Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:34:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử nước Mỹ thời kỳ tái thiết 1863-1877  (Đọc 20811 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2023, 03:20:41 pm »


Cải cách cơ quan dân chính là biện pháp nhóm người Tự do ưa chuộng nhằm triệt hạ quyền lực các bộ máy điều hành của Đảng và để những người như họ nắm lấy quyền hành. Đầu năm 1865, Thomas Jenckes, dân biểu bang Rhodes Island, dựa trên mô hình của người Anh đề nghị áp dụng hệ thống thi tuyển công chức làm việc suốt đời cho Liên bang. Nhận thức kế hoạch này đe dọa sự sống còn của tổ chức, các lãnh đạo Đảng chỉ ra những rắc rối phi dân chủ của kế hoạch và nói qui chế làm việc suốt đời sẽ tạo nên một giai cấp quí tộc của những quan chức Nhà nước trái với ý muốn của nhân dân. Vào thời điểm chỉ có một thiểu số người Mỹ có điều kiện học đại học, phương thức thi tuyển sẽ ưu tiên dành các chức vụ cho bọn “ngu dốt giàu có” đã cố “học nhồi nhét để có được tấm văn bằng tốt nghiệp Đai học Yale”, nhưng thật sự chẳng biết chút gì về thực tiễn.

Những người cải cách mất dần ảo tưởng về chương trình tái thiết tuy họ đã ủng hộ, giúp đặt kế hoạch và dự thảo các đạo luật về tái thiết cùng các tu chính án thời hậu chiến. Họ cảm thấy bực mình về vấn đề miền Nam là cái cớ để các lãnh tụ Đảng bảo lưu lòng trung thành của các cử tri nhưng vẫn chống giảm thuế, cải tổ bộ máy dân chính, và tranh luận chính trị với bất cứ chính phủ nào. Những lời phê bình của đảng Dân chủ về chính quyền miền Nam ngày càng được những nhà cải cách phương Bắc lắng nghe. Giống như bè đảng Tweed và chủ nghĩa Butler, tái thiết báo động hiểm nguy từ một chế độ dân chủ buông thả và sự bất lực về chính trị của những cấp dưới. Charles Francis Adams, Jr. năm 1869 viết: “Phổ thông đầu phiếu theo tiếng Anh chỉ có nghĩa đơn giản là cai trị bằng sự ngu xuẩn và đồi bại - muốn nói một tên vô sản châu Âu, đặc biệt là người Celt, trên bờ biển Đại Tây Dương; một tên vô sản châu Phi trên bãi biển Vùng Vịnh; và một tên vô sản Trung Hoa bên bờ Thái Bình Dương”. Với những nhà cải cách như Adams, ý tưởng chủ nghĩa quân bình đã lỗi thời, một sự trở về với tính đa cảm phi khoa học của thời đại xa xưa. Thành kiến giai cấp và thành kiến về chủng tộc củng cố cho nhau trong khi các nhà cải cách ít quan tâm hơn đến những lớp người hạ đẳng và ngày càng ít cảm nhận các nguyện vọng của những nô lệ cũ.

Cùng với hiện tượng tham nhũng tương đương giữa hai miền Nam và Bắc, những chính sách kinh tế xã hội thời kỳ tái thiết khiến cho các nhà cải cách phải giật mình. Những lời ta thán tại các Hội nghị Người Nộp Thuế về sự chi tiêu phung phí của những kẻ làm luật nghèo rớt mùng tơi được những “người Bắc tinh anh nhất” cảm thông, cũng vì ở miền Bắc thuế má ngày càng tăng và ngân sách ngày càng phình ra. Kiên định hơn bất cứ đảng viên Cộng hòa nào khác, những người chủ trương cải cách cho rằng đất nước đã làm tất cả cho người da đen, giờ đây người được tự do phải “tự bước vào đời bằng chính đôi chân của mình”. Tờ báo Dân Tộc năm 1867 viết: “người da trắng có hay không có thành kiến đối với người da đen là điều hoàn toàn phụ thuộc người da đen”. Nhiều người giờ đây nghĩ rằng bảo vệ người da đen bằng luật pháp là điều “hoang tưởng”. Carl Schurz nói tại Thượng viện: “Có nhiều vấn đề xã hội rất khó giải quyết bằng luật pháp”. Godkin thì khuyên: “Nếu chính quyền địa phương không dẹp nổi hoặc không muốn dẹp bạo lực chống lại người da đen thì tốt nhất người da đen nên di cư đến tiểu bang nào tôn trọng các quyền của họ”.

Về phía người da đen, họ cũng chẳng làm được gì để yểm trợ cải cách. Họ chỉ biết cắt giảm chi tiêu và hạ thuế suất có nghĩa là ít việc làm cho chính phủ và mặc dù những nhà cải cách hô hào để cho họ “bước vào thế giới bằng đôi chân mình” họ vẫn gặp khó khăn. Cải cách dân chính là một rào cản không cho người da đen làm công chức. Điển hình là trường hợp một người nô lệ cũ ở bang Mississippi không qua nổi cuộc thi tuyển làm nhân viên coi giữ tháp đèn pha. Anh phân bua: “Tôi không có được may mắn đến trường bởi vì tôi sinh ra đã là nô lệ và chỉ là một nô lệ cho tới gần đây. Nhưng tôi có kinh nghiệm làm những công việc như canh gác đèn pha. Vậy mà tôi phải qua một kỳ thi với những bài toán đố, những câu hỏi về khoa học!”.

Những nhà cải cách cho rằng bạo lực xảy ra ở miền Nam có cùng nguyên nhân với tham nhũng: sự loại bỏ khỏi guồng máy chính phủ những con người “thông minh và có văn hóa”, vốn là những tinh hoa trong Liên minh miền Nam nay trở thành nạn nhân của sự bất công, người da đen thì thiếu năng lực để bầu cử và carpetbaggers là bọn trộm cắp vô lương. Cuộc cải cách tự do lúc đầu nhắm vào tình hình kinh tế xã hội ở miền Bắc nhưng giờ đây lại xem công cuộc tái thiết là sự thể hiện những điều xấu xa có thật hay tưởng tượng trong Thời kỳ vàng son. Báo Dân Tộc viết: “Về mặt luân lý, chương trình tái thiết có lẽ là một qui trình còn tai hại hơn cả sự phản loạn”. Là một công trình thử nghiệm của chính quyền, chương trình đã thất bại hoàn toàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2023, 03:21:15 pm »


❖ KỲ BẦU CỬ NĂM 1872

Khi nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Grant sắp mãn, các cụm từ “cấp tiến”, “ôn hòa” hay “trung dung” không còn phù hợp để mô tả các phe nhóm trong đảng Cộng hòa nữa. Chủ nghĩa cấp tiến đang suy tàn nhường bước cho chính trị có tổ chức và cải cách tự do; những liên kết trong đảng nay tập trung nơi Ulysses Grant cùng với những chính sách mới của Thời kỳ hoàng kim.

Biết rõ nhược điểm của mình trong nội bộ đảng Cộng hòa, các nhà cải cách nghĩ tới một tổ chức đảng mới với những đảng viên kỳ cựu, những người đã khai sinh ra đảng nay chuyển theo hướng tự do. Danh sách gồm nhiều cựu đảng viên Dân chủ tỉ như Lyman Trumbull, những người đã tiên phong trong công cuộc xóa bỏ chế độ nô lệ như George Julian, và những cựu đảng viên bất mãn vì bị ban lãnh đạo đảng gạt bỏ. Trong số này có ba vị thống đốc tiểu bang trong thời chiến: Reuben Fenton của bang New York; Andrew Curtin, bang Pennsylvania; và Austin Blair, bang Michigan.

Tháng 5 năm 1872, một tập hợp những người ly khai khỏi chế độ Grant nhóm họp tại Cincinnati để chọn người đại diện đảng Cộng hòa Tự do. Họ gồm những người chủ trương cải cách, nhà buôn tự do, cựu chiến sĩ bãi nô, và cả những người đã từng hoặc có thể là quan chức chính phủ. Trước ngày bế mạc, đại hội chọn Horace Greeley, chủ bút tờ Diễn đàn New York và là người khá nổi tiếng trong đảng Cộng hòa. Nhưng Greeley rất ghét mậu dịch tự do và không thiết tha với việc cải cách dân chính và những chuẩn mực khác của chủ nghĩa tự do. Cuối cùng, toàn bộ chiến dịch của Greeley cũng nhắm vào một vấn đề hội nghị hỗn hợp tập trung thảo luận: chính sách mới cho miền Nam.

Greeley có nhiều thành tích nổi trội về vấn đề cải cách. Ngay khi chiến tranh vừa chấm dứt, ông đã chống lại việc tịch biên gia sản và xét xử các kẻ phản loạn, kêu gọi cả hai bên ủng hộ cuộc tái thiết dựa trên nguyên lý “Ân xá toàn diện” và “Bầu cử không thiên vị”. Năm 1867 ông góp một phần tiền giúp Jefferson Davis ra tù. Tuy có lên tiếng phê phán bọn Ku Klux Klan và ủng hộ những chính sách của chính phủ Liên bang ông cũng chỉ trích thuế cao và việc gạt bỏ những “người tài” khỏi chính quyền các tiểu bang; ông nói đây là những rào cản cho sự phát triển của địa phương và sự hòa hợp. Từng là một chiến sĩ của phong trào đòi quyền bầu cử cho người da đen, Greeley giờ đây cũng than phiền về những người nô lệ cũ.

Trước sự thay đổi thái độ bất ngờ của Greeley, đảng Cộng hòa vội ra tay trước. Trong vòng một tháng sau ngày đề cử Greeley, Quốc hội cắt giảm thuế 10% và ra nghị quyết ân xá cho những cựu viên chức Liên minh miền Nam, cho phép họ được giữ các chức vụ ở địa phương. Tháng 7, Đại hội toàn quốc đảng Dân chủ chọn Horace Greeley là ứng cử viên tranh cử Tổng thống với Ulysses Grant.

Ngoại trừ bang Georgia có xảy ra bạo động, kỳ bầu cử Tổng thống năm 1872 diễn ra yên lành nhất của thời kỳ tái thiết. Greeley thắng ở ba tiểu bang thuộc Liên minh miền Nam cũ: Georgia, Tennessee và Texas, cùng Kentucky, Maryland và Missouri. Đảng Cộng hòa thắng lại ở những tiểu bang họ đã mất năm 1869-1870.

Ở miền Bắc, những người ủng hộ Greeley phải chật vật để giải thích tại sao trong quá khứ ông đã chống đảng Dân chủ, gọi họ là “bọn giết người, bọn thông dâm, say rượu, hèn nhát, nói dối và trộm cắp”. Do vậy, kỳ bầu cử năm 1872 là đỉnh cao của sự chống đối chương trình tái thiết.

Đảng Cộng hòa đưa ra chiêu bài bảo vệ quyền bình đẳng của các công dân và bảo vệ người da đen khỏi bạo lực tấn công. Lời hô hào bảo vệ các quyền tự do của người da đen là vũ khí lợi hại nhất của Đảng trong cuộc tranh cử và Grant đã thắng ở tất cả các bang phía Bắc lằn ranh Mason-Dixon (đường biên giữa hai bang Maryland và Pennsylvania, được xem là ranh giới hai vùng Bắc Nam của miền Đông Hoa Kỳ). Trên cả nước đảng Cộng hòa thắng với hơn 55% tổng số phiếu, một tỷ lệ lớn nhất trong các kỳ bầu cử Tổng thống từ năm 1836 đến 1892.

Kỳ bầu cử năm 1872 củng cố sự thống trị của chính trị có tổ chức, với nhiều đảng viên cấp tiến cũ ủng hộ Greeley. Điều này cho thấy chủ nghĩa cấp tiến đã phá sản. Xu hướng chính trị ở miền Nam chuyển qua phe Tự do; đảng Dân chủ miền Bắc tự động bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chuyển qua Dân chủ tự do; đảng Cộng hòa miền Bắc thì vẫn muốn duy trì chương trình tái thiết nhưng phải thừa nhận những mặt tiêu cực như tham nhũng và bất lực. Họ hy vọng với Grant tái đắc cử Tổng thống, miền Nam sẽ được ổn định và có những chính phủ tiểu bang vững chắc và hữu hiệu. Nhìn chung, tuy Tổng thống Grant đã thắng cử vẻ vang, công cuộc tái thiết vẫn còn ở thể bị động ở cả hai miền Bắc và Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 12:50:09 pm »


11

CHÍNH TRỊ THỜI KỲ SUY THOÁI



❖ SUY THOÁI VÀ HẬU QUẢ

Năm 1873, sự bành trướng kinh tế thời hậu chiến đột ngột chấm dứt. Tháng 9, ngân hàng Jay Cooke & Co., trụ cột của hệ thống ngân hàng cả nước, sụp đổ vì không có khả năng bán số trái phiếu trị giá nhiều triệu đôla của công ty hỏa xa Northern Pacific Railroad. Chỉ trong vài ngày toàn hệ thống tín dụng rơi vào cảnh hoảng loạn. Ngân hàng và nhiều nhà môi giới tài chính sụp đổ, thị trường chứng khoán buộc phải ngưng hoạt động và các xí nghiệp bắt đầu cho công nhân nghỉ việc. Cuộc suy thoái kéo theo các vấn đề xã hội cần giải quyết, hủy hoại những tiền đề cơ bản của sự mộng tưởng về lao động tự do, và định dạng lại chính trị và tương quan lực lượng của các đảng phái.

Đến năm 1876, trên một nửa số công ty hỏa xa cả nước làm ăn thua lỗ phải nằm trong tay ban quản lý tài sản. Các dự án xây dựng đường sắt tạm ngưng, các ngành công nghiệp phụ thuộc hỏa xa bị ảnh hưởng. Đến cuối năm 1874 gần phân nửa số nhà máy luyện kim ngưng sản xuất. Trong khi này một thế hệ mới các nhà thầu ra đời, tự tổ chức lại để tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm. Suy thoái thường tạo cơ hội để thay đổi cơ cấu trong sản xuất tư bản. Đây là qui luật áp dụng cho cuộc suy thoái trong những năm 1870. John D. Rockefeller bá chủ công nghiệp dầu khí; Andrew Carnegie đặt nền móng cho đế quốc sắt thép của ông. Trong khi tổng sản lượng giảm và số cơ sở sản xuất không thay đổi, số công nhân nhà máy tiếp tục tăng, phản ánh sự tập trung gia tăng về vốn và sản xuất đại trà được cơ giới hóa. Thống kê năm 1880 cho biết 80% công nhân sản xuất làm việc trong nhà máy.

Đối với công nhân, suy thoái kinh tế là một thảm họa vì nạn thất nghiệp lan rộng khắp các vùng đô thị quan trọng. Một cuộc thăm dò cho biết một phần tư lực lượng lao động của thành phố New York mất việc năm 1874. Rất nhiều người phải đổ ra đường đi kiếm việc làm; đến giữa thập kỷ 70 “lang thang” là một thể chế mới trong bối cảnh xã hội. Cục Thống kê lao động bang Pennsylvania bình luận: “Chưa bao giờ có đông người lao động có tay nghề hay không tay nghề như thế đi khắp các nơi để tìm một việc làm không xứng đáng chút nào”.

Nhiều công nhân mỏ và nhà máy đình công có xô xát để phản đối cắt giảm lương. Năm 1874 chứng kiến nhiều vụ tranh chấp lao động gay gắt trong ngành hỏa xa và tại các khu hầm mỏ vùng Trung Tây. Năm 1875, trên 15.000 công nhân ngành dệt lãn công hai tháng để phản đối giới chủ giảm tiền công. Cũng trong năm 1875, công nhân mỏ than ăng-tra-xít ở bang Pennsylvania đình công dài ngày dưới sự chỉ đạo của Hiệp hội bác ái của công nhân (Workingmen's Benevolent Association) nhưng thất bại, đưa đến vụ xử án Molly Maguire nổi tiếng cùng với sự việc 20 công nhân mỏ chiến đấu bị treo cổ. Theo một tờ báo ở Boston (Massachusetts) những cuộc đình công này đánh dấu “thời kỳ chuyển tiếp” trong lịch sử Hoa Kỳ. Một quan chức bang Pennsylvania bình luận: “Cuộc suy thoái có vẻ như đã du nhập hình thức đấu tranh giai cấp ở châu Âu vào nước Mỹ; nó đe dọa khơi rộng mâu thuẫn giữa kẻ giàu và người nghèo”.

Cuộc suy thoái cũng tác động mạnh đến nông dân. Dân số và sản phẩm nông nghiệp gia tăng suốt thập kỷ nhưng tất cả đều gặp khó khăn vì giá nông phẩm và giá trị điền địa sụt giảm. Nhiều nông dân kêu gọi chính phủ gia tăng kiểm soát ngành hỏa xa và lạm phát, tăng giá nông sản phẩm và giúp nông dân trả các khoản nợ có thế chấp.

Cuộc suy thoái thập kỷ 1870 đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển ý thức hệ ở miền Bắc. Sự căng thẳng rộng khắp giữa lực lượng lao động và tư bản dẫn đến những rạn nứt trong nội bộ các giai cấp. Tại những trung tâm công nghiệp nhỏ khắp miền Bắc công nhân đình công có đồng minh là những viên chức chính phủ địa phương và các doanh nhân nhỏ; họ tỏ căm phẫn với sự can thiệp của những công ty lớn thường nằm ngoài cộng đồng của họ. Tại những thành phố lớn và trong đầu óc các lãnh tụ của cả hai đảng, khái niệm cũ về quyền bình đẳng và phẩm giá lao động phải nhường bước cho các rào cản về giai cấp và sự cần thiết bảo vệ tài sản, nền kinh tế chính trị, và hiện trạng kinh tế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 12:50:48 pm »


Trong lúc suy thoái gia tăng, tầng lớp trung và thượng lưu thành thị ở miền Bắc chỉ trích các phong trào lao động và nông dân cùng những nhà cải cách tự do. Gọi những thủ lĩnh nghiệp đoàn là “kẻ thù của xã hội”, báo chí thành thị cho rằng tính lười biếng và xa xỉ là nguyên nhân sự nghèo đói. Những lời phê bình quay qua chỉ trích cả tổ chức nhân đạo phi chính phủ và những nỗ lực thoát nghèo của công nhân. Nhiều tờ báo còn cho rằng suy thoái là một điều tốt cho nền kinh tế vì nó dẫn đến cắt giảm lương và tiền công, tái lập trật tự lao động, và hạn chế quyền lực của nghiệp đoàn. Trong những năm 1870 giới doanh nhân nhận thức mình thuộc giai cấp tư sản. Nhiều nhà buôn ở thành thị trước đây chống ngành hỏa xa nay thay đổi quan điểm, không còn đòi kiểm soát hoạt động của ngành này nữa. Godkin trong một bài báo kêu gọi các doanh nhân công nhận lợi ích chung của giai cấp: “Ngày nay mọi ngành nghề hoặc cùng sống hay cùng chết với nhau”. Nhiều tổ chức chính trị xã hội được hình thành cho giới doanh nhân như Hiệp hội Công dân ở Chicago. Như thế giai cấp tư sản thành thị biết đoàn kết trước những xáo trộn ở nông thôn và tính chiến đấu của các phong trào lao động để bảo vệ tính bất khả xâm phạm đối với tài sản.

Tuy những nhà cải cách không xác định được những tiêu chuẩn về tài sản cho cử tri thành thị, khủng hoảng kinh tế củng cố quyết tâm của họ giúp chính quyền thoát khỏi những thất thường của ý dân. Một nhà nghiên cứu bình luận: “Những hiến pháp tiểu bang ban hành trong những năm 1870 cho thấy có sự thoát ly khỏi những lý thuyết trước đây về chính phủ mà tất cả chúng ta đều chấp nhận”, như kéo dài nhiệm kỳ thống đốc và chính án, rút ngắn thời gian các khóa họp của cơ quan lập pháp, và trong một vài trường hợp tiết giảm hệ thống hội đồng xét xử. Vì suy thoái ảnh hưởng mạnh đến cơ cấu thu thuế nên các tiểu bang đều giảm chi tiêu. Nhiều tiểu bang nghiêm cấm dùng tiền nhà nước để tài trợ ngành hỏa xa, giới hạn ngân sách và thuế suất, và trao quyền phủ quyết cho thống đốc. Giới cầm quyền tiểu bang nhiều khi sử dụng lực lượng dân quân và nhờ tòa án tìm nguồn vốn như trường hợp thống đốc bang Pennsylvania John Hartranft thuộc đảng Cộng hòa đã làm năm 1875 với cuộc đình công kéo dài của công nhân mỏ. Hành động của ông được báo chí của cả hai đảng tán dương. Có lẽ dấu hiệu rõ nhất cho thấy xu hướng mới trong đời sống chính trị ở miền Bắc là sự phổ biến các sắc luật về du mục (lang thang) để hạn chế tình trạng đi lang thang, hành khất (ăn xin). Thất nghiệp có thể là một trọng tội, một qui định tương tự như đạo luật về dân da đen ở miền Nam thời kỳ 1865-1866. Bang Indiana ấn định hình phạt cho những ai từ chối làm việc vì “lương quá thấp”: lao động công ích trên đường phố, cho phép sử dụng tù nhân để làm các toa xe lửa. Những điều trên cho thấy những nguyên tắc về lao động tự do đã bị triệt tiêu do tình trạng suy thoái.

Sự can thiệp của các chính phủ tiểu bang để đối phó với tình trạng suy thoái kinh tế đụng độ với những lời kêu gào đòi thực thi luật pháp, trật tự và sự tôn trọng nhân phẩm trên cục diện chính trị cả nước. Phiên họp đầu tiên tháng 12 năm 1873 của Quốc hội khóa 43 sôi sục những tranh cãi khi Dân biểu Cộng hòa bang Iowa, George McCrary đề nghị lập ủy ban ấn định giá cước xe lửa “hợp lý”. Đảng Cộng hòa tự phân chia theo các quan điểm riêng của từng vùng lãnh thổ: miền Tây và miền Nam ủng hộ dự luật với lý do củng cố quyền lực chính phủ trung ương đối với ngành hỏa xa; miền Đông phản đối vì “vi phạm quyền độc lập của tiểu bang” và là một hình thức cai trị theo “chủ nghĩa cộng sản”. Với năm phiếu chênh lệch, dự luật được Hạ viện thông qua nhưng bị chặn lại ở Thượng viện.

Vấn đề tiền tệ lưu hành và lạm phát cũng gây nhiều tranh luận sôi nổi ở Quốc hội. Đầu năm 1874, Quốc hội thông qua “Đạo luật Lạm phát” cho phát hành thêm 64 triệu đôla tiền mặt. Tuy không phải là một số tiền quá lớn nhưng việc phát hành này đồng nghĩa với việc Nhà nước có quyền điều chỉnh khối lượng tiền tệ để đối phó với những dao động của nền kinh tế. Giai cấp tư sản thành thị lên tiếng phản đối mạnh mẽ, xem đây là một xu hướng xã hội rất nguy hiểm. Các tờ báo cải cách đồng loạt lên tiếng chỉ trích. Báo The Nation viết: “Hầu như tất cả những ai có chút thông minh và kinh nghiệm trong những vấn đề thương mại và tài chính đều phản đối biện pháp (phát hành thêm tiền mặt) này”. Cuối tháng 4, Tổng thống Grant phủ quyết dự luật. Các nhà cải cách hoan hô Tổng thống nồng nhiệt vì quyết định này. Việc phủ quyết đánh dấu một quá trình được xem là dấu ấn “tình cảm bảo thủ chậm rãi thâm nhập hàng ngũ đảng Cộng hòa và tính chất đáng tôn trọng kinh tế thay thế đòi hỏi về quyền bình đẳng cho công dân da đen”.

Nhưng mỗi lần có khó khăn về kinh tế như xảy ra ở các năm 1874, 1896 và 1932, cử tri đều ca thán và phản đối đảng cầm quyền. Sự ủng hộ cử tri dành cho đảng Cộng hòa đã biến đổi nhiều lần suốt giai đoạn còn lại của thế kỷ 19, từ số dư 110 ghế tại Hạ viện năm 1861 trở thành thiểu số với đảng Dân chủ nắm 60 ghế vượt trội năm 1874. Một tờ báo ở New York bình luận: Các kỳ bầu cử đã biến thành những cuộc cách mạng. Tính đến năm 1896 đảng Cộng hòa nắm đa số ở cả hai viện (Hạ viện và Thượng viện) ba lần, ở Hạ viện hai lần và Nhà Trắng (thắng cử Tổng thống) hai lần.

Mặc dù đảng Cộng hòa thất bại do ảnh hưởng của suy thoái nhiều hơn của cuộc tái thiết, sự dính líu của cánh phía Nam là điều xấu. Lúc đảng Dân chủ nắm quyền kiểm soát Hạ viện năm 1875 cũng là lúc chức vị chủ nhiệm một nửa số ủy ban nằm trong tay các đảng viên Dân chủ. Những người Cộng hòa phía Nam lúc ấy sợ không còn hậu thuẫn để vực dậy Đảng và bảo vệ quyền lợi của họ.

Tờ Herald ở New York vui sướng nhận định: kết quả bầu cử cho thấy người da trắng phương Nam trở lại nắm chính quyền được đón tiếp nồng nhiệt như “người anh em và đồng bào”. Nếu miền Bắc đã quên đi cuộc nội chiến, liệu cuộc tái thiết có thể tổn tại không?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 12:51:45 pm »


❖ RÚT LUI KHỎI CÔNG CUỘC TÁI THIẾT

Kỳ bầu cử năm 1874 cho thấy dấu hiệu miền Bắc thay đổi thái độ đối với miền Nam trong nhiệm kỳ 2 của Tổng thống Grant. Năm 1875, John Bryant, cựu viên chức cục vấn đề người tự do và là một ủy viên lập pháp bang Georgia viết cho tờ New York Times trình bày nhận xét về tình hình chính trị nơi này. Bryant phân tích trên cơ sở quan điểm lao động tự do cổ điển: “Người lao động cần được độc lập như nhà tư bản”. Người da trắng phương Nam trong thâm tâm vẫn cho rằng “lao động phải là nô lệ”. Có thể nhận xét này hơi cường điệu để nói về quan hệ lao động thời kỳ tái thiết. Nhưng liệu người Cộng hòa phương Bắc có tin rằng người lao động phải được độc lập như nhà tư bản không? Một người bạn của Bryant cẩn thận hơn khi nhận xét: “Có lý do để tin rằng thái độ đối với vấn đề lao động và quan điểm chung về xã hội và chính phủ của giai cấp thống trị cũ ở miền Nam giờ đây được đa số người phương Bắc chia xẻ”.

Chỉ vài năm trước đó đảng viên Cộng hòa đoàn kết để tạo dựng xã hội miền Nam phù hợp với những nguyên tắc lao động tự do và bình đẳng về chính trị và trước pháp luật. Giờ đây ý thức hệ về lao động tự do bị phá sản, chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc công khai nổi lên lại, đe dọa phá hỏng công cuộc tái thiết. James Pike trong quyển The Prostrate State (Tiểu bang kiệt quệ) mô tả bang Nam Carolina đắm chìm trong tham nhũng và phung phí của chính quyền, dưới sự điều hành của “đám mọi rợ da đen... một nền dân chủ ngu dốt nhân loại chưa từng thấy”. Rõ ràng Pike không khách quan - ông vốn nổi tiếng phân biệt chủng tộc và những thông tin ông thu thập đều từ những lãnh tụ đảng Dân chủ; ông chỉ tiếp xúc một người da đen trong bang. Tuy không chính xác, quyển The Prostrate State tố giác một chính quyền thối nát mà nguyên nhân là do người da đen cầm quyền. Tiếp theo sau là cả một chiến dịch bôi nhọ, tố giác các nhà luật pháp da đen do giới truyền thông kể cả các báo chí ủng hộ cuộc tái thiết. Các tờ báo, tạp chí của giới trung lưu như các tờ Schribner’s, Harper’s, the Atlantic Monthly, tới tấp đăng bài kêu gọi phục hồi quyền tự trị, tự quản để bảo đảm một chính phủ tốt và sự thịnh vượng cho miền Nam. Điều nực cười là những người Dân chủ phương Bắc xa dần chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc thì người Cộng hòa lại tỏ rõ quan điểm kỳ thị. Đây có lẽ là lý do sự thất bại của công cuộc tái thiết.

Phó Tổng thống Henry Wilson than thở với William Lloyd Garrison: “Một cuộc phản cách mạng đang thắng thế công cuộc tái thiết... Người ta ám chỉ việc thay đổi điều kiện của người da đen... Chắc những ‘người hùng chống nô lệ’ của chúng ta một lần nữa sẽ phải lên tiếng!” Đến khoảng giữa thập niên 1870, những “người hùng” của công cuộc cải cách chỉ còn là những bóng mờ của một kỷ nguyên đã qua. Hội Trợ giúp cho người được giải phóng ở New England (the New England Freedmen’s Aid Society) tan rã năm 1874, và Hiệp hội Thừa sai Hoa Kỳ (American Missionary Association), quan tâm nhiều đến thiện chí của người da trắng phía Nam, tuyên bố người da đen không thể có quyền bầu cử và trách cứ người da đen là vô ơn đối với tổ chức.

Do dư luận quần chúng đổi chiều, lo lắng về sự suy thoái và một loạt các xì-căng-đan, chính quyền Grant ở nhiệm kỳ 2 không thể phác nổi một chính sách chặt chẽ cho miền Nam. Một Thượng Nghị Sĩ Dân chủ tuyên bố: “Chủ nghĩa cấp tiến đã cáo chung, nhưng cái gì sẽ thế chỗ thì không rõ”. Nhưng có một điều chắc chắn: Tổng thống Grant ở nhiệm kỳ 2 chịu trách nhiệm về cuộc rút lui khỏi những chính sách tái thiết.

Ngay cả khi Nhà Trắng muốn can thiệp vào nội tình miền Nam thì cũng không được vì Tòa án Tối cao sẽ can thiệp. Trước kia, Tòa án Tối cao có vẻ như không muốn bị lôi cuốn vào những tranh cãi về chương trình tái thiết nhưng từ 1870 trở đi thì Tòa án Tối cao như muốn can thiệp vào nhiều công việc của Quốc hội và của Chính phủ.

Lần đầu tiên vào năm 1873 Tòa án Tối cao đã ra một quyết định then chốt, đó là vụ án Slaughterhouse (lò mổ gia súc). Bốn năm trước đó bang Louisiana hợp đồng với một công ty được độc quyền mổ thịt gia súc ở New Orleans. Những lò mổ khác bị mất việc liền đâm đơn kiện ở tòa án liên bang, vì họ bị mất nguồn kiếm sống, theo như Tu chính án 14 qui định. Họ yêu cầu Tòa án phán quyết: phải chăng Tu chính án 14 mở rộng định nghĩa “công dân” cho tất cả mọi người Mỹ hay chỉ cho người da đen được hưởng một số quyền lợi người da trắng có? Phân biệt giữa quyền công dân quốc gia và quyền công dân của tiểu bang, Thẩm phán Samuel Miller nói Tu chính án 14 bảo vệ quyền công dân đối với quốc gia, tức là đối với Liên bang, và không tác dụng đối với tiểu bang.

Vụ Slaughterhouse xác định một sự kiện không chối cãi là các Tu chính án sau chiến tranh được đưa ra để bảo vệ quyền lợi của người da đen. Một sự kiện khác gây tác hại ghê gớm hơn là phán quyết trong vụ US v. Cruiksank. Đây là vụ án liên quan đến vụ thảm sát ở Colfax. Cáo trạng đưa ra dựa theo đạo luật thi hành án năm 1870, tố cáo âm mưu xâm phạm quyền dân sự của các nạn nhân. Tòa án Tối cao bác bỏ ba lời buộc tội của tòa dưới, nói rằng các Tu chính án thời hậu chiến qui định chính phủ Liên bang bảo vệ quyền của người da đen khi bị chính quyền tiểu bang xâm phạm, còn việc xử phạt cá nhân phạm tội thì phải do tiểu bang hay địa phương. Phán quyết này mặc nhiên không cho phép Liên bang xử phạt những tội ác do cá nhân gây ra cho người da đen và “bật đèn xanh” cho những vụ khủng bố mà chính quyền địa phương không thể xử phạt hoặc không muốn thi hành luật.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 12:52:31 pm »


Một ví dụ khác cho thấy chính quyền Liên bang bất lực trong việc bảo vệ người nô lệ được giải phóng. Ngân hàng dành cho người da đen Freedman’s Savings and Trust Company thành lập từ năm 1865, là nơi người da đen gửi tiết kiệm. Hàng ngàn người da đen thường xuyên gửi những khoản tiền nhỏ nhoi họ đã dành dụm, đa số đều dưới 50 đôla, có khi chỉ vài chục xu. Những tổ chức của người da đen như hội đoàn, nhà thờ cũng đều gửi những khoản tài sản của họ vào ngân hàng. Thế nhưng Ngân hàng đã quên mục tiêu hoạt động của mình, đầu tư vào các dự án địa ốc ở Washington và cho các công ty hỏa xa cùng nhiều doanh nghiệp khác vay. Tháng 6 năm 1874, Ngân hàng Freedman’s Savings & Trust chỉ còn 31.000 đôla để trả cho trên 61.000 người gửi; tức khắc Ngân hàng tuyên bố ngưng hoạt động.

Tuy ngân hàng Freedman’s Savings & Trust là một tổ chức tư nhân, nó có quan hệ đặc biệt với Cục bảo vệ người tự do, dùng các sĩ quan trong quân đội để vận động khách hàng, và qua những quảng cáo trên báo chí và các tờ rơi đăng hình ảnh Tổng thống Lincoln khuyến dụ người da đen tin tưởng họ được hậu thuẫn của chính phủ Liên bang. Ngân hàng đã không chi trả một đồng nào cho khách hàng da đen, và mặc dù các vị Tổng thống kế nhiệm và các giám đốc ngân khố khuyến cáo sử dụng ngân sách quốc gia, Quốc hội cũng chỉ giúp ngân hàng thanh lý một số nợ quan trọng. Khoảng một nửa số những người gửi tiết kiệm được đền bù bình quân 18,51 đôla/người; phân nửa kia thì chẳng nhận một xu nào. Cho đến tận thế kỷ XX những người gửi tiết kiệm ở Freedman’s Savings & Trust tiếp tục gửi thư xin Tổng thống và Quốc hội trả cho họ số tiền đã mất. Một lá thư viết rất thống thiết: “Thưa Ngài Tổng thống, chúng tôi van xin Ngài hãy nghĩ tới chúng tôi là những người già cả... đã qua chuỗi ngày đẹp nhất đời dưới chế độ nô lệ... Nay chúng tôi cũng chỉ xin lại những gì chúng tôi đã làm ra”. Những lá thư này bị bỏ xó trong Tổng nha văn khố Quốc gia cho đến ngày nay.

Tiếp đến là Đạo luật về dân quyền, bị tẩy chay trong những lần Quốc hội thảo luận năm 1874 mặc dù Tổng thống Grant trong bài diễn văn đầu nhiệm kỳ 2 đã công khai ủng hộ. Dự luật cấm các nơi công cộng và tụ điểm giải trí phân biệt da trắng/da đen và đặt ngoài vòng pháp luật mọi sự kỳ thị chủng tộc ở trường học công lập, bồi thẩm đoàn, nhà thờ, nghĩa trang, và vận chuyển công cộng. Dự thảo còn được duy trì nhờ nỗ lực của Charles Sumner: lúc ông đang hấp hối vào tháng 3 năm 1874 ông đã thì thào gởi gắm cho một người bạn tới thăm viếng ông bên giường bệnh: “Ngài hãy cố gắng giúp cho dự luật về dân quyền nhé,... đừng để nó thất bại”. Các bạn đồng nghiệp chấp nhận dự thảo đạo luật nhưng không ít người nghĩ Quốc hội sẽ thông qua. Tại Hạ Viện, người đưa dự luật ra bàn cãi là Benjamin Butler. Trước đó Butler đã hùng biện cãi lý cho người da đen; ông kể lại chuyện hơn 500 binh sĩ da đen đã hy sinh trong một trận đánh bên bờ sông James: “Tôi nhìn những gương mặt đen sạm nằm ngửa nhìn lên trời, như thầm gọi tha thứ cho những điều sai quấy đất nước họ đã làm cho họ... tôi cảm thấy mình đã đối xử không phải đối với họ trong quá khứ... Tôi long trọng thề với bản thân... sẽ đấu tranh cho quyền lợi của những người đã đổ máu cho tôi và cho đất nước tôi”.

Bảy dân biểu da đen tại Quốc hội khóa 43 cũng đã phát biểu mãnh liệt và hùng hồn về Đạo luật dân quyền. Ngoài hành lang khán thính giả da đen tụ tập đông nghẹt để nghe các dân biểu da đen nói về kinh nghiệm bản thân trong thời kỳ tái thiết. Họ kể về những lần bị xúc phạm, lăng nhục. Dân biểu Joseph Rainey kể có lần bị đuổi xuống xe điện ở Virginia; Dân Biểu John Lynch buộc phải ngồi toa hút thuốc đầy bọn say rượu và cờ bạc; các Dân Biểu Richard Cain và Robert Elliot bị “mời ra” khỏi một tiệm ăn ở Bắc Carolina; Dân Biểu James Kapier đã bị từ chối nghỉ đêm tại các lữ quán trên đường từ Montgomery đến Washington.

Đặc biệt ở những bang “chuộc lỗi”, vấn đề bình đẳng trong giáo dục - phân biệt nhưng bình đẳng - là một trò hề. Bang Tennessee chẳng hạn, dạy cho học sinh da trắng “đẳng cấp xã hội và hận thù”, cho rằng người da đen là thấp hèn.

Butler gặp rất nhiều khó khăn để trình Quốc hội dự thảo Đạo luật về dân quyền. Tại Hạ viện, các dân biểu Cộng hòa hoãn bàn cãi cho đến kỳ bầu cử mùa thu năm 1874. Cùng với sự “bất lực” của Tổng thống và các tòa án Liên bang, thái độ của Quốc hội đối với dự luật cho thấy những người tranh đấu cho cụộc tái thiết sẽ phải đơn độc đối mặt với những hậu quả của suy thoái và bọn người chống đối trở nên bạo tàn hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 12:53:30 pm »


❖ CHỦ NGHĨA CỘNG HÒA SUY YẾU Ở MIỀN NAM

Cuộc suy thoái ở thập niên 1870 tác động mạnh nhất ở miền Nam hơn bất cứ nơi nào khác trên toàn quốc. Từ 1872 đến 1877, giá bông vải sụt giảm 50%; giá thuốc lá, gạo và đường mía cũng sụt giảm thê thảm. Sự sụt giá này ảnh hưởng to lớn đến toàn nền kinh tế, nông dân rơi vào cảnh nghèo khó và các nguồn tín dụng khô kiệt. Suy thoái làm thương mại triệt tiêu, phá sản nhà buôn, ảnh hưởng xấu đến hoạt động của thợ thủ công và lao động không chuyên của cả hai chủng tộc da trắng và da đen. Hy vọng ở một nền kinh tế phồn thịnh và hiện đại của miền Nam thành mây khói, ngay cả lực lượng nòng cốt của công nghiệp miền Nam như công ty sắt thép Tredegar Iron Works ở Richmond (Virginia) cũng bị phá sản. Thu nhập cá nhân năm 1880 rớt xuống bằng 1/3 các nơi khác trên toàn quốc; tổng giá trị sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp của miền Nam kém xa miền Bắc so với thời kỳ đầu của thập niên.

Đời sống người lao động vùng sâu vùng xa lâm cảnh nghèo túng và nợ nần; ngày càng có nhiều người phải bám víu vào nghề trồng bông và nhà buôn cung cấp lương thực thực phẩm; số chủ điền trở thành người lĩnh canh ngày càng gia tăng. Ở vùng sâu bang Georgia, có 2/3 nông dân da trắng phải vay nợ trước mùa vụ hoặc chia sản phẩm. Khảo sát cho biết 40 gia đình người da trắng cho thuê nông trại năm 1870 nhưng con số này tăng lên gần 250 năm 1880.

Trong vùng trồng bông vải gần Natchez, trên 150 chủ điền phải cầm cố ruộng đất để trả nợ và đóng thuế. Tại bang Louisiana, nhiều nông dân trồng mía buộc phải bán nông trại cho các chủ điền giàu có hơn. Vì phần đông các chủ điền nhỏ không có tiền trả công lao động, hình thức lĩnh canh, trả công bằng sản phẩm trở nên phổ biến hơn trong ngành trồng bông.

Điều oái oăm là suy thoái nặng nhất ở những tiểu bang người da đen gia tăng ảnh hưởng chính trị vì chương trình tái thiết còn được áp dụng. Tại những nơi đảng Cộng hòa còn chiếm đa số, số viên chức da đen tăng đáng kể hồi đầu thập kỷ 1870. Số nghị sĩ da đen tại Quốc hội tăng từ năm đến bảy người năm 1873 và nhiều nhất là tám người vào năm 1875. Bang Florida và bang Arkansas chọn những viên chức tiểu bang da đen đầu tiên; các bang Louisiana và Nam Carolina mỗi nơi bầu ra ba viên chức da đen. Số đại biểu lập hiến da đen tăng vọt ở nhiều tiểu bang miền Nam; ở những bang chưa có đại biểu da đen thì cũng có những viên chức da đen nắm giữ những chức vụ quan trọng như chủ nhiệm ủy ban hoặc trong hội đồng địa phương. Phóng viên Edward King trong chuyến khảo sát miền Nam năm 1873-1874 đã gặp mặt nhiều ủy viên hội đồng thành phố ở Petersburg, Houston, và Little Rock, bồi thẩm ở Louisiana, cảnh sát trưởng ở nhiều nơi là người da đen. Trên toàn miền Nam, người da đen đã sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm trong các tổ chức chính quyền vì từ thực tiễn cử tri da đen nhận thức họ cần phải có những người đại diện cùng màu da.

Ở nhiều nơi người da đen biết dùng ảnh hưởng chính trị để thúc đẩy các chương trình phát triển kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, khoảng đầu năm 1873 đảng Cộng hòa nắm quyền ở một số tiểu bang: Arkansas, Lousiana, Mississippi và Nam Carolina. Ba bang “chuộc lỗi”: Tennessee, Georgia và Virginia. Tại các bang Alabama, Florida, Bắc Carolina và Texas, các thống đốc Cộng hòa phải đương đầu sự thù nghịch, chống đối của nhiều đại biểu Dân chủ. Vai trò chính trị của người da đen được tô bóng khi miền Bắc lên tiếng phản đối kịch liệt nạn tham nhũng và lãng phí đã lên tới đỉnh cao. Họ kêu gọi cắt giảm chi phí để đối phó suy thoái. Các chính quyền do đảng Cộng hòa lãnh đạo ra lệnh giới hạn công nợ của tiểu bang, phát hành trái phiếu mới với một lãi suất chung và mệnh giá nhỏ. Bang Florida còn đi xa hơn trong việc hạn chế chi tiêu, cấm dùng tiền ngân sách để tài trợ các công ty. Năm 1876, Florida cắt giảm lương trả cho các viên chức, và các hội đồng lập hiến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 12:54:07 pm »


Đảng viên Cộng hòa da đen ít tha thiết với cải cách hơn đảng viên da trắng. Do suy thoái kinh tế, nhiều lãnh tụ da đen chỉ còn biết sống nhờ đồng lương. Nhiều người da đen lo sợ chương trình cắt giảm chi phí ảnh hưởng đến các chương trình phát triển cộng đồng như y tế, giáo dục, nhưng hầu như ở mọi nơi, dân chúng đều trông mong “cải cách”. Bang Nam Carolina là một ví dụ điển hình. Robert Scott, một đảng viên Cộng hòa, được bầu giữ chức thống đốc từ 1868-1872. Ông mang tai tiếng là bất hảo suốt nhiệm kỳ. Người kế nhiệm, Franklin Moses, là một scalawag, ông này còn bị tai tiếng hơn vì sống xa hoa mặc dù tiểu bang đã hưởng ứng lời kêu gọi cắt giảm chi phí, công nợ và thuế má. Năm 1874, Daniel Chamberlain, một carpetbagger, được bầu chức thống đốc bang thay thế Moses. Khi vận động tranh cử, Chamberlain hứa hẹn cải tổ.

Chamberlain vốn là một thành viên tích cực của phong trào bãi nô ở bang Massachusetts. Trong chiến tranh, ông là một sĩ quan quân đội phục vụ trong một trung đoàn lính da đen. Năm 1866, Chamberlain đến miền Nam với tham vọng trồng bông vải. Giống như nhiều chủ điền từ miền Bắc khác, ông đã thất bại và quay sang “làm chính trị” để kiếm sống. Với ông, cải cách là một biện pháp củng cố quyền lực của người da trắng trong đảng Cộng hòa và thu hút những đảng viên Dân chủ chân chính. Có lúc ông giữ chức phó chủ tịch Hội đồng người nộp thuế và đã ra tranh cử thống đốc để tránh cho đảng (Cộng hòa) nguy cơ “thiên về da đen”.

Chamberlain hứa hẹn những đổi thay cần thiết để bảo đảm “kinh tế và tính ngay thẳng trong chính quyền”. Ở một mức độ khá lớn ông đã thành công. Ông cho tổ chức lại tài chánh để củng cố quỹ của tiểu bang và trả nợ, giảm thuế, san bằng các khoản chi thu, điều tra những vụ gian lận có trước,... Những biện pháp này đều nhận sự ủng hộ của ban lập pháp đa số là người da đen. Có những biện pháp gặp sự chống đối của đông đảo người da đen. Để cắt giảm chi tiêu nhiều hơn nữa và được người nộp thuế da trắng ủng hộ, Chamberlain rút bớt số dân quân, cho nghỉ việc nhiều thẩm phán và viên chức giáo dục da đen và thay thế họ bằng người da trắng. Đến khoảng giữa thập niên 1870, ông trở thành một trong những lãnh tụ đảng Dân chủ.

Đường lối chính sách của Chamberlain cho thấy người da đen chỉ được giữ vai trò thứ yếu trên chính trường miền Nam. Nhận thức này cùng với sự thất bại của chương trình tái thiết khiến một số lãnh tụ da đen đi tìm chiến lược mới để phát triển cộng đồng nhưng họ thất bại. Đa số nô lệ cũ vẫn trung thành với đảng Cộng hòa. Khi Edward Shaw, một lãnh tụ da đen nổi tiếng ở Memphis tranh cử với một đảng viên Cộng hòa da trắng chiếc ghế tại Hạ viện, ông đã thảm bại vì chỉ nhận được 165 phiếu!

Một số lãnh tụ da đen khác khuyên cử tri nên dựa vào chính mình, đừng trông đợi ở chính phủ tiểu hang. Năm 1876 một đại biểu nói trước đại hội đại biểu da đen: “Người da màu có học thức nên đến làm việc tại các lò đúc, nhà máy cơ khí, và xưởng mộc”. Xứng đáng được hưởng các quyền.

Những lời tuyên bố như trên mở đường cho một chủ nghĩa bảo thủ mới thời “hậu cứu chuộc” ở miền Nam với Booker Washington và nhiều chính khách bảo thủ da đen khuyến khích cử tri liên kết chính trị với nhóm “Bảo thủ Độc lập”. Nhóm này gạt bỏ yêu cầu được bình đẳng xã hội. Ý tưởng của nhóm được sự hậu thuẫn của nhiều doanh nhân da đen. Martin Delany, một doanh nhân thành đạt trong ngành bất động sản thường xuyên nói chuyện với các cộng đồng da đen về những lợi ích của vốn đầu tư và lao động và phê bình gay gắt carpetbaggers - “họ chỉ là thành phần hạ đẳng ở xã hội miền Bắc”, Delany tuyên bố. Ông cũng khuyên họ đừng mơ tưởng đời sống sẽ thay đổi vĩnh viễn ở miền Nam.

Trong các cuộc vận động bầu cử thống đốc và hội đồng lập hiến giữa thập kỷ 1870 đảng Dân chủ luôn đưa ra các vấn đề như uy thế của người da trắng, giảm thuế, và kiểm soát lao động da đen. Đảng thắng lớn tại nhiều tiểu bang. Richard Coke giành lại chức thống đốc bang Texas từ Edmund Davis năm 1873 với tỉ lệ phiếu áp đảo 2/1; những người Dân chủ ở bang Virginia đánh bại các đối thủ là đảng viên Cộng hòa ôn hòa. Nhìn chung đảng Cộng hòa thảm bại trong các kỳ bầu cử ở miền Nam năm 1874.

Thắng lợi của đảng Dân chủ chủ yếu dựa vào yếu tố phân biệt màu da và tại những nơi người da đen chỉ là thiểu số thì bạo lực là biện pháp hũu hiệu nhất. Hội đoàn da trắng tại Louisiana hô hào dùng bạo lực để giành ưu thế cho người da trắng. Họ không từ bất cứ hành động bạo tàn nào như ám sát các viên chức chính phủ thuộc đảng Cộng hòa, phá hỏng các phiên tòa, xua đuổi và đánh đập người lao động da đen. Tại xứ đạo Red River, sáu viên chức thuộc đảng Cộng hòa bị giết chết một cách dã man. Tháng 9 năm 1874, trên 3.500 hội viên các hội đoàn người da trắng gồm nhiều cựu chiến binh Liên minh miền Nam thời nội chiến dưới quyền chỉ huy của James Longstreet, một tướng soái Liên minh miền Nam cũ, áp đảo đội dân quân da đen và cảnh sát, chiếm tòa thị chính, trụ sở hội đồng, và các kho vũ khí đạn dược. Chúng chỉ rút lui khi quân đội Liên bang đến do lệnh của Tổng thống. Cảnh bạo loạn tương tự cũng đã xảy ra ở bang Alabama trong kỳ bầu cử năm 1874.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2023, 12:54:46 pm »


❖ CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂM 1875

Lúc Quốc hội khóa 43 nhóm họp lại vào tháng 12, khung cảnh chính trị đã thay đổi. Vì đảng Dân chủ thắng lợi lớn trong các kỳ bầu cử nên đây là phiên họp lần cuối của đảng Cộng hòa còn nắm ưu thế sau hơn một thập kỷ thống trị ở cả Nhà Trắng lẫn Quốc hội. Bạo lực chính trị đang diễn ra ở nhiều nơi tại miền Nam, và sự bá quyền của đảng Cộng hòa ở Washington sắp chấm dứt, Benjamin Butler và những đảng viên tích cực khác đưa ra một đề án hòng cứu vãn chương trình tái thiết. Đề án bao gồm Dự luật dân quyền, một Đạo luật thi hành mới nới rộng quyền của Tổng thống để dẹp tan các âm mưu dọa nạt khủng bố cử tri, chương trình phân bổ quân đội trong thời hạn hai năm (nhằm ngăn cản đảng Dân chủ thắng thế sẽ hạn chế nhiệm vụ của quân đội ở miền Nam), một dự luật nới rộng quyền lực pháp lý của tòa án liên bang, và trợ cấp cho công ty hỏa xa Texas & Pacific Railroad. Trong đề án, Dự luật dân quyền quan trọng nhất. Để dự luật được dễ dàng thông qua, Butler bỏ phần gây nhiều tranh cãi là hệ thống giáo dục hỗn hợp.

Biến cố tại bang Louisiana cộng với sự đoàn kết quá lỏng lẻo trong đảng Cộng hòa dẫn tới việc khó thực thi đề án. Sau khi đập tan cuộc bạo loạn ở New Orleans tháng 9 năm 1874, Tổng thống Grant lệnh cho tướng Philip Sheridan dùng quân đội Liên bang chống lại bạo lực và duy trì chính phủ của Thống đốc William Kellogg. Ngày 4 tháng 1 năm 1875, đảng Dân chủ tìm cách áp đặt năm đại biểu của đảng vào những chỗ đang tranh cãi tại Hội đồng Tiểu bang, Sheridan gửi một cánh quân xông vào tòa nhà Hội đồng và đuổi cả năm đại biểu của đảng Dân chủ.

Nếu bang Nam Carolina tượng trưng cho tham nhũng và “luật lệ người da đen” ở thời kỳ tái thiết thì nay bang Louisiana là nơi quyền lực trung ương can thiệp công việc của địa phương. Hình ảnh binh lính Liên bang áp giải các đại biểu Dân chủ ra khỏi tòa nhà Hội đồng bằng cách gí lưỡi lê vào lưng họ gây phẫn nộ to lớn ở miền Bắc. Tại Boston, một cuộc mít tinh của nhiều nhân vật quan trọng đòi cách chức Sheridan và gọi nhóm Dân chủ trong Hội đoàn da trắng là những anh hùng bảo vệ sự tự do cộng hòa. Biến cố Louisiana khiến đảng Cộng hòa rất cảnh giác, không còn dùng quân đội để can thiệp vào miền Nam.

Dự luật dân quyền và dự luật nới rộng quyền pháp lý trở thành đạo luật trước ngày Quốc hội nghỉ họp; ba dự luật còn lại bị bác bỏ cùng với sự chấm dứt khóa họp của Quốc hội khóa 43. Tuy đã thành luật, luật dân quyền không được thực thi như mong muốn vì không người da đen nào dám khiếu nại và đưa ra tòa những vụ vi phạm quyền công dân. Nó đã trở thành mớ giấy lộn trước khi bị Tòa án Tối cao phán quyết là vi hiến vào năm 1883.

Trước khi kết thúc nhiệm kỳ, Quốc hội khóa 43 cho thu hồi luật giảm thuế 10% có từ năm 1872. Lúc này những người Cộng hòa phương Bắc tỏ ra đoàn kết về các chính sách tài chính và thuế; còn người đảng Dân chủ thì chuẩn bị nắm quyền ở Hạ viện.

Chính sách “để các bang tự lo liệu” dẫn tới nhiều hậu quả tai hại. Tại bang Mississippi người da trắng cho rằng cuộc tái thiết đã chấm dứt sau kỳ bầu cử năm 1874. Mặc dù tại đại hội của đảng Dân chủ, các quyền dân sự và chính trị của người da đen được công nhận, người da trắng ở bang này tiến hành một loạt hành động thanh trừng đảng Cộng hòa và không cho người da đen đi bầu. Khác với cách thức khủng bố của bọn Ku Klux Klan, những cuộc khủng bố của người da trắng nay diễn ra công khai giữa ban ngày, và những tên khủng bố không cần bịt mặt, chứng tỏ sự bất lực của chính quyền địa phương. Khởi đầu là hai vụ khủng bố qui mô lớn xảy ra vào cuối mùa hè năm 1875. Ngày 1 tháng 9, một đại đội dân quân da trắng tấn công, dẹp đuổi một phiên họp của đảng Cộng hòa gồm cảnh sát trưởng Albert Morgan và nhiều viên chức chính quyền địa phương. Một số viên chức da đen trong đó có một đại biểu Hội đồng Tiểu bang bị giết chết. Vài ngày sau, dân quân da trắng lại tấn công người Cộng hòa tại một bữa tiệc ngoài trời ở Clinton cách xa Thành phố Jackson thủ phủ tiểu bang 15 dặm. Mỗi bên có vài người chết. Sau đó những người da trắng trang bị súng ống đi lùng diệt người da đen trên những cánh đồng, bắn hạ tựa như “bắn chim trời”. Khoảng 30 người da đen bị giết trong đó có nhiều giáo viên, thầy giảng và mục sư cùng một số đảng viên Cộng hòa.

Nhiều lời kêu gọi chính quyền tiểu bang can thiệp được gửi tới Thống đốc Ames. Thư của cư dân da đen ở Vicksburg có đoạn viết: “Người da trắng dọa giết chúng tôi. Ban đêm họ mặc quân phục và đi lùng sục khắp phố phường để tìm bắt chúng tôi... Chúng tôi sẽ không đi bầu nữa nếu không được quân đội bảo vệ”. Ames gửi thư cầu cứu với Tổng thống Grant, xin gửi quân đội Liên bang đến dẹp loạn. Grant chỉ thị cho Bộ trưởng Tư pháp Edward Pierrepont tìm cách can thiệp nhưng ông này trả lời: “Toàn thể dân chúng đã quá mệt mỏi với những vụ lộn xộn xảy ra vào mùa thu ở miền Nam...và họ sẵn sàng lên án mọi sự can thiệp của Chính phủ”. Đây cũng chính là dấu hiệu báo trước miền Bắc sẽ rút khỏi chương trình tái thiết. Cuối cùng Pierrepont chỉ gửi người phụ tá đến Mississippi để “giảng hòa”, hai đại đội dân quân bị giải tán và lời hứa không tấn công người da đen. Đêm trước ngày bầu cử, những người da trắng vũ trang lùa người da đen ra khỏi nhà và dọa sẽ giết nếu họ đến phòng bầu phiếu, và ngày bầu cử các thùng phiếu bị nhiều toán người da trắng đập phá. Ames viết thư kể cho bà vợ: “Chính quyền Liên bang chẳng chịu can thiệp…”. Kết quả là đảng Dân chủ thắng lớn ở Mississippi.

Ngày lễ Giáng Sinh năm 1875, Charles Caldwell, nghị viên da đen ở Thượng viện tiểu bang Mississippi bị bắn chết ở Clinton. Khi Hội đồng Lập pháp Mississippi nhóm họp, Phó Thống đốc Alexander Davis, một người da đen, bị kết tội và cách chức; Thống dốc Ames buộc phải từ chức.

Bất chấp luật lệ Liên bang và Hiến pháp Hoa Kỳ, những người Dân chủ đã nắm quyền kiểm soát ở bang Mississippi. Trong khi đó, Tổng thống Grant vẫn “án binh bất động”, không can thiệp vào nội bộ tiểu bang kể từ sau vụ gửi quân bảo vệ chính quyền Cộng hòa thối nát ở bang Louisiana. John Lynch, dân biểu Cộng hòa da đen duy nhất của Mississippi tại Quốc hội, đã thốt lên: “Như vậy là cuộc nội chiến đã trở thành vô ích!” Lynch đã hơn một lần hỏi Tổng thống Grant lý do không gửi quân đội dẹp loạn ở Mississippi. Câu trả lời: “Các lãnh tụ đảng (Cộng hòa) ở phương Bắc đã ngăn cấm tôi”.

Năm 1875 đánh dấu một bước ngoặt trong chương trình tái thiết. Và một kỳ bầu cử Tổng thống mới đang đến gần, cho dù đảng nào thắng thì cuộc tái thiết cũng đến hồi tàn lụi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2023, 01:24:29 pm »


12

THỜI KỲ "CỨU CHUỘC” VÀ SAU ĐÓ



❖ KỲ BẦU CỬ 100 NĂM SAU NGÀY ĐỘC LẬP

Ăn mừng lễ kỷ niệm 100 năm ngày Độc lập, 1776 - 1876, người Mỹ từ các nơi đổ về Thành phố Philadelphia để xem cuộc triển lãm một trăm năm, công trình đánh dấu “Tiến bộ của kỷ nguyên”. Khoảng 10 triệu lượt người, đại diện cho một phần năm dân số toàn nước Mỹ tới chiêm ngưỡng mấy ngàn đồ vật trưng bày từ ngà voi Xiêm La (Thái Lan) đến pho tượng bằng sáp của Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra. Vô số hiện vật kể các phát minh báo hiệu những đổi thay to lớn trong đời sống người dân Mỹ được trình bày: điện thoại, máy đánh chữ, đèn điện, men đóng gói, động cơ đốt trong. Nhưng công chúng thích nhất là chiếc động cơ hơi nước Corliss. Cân nặng 700 tấn và cao sừng sững 40 bộ (13 mét), cái máy tượng trưng chủ đề cuộc triển lãm: Máy móc tạo dựng xã hội, dẫn dắt vào một kỷ nguyên tiến bộ kỹ thuật và của cải vật chất dồi dào mà mọi người dân Mỹ đều được hưởng.

Đối mặt với suy thoái kinh tế tiếp diễn với hằng triệu công nhân thất nghiệp và lao động đình công liên miên, tâm trạng tự mãn có vẻ không thích hợp. Cuộc triển lãm ở Philadelphia không che dấu nổi cuộc đình công dài ngày năm 1875, và vụ công nhân dệt ở Fall River, bang Massachusetts bãi công, cho dù 27 xưởng dệt của Philadelphia có đồ vật trưng bày. Phụ nữ cũng không có dịp nói lên những đóng góp của họ cho xã hội Hoa Kỳ ngoại trừ một gian hàng triển lãm những tấm thảm do phụ nữ đan bằng tay.

Cuộc Triển lãm 100 Năm không dính dáng đến người da màu chút nào vì người da đen như bị gạt hẳn sang một bên: không một thợ xây dựng da đen nào có trong các toán xây dựng các sảnh, gian hàng, và cũng không sản phẩm nào do người da đen làm ra được trình bày. Ngoại trừ người da đỏ, vì chủng tộc này được xem là “sơ khai” so với văn minh người da trắng. Tuy nhiên những người da đỏ thật sự đã làm hỏng lễ kỷ niệm khi tin tức về cuộc thảm sát tướng George Custer và bộ chỉ huy của ông bởi các chiến sĩ bộ lạc Sioux dưới quyền chỉ huy của Sitting Bull (Con Bò Ngồi) và Crazy Horse (Ngựa Điên) về đến Philadelphia. Người da đỏ đòi lại phần đất dành cho họ theo một thỏa ước năm 1868. Mặc dù người Sioux thắng trận chỉ tạm thời chặn đứng bước tiến của binh sĩ, người định cư và kẻ thăm dò da trắng, sự kiện nói lên hai điều: Chính phủ không tôn trọng những cam kết của mình, và sự kiên trì của người da đỏ, hoàn toàn khác với những gì trưng bày tại Philadelphia.

Khi các công nhân đang hoàn tất công việc xây dựng hội chợ triển lãm thì nhiều biến cố xảy tới với chính quyền của Tổng thống Grant. Bộ trưởng Bộ Chiến tranh William Belknap từ chức vì bị cáo buộc đã nhận tiền hối lộ của một thương lái do chính phủ chỉ định để làm ăn với người da đỏ. Một cuộc điều tra phát hiện băng nhóm Whiskey Rings đã chiếm đoạt nhiều triệu đôla thuế liên bang với sự tiếp tay của Orville Babcock, thư ký riêng của Tổng thống Grant.

Vụ bê bối khiến các lãnh tụ đảng Cộng hòa bối rối khi họp đại hội để chọn ứng viên Tổng thống. Cho tới lúc khai mạc Triển lãm 100 Năm, ứng viên sáng giá nhất của Đảng là James Blaine, nguyên Chủ tịch Hạ nghị viện Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một tờ báo phanh phui việc Blaine khi còn là Chủ tịch Hạ viện đã can thiệp cho một công ty hỏa xa ở Arkansas được cấp đất. Blaine có cổ phần trong công ty này; ông đã thế chấp cổ phần này để vay một số tiền lớn từ công ty Union Pacific nhưng không hề trả lại số tiền đã vay. Do vậy, đại hội đã chọn Rutherford Hayes, thống đốc bang Ohio làm ứng viên Tổng thống của đảng Cộng hòa. Ông này không có thành tích đáng kể gì ngoại trừ được lòng mọi thành phần trong đảng. Tại Quốc hội những năm 1860 Hayes ủng hộ chương trình tái thiết. Đối thủ của ông từ đảng Dân chủ là Samuel Tilden, thống đốc bang New York.

Năm 1876, cả nước chú ý đến một biến cố trọng đại xảy ra tại miền Nam: Vụ thảm sát ở Hamburg, một thị trấn nhỏ ở bang Nam Carolina.

Ngày 4 tháng 7, một toán dân quân da đen tổ chức mừng lễ Độc lập trên đường phố. Con trai và con rể một trại chủ da trắng chạy xe ngựa đến, yêu cầu toán lính nhường đường. Hai bên cãi lộn nhau một lúc nhưng cuối cùng viên sĩ quan chỉ huy Dock Adams cũng ra lệnh cho toán dân quân nhường lối cho xe hai người da trắng qua. Bốn ngày sau, toán dân quân da đen đi tuần gặp một đám người da trắng có vũ trang dưới sự chỉ huy của tướng Matthew Butler, một đảng viên Dân chủ có tiếng tăm trong vùng. Butler ra lệnh giải giới toán dân quân nhưng Adams không nghe lời. Hai bên nổ súng qua lại nhưng không có thương vong. Sau đó toán dân quân da đen khoảng 40 người rút về doanh trại của mình còn Butler thì kéo quân đến Augusta. Ít lúc sau ông trở lại Hamburg cùng với vài trăm người da trắng có vũ trang và một cỗ đại bác. Vì quá thua kém về quân số, toán dân quân da đen lợi dụng đêm tối bỏ trại chạy trốn nhưng 25 người bị bắt, có năm người bị những kẻ tấn công hành quyết ngay tại chỗ. Viên cảnh sát Liên bang da đen cũng trúng đạn và tử thương. Bọn người da trắng sau đó cướp bóc và dập phá nhà cửa của người da đen trong thị trấn.

Vụ thảm sát ở Hamburg là một phần trách nhiệm của tướng Butler, người được xem là một thành phần ưu tú của miền Nam đã dung túng bạo lực và có hành động côn đồ. Vậy mà Butler được bang Nam Carolina bầu vào Thượng nghị viện Hoa Kỳ năm 1877.

Trong lịch sử tiểu bang Nam Carolina, cuộc vận động tranh cử năm 1876 được xem là gây náo động nhiều nhất, người da đen vẫn là nạn nhân và người da trắng là kẻ gây rối, bạo động. Nhiều toán người da trắng có vũ trang tìm đến các cuộc họp của đảng Cộng hòa và bắn xối xả vào đám đông đang dự hội nghị. Các toán Ku Klux Klan được dịp tung hoành, reo rắc tai ương cho người da đen khắp tiểu bang. Các đảng viên Dân chủ tỏ ra không sợ chính phủ Liên bang sẽ can thiệp nên đã không ngừng tấn công những người Cộng hòa. Jerry Moore, một nô lệ cũ đang là chủ tịch chi hội đảng Cộng hòa tại hạt Aiken cho biết những người chống đối tái thiết đang chuẩn bị phá rối cuộc bầu cử. Người chủ đất da trắng nói với ông: “Sẽ có cuộc tắm máu nếu chúng tôi không thắng lần này. Anh nên coi chừng”. Khi Moore cãi lại: “Chính phủ Liên bang sẽ can thiệp. Họ mạnh lắm”, thì được trả lời: “Dân chúng miền Bắc về phe chúng tôi, anh quên à?”.

Kết quả bầu cử Tổng thống ban đầu cho thấy đảng Dân chủ có lẽ thắng. Tilden được đa số phiếu ở New York, New Jersey, Connecticut, và Indiana là những bang ở miền Bắc, còn miền Nam thì chắc chắn bỏ phiến cho ông rồi. Ngay đêm bầu cử chủ bút tờ New York Times là George Jones đã vội gửi điện báo tin thất cử cho Haynes. Nhưng rạng sáng ngày hôm sau một nhân viên ở sở chỉ huy đảng Cộng hòa nhận xét nếu Hayes thắng cử ở các bang Nam Carolina, Florida, và Louisiana là các bang nghiêng về phía Cộng hòa thì ông sẽ thắng với một phiếu cử tri đoàn nhiều hơn Tilden. Sau đó, Zachariah Chandler, Chủ tịch đảng Cộng hòa, thông báo công khai: “Hayes được 185 phiếu cử tri đoàn và là người thắng cử”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM