầu tiên là tính chất gia trưởng trong quan hệ giữa chủ nô và nô lệ thời kỳ trước chiến tranh nay không còn tồn tại vì mọi quan hệ giữa giới chủ nhân với người làm công giờ đây do thị trường quyết định và người nô lệ cũ thì không ngừng chứng tỏ mình là người tự do. Một nhà báo miền Nam năm 1865 đã viết: “Luật pháp đã giải phóng nô lệ da đen, đồng thời cũng giải phóng luôn giới chủ nhân và xỏa bỏ những ràng buộc về quan hệ giữa chủ nô và nô lệ cũ ngoại trừ lòng nhân ái”. Nhưng, lòng nhân ái hầu như không tồn tại sau chiến tranh và giải phóng nô lệ. Nhiều chủ điền đã không ngần ngại đuổi khỏi nông trại những người da đen già yếu bệnh tật không còn sức lao động và biến những quyền lợi cơ bản của người nô lệ cũ như ăn ở, quần áo, giải trí thành “hàng hóa” để tính tiền. “Cả hai bên đều phải tập cư xử với nhau theo phong cách mới”, một chủ điền nhận xét. Nhưng không dễ bỏ phong cách gia trưởng của giới chủ điền đã có từ thời nô lệ. Họ vẫn tin rằng mình là người duy nhất có quyền xác định giá trị lao động của những người làm công. Một chủ điền ở bang Bắc Carolina hứa hẹn sau mùa gặt sẽ trả công hậu hĩnh cho người nô lệ cũ ở lại làm việc cho đồn điền. Tại nhiều nơi các chủ điền than trách những lao động da đen bỏ đồn điền để đi làm nơi khác là “đồ vong ân bội nghĩa” trong khi hiện tượng này thường thấy ở miền Bắc: lao động tự do có quyền làm việc ở nơi nào họ thích.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2023, 07:35:34 pm »


Carl Schurnz và nhiều nhà báo miền Bắc đi tham quan miền Nam vào năm 1865 đã có nhận xét: người da trắng miền Nam “chẳng hiểu lao động tự do là gì”. Nhiều chủ điền đáp lại: người Bắc các anh cũng “chẳng hiểu bản chất dân da đen”. Họ biện minh những giả định về lao động tự do là tính hợp lý kinh tế, kỷ luật tự giác, sự đáp ứng với những khuyến khích của thị trường đều không thích hợp cho người da đen. Một tờ báo ở bang Georgia viết: "Bọn họ (dân da đen) không biết lo xa và bất cần tương lai" Một đặc tính khác của lao động tự do là tính lưu động xã hội cũng không thể áp dụng ở miền Nam. Một tờ báo ở Natchez còn viết: “Vị trí thích hợp nhất cho họ là làm đầy tớ. Nhu cầu và thực trạng của đất nước chúng ta đòi hỏi người da đen phải ở cương vị người đầy tớ”.

Sự kiện các tầng lớp dân chúng bậc thấp không ưa thích cách làm việc cực nhọc, thường xuyên và có kỷ luật vốn đã tồn tại ở châu Âu và châu Mỹ từ trước thời kỳ công nghiệp hóa. Ở miền Nam thời kỳ tái thiết thì tư duy này mang tính sắc tộc và mặc dù chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc lan tràn khắp nước Mỹ ở thế kỷ 19, nền kinh tế đồn điền buộc phải chuyển đổi sau khi chế độ nô lệ bị hủy bỏ. Ngoài những người da đen không muốn làm công cho chủ tất cả những ai chỉ muốn làm việc cho mình đều bị xem là “lười biếng”. Một chủ điền ở bang Bắc Carolina nghiêm khắc phê phán: “Tham vọng là tật xấu theo chủng tộc. Tôi có một số tá điến biết điều nhất đã nói chúng chỉ muốn canh tác trên phần đất của chúng để trồng cây lương thực và chăn nuôi heo”. Nếu có người da đen nào muốn trồng trọt để tự nuôi thân thì anh ta sẽ bị kết án là lười biếng. Ngược lại, anh ta sẽ được xem là người siêng năng nếu anh làm việc cho một chủ điền da trắng. Và người da trắng tìm đủ cách để ngăn chặn lao động tự do; họ hô hào không bán hay cho người da đen nô lệ cũ thuê đất. Thực tế, họ ép buộc người nô lệ cũ phải hiểu “tự do” không có nghĩa là “độc lập”. Samuel Agnew, một chủ đồn điền ở bang Mississippi viết trong sổ nhật ký: “Bọn này (tức nô lệ cũ) nghĩ rằng đi làm thuê cho người khác thì không phải là người tự do. Tôi nghĩ bọn chúng sẽ thất bại và hiểu ra rằng ‘tự do’ và ‘độc lập’ là hai việc khác nhau. Con người có thể có tự do nhưng không độc lập”.

Như vậy giữa chủ điền cần lao động có kỷ luật và người nô lệ cũ được tự do, đối kháng là điều không tránh khỏi. Qua hợp đồng lao động bằng văn bản chủ điền thường muốn lập lại quyền uy của mình đối với người lao động trên mọi mặt. Một chủ điền đã khuyến cáo cho những nô lệ cũ: “Chúng ta cứ làm như trước đây và để các quan hệ qua hợp đồng thay thế cho quan hệ giữa chủ nô và người nô lệ”. Những bản hợp đồng ban đầu đều mang ý nghĩa tương tự, và người lao động da đen vẫn phải làm việc mỗi ngày từ sáng sớm đến tối mịt và phục tùng chủ điền cách tuyệt đối. Nhiều bản hợp đồng ngoài việc quy định tiền công và phương thức làm việc còn buộc người lao động không được rời đồn điền, không gặp khách đến thăm viếng đồn điền, hoặc tự ý họp mặt mà không có phép của chủ điền.

Thế nhưng lao động da đen không chịu khuất phục. Nhiều chủ điền than phiền các lao động da đen “không chịu làm việc và tỏ ra hỗn xược”. Thomas O. Moore, một chủ điền nguyên là thống đốc bang Louisiana thời Liên minh miền Nam kể lại rằng các lao động da đen tự đặt thời dụng biểu làm việc, không cày bừa đất cứng, và hay cãi lại. Những tranh chấp này xảy ra như cơm bữa khắp miền Nam. Có những lao động da đen từ chối ra đồng nhổ cỏ dại lúc có mưa. Những lao động khác không chịu nạo vét kênh mương hay sửa sang đê điều trên các ruộng lúa, buộc chủ điền phải thuê lao công từ những di dân người Ai-len. Người quản gia da đen từ chối công việc nấu nướng và lau chùi đồ đạc trong nhà; người hầu phòng không chịu mở cửa đón khách đến thăm. Ngay cả những người tớ gái cũng tỏ ra bướng bỉnh, làm việc theo ý riêng của họ, và còn đòi quyền tiếp bạn trai trong phòng riêng nữa chứ!

Không chỉ người da trắng miền Nam gặp khó khăn khi tìm cách khép những nô lệ cũ vào kỷ luật. Trong chiến tranh và ngay sau đó nhiều người từ miền Mắc đổ về miền Nam và tham gia giới chủ điền miền Nam: họ mua đất, thuê mướn đồn điền hoặc liên danh với các chủ điền miền Nam để canh tác. Những dân ngụ cư này gồm đủ thành phần nhưng chung một tham vọng. Đa số là các cựu chiến binh quân đội Liên bang muốn dùng tiền tiết kiệm để đầu tư ở miền “đất hứa” mới này; những người dân thường bị lôi cuốn bởi các bài báo nói về “vùng đất phương Nam trù phú với nghề trồng bông vải”. Cùng với ý tưởng làm giàu nhanh chóng, những di dân này tự xem mình là những sứ giả hòa bình đem lại sự “phục hồi kinh tế” cho miền Nam. Một di dân từ bang Illinois đến làm ăn tại bang Texas viết thư cho bạn: “Tớ sẽ chỉ dẫn cách thức canh tác mới và chứng minh tính ưu việt của lao động tự do so với lao động nô lệ”.

Các chủ điền miền Nam tiên đoán đám dân ngụ cư mới này sẽ sớm than phiền về tính chất của lao động da đen và họ đã nói đúng. Những “phương pháp canh tác mới” người Bắc đưa vào miền Nam bao gồm việc giám sát lao động, thay đổi cách thức trồng trọt quen thuộc ở miền Nam, gia tăng cường độ làm việc và phủ nhận ý muốn độc lập của lao động da đen. Chỉ ít lâu sau thì các chủ điền là người miền Bắc cũng than phiền giống như các chủ điền miền Nam, thậm chí có người còn dùng roi vọt để chỉ huy đám lao động da đen. Và họ cũng gặp phải sự phản kháng. Có lẽ những chủ điền người Bắc cũng giống như chủ điền người Nam đều nghĩ rằng dân nô lệ cũ không có khả năng “tự lao động”. Báo Thời báo New York châm biếm: “Để các nô lệ da đen mới giải phóng làm việc hiệu quả có lẽ ta nên cho họ những chủ nhân mới”. Nhưng người da đen muốn tự làm chủ, và để đối phó những chủ điền từ miền Nam hay miền Bắc họ không từ chối sử dụng bất cứ thứ vũ khí nào có được.

Nhờ tình trạng thiếu lao động trầm trọng người da đen dễ dàng kiếm việc làm ở bất cứ nơi nào nhất là ở bang Florida dân cư thưa thớt và những vùng trồng bông vải mở rộng về phía Tây. Các chủ điền da trắng hầu như phải cạnh tranh gay gắt với nhau, giành giựt từng người lao động da đen để làm việc trên đồn điền.

Lực lượng lao động da đen sau nội chiến giảm một phần ba so với trước chiến tranh. Thêm nữa, đa số nô lệ được giải phóng giờ đây chỉ chịu làm việc ít giờ, phụ nữ và trẻ em gần như không ra đồng làm việc, và họ đưa ra nhiều yêu sách về tiền công, ăn ở, và điều kiện làm việc.

Đã vậy, miền Nam sau chiến tranh liên tiếp gặp nhiều thiên tai dịch bệnh, các vụ mùa gần như thất bại hoàn toàn. Do giá bông vải tăng vọt năm 1865, các chủ điền người miền Nam và di dân từ miền Bắc cùng đổ xô sang canh tác cây bông. Nhưng do thiếu dụng cụ và sức kéo động vật và những tranh chấp về lao động cùng với việc sử dụng hạt giống thoái hóa, các vụ mùa thu hoạch thất bát. Thêm nữa, hạn hán, lũ lụt và sâu bệnh thay nhau phá hoại mùa màng. Nhiều chủ điền bị phá sản trong những năm này.

Tại bang Alabama trong số 14 đồn điền trồng bông vải chỉ có một đồn điền có lãi. Whitelaw Reid, một người miền Bắc lập nghiệp đã vay 20 ngàn đôla của một ngân hàng ở Washington để trồng bông vải nhưng gặp thất bại, Reid phải quay về phương Bắc và làm nghề báo kiếm sống. Tuy nhiên, dân da đen vốn là thành phần nghèo nhất trong vùng là nạn nhân lớn nhất. Vì nghèo, họ không có của để dành; khi mùa màng thất bại, họ chẳng có gì để sống.

Mùa màng thất bại cũng là nguyên nhân gây chia rẽ trầm trọng giữa chủ điền da trắng và người lao động da đen. Tại nhiều nơi, những chủ đồn điền không còn điều kiện nuôi và trả công lao động đã buộc phải cho thôi việc hàng ngàn lao động da đen.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2023, 07:36:55 pm »


❖ CỤC VẤN ĐỀ NGƯỜI TỰ DO TỎ SỰ BẤT LỰC

Bất kể cường độ đối kháng giữa chủ nô cũ và người nô lệ được giải phóng, cả hai bên đều không có khả năng xác định chế độ lao động mới tại miền Nam. Trong khi đó, một thành phần giữ vai chính thứ ba là miền Bắc chiến thắng, luôn tìm cách chuyển đổi lao động nô lệ thành lao động tự do. Giữ vai trò trọng tâm trong nỗ lực này là Cục các vấn đề người tự do. Đứng đầu cơ quan này là tướng Oliver Otis Howard, có biệt danh là “Tướng Thiên Chúa giáo” vì ông rất gần gũi các tổ chức từ thiện chuyên giúp đỡ người da đen được tự do. Thật sự, chức năng không rõ ràng của Cục dễ gây nản chí, thường xoay quanh các vấn đề linh tinh như giúp xây dựng trường học cho học sinh da đen, trợ giúp người già và bệnh tật nghèo kể cả những bệnh nhân tâm thần, giúp hòa giải tranh chấp giữa người da đen cũng như giữa người da đen với người da trắng. Giữa môi trường đầy hận thù chủng tộc và vì quyền lợi đối nghịch của các bên Cục rất khó có được sự tin cậy của người da đen lẫn người da trắng. Ngoài ra, Cục có rất ít nhân viên - ở điểm đỉnh của chương trình Cục vỏn vẹn có gần 900 nhân viên cho toàn miền Nam. Năm 1866, chi nhánh Cục vấn đề người tự do tại bang Mississippi chỉ có 12 nhân viên; bang có nhiều nhất là Alabama cũng chỉ có hai chục nhân viên. Tướng Sherman nói với tướng Howard: “Tôi nghĩ nhiệm vụ của Ngài quá nặng nề... Với điều kiện hiện có chưa chắc Ngài có thể hoàn thành một phần mười nhiệm vụ đặt ra cho Cục”.

Thoạt nhìn, có vẻ như Cục vấn đề người tự do là nơi phát sinh các mâu thuẫn do các nhân viên có những cách khác nhau khi thực thi chính sách chung do Washington (chính quyền trung ương) đề ra. Nhưng với nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội lao động tự do, Cục buộc phải thuyết phục lao động da đen trở lại các đồn điền và điều này phù hợp quyền lợi của giới chủ điền. Ngược lại Cục ra luật cấm lao động cưỡng bức, xúc tiến giáo dục cho dân da đen, bảo vệ người da đen khỏi bạo lực, và điều này phù hợp nguyện vọng người được tự do và mặc nhiên khuyến khích họ đòi quyền tự chủ và tự thăng tiến.

Đối với tướng Howard, giáo dục rất quan trọng để thay đổi cuộc sống của người da đen và công việc của các nhân viên Cục chủ yếu giám sát việc học của dân da đen. Do nguồn tài sản giới hạn không mở được nhiều trường, Cục buộc phải phối hợp với các tổ chức giúp đỡ đến từ phương Bắc. Theo báo cáo của Cục, đến năm 1869 đã mở gần 3.000 trường với trên 150.000 học sinh da đen chưa kể những lớp học ban đêm và các tư thục do các giáo sĩ và người dân tự lập.

Tất cả những trường học do Cục yểm trợ tạo lập tuy thiếu thốn tài chính và phương tiện nhưng cũng thu hút đa số trẻ em da đen, ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, và là nền tảng cho hệ thống giáo dục công lập tại miền Nam. Giáo dục có lẽ là thành công lớn nhất của Cục tại miền Nam thời hậu chiến.

Tại một số bang có những người địa phương da trắng nhận làm giáo viên dạy trường người da đen tự do và cũng có nhiều phụ nữ trung lưu từ miền Bắc, đa số từ vùng New England (Đông Bắc Hoa Kỳ), được các tổ chức xã hội gửi đến. Nhiều người trong số này có bằng cấp cao - tốt nghiệp một trường sư phạm hay đại học danh tiếng ở miền Bắc như trường Đại học Oberlin dành cho nữ - tự nguyện xuống phía Nam để nâng cao tri thức người được tự do. Với sự yểm trợ của Cục vấn đề người tự do, các tổ chức xã hội đã xây dựng và cung cấp ban giảng huấn cho những trường đại học đầu tiên của người da đen miền Nam (như các trường Fisk, Hampton, và Tougaloo) và giúp đào tạo giáo viên. Năm 1869 đã có khoảng 3.000 giáo viên da đen được đào tạo ở miền Nam, nhiều hơn số giáo viên da trắng.

Giáo dục cho người da đen được tự do mang nét đặc thù kết hợp việc nâng cao dân trí với quản lý xã hội. Trong lớp, học sinh da đen được dạy đánh vần và học bảng cửu chương đồng thời được nhắc nhở về lòng trung thành với tổ quốc, ăn ở sạch sẽ, và dạy đúng giờ.

Theo một nghĩa rộng hơn, trường học do Cục vấn đề người tự do và các tổ chức xã hội miền Bắc nhắm vào mục tiêu đặt nền móng cho chủ nghĩa cộng hòa chính cống ở miền Nam. Tuy Cục luôn nỗ lực xây dựng mạng lưới tòa án, bệnh viện, cơ sở từ thiện và các qui định về lao động tại miền Nam, lãnh đạo Cục là Howard lại muốn chấm dứt sớm nhiệm vụ của nó vì ông cho rằng người da đen khi được công nhận là công dân bình đẳng sẽ hưởng phúc lợi nhiều hơn là chỉ nhận sự trợ giúp và bảo vệ của chính phủ liên bang.

Nhiều nhân viên Cục vấn đề người tự do gặp khó khăn khi làm nhiệm vụ nhất là để dẹp bạo lực đối với người da đen. Tướng Ord, chỉ huy quân sự tại bang Arkansas và Mississippi, nói nhân viên Cục “sẽ chẳng làm được trò trống gì nếu không có quân đội Liên bang”. Nhưng bất kể tác dụng của quân đội - dân miền Nam thường than phiền quân đội “cai trị bằng lưỡi lê” - quân đội Liên bang nhanh chóng giảm quân số, từ trên một triệu hồi đầu tháng 5, 1865 xuống còn 38.000 vào mùa Thu năm 1866. Vì vậy trong nhiều trường hợp nhân viên Cục chỉ còn cách thuyết phục và hợp tác với chính quyền địa phương để bảo vệ người da đen.

Tất cả mọi người làm việc tại Cục vấn đề người tự do, từ Howard xuống đến nhân viên địa phương, đều cổ vũ cho sự bình đẳng trước pháp luật của người da đen. Nhưng thay vì củng cố hệ thống tòa án, Cục chỉ tìm cách thuyết phục các chính quyền địa phương thừa nhận sự bình đẳng giữa các chủng tộc trong các phiên xử án. Đến cuối năm 1866, các tòa án địa phương tái lập quyền thực thi pháp lý các trường hợp dính líu tới người da đen được tự do. Nhân viên Cục giữ nhiệm vụ giám sát các phiên tòa cấp tiểu bang và địa phương, bào chữa cho bị cáo người da đen, và phủ quyết các quyết định mang tính kỳ thị người da đen. Nhưng việc làm này cũng chưa đảm bảo người da đen có được sự che chở bởi công lý. Đại tá Samuel Thomas, giám dốc văn phòng Cục tại bang Mississippi năm 1865 nói về dư luận dân da trắng “không chấp nhận người da đen có một quyền nào cả”.

Trong khi đó người da đen chỉ biết trông mong công lý từ các nhân viên Cục vấn đề người tự do và các tòa án do Cục lập ra tại miền Nam thời hậu chiến. Đa số các trường hợp kiện cáo là những tranh chấp trong gia đình, giữa cá nhân người da đen với nhau hoặc với người da trắng, đặc biệt là những vụ bạo hành bởi người da trắng, không công bằng trả tiền công hoặc chia sản phẩm. Phần đông người da đen hài lòng với phán quyết tòa án do Cục lập ra nhưng với người da trắng thì đây là sự nhục mạ vì “bị những tên nô lệ cũ kiện cáo”. Một bị cáo người da trắng ở bang Mississipi nói về một nhân viên Cục: “Anh ta lắng nghe mọi cái tên da đen than phiền và lôi ra trước tòa những công dân da trắng đáng kính của chúng ta”.

Trong khi đó, dư luận quần chúng miền Bắc cổ vũ cho việc các cấp chính quyền địa phương đối xử công bằng đối với người da đen thay vì cho họ tiếp tục nhận cứu trợ. Họ nói cứu trợ chỉ làm suy yếu ý chí tự lập của dân da đen. Một nhân viên Cục tại bang Mississippi năm 1865 ra huấn thị cho lao động da đen: “Những ai có khả năng làm việc kiếm sống không nên trông chờ sự cứu trợ của chính phủ. Người biết tự trọng không chấp nhận bất cứ sự trợ giúp nào”.

Trong khoảng thời gian 15 tháng sau ngày chấm dứt chiến tranh, Cục đã phân phát trên mười ba triệu khẩu phần ăn (gồm bột bắp, bột mì, và đường đủ cho một người dùng trong một tuần). Đến mùa thu năm 1866, Howard ra lệnh ngưng phần cứu trợ này ngoại trừ những người bệnh và trẻ sống trong các trại mồ côi. Sự thật các cộng đồng da đen gánh trách nhiệm chăm lo cho trẻ mồ côi, người già, và người cùng khổ nhiều hơn người da trắng và số người da trắng nhận đồ cứu trợ lại nhiều hơn người da đen.

Tuy nhiên chính sách cứu trợ chỉ là một phần của sự mâu thuẫn giữa những mục tiêu do Cục đề ra. Mục đích phục hồi sản xuất nông nghiệp ở miền Nam làm suy giảm nỗ lực đảm bảo các quyền cho người da đen.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2023, 07:37:56 pm »


❖ CỤC VẤN ĐỀ NGƯỜI TỰ DO, ĐẤT VÀ LAO ĐỘNG

Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, quân đội Liên bang đã ra chính sách đối với lao động da đen. Đối với người nô lệ vừa được giải phóng mục đích duy nhất của quân đội là buộc họ trở lại làm việc tại các đồn điền. Những tháng đầu năm 1865 các sĩ quan chỉ huy quân đội đã ban hành các lệnh nghiêm khắc cấm đoán người được tự do đến các thành phố ở phía Nam. Mọi người da đen không được đi lại nếu không có phép của chủ nhân, ở ngoài đường ban đêm. Tại nhiều nơi các tổ chức chính trị của người da đen thành lập sau chiến tranh lên tiếng phản đối những chủ trương này của quân đội. “Có vẻ như sự buôn bán nô lệ tái diễn ở thành phố của chúng ta”, một nhóm những người da đen tự do ở Thành phố Memphis nói. Đến tháng 7, bộ trưởng Bộ Chiến tranh Stanton ra lệnh cho các sĩ quan chỉ huy quân đội ở phía Nam phải hủy lệnh cấm người da đen đi lại và ngưng can thiệp vào phong trào đòi tự do. Nhưng cho đến lúc Cục vấn đề người tự do tiến hành chuyển đổi từ lao động nô lệ sang lao động tự do thì vẫn tồn tại ý kiến vì quyền lợi của đất nước người da đen phải trở lại các đồn điền để làm việc.

Giống như phần đông những đảng viên Cộng hòa ở miền Bắc, các viên chức Cục vấn đề người tự do có những ý nghĩ không tưởng về các quan hệ lao động ở miền Nam, dễ dàng chuyển từ dạng lao động nô lệ sang dạng lao động tự do, có trả lương, và người da trắng cùng người da đen chỉ cần thay đổi thái độ cư xử với nhau, yếu tố thị trường sẽ giải quyết mọi chuyện. Tướng Robert Scott phụ trách chi nhánh Cục vấn đề người tự do bang Nam Carolina tuyên bố: “Nếu trả công thỏa đáng cho ngày làm việc đầy đủ thì chủ điền sẽ chẳng còn thiếu người làm công tin cậy và trung thành”.

Vai trò của Cục vấn đề người tự do giống như của một bà mụ đối với sự ra đời của nền kinh tế miền Nam, với những ưu điểm của lao động tự do so với lao động nô lệ: hiệu năng, năng suất, và tính hợp lý về kinh tế, bảo đảm chế độ tiền công công bằng và điều kiện lao động thỏa đáng.

Cục đã tạo một viễn cảnh về xã hội không đúng như thực tế đã xảy ra. Ý thức hệ về lao động tự do dựa trên lý thuyết về sự hợp lý trong kinh tế phổ quát và nhận thức mọi thành phần xã hội đều có chung quyền lợi. Trên thực tế chủ nô cũ và nô lệ cũ vẫn giữ thói quen làm việc từ thời nô lệ khác hẳn với những giả định của lao động tự do; cả hai đều hiểu tính chất này rõ hơn Cục, và quyền lợi của hai bên luôn đối kháng nhau. Với ý thức về lao động tự do người lao động có ý muốn cầu tiến sẽ vận dụng hết khả năng để làm việc và từ làm thuê sẽ tiến đến tự chủ trong lao động. Nhưng trong một xã hội nghèo chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp với tiền công rẻ mạt, giới chủ điền da trắng luôn tìm cách ngăn chặn người da đen không để họ được sở hữu đất đai và các phương tiện sản xuất khác.

Các viên chức của Cục vấn đề người tự do đến miền Nam từ giữa năm 1865 với mục đích khiến dân địa phương ý thức tôn trọng sự trung thực và công bằng trong các vụ kiện. Họ phê phán mọi áp bức về thể xác là tàn dư của chế độ nô lệ. Họ phải đối phó với hai “tệ nạn”: sự tàn ác của giới chủ và sự lười biếng của người da đen - giống như những sĩ quan quân đội, họ cũng cho rằng sự từ chối lao động của những nô lệ cũ là mối nguy lớn nhất ảnh hưởng tới việc phục hồi kinh tế. Ở một số nơi, họ vẫn áp dụng luật cấm người da đen đi lại tự do và tổ chức bố ráp bắt những người không lao động và đưa về các đồn điền. Tại Memphis, các phiên tòa luôn buộc những người da đen nghèo khổ phạm pháp phải làm việc cho những chủ nhân da trắng chịu trả tiền phạt cho họ. Một mục sư địa phương đã bình luận: “Đây là điều phỉ báng cho cái được gọi là ‘người nô lệ được giải phóng’ khi họ bị buộc lao động như một nô lệ”.

Các viên chức ở Cục cũng như phần đông những người phương Bắc đều có ý kiến khác nhau về lý tưởng lao động tự do. Người thì nghĩ nô lệ được giải phóng nên ở lại đồn điền và làm việc có hưởng lương; người thì cho rằng phải để nô lệ cũ tự quyết định đi làm thuê hay tự chủ trong kinh doanh sản xuất và có những quyền lợi như người da đen tự do ở phương Bắc

Tướng Howard có cùng quan điểm với nhóm trước và ông đã gom những nô lệ cũ để khai thác những đồn điền bị tịch biên hay bỏ hoang.

Mặc dù chính quyền Lincoln đã không thi hành đạo luật Tịch Biên Tài Sản ra đời năm 1862, Cục vấn đề người tự do cũng đã tịch thu và quản lý 850 ngàn acres (340 ngàn hecta). Phần đất này được phân chia cho người nô lệ cũ; ngoài ra, các tiểu điền chủ da đen còn được nhân viên Cục vấn đề người tự do bảo vệ trên phần đất chiếm hữu. Thomas Conway, phụ trách chi nhánh Cục vấn đề người tự do ở bang Louisiana tịch thu 24.000 ha đất đai trong đó có đồn điền của con trai cựu Tổng thống Liên minh miền Nam Zachary Taylor để cho người da đen thuê. Tướng Rufus Saxton, phụ trách Cục vấn đề người tự do tại các bang Bắc Carolina, Goergia và Florida, giám sát việc định cư định canh nô lệ cũ ở các bang này; năm 1865, ông phân phát cho mỗi người nô lệ cũ 40 acres đất để canh tác, “nhờ vậy họ có được sự độc lập”, ông nói.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2023, 07:38:39 pm »


Lúc đầu Howard ủng hộ giải pháp của Conway và Saxton; thậm chí ông còn viết thư thúc giục hai tướng này tiến hành nhanh việc cấp phát đất cho người nô lệ cũ. Nhưng Tổng thống Andrew Johnson đã ra lệnh cho Howard ngưng việc cấp phát đất. Trước đó, Johnson đã ký lệnh ân xá cho những viên chức trong Liên minh miền Nam. Tháng 9 năm 1865, một sắc lệnh ban hành từ Nhà Trắng nhưng được biết đến là “Thông tư số 15 của Howard” hoàn trả các đồn điền bị tịch thu cho chủ điền da trắng đã được ân xá ngoại trừ những lô đất các tòa án đã phát mại. Howard buộc phải thông báo cho những tiểu điền chủ da đen nguyên là nô lệ cũ trao trả đất cho chủ điền cũ và chấp nhận làm việc cho họ hoặc ra đi.

Tháng 10, 1865, Howard đi thị sát vùng đồng bằng bang Nam Carolina để “úy lạo những người da đen bị mất đất”. Tại đảo Elisto, ông đã gặp sự phản kháng ôn hòa của người da đen mất đất. Nói chuyện với hơn 2.000 người da đen tụ tập trước một nhà thờ, ông khuyên họ nên hòa giải với chủ nô cũ và chịu làm việc cho họ. Tuy không la ó phản đối nhưng các khán thính giả đã đồng ca những bài dân ca tôn giáo như bài “Nobody knows the trouble I seen” (Không ai biết nỗi khổ của tôi) và bài “Wandering in the wilderness of sorrow and gloom" (Lang thang trong miền hoang dại của đau buồn và u ám). Khi ông nói họ nên quên đi những cay đắng, họ chỉ trả lời: “Không bao giờ”, “Không thể”, “Tại sao ông lấy đi đất của chúng tôi?”.

Howard yêu cầu những người da đen tại buổi họp lập một ủy ban gồm ba người để tìm giải pháp thích hợp cho vấn đề trao trả đất cho chủ điền da trắng. Nhưng, phản ứng của những người da đen báo trước thất bại của cuộc dàn xếp. Họ nói với Howard:

“Thưa Tướng quân, chúng tôi muốn có nhà cửa vườn tược; chính phủ đã hứa cấp cho chúng tôi nhà và đất. Nếu chính phủ không giữ những gì các viên chức đã hứa với chúng tôi là những đồng minh của chính phủ trong chiến tranh và nay lại thu hồi quyền lợi của chúng tôi trên mảnh đất này để trao lại cho những kẻ thù cũ, thì rõ ràng chúng tôi bị đẩy vào tình thế còn tệ hại hơn trước. Không là tình trạng của người thực sự được tự do.

“Ngài bảo chúng tôi tha thứ cho những chủ điền trên hòn đảo của chúng tôi... Người đã từng trói tôi vào một thân cây và quất vào lưng tôi 39 roi; lột quần áo mẹ và em gái tôi ra để đánh tới gần chết. Người đã đuổi gia đình tôi khỏi căn lều ọp ẹp trừ phi tôi nhận làm công cho ông ta với tiền công rẻ mạt. Làm sao tôi có thể tha thứ cho hạng người tàn ác như thế được!”
.

Nghe những lời chê trách trên, ủy ban phán quyết đất đai là nền tảng của sự tự do; những điều ác trong thời kỳ nô lệ không thể quên; và không thể hòa giải chủ nô với người nô lệ cũ.

Howard hứa đấu tranh cho người da đen có đất ở kỳ họp Quốc hội vào tháng 12. Trong khi đó, các chủ điền da trắng làm đơn gửi Tổng thống Andrew Johnson tổ cáo thái độ thù nghịch của tướng Saxton và nói “chừng nào Saxton còn tại vị thì đất đai chưa được trả về cho các chủ điền”. Đầu năm 1866, Tổng thống Johnson ra lệnh cách chức Saxton; chấm dứt chính sách của Cục cho người da đen được giải phóng sở hữu đất. Trên toàn miền Nam hàng chục ngàn người da đen bị di dời khỏi phần đất trao trả cho các chủ điền da trắng. Quân đội trục xuất khoảng 20.000 người da đen định cư định canh trên đất tịch thu và đất bỏ hoang.

Việc thu hồi đất của người da đen để trả cho chủ điền da trắng gặp sự phản kháng dữ dội ở bang Georgia và Nam Carolina. Ở một trường hợp những người da đen giải phóng tự trang bị vũ khí, phong tỏa đồn điền và chống lại chủ điền đến đòi lại đất. Các nhân viên Cục vấn đề người tự do da trắng cũng như da đen kêu gọi người nô lệ cũ ký hợp đồng làm việc với chủ nô cũ; quân đội Liên bang cũng can thiệp bằng cách tống khứ những ai không chịu ký hợp đồng. Cuối cùng, khoảng 2.000 người da đen giải phóng ở Georgia và Nam Carolina nhận được đất như chính phủ hứa vào năm 1865.

Những diễn biến trong các năm 1865 và 1866 để lại cho người da đen giải phóng cảm nghĩ mình bị phản bội. Một nô lệ cũ ở Mississippi viết: Đất đai thì có nhiều, đủ cho bất cứ ai muốn khai thác. Vậy mà người da đen thì chẳng có một tấc vuông nào; không nhà cửa... Bị mọi người khinh chê, đất nước đã sinh ra họ ghét bỏ... Chúng tôi bị tước đoạt mọi quyền làm người mặc dù chúng tôi đã từng sát cánh trong chiến tranh và giờ đây trong cuộc mưu sinh lúc thời bình chúng tôi bị xem như người xa lạ...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2023, 07:39:11 pm »


Không có cách gì khác, năm 1866 Cục chỉ còn biết khuyến khích người da đen giải phóng ký hợp đồng làm việc tại các đồn điền. Bằng cách này người da đen sẽ được thăng tiến về lâu dài và nền kinh tế miền Nam có cơ hội được phục hồi. Người da đen sẽ dần quen với phương thức lao động tự do và ý thức sự hài hòa các quyền lợi. Nhiệm vụ các viên chức Cục rất nặng nề: Một mặt họ phải tìm cách thuyết phục người da đen bỏ ý muốn được chính phủ cấp đất để tự do canh tác kể cả việc đe dọa bắt giam những người không chịu ký hợp đồng hoặc rời bỏ đồn điền; mặt khác họ cũng lại thuyết phục giới chủ điền dành nhiều quyền lợi thêm cho người da đen lao động cho họ.

Nhiệm vụ cố vấn cho những quan hệ về lao động của Cục triển khai mạnh nhất vào những năm 1866 và 1867, sau đó thì Cục giảm bớt nhiệm vụ giám sát các hợp đồng lao động hoặc hòa giải những tranh chấp lao động tại các đồn điền. Về mặt ổn định các quan hệ lao động sau thời kỳ chiến tranh thì Cục thành công phần nào nhưng nhìn chung hệ thống hợp đồng lao động do Cục đề ra đã thất bại vì đã vi phạm các qui định về lao động tự do: lao động da đen bị cưỡng bách lao động cho chủ nô cũ, bị bắt giữ và phạt vạ nếu chống đối quyết định của chủ điền hoặc lãng công, bỏ ra đi,... Lúc nhận nhiệm vụ Cục trưởng Cục vấn đề người tự do, Howard đã tuyên bố, “Thỏa thuận về lao động phải hoàn toàn tự do và với thiện tâm”. Nhưng làm sao người da đen có thể ‘lao động tự do’ một khi họ không có quyền sử dụng đất, bị quân đội bắt giữ vì “đi lang Ihang” và cưỡng bách làm việc tại các đồn điền hoặc cầm tù vì đình công, bỏ việc khi đòi hỏi tăng tiền công bị từ chối? Những người da đen tự do không có tài sản ở miền Bắc buộc phải làm công vì họ cần tiền để sống chứ không vì bị các viên chức chính phủ cưỡng bách.

Howard vẫn tin rằng các chủ trương do Cục vấn đề người tự do đề ra có lợi cho người nô lệ được tự do nhiều hơn cho chủ nô cũ, nhất là khi người da đen không được chính quyền địa phương bảo vệ và các tòa án thường tỏ ra bất công. Hơn nữa một khi hệ thống “lao động tự do” được ổn định ở miền Nam, công lý bảo đảm sự bình đẳng trong xã hội, thì sẽ không còn tồn tại chế độ hợp đồng định kỳ hằng năm. Cũng giống như ở miền Bắc, thị trường sẽ quyết định công ăn việc làm cho người da đen. Thế nhưng trong những năm đầu thời kỳ tái thiết, những quyết định của Cục vấn đề người tự do trong bối cảnh lý tưởng về một lao động tự do bị cưỡng ép, mùa màng thất bát, thị trường không ổn định và xu hướng quay về sản xuất những loại hoa màu có lợi nhuận cao, đã không để người da đen có được sự lựa chọn riêng nào và phải làm theo ý muốn của giới chủ.

Dù vậy, đa số dân da trắng miền Nam đều tỏ vẻ tức giận với Cục vấn đề người tự do vì họ cho rằng Cục là biểu tượng sự thảm bại của Liên minh miền Nam và rào cản mọi cố gắng phục hồi chế độ nô lệ. Họ nói sự hiện diện của Cục biểu hiện nỗi nhục nhã của người da trắng. Một chủ nô cũ thuộc giới chủ điền danh tiếng ở bang Tennessee đã viết:

“Viên chức Cục vấn đề người tự do... đòi hỏi các công dân (ám chỉ các chủ nô cũ) phải viết và ký trên các tờ hợp đồng thuê mướn bọn nô lệ cũ của mình. Nếu có một tên da đen nào khiếu nại không được trả công hoặc đối xử như ý hắn muốn và báo cáo sự việc thì có cả một toán lính da đen đến nhà bắt người vi phạm và áp giải về thành phố để đối chất với tên da đen. Lạy Chúa, không biết những vụ việc như thế còn xảy ra bao lâu nữa?”

Cũng với những lý do khiến dân da trắng miền Nam đòi bãi bỏ Cục vấn đề người tự do phần đông dân da đen lại rất trung thành với Cục. Cho tới khi chấm dứt thời kỳ tái thiết, người da đen vẫn bền bỉ đòi hỏi Cục phải bảo vệ tự do cho họ. Đây là trách nhiệm của quốc gia, và nó được thể hiện rõ nét nhất vào năm 1866 khi Tổng thống Johnson cử các tướng quân đội James Steedman và Joseph S. Fullerton đi thanh sát miền Nam (Johnson muốn thu thập được nhiều than phiền về Cục để có lý do dẹp bỏ nó, thế nhưng ở khắp các thành thị người da đen đã biểu tình bày tỏ sự ủng hộ đối với Cục. Tại Wilmington bang Bắc Carolina, khi Tướng Steedman hỏi đám đông trên 800 người da đen tụ tập trong giáo đường Brick Church có cần phải rút quân đội Liên bang hay các nhân viên Cục vấn đề người tự do thì họ đều trả lời nên giữ ở lại miền Nam. Ở mọi nơi các tướng đều nhận được câu trả lời: “Chúng tôi muốn Cục ở lại với chúng tôi”.

Vì các viên chức Cục vấn đề người tự do luôn nghĩ rằng những tranh chấp tại các đồn điền phát sinh từ vấn đề lao động nô lệ trước đây; một khi giới chủ điền và người lao động da đen ý thức những nguyên tắc về lao động tự do thì sẽ không còn tranh chấp nữa. Thế nhưng các viên chức ở Cục đã không hiểu những mâu thuẫn về chủng tộc và giai cấp đã bám rễ trong xã hội miền Nam và còn tồn tại sau chiến tranh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2023, 07:39:48 pm »


❖ KHỞI ĐẦU THỜI KỲ TÁI THIẾT KINH TẾ

Thời kỳ đầu tái thiết kinh tế được đánh dấu bởi cơ cấu giai cấp mới ra đời để thay thế cho cơ cấu nô lệ cũ đã bị xóa bỏ; đây là một sự lột xác về kinh tế đạt đỉnh điểm rất lâu sau khi cuộc tái thiết đã hoàn tất với sự hình thành một giai cấp vô sản gồm con cháu những người da đen nô lệ cũ và người da trắng nghèo, và một giai cấp những chủ điền giàu có và thương nhân lệ thuộc những nhà tài phiệt và kỹ nghệ gia phương Bắc.

Ở một số nơi thuộc miền Nam ngay từ những năm đầu thời kỳ hậu chiến, các đồn điền nhất là trồng lúa và mía đã không còn hoạt động, vì các chủ điền hầu như “trắng tay” - cuộc nội chiến đã phá hủy gần hết các cơ sở, kho tàng, hệ thống đê điều, và phá bỏ hệ thống lao động. Chỉ có mội số ít đồn điền trồng mía và lò đường ở bang Louisiana còn hoạt động năm 1865. Tất cả còn lại đều bị bỏ hoang; cỏ dại mọc khắp nơi và sản lượng đường mía tụt nhanh chỉ còn khoảng một phần mười sản lượng năm 1861. Cho dù Tổng thống Johnson đã ban hành sắc lệnh trao trả ruộng đất cho các chủ điền nhưng vẫn không ngăn cản được “cuộc chiến không tuyên bố” giữa chủ điền và người nô lệ cũ.

Lúc sản xuất nông nghiệp được tái lập có nhiều hình thức lao động hình thành ở nhiều nơi: lao động có hưởng tiền công (theo tháng hay theo năm), lĩnh canh hay cấy rẽ giữa chủ điền và người lao động và giữa những lao động trong một tổ hợp. Năm 1865-1866, nhiều hợp đồng lao động được ký kết giữa chủ điền và người lao động hoặc nhóm những người lao động theo đó công lao động có thể được trả sau bằng tiền hay bằng sản phẩm. Tuy nhiên, những hợp đồng ký kết năm 1865 thường được trả công rất thấp - khoảng 1/10 giá trị sản phẩm. Hơn nữa, người lao động bị thiệt thòi rất nhiều vì công lao động được thanh toán cuối kỳ: nếu gặp mùa vụ thất bát, chủ điền không có tiền hoặc sản phẩm để trả cho người lao động; chủ điền gian lận, nâng mức phạt lỗi người lao động cao hơn bình thường, hoặc tính phí sinh hoạt của người lao động rất cao. Cuối cùng, người lao động chẳng còn thu nhập.

Đến cuối năm 1866 và từ năm 1867 người lao động đã biết đòi hỏi bảo đảm quyền lợi cho mình, làm thay đổi cơ chế lao động tại các đồn điền. Lòng mong muốn được tự chủ trong lao động của người da đen đã tập hợp họ thành những nhóm, tổ nhận hợp đồng lao động cho chủ điền với một khoản tiền công nhất định, tương đối cao vì khi đó nhiều nhà tài phiệt phương Bắc đã bắt đầu rót vốn vào miền Nam khai thác nông nghiệp nhất là ngành mía đường. Nhìn chung người da đen đã biết đoàn kết lập nên các nhóm, tổ lao động nhưng đến cuối năm 1867 thì hình thức này không tồn tại nhất là tại các đồn điền trồng bông vải.

Một hình thức lao động khác khá phổ biến là lĩnh canh hay cấy rẽ: Thay vì từng nhóm hay tổ lao động thì những người da đen trong cùng một gia đình (thường khá đông người) nhận hợp đồng với chủ điền để lao động trên một diện tích đất nhất định. Đến lúc thu hoạch thì gia đình người lao động này sẽ hưởng một phần ba sản phẩm nếu họ được chủ điền cung cấp phương tiện sản xuất (công cụ, hạt giống, phân bón,...) hoặc phân nửa sản lượng nếu họ tự túc. Hình thức lao động này tồn tại ở nhiều nơi đến thập kỷ 1870.

Đối với người da đen, lĩnh canh hay cấy rẽ rất thích hợp vì họ không còn chịu sự giám sát của chủ điền; không phải “ăn chia” theo nhóm,... Đối với chủ điền, hình thức lao động này ít tốn kém và không buộc phải theo dõi người lao động vì cùng chia sẻ trách nhiệm. Hơn nữa, nó bảo đảm người lao động sẽ cùng canh tác cho đến lúc thu hoạch; khi cần thì họ sẽ huy động cả gia đình ra đồng. Thế nhưng nhiều chủ điền lại không thích kiểu lao động này vì sợ “mất quyền chủ động” - người lao động dành quyền chia sẻ trách nhiệm quyết định về hoa màu, phương pháp canh tác và các biện pháp đối phó các biến cố.

Tuy nhiên, tùy theo loại hoa màu canh tác mà hợp đồng có hình thức khác nhau. Tại các đồn điền trồng bông, người lao động không chấp nhận làm việc theo nhóm hay tổ; trên các nông trại trồng lúa, người lao động lại muốn làm việc “giống như thời kỳ nô lệ”, về phía chủ điền cũng có nhiều hình thức hợp đồng: giao ruộng đất cho người lao động canh tác và nhận một lượng sản phẩm lúc cuối mùa vụ; hoặc cho người lao động thuê đất, ruộng đổi lấy một số ngày công trên đồn điền của họ.

Vì thế, những tranh chấp về lao động thời kỳ đầu của cuộc tái thiết đã là tiền đề cho những cơ cấu tổ chức lao động mới không những ở nông thôn miền Nam mà còn ở mọi nơi từ địa phương đến trung ương trên toàn Hoa Kỳ, tác động sâu sắc đến nền chính trị quốc gia.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:23:44 am »


5

CHÍNH SÁCH TÁI THIẾT CỦA TỔNG THỐNG



❖ TỔNG THỐNG ANDREW JOHNSON VÀ CÔNG CUỘC TÁI THIẾT

Thoạt nhìn thì người kế vị Tổng thống Abraham Lincoln vừa bị ám sát rất giống ông. Cả hai đã trải qua thời thơ ấu trong nghèo khổ, cùng không tới trường để được đào tạo chính quy và cũng vì vậy hai ông đều nung nấu ý chí thành danh và thành công rực rỡ. Trong những thập kỷ trước khi xảy ra nội chiến, hai người đều đạt những địa vị khá cao trong xã hội và sung túc về vật chất. Lincoln làm luật sư cho một tập đoàn công ty ở bang Illinois; Johnson tập việc thợ may một thời gian trước khi trở thành chủ đất giàu có. Với cả hai, tình hình chính trị trước chiến tranh đã dọn bước cho họ đạt quyền lực và danh vọng.

Kể về kinh nghiêm chính trường thì ít có ai bì kịp Johnson để vào Nhà Trắng. Khởi đầu làm nghị viên thành phố Greenville, bang Tennessee năm 1829, Johnson nhanh chóng trở thành nghị viên tiểu bang và Hạ nghị sĩ (dân biểu) Quốc hội. Sau đó, ông được bầu làm Thống đốc tiểu bang trong hai nhiệm kỳ và năm 1857 làm Thượng nghị sĩ Quốc hội. Ông luôn đại diện cho người dân thường, có phần nhiều hơn Lincoln. Những bài diễn văn của ông luôn ca tụng người làm công ăn lương chân chính, những tiểu điền chủ, và lên án “bọn quý phái làm chủ nô lệ” và “giai cấp quý tộc suy đồi, nịnh bợ và béo phì”. Chủ trương nổi bật nhất của Johnson thời tiền chiến là dùng tiền thuế để tài trợ cho giáo dục và ông đã biến thành luật khi còn là thống đốc và nghị viên tiểu bang và cố gắng đưa ra trước Thượng viện Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, cuộc đời chính trị của Johnson chẳng có thành tựu đáng kể nào khác ngoài bộ luật về giáo dục. Cá tính của Johnson có phần nào ảnh hưởng đến sự nghiệp chính trị của ông. Là một diễn giả nổi tiếng, Johnson lại là con người cô đơn, chỉ biết quan tâm đến mình. Tuy rất can đảm, ông có những nhược điểm như bướng bỉnh, cố chấp, và tự cao tự đại không chịu hòa đồng với mọi người. Lúc còn là thống đốc ông không chịu thỏa hiệp với ngành lập pháp của tiểu bang, và ông đã không được quần chúng ủng hộ. So với Lincoln, Johnson thiếu hẳn những đặc tính cần có của một Tổng thống như tài ứng xử, tính linh hoạt, và sự nhạy cảm với những nguyện vọng của nhân dân.

Lúc Johnson đăng quang Tổng thống ngày 15 tháng 4 năm 1865, nhiều người kỳ vọng ông sẽ đưa ra những chính sách tái thiết miền Nam. “Phải xem sự phản bội là nỗi nhục và những tên phản bội sẽ bị trừng phạt và tịch thu tài sản của chúng”, Johnson đã từng nói như vậy vào năm 1864; và cũng trong năm này ông đã tự xem mình là Mô-xê của dân da đen để đưa họ đến vùng đất tự do. Trong những tuần tiếp theo vụ ám sát Lincoln nhiều chính trị gia cấp tiến đến gặp Johnson để đặt vấn đề cho người da đen được quyền bầu cử. Nhưng Johnson vẫn tỏ ra không đồng ý với họ về việc mở rộng quyền lực của Chính phủ Liên bang và cũng không chịu cho người da đen quyền bình đẳng. Ông luôn tỏ vẻ ủng hộ một chính quyền trung ương hạn chế. Tại Quốc hội, ông đã chống đối việc dùng ngân sách để sửa sang đường phố bùn lầy ở thủ đô Washington. Nhiệt tình yêu nước của Johnson cũng không đi ngược với lòng tôn trọng quyền của các tiểu bang. Cá nhân những “tên phản bội” bị trừng phạt nhưng các bang phía Nam thì chưa chính thức ly khai và do vậy vẫn giữ quyền tự quyết định những vấn đề của mình. Chủ trương của Johnson được diễn tả như một thứ “biện luận”: ly khai là phạm luật; các bang không bị ảnh hưởng hay bị trừng phạt; và tái thiết giúp các bang lấy lại quyền lực định hiến.

Johnson luôn chủ trương vấn đề nô lệ da đen được giải phóng không ảnh hưởng đến việc tái thiết nhanh chóng các bang miền Nam. Bản thân ông đã từng giữ năm nô lệ trước ngày nội chiến nổ ra, ông tỏ ra trung thực khi chủ trương bãi bỏ chế độ nô lệ nhưng lại phản bác các cuộc hôn nhân dị chủng và không cam kết ủng hộ chủ trương người da đen được bình đẳng và có nhiệm vụ chính trị. Đại tá William Moore, thư ký riêng của Tổng thống Johnson kể lại rằng Johnson có ý tưởng rất xấu về người da đen. Trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội cuối năm 1867, Johnson nói “dân da đen ít khả năng hơn bất kỳ chủng tộc nào về mặt quản lý chính quyền. Nếu được tự do thì họ sẵn sàng trở về trạng thái man rợ”. Và Johnson cũng đã nhiều lần tuyên bố: “Chỉ có người da trắng mới có khả năng cai trị miền Nam”.

Suốt nhiệm kỳ Tổng thống Johnson cho thấy quan điểm của ông là chính những nô lệ cũ phối hợp với chủ cũ để đàn áp những người da trắng không là chủ nô. Ông từng nói với một phái đoàn người da đen: “Chính bọn da màu cấu kết với chủ nô để kìm giữ người da trắng nghèo khổ trong vòng nô lệ bằng cách không để họ tham gia vào lực lượng lao động và khai thác đất đai màu mỡ của đất nước”. Vì thế, nếu người da đen được bình đẳng và quyền bầu cử, “chúng sẽ liên minh với các chủ điền để tái lập chế độ nô lệ và chủ nghĩa bá quyền của nô lệ miền Nam”. Johnson huỵch toẹt: “người da đen sẽ bỏ phiếu cho chủ nô cũ mà họ không căm ghét vì họ chỉ căm thù người da trắng không có nô lệ”.

Johnson bày tỏ kế hoạch tái thiết qua hai bản tuyên bố ngày 29/05/1865. Tuyên bố đầu là về ân xá, tha thứ và phục hồi các quyền ngoại trừ quyền giữ nô lệ của các bang thuộc Liên minh miền Nam đã tỏ sự trung thành với Liên bang và ủng hộ chính sách bãi nô. Mười bốn nhóm người miền Nam gồm các viên chức và chủ tài sản giá trị từ 20.000 đôla trở lên buộc phải xin Tổng thống ân xá. Cùng lúc, Johnson cử William Holden làm thống đốc tạm thời cho bang Bắc Carolina để triệu tập một hội nghị sửa đổi hiến pháp của tiểu bang thời tiền chiến, xác lập một chính phủ cộng hòa tại bang này. Những người không được ân xá sẽ không có quyền bầu cử; có nghĩa là các quy định về bầu cử cũng giống như trước khi có chiến tranh. Sau đó, chủ trương này được ban hành cho tất cả các bang miền Nam.

Nhiều nhà phân tích cho rằng Johnson tìm cách triệt hạ ảnh hưởng của giới quý tộc nông thôn và đề cao vai trò của những người lao động theo chủ nghĩa liên bang. Mặt khác, ông có được sự ủng hộ của những “quý tộc nông thôn miền Nam” qua việc ân xá cho họ.

Rõ ràng người da đen vẫn bị từ chối quyền công dân. Một người theo chủ nghĩa Liên bang ở miền Nam nhận xét về sự mâu thuẫn trong chính sách của Johnson: “Ông nói ông tin vào chính quyền dân chủ và đồng ý với những người trung thành (với Liên bang) nhưng ông không dám cho người da màu được quyền bầu cử. Liệu ông có trung thực không?”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:25:48 am »


❖ THÀNH LẬP CHÍNH QUYỀN MỚI Ở CÁC TlỂU BANG MIỀN NAM

Bất kể những dị biệt về quan điểm, các nhà hoạch định chương trình tái thiết từ miền Bắc đều nghĩ những người trung thành với Liên bang phải nắm giữ quyền hành ở miền Nam. Vì thế, những người được xem là trung thành với lý tưởng Liên bang đều cầm quyền tại các bang Maryland, Tây Virginia, Missouri, và Tennessee, quê hương của Tổng thống Johnson. Tại những vùng sâu trong nội địa như phía tây bang Bắc Carolina, vùng Piedmont, đa số dân da trắng đều coi những người “trung thành với Liên bang” là những kẻ “bảo hoàng”, những tên phản bội.

Có thể nói hầu hết người da trắng miền Nam là những “người trung thành” với Liên bang vì tất cả đều chống ý tưởng ly khai nhưng lại phục tùng chính quyền tiểu bang nơi họ sinh sống. Ngay cả Alexander Stephens, nguyên phó chủ tịch Liên minh miền Nam trong thời chiến cũng là một phần tử trung kiên với tư tưởng liên bang ở bang Georgia. Do vậy, khó tìm ra người thật sự ly khai tại miền Nam vào thời điểm 1865.

Một điểm rõ nét là những “người Liên bang” ở miền Nam đều không muốn thấy những nô lệ cũ được hưởng quyền công dân và bình đẳng chính trị như người da trắng; vì vậy họ rất bực tức vì có nhiều binh lính là dân da đen, những nô lệ cũ và với cách hành xử của Cục vấn đề người tự do. Tổng thống Johnson gặp nhiều khó khăn khi chọn lựa những vị “thống đốc tạm thời” để điều khiển các bang miền Nam. Ông đã chọn hai người không được hậu thuẫn của đại đa số dân da trắng miền Nam: Andrew Hamilton, một cựu sĩ quan ở Texas, và William Holden, ở bang Bắc Carolina. Ngoài ra, những “thống đốc tạm thời" ở các bang khác thì ít nhiều đều được người da trắng miền Nam ủng hộ: James Johnson, một kẻ “trung lập” trong chiến tranh, được cử làm thống đốc tạm thời bang Georgia; Lowis Parsons, bang Alabama; William Sharkey, bang Mississippi; William Marvin, một doanh nhân đến từ bang New York; và Benjamin Perry, một kẻ nổi tiếng chống lại sự thống trị của các chủ điền, tại bang Nam Carolina. Những người được chọn đều có thành tích trung thành với Liên bang và họ có nhiệm vụ hậu thuẫn cho các chính sách Johnson đề ra.

Do người da đen không có quyền bầu cử và nhiều người da trắng bị tước quyền tham gia bầu cử, các thống đốc buộc phải sử dụng những người đã từng tham gia hoặc có cảm tình với Liên minh miền Nam. Ví dụ như trường hợp Holden ở Bắc Carolina đã bổ nhiệm trên 4.000 viên chức vào những vị trí quan trọng như thẩm phán và cảnh sát. Thay vì dùng những viên chức trong chính quyền Liên bang nhiều thống đốc đã tuyển dụng những viên chức thuộc Liên minh miền Nam trước đây cho các hạt có nhiều đồn điền. Việc làm của các thống đốc cho thấy hy vọng của những người theo Liên bang trong chiến tranh về một thành phần chính trị gia mới xuất phát từ những người dân thường đã sớm bay theo hơi khói; đồng thời các thống đốc còn cho thấy người da đen không có hy vọng gì ở thể chế tự do. Thống đốc bang Florida thẳng thừng nói với người da đen đừng mơ tưởng việc bãi nô có nghĩa là họ được bình đẳng với người da trắng và quyền bầu cử. Người nô lệ được tự do nên quay về với các đồn điền, làm việc chăm chỉ và gọi chủ điền là “ông chủ” như trước đây.

Với đại đa số người da trắng miền Nam, đây là điều quá bất ngờ. Ngay sau khi thảm bại, họ đã sẵn sàng chấp nhận mọi chủ trương đường lối do Washington (chính quyền Liên bang) đề ra. Whitelaw Reid, một nhà báo từ miền Bắc nhận định khi đó người da trắng miền Nam sẵn sàng tuân thủ mọi điều kiện Tổng thống đặt ra kể cả việc cho người da đen quyền bầu cử. Tháng 6 năm 1865, Johnson cho thấy chính sách của mình và hầu hết những người da trắng miền Nam đều hồ hởi vì tính chất hòa dịu của chính phủ Liên bang, nói đến quyền tự trị của các tiểu bang và chống lại việc cho người da đen được đi bầu. Mọi người đều hiểu ý của Tổng thống Johnson thiên về một “chính quyền do người da trắng” chỉ huy.

Những biến cố xảy ra trong mùa hè và mùa thu năm 1865 củng cố niềm tin của người da trắng phương Nam nơi sự “đồng minh và bảo trợ” của Tổng thống Johnson. Chính Tổng thống đã ra lệnh bãi bỏ quyết định của Trung tướng Henry W. Slocum cấm đoán việc tạo lập lực lượng dân quân bang Mississippi, và đến mùa thu thì Tổng thống chấp thuận yêu cầu rút các đơn vị quân đội người da đen khỏi bang này vì “sự hiện diện của những đơn vị này là điều nhục nhã” gây khó khăn cho các chủ đồn điền trong việc duy trì kỷ luật. Và chỉ trong hai năm, các lực lượng quân đội người da đen đều bị rút khỏi các bang miền Nam.

Với người da trắng miền Nam, Andrew Johnson luôn chứng tỏ là một nhà chính trị tiền phong với chủ trương “hòa giải” và “nhân hậu”: Ông đã không để xảy ra những cuộc bắt bớ hàng loạt các phần tử cực đoan trong Liên minh miền Nam sau ngày họ thua trận mặc dù tại Quốc hội đã có nhiều kiến nghị “trừng phạt bọn phản loạn”. Jefferson Davis - tổng thống của Liên minh miền Nam (1861-1865) - chỉ bị giam giữ gần hai năm trong nhà tù Liên bang mà không bị đưa ra xét xử; vị Phó Tổng thống, Alexander Stephens, cũng bị giam giữ một thời gian ngắn; ông trở lại Quốc hội năm 1873 và sau được bầu làm thống đốc bang Georgia cho đến khi ông mất. Khoảng 15.000 người da trắng miền Nam, đa số không thuộc diện được hưởng các chính sách ân xá vì quá giàu có đã làm đơn xin hưởng qui chế khoan hồng và hầu như tất cả đều được ân xá: có lúc cả hàng trăm người được cấp giấy chứng nhận trong một ngày. Đến năm 1866 đã có trên 7.000 người được toại nguyện.

Nhiều nhà phân tích cho rằng Andrew Johnson hợp tác (và nâng đỡ) giới chủ nhân đồn điền là vì hai mục đích: duy trì uy thế của người da trắng ở miền Nam và mục tiêu tái ứng cử Tổng thống. Tinh thần chiến đấu không ngờ của người da đen năm 1865 đã khiến ông xem xét lại thái độ thù nghịch của mình đối với giới chủ điền. Từ các cuộc đối thoại với Johnson và Bộ trưởng ngoại giao William Seward, đại sứ Vương quốc Anh là Ngài Frederick Bruce nhận xét “cả hai người đều nghĩ rằng người da đen cần phải được kìm giữ trong trật tự và được chăm sóc phụ thuộc vào sự khai hóa của người da trắng”, và “chỉ các chủ điền người da trắng mới có khả năng giám sát quản lý người da đen”.

Chính chương trình tái thiết do Tổng thống Johnson đề ra đã đưa những chính khách theo chủ nghĩa Liên bang lên nắm chính quyền trung ương. Vì thế, tại các tiểu bang phương Nam, xu hướng chung là trao quyền lãnh đạo cho các người từ năm 1860 đã có thành tích chống lại sự ly khai. Kết quả là hai phần ba số đại biểu trúng cử tại các đại hội là những người đã từng chống đối việc miền Nam ly khai khỏi liên bang; họ là những nhà chính trị theo tư tưởng tự do (đảng Whig). Đại hội đại biểu bang Mississippi nhóm họp trước tiên vào khoảng trung tuần tháng 8/1865, thảo luận về một sắc luật công nhận việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Lần lượt các bang khác cũng nhóm họp đại hội đại biểu và thông qua luật bãi nô. Trong số bảy vị thống đốc bang được bầu thì có sáu người là đảng viên Whig; các đảng viên Whig cũng chiếm đa số tại các hội đồng đại biểu tiểu bang và thành phố, quận huyện. Trong số 25 đại biểu từ các bang Arkansas, Tennessee và Virginia để tham gia bầu cử vào Quốc hội thì đã có năm người từng phục vụ trong quân đội Liên bang và những người kia đều có đóng góp cho phe Liên bang hoặc tuyên thệ trung thành với chủ nghĩa Liên bang. Tuy nhiên, cuối cùng thì đa số các thượng nghị sĩ và dân biểu từ miền Nam tuy theo lập trường chống chế độ nô lệ nhưng đã đứng về phe ly khai. Rõ ràng, những người tích cực theo Liên bang cũng đã thất bại trong các cuộc bầu cử.

Nhìn chung, các cuộc bầu cử năm 1865 ở các bang miền Nam cho thấy Tổng thống Johnson đã không thể tạo dựng được giai cấp lãnh đạo mới để thay thế các thành phần chủ nô trước ngày nổ ra cuộc nội chiến. Công việc điều hành guồng máy chính quyền địa phương vẫn do những người đã từng cai trị trước chiến tranh tuy họ đứng về phía Liên bang vào năm 1860. Hoạt động của những người này quyết định thành quả công cuộc tái thiết miền Nam do Tổng thống Johnson đề ra.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:27:24 am »


❖ PHÂN TÍCH CÔNG CUỘC TÁI THIẾT CỦA TỔNG THỐNG

Một vấn đề được các cơ quan lập pháp miền Nam ưu tiên đưa ra thảo luận ngay từ các phiên họp đầu tiên là vấn đề lao động da đen khi các chủ điền da trắng hầu như mất hết quyền lực chi phối, và họ phải trông nhờ chính quyền tiểu bang để giải quyết.

Báo chí miền Nam và nhiều cá nhân chủ điền bày tỏ quan điểm về “một hệ thống lao động... do tiểu bang ấn định và thực thi” như một tờ báo ở New Orleans đưa ra. Kết quả là Bộ luật lao động da đen ra đời, xác định quyền hạn và trách nhiệm mới của người da đen được tự do. Bộ luật cho phép người da đen sơ hữu tài sản, kết hôn, ký kết hợp đồng, khởi kiện và bị kiện cáo và làm nhân chứng trong các vụ án có liên quan đến người da đen. Tuy nhiên, những điều khoản này chỉ là thứ yếu; bộ luật thật sự nhằm ổn định lực lượng lao động da đen và hạn chế những đòi hỏi về kinh tế của họ. Do đó, các chính quyền tiểu hang hầu như chỉ chú trọng đến việc thực thi các khoản hợp đồng lao động và kỷ luật lao động trên các đồn điền, trừng phạt người da đen vi phạm hợp đồng và ngăn ngừa người da trắng tranh đua với lao động da đen.

Mississippi và Nam Carolina là hai bang đầu tiên áp dụng Bộ luật lao động da đen, gọi tắt là Bộ luật da đen rất khắt khe từ cuối năm 1865. Tại Mississippi, tất cả người da đen buộc phải có giấy chứng nhận việc làm mỗi năm ngay từ tháng 1. Người lao động nào bỏ việc trước thời hạn của hợp đồng có thể bị buộc hoàn trả tiền lương đã lãnh nhận và có thể bị chủ da trắng bắt giữ giống như dưới thời nô lệ. Người thuê lao động đang có hợp đồng có thể bị phạt vạ 500 đôla và/hoặc bị cầm tù, người da đen tự do cũng không được quyền thuê đất tại các vùng đô thị. “Lối sống lang thang” (vô gia cư, vô nghề nghiệp) được xem như một vi phạm bị phạt tiền hoặc cưỡng bách lao động tại một đồn điền. Bộ luật cũng qui định nhiều loại tội hình sự khác như “cử chỉ và ngôn từ lăng mạ, sỉ nhục”, hành động ác ý, và rao giảng Kinh Thánh không có phép. Bộ luật của bang Nam Carolina còn qui định người da đen trả thuế hàng năm từ 10 - 100 đôla nếu họ muốn làm công việc không phải của nông dân hay gia nhân - Điều khoản này ảnh hưởng lớn đến cộng đồng người da đen ở Charleston và những thợ thủ công trước đây từng là nô lệ.

Trước phản ứng rầm rộ từ dư luận miền Bắc, các bang phía Nam thay đổi ngôn từ của các bộ luật. Bang Virginia qui định những lao động từ chối mức lương chung của các lao động cũng là một hành vi thuộc “lối sống lang thang”. Louisiana và Texas chống lại qui chế không dùng lao động nữ ngoài đồng ruộng bằng cách qui định hợp đồng lao động bao gồm mọi thành viên trong gia đình. Riêng bang Lousiana thì cho phép chủ điền hay người sử dụng lao động giải quyết các tranh chấp lao động.

Những qui định trên gặp sự chống đối mạnh từ người da đen nhưng cái mà họ than phiền nhiều nhất là việc buộc những lao động vị thành niên làm việc không lương cho các chủ điền. Luật cho phép tòa án quyết định cho chủ nhân da trắng chọn nuôi các trẻ em da đen mồ côi hoặc có cha mẹ không còn khả năng nuôi dạy chúng mà không cần có sự đồng ý của họ. Người da đen phản ứng và khiếu nại với Cục vấn đề người tự do. Đến cuối năm 1867, nhân viên Cục vấn đề người tự do và các tòa án hòa giải tiểu bang vẫn còn giải quyết cho trẻ vị thành niên da đen khỏi luật này.

Như một nhà báo phương Bắc, Sidney Andrews, viết: "... những qui định về lao động và luật này phế bỏ sự nô lệ của một cá nhân (người da đen) với một cá nhân (người da trắng) nhưng lại buộc người ta phải phục tùng cả khối cộng đồng”. Thêm nữa, các cơ quan lập pháp ở các tiểu bang phía Nam tìm cách phạt nặng ngay cả những vi phạm nhỏ. Tại bang Virginia và Georgia, tội trộm một con ngựa hay con la có thể bị kết án tử hình. Bang Nam Carolina buộc người da đen làm việc về nông nghiệp phải có giấy phép của chủ da trắng khi bán các sản phẩm nông nghiệp. Tại bang Bắc Carolina, thống đốc William Graham ký ban hành luật qui định “có ý đồ trộm cắp” là một trọng tội.

Hầu như tại các tiểu bang phía Nam các nhà làm luật đều tìm cách hạn chế quyền hạn của người da đen về săn bắn thú rừng, câu cá, và chăn nuôi thả trên đồng cỏ - Trước đây người da đen với tư cách nô lệ có thể cùng chủ da trắng được tự do săn bắt. Nhiều tiểu bang cấm người da đen sử dụng súng và đánh thuế rất nặng đối với chó săn và súng của họ. Luật cũng qui định gia súc phải được nuôi trong hàng rào; do vậy người da đen vì không có đất nên không thể chăn nuôi.

Toàn bộ các qui định luật pháp về lao động và tội hình sự trên đều nhằm thực thi và củng cố chế độ cảnh sát trị và tư pháp của người da trắng. Mặc dù người da đen không phạm lỗi, các nhóm dân quân (người da trắng) vẫn thường xuyên khủng bố người da đen tại các đồn điền: lục soát nhà cửa để tìm súng săn và chiếm đoạt tài sản, hành hạ những người không có hợp đồng lao động. Các tòa án tuy có cho người da đen được quyền làm chứng trong các vụ án như người da trắng nhưng không được tham dự trong hội đồng xét xử. Một vị thẩm phán người Anh nhận định sau khi dự nhiều phiên xử ở Richmond (Virginia): “Các phán quyết của tòa án đều có lợi cho người da trắng và bất lợi cho người da đen”.

Cảnh sát và tòa án cùng các cơ quan chính quyền địa phương hầu như đều bênh vực cho các tội phạm người da trắng bị truy tố về những tội ác đối với người da đen. Nếu có tên tội phạm người da trắng nào bị Cục vấn đề người tự do hoặc cơ quan dân chính nào truy tố về những tội ác chống lại người da đen thì thường chúng được tòa án tha bổng. Ví dụ như ở bang Texas, trong hai năm 1865 và 1866 có trên 500 tên tội phạm da trắng bị truy tố về tội giết người da đen nhưng rốt cuộc không tên nào bị kết án! Rõ ràng, người da đen không được luật pháp bảo vệ và đây là một thất bại trong hệ thống pháp luật thời kỳ tái thiết của Tổng thống Johnson.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM