Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 04:08:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1  (Đọc 36324 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #130 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:30:47 am »


Tháng mười một năm 1947, để phối hợp với đại quân Lưu Đặng, mở cuộc đấu tranh chống bao vây càn quét, Trần Canh chỉ huy bộ đội theo đường Lũng Hải tiến về phía Nam. Để đối phó với việc binh đoàn số năm của Lý Thiết Quân bám theo đuôi, Trần Canh bèn tự mình xây dựng kế hoạch "dẫn bò về phía Tây Hà Nam". Kế hoạch đó là: lấy lữ 13 và lữ 25 giả làm chủ lực, hấp dẫn Lý Thiết Quân bám theo đến vùng Đại Sơn, ở chỗ giáp giới Hà Nam. Trong khi đó thì chủ lực triển khai về phía Đông chân núi Phục Ngưu Sơn, một nơi có đất rộng, để phát động quần chúng, xây dựng lực lượng võ trang địa phương, và tạo nên một căn cứ địa mới.

Ngày mười bốn tháng mười một, bộ đội "dẫn bò" từ Lý Thanh Điếm ở Nam Chiêu bắt đầu lên đường. Trần Canh được điện của Trung ương gửi tới, chỉ định làm người chỉ huy của cánh quân này. Trước khi xuất phát, Trần Canh đã dặn dò kỹ lưỡng Trần Khang:

— Các đồng chí nhất định phải nghĩ ra biện pháp dẫn kẻ địch tiến về hướng phục Ngưu Sơn. Các đồng chí phải dẫn sao cho con "bò" đó bị mệt mỏi, bị gày yếu, rồi bị sụm luôn tại chỗ, để tranh thủ thời giờ cho chủ lực hoạt động. Đồng thời, cũng phải chuẩn bị tốt các điều kiện giết "bò". Hai lữ của các đồng chí chẳng qua có năm sáu nghìn người, còn đại quân của Lý Thiết Quân đông tới ba vạn, và toàn bộ lại được trang bị bằng vũ khí Mỹ. Như vậy, khó khăn không nhỏ đấy! Để nhử cho Lý Thiết Quân cắn câu, các đồng chí có thể áp dụng nhiều thủ đoạn nghi binh, phô trương thanh thế. Các đồng chí còn nhớ câu chuyện về Tôn Tẫn giảm bớt số bếp nấu, để dụ Bàng Quyên vào Mã Lăng Đạo để rồi bắn chết hắn, mà tôi kể cho các đồng chí nghe đấy không? Bây giờ các đồng chí có thể nghi binh bằng cách thêm bếp nấu, để làm cho quân địch bị đánh lạc hướng!

Trần Canh đem những biện pháp hành quân nói rõ cho các đồng chí của mình nghe. Bộ đội "dẫn bò" sau khi xuất phát, bèn tạo thanh thế để lừa dối kẻ địch. Họ chia làm nhiều lộ, ồ ạt kéo đi và triển khai theo thế hình rẻ quạt. Đường lớn đường nhỏ đâu đâu cũng có tiếng nói ồn ào của bộ đội. Đến đêm, khác hẳn những cuộc hành quân bình thường, phải giữ im lặng. Đằng này, họ nói chuyện to tiếng, cán bộ phổ biến cho các chiến sĩ, là để địch nhìn thấy mục tiêu, chiến sĩ có thể to tiếng ca hát, hoặc to tiếng nói chuyện. Mỗi lần đi ngang qua một thôn trang, họ còn nhận được mệnh lệnh: "Nói truyền ra phía sau phải kéo dài đội hình, và đi chậm lại". Lúc đó, ngay như những chiến sĩ thường ngày không thích nói chuyện, bây giờ cũng nói rất hăng. Thậm chí có người còn hát ca đủ thứ điệu hát quê hương của mình. Giọng Nam giọng Bắc, làm rung chuyển cả một khu vực. Những con ngựa kéo đại bác, dường như cũng phụ họa theo. Chúng vươn dài cổ ra và hí lớn giữa đêm khuya. Hồng quân đã hành quân đến giữa đêm, vượt qua hơn bốn mươi dặm đường, mà vẫn không thấy binh của Lý Thiết Quân có động tĩnh gì. Trần Khang bèn dựa theo biện pháp của Trần Canh, phái một cánh Hồng quân đi trở lại phía sau, và xây nhiều bếp nấu dọc theo đường hành quân. Cứ một trung đội là xây mấy cái bếp, có những bếp dùng nấu cơm, có những bếp dùng nấu nước. Nếu không nấu nước thì họ cũng đốt lên chỗ đó một đống lửa. Do vậy, chỉ trong nháy mắt, cả vùng thôn trang đâu đâu cũng khói lửa bốc cao. Chỉ một đại đội mà họ đóng binh dài hơn một trăm bộ, khói nấu bốc cao, lửa cháy chập chờn giữa đếm tối.

Qua ngày hôm sau, các phụ lão trong xóm đi đâu cũng nói "Bát lộ quân vừa đi qua, chỉ riêng lừa ngựa thôi, cũng đi suốt nửa đêm dài". Có người nói: "Ở thôn tôi có mấy nghìn quân dừng lại nghỉ chân, bên ngoài cổng làng đâu đâu cũng là bếp để nấu nướng". Tin đó cứ một truyền mười, mười truyền một trăm, càng truyền càng nhanh, càng truyền càng xa, càng truyền càng có vẻ thần bí.

Chiều ngày mười lăm, bộ đội của Lý Thiết Quân đã kéo tới. Các chiến sĩ vui mừng, vừa nhảy vừa gõ nhịp hát vang:

Lý Thiết Quân, quả to gan,
Nhất quyết bám theo tưởng ăn dễ dàng.
Mưu kế Trần Canh rõ ràng,
Dần "bò" chờ theo vào Phục Ngưu San
Nó đi kiệt sức, hoang mang.
Chọc tiết bày tiệc cả làng ăn chung


Khi có tiếng súng nổ đánh địch, có người còn làm một bài vè rằng:

Xênh xang bước đi từng bước,
Theo sau một chú bò tơ.
Con bò quả thật quá khờ,
Dây dàm khỏi cần xỏ mũi.
Ngoan ngoãn bước đi thui thủi,
Chẳng cần ai đánh rơi nào

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #131 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:31:18 am »


Nhưng trong thực tế thì mọi việc không phải đều thuận lợi như mọi người đã mong. Lý Thiết Quân và Trần Canh là bạn học đồng song một khóa ở trường Hoàng Phố, nên đã biết Trần Canh hành quân rất lợi hại, và từ trước tới nay vẫn lấy làm khâm phục Trần Canh. Trong quân ngũ Lý Thiết Quân thường gọi Trần Canh là "Trần đại ca", cho nên hôm nay đưa quân Nam tiến, lúc nào Lý Thiết Quân cũng cẩn thận, dè dặt không khi nào dám hành động liều.

Trần Canh thấy "dụ tướng" không được, bèn quyết định "mời tướng". Ông hạ lệnh chiếm lấy Trấn Bình, uy hiếp Nam Dương, là nơi địch đang chiếm giữ.

Thế là dây dàm đã xỏ được vào mũi "bò". Quân ở Trấn Bình cấp tốc cầu viện với Lý Thiết Quân, và Lý Thiết Quân đã xua quân tây tiến, rơi vào mê hồn trận của Hồng quân. Thế mà chúng vẫn tưởng Hồng quân sợ chúng. "Công ty nói dối" Trung ương của Quốc dân đảng là Trung ương xã, còn khoác lác: "Đã đẩy chủ lực quân của Trần Canh vào trong núi sâu".

Lúc đó, trong bộ đội lại xuất, hiện một bài vè mới:

Lý Thiết Quân,
Quả là ngu
Đoán địch tình,
Như mây mù.
Hồng quân chiếm.
Trấn Bình huyện.
Hắn được tin,
Vỗ xuống bàn,
Trừng hai mắt,
Quát ra lệnh:
Bây trúng kế.
Còn hung hăng?


Bắt đầu từ đó, quân địch bám sát theo quân đội "dẫn bò", khi tiến, khi dừng, khi dừng, khi tiến. Lúc nào cũng giữ khoảng cách giữa hai bên nửa ngày đường. Khi gần nhất không quá ba mươi lăm dặm, có khi chỉ cách nhau một con sông, chẳng khác nào đôi bên chơi ú tim, làm cho địch nhìn thấy mà không chụp được.

Để đánh lạc hướng sự trinh sát trên không của địch, quân đội "dẫn bò" sau khi xuất phát từ Trấn Bình, cứ đi giữa ban ngày thành đội hình kéo dài như một con rồng. Khi dừng lại nghỉ ngơi, các chỉ huy bèn ra lệnh cho binh sĩ đốt nhiều đống lửa. Như vậy, nếu ban ngày thì nhìn thấy nơi đóng quân của họ khói bốc lên mù mịt, còn ban đêm, thì thấy lửa đỏ rực khắp nơi.

Qua mấy mươi hôm, lữ 13 của Trần Canh đã từ Bắc kéo tới Nam, từ Đông kéo sang Tây, và chứng tỏ hoàn toàn không có định hướng. Qua hành động đó, làm cho đại quân của địch phải bám theo đi thành một vòng tròn to. Đến chừng đó, Lý Thiết Quân mới nhận ra chủ lực của Trần Canh đang ở phía Đông, nên hối hả dẫn trọn ba sư của mình đi cứu viện. Và kết quả họ đã bị Hồng quân tiêu diệt toàn bộ tại Toại Bình. Khi Lý Thiết quân đã cùng đường, giận dữ đấm vào ngực thật mạnh, rồi dùng một giọng hết sức bi thương, nói với viên tham mưu trưởng Lý Anh Tài rằng:

— Đáng tiếc là thanh danh nửa đời của ta đã bị Trần Canh hủy đi trong chốc lát!

Lý Anh Tài sau khi bị bắt làm tù binh, có thừa nhận "quý quân dụng binh thật chẳng khác nào thần xuất quỷ nhập, chúng tôi tưởng lầm chủ lực của quý vị ở phía Tây, nhưng rốt cục lại ở phía Đông. Làm chúng tôi bị quý vị cho đi theo một cái vòng tròn lớn, làm cho binh sĩ đều kiệt sức, và sau đó mới tiêu diệt toàn bộ".

Chiến tích trên đây, lại thêm những dòng chữ sáng chói trong một chiến sử hiển hách của Trần Canh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #132 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:31:57 am »


4. HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Là một chàng trai đầy nhiệt huyết, tất nhiên Trần Canh cũng từng yêu tha thiết. Nhưng tình yêu của ông lại đi đôi với trách nhiệm nặng nề trên vai, nên khiến ông không thể cùng người yêu của mình sống mãi cạnh nhau. Đó là điều mà ông cảm thấy đáng tiếc. Cả đời Trần Canh có ba cuộc hôn nhân, nhưng ông chỉ nhìn nhận có hai lần. Tại sao vậy?

Cuộc hôn nhân đầu tiên của Trần Canh diễn ra hồi ông mới mười bốn tuổi. Như trên đã nói, vào năm 1917, cha mẹ ông theo tập tục cổ truyền của tổ tiên để lại, cho rằng con trai cần phải lấy vợ sớm, sinh con sớm, thì mới là việc tốt của gia đình. Cho nên đã chọn cho ông một cô gái lớn hơn ông hai tuổi, để làm người bạn trăm năm cả đời cho ông. Cô gái ấy tên gọi Trần Bích Quân, là con một gia đình giàu có. Thuở ấy, người con gái không ra khỏi cổng, không biết chi bên ngoài. Cho nên tất nhiên cô gái ấy không biết được cái chờ đợi mình là hạnh phúc hay bất hạnh.

Đối với cha mẹ Trần Canh mà nói thì cuộc hôn nhân này là "môn đăng hộ đối" không còn chi lựa chọn nữa. Cho nên cha mẹ ông hoàn toàn không cho phép một sự thương lượng nào khác, mà bắt con mình phải chấp nhận cuộc hôn nhân này mà thôi. Trái lại, đối với Trần Canh, một người đã học ở Đông Sơn thư viện, đôi mắt có dịp nhìn ra ngoài, không bao giờ cam tâm chịu sống yên tại một sơn thôn nhỏ như Dương Cát An này. Ông cũng như một con chim đại bàng tung cánh bay xa, cho nên sau khi cha mẹ bắt buộc ông cưới vợ, và với tính cách cứng cỏi, sẵn sàng phản kháng như ông, đá khiến ông phải phản ứng mạnh. Sau khi hôn lễ xong, Trần Canh cảm thấy mình càng phải học theo người tổ phụ của mình, bỏ nhà ra đi. Việc ra đi của ông, theo thời bấy giờ cũng không phải là chuyện ghê gớm gì, nhưng ở một sơn thôn nhỏ như Dương Cát An, thì lại là một chuyện to tát. Ông đã để lại cho cha mẹ mình một việc khó xử. Sau khi rời khỏi nhà, Trần Canh đã tuyên bố là không bao giờ trở về nữa. Từ trong quân ngũ ông viết thư yêu cầu gia đình mình nên đưa Trần Bích Quân trở về nhà cha mẹ của cô. Đứng trước tình cảnh đó, cha ông thấy để kéo dài cũng vô ích, nên phải thỏa hiệp với ông. Cha ông tìm một số người tai mắt ở địa phương, đứng trung gian làm hòa giải, rồi biếu cho nhà gái một ít tiền, và đưa nàng dâu trở về nhà cha mẹ ruột, kết thúc một chuyện rắc rối do chính mình tạo ra. Cuộc hôn nhân này, cũng giống như những bi kịch đã xảy ra trong nhiều gia đình thời đó, khởi đầu là bất hạnh, và kết cục cũng là bất hạnh.

Lần hôn nhân thứ nhất của Trần Canh đã kết thúc như thế. Cuộc hôn nhân này, đã thúc đẩy ông xa rời gia đình, và có thể nói, đã tạo một bước ngoặt trong cuộc sống của ông.

Nếu nói, cuộc hôn nhân thứ nhất của Trần Canh là theo mệnh lệnh cha, theo lời người mai mối, thì cuộc hôn nhân thứ hai của ông là sự hiểu nhau giữa đôi bên, và sự thương yêu tự nguyện. Người vợ thứ hai của ông tên gọi là Vương Căn Anh.

Vương Căn Anh chào đời năm 1906 tại khu ngoại ô Thượng Hải, trong một nhà nông dân nghèo, mười một tuổi, cô phải đi làm thợ vị thành niên cho xưởng kéo sợi Hàng Phong của người Nhật. Cô đã tích cực tham gia cách mạng. Năm 1925 khi cô mười chín tuổi, gia nhập Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Tháng ba năm 1927 công nhân Thượng Hải võ trang khởi nghĩa lần thứ ba thành công. Đặc biệt tại Thượng Hải, Vương Căn Anh đắc cử vào thị ủy của Thượng Hải, với chức vụ là thị ủy viên. Sau chính biến mười hai tháng tư, vì phải trốn tránh sự lùng bắt của mật thám Quốc dân đảng và bọn tuần cảnh ngoại quốc tại tô giới, Vương Căn Anh phải rút vào công tác bí mật.

Vương Căn Anh và Trần Canh biết nhau tại Thượng Hải. Họ vừa gặp nhau là đã yêu nhau ngay, vì đôi bên đều ngưỡng mộ nhau. Vương Căn Anh có vóc người mảnh khảnh xinh đẹp, Trần Canh tuấn tú cao lớn. Cả hai vì đều bận rộn công tác, nên chưa có dịp để kết hợp với nhau.

Năm 1927, đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ năm triệu tập tại Vũ Hán, Vương Căn Anh là đại biểu của Thượng Hải đến dự đại hội. Trong thời gian này, cô đã kết hôn với Trần Canh. Sau khi hôn lễ xong, hai người chưa hưởng tuần trăng mật thì Vương Căn Anh phải hối hả trở về Thượng Hải, để lo cho sự nghiệp của Đảng. Cả hai người đều không có sự hờn trách chi trong việc này.

Sau khi giã từ Vương Căn Anh tại Hán Khẩu, Trần Canh đã mất liên lạc với vợ. Trần Canh chiến đấu ngoài tiền tuyến, còn Vương Căn Anh hoạt động bí mật tại Thượng Hải, lúc nào cũng lo lắng cho chồng, mong mỏi được tin của chồng. Khi Vương Căn Anh thấy tin tức đăng trên báo, ngày một tháng tám Nam Xương khởi nghĩa, thì hết sức phấn khởi. Chẳng bao lâu sau, Vương Căn Anh lại được tin tức quân đội khởi nghĩa tiến xuống phía Nam, và bị thất lợi tại Sơn Đầu, nên càng lo lắng cho chồng nhiều hơn. Mãi đến khi Trần Canh xuất hiện trước mắt Vương Căn Anh, với vết thương trên đùi, thì cô mới bớt một phần nào lo lắng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #133 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:32:31 am »


Đến khi Trần Canh hoạt động công tác bí mật tại Thượng Hải, vì trong một hoàn cảnh mà sự nguy hiểm luôn luôn rình rập, buộc phải có gia đình để làm bình phong, Vương Căn Anh dọn tới ở chung một nhà với Trần Canh, và đã dùng sự thông minh của mình giúp cho Trần Canh vượt qua nhiều tình huống nguy hiểm. Hai vợ chồng lại là đồng chí với nhau, nên tình cảm lúc nào cũng hòa hợp, cuộc sống thật là êm ấm.

Năm 1933 Trần Canh bị bắt ở Thượng Hải, và khi ra khỏi ngục, ông liền vào khu Xô viết của Trung ương, và để Vương Căn Anh ở lại Thượng Hải một mình. Đến tháng mười hai năm đó, Vương Căn Anh cũng bị bắt, và sau một thời gian bị đưa vào nhốt tại "Nhà giam mô phạm số một Giang Tô" ở Lão Hổ Kiều. Vương Căn Anh bị giam chung với Soái Mạnh Kỳ, Hạ Chi Hử. Trong thời kỳ bị giam cầm, Vương Căn Anh tỏ ra là một người Cộng sản kiên trinh bất khuất, nhưng có điều là không lúc nào cô không nghĩ tới người chồng của mình.

Khi sự kiện Tây An được giải quyết hòa bình, nhờ sự cứu nguy của Châu Ân Lai, Vương Căn Anh mới được ra khỏi ngục.

Giữa lúc Hồng quân được cải biên thành Bát lộ quân, Trần Canh với chức vụ một tướng chỉ huy, sắp sửa ra tiền tuyến kháng Nhật, thì một tin mừng truyền đến ông. Đó là Vương Căn Anh đã từ Tây An đến Tổng bộ Chính trị Bát lộ quân vào ngay mười sáu tháng tám. Trần Canh vừa nhận được điện thoại từ tỉnh bộ chính trị gọi đến, hối hả đến ngay văn phòng của Tổng bộ chính trị Nhạc Dương Trấn. Một cặp vợ chồng trải qua biết bao tang thương biến đổi, nay lại trùng phùng, họ hết sức vui mừng. Trong nhật ký ngày hai mươi bảy tháng tám, Trần Canh có viết: "Hôm qua Căn Anh đã từ Tây An đến tổng cục Chính trị tại Vân Nam. Đồng chí Tiểu Bình đã thêm thức ăn để ăn mừng việc chúng tôi được trùng phùng. Đồng thời đồng chí có dành riêng một phòng đặc biệt cho chúng tôi nói chuyện với nhau suốt đêm hôm đó.

Đôi bên cùng kể cho nhau nghe những chuyện xảy ra trong những ngày xa cách. Nói chuyện mãi cho tới khuya, mà chưa thấy buồn ngủ. Niềm vui của hai người còn hơn cả đêm tân hôn tại Vũ Hán hồi năm 1927. Căn Anh đã ngồi tù bốn năm, trải qua đủ sự gian khổ, cũng như trải qua bao nhiêu sự uy hiếp, mua chuộc của địch, nhưng cô vẫn giữ vững lập trường của người đảng viên Cộng sản, không hề dao động, càng làm cho tôi thêm khâm phục cô hơn. Từ đây, tình cảm giữa hai chúng tôi sẽ ngày càng vững chắc, và sẽ tuyệt đối không có gì lay chuyển được".

Sau những ngày sum họp ngắn ngủi, lại là những ngày ly biệt thật dài. Vương Căn Anh ở lại Vân Dương chỉ mấy hôm thì Trần Canh với chức vụ là lữ trướng lữ 386, thuộc sư 129 Bát lộ quân, phải lên đường đi kháng Nhật. Vương Căn Anh lại rời chồng đến vùng thánh địa của cách mạng là Diên An, một nơi mà trong lòng bà đã ngưỡng mộ từ lâu.

Khi đến Diên An, trước tiên Vương Căn Anh được đưa vào Trường Đảng ở biên khu để học tập. Về sau bà được điều về tòa báo "Tân Trung Hoa" để công tác. Đến tháng sáu năm 1938, tổ chức Đảng đã giải quyết theo nguyện vọng của bà, khiến bà vui vẻ lên đường đi đến căn cứ địa kháng Nhật ở Tấn Ký Lỗ Dự (tức Sơn Tây, Hà Bắc, Sơn Đông, Hà Nam), và đến công tác tại sư đoàn bộ sư 129. Vương Căn Anh đến địa điểm đóng quân của lữ 386 sống chung với Trần Canh được mấy ngày, thì lại đến sư đoàn bộ để nhận công tác. Bà được giao nhiệm vụ chỉ đạo viên chính trị Trường Cán bộ Tài chính Kinh tế do bộ phận cung cấp của sư đoàn bộ chủ trì.

Ngày tám tháng ba năm 1939, quân Nhật tiến công vào cơ quan cung cấp của sư đoàn, nơi Vương Căn Anh làm việc. Bà không kể chi đến sự an nguy của cá nhân đã trao con lừa mà trước đây bà được phân phối để cho các đồng chí khác dùng. Còn mình đi bộ theo đội cảnh vệ để thoát khỏi trùng vây của quân Nhật. Nhưng sau đó Vương Căn Anh phát hiện thấy chiếc túi đựng công văn và tiền bạc của cơ quan mà bà giữ, không có mang theo. Thế là bà không nghe lời khuyên của các đồng chí ngăn cản, cương quyết trở về chỗ đóng quân cũ. Kết cục, bà gặp địch và đã hy sinh.

Ngay ngày hôm đó, Trần Canh nhận được tin buồn. Ông không làm sao nén được một sự đau khổ cực độ trong lòng, nên trong nhật ký ông chỉ viết có một câu: "Ngày tám tháng ba là ngày ta không thể quên, mà cũng là ngày ta đau đớn nhất". Suốt cả tháng về sau, vì sự đau khổ đè nén tâm hồn của ông nên ông không viết thêm một dòng nhật ký nào. Mãi đến ngày mười bảy tháng tư ông mới viết trong nhật ký: "Hơn một, tháng nay ta không viết nhật ký, chủ yếu là do ta lười. Cái tang của Căn Anh cũng có sự quan hệ đến điều đó". Sự hy sinh của Vương Căn Anh, gây ra mối đau đớn lâu dài trong lòng của Trần Canh. Ông hoài niệm Căn Anh và cũng luôn thương nhớ tới đứa con của hai người - Tri Phi. Đó là đứa con trai duy nhất của họ. Trước kia, vì công tác nên Tri Phi được để ở lại Thượng Hải. Mãi đến khi kháng chiến thắng lợi, nhờ sự giúp đỡ của tổ chức Đảng bí mật tại Thượng Hải, Trần Canh mới tìm được Tri Phi đang làm công tại một nhà hàng tây. Cha con được gặp mặt nhau vào năm 1946.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #134 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:33:10 am »


Sau khi Vương Căn Anh chết, Trần Canh thế là phải "Thủ tiết ba năm" với nàng. Điều đó cho thấy một vị tướng quân hùng dũng như Trần Canh, mà vẫn có một mối tình mềm yếu như tất cả những người con trai khác. Như vậy, mới thật là "đa tình diệc thị chân hào kiệt" (người đa tình mới đúng là một người hào kiệt).

Ngày hai mươi lăm tháng hai năm 1943, Trần Canh kết hôn với Phó Nhai. Khoảng thời gian này, vượt hơn "ba năm thủ tiết" mà ông đã tâm nguyện với Vương Căn Anh. Phó Nhai là một cô gái có nước da trắng trẻo, thân người mảnh khảnh, hát hay, múa giỏi, lại bắn súng tài tình. Cô được vinh hạnh cử giữ chức tiểu đội trưởng tiểu đội thiện xạ. Trần Canh yêu thích cô, nhưng thể hiện tình yêu của mình bằng một thứ tình yêu cao thượng, biết tôn trọng sự nghiệp và sở thích của vợ, không bao giờ buộc chặt vợ bên mình. Sau khi cưới nhau, hai người thường ở hai nơi. Có khi, Phó Nhai công tác ở thôn Tây, còn bộ tư lệnh thì đóng ở thôn Đông. Cho dù họ rất thương nhớ nhau, nhưng Trần Canh vẫn không chịu giữ Phó Nhai ở bên cạnh mình. Lúc sống ở Diên An, họ thường sống cách nhau một con sông, nên các đồng chí trêu họ là "Ngưu Lang Chức Nữ". Cứ cuối tuần thì họ gặp nhau một lần, chẳng khác nào vượt qua "Ngân Hà" vậy. Các đồng chí thường tạo điều kiện để cho hai vợ chồng họ đoàn tụ với nhau. Mỗi lần đến cuối tuần, thì các đồng chí đều tập trung ở ven sông, to tiếng gọi qua phía bên kia sông:

— Bớ Phó Nhai, mau về bên này!

Chừng như họ còn sốt ruột hơn cả Trần Canh nữa.

Năm 1945, đứa con trai đầu lòng của họ chào đời. Trần Canh chỉ có thể cung cấp cho Phó Nhai một ít sữa bò và đường cát trắng mà mình có được. Ông còn đích thân đi thổi than đá để nấu cháo cho vợ. Có khi ông còn phải đi cầu viện với các bà chị nấu bếp, "đánh cắp" của họ một chai mật nhỏ, hoặc cái gì đó. Cuộc sống rất khó khăn, nhưng tình yêu cúa họ lại thăng hoa trong cái khó khăn đó.

Đôi vợ chồng thương yêu nhau tha thiết như Trần Canh và Phó Nhai, sống giữa cuộc chiến đấu vẫn là đoàn tụ ít hơn ly biệt. Trong những năm đó, Trần Canh mới hiểu "Thư nhà còn quý hơn nghìn vàng". Cứ mỗi lần nhận được thư của vợ gởi đến, thì ông vui mừng như bắt được của quý. Năm 1949, trong khi ông chỉ huy quân đội, vượt sông tiến xuống phía Nam, "ngửa mặt lên nhìn trời, nhớ lại mẹ con còn ở nơi đất Bắc, bùi ngùi cảm xúc biết bao". Năm 1951, ngoài mặt trận tại Triều Tiên, ông bất ngờ nhận được một bức thư của vợ nhờ người quen đưa tới. Ông vui mừng như điên, và đọc đi đọc lại ba lần, nói:

— Ai cười tôi si tình thì tôi chịu, nhưng tôi cảm thấy vui thích làm sao! Nỗi lo âu trong nửa tháng qua, bây giờ đã tiêu tan hết!

Tình cảm của ông đối với vợ con, bộc lộ ra từng cử chỉ và từng lời nói.

Mãi cho đến năm 1952, sau khi Trần Canh từ Triều Tiên trở về nước, họ mới có được một gia đình cố định. Nhưng Trân Canh vẫn thường đi công tác xa. Cứ mỗi lần đi xa, thì họ giao kết với nhau là đến một địa phương nào thì phải gửi thư, hoặc cứ nửa tháng gửi thư một lần. Trần Canh đã giữ đúng "thỏa thuận" đó, và không bao giờ làm sai. Những bức thư từ hai nơi gửi cho nhau đó, đã thể hiện tình cảm của đôi vợ chồng khăng khít thương yêu này.

Trần Canh có thể nói là một người chồng biết lo cho vợ, thậm chí có thể nói là một người chồng si tình với vợ. Nhưng, có khi ông cũng rất "vô tình", đó là vào năm 1948, khi Trần Canh đang đóng quân ở Đổ Phủ, thuộc Hà Dương. Những ngày đó, họ vừa mới kết hôn xong là đã chia tay nhau, cho nên vợ ông tất nhiên là rất thương nhớ chồng. Phó Nhai đã lặn lội đường xa đến tận chỗ đóng quân của bộ đội để thăm chồng. Nhưng bộ đội tức khắc phải rời đi vì có nhiệm vụ trọng đại, nên Trần Canh quyết không cho Phó Nhai ở lại, mà bảo vợ phải nhanh chóng trở về. Vì ông sợ "đàn bà ở trong quân ngũ, làm sĩ khí không lên cao". Phó Nhai cũng hiểu được nỗi khổ tâm đó của chồng, nên rất vui vẻ trở về phía Bắc sông Hoàng Hà.

Đối với con cái, Trần Canh vừa hiền hòa lại vừa nghiêm khắc. Trong khi công tác của quân đội rất cấp bách, ít khi ông được cùng đoàn tụ với người nhà. Như lúc Tri Kiến vừa chào đời, thì chiến dịch Thương Đảng cũng vừa mở màn. Và, khi ông phải lên đường sang tác chiến ở Triều Tiên, thì đứa con gái Tri Tiến cũng vừa chào đời. Ông thương yêu con cái, nhưng luôn đặt lợi ích của Đảng lên trên. Trong thư gửi riêng cho Phó Nhai hoặc trong nhật ký, ông thường tỏ ra thương nhớ con cái của mình, thậm chí nhớ đến "phát sốt", nhưng ông không bao giờ nuông chiều con cái. Thời giờ gần con cái rất ít, nhưng nếu được gần, thì ông vẫn kiểm tra tình hình học tập của chúng, cũng như tìm hiểu thái độ của chúng khi đến trường. Ông cũng cương quyết không cho dùng xe hơi để đưa con đi học.

Những ngày chiến đấu cam go, gian khổ, làm cho sức khỏe của Trần Canh ngày một suy sụp. Ông đã mấy lần bị nhồi máu cơ tim, và ông dự cảm cuộc đời mình đã sắp đến giai đoạn chót. Nhưng ông vẫn thương yêu người vợ trẻ và những con cái của ông biết bao. Ngày mười lăm tháng ba năm 1961, Phó Nhai vừa bước vào cửa, Trần Canh liền nói:

— Hôm nay là sinh nhật của anh, vậy em hãy nấu một ít mì cho anh ăn nhé!

Từ trước tới nay, ông chưa bao giờ nói tới ngày sinh của mình, cũng chưa bao giờ làm thọ. Nhưng lần này, có lẽ là lần sau cùng nên ông mới nhắc tới chăng?

Đến khuya ngày hôm ấy, ông cố đè nén cơn bệnh đang dày vò, nhìn đăm đăm vào người vợ yêu. Cái nhìn của ông hết sức chuyên chú, hết sức lâu, và cũng hết sức thâm tình. Ông muốn mang ký ức tốt đẹp này để bay đến một cực khác của vũ trụ. Phó Nhai không để ý đến điều đó, và đang chuẩn bị công tác ngày mai của mình.

— Phó Nhai, sao em không tới đây với anh?

Trần Canh không nén được sự xúc động, nên cất tiếng khe khẽ gọi vợ. Dù sao, đây cũng là những giây phút cuối cùng sắp vĩnh biệt nhau.

Phó Nhai không ngờ được tâm trạng đó của chồng, nên bước đến khuyên chồng hãy nghỉ ngơi cho sớm.

Tám giờ bốn mươi lăm phút sáng sớm ngày mười sáu tháng ba, Trần Canh đã vĩnh viễn rời xa người thân của mình. Bàn tay của ông nằm trong bàn tay của Phó Nhai dần dần lạnh đi. Người vợ yêu của ông dù có kêu gào thế nào, ông cũng không dừng bước của mình lại được.

Ngôi sao to lớn và sáng ngời này, đã dốc hết năng lượng của mình ra cống hiến cho nhân dân, bây giờ lại ra đi một cách hối hả.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #135 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 04:59:45 pm »


5. VÕ TƯỚNG MÀ LÀM TRƯỜNG HỌC

Là một võ tướng thành tích chiến đấu lẫy lừng, Trần Canh đi lại tự nhiên trên sa trường và uy danh xa gần ai cũng biết, làm cho kẻ địch nghe đến đều khiếp đảm. Thế nhưng, ông cũng hai lần đứng ra làm trường học, và được gọi là "hiệu trưởng" và "viện trưởng". Võ tướng mà làm trường học, phải chăng cũng có những thành tích huy hoàng như ở ngoài chiến trường?

Cuối tháng năm năm 1933, Trần Canh vừa rời khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch tại Thượng Hải, thì nhanh chóng được phái đến khu Xô viết Giang Tây, và đến làm hiệu trưởng trường bộ binh Bành Dương của Hồng quân. Ngôi trường này chuyên đào tạo cán bộ quân sự cấp trung, đại đội. "Bành Dương" là ghép hai họ của hai liệt sĩ Bành Bái, và Dương Lan đã hy sinh tại Thượng Hải năm 1929. Nhà trường ghép hai họ của hai liệt sĩ này lại để làm tên trường, là muốn nêu cao tinh thần hiến thân cho cách mạng của họ để kỷ niệm lâu dài. Với sự từng trải của Trần Canh ở Trường Quân sự Hoàng Phố, ông hoàn toàn có thể có đủ kinh nghiệm để làm trường học. Nhưng dù sao, ông cũng luôn chú ý đào tạo chủ lực của nhà trường, là xây dựng một đội ngũ giáo viên giỏi, và một tác phong tốt cho cả trường.

Theo hồi ức của Lưu Thanh Minh, là trung đội trưởng, đại đội ba, tiểu đoàn một quân sự, thì vào buổi sáng tháng giêng năm 1934, khi Lưu Thanh Minh đang lên lớp dã ngoại cho học sinh tại sườn núi, thì Trần Canh cũng tới hiện trường.

— Báo cáo Trần hiệu trưởng, khoa mục tôi đang huấn luyện là: tiểu đội bộ binh chiếm lĩnh trận địa để tấn công địch khi đánh dã chiến, phương pháp thực thi là giàng giải, luyện tập, và rút kinh nghiệm.

Lưu Thanh Minh nhanh nhẹn báo cáo với Trần Canh và không biết do đâu mà thái độ của ông ta có vẻ rất căng thẳng.

Trần Canh bèn gọi Lưu Thanh Minh đến một nơi, nói nhỏ rằng:

— Đồng chí đừng có hốt hoảng. Khi giảng bài, thì đồng chí phải xem như tôi không có mặt ở đây.

Sau khi giảng bài xong, chờ tất cả học viên đi khỏi, Trần Canh từ nãy giờ vẫn im lặng đứng nghe Lưu Thanh Minh giảng bài, mới lên tiếng hỏi Lưu Thanh Minh, phải chăng là lần đầu tiên giảng bài cho học viên nghe? Lưu Thanh Minh trả lời với Trần Canh rằng đây là lần thứ hai. Đồng thời, ông cũng cho biết mình là học viên tốt nghiệp khóa quân sự của Hồng quân tại Trường Thượng Giới, chỉ học trong vòng bốn tháng, thì lại đến đây giảng bài.

Trần Canh nghe xong, không ngớt khen ngợi:

— Ồ! Đồng chí chỉ học có bốn tháng mà có thể lên lớp giảng bài như vậy? - Ông lại nói tiếp - Hôm nay đồng chí giảng bài rất tốt. Tất nhiên là còn phải tiếp tục học tập, không thể hài lòng với hiện trạng trước mắt. Tôi nghĩ rằng các đồng chí có thể nhận thấy được: khi giảng bài, thì cũng là quá trình học tập. Trước khi giảng bài thì phải chuẩn bị giáo án, phải giảng thử, phải tham khảo một số tài liệu cần thiết. Một trung đội trưởng lên lớp thì chính là mình tự đào luyện cho mình. Đồng thời, cũng là một cách để bồi dưỡng giáo viên. Khóa mục hôm nay được thực thi cũng rất khá, có thể liên hệ được với thực tế. Từ nay về sau nếu có thời giờ thì nên tiến hành tổng diễn tập, để học viên thay phiên nhau giữ nhiệm vụ tiểu đội trưởng, để họ được đào luyện năng lực chỉ huy trong thực tế.

Lưu Thanh Minh đáp:

— Theo kế hoạch đã định của chúng tôi, sẽ dành một ngày để làm việc đó.

— Như vậy là rất tốt. Về sau có dịp diễn tập thì phải đặc biệt nhấn mạnh trong lúc xung phong, tất cả đều phải có sức chiến đấu ngoan cường, phải rất kiên quyết, phải rất dũng cảm, không sợ chết. Vì đó là một khâu then chốt trong quá trình chiến đấu - Trần Canh đã dặn dò như vậy.

Trong một bầu không khí thoải mái, Trần Canh đã giảng giải tỉ mỉ cách dạy cho giáo viên, và đem những kinh nghiệm về dạy học của mình truyền đạt cho giáo viên tiếp nhận, và gây cho họ một ấn tượng rất sâu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #136 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 05:00:18 pm »


Một hôm, Trần Canh đến đại đội bộ của đại đội tám, thuộc tiểu đoàn chính trị, nói với người chỉ đạo viên tên Ngụy Hồng Lượng:

— Chốc nữa đây đồng chí lên lớp, vậy hãy nói cho tôi nghe công tác chính trị trước khi chiến đấu, sau khi chiến đấu, và trong lúc chiến đấu là thế nào?

Ngụy Hồng Lượng tuy giữ chức chỉ đạo viên đại đội, nhưng chẳng qua là một cậu bé chỉ mới mười bảy mười tám tuổi, người bé gầy, bị một số đông đội nói lén sau lưng là "trói gà không chặt", cho nên cậu ta từ chối liên tiếp:

— Thưa hiệu trưởng, tôi không làm được đâu! Tôi không làm được đâu!

Trần Canh hoàn toàn không chấp nhận lời nói như vậy của cậu ta, bèn vỗ nhẹ vào vai Ngụy Hồng Lượng, cười nói:

— Hãy chuẩn bị giáo án cho kỹ, rồi đặt vấn đề ra, tôi sẽ phản bác lại với anh, và ta cùng nhau thảo luận.

Ngụy Hồng Lượng đành phải thi hành nhiệm vụ của mình. Trần Canh đã hết lòng giúp đỡ cậu ta xây dựng giáo án, nắm những vấn đề trung tâm, để cậu ta có thể tự kết hợp kinh nghiệm chiến đấu của mình thành lý luận, rồi mạnh dạn đứng lên bục giảng để thuyết trình. Về sau, sự thật đã chứng minh, Ngụy Hồng Lượng, một người được xem là "chỉ đạo viên con nít", lại có thể hoàn thành được nhiệm vụ giảng dạy của mình. Cho nên, chẳng những cậu ta đã tự vứt bỏ được chiếc mũ "trói gà không chặt" mà còn trở thành một giáo viên tốt trong lực lượng giáo viên của nhà trường. Lúc đó Tưởng Giới Thạch đang mở những đợt bao vây càn quét những căn cứ địa của Trung ương, nên chiến sự liên tiếp xảy ra. Do vậy, việc học ở đây phải là cái học áp dụng ngay vào thực tế. Cho nên Trần Canh đối với bài giảng cũng như đối với đời sống của học viên, hoàn toàn sắp xếp theo nhu cầu thực tế của chiến cuộc. Ông thường nói:

— Học cũng là đánh giặc, nếu dạy không tốt, học không tốt, thì đánh giặc sẽ không tốt.

Cho nên, ông rất chú ý việc kết hợp thực tế với lý luận, để tiến hành việc huấn luyện.

Tháng ba năm 1934, Trần Canh nhận được chỉ thị của cấp trên, dẫn toàn bộ học sinh của trường đến tảo thanh "Nghĩa dũng đội chống Cộng" tại huyện thành Hội Xương. Ông bèn dựa vào trình tự chiến đấu của ba tiểu đoàn, để biên chế gọn lại, và không để mất thời cơ dạy học. Trên đường hành quân, ông vẫn cho diễn tập nhiều khoa mục của nhà trường.

Hôm ấy, trời trong gió mát, khi bộ đội đi được ngoài mười dặm, đến một con đường rẽ về phía Đông Thanh Sơn Tử, và phía Tây của Tân Khang, thì có kèn thổi báo hiệu dừng lại nghỉ ngơi. Theo thói quen, đó là nghỉ ngơi tại chỗ. Trần Canh và mấy cán bộ lãnh đạo bèn cưỡi ngựa đi tuần tra, phát hiện trung đội mũi nhọn và một tiểu đoàn không chọn địa hình thuận lợi để nghỉ, mà cứ nghỉ ngơi tại chỗ như những trung đội khác.

Sau khi phát hiện điều này, Trần Canh đã nghiêm khắc chỉ rõ: "Phàm nhiệm vụ của tiểu đội mũi nhọn là chuẩn bị bất cứ lúc nào cũng có thể triển khai chặn địch. Bất cứ lúc nào cũng có thể lợi dụng địa hình để ngăn địch, yểm trợ cho chủ lực an toàn, và có thể triển khai tác chiến. Vậy các đồng chí hãy xem, phía trước mấy mươi mét, ấy là Yên Sơn, mới là địa hình đáng cho các đồng chí chọn lựa, phù hợp với nguyên tắc chiến thuật và là vị trí chính xác theo yêu cầu thực tế chiến đấu.

"Vì để đánh thắng địch, nên chúng ta trong việc huấn luyện cần phải có yêu cầu nghiêm khắc. Phải từ thực tế chiến đấu mà xuất phát..."

Trần Canh đã nhấn mạnh và tha thiết nói với các học viên.

Qua sự nghiên cứu, lãnh đạo của nhà trường quyết định cảnh cáo hành chánh người trung đội trưởng này và lập tức cho toàn thể học viên được biết. Sự kiện trên, như gióng lên một tiếng chuông vang rền để cho tất cả học viên đều phải chú ý. Tất cả những cán bộ trung đội khác cũng tự hỏi mình xem có những lỗi lầm gì không?

Hằng ngày, cứ tiếng kèn thức dậy vừa thổi dứt, thì Trần Canh bao giờ cũng có mặt trên thao trường hoặc trước cửa ký túc xá của học viên, trong khi bầu trời mới vừa hừng sáng. Nếu gặp những học viên trốn thao luyện thì bất cứ là cán bộ hay chiến sĩ, ông cũng đích thân gạn hỏi rất kỹ lưỡng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #137 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 05:01:07 pm »


Một hôm, trời vừa hửng sáng, Trần Canh đã đứng trên thao trường, dùng tia mắt sắc bén của mình, theo dõi một bóng người từ ký túc xá của đại đội tám, một tiểu đoàn chính trị chạy ra sau cùng, và nghiêm giọng quát:

— Hãy đứng lại! Hãy chạy tại chỗ!

Ông bèn móc đồng hồ bỏ túi ra để trước mặt, nói rõ từng tiếng một:

— Đồng chí đã ra trễ ba mươi lăm giây!

Trần Canh lại quay về toàn đội nói:

— Đã là quân nhân, thì phải có quan niệm về thời gian rất nghiêm khắc. Trong trận chiến đấu, nếu chậm trễ ba mươi lăm giây, cũng có thể tạo thành một tổn thất lớn.

Sau khi bộ đội tập xong, Trần Canh bảo Ngụy Hồng Lượng đi kiểm tra vệ sinh bên trong với mình. Khi kiểm tra xong đại đội bộ, Trần Canh thấy trên giường lò của Ngụy Hồng Lượng có một mảng ướt to, bèn hỏi:

— Đái dầm hả?

— Dạ!

— Chỉ đạo viên mà còn đái dầm thì làm sao giáo dục người ta?

— Vì tôi không thể kềm được...

Ngụy Hồng Lượng ấp úng trả lời.

— Nếu vậy, thì từ nay về sau đồng chí cứ đái dầm đi. Cứ mỗi đêm mỗi đái đi!

Trần Canh nổi nóng, và lúc đó bỗng thấy ngoài cửa sổ có bóng người đi qua, nên liền im lặng không nói gì nữa. Chờ một chốc, khi bóng người đã đi khỏi, Trần Canh mới đến sát bên cạnh Ngụy Hồng Lượng nhìn kỹ sắc mặt của cậu ta, nói:

— Sắc mặt anh không tốt, có thể anh bị giun sán. Như vầy nhé, anh hãy đến đội vệ sinh trị liệu một thời gian - Nói tới đây, Trần Canh to tiếng gọi - Nào, thông tín viên đâu, hãy đi gọi đại đội trưởng Dương tới đây.

Trần Canh không để ý tới lời thối thoái của Ngụy Hồng Lượng, to tiếng gọi một người thông tín viên tới. Trần Canh bèn bảo Dương phái hai người đưa Ngụy Hồng Lượng đến đội vệ sinh.

Sau mấy hôm, Ngụy Hồng Lượng đang nằm điều trị tại đội vệ sinh, thì nhận được một bức thư tay và hai con gà. Trong thư viết: "Đồng chí Ngụy Hồng Lượng, hôm nay tôi mua hai con gà để biếu đồng chí dùng nó mà tẩm bổ thân thể. Vì trong tay tôi chỉ có đủ tiền mua hai con gà thôi... Trần Canh".

Nắm bức thư tay vắn tắt, Ngụy Hồng Lượng cảm thấy cơ thể vốn yếu đuối của mình, bỗng như có một luồng sức mạnh ấm áp truyền vào. Cậu ta đã hiểu rõ, Trần Canh cũng như mọi người, mỗi ngày một cân gạo, không khi nào được ăn gà và thịt, có khi cả muối và mỡ cũng không có.

Ngụy Hồng Lượng cũng như tất cả học viên đang theo học Trường Bộ binh Bành Dương, đều trưởng thành và phát triển dưới sự dạy dỗ nghiêm khắc, nhưng đầy nhân ái, luôn được quan tâm của Trần Canh. Từng toán một các chiến sĩ dũng cảm, từ ngôi trường này đã bước ra trận địa, để chiến đấu chống những cuộc vây ráp của Quốc dân đảng. Trước khi rời trường, gần như ai ai cũng cảm thấy lưu luyến và đều gạt lệ để giã từ người hiệu trưởng Trần Canh. Hơn nữa, trong lòng họ vĩnh viễn khắc ghi những ngày tháng đã giúp họ tiến bộ ở đây.

Tháng sáu năm 1952, Trần Canh đang ở chiến trường Triều Tiên thì được Trung ương cấp tốc gọi trở về. Thì ra, Trung ương lại giao cho ông một nhiệm vụ nặng nề khác.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, đứng trước tình hình quốc tế đặc biệt lúc bấy giờ, và trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã cho thấy rõ, về kỹ thuật và trang bị rất là quan trọng, khiến Trung ương cảm thấy cần phải xây dựng một nền quốc phòng hiện đại hóa, nhanh chóng đào tạo ra một số lớn cán bộ quân sự có kỹ thuật. Đó là chuyện rất cấp bách, nên Trung ương quyết định cần phải mở một học viện công trình về quân sự, để đào tạo nhân tài khoa học kỹ thuật của quân đội giải phóng nhân dân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #138 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 05:01:51 pm »


Qua sự so sánh của Chủ tịch Mao, Trần Canh được xác định là người có đủ tài năng để làm hiệu trưởng ngôi trường cao đẳng đầu tiên của Quân Giải phóng Nhân dân này.

Sự chọn lựa của Chủ tịch Mao không phải là ngẫu nhiên, vì Trần Canh là một tướng bách chiến bách thắng. Ngoài kinh nghiệm tác chiến phong phú, còn là người có trình độ chính trị cao và tri thức văn hóa khá. Đặc biệt là Trần Canh đã từng sang Việt Nam, sang Triều Tiên, từng thử sức với quân đội của chủ nghĩa đế quốc và tạo được nhiều chiến tích lừng lẫy. Đối với địch thủ trong tình hình mới này, ông đã có nhận thức về cảm tính cũng như lý tính sâu sắc. Đối với việc chênh lệch nhau khá xa về kỹ thuật của đôi bên, ông cũng từng hiểu rõ. Hơn nữa, ông cũng đã làm hiệu trưởng một trường quân sự bộ binh, và tỏ ra là một người làm tròn trách nhiệm.

Nhưng, dù ông đã từng ở nhà trường, đã từng làm trường học, vẫn không phức tạp và khó khăn như việc xây dựng một học viện công trình quân sự trước mắt.

Giữa lúc ngoài tiền tuyến đang chờ đợi nhân tài, thì Trần Canh từ chiến trường Triều Tiên mang khói súng và bụi bặm trở về, để đảm trách lãnh đạo một học viện, quả là một công tác nặng nề. Vì, trong tay ông không có cán bộ, không có thầy, không có học sinh, không có trường sở, không có thiết bị. và cũng không có cả kinh nghiệm xây dựng một trường học về kỹ thuật. Ngay đến kế hoạch về đào tạo như thế nào, ông cũng chưa hiểu.

— Tôi không biết kỹ thuật, e là làm không tốt!

Khi Chủ tịch Mao đề xuất nhiệm vụ này với Trần Canh, thì ông đã trả lời như vậy.

— Điều trước tiên là đồng chí hãy nghĩ xem, xây dựng một học viện như vậy là cần thiết không? - Mao Trạch Đông hỏi ngược lại Trần Canh.

— Tất nhiên là rất cần thiết!

Mao Trạch Đông nửa đùa nửa thật, nói:

— Nếu là cần thiết, thì phải có người đi xây dựng. Tôi nghĩ rằng đồng chí đi làm chuyện đó là thích hợp nhất. Nếu đồng chí sáng suốt hơn tôi, thì xin đồng chí hãy giới thiệu cho tôi một người!

Thế là một người thân trải trăm trận như Trần Canh, từng là người anh hùng vô địch ngoài chiến trường, đành phải toàn tâm toàn ý nhảy vào xây dựng một học viện theo ý của Trung ương thôi.

Trần Canh động viên những nhân viên công tác quanh mình:

— Quân Giải phóng Nhân dân là một con cọp dữ, nay xây dựng một học viện công trình quân sự, chính là mình thêm cánh cho con cọp dữ đó. Tất nhiên, xây dựng cái gì cũng khó cả. Nhưng tất cả cái gì của cách mạng, cũng từ cái không tới có, học viện công trình quân sự này, cũng có thể từ không đi đến có. Người Cộng sản chúng ta bao giờ cũng có tài khắc phục những khó khăn. Những khó khăn ở trên thế giới này, đều không thể hù dọa được ta phải thối lui. Trước đây, trong cách mạng, có biết, bao nhiêu khó khăn đều bị chúng ta khắc phục. Vậy, sự khó khăn ngày nay, chỉ là sự khó khăn trong phát triển và trong thắng lợi, vậy chả lẽ chúng ta không khắc phục được hay sao? Trần Canh tôi, nếu không làm tốt được một học viện công trình quân sự, thì thề sẽ không làm người nữa!

Ông cũng hành động y như khi mình chỉ huy ngoài mặt trận. Trước tiên ông điều tra, nghiên cứu, rồi mới bố trí cách tác chiến. Sau một tháng nỗ lực, ông đã đề ra được một phương án xây dựng học viện, quy định một cách rõ ràng tính chất, nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, thiết trí chuyên nghiệp, sĩ số cần chiêu sinh, hướng phục vụ sau khi tốt nghiệp của học viện công trình quân sự. Kể cả vấn đề chọn lựa địa chỉ của nhà trường, cơ cấu tổ chức và thầy dạy, giáo trình, nguồn cung cấp thiết bị, ông đều đề xuất một cách rõ ràng, chính xác. Ông cũng nêu rõ tư tưởng xây dựng nhà trường là "lấy dạy học làm trung tâm", và phương châm xây dựng là "vừa xây dựng vừa dạy, vừa học".

Công tác xây dựng được tiến hành một cách khẩn trương. Trần Canh với chức vụ chủ nhiệm của ủy ban trù hoạch, đã dùng một thái độ như đang lâm chiến ngoài mặt trận, chủ động gánh lấy hai nhiệm vụ nặng nề nhất, là "tóm người" (tìm giáo viên), và "xây tổ" (xây dựng trường sở).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #139 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 05:02:46 pm »


Trần Canh lúc nào cũng rất xem trọng những người trí thức, và cư xử tốt với người hiền tài. Vậy, biện pháp "tóm người" của ông sẽ có hai cách: một là mời dạy, hai là bồi dưỡng và huấn luyện.

Trước tiên Trần Canh mời chuyên gia về đạn đạo là giáo sư Trương Thuật Tổ v.v... để dựa vào phương án xây dựng trường, cũng như xác định về mặt chuyên nghiệp, khởi thảo một bản danh sách mời các giáo sư và chuyên gia. Xong, đích thân ông cầm bản danh sách đó đi tìm thủ tướng Chu Ân Lai để phê duyệt. Vì Thủ tướng Châu Ân Lai công việc rất bề bộn, hằng ngày giải quyết không biết bao nhiêu là công việc quan trọng, nên trong giờ hành chánh không thể gặp được Thủ tướng. Thế là Trần Canh bèn đón vào đầu giờ buổi sáng, hoặc cuối giờ buổi chiều, để gặp Châu Ân Lai.

Có một buổi sáng, Trần Canh đến Tây Hoa Sảnh của Quốc vụ viện, để chờ gặp Châu Ân Lai. Hôm đó, Thủ tướng bận tiếp kiến các nhân sĩ dân chủ. Danh sách tiếp kiến đã sắp xếp xong, trong khách sảnh đông nghẹt là người. Trần Canh thấy không tiện vào, nên phải đứng ngoài chờ. Vừa lúc đó Trần Canh thấy Thủ tướng bước vào phòng vệ sinh, thì cũng đi theo ngay. Thủ tướng thấy Trần Canh có vẻ hối hả đi theo mình, bèn hỏi:

— Đồng chí Trần Canh, đến đây có việc gì vậy?

Trần Canh bèn đưa bản danh sách ra, nói:

— Đây là danh sách mấy vị giáo sư, xin đồng chí xem qua.

Thủ tướng bảo Trần Canh chờ một chốc, Trần Canh bèn nói:

— Nếu tôi chờ một chốc thì đồng chí sẽ đi mất.

Cho nên, Trần Canh đứng đó chờ đợi Thủ tướng phê duyệt xong, ông mới yên tâm ra về.

Đế giải quyết vấn đề điều động giáo sư ở các trường đại học. Thủ tướng đã nhiều lần chỉ thị cho tổ chức Đảng tại Bộ Giáo dục giúp đỡ giải quyết. Thủ tướng còn hai lần đích thân chủ trì hội nghị để giải quyết vấn đề thầy dạy cho Học viện công trình quân sự. Ngoài ra, để mời chuyên gia, giáo sư, giảng viên, Trần Canh còn tìm đến Hạ Long, Trần Nghị, Tập Trọng Huân, An Tử Văn, Dương Tú Phong v.v...

Do Trần Canh chịu khó bôn ba cực nhọc, nên trong khoảng thời gian không dài, bảy mươi tám vị giáo sư và chuyên gia nối tiếp nhau từ các vùng Hoa Đông, Trung Nam, Tây Nam, Bắc Kinh, Thiên Tân đã tới Cáp Nhĩ Tân. Và, hội các giáo sư mười bảy khoa cơ bản, và hội các giáo sư hai mươi ba chuyên nghiệp đã hình thành.

Cùng một lúc đó, Trần Canh sau khi được Trung ương Đảng phê chuẩn, lại từ các quân khu lớn chọn lấy ba trăm quân nhân ưu tú đã tốt nghiệp đại học, để thành lập đội trợ giáo. Họ được các chuyên gia và giáo sư chỉ đạo, với ý định bồi dưỡng họ thành lực lượng cốt cán trong việc dạy học và nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cho trường.

Qua sự năng nổ đó, chỉ trong vòng một năm, Trần Canh đã tổ chức được một đội ngũ gồm có năm trăm giáo sư và ba trăm nhân viên thực nghiệm. Lưu Bá Thừa đã ví von tài năng của Trần Canh:

— Cánh tay của anh dài quá!

Trong khi bận rộn lo chuyện "tóm người", Trần Canh cũng không buông lơi việc "xây tổ".

Trần Canh thông qua Thủ tướng Châu Ân Lai, đã tiếp nhận được trường sở của Đại học Y khoa Cáp Nhĩ Tân, rồi lại thu nhận thêm một số nhà cửa trong tô giới cũ, để sắp xếp nơi ăn chốn ở ổn định cho tất cả nhân viên nghiên cứu, giáo sư giảng dạy.

Ngày hai mươi lăm tháng tư năm 1953, trong khi tuyết chưa hoàn toàn tan hết tại thành phố băng giá này, thì Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân đã bắt đầu lo việc xây cất và sửa chữa trường sở.

Để kiểm tra và đôn đốc tiến độ và chất lượng của việc thi công, Trần Canh gần như mỗi ngày đều tới công trường để xem xét. Cả một mùa hè năm đó, ông luôn đội nắng đi tới đi lui ngoài công trường, và đã ba lần trèo lên giàn giáo rất cao. Có một tháp nước cao hơn năm chục mét xây dựng chưa xong, Trần Canh nhất định đòi lên đó để xem qua. Vì tháp nước quá cao, nhiều người tuổi trẻ lên tới phân nửa, là đã cảm thấy choáng váng, thế mà Trần Canh nhất định đòi trèo lên trên đó. Ông nói:

— Trước đây đánh giặc còn không sợ, vậy trèo lên tháp nước có chi mà sợ chứ?

Ông kiên quyết phải trèo lên tháp nước để xem và không cho cảnh vệ theo đỡ tay đỡ chân ông. Ông trèo lên rồi dừng lại, dừng lại rồi lại trèo lên. Chẳng mấy chốc đã lên đến đỉnh tháp. Mọi người đứng xung quanh đều toát mồ hôi giúp cho ông. Nhưng ông vẫn bình tĩnh, vui vẻ nói:

— Địa thế của học viện cao, nên đứng ở đây trông thấy tất cả mọi nơi!

Chỉ tốn một thời gian có bảy tháng mà tòa nhà xinh đẹp của học viện đã từ mặt đất vươn lên cao, giống như một thành phố vệ tinh mới toanh vừa xuất hiện tại ngoại ô phía Nam của thành phố Cáp Nhĩ Tân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM