Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:02:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33280 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #40 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:19:29 pm »

Tổ chức nghi binh, giữ bí mật chặt chẽ, tạo bất ngờ lớn đối với địch.

Chiến dịch Tây Bắc là chiến dịch lớn, tiến hành trên một địa bàn rộng, với lực lượng và binh khí kỹ thuật lớn, đường hành quân xa, huy động nhân lực, vật lực ở nhiều địa phương, song ta đã giữ bí mật được hướng chiến dịch cho tới giờ phút chót, tạo bất ngờ lớn đối với địch. Bộ Tổng tư lệnh đã có kế hoạch chu đáo để che giấu mọi hoạt động chuẩn bị và tìm cách đánh lạc hướng Bộ chỉ huy Pháp. Các biện pháp bảo mật, phòng gian được tiến hành chặt chẽ từ khi chuẩn bị đến suốt quá trình thực hành chiến dịch. Trong quá trình chuẩn bị, việc sửa chữa những trục đường vận chuyển bằng ô tô, đường 13 từ Chủ Chè đi Yên Bái vào Ba Khe, đường 6 từ Hoà Bình lên Suối Rút và đường Hồi Xuân lên Suối Rút, được tiến hành từ nơi xa địchtrước. Cơ quan hậu cần không chuyển hàng hoá lên lót ổ, lập chân hàng bên hữu ngạn sông Hồng, mà phải tập kết bên tả ngạn, tổ chức vận chuyển theo sát các mũi tiến công khi chiến dịch mở màn.


Bộ chỉ huy đã tiến hành một kế hoạch nghi binh lớn, hiệu quả để lừa địch. Trung đoàn 238 ở Bắc Ninh, Bắc Giang mang tên mới là Đại đoàn 316; Trung đoàn 246 ở Vĩnh Yên mang tên Đại đoàn 308; Trung đoàn 91 ở Sơn Tây, Phú Thọ mang tên Đại đoàn 312; điện đài thường trực của các đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Tây Bắc đều bố tríở vị trí cũ, tiếp tục phát tin liên lạc định ký theo mật mã cũ để đánh lừa địch. Đúng ngày triển khai chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu cho thay đổi mật mã, tổ chức tập trung dân quân tiến hành các cuộc chuyển quân rầm rộ ở Vĩnh Phúc, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình; tổ chức làm cầu, sửa đường qua Tu Vũ để xuống Khu 3; đồng thời đưa 2 đại đoàn 304 và 320 vào địch hậu cùng thời điểm các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Bắc lên đường.


Các hoạt động nghi binh của ta trên nhiều hướng đã đánh lừa được Bộ chỉ huy Pháp ở Hà Nội. Chúng vẫn đinh ninh ta sẽ đánh đồng bằng và bố trí 29 trong số 32 tiểu đoàn cơ động vào việc phòng thủ hai bờ Nam, Bắc sông Hồng. Ngay cả khi một loạt vị trí chung quanh Phân khu Nghĩa Lộ bị tiêu diệt, Bộ chỉ huy Pháp ở Hà Nội vẫn chưa biết hướng tiến công chủ yếu của ta. Chỉ đến ngày 16 tháng 10, quân địch ở các vị trí Thượng Bằng La, Ba Khe và một loạt vị trí nhỏ xung quanh những cứ điểm bị diệt, tự động bỏ đồn rút chạy. Lúc này địch mới nhận thấy tình hình nghiêm trọng ở phân khu, vội ném Tiểu đoàn dù 6 xuống Tú Lệ, hòng làm giảm áp lực tiến công của ta, song đã quá muộn, Pú Chạng - Nghĩa Lộ đã bị bao vây chặt.


Nói về các biện pháp nghi binh của ta, Yves Gras viết: "Các cơ quan tình báo hoạt động ráo riết trong suốt tháng 9, không thể xác nhận giả thuyết về cuộc tiến công rộng lớn ở miền thượng du này. Những biện pháp mà Việt Minh áp dụng để giữ bí mật về ý đồ của họ tỏ ra rất có hiệu lực. Đặc biệt là họ đã thay đổi mật mã ngày 20 tháng 9, làm cho người Pháp trong một thời gian nhất định mất hẳn nguồn tin tức tình báo tốt nhất qua theo dõi điện đài..."1 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plon. Paris.1979, Hoàng Thanh Quang dịch, tr. 398).


Trong quá trình tiến hành chiến dịch, ta vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp nghi binh, bảo mật làm cho địch bất ngờ về hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch trong đợt 2. Ta đã sử dụng Trung đoàn 165 (gồm 4 tiểu đoàn) tiến công trên hướng thọc sâu, ở khu vực phía Nam Lai Châu làm cho địch lầm tưởng đây là hướng chính, lập tức điều lên Lai Châu 2 tiểu đoàn đồng thời tăng viện cho Nà Sản 2 tiểu đoàn. Trong khi đó, trên hướng chủ yếu (Nam Sơn La), các trung đoàn của ta vượt sông Đà bí mật, an toàn, triển khai lực lượng đánh địch thắng lợi.


Có thể nói, trong chiến dịch Tây Bắc, ta đã kết hợp chặt chẽ giữa nghi binh với phòng gian, giữ bí mật; tiến hành nghi binh bằng nhiều biện pháp tích cực, tổ chức nghi binh trên nhiều hướng, sử dụng nhiều lực lượng, nhiều đơn vị làm công tác nghi binh. Chúng ta đã lừa được địch trong một chiến dịch lớn, tạo được yếu tố bất ngờ để giành thắng lợi. So với các chiến dịch trước đó, đây thực sự là bước tiến quan trọng, thể hiện sự phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch trong giai đoạn này.


Về chiến thuật, trình độ tổ chức đánh công kiên trong chiến dịch đã có bước tiến mới. Ta đã tổ chức thành công các trận then chốt tiêu diệt các cụm cứ điểm mạnh của địch ở địa hình rừng núi. Trận Pú Chạng - Nghĩa Lộ (17, 18-10-1952) là trận công kiên quy mô 2 trung đoàn, đánh vào hai cứ điểm có 1 tiểu đoàn địch chiếm đóng. Đây là cụm cứ điểm mạnh nhất của Phân khu Nghĩa Lộ, có hoả lực khá mạnh và hệ thống công sự vật cản kiên cố, lại xây dựng trên điểm cao có giá trị về chiến thuật. Trong trận này ta đã tập trung ưu thế hơn hẳn địch; tổ chức đội hình hợp lý, có bộ phận xung kích trên hai hướng tiến công (mỗi hướng lại tổ chức theo đội hình hai thê đội), có bộ phận nghi binh, dương công, có bộ phận hoả lực chi viện chung và chi viện trực tiếp cho bộ binh trên từng hướng; ta lại còn tổ chức cả bộ phận sẵn sàng đánh quân dù và bộ phận phòng không bắn máy bay bảo vệ cho bộ binh, về thực hành chiến đấu công kiên, như bao vây, chiếm lĩnh trận địa, đột phá tiền duyên, chiến đấu tung thâm, củng cố giữ vững trận địa, rút lui, hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh, cũng như kiềm chế pháo binh địch... bộ đội ta cũng có nhiều tiến bộ.


Thêm nữa, để đánh Pú Chạng - Nghĩa Lộ, chiến dịch đã tổ chức tiêu diệt một loạt các vị trí nhỏ tiền tiêu, đồng thời đưa lực lượng bao vây kiềm chế các cứ điểm lân cận không cho địch tổ chức ứng cứu, chi viện. Rõ ràng trong điều hành chiến dịch, ta đã có một kế hoạch chu đáo vừa nghi binh lừa địch, vừa tổ chức lực lượng chiến đấu tạo thế, kiềm chế địch để tạo điều kiện chắc thắng cho trận đánh.


Trong đợt 2, ta cũng đã tổ chức thành công trận công kiên quy mô hai trung đoàn, tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu (19-11-1952), do Tiểu đoàn ngụy Thái số 2 chiếm giữ.

Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch khẳng định trong Hội nghị sơ kết chiến dịch ngày 10 tháng 12 năm 1952: "Thu Đông 1952 là Thu Đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động..."1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963 tập 2 tr. 217). Thắng lợi đó đã rèn luyện nhiều cho bộ đội ta, đồng thời đánh dấu sự phát triển vững chắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam và bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #41 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:09:13 pm »

NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952


Đại tá. TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sức mạnh tiến công của chiến tranh nhân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương trong các chiến dịch diễn ra trên các chiến trường Bắc, Trung, Nam. Thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình và cả Đông - Xuân 1951-1952 đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến của quân đội ta, trong đó có sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ, buộc địch từ thế tiến công, chuyển sang phòng ngự, bị động đối phó ở cả mặt trận chính diện và nơi địch hậu. Vùng giải phóng của ta được củng cố, mở rộng, nối liền các tỉnh đồng bằng lên vùng trung du và miền núi, địch ở vùng Tây Bắc bị cô lập. Nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng vùng đất đai rộng lớn trên địa bàn chiến lược miền Tây, quân và dân ta mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952.


1. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định sử dụng bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương mở chiến dịch Tây Bắc.

Để chuẩn bị cho các hoạt động quân sự lớn, những tháng đầu năm 1952, tất cả các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương từ Liên khu 5 trở ra tiến hành chính huấn chính trị. Đây là cuộc vận động học tập chính trị tập trung nhất, rộng lớn nhất kê từ ngày thành lập quân đội ta. Tiếp đó, bộ đội ta chấn chỉnh về tổ chức biên chế, trang bị và chỉnh huấn quân sự. Đến tháng 6 năm 1952, khối bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh đã lớn mạnh, gồm 6 đại đoàn bộ binh (308, 304, 312, 320, 316, 325), 2 trung đoàn bộ binh (148, 126), 1 đại đoàn công pháo (351). Ở mỗi liên khu có từ 1-2 trung đoàn chủ lực.


Trong khi các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương bước vào cuộc chỉnh cán, chỉnh quân sôi nổi thì Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình địch ở chiến trường Bắc Bộ, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nhận định không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc và xác định hướng tiến công chính trong Thu Đông 1952 là chiến trường Tây Bắc.


Thực hiện chủ trương đó, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị xúc tiến mọi công tác chuẩn bị với quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng địa bàn chiến lược quan trọng Tây Bắc. Ngay sau đó, Bộ Tổng tham mưu cử cán bộ trinh sát nắm tình hình địch xây dựng công sự, bố trí lực lượng, khả năng tăng viện và rút lui của chúng khi bị tiến công, tình hình ta trên địa bàn chiến dịch.


Quân địch chiếm đóng vùng Tây Bắc gồm 8 tiểu đoàn bộ binh (5 tiểu đoàn nguỵ, 3 tiểu đoàn Âu - Phi) và 41 đại đội lẻ, trấn giữ 144 cứ điểm (có 40 cứ điểm hơn 1 đại đội, còn lại từ 1 trung đội đến 1 đại đội). Các cứ điểm phần lớn cách nhau gần 10 km đường rừng. Quá trình chiến dịch địch tăng thêm 9 tiểu đoàn bộ binh và dù Âu - Phi, 3 tiểu đoàn nguỵ, 1 tiểu đoàn biệt kích hỗn hợp, 1 tiểu đoàn pháo binh. Chúng chia Tây Bắc thành 4 phân khu: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và các tiểu đoàn độc lập Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Với quân số và cách bố trí như vậy, địch hy vọng sẽ uy hiếp Liên khu Việt Bắc, chia cắt giao thông giữa Liên khu 3 và Liên khu 4, ngăn chặn đường liên lạc giữa ta với cách mạng Trung Quốc, chia rẽ cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.


Về phía ta, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mở chiến dịch Tây Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái thuộc Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc. Đây là địa bàn diễn ra chiến dịch, vì thế ta khẩn trương củng cố, ổn định các tổ chức Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương, trong đó có 17 chi bộ bộ đội địa phương. Tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, lực lượng vũ trang địa phương tổ chức quy mô cấp đại đội và lực lượng du kích ở các thôn, bản.


Công tác chuẩn bị của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương cho chiến dịch Tây Bắc được tiến hành bí mật, khẩn trương. Căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc và cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp làm Chỉ huy trưởng.


Lực lượng bộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh tham gia chiến dịch gồm có các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75mm (24 khẩu), 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu), Trung đoàn công binh 351 (Đại đoàn công pháo 351). Lực lượng vũ trang địa phương có 11 đại đội bộ đội địa phương các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và lực lượng dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch.


Giữa lúc bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương náo nức chuẩn bị mọi mặt thì từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch chiến dịch và giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia. Căn cứ vào kế hoạch tác chiến chiến dịch, các đơn vị bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương được giao nhiệm vụ cụ thể như sau:


Hai trung đoàn 88 và 102 (Đại đoàn 308) được phối thuộc Tiểu đoàn 16 (thuộc Trung đoàn 141, Đại đoàn 312), 3 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng cối 120mm, 2 đại đội phòng không 12,7mm; 2 đại đội công binh có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt các cứ điểm Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Cửa Nhì; đồng thời sẵn sàng đánh quân dù địch tiếp viện cho Nghĩa Lộ, Cửa Nhì. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) do Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp chỉ huy tiến công bao vây Cửa Nhì, đánh quân ứng viện địch ở Nghĩa Lộ.


Hai trung đoàn 209 và 165 (Đại đoàn 312) được phối thuộc 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 trung đội súng cối 120mm 1 đại đội công binh có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công diệt quân dù địch trên đoạn đường Gia Hội - Nghĩa Lộ, tiêu diệt cứ điểm Sài Lương và chuẩn bị đánh cứ điểm Gia Hội. Trung đoàn 141 (trừ Tiểu đoàn 16) thuộc Đại đoàn 312 sau khi phối hợp với 2 trung đoàn 209 và 165 tiến công tiêu diệt cứ điểm Sài Lương chuyển về Bản Tủ làm lực lượng dự bị chiến dịch.


Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) do Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp nắm được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội súng cối 120mm, 1 đại đội công binh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt các cứ điểm Ca Vịnh, Ba Khe. Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) do Đại đoàn trực tiếp chỉ huy được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 2 đại đội công binh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công các cứ điểm Bản Mo, Đèo Hồng và đánh chặn địch từ Thượng Bằng La, Đồng Bồ rút lui về khi bị ta tiến công.


Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) có nhiệm vụ luồn sâu vào địch hậu Quỳnh Nhai (cách Sơn La 68 km về phía tây bắc), gây dựng cơ sở chính trị, phát triển Chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương.


Trong quá trình chiến dịch gặp khó khăn, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định giao nhiệm vụ cho một số đơn vị chủ lực chuyển hướng đánh xuống vùng nam Sơn La, đưa một bộ phận lực lượng vào vùng địch hậu gây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích, tạo điều kiện thuận lợi đánh vào Sơn La. Đồng thời chuyển hai trung đoàn thuộc Đại đoàn 308 về bảo vệ vùng hậu phương tỉnh Phú Thọ.


Xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến dịch Tây Bắc, ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với cán bộ dự hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch. Người nhấn mạnh: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm của chiến dịch này là phải đánh cho thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6. Nxb Sự thật. H. 1986, tr. 307, 308). Muốn giành thắng lợi cho chiến dịch, Người căn dặn: "Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục... Gặp cái dễ mà không quyết tâm phát triển thì nó có thể biến thành cái khó, gặp cái khó mà quyết tâm khắc phục thì cũng thành cái dễ". Tiếp đó, ngày 1 tháng 10 năm 1952, Người gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch Tây Bắc quyết tâm giết giặc lập công, giành thắng lợi to lớn.


Những lời căn dặn ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, đề cao quyết tâm chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tác chiến hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch mà Đảng và Bác Hồ giao cho.


Như vậy, thực hiện chủ trương tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng vùng đất đai rộng lớn trên địa bàn chiến lược miền Tây, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Ngay sau đó, các đơn vị bộ đội chủ lực được giao nhiệm vụ đã nhanh chóng hành quân đến các vị trí tập kết chiến dịch ở Mặt trận Tây Bắc bí mật, an toàn, sẵn sàng phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn Tây Bắc đánh địch. Thế phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực Bộ với lực lượng vũ trang địa phương trong chiến dịch Tây Bắc được hình thành, tạo thuận lợi để thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi vẻ vang.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #42 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:12:24 pm »

2. Phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương.

Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho các đơn vị bộ đội chủ lực tập trung phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt lớn quân địch trong chiến dịch Tây Bắc; bởi đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quan trọng, cần phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa ba thứ quân (bộ đội chủ lực Bộ với bộ đội địa phương và dân quân du kích) trên địa bàn chiến dịch.


Trên cơ sở phương án tác chiến của chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch điều động, giao nhiệm vụ cho các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch. Quá trình thực hành chiến dịch, sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương được thực hiện linh hoạt, sáng tạo, từng bước phát huy hiệu quả qua 3 đợt chiến dịch:


Đợt 1 (14 - 23.10.1952), trên hướng Nghĩa Lộ (hướng chủ yếu), Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) được lệnh bất ngờ mở cuộc tiến công vào các cứ điểm Ca Vịnh; Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiến công cứ điểm Sài Lương ở tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đầu chiến dịch. Tiếp đó, hai trung đoàn 88 và 36 (Đại đoàn 308) tiến công diệt đồn Cửa Nhì, cứ điểm Pú Chạng rồi phát triển tiến công đánh thọc sâu vào Phân khu Nghĩa Lộ (trận then chốt mở đầu). Trong khi đó, trên hướng Phù Yên (hướng thứ yếu), Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tiến công tiêu diệt cứ điểm Nha Phù, sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên, buộc địch ở Vạn Yên phải rút chạy, ở phía nam Lai Châu (hướng phối hợp), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) tiến công dữ dội, buộc địch phải rút khỏi Quỳnh Nhai, Pắc Ná.


Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các đơn vị du kích Cao Phạ, Mường La nhanh chóng tổ chức từng bộ phận lực lượng tiến hành truy kích, gọi hàng tàn binh địch ở các cứ điểm trên đường chúng rút chạy. Các đội du kích Văn Bàn, Văn Chấn tổ chức bao vây Làng Chàng, Bản Lin, vừa truy kích, vừa kêu gọi tàn binh địch chạy trốn. Cùng thời gian này, Đại đội 802 bộ đội địa phương tỉnh Lai Châu phối hợp với Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) bảo vệ các vùng Quỳnh Nhai, Pắc Ná vừa được giải phóng. Sau 10 ngày liên tục chiến đấu, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã tiêu diệt và bức rút hàng loạt cử điểm địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, giải phóng vùng hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, kết thúc đợt 1 chiến dịch.


Trong lúc các đơn vị bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đang chuẩn bị cho đợt 2 chiến dịch thì địch mở cuộc hành quân Loren đánh lên vùng hậu phương Phú Thọ. Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316), Trung đoàn 246 phối hợp với bộ đội địa phương tính Phú Thọ, dân quân du kích các huyện Tam Nông, Hạc Trì, Đoan Hùng, Phù Ninh, Thanh Ba và nhân dân địa phương đánh bại cuộc hành quân Loren của địch, bảo vệ vững chắc vùng hậu phương, tạo điều kiện cho quân và dân ta tiếp tục phát triển tiến công trong chiến dịch Tây Bắc.


Trong đợt 2 (7 - 22.11.1952), các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục đánh vào các mục tiêu quân địch theo kế hoạch đề ra. Trên hướng Lai Châu (hướng thứ yếu), một bộ phận lực lượng của hai trung đoàn 148 và 165 cùng với lực lượng vũ trang địa phương được lệnh nổ súng đánh vào Quỳnh Nhai, mở đầu đợt 2 đề nghị binh làm cho địch phán đoán là hướng tiến công chủ yếu của ta, buộc chúng phải gấp rút điều quân về giữ thị xã. Trên hướng nam Sơn La (hướng chủ yếu), Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) được tăng cường Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) vượt sông Đà tiến công vào hệ thống phòng ngự của địch, diệt cứ điểm Mộc Châu (trận then chốt thứ 2), địch hoảng sợ phải rút quân khỏi các cứ điểm Chiềng Pan, Sông Con, Ta Say, Sa Piệt, Tạ Khoa, Cò Nòi, Yên Châu về cố thủ ở Nà Sản. Phát huy thắng lợi, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục tiến công, kết hợp vu hồi chiến dịch từ hướng Lai Châu tiêu diệt nhiều địch, lần lượt giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ và thị xã Sơn La, truy kích quân địch rút chạy về Nà Sản, kết thúc đợt 2 chiến dịch.


Bước sang đợt 3 (30.11 - 10.12.1952), bộ đội chủ lực tập trung đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Mở đầu là Tiểu đoàn 115 thuộc Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) tiến công cứ điểm Bản Hời (cách Nà Sản 2km về phía tây bắc); Trung đoàn 102 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm Pú Hồng. Tiếp đó, các trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), 88 (Đại đoàn 308), 174 (Đại đoàn 316) đánh vào các cứ điểm Bản Vây, Nà Si. Bộ đội chủ lực ta chiến đấu rất kiên cường, nhưng quân địch dựa vào công sự trận địa kiên cố, có máy bay và hỏa lực chi viện ngoan cố chống cự, ta không phát triển được. Qua 4 trận đánh lớn vào các cứ điểm ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản, bộ đội ta thương vong nhiều, nhưng vẫn không đạt mục tiêu đề ra. Để tránh tổn thất nặng không có lợi cho việc xây dựng lực lượng sau này, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định ngừng trận đánh, kết thúc chiến dịch và ra lệnh rút các đơn vị ra vùng hậu cứ củng cố lực lượng, giúp nhân dân xây dựng hậu phương, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.


Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng lớn trên địa bàn chiến lược quan trọng, nối liền Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào. Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến của quân đội ta, trong đó có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa hộ đội chủ lực trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh với lực lượng vũ trang địa phương (bộ đội địa phương tinh, huyện và dân quân du kích) trên địa bàn chiến dịch. Đến dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc (19-1-1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã "tích cực phối hợp, đơn vị nào cũng có chiến thắng, cả chủ lực, địa phương và dân quân du kích"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.351).


Có thể nói, trong thời điểm cuộc kháng chiến diễn ra gay go, quyết liệt ở vùng sau lưng địch trong năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có những thành công lớn về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trên chiến trường Tây Bắc. Về quy mô tổ chức lực lượng phối hợp tác chiến, ta đã sử dụng bộ đội chủ lực tương đương cấp quân đoàn gồm các đại đoàn 308, 312, 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) và các đơn vị binh chủng pháo binh, pháo phòng không, công binh của Bộ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương (gồm 11 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch). Trong quá trình chiến dịch, ta tổ chức lực lượng bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tác chiến trên các hướng chủ yếu, thử yêu, hoặc hướng phối hợp đánh vào các mục tiêu theo kế hoạch tác chiến đề ra. Nhờ có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương, trong đó bộ đội chủ lực là lực lượng tác chiến chủ yếu, đạt hiệu quả chiến đấu cao (nổi bật là hai trận then chốt Nghĩa Lộ và Mộc Châu), nên ta đã giành thắng lợi lớn trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch. Đến đợt 3 chiến dịch, bộ đội ta đã chiến đấu rất dũng cảm, nhưng do lực lượng địch ở Nà Sản mạnh, có công sự kiên cố và hỏa lực chi viện dữ dội; do sự phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương hạn chế, ta không phát triển tiến công được và tổn thất nặng, cho nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định ngừng tiến công Nà Sản, kết thúc chiến dịch. Đây là một chủ trương kết thúc chiến dịch đúng đắn, linh hoạt, phù hợp với tình hình của ta hồi đó.


Thắng lợi của chiến dịch tiến công Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Riêng về mặt nghệ thuật quân sự, ta đã sử dụng và phát huy vai trò phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 để lại nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó có kinh nghiệm về phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương. Trên cơ sở nắm vững kế hoạch, phương châm, hình thức tác chiến chiến dịch, bộ đội chủ lực phải liên tục phối hợp tác chiến chặt chẽ, linh hoạt, sáng tạo với lực lượng vũ trang địa phương từ lúc bắt đầu diễn ra chiến dịch đến khi kết thúc chiến dịch. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quá trình vận dụng hình thức tác chiến, phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, đồng thời củng là quy luật phát triển tiến công của Chiến tranh nhân dân Việt Nam. Chúng ta cần trân trọng giữ gìn, tiếp tục nghiên cứu, phát triển sáng tạo nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trong chiến dịch Tây Bắc, cùng như các chiến dịch trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), phù hợp với điều kiện mới của đất nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp của nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược trong bất cứ tình huống nào, kể cả Chiến tranh công nghệ cao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #43 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:14:13 pm »

NGHI BINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC


Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc ngày 29 tháng 1 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: "Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú; lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước"1 (Tài liệu chiến dịch của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, tập 3, tr. 419). Đúng như vậy, trong chiến dịch Tây Bắc dẫu ta chưa tiêu diệt được mục tiêu Nà Sản, song đây vẫn là một thắng lợi to lớn có ý nghĩa vế nhiều mặt. Đóng góp quan trọng vào thắng lợi to lớn đó có công tác nghi binh, lừa địch.


Chiến dịch Tây Bắc diễn ra trên một địa bàn rộng, có địa hình hiểm trở, thời gian kéo dài, thời tiết khắc nghiệt; lực lượng tham gia chiến dịch lớn, đường hành quân xa, công tác bảo đảm hậu cần kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn; đặc biệt là tình hình địa bàn diễn ra chiến dịch khá phức tạp, cơ sở chính trị ở "miền Việt Tây" này còn mỏng và yếu... Những yếu tố đó chi phối, tác động không nhỏ đến quá trình triển khai các hoạt động nghi binh, lừa địch; phòng gian giữ bí mật.


Tuy nhiên, nhờ đúc rút được kinh nghiệm công tác nghi binh của các chiến dịch trước, trong chiến dịch Tây Bắc,công tác phòng gian giữ bí mật, nghi binh lừa địch đã được chuẩn bị một cách bài bản; được xây dựng thành kế hoạch và có sự hiệp đồng chặt chẽ ngay từ đầu. Hoạt động nghi binh được triển khai bằng nhiều biện pháp, với sự tham gia của nhiều lực lượng; được tiến hành liên tục trên nhiều hướng từ lúc bất đầu chiến dịch cho đến khi kết thúc; có sự kết hợp chặt chẽ giữa công tác nghi binh với công tác phòng gian, giữ bí mật... Nếu so sánh với các chiến dịch kể từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến năm 1952 thì có thể khẳng định rằng chiến dịch Tây Bắc là chiến dịch thành công nhất về mặt nghi binh, lừa địch xét trên các phương diện: nghi binh chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.


1. Ngày 10 tháng 8 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc đã họp quyết định một số công việc cần được gấp rút triển khai, trong đó có việc xây dựng kế hoạch nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian. Hai mươi ngày sau (30-8), bản kế hoạch đó được Bộ Tổng tham mưu gửi xuống các đơn vị. Trong Kế hoạch nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian xác định rõ:

- Ở trung du lấy Vĩnh Phúc làm hướng nghi binh chính. Giao cho Trung đoàn 246 lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 308, Tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Thọ lấy phiên hiệu giả là Trung đoàn 246 hoạt động ở vùng Vĩnh Phúc. Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316) lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 312 hoạt động ở vùng Phú Thọ, Sơn Tây. Trung đoàn 238 của Liên khu Việt Bắc lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 316 và Tiểu đoàn bộ đội địa phương Bắc Giang lấy phiên hiệu giả là Trung đoàn 238 hoạt động ở vùng Bắc Giang.


- Tại Liên khu 3, hướng nghi binh chính là Hà Đông, Hà Nam và Ninh Bình; trong đó trọng trách của hướngNinh Bình có phần nặng nề hơn bởi vừa thực hiện nghi binh, vừa phải làm công tác chuẩn bị "lót ổ" cho hai đại đoàn 320 và 304 vào hoạt động ở vùng địch hậu để phối hợp với chiến trường chinh Tây Bắc.


Về phương thức nghi binh, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu: Trên tất cả các hướng đều phải duy trì hoạt động liên tục của các tổ trinh sát vũ trang. Bí mật mở các cung đường mới, sửa chữa đường cũ; bố trí hệ thống kho tàng. Tổ chức tập trung dân công. Tổ chức di chuyển quân thật rầm rộ trên các hướng nghi binh để đánh lạc hướng phán đoán của địch. Triển khai các biện pháp phong tỏa tin tức địch, truy quét các ổ gián điệp, giám sát các phần tử phản động dọc các trục đường dự kiến hành quân lên Mặt trận Tây Bắc. Để đánh lừa địch, các đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Tây Bắc đều phải để các đài phát vô tuyến ở tại vị trí cũ, sử dụng mật mã cũng như tần số, tần suất phát như cũ...


Để thực hiện tốt kế hoạch trên, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu công tác nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian phải đi vào thực chất, liên tục nhưng tránh lãng phí nhân vật lực.

Có thể nói đây là lần đầu tiên, trước khi bước vào một chiến dịch lớn chúng ta có hẳn một kế hoạch nghi binh được xây dựng bài bản, chi tiết và khoa học đến như vậy.

Trong khi đó thì về phía Pháp, tháng 8 năm 1952, sau chuyến trở về Pari để trả lời chất vấn trước quốc hội về tình hình Đông Dương, tướng Xalăng quay trở lại Hà Nội với một câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp - đó là Thu Đông 1952, đối phương sẽ tiến công theo hướng nào? Qua tin tức tình báo, Xalăng biết rằng đối phương đã có trong tay 6 đại đoàn chủ lực bộ binh được rải đều trên khắp các chiến trường trọng yếu và 1 đại đoàn công pháo. Xalăng nhận thức được rằng với một lực lượng như vậy, đối phương có thể mở cuộc tiến công ở bất cứ nơi nào. Tuy nhiên, cũng tương tự như những lần phán đoán trước đó, lần này vị Tổng chỉ huy quân Pháp vẫn giành sự chú ý và quan tâm đặc biệt cho việc bảo vệ địa bàn trọng yếu vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng - nơi đang có những hoạt động quân sự mạnh của Việt Minh. Cho đến hạ tuần tháng 9 năm 1952, Bộ chỉ huy quân Pháp vẫn chưa xác định chính xác hướng tiến công chủ yếu của ta trong Thu Đông 1952. Thậm chí khi phát hiện các đại đoàn 304 và 320 của ta tiến vào vùng địch hậu, chúng còn cho điều chỉnh lại thế bố trí trong vùng tạm chiếm và tập trung lực lượng để ứng cứu rnà không hề mảy may biết rằng đang sa vào cái "bẫy nghi binh" của Việt Minh. Giữa lúc địch đang tập trung sự chú ý, lo đối phó ở hướng trung du và phòng tuyến sông Đáy thì các đại đoàn chủ lực của ta đã bí mật tập kết lên hướng Tây Bắc. Đầu tháng 10, Đờ Linarét ra lệnh báo động toàn khu Tây Bắc. Mặc dù vậy, sau chiến dịch Lý Thường Kiệt của Đại đoàn 312, cả Xalăng và Bộ chỉ huy quân Phápở Bắc Kỳ vẫn chủ quan cho rằng "còn lâu đối phương mới đủ sức trở lại Nghĩa Lộ". Thậm chí đến tận ngày 14 tháng 10, khi ta mở một số trận đánh nhỏ ở ngay cửa ngõ Phân khu Nghĩa Lộ địch vẫn "chưa nhìn thấy tầm vóc của cuộc tiến công", Xalăng vẫn chỉ thị cho Đờ Linarét rằng "hãy đợi xem hoạt động của Việt Minh phát triển thế nào rồi hãy hành động"1 (Tổng tư lệnh VõNguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2006. tr. 601).


Cùng lúc các lực lượng đang bí mật cơ động về vị trí tập kết chiến dịch thì ta tổ chức nghi binh rầm rộ trên hai hướng trung du và Liên khu 3 nhằm thu hút sự chú ý của địch. Trên hướng đồng bằng Liên khu 3, cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động quấy rối của các đại đoàn 304 và 320, một đại đội trinh sát của Bộ được tung xuống hoạt động ở vùng Ninh Bình. Trên hướng trung du, các đơn vị đều được mang phiên hiệu giả để hoạt động nhằm đánh lạc hướng kẻ địch như đã nêu ở trên. Hoạt động nghi binh của các lực lượng ở các hướng này được triển khai liên tục và kéo dài nhưng tập trung cao điểm và rầm rộ nhất là thời gian mà các lực lượng tham gia chiến dịch Tây Bắc cơ động từ hậu phương vềvị trí tập kết. Ngoài ra, Bộ còn thành lập thêm một số trung đoàn để tăng cường sức mạnh bảo vệ hậu phương và phục vụ cho công tác nghi binh.


Những hoạt động nghi binh kể trên đã đánh lừa được kẻ địch, dẫn đến những phán đoán sai lầm về chiến lược của chúng mà như Cao ủy Lơ Tuốcnô đã từng tiết lộ trong cuộc trả lời báo chí: "Thu Đông 1952, Việt Minh sẽ đánh đồng bằng Bắc Bộ" (Cao úy Lơ Tuốcnô trả lời báo chí Pháp ngày 17 tháng 9 năm 1952. Bản lưu tại tủ sách của Đại tá Lê Kim). Phán đoán của vị Cao ủy càng được củng cố khi chúng phát hiện các đại đoàn 304 và 320 của ta đang tiến vào vùng đồng bằng châu thổ cùng với sự gia tăng đáng kể các hoạt động quân sự của ta tại Phủ Lý, Bắc Giang, Hưng Yên... Và như một phản ứng mang tính logic, 29 trong tổng số 32 tiểu đoàn cơ động chiến lược ở Bắc Kỳ đã được Bộ chỉ huy quân Pháp tập trung triển khai bố trí bảo vệ vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, để lại một "khoảng trống" đáng kể trên chiến trường Tây Bắc xa xôi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #44 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:19:07 pm »

2. Trước chiến dịchTây Bắc, thông thường các chiến dịchđều đượcmở đầu bằng những trận đánh lớn thenchốt, thu hút sự tập trung chú ý của quân địch và làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủcủa chúng. Tuy nhiên, chiến dịch Tây Bắc được mở đầu lại không theo tiền lệ như vậy. Chiến dịch này được mở màn bằng những trận đánh nhỏ tiêu diệt những vị trí vành ngoài của Nghĩa Lộ như: Sài Lương, Bản Trại, Ca Vịnh, Ba Khe... bức rút một loạt đồn bốt như: Thượng Bằng La, Đồng Bồ, Khe Địa, Vạn Yên, Bản Muỗng... Chính đòn nghi binh chiến dịch này đã làm cho địch chủ quan phán đoán sai nên dẫn đến đối phó lúng túng. Chỉ đến khi Phân khu Nghĩa Lộ bị tiêu diệt (ngày 17-10), Bộ chỉ huy quân Pháp mới khẳng định một cách chắc chắn rằng hướng tiến công mùa khô của các đại đoàn chủ lực Việt Minh là Tây Bắc chứ không phải là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Có điều sự khẳng định đó đã trở nên vô nghĩa vì quá muộn. Sau này, trong hồi ký của mình, Xalăng tiết lộ rằng trưa ngày 18, y cùng hai vị Bộ trưởng là Lơ Tuốcnô và Đờ Xơvinhê vừa hạ cánh xuống phi trường Gia Lầm thì cùng lúc đó máy bay của Đờ Linaret cũng vừa từ Tây Bắc đáp xuống. Câu nói ngắn gọn thay cho báo cáo thốt ra từ vị chỉ huy chiến trường: C'est fini! (Thế là hết!) đã làm cho Xalăng hết sức bàng hoàng bởi y hiểu được rằng để mất Phân khu Nghĩa Lộ là một đòn đau đớn; đối với quân Pháp, Nghĩa Lộ là tấm bình phong chắc chắn nhất che chở cho cả vùng Tây Bắc, còn đối với Việt Minh thì Nghĩa Lộ lại là bàn đạp để tiến vào Tây Bắc. Xalăng thừa nhận đã từng có một lòng tin vào khả năng phán đoán của mình nhưng lần này thì đối phương đã bất ngờ tập trung nỗ lực vào hướng Nghĩa Lộ, các hướng khác chỉ là nghi binh.


Trong chiến dịch Tây Bắc, xét phạm vi toàn cục có sự phối hợp hoạt động khá hiệu quả của mặt trận vùng châuthổ sông Hồng với mặt trận chính Tây Bắc; trong phạm vi chiến dịch có sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động nội tuyến với ngoại tuyến (tổ chức vu hồi sang hướng tây) buộc địch phải bị động đối phó cả phía trước lẫn phía sau, phía trước là Nghĩa Lộ, Phù Yên, phía sau là cả một vùng rừng núi điệp trùng kéo từ hữu ngạn sông Hồng đến bên kia sông Đà. Chiến dịch Tây Bắc cho thấy một sự kết hợp có hiệu quả cao giữa hoạt động nghi binh, lừa địch với công tác phòng gian, giữ bí mật tại mặt trận.


Như đã nêu ở trên, chiến dịch Tây Bắc diễn ra trên một địa bàn rộng mà ở đó cơ sở chính trị còn mỏng và yếu: trình độ nhận thức của người dân, đặc biệt là của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế; các tổ chức, phần tửphản động trà trộn vào trong dân ngấm ngầm thu thập tin tức, chống phá cách mạng quyết liệt. Mặc dù trước đó các đội gây dựng cơ sở của các đơn vị Tây tiến đã hết sức cố gắng để phát triển cơ sở chính trị, làm trong sạch địa bàn nhưng do địa hình hiểm trở, đời sống khó khăn, phức tạp nên sau mấy năm nhưng cũng chỉ cải thiện được tình hình trong một chừng mực nhất định. Chính vì vậy mà Bộ chỉ huy chiến dịch, một mặt tích cực triển khai nghi binh chiến dịch; mặt khác tăng cường công tác phòng gian giữ bí mật. Không phải ngẫu nhiên mà trong chiến dịch này, Bộ chỉ huy đã ban hành "Mười điều kỷ luật", mà trong đó chủ yếu là kỷ luật dân vận, bởi có làm tốt công tác dân vận mới củng cố và phát triển được cơ sở chính trị. Có mạng lưới cơ sở chính trị rộng khắp sẽ tạo môi trường thuận lợi cho công tác phòng gian bảo mật. Trong văn kiện "Chủ trương tác chiến ở chiến trường Tây Bắc" do Hội nghị cán bộ chiến dịch họp từ ngày 6 đến 9 tháng 9 thông qua nhấn mạnh: "Nhân dân ta nói chung rất tốt nhưng do sai lầmcủa ta và cũng do dịch khủng bố trước đây nên phần lớn mất liên lạc hoặc cơ sở bị tan vỡ; cơ sở phần lớn ở men vùng tạm chiếm, chưa phát triển được vào sau lưng địch. Ở Sơn La, Lai Châu cơ sở hầu như không có... Chính vì vậy mà phải giáo dục cho bộ đội ngoài học tập kỹ thuật làm công sự, phòng không, phòng pháo, ngụy trang nghi binh, phòng gian bảo mật, còn phải làm tốt công tác dân vận để gây dựng, phát triển cơ sở chính trị"1 (Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr. 588).


Cùng với việc tổ chức các cuộc hành quân nghi binh rầm rộ và gia tăng các hoạt động tại vùng đồng bằng Liên khu 3 và trung du, bên cạnh việc các đài vô tuyến của các đại đoàn chủ lực vẫn dùng mật mã cũ nhằm thu hút, đánh lạc hướng chiến dịch đối với địch thì Bộ Tổng tham mưu đã cho thay đổi bộ luật mật mã mới dùng tại mặt trận; các đơn vị, cán bộ chỉ huy các cấp đều liên lạc với nhau qua mật danh. Việc tu bổ đường sá lên Tây Bắc được tiến hành từ nơi xa địch trước; các chân hàng đều được tập kết ở bên tả ngạn sông Hồng chờ khi mở màn chiến dịch mới vận chuyển vào theo các hướng tiến công. Là một chiến dịch có lực lượng tham gia lớn nhưng quá trình cơ động vào vị trí tập kết của tất cả các đơn vị kể cả bộ đội và dân công đều diễn ra vào ban đêm và không bám theo các trục đường chính. Các khu vực tập kết lực lượng, các bến bãi vượt sông... đều được lựa chọn kỹ càng và được "làm sạch địa bàn" từ trước.


Có thể nói, trong chiến dịch Tây Bắc do kết hợp tốt giữa hoạt động nghi binh với công tác phòng gian, giữ bí mật nên ta đã làm cho kẻ địch liên tục phạm sai lầm trong phán đoán cả về chiến lược và chiến dịch. Chúng tưởng Thu Đông năm 1952 với 6 đại đoàn chủ lực trong tay ta sẽ mở cuộc tiến công vào vùng châu thổ sông Hồng thì đại quân ta lại tiến công lên Tây Bắc; trong khi ta chỉ tung lực lượng khoảng hơn một trung đoàn lên quấy phá ở Lai Châu thì địch lại lầm tưởng là 3 đại đoàn của ta đang chuẩn bị mở cuộc tiến công vào Lai Châu; khi phần lớn lực lượng chủ lực của ta đã rời Tây Bắc rút về hậu cứ thì chúng vẫn cứ đinh ninh ta tập trung lực lượng để tiếp tục đánh Nà Sản...


Tóm lại, địch bị đánh lạc hướng cả trước, trong và sau khi chiến dịch kết thúc. Đây được coi là thành công lớn của công tác nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian trong chiến dịch Tây Bắc mà các chiến dịch trước đó chưa bao giờ đạt tới. Chính vị Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương - Henri Nava, sau này trong hồi ký của minh cũng đã thừa nhận: "Chưa bao giờ chúng ta dự kiến một cách nghiêm túc rằng sẽ có một ngày Việt Minh lại có thể mở một chiến dịch lớn ở một nơi ngoài đồng bằng Bắc Bộ, Thu Đông năm 1952, Việt Minh chuyển hướng tiến công lên xứ Thái. Dó là một sự chuyển hướng cơ bản trong chiến lược của Việt Minh. Sự chuyển hướng đó làm chúng ta bất ngờ hoàn toàn"1 (Henri Nava Thời điểm của những sự thật. Nxb Công an nhân dân,H.1994, tr 46).


Dẫu rằng chiến dịch Tây Bắc kết thúc với một vài trận đánh cuối cùng chưa thành công mà như cách nói của Bác Hồ là "Lần này chưa phải hoàn toàn"; song xét một cách toàn cục thì đây vẫn là một thắng lợi hết sức to lớn, trong đó có vai trò quan trọng của công tác nghi binh, bảo vệ, bảo mật phòng gian.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #45 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:25:07 pm »

CÔNG TÁC THAM MƯU TÁC CHIẾN TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC


Đại tá, ThS NGUYỄN BÁ QUANG
Trưởng ban Đào tạo sau đại học - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Xét các yếu tố "binh yếu địa chí", thì vị thế "cao cao tại thượng" của vùng Tây Bắc rộng lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ địa chiến lược với chiến trường Đông Dương. Gắn với nó là "một miền" xã hội nhân văn của nhiều tộc người Thái, Mường, Mông, Dao... Đồng bào sống trên các triền núi trong sự cương tỏa của phía, tạo, lang đạo... phần lớn là tay sai của thực dân Pháp. Tây Bắc còn là một vùng địa mạo phức tạp, liền sông, liền núi với Việt Bắc, là thành vách tự nhiên án chắn đồng bằng Bắc Bộ, liên thông với Thượng Lào và tiếp giáp với tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Không phái ngẫu nhiên mà sau khi hoàn thành nhiệm vụ vây hãm quân Pháp ở địa bàn Liên khu 2, 3 Hà Nội (2-1947), Bộ Tổng tư lệnh thay vì điều lực lượng này vượt sông Hồng lên phía Bắc bằng tổ chức thành Trung đoàn 521 (Trung đoàn 52 (con gọi Trung đoàn Tây Tiến) nòng cốt là Tiểu đoàn 212, Tiểu đoàn 62 của Liên khu 3 và Liên khu 1 Hà Nội) chặn địch ở đường số 6 (Hòa Bình), sau đó vượt sông Đà tiến lên Tây Bắc. Cũng với ý định đó, từ năm 1948, nhiều "Đội xung phong quyết tiến" vượt sôngThao, sông Đà đến với các thôn cùng bản vắng ở vùng đất này để xây dựng cơ sở chính trị nhằm thực hiện kế sách lâu dài.


Từ "kinh nghiệm của việc chọn hướng tiến công chiến lược không đúng đầu năm 1951 và qua kinh nghiệm nóng hổi của chiến dịch Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951-1952" Bộ Tổng tham mưu chủ trương "Tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu" và "Tập trung đánh giao thông trên bộ, trên sông, khoét sâu vào khó khăn phương châm đánh điểm diệt viện"1 (Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H.1995, tr. 138-142). Sau nhiều chiến dịch, công tác tham mưu và đội ngũ cán bộ tiến hành mặt công tác này đã trưởng thành vượt bậc. Do vậy, đến chiến dịch Tây Bắc, các vấn đề: đánh giá địch - ta trên một môi trường tác chiến, phân tích đặc tính chiến thuật của địa hình để hình thành phương án tác chiến, phương án bảo đảm đã trở thành tác phong, nền nếp. Tiến bộ hơn là trình độ điều hành, điều tiết nhịp độ chiến đấu; dự kiến tình huống và cách xử trí; chọn thời cơ thời điểm kết thúc chiến dịch, những mặt này được cơ quan tham mưu vận dụng thuần thục và linh hoạt. Thắng lợi chiến dịch Tây Bắc là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, là sự cống hiến, hy sinh to lớn của hàng nghìn bộ đội, dân công và những người tham gia. Nhưng, để có quyết tâm, phương án tác chiến sát với thực tiễn chiến trường, công tác tham mưu tác chiến đã thể hiện tốt vai trò, năng lực, tác phong, trí tuệ của cơ quan chuẩn bị và điều hành chiến dịch. Trong chiến dịch Tây Bắc, những điểm đó được biểu hiện ở những vấn đề sau:

1. Cơ quan tham mưu chiến lược đã phân tích đánh giá đúng hình thái chiến trường Đông Dương, địa bàn tác chiến và sở trường chiến đấu của bộ đội.

Phân tích, đánh giá hình thái chiến trường đồng thời với nhận định đánh giá đối tượng tác chiến là yếu tố khách quan có ý nghĩa quyết định đến việc lựa chọn địa bàn và hình thành quyết tâm chiến dịch. Thời điểm tháng 3 năm 1952, tham mưu đánh giá: cuộc chiến Đông Dương đã bước sang năm thứ 7, ở Pari người ta muốn kết thúc sớm cuộc chiến và tỏ ra "bất lực và thoái chí". Trong khi đó, bằng viện trợ quân sự1 (Trong 17 tháng, từ giữa năm 1950 đến tháng 2 năm 1952, Mỹ viện trợ cho Pháp 120.000 tấn hàng quân sự, chiếm 40% chi phí chiến tranh ở Đông Dương), Hoa Kỳ không giấu giếm ý đồ muốn "cầm cái" cuộc chiến tranh này. Tình hình Đông Dương, Đờ Lát "Người lính lớn của chiến tranh thế giới lần thứ hai"2 (Michel Bodin. Từ điển cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954) đã "ra đi" (1-1952) cùng với phương châm "Chặn đứng đối phương giành quyền chủ động chiến lược, thay đổi tận gốc cục diện chiến trường". Hình ảnh viên đại tướng 5 sao, xông xáo, quyết liệt nhảy xuống chiến hào tiền duyên ở Vĩnh Yên để hô hào, khích lệ binh sĩ và không ngần ngại lệnh thả bom Napan3 (Lần đầu tiên không quân Pháp thả bom cháy Napan xuống chiến trường Đông Dương) xuống đội hình chiến đấu của cả hai bên ở Núi Đanh (điểm cao 210), chỉ còn là ký ức. Người kế nhiệm, Xalăng, mặc dù "được coi như một số ít những chuyên gia về Đông Dương" và "Tên của ông được gắn liền với cuộc chiến tranh Đông Dương vì ông luôn tham dự dù gần hay xa vào những quyết định lớn. Ông là người thông thạo Việt Minh nhất"4 (Michel Bodin, Từ điển cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954) vẫn chưa đề ra một chiến lược rõ ràng. Theo đánh giá của tham mưu: Xalăng rất lo lắng cho sự "không yên ổn" ở vùng đồng bằng và đặt cược sinh mệnh chính trị của mình bằng những cuộc hành binh lớn vào đồng bằng Bắc Bộ1 (Điển hình là hành quân Amphibia (Lội nước) tháng 3 năm 1952 vào Nam Hà. Hành quân Mercure (Thủy ngân) tháng 3 năm 1952 vào các huyện nam Thải Binh. Hành quân Poóctô, Pôlô, Tuyếccô vào tỉnh Bắc Ninh... tuy số lượng các cuộc hành quân vào đồng bằng Bắc Bộ không nhiều nhưng quy mô, lực lượng rất lớn và thời gian kéo dài). Đối với viên tổng chỉ huy mới thì "mối lo thường trực là ở châu thổ sông Hồng". Chính vì thế, khi thanh minh cho cuộc triệt thoái khỏi Hòa Bình ông ta buột miệng "Quân Pháp rút quân khỏi Hòa Bình là để bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ"2 (Trả lời của Xalăng trước báo giới Pháp ngày 24 tháng 2 năm 1952). Còn đối với Tây Bắc, viên Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương vẫn hy vọng vào sự "yên ổn" của "Xứ Thái tự trị" và cho rằng "thất bại" của Đại đoàn 312 hồi tháng 1 năm 1951 ở Nghĩa Lộ là bài học đất giá cho Việt Minh. Từ tư duy ấy, cả Xalăng và tham mưu trưởng của ông ta, tướng Ala đều đánh giá, Việt Minh thắng ở Hòa Bình, nhưng Tướng Võ Nguyên Giáp và Tướng Hoàng Văn Thái chưa đủ điều kiệnđể có thể đưa quân đánh lớn ở Tây Bắc. Nên, hè thu 1952, dưới cái gậy chỉ huy của mình, Xalăng xua quân thực hiện gần 100 cuộc càn quét vào các vùng tạm chiếm nhất là nơi có căn cứ du kích. Trên bản đồ hình thái của Bộ Tham mưu quân Pháp ở Sài Gòn, lực lượng cơ động ứng chiến bị dồn hút về các thành phố, thị xã và đồng bằng. Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ, quân Pháp tiến hành 21 cuộc hành quân với lực lượng từ 8 đến 20 tiểu đoàn bộ binh, 3 đến 7 tiểu đoàn pháo và cơ giới, thời gian kéo dài từ 3 - 4 tuần. Hành động đó của quân Pháp đã gây cho ta rất nhiều khó khăn, tổn thất, nhất là các căn cứdu kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Trướctình hình đó, Hội nghị Trung ương 2 ra nghị quyết về nhiệm vụ chiến đấu sau lưng địch. Bộ Tổng tham mưu tổ chức Hội nghị chuyên đề chiến tranh du kích (7-1952) nhằm "biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta" làm phá sản âm mưu "lấy Chiến tranh nuôi Chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xàm lược (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân. H. 2005. tr. 93) của Pháp. Cũng phải nói rằng, Tây Bắc là chiến trường rừng núi còn lại ở Bắc Bộ, trước đây ta cho rằng đây là chiến trường thứ yếu và chưa có điều kiện để nắm vững. Theo đánh giá của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Tây Bắc lúc này đã trở thành vấn đề thế và lực trên bàn cờ chiến lược Đông Dương. Chọn Tây Bắc làm địa bàn chiến dịch là đã quán triệt phương châm tránh chỗ địch mạnh, đánh chỗ địch yếu và phát huy tốt nhất sở trường chiến đấu của bộ đội. Ngày 26 tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy quyết định thành lập Ban chuẩn bị chiến dịch, ban do Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp2 (Ban chuẩn bị chiến dịch gồm: Trần Đăng Ninh - Trưởng ban, các đồng chí Hoàng Văn Thái, Lê Liêm, Nguyễn Văn Nhạn, Phan Mỹ thuộc Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị. Chu Văn Tấn, Bùi Quang Tao, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học, Bằng Giang ở Liên khu Việt Bắc) làm Trưởng ban. Để chuẩn bị tốt cho lực lượng tham gia chiến dịch là một Số đại đoàn chủ lực, Bộ Tổng tham mưu tiến hành củng cố biên chế, tổ chức, chỉnh quân, chỉnh huấn. Trong chỉnh quân huấn luyện, về kỹ thuật tập trung vào 5 môn kỹ thuật cơ bản, về chiến thuật tập trung vào chiến thuật công đồn, diệt viện lấy tưởng định địch phòng ngự trong công sự vững chắc, chi viện đường bộ và đổ bộ đường không lực lượng cỡ một tiểu đoàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #46 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:28:07 pm »

2. Tham mưu nắm vững tình hình địa bàn, xây dựng quyết tâm, lập kể hoạch tác chiến, kịp thời chính xác.

Để biến ý định thành quyết tâm chiến đấu, là chuỗi những hoạt động đồng thời của nhiều bộ phận thuộc cơ quan tham mưu như: trinh sát, cơ yếu, tình báo, quân huấn, bản đồ, thông tin, tác chiến. Chiến dịch Tây Bắc do Tổng Quân ủy lãnh đạo, Bộ Tổng tư lệnh chỉ huy, Bộ Tổng tham mưu điều hành nên từ chuẩn bị đến thực binh, hoạt động của các bộ phận trên luôn phải thống nhất, dồng bộ. Trước hêt là nắm địa bàn, từ tháng 3 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu đã phái lực lượng trinh sát tiến hành điều nghiên và lập binh yếu địa chí. Từ kết quả điều nghiên của trinh sát và tổng hợp của tham mưu, Ban chuẩn bị chiến dịch nhận định: Tây Bắc có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, xa hậu phương chiến dịch nên cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần kỹ thuật rất khó khăn. Tuy nhiên, quân địch mỏng và bố trí thành cụm, trong đó Nghĩa Lộ, Mộc Châu (Sơn La) là hai lá chắn của Tây Bắc thì lực lượng ở đây không nhiều, hỏa lực không mạnh1 (Mỗi nơi chỉ 1 tiểu đoàn lính Thái, 8 đến 14 đại đội độc lập và hỏa lực Nghĩa Lộ có 2 khẩu pháo, Phân khu Sơn La có 3 khẩu pháo). Từ nhận định đó, Ban chuẩn bị chiến dịch cho rằng nếu làm tốt công tác chuẩn bị, giữ được yếu tố bí mật bất ngờ, nhất định đạt được 3 mục tiêu: Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận lỏn đất đai. Trong những ngày tiến hành công tác chuẩn bị, cán bộ tham mưu chiến dịch, chỉ huy các đại đoàn, cán bộ Liên khu Việt Bắc phải đối mặt với nhiều khó khăn gian khổ để bám địa hình, bám địch. Đồng chí Vương Thừa Vũ - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, cùng trinh sát bí mật tiếp cận căn cứ địch ở Nghĩa Lộ, Pú Chạng để trực tiếp quan sát,đánh giá địa hình, lựa chọn phương án tiến công ngay trên thực địa. Đến tháng 4 năm 1952, tham mưu đã sơ bộ hình thành phương án, sau đó là quá trình hoàn thiện để đến ngày 4 tháng 7 năm 1952, Tham mưu trưởng chiến dịch báo cáo quyết tâm với Bộ Chính trị1 (Nội dung phương án có 3 điểm chính: 1. Chọn Nghĩa Lộ làm hướng chủ yếu và là trận then chốt mở màn chiến dịch. Lực lượng 6 trung đoàn (phương án 1 là 8 trung đoàn); 2. Phù Yên, là hướng thứ yếu. Lực lượng 2 trung đoàn; 3. Phối hợp là lực lượng còn lại đánh vào Sơn La, Yên Châu, Mai Sơn, Mường Lay...).


3. Tổ chức giao nhiệm vụ hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ phận; điều hành cơ động đội hình bảo đảm bí mật, giữ vững yếu tố bất ngờ.

Quyết tâm chiến dịch được tham mưu chuẩn bị kỹ và liên tục bổ sung. Ngày 8 tháng 9 năm 1952, dưới sự chủ trì của Chỉ huy trưởng chiến dịch, cơ quan tham mưu tổ chức giao nhiệm vụ, hiệp đồng giữa các bộ phận. Trong cuộc họp này, Tham mưu trưởng chiến dịch quán triệt, các bộ phận khi cơ động phải tuyệt đối giữ bí mật. Đồng chí chỉ rõ, đến lúc này đối phương vẫn chưa dò ra ý định của ta, chính vì vậy việc cơ động lực lượng nếu giữ được bí mật sẽ tạo bất ngờ và giành thế chủ động, về tổ chức sử dụng lực lượng, tham mưu hình thành 2 phương án và dự kiến tác chiến từ 2 đến 3 đợt. Cuộc họp được các bộ phận tham gia dân chủ thảo luận, cùng tham mưu hoàn chỉnh phương án. Ngày 9 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm. Người rất hài lòng về công tác chuẩn bị và tinh thần quyết chiến quyết thắng của chỉ huy các đơn vị. Người căn dặn, chiến dịch phải đạt được mục tiêu đề ra, đồng thời phải làm tốt Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ đối với đồng bào Tây Bắc.


Đối với chiến dịch Tây Bắc, công tác bảo đảm hậu cần là một "chiến dịch", chiến dịch "bảo đảm" cho chiến dịch"tác chiến". Xác định rõ điều này, tham mưu đã chủ động phối hợp với hậu cần cân nhắc số lượng người "cần thiết" tham gia, để lập phương án. Trên cơ sở quyết tâm chiến dịch, tham mưu cùng hậu cần lựa chọn sự phân hướng, phân tuyến, đường cơ động, cách thức và lực lượng tham gia. Cho đến trước giờ nổ súng, tham mưu đã hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ phận, giữ vững yếu tố bí mật, điều hành cơ động một lực lượng lớn bộ đội, trang bị kỹ thuật vượt sông Thao, sông Đà từ khu vực tập kết đến vị trí chiếm lĩnh trận địa xuất phát xung phong.


Trong quá trình thực hiện kế hoạch hiệp đồng, tuy rất cố gắng song sức người vẫn bị thiên nhiên ngăn can, hạn chế. Điều này xảy ra với công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch. Tuyến vận tải từ Mậu A qua đèo Khâu Vác vào Nghĩa Lộ mức quy định 15 tấn/ngày, nhưng mưa nhiều, đường trơn, quân số có lúc chỉ 60%, dù rất nỗ lực nhưng có ngày chỉ chuyển được 6-7 tấn hàng. Bộ đội đánh xong Nghĩa Lộ, hết gạo, ảnh hưởng đến thời cơ diệt địch. Trong việc này, đồng chí đồng chí Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, nói: "Đây là cái hận Khâu Vác của ngành cung cấp"1 (Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), tr. 614).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #47 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:31:18 pm »

4. Tổ chức đội hình sử dụng lực lượng phù hợp, giành thắng lợi trận mở đầu then chốt tạo thế và lực cho các trận tiếp theo của chiến dịch.

Quá trình chuẩn bị, tham mưu xây dựng hai phương án tổ chức đội hình sử dụng lực lượng, Bộ Chính trị phê chuẩn phương án 2 và đánh giá cao tính khả thi của phương án này. Theo phương án, ta sử dụng Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36), 312 (thiếu Trung đoàn 141) đánh trận mở đầu chiến dịch để "Đập vỡ khu vực phòng ngự Nghĩa Lộ, Phù Yêngiải phóng vùng tả ngạn sông Đà"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952, H.1992. tr. 30). Trong trận này, tuy để mất cơ hội tiêu diệt Tiểu đoàn 6 dù địch ở Tú Lệ, nhưng đã tạo thế trận tốt cho các trận tiếp theo. Về so sánh lực lượng (chỉ tính xung kích) ta sử dụng 3 đại đoàn (308, 312, 316), 9 đại đội hỏa lực, 10 đại đội bộ đội địa phương. Tỷ lệ địch/ta, khoảng 1/1,5. Tỷ lệ này không lớn đối với một chiến trường rộng như Tây Bắc. Theo phương án, tham mưu vẫn đề xuất sử dụng 4 tiểu đoàn làm nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch (Mặt trận Y13) hướng Quỳnh Nhai - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Hướng này do đồng chí Bằng Giang chỉ huy và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng nghi binh chiến dịch là cuộc đấu trí giữa ta và địch. Tham mưu đã sử dụng lực lượng nghi binh trên các hướng Bắc Giang, Bắc Ninh, Sơn Tây. Mục đích, dụ, hút địch vào hướng đồng bằng Bắc Bộ. Quả vậy, đến ngày 17 tháng 9 năm 1952 Lơ Tuốcnô Cao ủy Pháp ở Đông Dương vẫn cho rằng "Việt Minh sẽ đánh ở đồng bằng". Trong hồi ký của mình Nava xác nhận "Bộ chỉ huy quân Pháp vẫn hướng vào một cuộc tiến công diễn ra ở đồng bằng". Chưa hết, tướng Đờ Linarét chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ, nghe tin Nghĩa Lộ bị tiến công vội bay lên thị sát vào ngày 16 tháng 10, ngày 17 tại Hà Nội, Đờ Linarét vẫn cho rằng không có dấu hiệu nào cho thấy Việt Minh đánh lớn ở Tây Bắc.


Về dự kiến tình huống, tham mưu cho rằng, nhất định sẽ có cuộc hành quân của Pháp vào hậu phương chiến dịch của ta. Như đã hẹn, ngày 9 tháng 11 hành quân Loren do Đờ Linarét chỉ huy từ Việt Trì, Trung Hà hướng lên Phú Thọ, Tuyên Quang. Tại đây, Trung đoàn 176, Trung đoàn 246, Trung đoàn sơn pháo 75 của Đại đoàn 351, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) quay về sau khi hoàn thành nhiệm vụ ỏ Cửa Nhì (18-10), cùng bộ đội địa phương Phú Thọ, Tuyên Quang "tiếp đón". Hành quân Loren, "đòn tập kích" vào hậu phương chiến dịch của Việt Minh được Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương trù tính rất kỹ nhưng chỉ kéo dài từ 9 tháng 11 đến ngày 14 tháng 11, còn những ngày tiếp theo là một cuộc triệt thoái nhọc nhằn. Quân Pháp bị đánh tơi tả ở Chân Mộng, Thái Ninh... ngày 23 tháng 11, số còn lại mới lết vế đến Việt Trì với một chân dung không như khi xuất phát.


5. Bám sát diễn biến chiến trường, chủ động xử lý các tình huống chiến dịch, không bất ngờ trước các thủ đoạn tác chiến của đối phương.

Chiến dịch Tây Bắc có thời gian chuẩn bị dài, vì vậy ta có điều kiện để từng bước hoàn chỉnh quyết tâm, kịp thời bổ sung, điều chỉnh ý định tác chiến. Tuy nhiên, khi chiến dịch xảy ra, xuất hiện nhiều tình huống ngoài dự kiến. Như trận tiến công các đồn tiền tiêu ở Ca Vịnh, Ba Khe, Gia Phù... ngày 14-15 tháng 10 không triệt để, tham mưu chỉ thị ngay cho Đại đoàn 308 phải vây chặt Nghĩa Lộ - Pú Chạng quyết không để mất thời cơ tiêu diệt mục tiêu quan trọng này. Việc địch nhảy dù xuống Tú Lệ hoặc liên tiếp tăng viện và xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh... ở ngoài dự kiến, nhưng do bám sát diễn biến nên tham mưu không bị động bất ngờ, kịp thời đề xuất phương án xử trí, giúp Bộ chỉ huy chiến dịch duy trì nhịp độ và đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời.


6. Đánh giá đúng so sánh lực lượng, kết thúc chiến dịch đúng thời cơ.

Có nhiều quan điểm cho rằng, chiến địch Tây Bắc không giành thắng lợi trọn vẹn vì ta không làm chủ được Nà Sản. Cách đánh giá đó chỉ xuất phát từ góc nhìn vào một sự kiện cụ thể. Giả định, nếu quân Pháp không bất ngờ đổ xuống Nà Sản một lực lượng lớn và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh thì chắc chắn nó sẽ bị tiêu diệt như nhiều đồn bốt khác ở Tây Bắc. Xét toàn cục, thắng lợi của chiến dịch đã làm thay đổi thế và lực trên chiến trường Đông Dương theo hướng có lợi cho ta. Cái gọi là "con đê chắn sóng" (Nà Sản) mà quân Pháp cố tạo ra chỉ góp phần làm loãng thêm thế bố trí lực lượng của chúng. Trong khi đó, 3 mục tiêu chiến dịch đề ra đã hoàn thành, "Xứ Thái tự trị" bị phá sản. Ta không thể chỉ lấy tinh thần "quyết chiến quyết thắng" để bảo đảm cho thắng lợi khi tiến công vào nơi địch đang mạnh. Đến lúc này, sức khỏe của bộ đội bị giảm sút nghiêm trọng sau nhiều ngày chiến đấu và khả năng bảo đảm hậu cần kỹ thuật cũng rất khó khăn. Vấn đề Nà Sản tham mưu cũng thấy rằng "Nắm không vững tình hình địch ở Nà Sản, do đó nhận định tình hình địch - ta không đúng, và đề rachủ trương tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây" là không phù hợp1 (Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), tr. 641). Trận Pú Hồng, Bản Hời (30-11), Nà Si, Bản Vây (1-12)... giúp tham mưu đánh giá lại tình hình và đi đến đề xuất dừng tiến công Nà Sản. Đây là một quyết định khó khăn, nhưng đúng đắn, quyết định này bảo đảm cho ta giữ vững kết quả thắng lợi của chiến dịch.


Năm tháng đi qua, dấu ấn chiến trường xưa đã ẩn vào sau những thay đổi của cuộc sống. Nhưng vẫn còn đó, những triền núi, dòng sông Tây Bắc hùng vĩ từng chứng kiến sự kiện lớn lao của hơn 60 năm về trước. Đối với những người làm công tác tham mưu tác chiến, công trạng, sự hy sinh to lớn của họ vẫn còn in dấu trên tấm bản đồ quyết tâm chiến dịch Tây Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #48 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:38:11 pm »

CHỦ ĐỘNG KẾT THÚC CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952
MỘT QUYẾT ĐỊNH KỊP THỜI, SÁNG SUỐT CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ BỘ TỔNG TƯ LỆNH


Thiếu tướng, PGS, TS HÀ QUỐC HƯU
Chủ nhiệm Khoa Chiến dịch, Học viện Quốc phòng


Từ cuối chiến dịch Hòa Bình (2-1952), Bộ Chính trị đã có ý định mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc; tháng 9 năm 1952, dựa trên cơ sở đánh giá so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường, đồng thời căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc nhằm: tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc. Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị, từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã tiến hành chiến dịch và giành được thắng lợi to lớn về nhiều mặt: Ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân; góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, khoét sâu thêm mâu thuẫn và chỗ yếu của địch; phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào. Chiến thắng Tây Bắc khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh,sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Chiến dịch tiến công Tây Bắc thể hiện sự phát triển không ngừng của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trên nhiều nội dung, trong đó có nội dung về nghệ thuật kết thúc chiến dịch; việc chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ là một quyết định kịp thời, sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh chiến dịch.


1. Kế hoạch, diễn biến và kết thúc chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952).

Kế hoạch chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952), ta dự đinh chia làm 3 đợt:

Đợt 1, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế dịch.

Đợt 2, nếu trường hợp đánh Nghĩa Lộ được thuận lợi, lực lượng ta còn sung sức, địch chưa kịp tăng cường thì nhanh chóng đánh chiếm Sơn La. Nếu gặp khó khăn thì đánh vùng đông nam Phân khu Sơn La (từ Mộc Châu trở lên Sơn La), kết hợp cắt đường số 41 (quãng Cò Nòi) và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La.

Đợt 3, tiến công Sơn La thành một đợt riêng nếu đợt trước gặp khó khăn.

Thời gian chiến dịch: dự kiến 3 tháng rưỡi, bắt đầu từ ngày 14 tháng 10 năm 1952, đánh ngoại vi; ngày 15 tháng 10, đánh Nghĩa Lộ (nếu còn mưa thì bắt đầu vào hạ tuần tháng 10-1952).

Mức yêu cầu cao nhất của chiến dịch là giải phóng Sơn La. Mức thấp nhất là giải phóng Nghĩa Lộ và Quang Huy.

Diễn biến và kết thúc chiến dịch.

Từ ngày 20 tháng 9 đến đầu tháng 10 năm 1952, chiến dịch bắt đầu triển khai thế trận. Các đơn vị từ các địa điểm tạm dừng tiến vào vị trí tập kết, đại bộ phận lập két ở tả ngạn sông Hồng (từ Yên Bái đến Trái Hút và Trung đoàn 98 ở vùng Thạch Kiệt). Các đơn vị đến vị trí tập kết theo đúng chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, không bị ùn tắc, bảo đảm quân số, sức khỏe. Tại đây, bộ đội tiếp tục làm công tác chuẩn bị chiến đấu và vượt sông. Trong hai đêm (ngày 10 và 11-10), 3 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo vượt sông ở 4 bến: Mậu A, Âu Lâu, Nước Nóng và Lan Bình; riêng Trung đoàn 98 vượt sông ở Phú Thọ. Tât cả đã hình thành các mũi tiến công theo đúng kế hoạch đã xác định. Địch có phát hiện được một phần hoạt động của ta, nên đã dùng máy bay để trinh sát, bắn phá thăm dò một vài nơi trong khu vực tập kết và một số bến vượt nhưng không gây thiệt hại đáng kể. Ở Tây Bắc, trước giờ nổ súng ít ngày, địch phát hiện lực lượng nhỏ của ta thâm nhập khu vực Nghĩa Lộ nhưng vẫn không đoán được Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu của ta.


Từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952, ta tiến hành đợt 1 chiến dịch, đập vỡ khu vực phòng ngự Nghĩa Lộ, Phù Yên, giải phóng vùng tả ngạn sông Đà.

Từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, ta tiến hành đợt 2 chiến dịch vượt sông Đà, đập vỡ khu vực phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La - Điện Biên Phủ.

Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta tiến hành đợt 3 chiến dịch, tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Sau trận Bản Vây và Nà Si đêm ngày 1 tháng 12, Tổng Quân ủy nhận thây, ta tiếp tục tiến công Nà Sản không có lợi, nên đã quyết định kết thúc chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #49 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:39:59 pm »

2. Chủ động kết thúc chiến dịch - một quyết định kịp thời, sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy chiến dịch.

Kết thúc chiến dịch là giai đoạn cuối cùng của quá trình tổ chức điều hành chiến dịch, đây là một nội dung quan trọng của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Trong các chiến dịch tiến công, thời cơ kết thúc chiến dịch thường là sau khi hoàn thành kế hoạch tác chiến đã vạch ra; tuy nhiên, có chiến dịch, khi không còn điều kiện, không còn khả năng tiếp tục tiến công nữa, ta cũng chủ động kết thúc chiến dịch. Với chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952), ta đã chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ, mưu trí tim cách lừa địch để bảo đảm an toàn lực lượng, tạo thuận lợi cho các nhiệm vụ tiếp theo. Đây là một quyết định kịp thời, sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh chiến dịch, được biểu hiện ở những nội dung chủ yếu sau:


Một là, chủ động kết thúc chiến dịch đúng thời cơ.

Nhiệm vụ của đợt 3 của chiến dịch tiến công Tây Bắc là: "Tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản".

Đánh giá tình hình địch, lúc đầu, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch nhận định: địch ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản có số quân đông, có nhiều cứ điểm dựa vào nhau, có thể phát huy uy lực của pháo binh và không quân, có sân bay, nhưng bị cô lập, việc tiếp tế chi viện chỉ dựa vào đường không công sự còn sơ sài, tinh thần binh lính bạc nhược. Tuy là hình thức phòng ngự mới, nhưng tập đoàn cứ điểm này được thành lập trong thế bị động, địch đang ở thế "tiến thoái lưỡng nan", rút thì bị thất bại rất lớn, giữ thì bị cô lập và có thể bị tiêu diệt.


Tình hình ta, thương vong trong đợt 2 tương đối ít so với đợt 1, nhưng bộ đội hành quân và chiến đấu liên tục, ăn uống kém, sức khoe giảm sút. Đường tiếp tế xa, địch lại tăng cường đánh phá giao thông, kho tàng... Để khắc phục những khó khăn trên, ta phải có nỗ lực lớn.


So sánh tương quan lực lượng ta - địch: Lực lượng ta tuy không tuyệt đối ưu thế hơn địch, nhưng trong từng trận ta có điều kiện tập trung tạo ưu thế hơn địch. Mặt khác, bộ đội ta trên đà phấn khởi, tin tưởng; việc huy động nhân lực, vật lực ở vùng mới giải phóng có triển vọng giảm được nhiều khó khăn về hậu cần. Căn cứ vào nhận định trên, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch hạ quyết tâm tập trung lực lượng mở đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch.


Quá trình diễn biến đợt 3 chiến dịch: Đêm ngày 30 tháng 11, Trung đoàn 102 cùng một bộ phận của Trung đoàn 88 (tương đương 1 tiểu đoàn) chiếm được Pú Hồng, nhưng sau đó bị địch phản kích chiếm lại. Tiểu đoàn 115 Trung đoàn 165, chiếm được Bản Hời. Đêm 1 tháng 12 Trung đoàn 174 cùng một bộ phận của Trung đoàn 88 đánh chiếm Nà Si không thành công; cũng trong đêm 1 tháng 12, Trung đoàn 209 đánh Bản Vây không kết quả. Hai trận này ta đều bị thương vong nặng. Bốn trận trên, ta đều gặp khó khăn, nhất là hai trận Nà Si và Bản Vây. Trước tình hình trên, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy ta chưa nắm chắc và đánh giá đúng tình hình địch (chúng vừa tăng thêm lực lượng từ phía sau lên, vừa rút các lực lượng còn lại từ Tây Bắc về, hình thành một tập đoàn cứ điểm lớn ở Nà Sản); trước mắt ta chưa đủ khả năng tiến công diệt địch trong tập đoàn cứ điểm, cần có thời gian chuẩn bị chu đáo, huấn luyện bộ đội, nghiên cứu kỹ lưỡng vế kiểu phòng ngự mới của địch nên đã quyết định kết thúc chiến dịch để tránh thương vong, không có lợi cho việc xây dựng bộ đội lâu dài.


Thực tiễn trên cho thấy, khi đã nắm chắc và đánh giá đúng tình hình địch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã cân nhắc, tự lượng sức của bộ đội, quyết định rút khỏi Nà Sản, kết thúc chiến dịch đúng thời cơ. Đây là một trong những bài học sâu sắc của chiến dịch này. Không những ta kết thúc chiến dịch đúng thời cơ, mà còn khéo léo kết thúc chiến dịch một cách có lợi nhất, tránh được những thương vong, tổn thất không cần thiết, bảo toàn được lực lượng, giữ vững được khí thế và niêm tin của cán bộ, chiến sĩ. Nhờ vậy ta đã có điều kiện nhanh chóng bước vào củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng.


Quyết định kết thúc chiến dịch trong thời điểm có lợi, khẳng định bản lĩnh vững vàng, tinh thần dám chịu trách nhiệm, sự quyết đoán của người chỉ huy, không để tư tưởng hiếu thắng cay cú chi phối, ảnh hưởng đến nhiệm vụ lâu dài. Tổng Quân ủy nhận định: "Đánh thì không chắc thắng, trong khi đó thì vùng mới giải phóng của ta rất rộng mà chưa được củng cố", cho nên Tổng Quân ủy chủ trương đình chỉ cuộc tiến công Nà Sản và chuyển sang nhiệm vụ củng cố căn cứ địa Tây Bắc để giữ vững những thắng lợi vừa qua. Đây là một quyết định sáng suốt, kịp thời. Việc đột nhiên ngừng tiến công Nà Sản, kết thúc chiến dịch, trong lúc bộ đội đang ở tư thế chuẩn bị tiếp tục tiến công và say sưa thắng lợi, đã nảy sinh ra nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau, cán bộ, chiến sĩ đã phải trải qua một quá trình đấu tranh tư tưởng để thống nhất nhận thức đúng. Bộ chỉ huy chiến dịch đã phát hiện và lãnh đạo kịp thời.


Hai là, mưu trí tìm cách lừa địch để bảo đảm an toàn lực lượng, tạo thuận lợi cho các nhiệm vụ tiếp theo.

Kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật. Kết thúc chiến dịch trong tình huống thuận lợi đã khó, kết thúc trong hoàn cảnh bất lợi càng khó khăn gấp bội. Nhận rõ điều này, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tích cực, chủ động, tiến hành nhiều biện pháp có hiệu lực nhằm đánh lừa địch, đảm bảo an toàn cho lực lượng chiến dịch. Ta để lại một lực lượng tiếp tục bao vây, đánh địch ở Nà Sản, đồng thời khéo léo tiến hành nghi binh, bí mật đưa bộ phận lực lượng sang hoạt động rầm rộ khu vực sông Mã, kết hợp với việc rút quân về Khu 4. Một bộ phận khác từ Điện Biên Phủ tiến sang đánh địch ở Phong Xa Lỳ, Mường Khoa nhằm đánh lạc hướng chú ý của địch. Do các hoạt động trên của ta, địch lại thêm một bất ngờ. Khi ta đã rút khỏi Nà Sản, chúng vẫn không rõ thực hư, vừa ráo riết củng cố công sự để đối phó với ta ở Nà Sản, vừa vội vã điều quân cơ động của Lào lên củng cố Sầm Nưa, phòng mặt sông Mã.

Gần một tháng sau địch mới biết là ta đã rút quân, nhưng cũng là lúc các lực lượng chiến dịch của ta đã về tới hậu phương an toàn.

Như vậy, trong tình huống bất lợi, ta đã biết kết thúc chiến dịch một cách có lợi nhất, vừa bảo toàn lực lượng, vừa tạo thuận lợi cho nhiệm vụ tiếp sau, nhất là tạo được tiền đề cho chủ trương mở chiến dịch Thượng Lào sau đó.


Tóm lại, nghệ thuật tổ chức điều hành các chiến dịch tiến công trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm kết thúc chiến dịch trong tình huống thuận lợi. Nhưng chiến dịch tiến công Tây Bắc (1952), đã bổ sung thêm cho chúng ta kinh nghiệm thành công về kết thúc chiến dịch trong tình huống khó khăn, bất lợi. Nghệ thuật chỉ đạo đó đã đưa nghệ thuật chiến dịch tiến công Việt Nam thêm nét phát triển mới. Kinh nghiệm chỉ đạo này cũng đã được vận dụng thành công trong kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng và sự phát triển đến đỉnh cao, toàn diện của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra) để đánh bại địch trên chiến trường, chúng ta vẫn phải tiến hành thắng lợi các chiến dịch, nhất là các chiến dịch tiến công. Tuy nhiên, trong điều kiện tác chiến mới, các yếu tố về địch, ta và địa bàn chiến dịch đều có những thay đổi khác với chiến tranh giải phóng trước đây, kẻ thù là những nước có nền kinh tế, kỹ thuật cao hơn ta, Quân đội của chúng được trang bị rất hiện đại, sử dụng vũ khí công nghệ cao, tác chiến điện tử mạnh. Vì vậy, kinh nghiệm về kết thúc chiến dịch nêu trên vẫn giữ nguyên giá trị trong chiến tranh tương lai, cần được tiếp tục nghiên cứu vận dụng và phát triển phù hợp, đáp ứng yêu cầu chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM