Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:27:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33216 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #60 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2025, 08:59:48 pm »

Khi địch xây dựng xong tập đoàn cứ điểm tại Nà Sản thì cũng là lúc quân ta kết thúc đợt 1 và 2 chiến dịch Tây Bắc. Mặc dù giành được nhiều thắng lợi quan trọng, nhưng bộ đội ta càng tiến sâu vào Tây Bắc, càng xa hậu phương chiến dịch, việc tiếp tế, hậu cần càng gặp khó khăn hơn trước. Trên đường truy kích địch, bộ đội thiếu lương thực nghiêm trọng, chủ yếu phải ăn bằng lương khô. Mặt khác, do chiến đấu liên tục, nhiều ngày nên sức lực của bộ đội giảm sút, lực lượng hao mòn bởi thương vong và bệnh tật, trong khi đó tin tức báo về Bộ chỉ huy chiến dịch không thật đầy đủ, phân tích đánh giá tình hình thiếu chính xác, khách quan, khiến cơ quan chỉ huy chiến dịch không nắm chắc được tình hình. Ngày 30 tháng 11 năm 1952, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: "Địch bị động tập trung về Nà Sản, lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, quyết tâm không dứt khoát, rút thì thất bại lớn ở Tây Bắc mà lại có thể bị tiêu diệt, giữ thì trong thế cô lập và cũng có thể bị ta tiêu diệt tại chỗ"1 (Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963, tập 2, tr. 205). Trên cơ sở nhận định trên, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định triển khai đợt 3 chiến dịch theo đúng kế hoạch. Mục tiêu của đợt 3 là tập trung toàn bộ lực lượng tiến công tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch. Phương châm tác chiến là đánh chỗ yếu trước, chỗ mạnh sau, bao vây toàn diện, công kích có trọng điểm, đánh ngoại vi trước, tranh thủ mở một mặt rồi đánh vào tung thâm.


Mở đầu đợt 3 chiến dịch, ta chủ trương tập trung lực lượng đột phá vào các điểm tựa vòng ngoài, từ đó khống chế pháo binh địch vào sân bay, phát triển chiến đấu vào trong, tạo thời cơ tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Đêm 30 tháng 11, hai tiểu đoàn của Đại đoàn 308 cùng phối hợp đánh vị trí Pú Hồng (điểm cao 753). Cùng lúc, một tiểu đoàn của Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, bộ đội ta tiêu diệt hoàn toàn quân địch đóng tại các vị trí trên. Nhưng ngày hôm sau, dưới sự yểm trợ của máy bay và đại bác, địch mở nhiều đợt xung phong đánh bật bộ đột ta ra khỏi Pú Hồng và chiếm đóng lại vị trí.


Đêm ngày 1 tháng 12, Trung đoàn 209 ở hướng tây nam tiến công Bản Vây, cứ điểm chính trong cụm cứ điểm phòng ngự phía nam Nà Sản do hai đại đội lê dương bảo vệ; Trung đoàn 174 được phối thuộc một tiểu đoàn của Đại đoàn 308, đánh vị trí Nà Si. Cả hai trận đánh đều không thành công. Khi trời sáng, địch dùng máy bay oanh tạc vào đội hình quân ta và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu ngụy cho các cứ điểm. Trong ngày 2 tháng 12, địch thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn. Những ngày tiếp theo, địch sử dụng máy bay ném bom và pháo binh bắn hàng nghìn quả đạn vào nhiều vị trí vừa để tiêu hao lực lượng ta, vừa để củng cố tinh thần binh lính.


Nhận thấy bộ đội ta chưa đủ khả năng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Nà Sản, ngày 10 tháng 12, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định ngừng tiến công địch và kết thúc chiến dịch Tây Bắc. Tại Hội nghị sơ kết chiến dịch được tổ chức ngay tại sở chỉ huy tiền phương ở Tạ Khoa, một vấn đề bức thiết đặt ra là: những cứ điểm quân ta thực hành tiến công trong đợt 3 chỉ có quân số từ đại đội tăng cường đến 2 đại đội; về thực lực rõ ràng không mạnh hơn Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Mộc Châu. Trong từng trận đánh, ta đều sử dụng những đơn vị có kinh nghiệm và tập trung ưu thế binh lực, nhưng tại sao phần lớn trận đánh đều không giành thắng lợi? Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "một nguyên nhân là do bộ đội mỏi mệt sau nhiều ngày truy kích địch, đội hình các đơn vị đều xộc xệch. Nhưng so với chiến dịch Biên Giới thì sự mệt mỏi và xáo trộn trong đội hình lần này chưa bằng. Trong từng trận đánh, cán bộ và chiến sĩ ta đều có quyết tâm tiêu diệt địch rất cao. Nguyên nhân chính là do những cứ điểm này nằm trong hệ thống cấu trúc chặt chẽ của tập đoàn cứ điểm. Người Pháp coi đây là một hình thức ngăn chặn mới. Muốn đánh bại chiến lược này, cần phải có thời gian"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tời Điện Biên Phủ..., Sđd. tr. 343).


Rõ ràng, tập đoàn cứ điểm phòng ngự của quân Pháp tại Nà Sản đã trở thành một thách thức mới đối với cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Đối với bộ đội ta, trong quá trình chiến đấu đã mất nhiều thời gian nghiên cứu, rèn luyện, chuẩn bị mới tiêu diệt được cứ điểm trung đội, rồi đại đội của địch. Khả năng hiện thời của quân ta là dùng trung đoàn tiêu diệt vị trí tiểu đoàn địch đóng riêng lẻ. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản không chỉ lớn gấp bội về quân số mà còn có thêm sân bay, trận địa pháo, những đơn vị thiết giáp tại chỗ để đối phó với các cuộc tiến công của quân ta. Nó đã hạn chế khả năng giành chiến thắng của bộ đội chủ lực ta ngay trên địa hình chiến trường được coi là thuận lợi từ trước tới nay. Quân ta chưa thể tiêu diệtmột vị trí trong một tập đoàn cứ điểm mà tránh khỏi tổn thất lớn. Chiến thuật đánh điểm diệt viện, đánh dịch trong vận động, đánh địch trên đường giao thông đều khó có điều kiện vận dụng vì tập đoàn cứ điểm tự nó có thể đương đầu với những cuộc tiến công, quân tăng viện cũng như đồ tiếp tế tới tập đoàn cứ điểm qua đường không được các vị trí bảo vệ vòng trong vòng ngoài. Chính Xalăng đã tuyên bố việc thiết lậpở Nà Sản tập đoàn cứ điểm sẽ "buộc kẻ thù chiến đấu trên một địa hình thuận lợi cho sự phối hợp các loại vũ khí của chúng ta, sẽ có một sân bay bảo đảm cho việc tiếp tế thường xuyên những đơn vị chiến đấu"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ.... Sđd. tr. 355). Với tập đoàn cứ điểm, địch còn khai thác một chỗ yếu của ta là không thể duy trì số đông bộ đội tại rừng núi dài ngày vì thiếu lương thực và khả năng vận chuyển có hạn. Địch chỉ cần chờ khi ta rút quân, lại từ tập đoàn cứ điểm tỏa ra chiếm đóng lại những vị trí đã bỏ. Việc duy trì vùng mới giải phóng sẽ gặp nhiều khó khăn.


Để giải quyết tình thế khó khăn trên, Bộ Tổng tham mưu đã triệu tập hội nghị nghiên cứu cách đánh tập đoàn cứ điểm vào cuối tháng 2 năm 1953. Hội nghị đã bước đầu đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của tập đoàn cứ điểm và điều đó đòi hỏi bộ đội ta trong cách đánh tập đoàn cứ điểm không phải chỉ là tiêu diệt quân chiếm đóng ở từng cứ điểm, mà phải giữ được vị trí đó để tiếp tục chiếm đóng ở từng cứ điểm, đồng thời phải giữ được vị trí đó để tiếp tục phát triển vào sâu trong suốt quá trình tiến công. Như vậy, bộ đội ta sẽ phải chiến đấu liên tục cả ban đêm và ban ngày, vừa tiến công hộ hinh địch vừa phải đối phó với đại bác, xe tăng và máy bay. Điều quan trọng là phải hạn chế được sức mạnh hỏa lực của bản thân tập đoàn cứ điểm. Đối với một tập đoàn cứ điểm như Nà Sản, nhất thiết các cuộc tiến công của ta phải có thêm sự trợ lực của trọng pháo và các cao xạ khác.


Việc quân đội Pháp thiết lập thành công tại Nà Sản một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc đã trở thành một biện pháp ngăn chặn mới có tính chiến lược và bước đầu đã mang lại hiệu quả trong quá trình ngăn chặn các cuộc tiến công của bộ đội ta trên địa bàn rừng núi và "nó mang hình thái đặc thù của Chiến tranh xâm lược Việt Nam"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ..., Sđd, tr 355). Tưởng rằng, với hình thái chiến lược mới này, quân Pháp sẽ nhanh chóng giành thắng lợi. nhưng cuối cùng, trước sức ép, bao vây, tiến công của quân dân ta, tập đoàn cứ điểm Nà Sản bị vô hiệu hóa và bị cô lập, buộc quân Pháp phải rút bỏ vào tháng 8 năm 1953. Không lâu sau, với sự thất thủ của tập đoàn cử điểm Điện Biên Phủ, hình thái chiến lược mới của quân đội Pháp tại Đông Dương đã bị phá sản hoàn toàn.


Thắng lợi của quân và dân ta trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng tại tập đoàn cứ điểm phòng ngự Điện Biên Phủ cho thấy, "nhờ kịp thời tổng kết kinh nghiệm Nà Sản, người chỉ huy cao nhất và tập thể Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết định chính xác một cách vô cùng quan trọng đối với tư tưởng chỉ đạo, diễn biến và thắng lợi cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ, đó là thay đổi cách đánh"2 (Nguyễn Quốc Dũng, Từ Nà Sản đến Điện Biên Phủ, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1-1994). Vì vậy, có thể khẳng định, có trận Nà Sản mới có chiến thắng Điện Biên Phủ và Nà Sản chính là bản anh hùng ca bi tráng, bước tập dượt cho cuộc tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #61 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:38:42 pm »

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỒNG BÀO KHU TÂY BẮC
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

Thượng tá, ThS ĐỖ NHUẬN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Thiếu tá NGUYỄN NGỌC TÙNG
Phó Trưởng phòng Chính trị - Hành chính
- Viện lịch sử quân sự Việt Nam


Nhằm đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến, theo đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt phục vụ hoạt động tác chiến Thu Đông 1952. Đầu tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược.


Trung ương nhận định, công tác bảo đảm cho chiến dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì hậu phương Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh đều cách xa Tây Bắc. Chính vì vậy việc huy động sức người, sức của tại chỗ có ý nghĩa rất quan trọng.


Tuy nhiên, vùng Tây Bắc rất hiểm trở, địa hình phức tạp; nhiều núi cao, suối sâu, trong đó có dãy núi Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.142m. Có biên giới phía tây dài 552km, giáp với hai tỉnh Hủa Phăn và Phong Xa Lỳ (Lào) và biên giới phía bắc dài 215km giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Tây Bắc là nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, phân bố thưa thớt. Sông Đà, sông Mã nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết quanh năm, cùng với sông Hồng và các sông khác chia cắt Tây Bắc thành nhiều khu vực. Vào Tây Bắc chỉ có hai con đường chính: đường số 41 từ Hoà Bình đi Suối Rút, đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Cả hai con đường này đều là đường rừng núi bị hư hỏng nhiều do lâu ngày không được sửa chữa, tu bổ. Tại các ngã ba, ngã tư tuyến đường liên tỉnh, huyện đều bị địch khống chế và thường xuyên tổ chức tuần tiễu, lùng sục khiến cho cán bộ, bộ đội ta vào hoạt động rất khó khăn. Kinh tế khu vực Tây Bắc nghèo nàn, dân cư thưa thớt, lại bị địch chiếm đóng khủng bố và bóc lột tàn tệ nên đời sống nhân dân rất thấp. Nền kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp, khả năng huy động sức người, sức của tại chỗ rất hạn chế.


Để chỉ đạo kịp thời, thống nhất nhằm phục vụ nhiệm vụ quân sự tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1952 Trung ương Đảng quyết định tách một số tỉnh trong Liên khu Việt Bắc thành lập Khu Tây Bắc gồm 4 tỉnh là Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái.


Sau khi thành lập, công tác xây dựng cơ sở là một trong những vấn đề quan trọng, cấp bách được Khu ủy hết sức chú trọng. Mục đích của công tác xây dựng cơ sở trong vùng địch hậu là nhằm tổ chức giác ngộ nhân dân tham gia kháng chiến bảo đảm hcành quân, trú quân, dẫn đường cho bộ đội trinh sát nắm địch và tìm hiểu khả năng huy động nhân lực, vật lực của các địa phương trong Khu sẵn sàng phục vụ chiến dịch.


Tháng 8 năm 1952, Bộ Chính trị ra nghị quyết và ban hành chính sách vận động đồng bào các dân tộc ít người. Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng" quy định những chính sách lớn của cách mạng đối với vùng mới sắp được giải phóng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ và dân công tham gia chiến dịch Tây Bắc.


Cuối tháng 9 năm 1952, Khu ủy Tây Bắc triệu tập hội nghị cán bộ mở rộng quán triệt chính sách vận động các dân tộc thiểu số của Đảng. Hầu hết các đồng chí bí thư tỉnh ủy, huyện ủy và cán bộ các ban, ngành đều tham gia hội nghị. Hội nghị đã nghiên cứu chỉ thị thành lập Khu Tây Bắc, học tập chính sách dân tộc thiểu số. Chỉ thị 15 của Trung ương về thực hiện chính sách dân tộc ở vùng mới giải phóng; đồng thời đặt chương trình công tác 3 tháng cuối năm để động viên cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân trong toàn Khu huy động mọi khả năng phục vụ chiến dịch.


Chấp hành chỉ thị của Trung ương, Ban Thường vụ Khu ủy đã đề ra nhiệm vụ trung tâm của toàn Khu đến hết năm 1952 là "Động viên toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân vùng tự do củng như vùng bị tạm chiếm, huy động mọi khả năng nhân vật lực ở Tây Bắc để phục vụ cho chiến dịch"1 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu, Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979). Xuất bản năm 1980, tr. 43, 44).


Căn cứ vào tình hình trong tỉnh và nhiệm vụ của Trung ương, Khu ủy, Ban cán sự tỉnh Lai Châu chủ trương "Đẩy mạnh củng cố cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang để bảo đảm cho nhu cầu quân sự". Trước mắt cần tập trung chuẩn bị lương thực, thực phẩm, dân công, thuyền mảng sẵn sàng phục vụ các lực lượng vượt sông chiếm lĩnh trận địa...


Đầu tháng 9 năm 1952, đồng chí Phó ban cán sự tỉnh Lai Châu cùng một đoàn cán bộ, bộ đội hơn 100 người xuống tận các cơ sở phổ biến cho các huyện quán triệt nhiệm vụ chuẩn bị cho chiến dịch. Cán bộ, bộ đội cũng được tăng cường hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang, làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường.


Vận dụng kinh nghiệm công tác vùng địch tạm chiếm những năm 1948 - 1950, sang năm 1952 ta đã xây dựng được nhiều cơ sở kháng chiến trên rẻo cao Hồ Thầu, Giang Ma, Tả Hồ Chải, Gai Khâu Chải, Cắn Tỉ, Lan Nhì Thàng, Tà Lèng. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, các cơ sở cách mạng tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xây dựng các cơ sở kháng chiến trên rẻo cao. Cán bộ trực tiẽp hướng dẫn quần chúng đấu tranh với địch bằng nhiều hình thức rào làng, chống bắt phu, bắt lính (Hồ Thầu), chống thuế (Tam Đường, Lai Châu). Nhân dân Suối Giàng đấu tranh chống địch dồn dân, xây dựng thêm một số cơ sở ở khu vực Tà Suối Láng, Trông Trà, Trạm Tấu, nối Phình Hồ - Suối Giàng thành khu du kích liên hoàn với Phù Yên (Sơn La) phục hồi một số cơ sở ở Mường Khoa, Mường Than.


Từ tháng 7 năm 1952 sau khi được giao nhiệm vụ tham gia chuẩn bị chiến trường, phục vụ và phối hợp với chủ lực, các tỉnh Lào Cai, Yên Bái tập trung chỉ đạo thực hiện phát triển các cơ sở dọc các đường giao thông quan trọng, tăng cường công tác địch ngụy vận tại vùng địch tạm chiếm, củng cố khối đoàn kết, đẩy mạnh phong trào sản xuất tiết kiệm, hoàn thành thu thuế nông nghiệp và công tác tạm vay, động viên nhân tài vật lực phục vụ tiền tuyến đánh thắng.


Nắm vững hướng phát triển cơ sở xuống vùng đồng bằng Tam Đường, Bình Lư, Sình Hồ (Lai Châu), trong đó lấy Sình Hồ làm chính, từ cuối tháng 9 năm 1952 Lào Cai đã cử nhiều đoàn cán bộ xuống các địa bàn. Nhận thức của đồng bào ngày càng tiến bộ, "người Việt người Thái... sống với nhau thân mến như một gia đình"1 (Trần Đăng Ninh, Con người và lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, tr. 472). Nhờ vậy hầu hết các cơ sở cách mạng cũ của ta đều được phục hồi. Ở Phong Thổ ta đã vận động và tổ chức thành lập chính quyền và du kích ở 55 cơ sở.


Nhân dân các khu cơ sở của ta đều tích cực tham gia chuẩn bị chiến trường: Nắm địch, thu gom lương thực, đi dân công. Khu Bản Bo được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho một tiểu đoàn hành quân vào Nậm Sỏ, Quỳnh Nhai. Nhân dân trong vùng đã làm một con đường bí mật qua Nà Khương, Nà Can, bắc cầu phao qua suối Nậm Hu2 (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hoàng Liên Sơn, Hoàng Liên Sơn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), 1989, tr. 236).


Tỉnh Yên Bái cũng đưa cán bộ cốt cán xuống các cánh đồng lớn như Mường Than, Nghĩa Lộ hoạt động. Sau một thời gian ngắn đã phục hồi và phát triển thêm được nhiều cơ sơ mới. Văn Chấn xây dựng thêm cơ sở ở vùng Man La, Hố Pèng, Man Bó Siêu, Nga Hai, Văn Ngân, Dao Luôn và Khe Lóng; củng cố các cơ sở Sơn Lương, Gia Hội và phát triển vào Nghĩa Lộ. Than Uyên gây dựng cơ sở ở Mường Khoa, Thân Thuộc và 48 bản. Tỉnh Sơn La tăng cường cán bộ cho các trọng điểm hoạt động đã phát triển thêm cơ sở gần khắp cánh đồng Quang Huy, khu Mông 99, hữu ngạn sông Đà. Các tổ vũ trang tuyên truyền đã vào được Tạ Khoa, Cò Nòi, Hát Lót và gần thị xã Sơn La.


Ở các vùng tạm bị chiếm thuộc địa phận Yên Bái, cơ sơ kháng chiến phát triển vào các thôn, bản nằm trên trục đường giao thông quan trọng và các khu kinh tế. Các cơ sơ vùng cao được củng cố cùng với cơ số vùng đồng bằng tạo thành một thế đứng chân liên hoàn, vững chắc. Những ngày chuẩn bị cho chiến dịch mở màn, lực lượng vũ trang huyện Văn Chấn, Trấn Yên cùng các đại đội 85, 87, 97, lực lượng trinh sát và nhân dân, đồng bào dân tộc ít người đều tổ chức nắm địch thông báo cho mặt trận, giữ vững các tuyến đường giao thông liên lạc vào vùng địch như đường 13, đường Mậu A qua đèo Quế, Khâu Vác... ở những nơi sát địch, với sự giúp đỡ của đồng bào, du kích phối hợp với bộ đội địa phương bám sát các đồn địch, tham gia chuẩn bị chiến trường theo yêu cầu của chủ lực. Du kích Việt Long, du kích Cát Thịnh cùng với quân báo bám địch ở Ba Khe. Du kích Hưng Khánh vừa bám đồn địch vừa làm nhiệm vụ bảo vệ kho tàng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #62 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:40:14 pm »

Trước khi chiến dịch Tây Bắc mở màn, để phá âm mưu gây phỉ của Pháp - Mỹ, ổn định khu vực biên giới, ngay từ tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng và Liên khu ủy Việt Bắc chủ trương phối hợp với Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc mở chiến dịch truy quét phỉ, đặc vụ của Tưởng Giới Thạch, giải phóng nhân dân, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ.


Qua gần 1 năm đánh phỉ, quân và dân ta càng hiểu rõ thêm về âm mưu thủ đoạn hoạt động của địch, thấy được tính chất gay go, phức tạp của sự nghiệp kháng chiến trên địa bàn; đồng thời cũng giúp cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhận thức rõ hơn việc phải làm tốt công tác vận động quần chúng; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ đánh phỉ với xây dựng lực lượng, đẩy mạnh sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho đồng bào các dân tộc xây dựng khối đoàn kết dân tộc vững chắc để phá tan mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù.


Sau thắng lợi của chiến dịch tiễu phỉ, nhân dân hai tỉnh Lao - Hà đã thu lợi gần 1.000 con trâu, ngựa; tẩy chay tiền bạc trắng của Pháp, sử dụng tiền do Ngân hàng Việt Nam phát hành. Ruộng, nương rẫy trước kia bỏ hoang hóa nhiều, nay được khai khẩn trồng lúa, hoa màu, đời sống của các dân tộc dần dần ổn định1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1990, tr.165). Nhận thức của đồng bàoTây Bắc ngày càng tiến bộ. "Cụ Hồ tốt, Chính phủ tốt, tôi đi gánh gạo cho Cụ Hồ, cho Chính phủ. Tây không tốt, tôi không đi phu cho Tây"2 (Trần Đăng Ninh, Con người lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr. 469).


Để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952 Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công. Tiếp đó ban dân công các tỉnh cũng được thành lập cùng với lực lượng dân công trên toàn tuyến, đồng bào các dân tộc Tây Bắc cũng được huy động và tổ chức thành từng đoàn, từng đợt phục vụ chiến dịch. Nhân dân các dân tộc và đồng bào dân tộc ít người tỉnh Lai Châu đã góp 2.243 dân công đi phục vụ từ 1 đến 15 ngày và 100 con ngựa thồ đi 5 ngày3 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu, Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979), Xuất bản năm 1060, tr 46). Nhân dân Yên Bái huy động 5.428 dân công thường trực (chiếm 20% số dân) 1.000 lượt người đi dân công 1 tháng, 2.312 lượt người đi dân công 7 ngày1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp. Sđd, tr 181).


Mặc dù phải tập trung cho công tác tiễu phỉ nhưng nhân dân Lào Cai cũng đóng góp được 16.000 ngày công phục vụ mặt trận. Dân công tham gia phục hồi đường ray xe lửa Yên Bái - Lang Thít, làm đường 13 từ km 50 lên giáp đường 41 và khai thông đường từ Chợ Hiên vào Nghĩa Lộ dài trên 100km qua nhiều núi cao, suối sâu. Trong suốt chiến dịch, mặc dù bị địch đánh phá ác liệt... dân công vẫn kiên cường bám trụ, khai thác được hàng ngàn mét khối gỗ, phá được 3 vạn mét khối đá, hoàn thành việc làm đường phục vụ chiến dịch và vận chuyển hàng vạn tấn lương thực, vũ khí ra tiền tuyến.


Vượt qua mọi khó khăn, với ý chí, lòng quyết tâm và sự sáng tạo, nhân dân Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến dịch Tây Bắc, quân nhu đã cung cấp cho bộ đội và dân công 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt và 71 tấn thực phẩm khác1 (Cục Quân nhu Lịch sử Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H 1998. tr. 181). Trong đó nhân dân Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và các vùng mới giải phóng thuộc Khu Tây Bắc đã huy động 191.000 lượt người đi dân công, đóng góp hơn 7 triệu ngày công, 1.011 xe đạp thồ, 258 xe trâu, xe bò và 556 thuyền vận tải trên sông Hồng, sông Đà, cung cấp cho chiến dịch 9.360 tấn gạo, 359 tấn muối và thực phẩm, 33 tấn đạn, 2.535 thương binh được cứu chữa tại mặt trận và đưa về các bệnh viện hậu phương an toàn.


Đây là thắng lợi của tinh thần phục vụ hết lòng, hết sức vì tiền tuyến của quân dân Khu Tây Bắc. Khu ủy Tây Bắc coi đây là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi tập trung sự lãnh đạo chặt chẽ từ trên xuống tận cơ sở. Nhiều nơi giáp hạt thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyện góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa phục vụ tiền tuyến vừa đánh giặc bảo vệ hậu phương. Trong điều kiện sinh sống không tập trung, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bị địch vơ vét cướp phá nhưng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động tại chỗ phục vụ chiến địch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác cùng với 150.000 ngày công. Khi bộ đội về, mặc dù các cơ sở của ta mới phục hồi, nhưng nhân dân các dân tộc Lai Châu đã hăng hái tham gia phục vụ chiến dịch, đi dân công vận tải giúp đỡ bộ đội đánh giặc, cung cấp cho bộ đội 116 tấn gạo, 9.300 kg ngô, 5.984 kg thịt lợn, thịt bò, 56 con trâu, bò, lợn1 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu, Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979). Xuất bản năm 1980. tr. 46). Nhân dân Yên Bái cung cấp cho mặt trận 730 tấn gạo, 622 con trâu, 386 con lợn, 72 tấn muối và 16 tấn đậu, lạc, vừng. Mặc dù phải tập trung phục vụ cóng tác tiễu phỉ, nhân dân Lào Cai cũng đóng góp được 719 tấn thóc. Thực hiện chủ trương huy động hậu cần tại chỗ, nhân dân Nghĩa Lộ nơi diễn ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt cũng đóng góp được 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 con bò, 9 con lợn thịt để nuôi quân2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp. Sđd. tr 181).
   Sau thắng lợi của đợt chiến đấu đầu tiên, tiền phương Tổng cục Cung cấp chủ trương huy động nhân vật lực tại các vùng mới giải phóng trong đó có hai cánh đồng lớn Nghĩa Lộ và Quang Huy. Bộ đội tham gia công tác dân vận cùng cán bộ địa phương, giúp dân gặt vụ mùa. Kết quả đã huy động được ở Nghĩa Lộ, Quang Huy, Mộc Châu, Mai Đà 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt và 15.000 dân công thành 150.000 ngày công1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiếnchống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 80).
   Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc cho thấy việc tổ chức, phát huy vai trò của nhân dân các dân tộc có vị trí hết sức quan trọng. Công tác hậu cần không chỉ đơn thuần là đảm bảo vũ khí, đạn dược, thóc gạo, đường sá... mà trên hết và trước hết là công tác vận động nhân dân của các cấp uy Đáng, chính quyền các cấp.
   Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc khẳng định việc nhận thức rõ vai trò của quần chúng và phát huy vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng là một trong những vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình lãnh đạo của Đảng. Kinh nghiệm đó, bài học đó vẫn giữ nguyên giá trị trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #63 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:41:52 pm »

ĐẠI ĐOÀN 308 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá NGUYỄN BÁ THÔNG
Phó Chính ủy Sư đoàn 308


Sư đoàn 308 là một trong những Sư đoàn chủ lực đầu tiên ra đời trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (28-8-1949). Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Sư đoàn từng tham gia 16 chiến dịch lớn, nhỏ, trong đó có chiến dịch Tây Bắc (Thu Đông 1952).


Sau thắng lợi to lớn của chiến dịch Hoà Bình, chiến trường Việt Nam và Đông Dương có nhiều thay đổi. Trong khi thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn, lúng túng, phải điều chỉnh bố trí lực lượng ở khắp các chiến trường, đặc biệt là chiến trường chính Bắc Bộ, thì lực lượng ta có điều kiện củng cố và tiếp tục lớn mạnh. Sau khi nhận định và đánh giá tình hình, từ tháng 2 năm 1952. Bộ Chính trị đã có ý định mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc và tiến hành công tác chuẩn bị chiến dịch. Tháng 9 năm 1952, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: Tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc.


Lực lượng tham gia chiến dịch được Bộ Tư lệnh chiến dịch lựa chọn gồm: Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, hai trung đoàn của Đại đoàn 316, Tiểu đoàn 910 của Trung đoàn 148, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội thuộc các địa phương: Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai.


Cùng với thời điểm này, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về chính sách vận động các dân tộc thiểu số; Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân trong vùng mới giải phóng".


Ngày 9 tháng 9 năm 1952, trước khi chiến dịch mở màn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm, động viên và cản dặn bộ đội tham gia chiến dịch, trong đó có Đại đoàn 308.


Sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, đêm 10 tháng 10 năm 1952, chiến dịch bắt đầu. Quân ta chia làm bốn cánh tiến lên Tây Bắc. Các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái huy động hàng trăm chiếc thuyền chở bộ đội vượt sông Thao tiến vào Tây Bắc. Trên hướng phối hợp, Đại đoàn 320 và Đại đoàn 304 luồn sâu, hoạt động phối hợp, phán tán sự đối phó của địch ở Liên khu 3.


Tây Bắc là địa bàn quen thuộc đối với Đại đoàn 308, song cuộc hành quân của Đại đoàn lần này cũng gặp nhiều khó khăn vì sức khỏe bộ đội giảm, lại hành quân xa, mang vác nặng, thời tiết mưa lũ không thuận lợi.


Mở đầu chiến dịch trên hướng chủ yếu. Đại đoàn 308 được tăng cường một tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 312, một tiểu đoàn pháo 75mm, một tiểu đoàn cối 120mm, hai đại đội phòng không của Sư đoàn 316 có nhiệm vụ: Tiến công vị trí đầu não của địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, cụ thể là các mục tiêu Nghĩa Lộ phố, Pú Chạng và Cửa Nhì, cụ thể là Trung đoàn 102 có nhiệm vụ tiêu diệt Pú Chạng, Trung đoàn 88 tiêu diệt Nghĩa Lộ phố và Trung đoàn 36 tiêu diệt Cửa Nhì.


Ngày 17 tháng 10 năm 1952, bộ đội Đại đoàn 308 bắt đầu vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, tổ chức lực lượng bao vây các cứ điểm của địch.


Rạng sáng ngày 18 tháng 10 năm 1952, sau đợt pháo kích chuẩn bị phát huy hiệu quả, Trung đoàn 102 chia làm 3 hướng tiến công Pú Chạng, nơi có khoảng 300 tên địch chốt giữ. Trận đánh diễn ra ác liệt, địch thả bom Napan trúng đội hình xung phong của ta, làm 34 cán bộ, chiến sĩ ta bị thương, trong đó có trung đoàn phó Hùng Sinh. Khi vượt cửa mở qua bãi mìn lại thêm 12 đồng chí bị thương vong. Bị tiến công dữ dội, địch cho máy bay ném bom vào trận địa, Tiểu đoàn trưởng Vũ Phương hy sinh ngay dưới chân đồi. Song, với tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội, đến 20 giờ cùng ngày ta làm chủ cứ điểm Pú Chạng, chỉ huy sở Phân khu Nghĩa Lộ. Toàn bộ quân địch bị tiêu diệt và bị bắt, trong đó có tên thiếu tá chỉ huy của địch.


Ở hướng Nghĩa Lộ phố, nhận thấy kết quả của Trung đoàn 102 có chiều hướng tốt, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ ra lệnh ngay cho Trung đoàn 88 chớp thời cơ tiến đánh Nghĩa Lộ phố, không chờ pháo binh chi viện. Chỉ sau hơn 2 giờ chiến đấu, đến 5 giờ 37 phút ngày 18 tháng 10 năm 1952. Trung đoàn 88 tiêu diệt xong Nghĩa Lộ phố, diệt hơn 100 tên, bắt hơn 200 tên, thu toàn bộ vũ khí trang bị chiến đấu.


Ngày hôm sau, 19 tháng 10 năm 1952, Trung đoàn 36 tiến đánh Cửa Nhì, bị địch ném bom Napan và bắn phá dữ dội, thương vong nhiều. Sau khi củng cố lực lượng, Trung đoàn 36 nổ súng tiến công vào lúc 22 giờ, đúng thời điểm địch tập trung quân để rút chạy, rất nhanh gọn, ta tiêu diệt 100 tên, bắt 82 tên (có 2 sĩ quan chỉ huy).


Trong đợt 1 chiến dịch, Đại đoàn 308 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt và làm tan rã hơn 800 tên địch, thu hơn 600 khẩu súng, pháo các loại (trong đó có 2 khẩu pháo lựu, 10 khẩu súng cối, 54 khâu trung liên, đại liên và trọng liên).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #64 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:43:23 pm »

Sau khi kết thúc đợt 1, các lực lượng ta tích cực chuẩn bị cho đợt tiến công thứ 2. Trong khi đó, địch mở cuộc hành quân Loren với lực lượng lớn, gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn xung kích, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 7 đại đội công binh do Đờ Linarét, Tư lệnh Bắc Bộ trực tiếp chỉ huy đánh lên Phú Thọ nhằm phá hủy kho tàng và tiêu diệt chủ lực của ta phân tán lực lượng ta ở hướng Tây Bắc. Trung đoàn 176 phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tích cực ngăn chặn địch. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) được lệnh cấp tốc hành quân về Phú Thọ phối hợp chiến đấu với Trung đoàn 176 và Tiểu đoàn 183 (thuộc Trung đoàn 246) và bộ đội địa phương. Các đơn vị khác kiên quyết vượt sông Đà tiếp tục chiến dịch Tây Bắc. Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 cùng với 2 đại đoàn 316 và 312 tiến công và cao nguyên Mộc Châu.


Trung đoàn 36 vượt hơn 200 km trở về Phú Thọ, cán bộ các cấp vừa hành quân vừa bàn phương án đánh địch. Địch được tin ta đưa chủ lực về nên vội vã ra lệnh rút lui. Từ phương án dự kiến đánh đồn Chân Mộng. Trung đoàn 36 chuyển sang phục kích địch ở Chân Mộng - Trạm Thản. 10 giờ sáng, sau khi được máy bay và pháo binh dọn đường, địch bắt đầu rút quân. Đúng theo dự kiến của ta, chờ cho 40 xe địch vượt qua Trạm Thản, quân ta bắt đầu nổ súng, trận địa phục kích kéo dài hơn 1km. Địch hoàn toàn bị bất ngờ, quân địch ở đồn Chân Mộng cũng vội vã rút chạy, Tiểu đoàn 84 hành quân gấp rút tới truy kích và tiêu diệt thêm một số tên. Trung đoàn 36 giành thắng lợi giòn giã, phá hủy 44 xe cơ giới (có 18 xe tăng, xe học thép), diệt hơn 200 tên địch và bắt 84 tên. Tuy nhiên, trong trận chiến đấu này, ta cũng bị thương vong một số, Tiểu đoàn trưởng Sơn Mã đã anh dũng hy sinh.


Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 36 mở trận tập kích vào vị trí núi Quyết, diệt 1 đại đội và sở chỉ huy Tiểu đoàn 3 ngụy.

Cùng trong thời gian đó, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 vượt sông Đà tiêu diệt địch ở Tây Bắc. Ngày 18 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 102) tiến đánh Hát Tiếu, bắt 90 tên, diệt 8 tên. Ngày 19 tháng 11 năm 1952, trên đường hành quân tới Mường Lụm, Tiểu đoàn 29 (Trung đoàn 88) bắt gọn một tiểu đoàn địch. Qua khai thác tù binh, chỉ trong vài giờ làm công tác chuẩn bị, sẩm tối, Tiểu đoàn 29 dùng tù binh dẫn đường, sau 25 phút tiến công tiêu diệt xong vị trí Mường Lụm, tiêu diệt gần 100 tên, 200 tên bị bắt. Đây là trận tiến công cứ điểm đạt hiệu suất chiến đấu cao (ta hy sinh và bị thương 10 người). Trung đoàn 88 tiếp tục truy kích địch trên đường 41, hướng Chiềng Đông, Cò Nòi, Hát Lót, diệt gọn Tiểu đoàn ngụy số 55 và 1 đại đội dù lê dương. Truy kích địch đến Nà Sản thì bị địch chặn lại, Trung đoàn 88 tập kích Pú Hồng không thành công nên phải lui quân chờ lệnh mới.


Các đơn vị bạn tiến công vào Thuận Châu và Mộc Châu tiêu diệt một loạt cứ điểm.

Trước sức mạnh tiến công của ta, địch ờ Chiềng Đông, Cò Nòi vội rút về Nà Sản.

Đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, toàn bộ quân địch ở Thuận Châu, Sơn La cũng rút lui về Nà Sản, ta giải phóng hoàn toàn thị xã Sơn La.

Ngày 19 tháng 11 địch ở Tú Lệ và một số vị trí khác hoảng hốt chạy về Nà Sản. Tướng Xalăng lập cầu hàng không từ Hà Nội lên tăng cường cho Nà Sản, lập tuyến phòng thủ sông Đà, biến Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh. Đến cuối tháng 11 năm 1952, quân địch tại Nà Sản tăng lên 8 tiểu đoàn và 8 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo, 1 đại đội công binh với 1.200 tên.


Nhận thấy tình hình địch hoang mang, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung 3 đại đoàn: 308, 312, 316 mở đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản.


Trung đoàn 102 và Tiểu đoàn 322 (Trung đoàn 88) tổ chức tiến công cứ điểm Pú Hồng, chỉ chưa đầy 1 giờ đã chiếm gọn trận địa. Tuy nhiên, địch cho máy bay ném bom, dùng bộ binh phản kích rất quyết liệt, gây cho ta nhiều thương vong và chiếm lại vị trí Pú Hồng.


Các đơn vị bạn tổ chức tiến công ở các hướng khác vào Nà Sản không thành công.

Trước tình hình bộ đội mệt mỏi, lại chưa quen đánh Tập đoàn cứ điểm, ta chủ động kết thúc chiến dịch.

Sau gần 2 tháng tham gia chiến dịch Tây Bắc, Đại đoàn 308 đã chiến đấu nhiều trận xuất sắc, giành được thắng lợi lớn (tiêu diệt và làm tan rã, bắt hơn 1.000 tên địch, phá hủy và thu được hàng trăm xe cơ giới, tiêu biểu là trận phục kích ờ Chân Mộng - Trạm Thảm trận Nghĩa Lộ phố, Pú Chạng. Chỉ riêng trong đợt đầu chiến dịch cả 3 trung đoàn đều lập công, số vũ khí thu được lên tới 600 khẩu súng các loại (có 2 khẩu lựu pháo 105mm, 10 súng cối, 5 đại liên, trung liên và trọng liên).


Với những thành tích xuất sắc trong chiến dịch, Đại đoàn 308 được nhận giải thưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các đơn vị thuộc đại đoàn như Trung đoàn 88 được thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, Trung đoàn 36 và Trung đoàn 102 được thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Tiểu đoàn 54 (Trung đoàn 102) được thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Ngoài ra, còn nhiều cán bộ, chiến sĩ được khen thưởng. Các đồng chí Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Sơn, Thái Dũng, Vũ Yên và Chính ủy Trung đoàn 36 Lê Linh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.


Có được những thành tích xuất sắc đó là do đại đoàn thường xuyên giáo dục về đường lối Chiến tranh nhân dân của Đảng và vai trò của ba thứ quân trong lực lượng vũ trang nhân dân, biết dựa vào dân để khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong quá trình huấn luyện và chiến đấu, đại đoàn luôn đề cao kỷ luật, khắc phục mọi khó khăn, nêu cao quyết tâm, giữ vững mối quan hệ hiệp đồng tác chiến với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân trên các địa bàn tác chiến. Đó cũng chính là những bài học kinh nghiệm quý báu cần được vận dụng và phát huy.


Ngày nay trong hoà bình, cùng với nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 vẫn giữ vững truyền thống Quân Tiên Phong anh hùng, luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #65 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:46:11 pm »

ĐẠI ĐOÀN 312 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

ĐẢNG ỦY - CHỈ HUY SƯ ĐOÀN 312


Đại đoàn 312 thành lập ngày 27 tháng 12 năm 1950, là một trong những đơn vị chủ lực, cơ động của Bộ. Trải qua 62 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Đại đoàn luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trong đó, vào mùa thu năm 1952 dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng. Sư đoàn 312 đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch Tây Bắc, giành được nhiều thắng lợi to lớn, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lên một giai đoạn thắng lợi mới.


Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, giải phóng một phần đất đai có tính chiến lược quan trọng. Đại đoàn 312 được vinh dự lên đường tham gia chiến dịch.


Trước khi lên đường vào chiến dịch Tây Bắc, cán bộ, chiến sĩ đại đoàn được học tập tài liệu "Cách mạng Việt Nam" "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi", qua đó thấm nhuần ý thức giai cấp, nhận rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào cuộc kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi. Đồng thời, các đơn vị tích cực tập luyện quân sự, diễn tập kỹ thuật, chiến thuật công kiên, quân số, vũ khí trang bị được bổ sung đầy đủ, cán bộ được sắp xếp bố trí đủ, ai cũng náo nức được nhận nhiệm vụ, lập công.


Đợt 1 chiến dịch. Đại đoàn 312 được phối thuộc 1 đại đội sơn pháo 75mm, một trung đội súng cối 120 (2 khẩu), 1 đại đội công binh, có nhiệm vụ diệt quân địch trên đường Gia Hội đi Nghĩa Lộ, tiêu diệt vị trí Sài Lương (đông bắc Nghĩa Lộ 14km) và chuẩn bị đánh vị trí Gia Hội.


Sau khi tiêu diệt Sài Lương, Trung đoàn 141 (thiếu Tiểu đoàn 16) về Bản Tủ (bắc Nghĩa Lộ 6km) là lực lượng dự bị cho chiến dịch. Tiểu đoàn 16 phối thuộc cho Đại đoàn 308 diệt các cứ điểm Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Cửa Nhì.


Để tạo bất ngờ, các lực lượng tham gia chiến dịch tập kết ở tả ngạn sông Thao. Đêm 10 tháng 10 năm 1952, các trung đoàn chia làm 4 mũi vượt sông bằng hàng trăm chiếc thuyền nan của nhân dân Phú Thọ, Yên Bái.


Đại đoàn 312 tiến theo 2 mũi. Trung đoàn 209, Trung đoàn 165 và Đại đoàn bộ từ hướng Bắc vượt qua đèo Nậm Bằng tiến vào bao vây Nậm Mười, Bán Tú (trên đường diệt một đồn nhỏ để mở đường). Trung đoàn 141 vượt đèo Khe Lóng, tiến vào Sài Lương. 15 giờ ngày 14 tháng 10. Trung đoàn 141 nổ súng mở màn chiến dịch. Địch trong đồn Sài Lương bí mật rút xuống hầm, gọi máy bay oanh tạc dữ dội xung quanh đồn. Sau 20 phút, ta phá xong hàng rào, bộ đội xông vào đồn, nhưng lên đồn mới biết được lực lượng lớn của địch đã rút xuống khe suối, chỉ để lại một bộ phận nhỏ để đối phó với ta bằng lựu đạn, tiểu liên rồi rút chạy.


Ta chỉ diệt được 5 tên, bắt 4 tên. Tù binh khai ngay từ ngày 3 tháng 10 địch đã phát hiện dấu vết vào trinh sát của ta.

Chiếm được cứ điểm Sài Lương nhưng Trung đoàn 141 không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch do nắm địch không kỹ càng, tỉ mỉ, lộ bí mật, vây không kín. Tuy vậy, với việc chiếm được Sài Lương, ta đã nhổ được 1 điểm án ngữ của địch, mở đường cho các đơn vị bạn vào đánh Nghĩa Lộ.


Đêm ngày 17 tháng 10. Đại đoàn 308 tiêu diệt đồn Pú Chạng và Nghĩa Lộ, bắt toàn hộ chỉ huy phân khu. Mất Nghĩa Lộ, đồn Gia Hội bị cô lập. Địch cho máy bay ném bom chặn ta rồi lặng lẽ rút lui. Sau khi Đại đoàn 308 chiếm được Nghĩa Lộ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 sử dụng Tiểu đoàn 542 chặn đường địch bỏ chạy trên đoạn Phong Du - Tú Lệ,đồng thời điều Tiểu đoàn 115 và Tiểu đoàn 564 chuẩn bị đánh công kiên Gia Hội. Bộ đội đã vào chiếm lĩnh trận địa, phát hiện địch đã rút chạy. Tiểu đoàn 115 vội quay ra đuổi địch theo hướng Gia Hội - Tú Lệ.


Tối 18 tháng 10, khi Tiểu đoàn 115 vận động đến cách Tú Lệ 7km thì gặp địch, ta nổ súng. Địch chạy vào cứ điểm, dùng hỏa lực chống trả. Các chiến sĩ lao theo địch vào đồn, nhưng do không tổ chức yểm trợ chu đáo nên bị hoả lực và chướng ngại vật địch ngăn lại, bị thương vong. Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 lệnh cho Tiểu đoàn 115 phải đánh ngay Tú Lệ nếu không địch sẽ bỏ chạy. Do chưa nắm chắc địch, không có bộc phá,hỏa lực chế áp nên Tiểu đoàn 115 chấp hành lệnh bằng cách vây chặt đồn, dùng một bộ phận nhỏ đánh vào chỗ sơ hở bên ngoài, vừa đánh vừa điều tra địch, chờ trung đoàn chi viện.


Đến 23 giờ ngày 18, Đại đội 505 tiến vào sát sân hay vừa lúc gặp toán địch từ Gia Hội chạy về. Ta nổ súng. Địch bỏ chạy. Ta bắt 15 tên và đuổi đến cổng đồn. Tiểu đoàn 115 nhận định địch đang lúng túng, đánh có thể thắng và hạ quyết tâm đánh đồn ngay không cần phải tiếp tục trinh sát. Đúng 1 giờ sáng ngày 19, Tiểu đoàn nổ súng. Hai đại đội 501 và 503 xung phong bị dây thép bùng nhùng cản lại, bãi mìn nổ. Địch dùng hoả lực mạnh chống trả. Bộ đội bị thương vong nhiều ở cửa mở.


Như vậy là do nhận định sai, nắm địch không chắc, hành động vội vàng, Tiểu đoàn 115 mắc sai lầm. Quân số địch đông (500 tên) và tổ chức trận địa khá vững chắc, có dây thép gai và mìn là hệ thống chướng ngại vật, lại nghi binh rút chạy để lừa ta vào túi lớn. Ta thương vong nhiều ngay ngoài cửa mở. Tuy vậy, Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên vẫn quyết tâm chiếm bằng được điểm cao, tiếp tục lệnh cho các mũi xung phong. Một lần nữa tiểu đoàn lại thương vong trước hàng rào địch. Trời sáng, địch dùng hoả lực giội vào đội hình ta, thương vong lên cao hơn.


Khi nhận ra tình hình nguy hiểm, Tiểu đoàn lệnh rút ra để chặn đường rút chạy của địch thì đã muộn. Nhìn địch rút chạy mà đơn vị không còn sức đuổi, lại mất liên lạc với trung đoàn, tiểu đoàn phải rút vào khe núi băng bó thương binh, củng cố đội hình. Tiểu đoàn 115 đã không hoàn thành nhiệm vụ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #66 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:47:39 pm »

Trong khi Tiểu đoàn 115 gặp khó khăn ở Tú Lệ thì đêm 18, Sở chỉ huy đại đoàn mất liên lạc với các đơn vị. Đại đoàn trưởng và Chính ủy cùng một số tổ điện đài xuống Tiểu đoàn 154 (Trung đoàn 209) động viên bộ đội, trực tiếp nắm Tiểu đoàn này đuổi địch. Trước nhiệm vụ khẩn trương, dù cơm đang nấu dở, anh em đang đói, nhưng tất cả cơ động ngay và đuổi địch thâu đêm. Sáng ngày 19, khi lực lượng ta đến Tú Lệ thì vừa lúc địch rút khỏi cánh đồng. Quên cả đói, mệt, các chiến sĩ Tiểu đoàn 154 leo lên đèo Cao Phạ bám sát địch.


Chiến sĩ Chu Viết Sòi cắp trung liên tắt rừng đón đầu bắn quét địch ở ngang dốc và xông thẳng vào đội hình địch. Đuổi địch đến dốc vừa đói, vừa mệt, có lúc Sòi gục xuống, nhưng lại vùng dậy đuổi tiếp. Anh đã nêu tấm gương thọc sâu,chiến đấu anh dũng. Trận truy kích này ta diệt được hai đại đội lính dù thuộc Tiểu đoàn 2 (2èBPC), bắt 27 tên.


Đêm ngày 19 tháng 10, Đại đoàn trưởng gọi Trung đoàn trưởng 165 và Tiểu đoàn trưởng 115 lên phân tích khuyết điểm và phê bình nghiêm khắc. Chính trị viên Tiểu đoàn 115 Ngọc Châu đã xin với đại đoàn cho đơn vị lập công để sửa chữa. Đại đoàn cho Tiểu đoàn 115 thay Tiểu đoàn 154 đuổi địch theo hướng Tú Lệ - Cao Phạ - Ngọc Chiên - Ít Ong với chỉ thị: Tiểu đoàn trưởng và hoả lực đi đầu khi đuổi địch, gặp địch phải phát huy hoả lực mạnh, đuổi nhanh, chia cắt địch từng mảng, đuổi sát bọn đi đầu. Hàng binh, thương binh để phía sau giải quyết.


Lúc 10 giờ ngày 20 tháng 10, Tiểu đoàn 115 vượt đèo Cao Phạ. Trên đường tiến ta gọi hàng được 80 tên. Địch dùng một toán phục kích trên đèo, cùng máy bay chặn ta. Chiến sĩ thi đua toàn quốc Hoàng Đình Kỳ cùng 7 chiến sĩ đã lao thẳng lên đèo bất ngờ đánh vào sau lưng toán phục kích, bắt 20 tên lính ngụy và 1 thiếu úy Pháp. Địch cho máy bay ném bom dữ dội làm Tiểu đoàn 115 bị chia cắt làm đôi. Tuy nhiên, toán đầu 50 người do Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, đến 18 giờ tối gặp địch ở chân đèo bên kia đã chia thành 2 mũi, tập kích ngay, diệt và bắt 1 trung đội địch thuộc Tiểu đoàn 57 vừa nhảy dù xuống chặn ta. Sau đó Tiểu đoàn 115 quyết định chọn 80 người lập một đội xung kích lao về phía Ít Ong. Vào lúc 4 giờ 30 phút sáng ngày 21, địch bí mật rút khỏi Ít Ong. Chạy về đến Sơn La, chúng gặp bộ đội ta truy kích. Anh em kêu gọi, bắt được một số hàng binh, số còn lại chạy thoát, cả vùng Mường La được giải phóng.


Trong trận truy kích Tú Lệ - Ít Ong, Tiểu đoàn 115 đã bắt 187 tên, thu 12 trung liên, 8 đại liên và hơn 100 súng các loại.

Sau 13 ngày chiến đấu, ta quét sạch địch khỏi khu vực sông Thao và sông Đà, bộ đội ở lại Ít Ong giúp củng cố chính quyền địa phường và chuẩn bị đợt 2 chiến dịch Tây Bắc.

Trong đợt 1 chiến dịch, Đại đoàn 312 căn bản hoàn thành nhiệm vụ, diệt 150 tên, bắt 450 tên. Nhưng nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch chưa đạt yêu cầu do nắm địch không chắc, lúng túng, thiếu mưu trí, linh hoạt, đối phó với tình hình khi địch có nhiều thay đổi. Các đơn vị đã tổ chức tự phê bình và phê binh ngay tại trận.


Kết thúc đợt 1 chiến dịch, do mưa lũ, việc tiếp tế vận chuyển trên địa bàn rừng núi gặp khó khăn. Mặt trận phát động "Chiến dịch gạo". Đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Cung cấp của mật trận trực tiếp huy động lực lượng vận tải và tổ chức quyên góp trong nhân dân. Để tiết kiệm gạo trong lúc dừng chuẩn bị đợt 2 chiến dịch, bộ đội ăn cháo, đào củ mài, dè sẻn từng hạt gạo để dành cho đợt chiến đấu tiếp theo.


Để đối phó với hoạt động của ta, địch đổ thêm 9 tiểu đoàn cơ động xuống Tây Bắc, đưa số quân lên 16 tiểu đoàn và 32 đại đội, đồng thời mở cuộc hành quân Loren dùng ba binh đoàn cơ động đánh Phú Thọ, phá hậu phương chiến dịch của ta. Nhưng cuộc hành quân của địch đã bị Trung đoàn 246 và Trung đoàn 176 của Đại đoàn 316 cùng các lực lượng dân quân du kích địa phương đập tan. Ta giữ vững quyền chủ động về chiến lược và chiến dịch.


Bước vào đợt 2 chiến dịch Tây Bắc, Tổng Quân ủy chủ trương tập trung 6 trung đoàn mở hướng tiến công chủ yếu vượt sông Đà, đánh vào cao nguyên Mộc Châu, đồng thời tổ chức mũi vu hồi cùng các đơn vị của Tây Bắc do đồng chí Bằng Giang chỉ huy mang mật danh "Mặt trận Y13" đánh vào sau lưng địch ở Sơn La, nam Lai Châu. Bộ tăng cường Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) cho mặt trận này.


Quân địch ở Mộc Châu, Sơn La tổ chức 2 khu vực phòng thủ. Khu Lai Châu - Sơn La do đại tá Gin (Gillé) chỉ huy. Phòng tuyến Tạ Khoa - Mộc Châu do Lăngsađơ (Lansade) chỉ huy.

Đêm ngày 15 và 16 tháng 11 năm 1952. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) vượt sông ở khu vực Vạn Yên, có nhiệm vụ tiêu diệt Tiểu đoàn Marốc số 3 và phối hợp với các cánh quân bạn để phá vỡ phòng tuyến hữu ngạn sông Đà. Cầu phao chưa bắc xong, Trung đoàn trưởng Vũ Nam Long đã nhảy xuống bơi thử và quyết định tổ chức Trung đoàn 141 thành nhiều đội gồm những người biết bơi vượt sóng sang trước để kịp thời làm nhiệm vụ.


Trưa ngày 18 tháng 11, Trung đoàn 209 do Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm chỉ huy áp sát Bản Hoa, bao vây và điều tra địch giữa ban ngày. Qua trinh sát, ta biết Bản Hoa do đại bộ phận Tiểu đoàn Marốc số 3 gồm hơn 300 tên chiếm giữ, quan ba Rukét (Roenquett) chỉ huy.


Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 11, lực lượng ta chiếm lĩnh trận địa Bản Hoa. Tổng tư lệnh đã gọi điện đến Trung đoàn trưởng trực tiếp động viên cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209. Vào lúc 3 giờ sáng ngày 19, bộ đội nổ súng. Địch bị bất ngờ. Sau 20 phút bộc phá mở cửa, xung kích tràn vào từ 3 hướng, chia cắt địch ra để tiêu diệt. Mũi nhọn của đồng chí Trần Can chọc thắng vào cứ điểm địch, vừa đánh vừa gọi hàng được 20 tên. Tân binh Trần Thành vừa phá xong hàng rào đã xung phong vào đánh chiếm hầm ngầm địch. Đến õ giò 30 phút sáng ngày 19, địch phá rào chạy. Lực lượng ta bao vây, truy quét địch, diệt và bắt 300 tên. Quan ba Rukét bị bắt sống. Nhiều đồng bào người dân tộc bị địch bắt giam được giải phóng.


Đây là lần đầu tiên đại đoàn đánh công kiên không có chuẩn bị trước. Trận đánh giành thắng lợi giòn giã.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #67 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:49:07 pm »

Trong khi đó, Trung đoàn 141 tiến vào đánh Tà Pình, phát hiện địch đã rút chạy, nên Trung đoàn nhanh chóng quay về đánh Ba Lay, một vị trí nằm trên đường Vạn Yên đi Mộc Châu. Tại đây địch có hai đại đội đóng trên mỏm cao.

Lúc 4 giờ sáng ngày 20, pháo và cối 120mm của ta bắn chuẩn bị. Sau 7 phút bắn pháo, đội bộc phá của Lê Văn Tý chiến sĩ thi đua toàn quốc đã phá xong các lớp rào thép gai. Bị đạn xuyên qua ngực, đồng chí Tỷ vẫn động viên anh em trong tổ hoàn thành nhiệm vụ rồi mới ngã xuống.Tiểu đội trưởng Tống Tinh bị thương gãy tay vẫn cắp tiểu liên xung phong cho đến khi loạt đạn địch xuyên qua người mới chịu ngã. Tiểu đội trưởng Lê Văn Húm bị thương, tự băng bó rồi tiếp tục chỉ huy tiểu đội chiến đấu. Tiểu đoàn 16 phát triển vào tung thâm. Trong khi đó, mũi phía tây của Tiểu đoàn 11 bị hàng rào cản chưa phá được. Tiểu đội trưởng Hội đã đứng lên nâng hàng rào cho bộ binh vượt qua. Các chiến sĩ Mão, Lâm tự động ghép thành tổ chiến đấu đánh địch dưới hầm ngầm, gọi hàng 50 tên. Ta chiếm được Ba Lay, Tiểu đoàn Marốc số 3 hoàn toàn bị xoá sổ.


Trong lúc Đại đoàn 312 đánh Ba Lay, các đại đoàn bạn cũng công phá thắng lợi các cứ điểm Mường Lụm (19-11) và Mộc Châu (20-11). Hệ thống phòng thủ Mộc Châu của địch bị tan vỡ. Địch ở các cứ điểm ven sông Đà từ Hát Tiếu đến Tạ Khoa bỏ chạy co cụm về Nà Sản. Ta đuổi địch đến tận Nà Sản.


Ở hướng thọc sâu, đồng chí Lê Thủy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 chỉ huy hai tiểu đoàn 542 và 564 vượt sông Đà (Tiểu đoàn 115 đang đuối địch ở Ít Ong). Tiểu đoàn của Tây Bắc vượt sông, đêm 7 tháng 11 tập kích Nậm Dín. Tiểu đoàn 542 và 910 phát triển, thọc vào Quỳnh Mai. Bị bất ngờ, địch ở cả hai tiểu khu Tuần Châu và Tuần Giáo đều bỏ chạy. Đường 41 từ Sơn La đi Lai Châu bị ta cắt đứt một đoạn dài 60km. Lai Châu và Tiểu khu Điện Biên Phủ cô lập.


Trước tình hình đó, địch cấp tốc điều hai tiểu đoàn chiếm lại Tuần Giáo - Lai Châu rồi hội quân chiếm lại Quỳnh Mai, khôi phục vùng hậu phương vừa bị mất.

Tiểu đoàn 542 phục kích trên đường 41 đánh tan Tiểu đoàn 57 (BVN), diệt 92 tên, bắt 183 tên, thu 2 cối 81mm và 200 súng các loại.

Tiểu đoàn 564 vượt sông Đà nhằm Tiểu khu Mường Sài tiến vào.

Tiểu đoàn 115 mất liên lạc với Trung đoàn, Đảng ủy Tiểu đoàn vẫn quyết nghị vượt sông, bám theo trung đoàn. Tiểu đoàn đã dùng một trung đội đốt đuốc hành quân qua đèo, khiến địch đoán nhầm là lực lượng lớn của ta đã vượt sông. Toàn tiểu đoàn vượt sông ở Mường Phin bằng thuyền độc mộc của nhân dân rồi thọc sâu với tốc độ 50km/ngày. Dọc đường trên Mường Pú, tiểu đoàn bất được 25 tù binh.


Đại đội 950 Tiểu đoàn 115 gặp địch ở dọc đường đã mưu trí bao vây rồi bất ngờ ập tới bắt hai tên chỉ huy, buộc chúng lệnh cho toàn đơn vị đầu hàng. Ta bắt 250 tên mà chỉ mất 1 băng tiểu liên thị uy. Đại đội 950 tiếp tục tiến công, diệt một đại đội Âu - Phi khác, bắt 1 đại úy Pháp, buộc bọn này phải dẫn đường đến Điện Biên Phủ.


Tiểu đoàn 564 (Trung đoàn 165) tiến vào Mường Phủi thắng liền 2 trận với hiệu suất cao do đánh bất ngờ và tổ chức đánh chính diện kết hợp vu hồi, diệt 16 tên, bắt 381 tên (có 2 quan ba, 3 quan hai, 7 quan một); thu 12 súng cối, 5 đại liên, 36 trung liên và 600 súng Pháp. Tổ liên lạc Nguyễn Văn Luân của Tiểu đoàn 115 dùng mưu lừa địch khiến địch tưởng ta có hàng đại đội, bắt một trung đội địch đầu hàng.


Bộ Tư lệnh "Y13" (Tư lệnh Bằng Giang, Phó Tư lệnh Lê Thuý, Chính ủy Song Hào) lệnh cho Tiểu đoàn 115 vận động gấp bao vây thị xã Sơn La. Tiểu đoàn đốt đuốc hành quân suốt đêm, đến nơi chỉ còn chặn được chiếc xe cuối cùng của địch đang rút chạy, bắt một trung đội do trung úy tình báo Pháp Cơvít chỉ huy. Tiểu đoàn tiếp tục truy lùng, gọi hàng 450 lính, 5 sĩ quan, 1 tri châu; thu 4 cối 81mm, 6 đại liên, 32 trung liên, 12 điện đài và 400 súng khác.


Khoảng 8 giờ sáng ngày 20 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 542 (Trung đoàn 165) tiến vào cánh đồng Điện Biên. Ta vừa nổ súng đánh trung đội cảnh giới thì cả tiểu khu địch đã bỏ chạy. Tiểu đoàn chủ lực Pháp do thiếu tá Găngxica chỉ huy bị ta truy đuổi. Địch bị bắt và ra hàng 552 tên.


Liên tiếp bị thua đau, đêm 22 tháng 11, tàn quân địch ở các nơi vùng bắc Sơn La tập trung về Nà Sản lập thành tập đoàn cứ điểm lớn gồm 28 cứ điểm có 8 tiểu đoàn phòng thủ. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản.


Đêm 30 tháng 11, Tiểu đoàn 115 (Trung đoàn 165) gấp rút tiến công Bản Hời phía bắc Nà Sản, cách trung tâm tập đoàn cứ điểm 2km để phối hợp với đơn vị bạn đánh Pú Hồng. Do phải nổ súng gấp để chấp hành mệnh lệnh phối hợp với đơn vị bạn, Tiểu đoàn 115 phải khắc phục rất nhiều khó khăn dùng thuốc bom thay bộc phá. Mọi việc chuẩn bị của tiểu đoàn đều diễn ra dưới các đợt phi pháo dịch. Trận đánh công kiên diễn ra vô cùng ác liệt ngay từ phút đầu. Do hết bộc phá, mở không hết rào, bộ đội ùn tắc ở cửa mở, bị thương vong nhiều. Sau hơn 1 giờ chiến đấu dũng cảm. Tiểu đoàn 115 làm chủ Bản Hời, diệt gần một đại đội địch.


Phát huy thắng lợi, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn: Tiếp tục công kích tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Trung đoàn 209 được tăng cường lực lượng tiêu diệt Bản Vậy - cứ điểm chính trong cụm cứ điểm phòng ngự phía nam Nà Sản. Địch ở cứ điểm Bản Vậy, có hai đại đội lê dương, có hoả lực cầu vồng, pháo 57mm, với nhiều lô cốt, hầm ngầm vững chắc. Do một mũi tiến công của ta bị lộ, địch đã chủ động đối phó. Trung đội bộc phá mở cửa hầu như thương vong hết. Sau khi mở được cửa, bộ phận xung kích chiếm được một đoạn hào, nhưng do thương vong không đủ sức phát triển phải dừng lại. Gần sáng địch tăng cường hoả lực và phản kích. Ta không đủ sức đánh tiếp phải rút lui. Trận đánh không thành công.


Đêm ấy đơn vị bạn tiến công Nà Sản cũng không thắng lợi. Hôm sau địch cho quân nhảy dù tăng cường cho Nà Sản.

Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy Nà Sản là một tập đoàn cứ điểm vững chắc, mà ta chưa có kinh nghiệm đánh tập toàn cứ điểm nên kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12. Trên cả hai mặt trận Đồng bằng và Tây Bắc, ta diệt 13.800 địch, giải phóng tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) với diện tích 28.500km2, 250.000 dân. Căn cứ địa của ta được mở rộng.


Đài đoàn 312 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, diệt trên 4.000 địch, thu nhiều vũ khí. Qua chiến dịch, đại đoàn đã trưởng thành trong đánh công kiên và đánh vận động tiến công liên tục. Các đơn vị của đại đoàn đã vận dụng thành công nghệ thuật đánh thọc sâu, truy kích, kết hợp với địch vận và vận động nhân dân đấu tranh với địch bằng nhiều hình thức, nên hiệu suất chiến đấu cao. Nhiều gương chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí xuất hiện. Tuy nhiên, qua những trận đánh không thành công ởNà Sản, đại đoàn tự nhận thấy sức mạnh chiến đấu và năng lực chỉ huy của cán bộ mới có khả năng giải quyết từng cứ điểm, cụm cư điểm, chứ chưa đánh được tập đoàn cứ điểm. Thực tế đó đã đặt ra trước đại đoàn yêu cầu mới về nâng cao sức mạnh chiến đấu, đủ sức hoàn thành những nhiệm vụ ngày càng nặng nể trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #68 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:52:02 pm »

ĐẠI ĐOÀN 316 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

ĐẢNG ỦY - CHỈ HUY SƯ ĐOÀN 316


Đại đoàn 316 được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951, tại làng Cốc Lùng, huyện Thoát Lãng (nay là huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, gồm có Trung đoàn 174 (tiền thân là Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng), Trung đoàn 98, Trung đoàn 176, với quân số hơn 9.000 người. Cán bộ, chiến sĩ hầu hết là con em các dân tộc ở Việt Bắc, Đông Bắc đã từng tham gia chiến đấu nhiều trận, lập nhiều chiến công xuất sắc. Hơn một năm sau ngày thành lập, đại đoàn đã tham gia chiến đấu trong chiến dịch Tây Bắc 1952, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Trước khi chiến dịch Tây Bắc diễn ra, theo kế hoạch chung của Bộ Tổng tư lệnh, đầu tháng 7 năm 1952, toàn đại đoàn bước vào đợt huấn luyện quân sự. Nội dung huấn luyện gồm các khoa mục kỹ thuật bộ binh, chiến thuật đánh công sự vững chắc, vận động, quân ứng chiến của địch... Sau huấn luyện đều có diễn tập thực binh tới cấp tiểu đoàn. Kết thúc đợt huấn luyện, các đơn vị đều hoàn thành vượt mức chỉ tiêu do Bộ đề ra. Qua quá trình củng cố và huấn luyện, các đơn vị trong đại đoàn đều trưởng thành lớn mạnh.


Đến tháng 9 năm 1952, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và tương quan lực lượng địch, ta, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch giải phóng Tây Bắc. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn 316, 308, 312, 351 và Trung đoàn 148.


Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh triệu tập Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch. Hội nghị được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và chỉ đạo. Người nói: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi...".


Đại đoàn 316 tham gia chiến dịch với nhiệm vụ của từng đơn vị như sau: Trung đoàn 174 cùng một bộ phận hỏa lực của đại đoàn, phối thuộc với Đại đoàn 308. Tiểu đoàn phòng không phối thuộc với Trung đoàn 36 đánh địch trên hướng Nghĩa Lộ. Trung đoàn 98 (thiếu Tiểu đoàn 938) và Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) do đại đoàn trực tiếp chỉ huy, đánh địch tại vùng Phù Yên - Sơn La. Trung đoàn 176 (thiếu Tiểu đoàn 888) và Tiểu đoàn 938 (Trung đoàn 98) ỏ lại Phú Thọ, sẵn sàng cơ động đánh địch và bảo vệ hậu phương chiến dịch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đợt 1 chiến dịch, đại đoàn sẽ tập trung lực lượng vượt sông Đà, tiến đánh Tiểu khu Mộc Châu (Sơn La), mở thông đường 41, bảo đảm vận chuyển, tiếp tế của chiến dịch, phối hợp cùng các đơn vị bạn giải phóng tiếp các khu vực còn lại của Tây Bắc.


Ngày 12 tháng 9 năm 1952 Đại đoàn 316 lên đường đi chiến dịch.

Từ Phúc Trìu, Đèo Khế, Trung đoàn 174 và một bộ phận hỏa lực của đại đoàn tách khỏi đội hình vượt sông Lô ở Bình Ca, sang Yên Bái vượt sông Thao ở Âu Lâu tiến vào vị trí tập kết ở vùng Đá Trắng phối thuộc với Đại đoàn 308 trong đợt 1 của chiến dịch. Lực lượng còn lại của đại đoàn tiếp tục hành quân qua đèo Kháng Nhật rồi vượt sông Lô ở Phan Lương sang Phú Thọ, vượt tiếp sông Hồng ở Chí Chủ tiến vào Yên Lập, tập kết ở Thu Cúc, Lai Đồng (Thanh Sơn).


Ngày 22 tháng 9, Đại đội 813 được lệnh tách khỏi đội hình của Tiểu đoàn 888 cùng bộ phận trinh sát vượt lên trước đội hình bí mật qua sông Đà trong đêm, luồn sâu vào Mộc Châu chuẩn bị chiến trường cho nhiệm vụ của đại đoàn trong đợt 2 chiến dịch.

Sau khi vượt sông Lô đến Phú Thọ, các tiểu đoàn 970, 999 (Trung đoàn 176) và Tiểu đoàn 938 (Trung đoàn 98) được lệnh dừng lại để phối hợp với các lực lượng địa phương chuẩn bị phương án tác chiến và địa bàn hoạt động sẵn sàng cơ động đánh địch, đề phòng địch từ hướng Trung Hà, Việt Trì bất ngờ đánh vào sau lưng ta, cứu ngụy cho bọn địch ở mặt trận chính.


Ngày 12 tháng 10, tất cả các đơn vị của đại đoàn đã vào vị trí tập kết theo đúng kế hoạch, trong tư thế sẵn sàng đánh địch.

Ở hướng Nghĩa Lộ, Trung đoàn 98 đánh Bản Trại, Trung đoàn 174 đánh Ca Vịnh. Ba Khe. Đây là hai vị trí án ngữ khu vực ngã ba từ Yên Bái đi Sơn La và Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Trận địa của địch được bố trí rất kiên cố. 17 giờ 45 phút pháo binh ta bắt đầu nổ súng, ngay từ phút đầu đã mở xong cửa mở, ta nhanh chóng chiếm lô cốt đầu cầu, phát triển sâu vào đồn địch. Trước ngụy cơ bi tiêu diệt, địch bỏ chạy. Ta để lại 1 trung đội truy quét địch lực lượng còn lại gấp rút chấn chỉnh đội hình tiếp tục tiến công Ba Khe. Trong các đêm 14 và 15 tháng 10, địch ở Ba Khe, Thượng Bằng La, Đông Bồ, Khe Địa, Gốc Báng đều bỏ đồn chạy vào rừng. Trung đoàn 174 chuyển sang lùng quét quân địch, bắt 95 tên, diệt 28 tên trong đó có 3 tên sĩ quan Pháp.


Trên hướng Phù Yên, Trung đoàn 98 đánh Bản Trại (La Phù) và Bản Mo (Sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên).

Tiểu đoàn 439 đánh Bản Trại đã nhanh chóng giành thắng lợi. Địch ở Bản Trại và các đồn xung quanh hoảng loạn bỏ chạy về Bản Mo.

Ngày 17, Trung đoàn 98 chuẩn bị tiến công Bản Mo. 1 giờ sáng ngày 18 tháng 10 pháo ta đã ngắm bắn trực tiếp vào các lô cốt bê tông, cùng đại liên nhanh chóng bịt chặn các lỗ châu mai và hỏa điểm địch. Đạn cối các loại bắn vào đài chỉ huy thông tin, trận địa pháo tạo đòn phủ đầu khiến địch choáng váng. Các mũi xung kích của ta nhanh chóng thọc sâu đập tan sức đế kháng địch. Sau 55 phút chiến đấu, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt và bắt sống, trong đó có tên quan ba chỉ huy tiểu khu và tên tri châu Phù Yên.


Các hướng khác của chiến dịch đã giành được thắng lợi dồn dập. Mặt trận được mở rộng nhanh chóng. Trong 10 ngày chiến đấu bộ đội chủ lực cùng với các lực lượng địa phương đã quét sạch địch trong cả một khu vực rộng lớn giữa sông Thao và sông Đà từ Vạn Yên (Sơn La) đến Quỳnh Nhai (Lai Châu).


Để củng cố phòng tuyến còn lại ở hữu ngạn sông Đà, thực dân Pháp một mặt điều gấp 9 tiểu đoàn cơ động lên Tây Bắc; mặt khác mở cuộc hành quân Loren với một lực lượng lớn đánh lên Phú Thọ hòng phá hậu phương chiến dịch của ta, buộc chủ lực ta phái quay về đối phó. Tình huống này đúng như ta đã dự đoán trước. Ta vẫn quyết tâm phát huy thắng lợi tiếp tục bước vào đợt 2 của chiến dịch, đồng thời sẵn sàng đập tan cuộc hành quân Loren của địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #69 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:53:28 pm »

Ngày 28 tháng 10 năm 1952, địch bắt đầu đánh lên Phú Thọ bằng cả đường thủy và đường bộ. Trung đoàn 176 cùng với Trung đoàn 246 và lực lượng địa phương liên tiếp đánh địch ở sông Thao, Vĩnh Lại, Ngọc Tháp, thị xã Phú Thọ rồi ở Cầu Tráng, Trù Mật, Đồi Trà... tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Sau đó để đương đầu với một lực lượng địch đông gấp nhiều lần, ta phân tán thành những đơn vị nhỏ lẻ đánh phục kích, tập kích tiêu hao và kiềm chế địch, bảo vệ nhân dân và kho tàng. Trung đoàn 176 đánh địch tại Năng Yên, Nậu Phó, Phú Lộc, Mai Đình, Thanh Mại diệt trên 100 tên. Ngày 27 tháng 11, sau những thất bại hết sức nặng nề địch phải rút về Việt Trì, Trung Hà. Âm mưu đánh chiếm Phú Thọ để cứu ngụy cho Tây Bắc của địch đã thất bại.


Trên chiến trường chính Tây Bắc quân và dân ta đã tích cực chuẩn bị cho đợt 2 của chiến dịch, đặc biệt là công tác chuẩn bị bộ đội và công tác bảo đảm.

Đêm ngày 27 tháng 10. Trung đoàn 98 lặng lẽ vượt sông Đà bí mật, an toàn và nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Tới hết đêm ngày 6 tháng 11, các đơn vị của đại đoàn đều đã vượt sông theo đúng kế hoạch. Phát hiện lực lượng ta vượt sông Đà, ngày 5 tháng 11 địch điều gấp Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn cơ động Marốc) từ Bản Hoa về Ba Lay để thăm dò và đẩy lực lượng ta ra xa.


Ngày 7 tháng 11, Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) đang vây ép Ba Lay thì được lệnh bàn giao nhiệm vụ đánh đồn cho Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) để hành quân về làm lực lượng dự bị cho Trung đoàn 174 tiến đánh Mộc Châu.

Mộc Châu là vị trí sở chỉ huy tiểu khu của địch nằm án ngữ trên ngã ba đường 41 từ Hòa Bình lên Sơn La và từ Mộc Châu qua Pa Háng sang sầm Nưa (Thượng Lào). Kiểm soát được Mộc Châu sẽ quyết định cho việc triển khai tuyến hậu cần chiến dịch từ Hòa Bình lên, bảo đảm cho các đơn vị chủ lực tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Vì vậy, quyết tâm của Đảng ủy và chỉ huy đại đoàn là tập trung phần lớn lực lượng của đại đoàn kiên quyết tiêu diệt địch ở Mộc Châu, mở thông đường 41, tạo điều kiện cho ta tiến vào giải phóng Sơn La và các địa bàn quan trọng khác.


Đồn Mộc Châu nằm trên ngọn núi đá tai mèo độc lập có nhiều vách đứng, hiểm trở. Lợi dụng các mỏ đá, địch triển khai một hệ thống lô cốt kiên cố chia thành nhiều tầng hỏa lực, có khả năng chi viện đắc lực cho nhau. Các hầm cố thủ, hầm chỉ huy đều bằng bê tông, cốt sắt, hệ thống thông tin liên lạc được triển khai tốt nối với Sơn La, Hà Nội. Đồn trưởng là quan ba Vanhxăng có kinh nghiệm trong đàn áp và dày dạn trong ứng phó với các hoạt động của ta trên vùng rừng núi. Thực hiện chính sách dồn dân, ngăn cách dân với cách mạng, cách đồn khoáng 500m về phía tây nam địch tổ chức một khu tập trung với hàng nghìn dân.


Để đánh Mộc Châu, lực lượng của đại đoàn được bố trí như sau:

- Trung đoàn 174 được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75mm, 1 đại đội cối 120mm là lực lượng tiến công chủ yếu.

- Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) là lực lượng dự bị.

- Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) và Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) làm nhiệm vụ hao vây, chặn viện, đánh quân đổ bộ đường không.

Cách đánh đồn Mộc Châu được xác định là vận dụng mạnh bạo lối đánh luồn nhanh, thọc sâu bất ngờ chiếm đỉnh núi rồi từ trên cao đánh tỏa xuống phối hợp với các mũi đánh từ dưới lên.

Ngày 16 tháng 11 năm 1952, đại đoàn bắt đầu triển khai lực lượng áp sát đồn địch. Ngày 19, quân ta đã siết chặt vòng vây. Đêm ngày 19 ta đột nhập giải tán khu tập trung, đưa dân ra vùng an toàn. Địch phát lệnh báo động toàn khu vực.

23 giờ 30 phút, ta nổ súng tiến công, các loại hỏa lực và vũ khí của ta dồn dập bắn vào khu trung tâm. Địch hốt hoảng bỏ chạy, ta lợi dụng thế có lợi dùng đại liên bắn xối xả xuống đồn chính. Các đội bộc phá lao lên đánh mở hàng rào trên các hướng. Địch dùng hỏa lực chống trả quyết liệt. Tiểu đoàn 255 từ hướng đông bắc lợi dụng lúc địch bị hỏa lực ta chế áp, nhanh chóng vượt qua cửa mở đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi từ đó đánh tỏa ra chiếm cổng chính đồn. Phía đông nam, Tiểu đoàn 249 vượt qua cửa mở, lợi dụng địa hình nhanh chóng đánh chiếm đỉnh cao, giành được thế đứng trên đầu địch. Các tổ chiến đấu của Đại đội 317 nhanh chóng tỏa xuống chiếm ụ pháo và sở chỉ huy địch. Tại đây quan ba Vanhxăng chỉ huy đồn và các sĩ quan tham mưu địch bị ta bắt sống. Kết thúc trận đánh ta tiêu diệt và bắt 350 tên, thu toàn bộ trang bị và vũ khí của địch. Trận đánh mở màn cho đợt 2 của chiến dịch toàn thắng. "Lá chắn thép" trên cửa ngõ phía nam Tây Bắc bị đập tan. Đường 41 từ Hòa Bình lên Sơn La được nối liền tạo điều kiện cho chủ lực ta tiến nhanh lên phía trước.


Với chiến công này, Trung đoàn 174 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.

Để tiếp tục chiến dịch, công tác hậu cần được đặc biệt coi trọng. Chính ủy Chu Huy Mân được giao nhiệm vụ phụ trách tuyến hậu cần Xồm Lồm - Mộc Châu.

Đêm ngày 22 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn 174 theo lệnh của Bộ hành quân lên Chiềng Đông nhận nhiệm vụ phối thuộc với Đại đoàn 308 đánh Nà Sản. Trung đoàn 98 đánh Mường Hung trên phòng tuyến sông Mã của địch. Lực lượng còn lại của Đại đoàn 316 chuyển về Yên Châu cùng địa phương xây dựng cơ sở, đồng thời củng cố và bảo vệ tuyến vận chuyển của mặt trận trên đường 41 từ Mộc Châu tới Yên Châu, Cò Nòi. Trong các đêm ngày 30 tháng 11 và 1 tháng 12, ta diệt đồn Bản Hời và Pú Hồng rồi Bản Vời. Cùng lúc, Trung đoàn 174 nổ súng tiến công Nà Si, một cứ điểm nằm ở đông nam Nà Sản do Tiểu đoàn lê dương số 3 và 1 đại đội commăngđô chiếm giữ. Ngay khi vào chiếm lĩnh trận địa, Trung đoàn 174 đã gặp khó khăn, có đơn vị bị lạc trong rừng rậm, có đơn vị bị pháo địch bắn chặn, do vậy đến 24 giờ đơn vị cuối cùng mới vào chiếm lĩnh được trận địa.


0 giờ 5 phút ngày 8 tháng 12, khi trung đoàn nổ súng tiến công, đến gần sáng, thấy kéo dài trận đánh sẽ không có lợi, Bộ chỉ huy Đại đoàn 308 lệnh cho các đơn vị rút khỏi trận địa. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, Nông Văn Vương, chiến sĩ Trung đoàn 174 đã một mình băng qua lửa đạn lần lượt đưa 7 thương binh ra khỏi trận địa an toàn, nêu một tấm gương sáng vế tinh thần chiến đấu và lòng thương yêu đồng đội.


Sáng ngày 2 tháng 12, địch cho 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống tăng cường cho tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Tình hình đã thay đổi, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy các nhiệm vụ cơ bản đã hoàn thành, bộ đội ta lại chưa có sự chuẩn bị đầy đủ để chắc thắng tập đoàn cứ điểm mạnh của địch, do vậy đã ra lệnh kết thúc chiến dịch Tây Bắc vào ngày 10 tháng 12 năm 1952.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM