vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:46:05 pm » |
|
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 - QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ Trung úy NGUYỄN THỊ THẢO Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Đầu năm 1952, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý định Thu Đông sẽ mở chiến dịch ở hướng Tây Bắc. Tháng 4 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu sơ bộ dự thảo kế hoạch chiến dịch Tây Bắc báo cáo lên Tổng Quân ủy. Cũng trong tháng 4, Tổng Quân ủv họp phổ biến chỉ thị của Trung ương Đảng về mở chiến dịch ở hướng Tây Bắc, quyết định thành lập Ban chuẩn bị chiến dịch. Đồng chí Trần Đăng Ninh đại diện Tổng Quân ủy làm Trưởng ban, các đồng chí Hoàng Văn Thái, Bùi Quang Tạo, Bằng Giang, Lê Liêm, Nguyễn Văn Nhạn, Phan Mỹ, Chu Văn Tấn, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học, làm ủy viên. Quy định thời gian chuẩn bị là 3 tháng rưỡi. Việc lãnh đạo và chỉ đạo các cơ quan đơn vị chuẩn bị cho chiến dịch là rất cần thiết: "Tổ chức một chiến dịch, nhất là một chiến dịch lớn như hiện nay, thì thắng hay bại một phần quan trọng đã quyết định từ lúc chuẩn bị" 1 (Những tải liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lênh, Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963, tr. 428). Qua bước đầu tìm hiểu chiến trường, Bộ Tổng tham mưu đã đưa ra nhận định: Chiến trường Tây Bắc là chiến trường rừng núi, địa hình phức tạp, dân cư thưa thốt, giao thông đi lại khó khăn. Mật độ dân cư thưa thớt cùng với trình độ hạn chế vì bị thực dân bóc lột kìm hãm, bởi vậy, việc tranh thủ nhân dân và giữ bí mật cho bộ đội hoạt động cũng sẽ gặp nhiều trở ngại. Trong khi đó, lực lượng địch ở Tây Bắc có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, đóng ở 144 cứ điểm, lực lượng chủ yếu là quân ngụy. Địch chia Tây Bắc thành 4 phân khu: Sông Đà, Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sơn La, và 3 tiểu khu độc lập Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Tại Phân khu Nghĩa Lộ, lực lượng địch tương đối mạnh, công sự vững chắc, bởi nó là những tấm chắn bảo vệ cửa ngõ Tây Bắc. Nhưng ở Tây Bắc, địch có nhiều sơ hở chủ quan, so với đồng bằng Bắc Bộ, ở Tây Bắcđịch yếu hơn. Tại đây, quân Âu - Phi ít, hoạt động của máy bay và pháo binh địch bị hạn chế nhiều bởi núi cao, rừng rậm. Về mặt tiếp tế địch cũng gặp nhiều khó khăn, vì thiếu sân bay lớn, sương mù nhiều, khả năng tiếp tế bằng đường không sẽ vô cùng hạn chế. Còn tiếp tế bằng đường bộ đối với quân Pháp càng gập khó khăn hơn. Qua những nhận định trên, ta đề ra chủ trương: "Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cố gắng tranh thủ giải phóng một phần đất đai, phát triển du kích chiến tranh để tiến tới phá âm mưu của địch trên chiến trường Tây Bắc" 1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lênh. Sđd, tr.239). Tây Bắc là chiến trường rộng lớn, nếu ta giải phóng được vùng nào thì địch ít có khả năng chiếm lại. Trước những nhận định đó, Bộ Tổng tham mưu đã tiến hành các công tác chuẩn bị nhằm nhanh chóng đạt được mục tiêu đã đặt ra. Tháng 5 năm 1952 việc điều tra tình hình địch được tiến hành. Chiến dịch này ta dự kiến đánh dài ngày, đánh liên tục, tiến chắc từng bước, đồng thời nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng. Bởi vậy việc nắm chắc địch, nắm chắc địa hình và dân tình Nghĩa Lộ, sẽ có quyết tâm đánh đúng và đánh thắng. Phòng Quân báo được giao nhiệm vụ trinh sát tình hình địch. Việc trinh sát được tiến hành theo 2 bước. Bước đầu, phối hợp với trinh sát địa phương điều tra về việc bố trí lực lượng, các trạm tuần tra, thói quen thăm dò thám báo. Nhiệm vụ của Phòng Quân báo là phải thu thập đầy đủ các tài liệu về sự bố trí lực lượng của địch ở Tây Bắc, về các khả năng tăng viện và rút lui của chúng, tìm hiểu về tình hình cơ sở quân chúng nhân dân. Bước 2, sau khi đã sơ bộ xác định kế hoạch tác chiến và nhiệm vụ cụ thể. Các đơn vị tiến hành trinh sát chỉ huy, nhiệm vụ này được giao cho các cán bộ chỉ huy các đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn trực tiếp đi điều tra đường hành quân, địa hình và tình hình địch ở các vị trí mà đơn vị đảm nhiệm tiến công. Dự kiến, trong đợt 1 của chiến dịch Tây Bắc, hướng tiến công vào Nghĩa Lộ giao cho Đại đoàn 308. Đồng chí đại đoàn trưởng đã trực tiếp chỉ huy một đoàn cán bộ gồm các đồng chí tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng, cán bộ hậu cần, thông tin, công binh, pháo binh thâm nhập vào thung lũng Nghĩa Lộ để chuẩn bị chiến trường. Cũng từ những thông tin chính xác từ quá trình nghiên cứu thực địa, điều tra các cụm cứ điểm, ta đã mở đầu chiến dịch thành công với trận mở màn tiến công vào cứ điểm Pú Chạng. Việc chuẩn bị cơ sở quần chúng được Trung ương Đảng giao cho Khu ủy Tây Bắc. Liên khu ủy Việt Bắc đã mở lớp đào tạo cán bộ cơ sở sau đó chuyển cán bộ sang Khu Tây Bắc hoạt động. Đồng thời bố trí một số đồng chí ủy viên liên khu thâm nhập vào Sơn La và vùng tạm chiếm Yên Bái để xây dựng cơ sở chính trị, tổ chức, trang bị, huấn luyện lực lượng vũ trang. Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ cho mỗi đồng chí phụ trách một đến hai huyện. Liên khu Việt Bắc mở lớp tập huấn cho cán bộ và quần chúng ở Tây Bắc, cứ 2 đồng chí sang Tây Bắc tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ sở. Các đồng chí có nhiệm vụ thâm nhập vào vùng địch, vận động đồng bào, chuẩn bị tư tưởng cho nhân dân, huấn luyện các lực lượng vũ trang địa phương. Nếu chuẩn bị cơ sở quần chúng tốt, trong quá trình chiến đấu sẽ phát huy được nhiều tác dụng, ở Tây Bắc việc tranh thủ nhân dân có tính chất vô cùng đặc biệt. Âm mưu của địch ở Tây Bắc là phá khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc để nhằm lập các xứ tự trị nhằm cai trị lâu dài và vơ vét lương thực, thực phẩm phục vụ cho âm mưu quân sự. Ở đây Pháp đã thực hiện được một phần quan trọng âm mưu đó, chúng lợi dụng giày xéo và thống trị nhân dân, vơ vét hết tài nguyên, lâm thổ sản, thực hiện âm mưu thâm độc "giết Kinh lấy muối, giết Thổ lấy ruộng, giết Mán lấy bạc, giết Mông lấy thuốc phiện". Vì thế, nếu chúng ta tranh thủ được đồng bào, làm cho những đồng bào bị địch lợi dụng quay trở về hàng ngũ kháng chiến, thì có thể nói rằng trên chiến trường Bắc Bộ, âm mưu chia rẽ dân tộc của chúng cũng bị thất bại nặng nể. Tháng 5 năm 1952, tất cả các đơn vị bộ đội tiến hành giáo dục chính trị cho cán bộ và chiến sĩ. Với trình độ giác ngộ giai cấp được nâng cao thêm một bước, với khí thế mới, tất cả đều phấn khởi, quyết tâm giành thắng lợi lớn trong Thu Đông tới. Các mặt yếu về kỹ thuật, chiến thuật được rèn luyện bổ sung, súng đạn dụng cụ phương tiện chiến đấu được sửa chữa, thay thế. Chi bộ Đảng, hội đồngquân nhân họp, hạ quyết tâm lập công. Các phó chính tri viên đại đội và tiểu đoàn được học tập riêng về chính sách đối với dân công đi chiến dịch. Các lớp huấn luyện quân sự được mở để các đơn vị chủ lực huấn luyện 5 kỹ thuật cơ bản, học cách đánh công sự cải tiến, đánh cả ban ngày và ban đêm. Nhiều trung đoàn được diễn tậptác chiến hiệp đồng bộ pháo. Bên cạnh đó được phổ biến các kinh nghiệm chiến đấu của chiến dịch Hòa Bình, từ những đơn vị cơ sở đến đại đoàn đều được biên chế lại để phù hợp với cách đánh công kiên và vận động, giảm quân số không chiến đấu, tăng thêm lực lượng trực tiếpchiến đấu. Trang bị vũ khí mạnh hơn, thống nhất, biên chế các đơn vị đều gọn nhẹ và có sức chiến đấu cao. Thực hiện việc bổ sung quân số cho chiến dịch, dự kiến động viên 6.000 tân binh để giao cho các đơn vị vừa huấn luyện vừa làm lực lượng vận tải và bổ sung cho các đơn vịchiến đấusau mỗi trận đánh. Mở lớp bổ túc cán bộ sơ cấp để làm lực lượng dự trữ cán bộ cho chiến dịch và chuẩn bị mở thêm một lớp cán bộ địch hậu. Bộ đội được học tập thảo luận quán triệt mục đích, yêu cầu của chiến dịch và "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ". Ngày 6 tháng 9 năm 1952, Hội nghị cán bộ bàn kế hoạch tác chiến được tổ chức, Bác Hồ đã vượt mưa lũ để đến, điều đó đã để lại cho cán bộ, chiến sĩ bài học sâu sắc về quyết tâm đối với chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch có Đại đoàn 308 (3 trung đoàn), Đại đoàn 312 (3 trung đoàn) Đại đoàn 316 (2 trung đoàn), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, sáu đại đội sơn pháo 75mm (24 khẩu); 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu),3 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn công binh 151, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai. Vì khả năng huy động tại chỗ hạn chế, đường tiếp tế, vận tải qua nhiều núi cao rừng rậm đèo dốc do địa hình phức tạp nên Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã tăng cường cán bộ, tập trung cho cung cấp. Nhân vật lực phục vụ chiến dịch dụ kiến do các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An Hà Nam, đảm nhiệm. Để vận chuyển được khối lượng lớn vật chất vào chiến trường cần sửa lại hệ thống đường sá ở Tây Bắc. Do đó, một lực lượng lớn dân công và công binh được huy động sửa chữa đường 13 từ Chủ Chè đi Yên Bái vào Ba Khe. Đường số 6 từ Hòa Bình lên Suối Rút và đường Hồi Xuân (Thanh Hóa) lên Suối Rút. Khôi phục quãng đường sắt từ Yên Bái đi Mậu A để dùng ô tô ray vận chuyển lương thực và nhu yếu phẩm bằng mọi phương tiện. Xây dựng nên một hệ thống kho trạm, bố trí lại các kho trạm cấp phát ở vùng tả ngạn sông Thao và khu vực Suối Rút (Hòa Bình). Hướng Việt Bắc được giao nhiệm vụ đảm bảo cho đợt 1, lấy Yên Bái, Phú Thọ làm hậu phương chiến dịch. Lập 4 kho chính: ở Mậu A lập kho đảm bảo cho tuyến chính từ Khâu Vác - Nậm Mười tiến vào Nghĩa Lộ. Ở cổ Phúc lập kho đảm bảo cho bộ đội tiến công hướng Sài Lương. Về lương thực, dự kiến, gạo cho hướng chính trong đợt 1 gần 1.400 tấn cho cả bộ đội và dân công. Hướng phụ là 104 tấn cho bộ đội và 43 tấn cho dân công. Về nhân lực, dân công trực tiếp phục vụ chiến đấu là 4.300 người, dân công vận chuyển là 27.750 người. Dự kiến chuyển khoảng 120 tấn vũ khí đạn dược và dụng cụ thuốc men để cứu chữa cho khoáng 5.000 thương binh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2025, 08:48:15 pm » |
|
Ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động dân công, Ban dân công ở các tỉnh cũng được thành lập. Theo đề nghị của Tổng Quân ủy, tháng 9 năm 1952 ta đã thành lập Tổng cục Cung cấp do đồng chí Trần Đăng Ninh làm Chủ nhiệm Tổng cục. Ban Chấp hành Trung ương Đảng thành lập Ban cán sự đường 41 được thành lập do đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đại diện Tổng cục phía nam làm Trưởng ban, hai đồng chí Liên khu ủy Liên khu 3 và Liên khu 4 làm ủy viên, đảm nhiệm việc chuẩn bị hậu cần chiến dịch từ hướng nam lên. Để đảm bảo yêu cầu bí mật bất ngờ cho chiến dịch, lần này công tác đảm bảo hậu cần không được chuyển vật phẩm lên trước lót ổ lập chân hàng mà phải tổ chức vận chuyển theo sát các mũi bộ đội tiến quân. Cũng trong chiến dịch này, lần đầu tiên mỗi chiến sĩ được cấp phát 3 lạng đường. Tại các địa điểm tập kết lực lượng và lương thực, ta lập các bến vượt sông, biên chế các Ban vượt sông cho bộ đội và dân công.
Ngày 30 tháng 8 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu xây dựng kế hoạch nghi binh gửi đến các đơn vị. Theo kế hoạch, mặt trận trung du hướng nghi binh chính là Vĩnh Phúc, ở hướng này giao cho Trung đoàn 246 lấy phiên hiệu giả là Đại đoàn 308, tiểu đoàn địa phương Phú Thọ lấy tên giả là Trung đoàn 246. Hướng Bắc Giang giao cho Trung đoàn 238 ở Bắc Ninh, Bắc Giang mang tên mới là Đại đoàn 316. Hướng Phú Thọ, Sơn Tây giao cho Trung đoàn 176 thuộc Đại đoàn 316 đổi tên mới là Đại đoàn 312. Ở Liên khu 3, hướng nghi binh chính là Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình. Riêng ở Ninh Bình vừa nghi binh vừa chuẩn bị cho hai đại đoàn 304 và 320 vào địch hậu để hoạt động phối hợp với chiến trường chính. Các hoạt động nghi binh cụ thể như sau: trinh sát vũ trang trên các hướng, cho phát đường bí mật, sửa chữa đường sá, cầu cống, bố trí kho tàng, tổ chức tập trung dân công. Tổ chức chuyển quân rầm rộ để đánh lạc hướng sự phán đoán của địch. Phong tỏa tin tức, truy quét các ổ gián điệp trên các đường hành quân ta dự kiến tiến vào Tây Bắc. Tất cả các đơn vị nghi binh được lệnh phải thực sự liên tục và rầm rộ để thu hút sự chú ý của địch.
Tháng 7 năm 1952, ta đã bắt đầu lên kế hoạch tác chiến. Theo kế hoạch này, hướng tiến công chính là Nghĩa Lộ - Yên Bái, hướng phối hợp là Phù Yên, hướng phụ là Lai Châu1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Sđd, tr.254, 255). Tháng 9 năm 1952, căn cứ vào đề nghị của Bộ Tổng tư lệnh, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với mục tiêu "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia. H. 2000. tr 304). Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh làm Chỉ huy trưởng chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Trần Đăng Ninh3 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H 2010. tr. 824) làm Chủ nhiệm Cung cấp. Lực lượng chủ lực của ta tham gia chiến dịch có Đại đoàn 308 (3 trung đoàn), Đại đoàn 312 (3 trung đoàn), Đại đoàn 316 (2 trung đoàn), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, Đại đoàn công pháo 351, cùng các binh chủng phối thuộc và lực lượng bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai phối hợp.
Ngày 6 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu tổ chức Hội nghị cán hộ, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị tham gia chiến đấu. Hội nghị này có sự tham dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù thời tiết xấu, trời mưa, nước ở các sông suối đều dâng cao nhưng Người vẫn đến Hội nghị và căn dặn: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú mà đến người chiến sĩ..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 558). Đánh Tây Bắc, cần có quyết tâm lớn, đó là điều mà Trung ương Đảng, Bác, Tổng Quân ủy đã để cho các chiến sĩ và cán bộ ghi nhớ sâu sắc trước khi bước vào chiến dịch.
Trong quá trình chuẩn bị cũng gặp một số khó khăn như việc bổ sung quân số cho một vài trung đoàn tiến hành chậm, quá trình chuẩn bị cơ sở địa phương, sửa chữa đường không đúng theo dự kiến. Vận chuyển thu gom gạo vào các kho quá sớm nên bị hỏng. Khi công tác chuẩn bị mọi mặt cơ bản đã ổn định, đi vào nền nếp, Ban chuẩn bị tiếp tục xây dựng kế hoạch hành quân, kế hoạch phòng không, xây dựng kế hoạch vượt sông, bảo vệ, bảo mật phòng gian. Dự thảo các vấn đề về công tác chính trị, các chính sách để thông qua Tổng Quân ủy. Sau đó, chuẩn bị Hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị, bởi vậy các công việc trên phải hoàn thành sớm để bước vào chiến dịch.
Việc chuẩn bị chiến dịch dự kiến diễn ra 3 tháng rưỡi nhưng trong quá trình chuẩn bị đã phải mất 6 tháng. Thời gian chuẩn bị và quá trình chuẩn bị diễn ra dài ngày cũng gặp nguy hiểm vì bị địch phát hiện, tìm cách phá hoại.
Nhưng với quyết tâm cao và sự chịu dựng gian khổ, hy sinh, các cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn thành nhiệm vụ. Khi công việc chuẩn bị chiến dịch cơ bản hoàn thành, chiến dịch Tây Bắc đã mở màn bằng trận đánh diễn ra ngày 14 tháng 10 năm 1952, đến ngày 10 tháng 12 năm 1952 chiến dịch kết thúc thắng lợi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:30:20 pm » |
|
NGHĨA LỘ - CHIẾN THẮNG MỞ MÀN CHIẾN DỊCH TÂY BẮC Thượng úy LÊ VĂN PHONG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cách đây 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc, giành nhiều thắng lợi to lớn. "Thắng lợi đó đã rèn luyện cho bộ đội ta về kỹ thuật, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường lực lượng kháng chiến của nhân dân, nâng cao lòng tin tưởng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối với Đảng và Hồ Chủ tịch..." 1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963. tập 2, tr 217). Đi cùng năm tháng, chiến dịch Tây Bắc đã trở thành một sự kiện lịch sử trọng đại, trong đó, chiến thắng Nghĩa Lộ mãi là một dấu ấn quan trọng. Như chúng ta đã biết, sau khi kết thúc chiến dịch Hòa Bình, quân đội ta khẩn trương tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm tác chiến chiến dịch. Từ tháng 5 năm 1952, các đơn vị chủ lực bước vào đợt chính huấn chính trị nhằm nâng cao nhận thức chính trị và trình độ giác ngộ ý thức dân tộc và ý thức giai cấp. Đây là cuộc chỉnh huấn chính trị tập trung lớn nhất của quân đội ta kể từ khi thành lập. Khi cuộc chính huấn chính trị kết thúc, bộ đội ta chuyển sang chỉnh huấn quân sự. Cùng với các cuộc chỉnh huấn nói trên, các đơn vị chủ lực còn tiến hành chấn chỉnhtổ chửc biên chế, trang bị và thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng về "Tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực". Trong lúc bộ đội chủ lực đang tập trung rèn quân, chỉnh cán nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu, thì từ mùa hè đến cuối năm 1952, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn binh lực vào những cuộc càn quét để bình định vùng tạm chiếm ở trung du, đồng bằng và ven biển nhằm hạn chế sự uy hiếp của ta tại hậu phương của chúng. Không để cho địch rảnh tay bình định, củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, nhất là trên chiến trường chính Bắc Bộ, đồng thời từ kinh nghiệm của chiến dịch Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951- 1952, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã cân nhắc, chọn hướng tiến công chiến lược của ta trong Đông - Xuân 1952-1953. Sau khi phân tích tình hình mọi mặt, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã quyết định chọn Tây Bắc 1 (Ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Khu Tây Bắc, gồm 4 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, rộng 44.300km 2, dân số 440.000 người) - nơi địch yếu và sơ hở làm hướng tấn công của ta trong Đông - Xuân 1952-1953. Tây Bắc là chiến trường rừng núi rộng lớn nằm ở phía Tây Bắc Bắc Bộ nước ta. Phía tây là biên giới Việt - Lào, giáp hai tỉnh Phong Xa Lỳ và sầm Nưa. Phía đông tiếp giáp với căn cứ địa Việt Bắc. Phía bắc là biên giới Việt - Trung, đối diện với tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phía nam là tỉnh Hòa Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu 3, Liên khu 4. Phần lớn đất đai Tây Bắc là núi cao, rừng rậm, dân thưa, kinh tế nghèo nàn, đường sá ít, sông suối nhiều, việc cơ động vận chuyển đối với các đơn vị lớn có nhiều khó khăn; về mùa thu và mùa đông có sương mù bao phủ hầu như suốt ngày, hạn chế tầm quan sát và hoạt động của không quân, nhưng lại có nhiều thuận lợi trong việc di chuyển và tiếp cận của bộ đội ta. Đối với địch, Tây Bắc là vùng chiến lược quan trọng, ở đây, lực lượng dịch có 8 tiểu đoàn và 41 đại đội, phân tán trên 144 cứ điểm, trong đó có 40 cứ điểm có từ 1 đến 2 đại đội, còn thường là cứ điểm từ 1 đến 2 trung đội. Công sự ở một số vị trí then chốt đã được cải tiến, có lô cốt, hầm ngầm xi măng cốt sắt, còn phần lớn vẫn bằng gỗ, đất. Tháng 9 năm 1952, dựa vào so sánh thế lực giữa ta và địch trên chiến trường, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc và giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc" 1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), H. 1992, tr. 10). Vì đây là chiến dịch có ý nghĩa quan trọng, Bộ Chính trị đã quyết định cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh làm Chỉ huy trưởng chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng, làm Tham mưu trưởng chiến dịch; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch; đồng chí Trần Đăng Ninh 1 (Về đồng chí Chủ nhiệm Cung cấp có tài liệu viết là Nguyễn Thanh Bình, ở đây, chúng tôi dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký. Nxb Quân đội nhân dân. H. 2006, tr. 824), Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, làm Chủ nhiệm cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp tổ chức các bộ phận tiền phương hình thành cơ quan của chiến dịch. Tổng Quân ủy quyết định sử dụng lực lượng trong chiến dịch Tây Bắc gồm 4 đại đoàn chủ lực (308, 312, 316 (thiếu 1 trung đoàn) bộ binh và Đại đoàn công pháo 351) cùng 1 tiểu đoàn và 11 đại đội bộ đội địa phương, tiến công vào 4 phân khu và 3 tiểu khu của địch trên địa bàn Tây Bắc. Để đảm bảo việc tổ chức và thực hành chiến dịch thắng lợi. từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Bắc. Tại hội nghị, trên cương vị là Tổng tư lệnh và Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày phương án chiến dịch, nêu rõ: "Đối với toàn bộ chiến trường Tây Bắc, Phân khu Nghĩa Lộ là một binh phong của địch để bảo vệ Tây Bắc, đồng thời nó cũng là bàn đạp của ta để tiến công Tây Bắc' '2 (Bộ Quốc phòng. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 2. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 208-209). Từ kết quả hội nghị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đề ra hai phương án tác chiến. Phương án một, lấy Phân khu Nghĩa Lộ làm hướng tiến công chủ yếu, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ trước, đồng thời cho một bộ phận lực lượng chiến dịch vào hoạt động ở Phù Yên, Quỳnh Nhai, phát động nhân dân đấu tranh. Sau đó đưa Đại đoàn 308 về bảo vệ hậu phương. Đại đoàn 312, Đại đoàn 316, Trung đoàn 148 tiếp tục tiến công giải phóng Sơn La. Phương án hai, tập trung Đại đoàn 312, Đại đoàn 308, Trung đoàn 148 tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ; Đại đoàn 316 tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 176, một tiểu đoàn của Trung đoàn 148 vào Yên Châu, Mai Sơn, Mường La phát động quần chúng đấu tranh, quấy rối hậu phương địch, chuẩn bị cho tiến công Sơn La. Giải quyết xong Nghĩa Lộ, Đại đoàn 308 về bảo vệ hậu phương, các lực lượng còn lại tiếp tục tiến đánh Sơn La.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:33:35 pm » |
|
Sau khi tính toán kỹ lưỡng, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định: "Tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên, giải phóng hai nơi trên, phát triển thắng lợi, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện để tiến công Sơn La, sau đó nhanh chóng tiến quân vào Sơn La"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân,H.2000, tr. 393).
Về kế hoạch chiến dịch, ta dự kiến chia làm ba đợt. Đợt 1, tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai, phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế địch. Đợt 2, nhanh chóng đánh Sơn La, kết hợp với việc cắt đường số 41 và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La. Đợt 3, tiến công Sơn La2 (Công tác bảo đảm hậu cần, gạo ở hướng chính trong đợt 1 là 1.195 tán cho bộ đội và 142 tấn cho dân công. Hướng phụ là 104 tấn cho bộ đội và 43 tấn cho dân công. Dân công đi theo bộ đội là 4.300 người; dân côngvận chuyển khác là 27.750 người. Đợt 2 và 3 là 3.400 tấn (không kể số gạo dân công ăn trên dọc đường). Hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái huy động 450 chiếc thuyền, phà đưa 30.000 bộ đội,dân công cùng với binh khi kỹ thuật qua sông).
Theo kế hoạch trên, Phân khu Nghĩa Lộ là mục tiêu tiến công đầu tiên để mở màn chiến dịch Tây Bắc. Đây là một thung lũng có chiều dài 15km, chiều ngang chỗ rộng nhất 8km, chỗ hẹp nhất hơn 3km, chính giữa là thị trấn cuối thị trấn về phía tây - nam là cứ điểm Nghĩa Lộ phố (còn gọi là Nghĩa Lộ), được xây dựng trên một quả đồi có khoảng 500 quân đồn trú. Sân bay dã chiến của phân khu trải dài từ cứ điểm Nghĩa Lộ phố về phía đông. Cứ điểm Pú Chạng (còn gọi là Nghĩa Lộ đồi) có 300 quân chiếm đóng, địa thế rất hiểm trở, có 8 lô cốt, 15 ụ súng, có hầm ngầm kiên cố với nhiều hỏa điểm từ trên các điểm cao bố trí rất lợi hại, có 3 đến 4 hàng rào dây thép gai, xen kẽ là các bãi mìn dày đặc.
Phát hiện các dấu hiệu quân ta tiến công vào Nghĩa Lộ, từ ngày 13 tháng 10 năm 1952, Thiếu tá Tiriông, Chỉ huy trưởng Phân khu Nghĩa Lộ đã đưa Bộ chỉ huy phân khu lên Nghĩa Lộ đồi và ra lệnh cho Boalô, Chỉ huy phó phân khuở lại Nghĩa Lộ phố củng cố thêm hệ thống phòng ngự và bắt liên lạc với tề điệp dò la tình hình quân ta.
Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn. Để tạo thế cho Đại đoàn 308 chiếm lĩnh trận địa tiêu diệt Nghĩa Lộ, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đánh trước vị trí Ca Vịnh: Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 đánh trước vị trí Sài Lương, đồng thời bố trí lực lượng đánh viện trên đường Gia Hội.
Bị đánh bất ngờ, địch không kịp đối phó, chúng vội rút khỏi Ca Vịnh và Sài Lương. Ngày 15 tháng 10, rút khỏi Thượng Bằng La và sang ngày 16 tháng 10, bỏ cả Ba Khe về Làng Nhì.
Ngày 15 tháng 10 năm 1952, tướng Đờ Linarét, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ đã điều Tiểu đoàn 3 lê dương từ đồng bằng lên Nà Sản. Ngày 16 tháng 10, thả Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 xuống Tú Lệ đế chặn đường tiếp tế của ta, hòng giữ Sơn La và giải tỏa cho Nghĩa Lộ.
Phát huy thế tiến công, ngày 17 tháng 10 năm 1952, Đại đoàn 308 sử dụng hai trung đoàn đánh Nghĩa Lộ phố và Nghĩa Lộ đồi. Kế hoạch của Đại đoàn là diệt Nghĩa Lộ đồi trước, sau đó gọi hàng hoặc diệt Nghĩa Lộ phố trong cùng một đêm.
Theo kế hoạch tác chiến của Đại đoàn 308, trong đêm 17 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 102 có nhiệm vụ tiêu diệt nhanh, gọn cứ điểm Nghĩa Lộ đồi, để nếu thời cơ thuận lợi Trung đoàn 88 tiến đánh và diệt xong đồn Nghĩa Lộ phố trước rạng sáng ngày 18 tháng 10, không cần đợi tớiđêm 18 tháng 10.
Để tấn công Nghĩa Lộ đồi, Trung đoàn 102 được tăng cường 2 đại đội của Tiểu đoàn 322 thuộc Trung đoàn 88, 3 khẩu sơn pháo 75mm và 3 khẩu súng cối 120mm.
Với sự chuẩn bị chu đáo, rạng sáng ngày 17 tháng 10 năm 1952, theo lệnh của Trung đoàn trưởng Vũ Yên, các đơn vị của Trung đoàn 102 bí mật vận động vào chiếm lĩnh các trận địa gần địch, siết chặt vòng vây quanh Nghĩa Lộ đồi.
Tới 15 giờ cùng ngày, địch từ trong cứ điểm Nghĩa Lộ đồi phát hiện thấy bộ phận cảnh giới của Tiểu đoàn 54 (hướng chủ yếu), chúng liền dùng pháo binh và 4 máy bay ném bom, bắn phá vào đội hình của Đại đội 267 (đơn vị chủ công của Tiểu đoàn 54), làm hơn 30 cán bộ, chiến sĩ bịthương vong.
Trước diễn biến mau lẹ của tình hình, Trung đoàn trưởng Vũ Yên đề nghị với Bộ Tư lệnh Đại đoàn 308 cho Trung đoàn 102 được nổ súng tiến công sớm hơn 30 phút, vào lúc 17 giờ. Nhận được báo cáo, không bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch, Đại đoàn nhanh chóng ra lệnh: 16 giờ 30 Đại đoàn sẽ cho sủng côỉ 120mm bắn dồn dập vào đồn Nghĩa Lộ phố để đánh lạc hướng dịch, tạo điều kiện thuận Lợi cho Trung đoàn 102 tiến công Nghĩa Lộ đồi.
17 giờ ngày 17 tháng 10 năm 1952, các đơn vị của Trung đoàn 102 đồng loạt nổ súng tiến công cứ điểm Nghĩa Lộ đồi. Trên hướng tiến công chủ yếu, khẩu sơn pháo 75mm nhanh chóng phá hủy các lô cốt của địch, dập tắt kịp thời các hỏa điểm, chi viện đắc lực cho Tiểu đoàn 04 mở cửa đột phá. Trên các hướng thứ yếu, các chiến sĩ đã khắc phục mọi khó khăn, tiến lên phía trước phối hợp với hướng chủ yếu. Sau 3 giờ giao tranh ác liệt, Trung đoàn 102 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Nghĩa Lộ đồi, diệt và bắt trên 300 tên, thu và phá hủy toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.
Chiến thắng Nghĩa Lộ đồi đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 88 tiến công Nghĩa Lộ phố ngay trong đêm 17 rạng ngày 18 tháng 10 năm 1952.
Theo kế hoạch, đêm ngày 18 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 88 mới đánh đồn Nghĩa Lộ phố, nhưng khi nhận thấy Trung đoàn 102 có khả năng dứt điểm sớm Nghĩa Lộ đồi, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đã lệnh cho Trung đoàn 88 xuất kích đánh đồn Nghĩa Lộ phố ngay. Bởi vậy, trong khi Trung đoàn 102 đang đánh đồn Nghĩa Lộ đồi, thì dưới ánh pháo sáng của địch, Trung đoàn 88 nhanh chóng tiến vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tấn công.
Pháo 75mm và súng cối 82 của Trung đoàn 88 dồn dập bắn vào các vị trí tập trung hỏa lực của địch. Các tiểu đoàn vừa đánh bộc phá, vừa cắt rào dây thép gai, tấn công vào các lô cốt vòng ngoài.
Ở mũi Tiểu đoàn 23, Đại đội 209 đánh bộc phá mở cửa mở vào chiếm lô cốt đầu cầu. Khi thấy mũi Đại đội 219 (Tiểu đoàn 29) gặp khó khăn ở cửa mở (vì 3 quả bộc phá bị thối không nổ), Tiểu đoàn trưởng lệnh cho Đại đội 211 phát triển sang đánh chiếm lô cốt đầu cầu do Tiểu đoàn 29 đảm nhiệm, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 29 bắc ván, trải chăn qua hàng rào tiến vào trong đồn.
Ở mũi Tiểu đoàn 322, Đại đội 229 và Đại đội 231 không có bộc phá, Tiểu đoàn trưởng nhanh chóng ra lệnh cho các đơn vị dùng hỏa lực chế áp địch để cho bộ đội dùng kéo cắt hàng rào thép gai, mở cửa mở.
Hơn lúc nào hết, cuộc chiến đấu ở khu vực tiền duyên diễn ra vô cùng ác liệt. Tuy nhiên, bằng tinh thần quả cảm anh dũng chiến đấu quên mình, đến 5 giờ 30 phút sáng ngày 18 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 88 đã hoàn toàn làm chủ Nghĩa Lộ phố; diệt gần 100 tên dịch, bắt 235 tên, thu hơn 250 khẩu súng các loại, trong đó có 1 khẩu đại bác 105mm, 2 khẩu ĐKZ 57mm.
Như vậy, đến ngày 18 tháng 10 năm 1952, những trận đánh then chốt đầu tiên của chiến dịch Tây Bắc ở Phân khu Nghĩa Lộ đã giành thắng lợi vang dội1 (Kết quả toàn chiến dịch,tuy đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.029 tên địch (diệt 1.005 tên), diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội địch. Giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 30.000km2 với 250.000 dân). Ta thương vong gần 6.000 người. Số liệu trong Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân. H. 2000. tr.400). Báo cáo về tình hình Nghĩa Lộ, tướng Đờ Linanét, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ thừa nhận: "Quân đồn trú ở đó đã bị choáng váng, mê muội đi vì mật độ và tính chính xác đến ghê rợn của hỏa lực pháo binh, súng cối của đối phương... Khi màn đêm vừa buông xuống, lớp lớp người đã xung phong vào đồn cao. Súng không giật và bộc phá nổ nhức tai. Không đầy một giờ, đồn cao bị tiêu diệt, có nghĩa là bản án tử hình đối với Phân khu Nghĩa Lộ đã kỹ xong"1 (Trần Đông: Trận tiêu diệt cứ điểm Pú Chạng, đêm ngày 17 tháng 10 năm 1952, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5 năm 1997, tr. 57).
Chiến thắng Nghĩa Lộ không chỉ khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sửc sáng tạo tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến đấu mà qua đó còn thấy được sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trong những trận chiến đấu quyết định của một chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Năm tháng qua đi, nhưng bài học kinh nghiệm của chiến thắng Nghĩa Lộ trong chiến dịch Tây Bắc 1952 rất cần được đúc kết, chắt lọc và vận dụng sáng tạo vào huấn luyện, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đảm bảo đánh tháng địch trong mọi tình huống, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:41:06 pm » |
|
MỘC CHÂU - TRẬN THEN CHỐT TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 Đại tá NGUYỄN TRƯỜNG GIANG Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sau thất bại ở Hoà Bình và đồng bằng Bắc Bộ, quân Pháp gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chính trị, quân sự, buộc phải chuyển vào phòng ngự chiến lược. Được đế quốc Mỹ viện trợ, thực dân Pháp tuyển mộ thêm 160.000 quân ngụy thực hiện từng bước cuộc chiến tranh tổng lực nhằm làm suy yếu ta. Ý định của địch sẽ tiến hành càn quét vùng tạm chiếm, triệt hạ các khu căn cứ du kích của ta, cướp phá kinh tế, tăng cường các hoạt động phá hoại, củng cố ngụy quân, ngụy quyền, phát triển quân ngụy để tập trung quân viễn chinh đối phó với chủ lực của ta. Về ta với thắng lợi ở Hòa bình, ta đã giành lại quyền chủ động chiến lược. Tuy nhiên, căn cứ vào so sánh lực lượng trên chiến trường, Trung ương Đảng ta nhận định: Lực lượng của ta đã trưởng thành và mạnh lên, nhưng tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch chưa có gì thay đổi lớn, ta vẫn ở thế yếu hơn địch cả về lực lượng và vũ khí trang bị kỹ thuật. Từ nhận định đó, tháng 3 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định chọn hướng Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công địch, vì đây là chiến trường phù hợp với thế và lực của ta, nó quyết định bước phát triển mới nhằm giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược. Mục đích của chiến dịch nhằm "tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược". Lực lượng tham gia trên hướng chính của chiến dịch 1 (Ngoài hướng chính, chiến dịch còn xác định hướng phối hợp nghi binh ở trung du và Liẻn khu 3. Ở trung du, hướng nghi binh chính là Vĩnh Phúc, hướng nghi binh phụ ở Bắc Giang. Ở Liên khu 3, ta tiến hành nghi binh trên ba hướng Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình; riêng hướng Ninh Bình, ta vừa nghi binh, vừa chuẩn bị cho 2 đại đoàn 320 và 304 vào hoạt động ở địch hậu. Hướng đề phòng địch đánh lên Phú Thọ) được sử dụng gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316), Trung đoàn 148 của Mặt trận Tây Bắc và bộ đội địa phương của Yên Bái, Sơn La và miền Tây Phú Thọ; 1 trung đoàn sơn pháo 75mm (24 khẩu), 3 đại đội súng cối 120mm (12 khẩu); 2 tiểu đoàn SMPK 12,7mm và 3 tiểu đoàn công binh. Tây Bắc là vùng rừng núi rộng lớn, có 4 cánh đồng lớn là Phù Yên, Than Uyên, Nghĩa Lộ và Mường Thanh, có nhiều dãy núi cao trên 1.000m, cao nhất là dãy Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.142m. Đi vào Tây Bắc có 2 đường chính là đường 13 từ Yên Bái vào Ba Khe, Phù Yên, Tạ Khoa, Cò Nòi gặp đường 41 và đường 6 từ Hoà Bình lên Mộc Châu, nối liền đường 41 đi lên Sơn La, Lai Châu. Các con đường này ô tô có thể đi được nhưng đã bị phá hoại nhiều, chỉ đi được từng quãng ngắn (giữa các đồn bốt địch), đặc biệt là các đoạn gần vùng tự do của ta bị phá hoại hoàn toàn, lâu ngày biến thành rừng không còn dấu vết. Ngoài ra muốn tiến vào Tây Bắc phải vượt qua 2 con sông lớn đó là sông Hồng và sông Đà (hồi đó là ranh giới giữa ta và địch). Tây Bắc là một khu vực quan trọng có ý nghĩa chiến lược không chỉ với ta mà còn cả với địch. Đối với địch, chiếm giữ địa bàn vùng này chúng sẽ uy hiếp, khống chế bên sườn, phía sau vùng căn cử địa, chia cắt căn cứ địa Việt Bắc với Liên khu 3 của ta và che chở cho chúng ở Thượng Lào. Để giữ Tây Bắc, địch tổ chức lực lượng thành một liên khu độc lập gồm 4 phân khu là Nghĩa Lộ, Sơn La, Lai Châu, Sông Đà và 1 tiểu khu độc lập Tuần Giáo. Lực lượng địch ở Tây Bắc có 8 tiểu đoàn bộ binh, 40 đại đội Thái làm nhiệm vụ chiếm đóng và 11 khẩu pháo các loại. Cụ thể: Phân khu Nghĩa Lộ có Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội; Phân khu Sông Đà có Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội; Phân khu Sơn La có Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội; Phân khu Lai Châu có Tiểu đoàn Thái thuộc địa và 14 đại đội; Tiểu khu Tuần Giáo có Tiểu đoàn độc lập Thái. Lực lượng cơ động có 3 tiểu đoàn Phi ở Sơn La và Lai Châu. Toàn bộ khu vực địch chiếm đóng có 400 cứ điểm, trong đó có 40 cứ điểm đại đội, riêng ở 2 vị trí Mộc Châu và Nghĩa Lộ án ngữ đường 41 và đường 13 mỗi nơi địch đóng 1 tiểu đoàn, công sự vật cản được chúng xây dựng kiên cố vững chắc. Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh dự kiến 2 phương án tác chiến 1 (Phương án 1: Tập trung toàn bộ 8 trung đoàn, tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời cho một bộ phận lực lượng vào Phù Yên, Quỳnh Nhai phát động quần chúng đấu tranh. Sau đó 2 trung đoàn của Đại đoàn 308 về Phú Thọ bảo vệ hậu phương, lực lượng còn lại đánh chiếm Sơn La. Phương án 2: Tập trung 6 trung đoàn thuộc 2 đại đoàn 308 và 312 (trừ 1 trung đoàn) và Trung đoàn 174 cùng lực lượng binh chủng tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ. Hai trung đoàn thuộc Đại đoàn 316 cùng lực lượng binh chủng tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên. Sử dụng một số tiểu đoàn của Đại đoản 316 và Trung đoàn 148, thâm nhập vào hậu địch ở Sơn La, Yên Châu, Mai Sơn, Mường Lay phát động quần chúng nhân dân đấu tranh, chuẩn bị điều kiện thuận lợi để tiến đánh Sơn La sau này. Sau khi giải quyết song Nghĩa Lộ, 2 trung đoàn của Đại đoàn 308 quay về đại đoàn để bảo vệ hậu phương chiến dịch, lực lượng còn lại đánh vào Sơn La), sau khi phân tích ta quyết định thực hiện theo phường án 2, với quyết tâm: Tập trung binh hoả lực tiêu diệt dịch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt Tiểu khu Phù Yên giải phóng 2 khu vực trên, phát triển thuận lợi quét sạch địch đến bờ sông Đà, tạo điều kiện thuận lợi để tiến công giải phóng Sơn La. Trong kế hoạch tác chiến chiến dịch. Bộ Tư lệnh xác định: Trên hướng chính sử dụng lực lượng 2 đại đoàn 308 và 312 (trừ Trung đoàn 36), Trung đoàn 174, lực lượng các binh chủng phối thuộc, 4 đại đội địa phương Yên Bái. Trên hướng phụ, sử dụng Trung đoàn 98, các binh chủng phối thuộc và Tiểu đoàn địa phương Phú Thọ. Hướng Lai Châu, sử dụng Trung đoàn 148 và 2 đại đội địa phương. Chiến dịch chia thành 3 đợt: Đợt 1, ta tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận thâm nhập vào Quỳnh Nhai phối hợp với lực lượng địa phương kiềm chế địch. Trận Nghĩa Lộ sẽ là trận đánh lớn có ý nghĩa then chốt. Đợt 2, ta dự kiến 2 tình huống; nếu đợt 1 hoàn thành nhiệm vụ thuận lợi, ta phát triển nhanh dùng đại bộ phận lực lượng đánh vào Sơn La, đồng thời dùng một bộ phận lực lượng cắt đường 41 ở Cò Nòi và đánh xuống phía nam đường 41; nếu đợt 1 gặp khó khăn thì đánh vùng Nam Sơn La trước bằng 2 cánh quân; cánh quân thứ nhất từ Tạ Khoa theo đường 13 tiến ra Cò Nòi cắt đường 41, tiến xuống phía đông nam; cánh thứ 2, từ Vạn Yên tiến ra Mộc Châu, từ đông nam đánh lên, đồng thời cho một bộ phận vào địch hậu phát động quần chúng tạo điều kiện cho đợt 3 đánh vào Sơn La.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:43:08 pm » |
|
Theo kế hoạch, ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch mở màn. Sau 10 ngày tiến công, ta đã đánh chiếm Phân khu Nghĩa Lộ, diệt 500 tên địch, bắt 1.000 tên, giải phóng một vùng quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, rộng khoảng 1.000km2. Trước tình hình trên, địch vội vã tăng cường cho Tây Bắc 4 tiểu đoàn giữ phòng tuyến sông Đà và Nà Sản, nâng lực lượng ở Tây Bắc lên 16 tiểu đoàn và 32 đại đội, tổ chức ở Tây Bắc thành 2 mặt trận Sơn La và Lai Châu. Tại Mặt trận Sơn La, địch lấy Nà Sản làm căn cứ hành quân chính, lập phòng tuyến mới (Lansade) ở hữu ngạn sông Đà. Địch bố trí dọc tuyến sông Đà 3 chi đoàn, chi đoàn Béthenot phụ trách khu vực Hát Tiêu - Mường Lụm, chi đoàn Favreau phụ trách khu vực Tạ Khoa, chi đoàn Rouquette phụ trách khu vực Bản Hoa. Trong lúc ta đang chuẩn bị cho đợt 2 thì địch huy động 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 hai đoàn, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 7 đại đội công binh mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ.
Bước vào đánh đợt 2 của chiến dịch ta dự kiến 2 phương án1 (Phương án 1, đánh ngay vào Sơn La; phương án 2, giải phóng vùng Đóng Nam Sơn La trước (Mộc Châu, Cò Nòi) sau đó tổ chức thém đợt thứ 3,giải phóngTây Bắc Sơn La): Do điều kiện thực hiện ở phương án 1 gặp khó khăn2 (Sau đợt 1 của chiến dịch, địch đã kịp thời tăng cường lực lượng lập phòng tuyến ở hữu ngạn sông Đà vững chắc. Việc đảm bảo hậu cần của ta gặp khó khăn), Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch chọn phương án 2, hướng chính của chiến dịch là vùng đông nam Sơn La, lực lượng sử dụng trên hướng chính là 6 trung đoàn cùng lực lượng binh chủng có nhiệm vụ phá vỡ thế trận của địch ở nam Sơn La. Tại đây, địch có các cứ điểm chính là Mộc Châu do 1 tiểu đoàn Thái đóng giữ. Phía bắc Mộc Châu là vị trí Bản Hoa do phần lớn Tiểu đoàn Marốc thứ 3 chiếm giữ, quân số khoảng hơn 300 tên do tên quan ba Rukét chỉ huy, vũ khí nặng có pháo 57mm, súng cối và đại liên... Phía đông Bản Hoa là Ba Lay do Đại đội 10 của 1 tiểu đoàn Maroc thứ 3 đóng tại đây trên một quả đồi cao có 2 mỏm. Phía bắc Bản Hoa. giữa Tạ Khoa và Ba Lay là các vị trí Mường Lụm và Hát Tiêu, mỗi vị trí do khoảng 1 đại đội của địch đóng giữ, án ngữ phía đông Yên Châu.
Trong đó, cứ điểm Mộc Châu được xây dựng trên một núi đá tai mèo độc lập, cao 35m so với mặt đất, rộng 40m và dài 100m, hình bầu dục, bên cạnh ngã ba đường 41 và đường 43, thuộc thị trấn Mộc Châu (Sơn La). Tiếp giáp xung quanh cứ điểm của địch cách từ 300 đến 500m là các dãy núi đá, đồi đất, rừng cây rậm rạp. Phía đông bắc khoảng 300m có 2 núi đá Pom Lót và Pom Thắm cao khoảng 80m, địch đã lợi dụng xây dựng thành tiền tiêu để bảo vệ cứ điểm. Sườn phía đông nam cứ điểm có yên ngựa nối với dãy Pom Lót, dốc thoái, còn các hướng khác là vách đá dựng đứng. Sau khi mất Nghĩa Lộ, địch xây dựng nơi đây thành tiền đồn vững chắc bảo vệ Sơn La. Địch bố trí 1 lô cốt mẹ, cao 2,5m, mỗi cạnh rộng từ 3 đến 4m, tường dày 0,8m (dưới có hầm ngầm, từ đây có hào nối thông với các lô cốt 2 và 3 ở phía bắc và lô cốt 7, 8 ở phía nam). Xung quanh lô cốt mẹ có 3 lô cốt nhỏ, mỗi cái cao 2m. Ra xa hơn xung quanh cứ điểm, địch xây dựng 9 lô cốt nhỏ khác, xen kẽ giữa các lô cốt có các nhà lính (có tường dày 0,3m). Ngoài ra địch còn lợi dụng các hốc, khe đá ở sườn núi để xây dựng các công sự chiến đấu và các đoạn hào để cơ động. Xung quanh cứ điểm, địch xây tường đá cao 1,5m, dày 1m với nhiều lỗ bắn. Bên ngoài tường đá là 4 lớp hàng rào kẽm gai kiểu mái nhà và cũi lợn, mỗi lớp hàng rào cách nhau từ 5 đến 7m, xen kẽ có các bãi mìn chống bộ binh. Từ cứ điểm có lối ra ở phía bắc có đặt 4 cự mã. Lực lượng địch chốt giữ tại đây là Tiểu đoàn ngụy Thái; vũ khí có: 1 pháo 94mm, 1 khẩu cối 81mm, 4 khẩu cối 61mm, 1khẩu 12,7mm, 2 đại liên, 27 trung liên, còn lại là súng trường. Phần lớn lực lượng đóng trong cứ điểm, có 2 tiểu đội giữ Pom Lót và Pom Thắm, 2 trung đội địa phương quân ở trại tập trung dân (cách cứ điểm 500m về phía nam).
Tổ chức trận đánh lớn then chốt trên hướng chính. Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng Đại đoàn 312 (thiếu trung đoàn 165) được phối thuộc 1 trung đội cối 120mm, 1 đại đội 12,7mm có nhiệm vụ tiêu diệt Tiểu đoàn 3 Marốc ở Ba Lay, Bản Hoa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đại đoàn sẽ về làm dự bị cho chiến dịch. Đại đoàn 316 (thiếu Trung đoàn 176), được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội cối 120mm, tiến công cứ điểm Mộc Châu, ngăn chặn Tiểu đoàn 3 Marốc không cho chạy về Mộc Châu và Cò Nòi; trường hợp Tiểu đoàn 3 Marốc bị diệt thì tập trung 2 trung đoàn đánh Mộc Châu. Đại đoàn 308 (trừ Trung đoàn 36) có nhiệm vụ tiêu diệt vị trí Mường Lụm, Hát Tiêu, sử dụng Trung đoàn 102 thiếu làm dự bị. Để hỗ trợ cho hướng chính Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường Trung đoàn 165 cho hướng thọc sâu (Mặt trận Y13) thành 4 tiểu đoàn, có nhiệm vụ lợi dụng sơ hở của địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, tranh thủ nhân dân, phát triển du kích chiến tranh...
Thực hiện theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, trong lúc quân ta trên hướng chính cơ động vượt sông vào tiến công địch thì trên hướng thọc sâu nam Lai Châu của Trung đoàn 165, ngày 7 tháng 11, ta nổ súng trước, địch tương đây là hướng tiến công chính của ta lập tức điều động 2 tiểu đoàn tăng cường cho Lai Châu và 2 tiểu đoàn tăng cường cho Nà Sản. Chớp thời cơ đó, các đơn vị của ta trên hướng chính đã vượt sông an toàn vào tiến công địch. Đêm 16 tháng 11 năm 1952, quân ta hành quân vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, bao vây chặt quân dịch. Trong quá trình đó, một bộ phận của Đại đoàn 316 bị địch phát hiện, 2 trung đội địa phương quân của chúng rút chạy, ta giải tán trại tập trung, đưa dân ra vị trí an toàn. Ngày 17, Trung đoàn 209 tiêu diệt vị trí Bản Hoa; ngày 19, Trung đoàn 141 tiêu diệt vị trí Ba Lay. Như vậy các đơn vị của Đại đoàn 312 đã xoá sổ Chi đoàn Ru Két. Ngày 18, Trung đoàn 102 tiêu diệt vị trí Hát Tiêu, Trung đoàn 88 tiêu diệt vị trí Mường Lụm, Chi đoàn Bê Thơ Nõt của địch bị tan rã, Chi đoàn Pha Vơ Rêở Tạ Khoa tháo chạy về Cò Nòi. Các đơn vị của ta truy kích quét sạch toàn bộ phòng tuyến hữu ngạn sông Đà của địch.
Tại vị trí Mộc Châu, đúng 23 giờ 30 phút ngày 19, trên các hướng bộ đội ta đã chiếm lĩnh xong và thực hành tiến công. Trong khi pháo cối của ta chế áp vào các mục tiêu trong cứ điểm. Đại đội 653 bí mật tiếp cận tập kích tiêu diệt 2 tiểu đội địch ở mỏm Pom Lót và Pom Thắm, sau đó dùng súng máy yểm trợ cho đơn vị mở cửa mở. Qua những phút đầu hoảng sợ lúng túng, địch tổ chức hoả lực chi viện cho bộ binh phản kích bịt các cửa mở của quân ta, trên các hướng bộ đội không đột phá được buộc phải dừng lại. Trước tình hình đó, chỉ huy trận đánh lệnh cho các đơn vị củng cố lực lượng và đội hình, tập trung pháo, cối chế áp các hoả điểm ngụy hại của địch. Lợi dụng kết quả bắn của pháo binh, quân ta trên các hướng nhanh chóng mở thông cửa mở. Trên hướng thứ yếu, quân ta chiếm xong lô cốt đầu cầu, phát triển sang cổng chính thì bị địch chặn lại. Cùng lúc, trên hướng chủ yếu, Đại đội 317 sau khi vượt qua cửa mở đã lợi dụng các mô đá, góc tử giác tiếp cận tiêudiệt địch ở lô cốt số 9, sau đó được sự chi viện hỏa lực kịp thời của pháo binh, nhanh chóng thọc sâu đánh vào sở chỉ huy, trận địa pháo binh địch; quân ta vừa tiến, vừa đánh dấu đường cho các lực lượng phía sau tiến vào đánh các mục tiêu trong tung thâm. Đại đội 317 nhanh chóng đánh chiếm được sở chỉ huy, trận địa pháo địch đã nhanh chóng phát triển, tổ chức các mũi từ trên cao đánh tỏa xuống. Bị mất đỉnh núi, bị đánh từ bên trong và cả bên ngoài, quân địch bắt đầu rối loạn. Chớp thời cơ đó, trên các hướng của Tiểu đoàn 255 và 251 đánh vào từ bên ngoài, phối hợp chặt chẽ với Tiểu đoàn 249 từ bên trong đánh ra, diệt gần hết địch. Một bộ phận còn lại chạy ra phía sân bay, bị Tiểu đoàn 439 đón lõng bắt gọn. Đúng 2 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 11, quân ta làm chủ cứ điểm, diệt và bắt toàn bộ Tiểu đoàn 3 Marốc, thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, giải phóng 1.000 dân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:44:44 pm » |
|
Trước tình hình trên, quân Pháp ở các vị trí Chiềng Pan, Sông Con, Tạ Say, Sa Piệt, Tạ Khoa... Sơn La vội vã rút chạy. Đường số 6 được khai thông, cửa ngõ vào Tây Bắc được mở rộng. Chớp thời cơ vô cùng thuận lợi đó, lực lượng trên hướng thọc sâu chiến dịch đã liên tục tiến công tiêu diệt địch ở Mường Sài, Mường Piềng, Thuận Châu và tiến vào tiếp quản Sơn La. Ta giải phóng một vùng rộng lớn gồm 6 huyện: Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu và Điện Biên, với diện tích khoảng 28.500km2 và 250.000 dân; rút ngắn thời gian chiến dịch, không phải mở đợt 3 đánh vào Sơn La. Tổ chức thắng lợi trận then chốt trong đợt 2 của chiến dịch Tây Bắc đã để lại cho ta những bài học quý giá chủ yếu sau:
Một là, ta đã lựa chọn chính xác hướng, mục tiêu đánh trận then chốt, có công tác chuẩn bị chu đáo.
Thành công của trận đánh trước hết ngay từ đầu Bộ chỉ huy chiến dịch đã chọn hướng tiến công chính xác, xác định đúng khu vực mục tiêu đánh trận then chốt. Việc xác định hướng (khu vực) tiến công chủ yếu, phải phụ thuộc vào mục đích của chiến dịch. Mục đích chính của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai quan trọng về chiến lược. Từ tổ chức nắm chắc địch, ta đã xác định tổ chức phòng ngự của địch bên ngoài mạnh, bên trong yếu. Trong kế hoạch tác chiến chiến dịch đã xác định, sau khi phá vỡ tuyến phòng ngự cơ bản của địch trên hướng Nghĩa Lộ, ta sẽ phát triển vào Sơn La. Tuy nhiên do ta có khó khăn về công tác đảm bảo nên chuẩn bị chậm, do đó sau đợt 1 của chiến dịch, địch đã kịp thời tăng cường lực lượng, lập ngay tuyến phòng ngự (Lansade) ở hữu ngạn sông Đà. Bước vào đợt 2 của chiến dịch, ta chọn hướng (khu vực) tác chiến chủ yếu ở đông nam Sơn La là hoàn toàn chính xác. Đây là khu vực mà từ căn cứ địa, vùng tự do ở Việt Bắc, Hoà Bình, Thanh Hoá của ta có điều kiện huy động nhân lực, vật chất đảm bảo cho tác chiến. Đây cũng là hướng ta có thể nhanh chóng cơ động lực lượng chủ lực chuyển hướng tiến công sang. Giải phóng được khu vực này còn đáp ứng được mục đích, yêu cầu của chiến dịch là phá vỡ thế phòng ngự của địch, mở toang cánh cửa tiến vào Tây Bắc. Về mục tiêu tiến công đánh trận then chốt, trong khu vực đông nam Sơn La, địch bố trí các mục tiêu chính ở Mộc Châu, Bản Hoa, Ba Lay, Mường Lụm và Hát Tiêu. Các vị trí này của địch đều án ngữ trên con đường từ Vạn Yên về Mộc Châu và từ Vạn Yên theo dọc tuyến sông Đà, tạo thành một lá chắn che chở cho cao nguyên Mộc Châu; đặc biệt là vị trí Mộc Châu án ngữ ngã ba hai con đường 41 và 13. Từ các căn cứ trên, Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm, tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực tiến công đập vỡ "cối lá chắn thép" của địch.
Từ lựa chọn hướng tiến công và khu vực mục tiêu đánh trận then chốt, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo tiến hành chu đáo các công tác chuẩn bị. Do địch thường xuyên sử dụng không quân đánh phá ác liệt, thời tiết khác nghiệt, kế hoạch bảo đảm hậu cần của ta chưa sát, công tác chuẩn bị cho trận đánh then chốt được chiến dịch chuẩn bị rất khẩn trương. Để nắm chắc địch, chiến dịch đã phải trinh sát vào Tạ Khoa, Cò Nòi, Hát Tiêu, nhất là ở Mộc Châu, Yên Châu nơi xác định hướng tiến công chủ yếu. Để cơ động bộ đội vào tiến công, chiến dịch ra chỉ thị hướng dẫn cho các đơn vị vượt sông bí mật, an toàn. Việc đảm bảo vật chất cho bộ độita khó khăn, nặng nề nhất, chiến dịch đã huy động lực lượng sửa đường 13, làm gấp đoạn đường bộ từ Ba Khe qua đèo Lũng Lô xuống Quang Huy và đường từ Tổng Cao, Thu Cúc, Quang Huy để đưa gạo từ Phú Thọ lên, sửa gấp đường từ Suối Rút lên Mộc Hạ, Xồm Lồm dài 200km, huy động 30 xe ô tô, 1.000 xe đạp thồ chuyển gạo từ Hồi Xuân, Thanh Hoá lên. Ngoài ra chiến dịch còn tận dụng thời cơ giải phóng Nghĩa Lộ, huy động 2 vựa lúa Quang Huy và Phù Yên được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt. Tổng số ta đã huy động được 1.160 tấn gạo, 40 tấn thịt bảo đảm cho bộ đội. Ngoài công tác bảo đảm, các phân đội còn tăng cường thang ván, giày để vượt núi đá tai mèo. Kết quả của trận then chốt đã khẳng định việc lựa chọn hướng và mục tiêu đánh trận then chốt hoàn toàn chính xác.
Hai là, ta đã xác định phương pháp tác chiến phù hợp, vận dụng linh hoạt chiến thuật và các thủ đoạn tác chiến đánh trận then chốt.
Từ nắm chắc địch, lựa chọn chính xác hướng (khu vực) mục tiêu đánh trận then chốt, Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng 6 trung đoàn cho trận đánh then chốt, dự kiến đúng các khả năng hành động có thể của địch, chuẩn bị sẵn các phương án, lực lượng, thế trận và chỉ đạo tốt về vận dụng chiến thuật và cách đánh. Từ đặc điểm của chiến dịch Tây Bắc là tiến công quân địch phòng ngự trên chiến trường rừng núi, lực lượng của chúng phân tán, cô lập. Tuy nhiên địch có thể nhanh chóng tăng viện bằng quân nhảy dù, hoặc cơ động từ các vị trí lớn ra tiếp ứng. Về trình độ công sự trận địa, địch có một số cứ điểm có công sự vững chắc ở các phân khu, tiểu khu phía ngoài, còn ở phía sau các cứ điểm đều có công sự sơ sài, các cứ điểm nhỏ, lẻ khi bị đánh có thể nhanh chóng rút chạy co về các cứ điểm lớn. Từ đó, về phương pháp tác chiến chiến dịch, Bộ chỉ huy đã kiên quyết tập trung lực lượng đủ mạnh đột phá chiến dịch phá vỡ hệ thống cứ điểm phòng ngự mạnh bên ngoài bảo vệ cho cao nguyên Mộc Châu; đồng thời kiên quyết tăng cường lực lượng (Trung đoàn 165) cho hướng thọc sâu (Mặt trận Y13) để có thể nhanh chóng khiến quân của chúng nhanh chóng rối loạn, tạo thời cơ tiến công phá vỡ thế trận của địch. Trong tổ chức tiến công, ta cũng dự kiến sẵn các tình huống đánh địch nhảy dù cứu viện, chặn cắt và ngăn chặn tiêu diệt quân địch rút chạy.
Về vận dụng chiến thuật đánh trận then chốt, ta đã vận dụng các hình thức chiến thuật công kiên, tập kích, phục kích, truy kích và các thủ đoạn chiến đấu bao vây,thọc sâu, đón lõng, phòng ngự... cũng được vận dụng linh hoạt trong quá trình chiến đấu. Đặc biệt là trong tổ chức tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc, ta đã quán triệt nguyên tắc cơ bản của chiến thuật, kiên quyết sử dụng binh hoả lực đủ sức đột phá (1 tiểu đoàn tăng cường hoặc trung đoàn tiến công cứ điểm đại đội hoặc đại đội tăng cường của địch; 1 trung đoàn được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh và các phân đội hoả lực, đảm bảo chiến đấu tiến công cứ điểm tiểu đoàn của địch). Một bước phát triển trong vận dụng chiến thuật công kiên là ta tổ chức tiến công vào một cứ điểm tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc, trên một địa hình phức tạp núi đá tai mèo ở Mộc Châu, ta đã phát huy được trí tuệ của tập thể, chọn cách đánh phù hợp, xác định hướng tiến công chính xác, có công tác chuẩn bị chu đáo, tổ chức đội hình hợp lý, tạo được thế bao vây chia cắt, sử dụng lực lượng tập trung vào hướng chủ yếu, có ưu tiên hợp lý hướng khác, có lực lượng tiến công, có lực lượng bao vảy đón lõng, đồng thời có lực lượng dự bị mạnh sẵn sàng sử đụng vào hướng tiến công chủ yếu. Trình độ hiệp đồng củng phát triển cao hơn, bộ binh và pháo binh hiệp đồng chặt chẽ, tạo nên được sức mạnh đột phá. Lực lượng thọc sâu đã thực hiện dược ý định của chỉ huy, thọc sâu nhanh đánh chiếm địa hình có lợi nhanh chóng diệt mục tiêu chủ yếu, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng bên trong và các hướng, mũi bên ngoài. Trong đó, ta phát huy được tổ 3 người trong chiến đấu, nên đã phát triển tiến công nhanh, vững chắc, nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu. Tuy nhiên trong vận dụng chiến thuật và thủ đoạn tác chiến, ta vẫn còn có những hạn chế, thực hiện truy kích không nhanh, mạnh, có những trận bao vây không chặt, không đón lõng...
Ba là, ta đã tạo lập thế trận vững chắc, tổ chức chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ các Lực lượng đánh trận then chốt.
Đây là lần đầu tiên ta sử dụng lực lượng ở quy mô 3 đại đoàn (thiếu) được tăng cường binh khí kỹ thuật tiến công đột phá tuyến phòng ngự mạnh của địch ở chiến trường Tây Bắc. Để đánh trận then chốt phá vỡ "lá chắn thép" của địch, trước hết người chỉ huy đã nắm chắc tình hình địch mới có thể xác định chính xác phương pháp tạo lập thế trận tiến công, chỉ đạo việc vận dụng chiến thuật trong tạo lập thế trận và đánh trận then chốt. Mở chiến dịch quy mô lớn tiến công địch ở Tây Bắc, ta cần đề phòng địch thọc vào hậu phương chiến dịch và đặc biệt chú ý yêu cầu đảm bảo bí mật, vì muốn giành thắng lợi lớn phải giữ bí mật thật tốt phải tổ chức khéo nghi binh lừa địch. Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo và tiến hành rất tốt vấn đề này. Ngay trong chuẩn bị và tiến hành đợt 1, các hướng nghi binh chiến dịch ở trung du và Liên khu 3 có sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ chỉ huy chiến dịch, đã đẩy mạnh các hoạt động khiên Bộ chỉ huy quân Pháp đã phán đoán ta sẽ hoạt động ở vùng đồng bằng, nên đã điều động lực lượng tăng cường cho hướng này. Khi ta tiến côngở Tây Bắc, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Tổ chức trận then chốt trong đợt 2, Bộ chỉ huy tiếp tục chỉ đạo các hướng nghi binh đẩy mạnh các hoạt động để phối hợp, đặc biệt là kết quả của hai đại đoàn 320 và 304 ở vùng địch hậu. Ta còn tận dụng được kết quả do đợt 1 tạo ra chuyến hướng tiến công sang đông nam Sơn La thuận lợi.
Từ nắm rõ cách bố trí phòng ngự của địch, thực hiện nghi binh ở hướng chính của chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch còn tăng cường Trung đoàn 165 cho hướng Quỳnh Nhai thành lập Mặt trận Y13, tổ chức thọc sâu vào namLai Châu đã trở thành mũi thọc sâu vu hồi rất lợi hại, có tác dụng lớn; không những đã tạo điều kiện chủ lực trên hướng chính cơ động vào tiến công, mà còn chớp được thời cơ do lực lượng trên hướng chính tạo ra, phát triển rất nhanh và mạnh. Đây là một kinh nghiệm rất quý, có như vậy ta mới giành được thắng lợi to lớn. Do dự kiến chính xác tình huống chiến dịch, điều hành chặt chẽ, trong quá trình chuẩn bị, ta còn tận dụng được kết quả của việc đánh tiêu diệt lớn cánh quân địch thọc lên Phú Thọ. Trong thực hành đánh trận then chốt, Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp chỉ đạo, hiệp đồng chặt chẽ giữa các hướng, giữa các đơn vị và lực lượng. Chính tận dụng được thời cơ đó đợt 1 tạo ra, sự phối hợp giữa các hướng chiến dịch và việc tổ chức thành công các trận đánh của các đại đoàn trong các ngày từ 16 đến 20 tháng 11 dưới sự điều hành trực tiếp của Bộ chỉ huy chiến dịch là một quá trình tạo thế liên tiếp mà đòn quyết định là tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu, phá vỡ hoàn toàn "cái lá chắn thép" mà Bộ chỉ huy quân Pháp đã dày công nghiên cứu tổng kết áp dụng vào chiến trường Tây Bắc, giành thắng lợi vượt mửc yêu cầu đề ra.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:51:44 pm » |
|
ĐÁNH BẠI CUỘC HANH QUÂN LOREN LÀM PHÁ SẢN MỘT ÂM MƯU LỚN CỦA ĐỊCH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC Thượng úy LÊ VĂN THÀNH Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cách đây 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, thực hiện chỉ lệnh của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy về mở chiến dịch tiến công địch trên hướng Tây Bắc, nhằm "tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược" 1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, tr.304), quân và dân ta với tinh thần liên tục tiến công, quyết tâm thực hiện mục tiêu chiến dịch. Sau 3 đợt chiến dịch2 (Đợt 1 (14-23.10.1952): Đập vỡ khu vực phòng ngự Nghĩa Lộ, Phù Yên, giải phóng vùng tả ngạn sông Đà. Đợt 2 (7-22.11.1952): Vượt sông Đà, đập vỡ khu vực phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La, Điện Biên Phủ. Đợt 3 (30.11-10.12.1952): Tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản), ta đã giành thắng lợi, thực hiện được theo đúng ý định chiến dịch đề ra. Đặc biệt, ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường, đẩy địch ngày càng lún sâu vào tình thế bị động, đối phó lúng túng. Một trong những nguyên nhân thành công góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch là ta đã kịp thời đánh tan cuộc hành quân Loren (đánh lên Phú Thọ) của địch, làm phá sản một âm mưu lớn của chúng, có tầm ảnh hưởng lớn đối với toàn bộ kết quả của chiến dịch Tây Bắc. Sau một thời gian dài chuẩn bị, đến tháng 10 năm 1952 mọi công tác chuẩn bị chiến dịch đã hoàn tất. Ngày 14 tháng 10 năm 1952, đợt 1 chiến dịch được bắt đầu, ta tiến công đồng loạt các vị trí như Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên, tiêu diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm (Ca Vịnh, Sài Lương, Pú Chạng, Nghĩa Lộ phố...), đập tan toàn bộ phòng tuyến vành ngoài của địch từ hữu ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, cánh cửa vào Tây Bắc mở tung, thì lúc này Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương mới biết Tây Bắc là hướng chính của ta trong Thu Đông năm 1952 1 (Trước đó, tướng Xalăng (Salan) cho rằng Thu Đông năm 1952, Việt Minh sẽ tiến công ở đồng bằng và đã cho rải lực lượng ở dọc tuyến trung du và sông Đáy. Trong 32 tiểu đoàn cơ động ở Bắc Bộ. Xalăng dùng 29 tiểu đoàn vào việc phòng thủ đồng bằng). Nhưng biết thì đã muộn. Mà đã muộn thì càng phải bị động đối phó để chuốc thêm thất bại. Giữa lúc chiến dịch đang diễn ra sôi nổi, đợt 1 kết thúc, địch thua đau ở Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sơn La lại bị uy hiếp dữ dội. Hoảng hốt trước sức tiến công mãnh liệt của ta, địch một mặt vội vàng tăng cường lực lượng 2 (Bộ chỉ huy Pháp quyết định bỏ vùng là ngạn sông Thao rút sang hữu ngạn sông Đà. Dồn hết quân ở Tây Bắc chạy về Nà Sản, nhanh chóng thiết lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản. Tăng cường lực lượng lập tuyến phòng thủ sông Đà xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để quyết giữ vùng còn lại ở Tây Bắc. Từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 10, tiểu đoàn lê dương (3/3 e REI) đến Sơn La. Ngày 20 và 21 thêm một tiểu đoàn lê dương (3/5 REI) và một Tiểu đoàn Ma rốc (3/10 RTM) đổ bộ xuống NàSản. Tiếp đến, ngày 26, hai tiểu đoàn ngụy từ đồng bằng Bắc Bộ lên tăng cường cho Nà Sản. Phía Lai Châu, địch tăng cường Tiểu đoàn Bắc Phi (27 e BMTS) đến đóng chốt ở thị xã, Tiểu đoàn Angiêri (2/2 RTA) chiếm giữ vùng Phong Thổ và Tiểu đoàn Tabo số 5 (5 e TABOR) đóng ở Puxămcáp. Ngày 2 tháng 11, Tiểu đoàn ngụy Lào (58 e BCL) từ Thượng Lào sang Điện Biên Phủ để củng cố Tiểu khu Quỳnh Nhai mới thành lập. Sau khi tăng cường lực lượng và co cụm về phía tả ngạn sông Đà, quân địch ở Tây Bắc tổ chức thành 2 mặt trận Sơn La và Lai Châu) cho Tây Bắc nhằm củng cố phòng tuyến Sơn La - Lai Châu, mặt khác Xalăng đã vội nghĩ đến một cuộc hành binh đánh lên Phú Thọ, Yên Bái với mục đích "cốt nhằm cắt đứt đường tiếp tế vận chuyển lương thực, vũ khí của ta, hòng phá kế hoạch của ta ở mặt trận chính và che giấu những thất bại của chúng ở tả ngạn sông Đà" 1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy vá Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963. tập 4, tr. 401). Do vậy, ngày 28 tháng 10, khi đợt 1 chiến dịch Tây Bắc vừa chấm dứt được 5 ngày và ta đang chuẩn bị tiến công đợt 2 thì Bộ chỉ huy quân sự Pháp cử tướng Đờ Linarét (De Linaries) Tư lệnh Bắc Bộ trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân Loren (Lorraine 2 (Lorraine là tên một miền đất của nước Pháp bị Đức chiếm từ 1871 đến 1918 mới trở về Pháp. Suối 47 năm đó, hai bén tranh chấp nhiều lần. Đặt tên cho cuộc hành quân này, Pháp coi Phú Thọ là vùng tranh chấp giữa địch và ta)) đánh lên Phú Thọ, Yên Bái. Địch huy động 4 trung đoàn cơ động (gồm 13 tiểu đoàn bộ binh), 1 trung đoàn dù gồm 3 tiểu đoàn, 1 chi đoàn cơ giới (gồm 2 tiểu đoàn), 4 tiểu đoàn pháo, 2 thủy đội du kích, 3 tiểu đoàn công binh, tổng cộng 30.000 quân, có máy bay yểm hộ đánh lên Phú Thọ theo trục quốc lộ số 2, đồng thời cho quân nhảy dù xuống Đoan Hùng. Quân Pháp từ Trung Hà - Việt Trì theo đường sông Hồng, quốc lộ số 2 tiến vào Phú Thọ. Sự kiện đó diễn ra không ngoài dự kiến của Bộ Tổng tham mưu ngày 21 tháng 9: "Phú Thọ là nơi kinh tế dồi dào, có nhiều nhân vật lực, lại có đường giao thông quan trọng, nối liền Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3, 4, nối liền trung du Việt Bắc với miền thượng du Tây Bắc. Cho nên thu đông năm nay địch có thể đánh ra để thực hiện âm mưu của chúng" 1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Sđd, tr. 394. 401. 402). Do vậy, Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh cho Trung đoàn 246, Trung đoàn 176 và bộ đội địa phương chuẩn bị phương án chiến đấu. Với cuộc hành quân này, Bộ chỉ huy Pháp hy vọng có thể sẽ kéo được chủ lực của ta ở mặt trận chính Tây Bắc quay trở lại đối phó, và như thế, sức tiến công vào Tây Bắc sẽ giảm đi. Nhưng chúng đâu biết rằng trong chỉ thị về việc địch đánh lên Phú Thọ và nhiệm vụ của ta, Trung ương Đảng ta đã nhận định: "Đó là cuộc tấn công bị động đểđối phó với ta... Mưu mô đó của địch có gây cho ta ít nhiều khó khăn... nhưng không gây ảnh hưởng lớn đối với mặt trận chính của ta ở Tây Bắc vì ta đã kịp chuẩn bị để phòng" 2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Sđd, tr. 394. 401. 402). Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh vẫn giữ vững quyết tâm tiếp tục tiến công vào Tây Bắc, tập trung lực lượng mở đợt tiến công đánh mạnh vào Mộc Châu và hữu ngạn sông Đà. Đối với Phú Thọ, Trung ương chỉ thị: "Phải nhanh chóng thực hiện thống nhất chỉ huy các lực lượng bộ đội chủ lực, địa phương và dân quân du kích, ra sức bám sát địch, phá hoại, đánh phục kích các đường giao thông thủy bộ, tập kích các vị trí pháo binh và đánh cạnh sườn của địch để kiềm chế, tiêu hao và tiêu diệt những bộ phận nhò của địch" 3 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Sđd, tr. 394. 401. 402), đồng thời chỉ thị cho Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) quay trở về Phú Thọ để phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch. Ngay sau khi cho quân tấn công ào ạt vùng hữu ngạn sông Thao, càn quét huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, chiếm đường 11, địch cho chốt giữ một sốcứ điểm ở hữu ngạn. Ngày 2 tháng 11, địch bắt đầu tấn công sang tả ngạn, đánh chiếm thị xã Phú Thọ, rải quân chiếm giữ quốc lộ số 2 và các đường giao thông liên huyện. Đồng thời, chúng điều một đơn vị Âu - Phi bảo vệ quốc lộ số 2 từ Đông Anh lên Việt Trì, nhằm giữ thông đường vận chuyển phục vụ cuộc hành binh. Tiếp đến, ngày 9 tháng 11, địch dùng cơ giới phối hợp với quân nhảy dù chiếm Đoan Hùng và sau đó thọc lên Yên Bái, vẫn không gặp phản ứng gì lớn của ta. Ngày 13 tháng 11 một mũi tiến đến Bến Hiên. Đi đến đâu, chúng cũng lùng sục, đốt phá kho tàng, thóc lúa. Tại Tam Nông, Đoan Hùng, Đồn Vàng... chúng phá 3 kho gạo, một kho muối, một kho vũ khí hơn 100 tấn ta chưa kịp di chuyển. Để để phòng địch có thể tiến sâu hơn nữa, quấy rối hậu phương, đánh phá cơ quan, kho tàng và cắt đường tiếp tế của ta. ngày 9 tháng 11, Trung đoàn 36 tách khỏi đội hình Đại đoàn 308 cấp tốc hành quân về chặn địch ở phía hữu ngạn sông Thao. Một đại đội công binh, pháo binh và cơ quan đoàn bộ của Trung đoàn 151 trên đường số 13 cùng cơ động sang thị xã Yên Bái, tổ chức thành một đơn vị phòng thủ. Đảng bộ, chính quyền nhân dân các địa phương nơi xảy ra chiến sự phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, thống nhất phương án đánh địch, kiên quyết bảo vệ hậu phương chiến dịch. Trước sức tiến công ồ ạt ban đầu của địch, lực lượng vũ trang cùng nhân dân địa phương phá hoại cầu đường, cất giấu tài sản, đánh địch khắp nơi, chiến đấu ngoan cường. Mặc dù địch có số lượng lớn, thủ đoạn thâm độc và hành động điên cuồng, man rợ, nhưng quân và dân Phú Thọ đã từng bước bẻ gãy nhiều mũi tiến công, nhiều trận đánh của chúng. Lực lượng vũ trang của tỉnh đã đánh nhiều trận đạt kết quả tốt như bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện Tam Nông, Hạc Trì, Phù Ninh 1 (Bộ đội địa phương và dân quân du kích Tam Nông đánh 19 trận, diệt và làm bị thương 108 tên. Quân dân Hạc Trì đánh 27 trận loại khỏi vòng chiến đấu 109 tên, giải thoát hơn 300 thanh niên bị bắt, bảo vệ tốt hàng trăm tấn thóc và hàng hóa), v.v.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:55:24 pm » |
|
Ngày 14 tháng 11, Đờ Linarét cho một mũi đánh thọc lên Yên Bình, nhưng thị trấn này trống không, thì cũng là lúc Bộ Tham mưu quân đội Pháp nhận ra nguy hiểm, bởi Yên Bình là một thị trấn nằm xa căn cứ xuất phát trên 150km, lại chỉ gặp lực lượng nhỏ của ta đánh tiêu hao, nên vội vàng cấp tốc lệnh rút quân ngay, mặc dù từ Yên Bình đến thị xã Yên Bái chẳng còn bao xa, mà Yên Bái mới là cái đích phải tới của cuộc hành quân Loren.
Địch lúc này gặp khó khăn. Thực tế cuộc hành quân, đánh lên Phú Thọ không đem lại lợi ích gì về tầm cỡ chiến lược, không cứu ngụy được cho tuyến phòng thủ Tây Bắc và bản thân nó càng gặp khó khăn về tiếp tế vì đã vào quá sâu vùng tự do của ta. Việc tiếp tế cho 30.000 quân lên Phú Thọ đã thu hút hầu hết lực lượng vận tải của địch, trong lúc tập đoàn cứ điểm Nà Sản đang hình thành và yêu cầu không quân phải tiếp tế hàng ngày. Và, việc hầu hết các lực lượng cơ động bị giam chân ở Tây Bắc và Phú Thọ, miền châu thổ sông Hồng trở nên nóng bỏng, du kích của ta hoạt động mạnh. Mặt khác, địch phát hiện một bộ phận chủ lực ta quay về Phú Thọ nên địch phải cân nhắc rút sớm.
Về ta, sớm đoán trước tình hình, nước cờ mà địch sẽ phải đi "trước sau địch cũng phải rút Phú Thọ"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3, Nxb Quân đội nhân dân, H.1977, tr. 351). Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy dã chủ động chỉ đạo các chiến trường nhịp nhàng hoạt động theo kế hoạch đã định. Nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nhân thời cơ đẩy mạnh hoạt động. Tại Tây Bắc, các đại đoàn chủ lực đang đi vào giai đoạn chót của công việc chuẩn bị vượt sông Đà để làm nhiệm vụ đợt 2 của chiến dịch. Riêng đối với Phú Thọ Trung ương chỉ thị: "Phải sáng suốt nắm vững tình hình, ra lệnh cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích tích cực chống càn quét đồng thời chuẩn bị sẵn sàng kế hoạch đánh địch trên các đường sống và đường bộ chúng sẽ rút lui"2 (Chỉ thị của Ban Bi thư gửi Ban chỉ huy chung Mặt trận Phú Thọ, Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3. Nxb Quân đội nhân dân, H.1977, tr. 351).
Đúng như ta dự định, ngày 14 tháng 11, địch bắt đầu rút khỏi Đoan Hùng theo đường số 2. Bộ Tổng tư lệnh lệnh cho Trung đoàn 36 (lúc này đang trú quân ở vùng Tăng Mỹ, phía nam Đoan Hùng) tìm cách đánh địch ngay, nếu chậm sẽ mất thời cơ. Nhận định địch sẽ phải rút quân trên đoạn đường Chân Mộng - Trạm Thản, đây là khu vực phục kích lý tưởng trên đường số 2 cho Trung đoàn tổ chức trận địa phục kích, hai bên là hai rặng núi và đồi thắt lại hai đầu bọc kín một cái thung lũng hẹp và dài gần 4km, những cánh rừng già lấn đến ven đường cái, những nương sắn xanh mọc la liệt trên các vạt đồi, là những tấm màn ngụy trang kín đáo che chở bộ đội ta mai phục. Đêm ngày 16 tháng 11 năm 1952 Tiểu đoàn 72 Phú Thọ điều Đại đội 310, chia làm 3 trung đội cùng du kích địa phương dẫn đường cho các tiểu đoàn của Trung đoàn 36 lần lượt vào chiếm lĩnh trận địa phục kích trên quốc lộ 2 đoạn Chân Mộng - Năng Yên - Trạm Thản. Ngoài trận địa phục kích chính của Trung đoàn 36, trên quốc lộ 2, Tiểu đoàn 72 bố trí Đại đội 319 phục kích ở Phú Hộ, Đại đội 315 ở Phú Lộc, cùng du kích địa phương đánh cản đường, tạo thời cơ để bộ đội chủ lực tiêu diệt nhiều quân địch.
Ngày 17 tháng 11, địch rút khỏi Đoan Hùng. Đến Chân Mộng chúng dừng lại xem xét tình hình cái thung lũng bí hiểm, sục sạo vào sâu các khu rừng một cách thận trọng và dè dặt. Bộ đội ta chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm. Địch sục sạo đến đâu thì ở đó lặng lẽ lui lại, tránh ra, tuyệt đối không nổ súng. Suốt từ 7 giờ 30 phút đến 9 giờ tên trung tá Kécgaravát (Kergaravat) chỉ huy cuộc rút lui vẫn thận trọng chỉ huy cuộc lùng sục xung quanh thung lũng Chân Mộng - Trạm Thản, tình hình vẫn yên tĩnh, không thấy dấu hiệu gì nguy hiểm, hắn nhảy lên xe cho lệnh hành quân. Ngoài đường số 2, xe nổ máy ầm ầm, bộ binh địch lúc nhúc bám theo xe. Đơn vị đầu tiên của địch đã vào thung lũng Chân Mộng còn thận trọng, Kécgaravát và cơ quan chỉ huy của cuộc hành quân cũng đi tới đơn vị ấy. Tiếp đến là Tiểu đoàn Lê dương. Bọn này yên trí, "đầu xuôi, đuôi lọt" chẳng phòng bị gì. Lính ngồi trên xe phi phèo thuốc lá. Lính đi bộ lộn xộn, chỗ hàng hai, chỗ hàng ba, chỗ túm tụm vừa đi vừa đùa. Nhưng chỉ mấy phút sau đó, chúng đã rơi vào cảnh hoảng loạn vì pháo đạn khắp nơi ụp xuống đầu chúng.
Đúng 9 giờ 45 phút, khi cả đoàn quân lọt vào trận địa phục kích, các loại hoả lực của ta từ đồi cao hai bên đường đồng loạt nhả đạn, đội hình quân địch bị cắt thành đôi,những toán đi đầu thoát chết chạy về phía Phú Hộ. Quân ta từ trên đồi, trên rừng tràn xuống đường nhằm địch mà bắn, mà đâm và dùng thủ pháo diệt cơ giới của địch. Tiếng nổ vang trời, khói bay nghi ngút trên cả đoạn đường rừng núi âm u.
Với phương châm đánh nhanh diệt gọn, chỉ gần 30 phút chiến đấu, đoàn xe cơ giới của địch lọt vào trận địa phục kích của ta bị bốc cháy, một chiếc xe tăng và hàng trăm tên giặc phải đền tội. Thừa thắng xốc tới, quân ta truy kích địch đến gần Phú Hộ, phá hủy 13 xe cơ giới, diệt và bắt sống thêm nhiều tên địch. Kết quả sau một ngày chiến đấu quyết liệt, với tinh thần dũng cảm, mưu trí, quân ta đã diệt và bắt hơn 400 tên địch, phá hủy 44 xe cơ giới, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép, thu nhiều quân trang quân dụng của địch. Hai binh đoàn cơ động (GM1 và GM4) bị thiệt hại nặng, trong đó Tiểu đoàn 2 lê dương (2/2 RFl thuộc GM4) bị xoá sổ.
Trong khi đó, tại mặt trận chính Tây Bắc, quân ta vượt sông Đà thắng lợi. Các đơn vị vượt sông Đà nhanh chóng khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tổng tư lệnh. Liên tiếp trong các ngày 17, 18 và 19 tháng 11, ta đã phá tan phòng tuyến hữu ngạn sông Đà của địch.
Trở lại Mặt trận Phú Thọ, sau trận đánh ở Chân Mộng - Trạm Thản, ngày 23 tháng 11 Trung đoàn 36 tiếp tục phối hợp với bộ đội địa phương và du kích các xã Đông Quan, Chi Lăng (Phù Ninh) tấn công vị trí trú quân của địch ở đồi Chò và núi Quyết (xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh). Với yếu tố bí mật, bất ngờ chỉ trong 30 phút chiến đấu, quân ta đã diệt 180 tên địch, bắt 76 tên, đưa tổng số quân địch bị tiêu diệt và bắt sống trên địa bàn Phù Ninh trong đợt tiến công này lên hơn 600 tên địch.
Bị thiệt hại nặng nề, ngày 25 tháng 11 năm 1952, Bộ chỉ huy quân Pháp phải hạ lệnh cho Đờ Linarét phải rút khỏi Phú Thọ, kết thúc cuộc hành quân Loren đầy tham vọng của các nhà cầm quân Pháp về đối phó với mặt trận đồng bằng và Tây Bắc.
Như vậy, gần một tháng đánh lên Phú Thọ, cuộc hành quân phản kích vào hậu phương chiến dịch được Bộ chỉ huy Pháp tinh toán rất kỹ, đã không đem lại kết quả gì đáng kể. Đối sách của tướng Xalăng đã không làm thay đổi được quyết tâm chiến lược của đối phương mà còn bị tổn thất nặng nề: 1.884 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó bắt 173 tên, 60 xe cơ giới bị phá hủy1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), H. 1992. tr. 46), hậu phương của ta được bảo vệ vững chắc. Những thắng lợi ở hậu phương đã góp phần động viên và cổ vũ mạnh mẽ quân và dân các chiến trường, đặc biệt trên mặt trận chính Tây Bắc đánh địch thu được nhiều kết quả.
Chiến thắng này đã rõ ràng, nhưng càng có sức thuyết phục hơn khi chính bên phía đối phương cũng phải thừa nhận vế thất bại của cuộc hành quân này (Loren): "Kết quả đã phá hủy được một vài kho tàng, nhưng chiến dịch đó (cuộc hành quân Loren) vẫn không có ảnh hưởng gì đến diễn biến chung của chiến đấu. Cuối cùng chúng ta bắt buộc phải rút lui trong hoàn cảnh khó khăn và không đạt được mục đích của ta"2 (Navarre, Đông Dương hấp hối, Hiệu sách Plon, tr. 27 (Bản dịch tiếng Việt lưu tại Thư viện Trung tâm Thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng, số ký hiệu VL119)). Như vậy, qua lời thú nhận này từ phía đối phương, một lần nữa khẳng định ý nghĩa to lớn của việc đánh bại cuộc hành quân Loren mang lại, góp phần làm phá sản một âm mưu lớn của địch, có ý nghĩa to lớn vào thắng lợi chung của chiến dịch Tây Bắc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:58:15 pm » |
|
TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM NÀ SẢN THÁCH THỨC MỚI ĐỐI VỚI QUÂN VÀ DÂN TA Trung tá PHÙNG THỊ HOAN Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Tập đoàn cứ điểm là hệ thống các cứ điểm, cụm cứ điểm hoặc các khu vực phòng ngự được xây dựng liên kết chặt chẽ với nhau theo ý định và kế hoạch tác chiến thống nhất, có tác dụng chủ yếu là phòng thủ một khu vực quan trọng, thực hiện chia cắt chiến lược, ngăn chặn hoặc hạn chế cơ động lực lượng cấp chiến dịch, chiến lược của đối phương giữa các chiến trường tác chiến, làm bàn đạp để mở các cuộc hành quân tiến công với quy mô chiến dịch, chiến lược đánh ra vùng dơ đối phương kiểm soát. Hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm xuất hiện từ Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). Tiêu biểu nhất là trận Vecđoong (21.2-18.12.1916), quân Pháp đã tiến hành phòng ngự thắng lợi, đánh bại quân Đức trên đường tiến công vào thủ đô Pari. Tại đây, quân Pháp đã tổ chức một khu vực phòng ngự kiên cố sâu 15-18km. Mặc dù lực lượng quân Đức đông gấp 3-4 lần, nhưng đã vấp phái sự kháng cự ngoan cường của quân Pháp. Sau sáu tháng rưỡi tiến công, quân Đức cũng chỉ tiến được 7-10km và buộc phải lui về phòng ngự. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai(1939-1945), quân đội phát xít Đức cũng đã vận dụng chính hình thức phòng ngự này dưới tên gọi chiến thuật con nhím nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của quân đội Liên Xô. Điều đó cho thấy, quân đội Pháp có thể coi là một trong những đội quân bậc thầy về khả năng tổ chức khu vực phòng ngự. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng đánh giá: "Quân đội Pháp đặc biệt giỏi trong bố trí phòng ngự" 1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Hồi ức, Hữu Mai thể hiện. Nxb Quân đội nhân dân. H. 2001. tr. 299). Và Đại tướng lấy dẫn chứng ngay trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tại Đông Khê, không đầy 3 đại đội của địch có thể đương đầu với 2 trung đoàn chủ lực của ta trong suốt 52 giờ. Đồn Pheo trong chiến dịch Hòa Bình được chính các chuyên gia quân sự Pháp coi là một mẫu mực trong tổ chức phòng ngự cứ điểm. Nhưng quan trọng nhất là qua mỗi đợt tác chiến, quân đội Pháp bao giờ cũng luôn biết rút kinh nghiệm kịp thời những trận đánh thất bại. Từ năm 1950, đối phó với sự trưởng thành của bộ đội ta, quân Pháp đã xây dựng những cứ điểm đại đội, tiểu đoàn có công sự vững chắc với lô cốt, hầm ngầm, hàng rào dây thép gai và bãi mìn bao quanh. Nhiều nơi, quân Pháp tổ chức thành cụm cứ điểm để hỗ trợ cho nhau. Với lưới hỏa lực bảo vệ từ xa, quân đồn trú cố gắng kéo dài cuộc chiến đấu qua đêm chờ quân cứu viện và máy bay đến can thiệp trước khi trời sáng. Cách đối phó này tỏ ra hữu hiệu ở địa hình đồng bằng và trung du, nhưng lại khó thực hiện ở vùng rừng núi là nơi bộ đội ta chỉ chờ quân viện tới để tiêu diệt. Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, địch chấp nhận để một số vị trí bị bao vây tiêu diệt chứ không đưa quân viện tới. Ở vùng rừng núi, vị trí đại đội, tiểu đoàn, tiểu đoàn tăng cường của địch không còn đứng vững trước những cuộc tiến công của quân ta. Do vậy, quân Pháp tiến hành áp dụng hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm. Hình thức này xuất hiện ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1951, từ chiến dịch Hòa Bình. Theo nhận định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hình thức chiến thuật mới này ra đời một cách tự nhiên. Quân địch chiếm đóng một thị xã giữa rừng núi. Thị xã nằm dưới thung lũng. Chỉ huy quân Pháp tại đây buộc phải chiếm những điểm cao xung quanh nếu không muốn mất thị xã. Những điểm cao này liên kết bằng các trận địa hỏa lực, bảo vệ sườn cho nhau khi bị tiến công. Trong những thất bại ở đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp không sử dụng quân viện khi một cứ điểm bị tấn công, cũng không dùng lực lượng cơ động để chiếm lại những vị trí đã mất. Giống như cuối chiến dịch Cao Bằng, khi một cứ điểm bị tiêu diệt là quân đồn trú ở hàng loạt cứ điểm xung quanh bỏ chạy, nhưng khác với chiến dịch Biên Giới, những cuộc rút chạy ở Tây Bắc nằm trong ý đồ của chỉ huy quân Pháp nhằm tránh bị tiêu diệt và co cụm lại để đối phó với cuộc tiến công của ta. Từ những cứ điểm rải rác, quân Pháp đã tập trung lại thành tập đoàn cứ điểm tại Nà Sản. Trước khi ta mở chiến dịch Tây Bắc, quân địch ở Nà Sản có một đại đội ngụy, do một viên hạ sĩ quan Pháp chỉ huy, đóng một vị trí, một điểm tựa bằng bê tông, làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay 1 (Sau khi quân Pháp tái chiếm Sơn La, sân bay Nà Sản được người Pháp xây dựng vào năm 1950 với mục đích làm cầu hàng không vận chuyển, tiếp tế lương thực, các phương tiện chiến tranh phục vụ cho việc chiếm đóng, cai trị ở vùng Tây Bắc) và bảo đảm cho máy bay lên xuống. Cũng giống như Hòa Bình, Nà Sản là một thung lũng dài chừng 2km, rộng khoảng 1km, xung quanh có 24 ngọn đồi bao bọc. Nà Sản nằm trên đường liên tỉnh số 41 có vị trí chiến lược quan trọng ở giữa đường tiến quân từ hướng đông và bắc qua hướng tây nam "Xứ Thái". Và quan trọng hơn ở đây đã có sẵn sân bay có thể lập cầu hàng không từ Hà Nội lên. Về chiến thuật, những ngọn đồi bao quanh thung lũng Nà Sản là những vị trí mà từ đó có thể quan sát, bố trí trận địa nhằm khống chế đối phương tiến công. Mục đích của quân Pháp khi thiết lập Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm nhằm đón lực lượng từ các vị trí, đồn bốt bị cô lập ở Tây Bắc về để tránh bị tiêu diệt trước thế tiến công của lực lượng vũ trang ta; ngăn chặn lực lượng vũ trang ta đang thừa thắng ở Nghĩa Lộ tiến về Lai Châu (thực hiện được mục tiêu này, quân Pháp hy vọng xoay chuyển chiều hướng chiến sự đang rất khó khăn, bất lợi của quân Pháp ở Tây Bắc); dựa vào hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm với những ưu điểm của thế bố trí lực lượng trên ngọn đồi cao, độc lập, dựa vào hệ thống công sự, trận địa, vật cản có lợi, quân Pháp vừa có khả năng chống đỡ, vừa có thể tiêu hao sinh lực bộ đội ta. Việc xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản đòi hỏi phải có thời gian từ 4-5 tuần lễ. Ở đây đã có sẵn sân bay dã chiến và căn cứ của đơn bị bảo vệ sân bay. Quân Pháp phải lập cầu hàng không để vận chuyển vật liệu, phương tiện, vũ khí từ Hà Nội lên và huy động nhân lực lớn để xây dựng một hệ thống cứ điểm nhiều lớp, nhiều tầng theo mô hình vòng cung khép kín, xung quanh sân bay. Thời gian địch xây dựng tập đoàn cứ điểm tại Nà Sản gần như trùng với đợt 2 của chiến dịch Tây Bắc. Trong suốt thời gian này,tập đoàn cứ điểm vừa được xây dựng vừa không ngừng được tăng cường binh lực củng cố công sự trận địa. Mỗi ngày địch huy động hàng chục lần chiếc máy bay chở quân, vũ khí phương tiện từ Hà Nội lên Nà Sản. Lợi dụng các đồi cao, quân Pháp thiết lập 17 cử điểm hình vành đai trong khu vực phòng ngự. Vành đai phía trong bao gồm sở chỉ huy, trận địa pháo, sân bay, kho tàng và quân dự bị, nối liền với nhau bằng hào giao thông va mạng rào dây thép gai. Vành đai ngoài gồm 7 cứ điểm cấu trúc trên những quả đồi cách xa trung tâm ở cự ly ngoài tầm hỏa lực súng cối. Đến cuối tháng 11 năm 1952, tổng số lực lượng địch gồm 8 tiểu đoàn bộ binh và dù (2-12-1952 được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn dù), 1 tiểu đoàn pháo, 8 đại đội độc lập và 1 đại đội công binh, 2 chi đội xe thiết giáp 1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân độinhân dân, H. 2004, tr. 912). Sân bay Nà Sản được tăng phương tiện bảo vệ nhằm bảo đảm sự tiếp tế bằng đường không Hà Nội -Nà Sản. Với hệ thống bố phòng mạnh như vậy, Bộ chỉ huy Pháp tin rằng hỏa lực không quân, pháo binh có thể chặn đánh quân ta từ bên ngoài; lực lượng cơ động dự bị sẵn sàng tăng cường có khả năng phản kích khi bị tiến công, không cho đối phương đứng chân được vào ban ngày trước các điểm cao đã bị khống chế. Nà Sản được tập trung lực lượng đông vũ khí trang bị hiện đại, có cầu hàng không bảo đảm tiếp tế cấu trúc được nhiều điểm tựa hiểm hóc, tác chiến trong điều kiện có hỏa lực của không quân, pháo binh chi viên... thực sự trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp ở Đông Dương vào thời điểm đó. Bộ chỉ huy Pháp coi Nà Sản là "con đê ngăn sóng", hy vọng chặn được đà tiến công của quân ta ở Tây Bắc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|