Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:26:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33153 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #70 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2025, 08:54:45 pm »

Qua hai đợt chiến đấu, chiến dịch Tây Bắc đã kết thúc thắng lợi. Đại đoàn 316 đã góp phần xứng đáng, diệt và bắt 1.602 tên địch, tiêu diệt gọn 2 tiểu khu, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Mộc Châu và Quang Huy... Cán bộ, chiến sĩ đại đoàn đã không ngừng rèn luyện, phát huy truyền thống, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, với đơn vị bạn, nêu cao quyết tâm, kiên cường chiến đấu tiêu diệt dịch.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, nhưng nhiệm vụ củng cố, xây dựng và bẳo vệ vùng giải phóng cũng rất nặng nề và phức tạp. Trước tình hình đó, Đại đoàn chỉ thị cho các đơn vị chủ động đánh địch, không cho địch từ Nà Sản đánh nống và móc nối với bọn phản động. Đại đoàn phân chia khu vực hoạt động cho từng đơn vị: Trung đoàn 176 bám đánh địch ở Nà Sản; Trung đoàn 174 hoạt động ở Mộc Châu, Yên Châu, Tà Vài; Trung đoàn 98 lên Điện Biên Phủ thay thế cho đơn vị bạn đi nhận nhiệm vụ khác. Cơ quan đại đoàn và các đơn vị trực thuộc trở về Mộc Châu.


Tại hội nghị quân chính để tổng kết chiến dịch, Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba đánh giá thành tích, kết quả đã đạt được, bài học trong đánh tập đoàn cứ điểm. Tiếp đó, đai đoàn mở đợt sinh hoạt chính trị nhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, động viên cán bộ, chiến sĩ yên tâm ở lại xây dựng và chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng Tây Bắc.


Nhờ chỉ đạo chặt chẽ và có những biện pháp cụ thể, chính xác, cán bộ, chiến sĩ lại sẵn có lòng yêu mến nhân dân cộng với kinh nghiệm vận động nhân dân qua những đợt hoạt động ở Cao - Bắc - Lạng và ở Tây Bắc thời gian qua, nên chỉ trong một thời gian ngắn phong trào quần chúng ở các địa phương đã chuyển biến rõ rệt. Cán bộ, chiến sĩ học nói tiếng dân tộc, tìm hiểu phong tục, tập quán và nguyện vọng nhân dân, giữ nghiêm kỷ luật dân vận, giúp đỡ đồng bào sản xuất và dạy chữ, xây dựng nếp sống mới ở các bản mường, quan hệ quân dân ngày càng khăng khít. Tình hình an ninh, trật tự ở vùng mới giải phóng được củng cố ngày càng vững chắc, đời sống của nhân dân các dân tộc dần được ổn định và ngày càng được nâng cao.


Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí lớn nhỏ của địch ở Tây Bắc, còn có tác dụng phá phần lớn âm mưu thâm độc định lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các dân tộc thiểu số khác.


Chiến thắng Tây Bắc khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong việc hoạch định chiến dịch, đánh giá đúng tình hình tương quan lực lượng. Củng cố lòng tin của quân và dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo thế trận lòng dân vững chắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Cán bộ, chiến sĩ của các lực lượng vũ trang nói chung và Đại đoàn 316 nói riêng được tôi luyện lòng dũng cảm, ý chí kiên cường trước quân thù; nâng cao khả năng và kinh nghiệm chiến đấu, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị. Lực lượng quân đội nhân dân ngày càng được củng cố và lớn mạnh, cùng với thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, tạo tiền đề cho chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, chấn động địa cầu, chấm dứt gần 100 năm thực dân Pháp đô hộ Việt Nam.


Hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh, Sư đoàn 316 tự hào đã góp phần cùng với cả dân tộc viết nên những trang sử hào hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc. Sư đoàn 316 vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác; được Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tặng thưởng hai Huân chương Ítxala. 17 tập thể, 22 cá nhân được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (trong đó Trung đoàn 148, Tiểu đoàn 17 được hai lần tuyên dương). Các anh hùng La Văn Cầu, Bế Văn Đàn... đã trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Ngoài ra, còn có hàng trăm tập thể, hàng vạn cá nhân được tặng thưởng huân, huy chương và huy hiệu các loại. Hơn 70 đồng chí là cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn đã phát triển trở thành những cán bộ, tướng lĩnh giữ nhiều cương vị trọng trách của Đảng, Nhà nước và quân đội. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống (1.5.1951-1.5.2011), Sư đoàn 316 lại vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì "Vì đã có thành tích xuất sắc trong huấn luyện, phục vụ chiến đấu, xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Đây là sự ghi nhận và đánh giá cao của Đảng, Nhà nước về những cống hiến của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn trong những năm qua.


Hiện nay và trong những năm sắp tới nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đã và đang đặt ra cho quân đội nói chung, Sư đoàn 316 nói riêng những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới hết sức to lớn và nặng nề. Ngoài nhiệm vụ chính trị trung tâm là huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn còn tham giakhắc phục hậu quả thiên tai,giúp dân xóa đói giảm nghèo, tích cực tham gia chương trình"xây dựng nông thôn mới"; cùng với cấp ủy,chính quyền địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn luôn quán triệt sâu sắc đường lối, chủ chương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, luôn sẵn sàng chiến đấu, không ngừng phát huy mạnh mẽ tinh thần cách mạng tiến công và truyền thống vẻ vang của sư đoàn. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn thực hiện đoàn kết, thống nhất, năng động, đổi mới và sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thử thách; hăng hái phấn đấu vươn lên dành nhiều chiến công và thành tích mới trong xây dựng, huấn luyện, học tập và công tác; thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; quyết tâm xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Sư đoàn vững mạnh toàn diện, chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng được nâng cao, thực sự là một trong những sư đoàn chủ lực mạnh của quân đội ta, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #71 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 07:58:14 pm »

TRUNG ĐOÀN 148 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Thượng tá VÕ KIM HÀ
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 148


Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ địa bàn chiến lược Tây Bắc, ngày 22 tháng 12 năm 1945, tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Chi đội 3 Sơn La được thành lập. Đến tháng 1 năm 1948, Chi đội 3 Sơn La được đổi tên thành Trung đoàn 148 cho đến ngày nay. Ngay sau khi ra đời, trung đoàn đã tích cực cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng hậu phương căn cứ địa, tham gia hầu hết các chiến dịch cũng như các đợt hoạt động quân sự như trong Thu Đông 1947-1948, Đông - Xuân 1948-1949, chiến dịch Lê Hồng Phong 1950, chiến dịch Lý Thường Kiệt... Đầu tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai Tây Bắc của Tổ quốc, phát triển chiến tranh du kích tiến lên phá tan ám mưu của địch ở vùng đất rộng lớn có vị trí chiến lược quan trọng. Trung đoàn 148 được giao nhiệm vụ đảm nhiệm hướng thứ yếu, phía bắc tỉnh Lai Châu.


Về tổ chức biên chế, lúc này Trung đoàn 148 gồm 3 tiểu đoàn bộ binh 910, 920 và 930, do đồng chí Vũ Lập làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Minh Nghĩa làm Chính ủy. Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh, Tiểu đoàn 910 do trung đoàn trực tiếp chỉ huy, được tăng cường một số phân đội trực thuộc và dân công của tỉnh Lào Cai, đã thực hành chiến đấu luồn sâu đánh vào huyện Quỳnh Nhai, tạo điều kiện cho hướng chính chiến dịch đánh vào Phân khu Nghĩa Lộ và Phù Yên (Sơn La).


Trong đợt 1 của chiến dịch, Tiểu đoàn 910 bí mật hành quân từ Bắc Hà qua Sa Pa vào Nậm Sỏ. Sáng ngày 11 tháng 10 năm 1952, chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 225 tiến công địch ở đồn Nậm Sỏ, sử dụng thuốc nổ để mở cửa mở dưới sự chi viện của hỏa lực ĐKZ 57mm. Chỉ một thời gian ngắn, đồn Nậm Sỏ đã được giải phóng, tên quan hai chỉ huy đồn bị tiêu diệt. Sau khi tiêu diệt địch ở Nậm Sỏ, tiểu đoàn sử dụng Đại đội 220 truy kích đánh ở Nậm Mòn, bắt sống gần 1 trung đội địch rồi tiếp tục tiến công Mường Giơn, Na Mu, tiêu diệt gần hết 1 đại đội lính Thái. Trước sự tiến công liên tiếp của Tiểu đoàn 910 vào Pắc Ma, Bản Mấn và huyện lỵ Quỳnh Nhai, tinh thần binh lính địch rất hoang mang. Khi trung đoàn hành quân đến Pắc Ma, toàn bộ lực lượng địch ở Quỳnh Nhai bỏ chạy, đến ngày 15 tháng 10 năm 1952, huyện Quỳnh Nhai được giải phóng. Tuy nhiên, đến ngày 19 tháng 10 năm 1952, địch sử dụng Tiểu đoàn Tabo số 17 đánh chiếm lại Quỳnh Nhai và tổ chức chốt giữ ở Pắc Ma.


Quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Quỳnh Nhai, đêm ngày 23 tháng 10 năm 1952, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiểu đoàn trưởng Lê Lâm và Tiểu đoàn phó Nguyễn Đình Thưởng, Tiểu đoàn 910 tập trung toàn hộ lực lượng tiến công đánh đồn Pắc Ma, tiêu diệt gọn 1 đại đội Âu - Phi của Tiểu đoàn Tabo số 17, số còn lại vội vàng bổ Quỳnh Nhai chạy sang hữu ngạn sông Đà.


Kết thúc đợt 1 của chiến dịch, sau 11 ngày đêm chiến đấu. Trung đoàn 148 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giải phóng huyện Quỳnh Nhai, tạo bàn đạp để các lực lượng vượt sông Đà tiến vào Lai Châu.


Để cứu ngụy, Pháp tăng cường quân số lập tuyến phòng thủ sông Đà, đồng thời tập trung xây dựng Nà Sản thành một cứ điểm mạnh để giữ vững những vùng còn lại của Tây Bắc. Sau khi tăng cường lực lượng, địch tổ chức Tây Bắc thành 2 mặt trận: Mặt trận Sơn La (do đại tá Gin chỉ huy) và Mặt trận Lai Châu (do đại tá Đờnaoa chỉ huy). Tập đoàn Nà Sản thuộc khu vực trung tâm bao gồm nhiều cứ điểm và sân bay được củng cố tạo thành 1 cụm cứ điểm vững chắc. Với sự củng cố và cách bố trí như vậy, địch hy vọng có thể đối phó có hiệu quả với các cuộc tiến công, sẵn sàng đè bẹp các đại đoàn chủ lực của ta. Cùng lúc này, Bộ chỉ huy Pháp ở Bắc Bộ còn mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ nhằm phá vùng hậu phường chiến dịch và kéo dần lực lượng chủ lực của ta ở hướng Tây Bắc, phá cuộc tiến công của ta lên Tây Bắc.


Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nhận định: Địch cơ bản là ở vào thế bị động, dù chúng có tăng cường lực lượng ở Tây Bắc hoặc đánh lên Phú Thọ cũng chí là để đối phó với ta. Chúng ta vẫn tiếp tục tiến hành đợt 2 chiến dịch.

Bước vào đợt 2 của chiến dịch, trên hướng nam Lai Châu, cùng với Trung đoàn 165 và lực lượng vũ trang địa phương, Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) tổ chức vượt sông Đà, khai thông đường tiến công vào Luân Châu, Thuận Châu và Tuần Giáo. Khi phát hiện được lực lượng ta, địch cho 2 tiểu đoàn thiện chiến gồm 1 tiểu đoàn dù lê dương (2C BEP) và 1 tiểu đoàn Tabo (17c) tiến công mở rộng địa bàn, ép Đại đội 221 (Tiểu đoàn 910) ở phía nam và phía bắc ở ngã ba Nậm Dín. Đại đội 221 chiếm lĩnh điểm cao chủ yếu tại chỗ ngăn chặn, đánh bại nhiều đợt tiến công của địch. Khi Đại đội 634 (Tiểu đoàn 910) đến kịp đã triển khai các loại hoả lực (cối 81mm, ĐKZ 57mm, đại liên) bắn vào đội hình tiến công của địch, chi viện cho Đại đội 221 chiến đấu. Trận đánh diễn ra quyết liệt trong khoảng 6 giờ (từ 10 giờ đến 16 giờ chiều), Trung đoàn vẫn giữ vững trận địa ở Nậm Dín. Hai tiểu đoàn địch bị tiến công quyết liệt, không thể liên lạc được với nhau buộc phải lui quân rút chạy. Tuy nhiên, trong trận này Tiểu đoàn 910 cũng bị tổn thất lớn (hơn 60 đồng chí hy sinh và bị thương, trong đó có Tiểu đoàn trưởng Lê Lâm. Trung đội trưởng Ngô Bá Tiên). Sau khi đánh bại 2 tiểu đoàn địch, Tiểu đoàn 910 tổ chức Đại đội 220 do đồng chí Tiểu đoàn phó Nguyễn Đình Thưởng chỉ huy phục kích địch ở Mường Húa (đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ). Tuy nhiên, địch phát hiện không dám hành quân qua, đại đội rút quân về Mường Mùn, Luân Châu.


Tại đèo Cờ La Vô, Trung đoàn 148 sử dụng 1 trung đội của Đại đội 220 phòng ngự giữ đèo, khi đơn vị mới đào công sự xong thì phải chiến đấu ngay với hai tiểu đoàn địch từ đồn Cờ La Vô và Mường Thung ra. Hai trung đội còn lại của Đại đội 220 hành quân lên Tủa Chùa. Khi hành quân đến nơi gặp Đại đội 225 đang có mặt tại đó, Đại đội 220 được lệnh quay về tăng cường phòng ngự tại đèo Cờ La Vô. Tại đây, địch dùng đại bác 130mm và đại bác Bôpho bắn trả quyết liệt vào trận địa của trung đoàn trên đỉnh đèo, nhằm đẩy ta xuống Pa Ham.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #72 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 07:58:57 pm »

Sau 20 ngày đêm phòng ngự chiến đấu quyết liệt trên đình đèo, Đại đội 220 vẫn giữ vững được trận địa, địch bị tổn thất nhiều buộc phải rút về Lai Châu. Sau đó, Trung đoàn 148 rút về Pa Ham, Nậm Nén.

Sau khi các đại đoàn 308, 312, 316 tiến công địch ở Nà Sản không thành công, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc (ngày 10-12-1952). Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) và Tuần Giáo, Điện Biên Phủ của tỉnh Lai Châu được giải phóng.

Sau khi chiến dịch Tây Bắc kết thúc, Trung đoàn 148 được lệnh hành quân về tập kết tại Điện Biên Phủ để chuẩn bị tham gia chiến dịch Thượng Lào. Tiểu đoàn 930 ở lại Sình Hồ cùng với bộ đội địa phương tổ chức tuyên truyền, tham gia xây dựng chính quyền và xây dựng lực lượng ở khu vực mới giải phóng.


Nhìn chung, trong chiến dịch Tây Bắc, Trung đoàn 148 đã chiến đấu tiêu diệt gần 1 đại đội lính Thái, 1 đại đội Âu - Phi, bắt sống gần 1 trung đội địch, đánh thiệt hại 2 tiểu đoàn địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn: huyện Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, kiểm soát được tuyến đường từ Sơn La đi Lai Châu dài 60km, phá vỡ hệ thống phòng ngự phía nam Lai Châu của địch, tạo điều kiện để hướng chủ yếu của chiến dịch ở Sơn La giành thắng lợi.


Tuy nhiên, trong chiến dịch này, trung đoàn cũng chịu tổn thất không nhỏ về lực lượng và phương tiện (chỉ trong một trận ở ngã ba Nậm Dín, hơn 60 đồng chí hy sinh và bị thương).

Sau chiến dịch Tây Bắc, Trung đoàn 148 còn tiếp tục tham gia chiến dịch Thượng Lào năm 1953, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trung đoàn có liên tục 9 năm làm nhiệm vụ quốc tế các tỉnh Bắc Lào (từ 1965 đến 1973). Với những thành tích xuất sắc, Trung đoàn 148 đã được Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương các loại, 3 đại đội và 2 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, xứng đáng với 10 chữ vàng truyền thống "Kiên định, bền bỉ, đoàn kết, anh dũng, chiến thắng". Trung đoàn 148 đã 2 lần được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Những thành tích xuất sắc đó là do sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của bao lớp cán bộ, chiến sĩ nối tiếp nhau của trung đoàn, sự lãnh đạo sát sao của các cấp chỉ huy, sự giúp đỡ đùm bọc của cán bộ và nhân dân các địa phương nơi trung đoàn hoạt động. Từ buổi đầu thành lập,khó khăn chồng chất, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn luôn bền bỉ, vượt qua mọi thử thách gian ngụy từng bước giành thắng lợi và trưởng thành. Chiến trường Tây Bắc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chính là nơi khai sinh và thử lửa đầu tiên của trung đoàn. Địa bàn hoạt động rộng, đơn vị phân tán, vừa đánh địch vừa xây dựng cơ sở, đánh địch lấn chiến trong những điều kiện và hoàn cảnh rất khó khăn thiếu thốn, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều. Bên cạnh những trận chiến đấu giành thắng lợi, hiệu suất rất cao nhưng vẫn còn những trận hiệu quả chiến đấu chưa cao, hy sinh tổn thất lớn, có lúc còn mất đất, mất dân, mặc dù vậy với tinh thần "thắng không kiêu, bại không nản", trung đoàn vẫn bền gan bám dân, bám địa bàn, thực hiện nhiệm vụ theo đúng yêu cầu chỉ đạo của cấp trên. Những ngày tháng chiến đấu trên đất bạn Lào, trung đoàn đã anh dũng, bền bỉ chiến đấu bám trụ dài ngày, bất chấp bao khó khăn, vượt qua những mùa mưa, mùa khô khắc nghiệt ở những cánh rừng Lào, cùng hạn Lào chiến đấu và chiến thắng.


Thắng lợi của trung đoàn trong 67 năm qua còn bắt nguồn từ tinh thần chiến đấu anh dũng và quyết thắng. Dù ở đâu, hay bất cứ trong điều kiện, hoàn cảnh nào, từ Tây Bắc đến Đông Bắc, từ trung du, miền núi tới đồng bằng đô thị, trên đất bạn Lào, trung đoàn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường để làm nên chiến thắng. Dòng máu thắm của nhiều lớp cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã đổ xuống trên nhiều ngả đường chiến dịch, cả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và khi làm nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Bắc Lào. Trong những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc, tinh thần chiến đấu anh dũng và những hy sinh cao cả ấy đã góp phần làm nên chiến thắng chung của dân tộc, làm rạng ngời thêm lá quân kỳ quyết thắng của đơn vị. Từ đánh tập trung quy mô lớn đến các mũi đánh nhỏ lẻ, phân tán, có lúc bí mật luồn sâu vào sào huyệt địch, có lúc hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, ở đâu và trong hoàn cảnh nào cán bộ, chiến sĩ trung đoàn cũng luôn nêu cao tinh thần anh dũng, chiến thắng. Phẩm chất ấy đã trở thành nét đẹp truyền thống quý báu của trung đoàn mà lớp cán bộ, chiến sĩ hôm nay và mai sau ngụyện tiếp tục giữ vững và phát huy.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #73 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:02:40 pm »

TIỂU ĐOÀN 910 TRUNG ĐOÀN 148 TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Thiếu tá, ThS PHAN SỸ PHÚC
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc, mở rộng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế (Lào Cai - Vân Nam) và tạo điều kiện mới cho cách mạng Lào. Là một địa bàn chiến lược quan trọng, một chiến trường rừng núi rộng lớn phía Tây Bắc của Tổ quốc, giải phóng được địa bàn này, ta có điều kiện để tập trung lực lượng tác chiến ở đồng bằng và có địa bàn tương đối rộng để cơ động lực lượng tiêu diệt địch, bảo vệ căn cứ nếu địch liều lĩnh đánh ra vùng tự do.


Trong thành phần bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch có Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148. Trung đoàn 148 một trong những trung đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta và của Khu 2. Tiền thân của trung đoàn là những đại đội từ miền xuôi lên chiến đấu đánh địch và xây dựng cơ sở - các đơn vị Tây tiến sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Liên tục chiến đấu trên địa bàn Tây Bắc từ 1947 đến 1952, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, lập nhiều chiến công vang dội, được nhân dân địa phương tin yêu. Trước ngày tham gia chiến dịch, Trung đoàn 148 vừa trải qua 5 tháng chiến đấu liên tục và giành những thắng lợi quan trọng trong chiến dịch tiễu phỉ ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc hai tỉnh Lào Cai và Hà Giang.


Trong đợt 1 chiến dịch, ta chủ trương tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch ở Tiểu khu Phù Yên, giải phóng Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, phát triển thắng lợi, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện để tiến công Sơn La. Hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch là Nghĩa Lộ, hướng thứ yếu là Quỳnh Nhai và Tuần Giáo. Lực lượng đảm trách đánh địch trên hướng này có Trung đoàn 165 do đồng chí Lê Thuỳ làm Trung đoàn trưởng. Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148, bộ đội địa phương Yên Bái, Lai Châu do đồng chí Bằng Giang - Tư lệnh Khu Tây Bắc chỉ huy. Đây là hướng vu hồi đánh vào phía sau lưng địch ở bắc Sơn La - nam Lai Châu.


Ngay từ tháng 8 năm 1952, Trung đoàn 148 đã tập kết tại Bắc Hà, Lào Cai làm công tác chuẩn bị. Thực hiện mệnh lệnh được giao. Tiểu đoàn 910, được tăng cường một số phân đội trực thuộc và một số dân công Lào Cai luồn sâu vào huyện Quỳnh Nhai (Lai Châu) đánh địch, tạo điều kiện thuận lợi cho hướng chủ yếu của chiến dịch là hướng đánh vào Phân khu Nghĩa Lộ, Phù Yên.


Ngày 10 tháng 10 năm 1952, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh điện chỉ thị chi tiết về nhiệm vụ và phương châm hoạt động của Tiểu đoàn 910 trên hướng nam Lai Châu. Theo đó, đồng chí nhắc nhở: "Lần này bộ đội các đồng chí vào sâu trong địch hậu, hoạt động ở một vùng cơ sở của ta còn mới và chưa vững chắc, địch thì yếu về số lượng và thành phần nhưng ở trong hình thái bao vây bốn phía có thể tập trung lực lượng để đối phó với ta. Việc tiếp tế lương thực, đạn dược nếu không giải quyết được tại chỗ mà chỉ dựa vào khu tự do đưa vào thì sẽ gặp khó khăn nhiều. Bộ đội tiễu phỉ một thời gian, có thành tích đến bây giờ rất dễ chủ quan khinh địch.


Hoàn cảnh như vậy, các đồng chí cần thống nhất nhận định, thống nhất nhận xét về những điều kiện khó khăn thuận lợi để không chủ quan khinh địch, giữ vững tin tưởng và tinh thần, kế hoạch đầy đủ đề phòng trong mọi tình huống"1 (Điện chỉ thị về nhiệm vụ và phương châm hoạt động gửi Tiểu đoàn 910 trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), tập IV. Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963, tr 320-324).


Đại tướng chỉ rõ nhiệm vụ của tiểu đoàn là tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị. Phát triển chiến tranh du kích, mở rộng căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Có kế hoạch tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch. Trong ba nhiệm vụ trên, nhiệm vụ tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị là trọng tâm. Có làm được nhiệm vụ này thì hai nhiệm vụ sau mới làm được. Mục đích tiêu diệt sinh lực dịch củng là để mở rộng và phát triển cơ sở chính trị, và cơ sở du kích chiến tranh mạnh mẽ2 (Điện chỉ thị về nhiệm vụ và phương châm hoạt động gửi Tiểu đoàn 910 trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), tập IV. Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1963, tr 320-324).


Về phương thức hoạt động của tiểu đoàn, Đại tướng nhấn mạnh 4 nội dung cần quán triệt: Một là, phải đánh nhỏ, ăn chắc. Đánh điểm nhỏ chắc thắng. Đánh tuần tiễu và càn quét nhỏ. Hai là, cần có một kế hoạch cụ thể chu đáo, dự kiến các tình huống khi mới vào cũng như khi bắt đầu hoạt động nếu địch phát giác ta hoặc sau một vài trận đánh của ta, địch có thể cho lực lượng từ Lai Châu hoặc từ các hướng khác về càn quét và chiếm đóng lại những vị trí vừa bị ta tiêu diệt. Ba là, hoạt động vũ trang phải đi đôi với tuyên truyền và tổ chức nhân dân, cho nên cần thiết trong và sau mỗi hoạt động quân sự, cần có kế hoạch khuếch trương những thắng lợi đó về mặt chính trị, tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu rõ chủ trương, chính sách của Chính phủ, của Hồ Chủ tịch, hiểu rõ bộ đội. căm thù quân cướp nước. Phải giúp nhân dântổ chức sinh hoạt và công tác, xây dựng dân quân du kích, hướng dẫn canh gác, phòng gian, báo động. Nói trước cho nhân dân biết trước địch có thể càn quét để tránh chủ quan và có kế hoạch chuẩn bị giúp nhân dân. Bốn là, tổ chức sinh lực, lấy đại đội là đơn vị chính, có thể phân tán đến trung đội nhưng luôn luôn phải giữ lại một bộ phận tập trung độ 1 đại đội, không nên phân tán hết. Khi có cơ hội có thể tập trung 2 đại đội, thật thuận lợi mới tập trung toàn tiểu đoàn1 (Điện chỉ thị về nhiệm vụ và phương châm hoạt động gửi Tiểu đoàn 910. Sđd. tr 320-323).


Đồng chí Tổng tư lệnh cũng chỉ rõ hướng hoạt động và những điểm mà chỉ huy tiểu đoàn và các lực lượng trên hướng nam Lai Châu cần chú ý để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Nhận nhiệm vụ và triển khai phân công cho các bộ phận, đêm 7 tháng 10 năm 1952, sau khi bí mật vượt sông Đà.Tiểu đoàn 910 đã tập kích tiêu diệt gọn tiểu đoàn bộ tiểu đoàn ngụy Thái và đánh tan tiểu đoàn này1 (Đại tướng Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên (hồi ký), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001, tr 218-219).


Tiếp đó, Tiểu đoàn 910 bí mật hành quân trên một quãng đường khá dài từ Bắc Hà qua Sa Pa vào Nậm Sỏ. Đêm 10 tháng 10 năm 1952, đơn vị đã có mặt tại vị trí tập kết và hoàn tất mọi công tác chuẩn bị. Ngày 14 tháng 10 chiến dịch mới chính thức mở màn nhưng ở hướng vu hồi Nam Lai Châu, tiểu đoàn 910 lại được lệnh nổ súng trước. Sáng 11 tháng 10, Tiểu đoàn 910 nổ súng tiến công Nậm Sỏ. Ngay từ lúc mở đầu trận đánh, đơn vị dã sử dụng ĐKZ 57mm bắn trúng mục tiêu căn cứ địch. Tên quan hai chỉ huy đồn bị tiêu diệt tại chỗ. Đơn vị nhanh chóng làm chú căn cứđịch và tiếp tục tiến vào Mường Giơn. Ngày 12 tháng 10, đơn vị tiên đánh Nà Nục. Khi tiến đến Na Mu, Tiểu đoàn 910 chạm trán với một đại đội lính Thái, nổ súng chiến đấu tiêu diệt đại đội này2 (Trung đoàn 148 - 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Nxb Quân đội nhân dân, H 1995. tr. 55-56). Ngày 14 tháng 10, một đại đội thuộc Tiểu đoàn Thái số 2 đến tăng viện cũng bị đánh tan.


Đại đội 225 do các đồng chí Thuận Úng và Trọng Khanh chỉ huy, nhanh chóng vượt qua Pắc Ma, Bản Mấn, đánh vào huyện lỵ Quỳnh Nhai. Khi đơn vị hành quân đến Pắc Ma, nghe tin có lực lượng ta tiến quân lên, số địch đóng giữ ở đây khiếp sợ, bỏ đồn tháo chạy. Ngày 15-10, huyện Quỳnh Nhai được giải phóng.


Theo dõi sát diễn biến chiến đấu trên hướng này, Bộ chỉ huy chiến dịch và Bộ Tổng tư lệnh đã có những chỉ thị kịp thời định hướng hoạt động của tiểu đoàn và các đơn vị trên hướng này. Ngày 21 tháng 10 năm 1952, Phòng Tham mưu chiến dịch đã có điện số 36/TL cho ý kiến đề nghị về kế hoạch tác chiến ở bắc Lai Châu - nam Sơn La. Cụ thể, bước 1 Tiểu đoàn 910 tiêu diệt Tà Hùa và đánh địch trên đường Quỳnh Nhai - Than Uyên phối hợp với địa phương củng cố Quỳnh Nhai. Trong khi bộ đội chủ lực hoạt động cần tranh thủ xâm nhập hữu ngạn sông Đà để gây cơ sở, tổ chức nhân dân tạo điều kiện cho chủ lực tiến vào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #74 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:04:53 pm »

Bước thứ hai, sau khi giải phóng Than Uyên, Tiểu đoàn 910 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 165 tiến vào Quỳnh Nhai - Tuần Giáo hoạt động đánh địch trên đường 41 cắt đường giao thông giữa Lai Châu và Sơn La... Kế hoạch đánh địch trên đường 41 tuỳ theo tình hình mà định sau1 (Ý kiến đề nghị về kế hoạch tác chiến ở Nam Lai Châu - Bác Sơn La trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tồng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), Sđd. tr. 340-341).


Tiếp đó, ngày 22 tháng 10, Đại tướng Tổng tư lệnh lại có mệnh lệnh gửi đồng chí Bằng Giang, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 312, Ban cán sự Lai Châu và các đồng chí Vũ Lập, Lê Thuỳ. Sau khi nhận định về tình hình địch, mệnh lệnh chi rõ cho từng đơn vị tác chiến trên hướng nam Lai Châu - bắc Sơn La: "Lực lượng gồm có Tiểu đoàn 910, Trung đoàn 165, bộ đội địa phương Yên Bái, Văn Bàn, Lai Châu, có thể thêm 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 trong thời gian đầu và pháo phối thuộc: 1- Lợi dụng sơ hở của địch để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, phát động chiến tranh du kích, phối hợp với hướng Nghĩa Lộ - Sơn La. 2- Cụ thể: Bước đầu tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch ở Than Uyên, củng cố cơ sở nhân dân ở đó.-   Bước thứ hai tiêu diệt địch ở Quỳnh Nhai, mở rộng khu căn cứ Quỳnh Nhai, củng cố Quỳnh Nhai thành một chỗ đứng vững chắc, phát triển về phía huyện Luân Châu, Thuận Châu và Tuần Giáo"1 (Mệnh lệnh gửi đồng chí Bằng Giang, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 312, Ban cán sự Lai Châu và các đồng chí Lê Thùy, Vũ Lập trong sách Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh (từ Việt Bắc đến Điện Biên Phủ), Sdd, tr. 343-345).


Về phía địch, đến ngày 19 tháng 10, chúng điều tiểu đoàn Tabo 17 đến đánh chiếm lại Quỳnh Nhai và Pắc Ma. Nắm chắc lực lượng và hành động của địch, đêm 23 tháng 10, Tiểu đoàn 910 tập trung toàn đơn vị, dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Tâm - Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Đình Thương - Tiểu đoàn phó tổ chức đánh chiếm lại đồn Pắc Ma. Trong trận này, đơn vị tiêu diệt một đại đội Âu - Phi của Tiểu đoàn Tabo số 17. Ngày 23 tháng 10, số địch còn lại ở tả ngạn sông Thao, hoảng sợ bỏ cả Quỳnh Nhai, tháo chạy sang phía hữu ngạn sông Đà. Kết hợp với hoạt động của Tiểu đoàn 910, Đại đội 820 tỉnh Lai Châu nhanh chóng làm chủ khu vực.


Đến ngày 23 tháng 10, trải qua 11 ngày đêm chiến đấu trong đội hình chiến dịch, Trung đoàn 148 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của đợt 1 chiến dịch. Trung đoàn đã giải phóng vùng hữu ngạn sông Thao, tả, hữu sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, tạo bàn đạp chuẩn bị cho các lực lượng chiến dịch vượt sông Đà tiến vào Lai Châu.


Sau những thất bại trong các cuộc tiến công của ta trong đợt 1 chiến dịch, ở Mặt trận Lai Châu, địch có những sự điều chỉnh lại lực lượng. Tiểu đoàn 27e BMTS chiếm giữ thị xã. Tiểu đoàn Tabo vượt sông chiếm lại Pắc Ma, Tiểu đoàn 2/2e RTA lên Phong Thổ, Tiểu đoàn 58 ngụy Lào giữ Điện Biên Phủ và Quỳnh Nhai. Tại Thuận Châu, Tuần Giáo, mỗi nơi có một tiểu đoàn. Bước vào đợt 2 chiến dịch, hướng Lai Châu địch vẫn sơ hở. Lúc này, Bộ chỉ huy chiến dịch coi đây là hướng phối hợp quan trọng nên đã hình thành mặt trận mang bí danh Y13. Bộ chỉ huy chiến dịch còn tăng cường thêm lực lượng cho mặt trận này thực hiện đánh sâu vào phía sau đội hình chiến dịch.


Mật trận Y13 gồm có lực lượng của Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148. Trung đoàn 165 và lực lượng vũ trang địa phương được lệnh nổ súng sớm đánh vào Quỳnh Nhai nhằm khai thông tuyến đường tiến quân vào Luân Châu, Thuận Châu, Tuần Giáo. Nhiệm vụ của Mặt trận Y13 trong giai đoạn tiếp theo của chiến dịch là tiêu diệt địch, đồng thời làm nghi binh lừa địch, làm cho chúng phán đoán Lai Châu là hướng tiến công chủ yếu của ta.


Theo chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch, để tranh thủ yếu tố bất ngờ và cũng để nghi binh lừa địch, Mặt trận Y13 nổ súng trước mở đầu đợt 2 chiến dịch.

Đêm 7 tháng 11, Tiểu đoàn 910 nổ súng đánh tan một tiểu đoàn ngụy ở Nậm Dín. Quân ta vừa vượt sông Đà thì địch ở Tuần Giáo, Lai Châu biết tin hoàng sợ rút chạy. Tiểu đoàn cùng đơn vị bạn tiêu diệt Tiểu đoàn BGT và Tiểu đoàn ngụy Thái từ Điện Biên Phủ ra tăng cường, bắt sống tên quan tư chỉ huy quân Pháp ở Nậm Rốm. Tiếp đó, Tiểu đoàn 910 nhanh chóng đánh chiếm Luân Châu, Nậm Mùn. Đại đội 820 do đồng chí Nguyễn Đình Thương chỉ huy tiến lên hướng Điện Biên Phủ. Các đơn vị khác thuộc tiểu đoàn tiếp tục truy kích địch dọc đường số 6 qua cầu Chiềng Pấc, tiến sát cửa ngõ Lai Châu. Tuy nhiên địch sử dụng phi pháo đánh phá ác liệt, đơn vị phải lui lại. Trong trận đánh ác liệt ở Luân Châu, đồng chí Lê Lâm - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 910 và đồng chí Ngô Bá Tiến - Trung đội trưởng, đều là những chiến sĩ thi đua toàn quốc, đã anh dũng hy sinh. Đại đội 820 được lệnh chốt giữ trên đỉnh đèo Bờ Ra Vô và tiếp tục uy hiếp địch ở Lai Châu cho đến lúc kết thúc chiến dịch.


Đòn tiến công của các đơn vị Mặt trận Y13 đã khiến cho chỉ huy quân Pháp phán đoán Lai Châu là hướng tiến công chủ yếu của ta lúc này. Sau khi Tiểu đoàn Thái ở Nậm Dín bị ta tiêu diệt, địch ở Tuần Giáo, Luân Châu rút chạy, vị trí Mường Sài, thị xã Lai Châu bị uy hiếp, đường số 41 từ Sơn La lên Lai Châu bị chặt đứt một đoạn dài 60km. Ngày 14 và 15 tháng 11 địch điều 2 tiểu đoàn (2e BPC và 56e BNV) đến chiếm lại Luân Châu, Nậm Dín nhằm khôi phục Tiểu khu Quỳnh Nhai, giữ vững trận địa bảo vệ thị xã.


Tiểu đoàn 910 cùng hai tiểu đoàn 542 và 564 hình thành hai mũi tiến công, sau khi vượt sông Đà đã nhanh chóng thọc sâu vào Nậm Dín. Ngày 16 tháng 11, Tiểu đoàn 910 tiến công tiểu đoàn dù của địch ở ngã ba Nậm Dín, tiêu hao khoảng 1 đại đội. Ngày 17 tháng 11 Tiểu đoàn 542 đánh địch ở Nong Bò, Cha Mong, diệt 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 địch.


Bị uy hiếp mạnh từ nhiều phía, tuy vẫn giữ được ngã ba Nậm Dín nhưng quân địch hết sức hoang mang, cuối cùng buộc phải rút về Luân Châu phòng ngự, một bộ phận rút về Mường Sài. Được nhân dân địa phương dẫn đường Tiểu đoàn 564 kịp thời chặn đánh phá tan đội hình địch không cho chúng tập trung co cụm. Thừa thắng, ta phát triển tiến công địch tới Thuận Châu, địch hoảng sợ bỏ chạy quân ta tiếp tục truy kích tới Sơn La. Ngày 22 tháng 11 trước sức ép của ta, toàn bộ quân địch dồn hết về Nà Sản xã Sơn La, lùng quét và bắt gần 400 tàn binh địch.


Đến cuối tháng 11, trước sức tiến công của các đơn vị bộ đội ta trên hướng Lai Châu, quân địch ở các vị trí còn lại và ở thị xã Sơn La phải rút về Nà Sản, ta tiếp quản thị xã Sơn La, Thuận Châu. Các đơn vị tham gia tác chiến trên Mật trận Y13 đã hoàn thành nhiệm vụ Bộ chỉ huy chiến dịch giao phó.


Như vậy, "cánh quân vu hồi (của Tiểu đoàn 910 và Trung đoàn 165) không những hoàn thành kế hoạch tiến công cứ điểm, truy kích địch rút chạy, giải phóng một vùng rộng lớn, phá vỡ phòng tuyến phía nam Lai Châu của địch, mà còn phát huy tác dụng nghi binh chiến dịch. Địch cho ràng hướng tiến công của ta trong đợt 2 là Lai Châu nên chúng tập trung quân ở các vị trí xung quanh về giữ thị xã"1 (Dẫn theo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975 (In lần thứ hai). Nxb Quân đội nhân dân. H.1995, tr 144).


Như vậy, trong đội hình tham gia chiến dịch Tây Bắc, qua hai đợt chiến dịch, Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 đã chiến đấu nhiều trận ác liệt, tiến công vào hệ thống phòng ngự của địch ở Quỳnh Nhai, từ Luân Châu đến Thuận Châu, Tuần Giáo. Với tinh thần tiến công liên tục, tận dụng thời cơ, có cách đánh táo bạo, ở hướng phối hợp, Tiểu đoàn 910 cùng với các lực lượng khác tham gia chiến dịch trên hướng này đã nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng ngự phía Nam Lai Châu của địch, diệt và bắt hơn 1.400 tên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một hướng của chiến dịch - hướng vu hồi, nghi hinh. Tính chung cả hai đợt chiến dịch, trên hướng này, các đơn vị đã đánh tan rãnhiều đại đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí, giải phóng các huyện Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu, Điện Biên Phủ với diện tích rộng trên 3.000km2 và 10 vạn dân. Thắng lợi của hướng Lai Châu còn tạo điều kiện để hướng Sơn La giành thắng lợi lớn, cũng như góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch Tây Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #75 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:09:22 pm »

ĐÓNG GÓP CỦA PHỤ NỮ TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Thượng tá. ThS HOÀNG THỊ THẢO
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nữ giới - một lực lượng khá đông đảo trong xã hội đã có nhiều đóng góp quan trọng. Khí thế, sức mạnh và tài năng đánh giặc giữ nước của thế hệ Bà Trưng, Bà Triệu trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược đầu tiên của dân tộc đã tạo dựng và mở đầu cho truyền thống anh hùng bất khuất của những người phụ nữ Việt Nam.


Nhận thức rõ vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và bảo vệ đất nước, ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng ta đã xác định: "Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi"1 (An nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị năm 1930, "Về phụ nữ vận động". Văn kiện Đảng. Nxb Sự thật. H 1960, tr 159). Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam cũng khẳng định: "An Nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2. Nxb Chính trị quốc gia. H. 1995. tr. 298). Bởi vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định phụ nữ là một trong những nòng cốt của lực lượng cach mạng, một bộ phận quan trọng trong khối đoàn kết toàn dân.


Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), nhân dân ta phải chiến đấu trong hoàn cảnh tương quan lực lượng quá chênh lệch. Để đánh thắng đạo quân xâm lược có sức mạnh vượt trội, Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến "toàn dân toàn diện" nhằm huy động sức mạnh toàn dân tộc. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo đảng phái, dân tộc, hễ ai là người Việt Nam thì phải đứng lên chống thực dân Pháp để cứu Tổ quốc". Đáp lời kêu gọi của non sông, những người mẹ, người chị, người em gái trên khắp mọi miền đất nước hăng hái đứng lên cùng toàn dân quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của chính mình với sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí kiện cường và tinh thần quả cảm. Phát huy truyền thống "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", bất chấp mọi hiểm nguy, chị em đã có mặt ngay từ nhưng ngay đầu của cuộc kháng chiến, tích cực tham gia mọi công việc ở hậu phương cũng như tiền tuyến.


Sau chiến dịch Biên Giới (Thu Đông 1950), cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của quân dân ta chuyển sang một thời kỳ mới: Lực lượng vũ trang của ta đã trưởng thành và liên tiếp chủ động mở các chiến dịch tiến công địch trên các địa bàn từ đồng bằng, trung du cho đến miền rừng núi. Đáp ứng yêu cầu của các chiến dịch, một lực lượng lớn nhân lực được huy động trong mọi tầng lớp nhân dân. Phục vụ chiến dịch là công việc vất vả, phải đối mặt với nhiều gian ngụy, khó khăn nhưng lực lượng nữ tham gia phục vụ các chiến dịch khá đông đảo. "Trong số 18 chiến dịch của cuộc kháng chiến, phụ nữ đã đóng góp 9.578.000 ngày công. Số ngày công phục vụ của phụ nữ trong các chiến dịch lớn chiếm tới 50% tổng số ngày công. Riêng chiến dịch Biên Giới phụ nữ đóng góp 6.000.000 công chiếm tới 68% số ngày công"1 (Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, tập 1, Nxb Phụ nữ, H 1980. tr. 161).


Thu Đông năm 1952, với quyết tâm "tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính quan trọng về chiến lược"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng. Toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2000, tr. 304), Bộ Chính trị, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc. Đây là một địa bàn trọng yếu ở chiến trường Bắc Bộ, đồng thời có vị trí quan trọng đối với cách mạng Đông Dương. Từ những ngày đầu trở lại xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thành lập "Xứ Thái tự trị" và tổ chức "Liên khu độc lập Tây Bắc" nhằm thống trị lâu dài và lôi kéo, mua chuộc đồng bào các dân tộc theo chúng chống phá cách mạng. Sau đó, chúng ra sức củng cố phát, triển vùng chiến lược quan trọng này nhằm uy hiếp, khống chế bên sườn và sau lưng ta, cắt liên lạc của ta giữa căn cứ địa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 và bảo vệ lực lượng của chúng ở Thượng Lào.


Mở chiến dịch trên địa bàn rừng núi, bên cạnh những thuận lợi nhất định, ta cũng gặp không ít khó khăn. Tây Bắc là vùng rừng núi trùng điệp, nhiều dãy núi cao hơn 1.000m, địa hình rất hiểm trở, khó cơ động; chiến trường lại cách xa hậu phương Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh; sự chi viện tại chỗ rất hạn chế. Việc đảm bảo hậu cần cho chiến dịch là một trong những công tác cấp bách và khó khăn... Chúng ta cần huy động lớn nguồn nhân lực để tu bổ nhiều đoạn đường đi qua đèo cao, sông rộng, suối lớn và vận chuyển một số lượng lớn vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội.


Trong không khi náo nức tập trung sức người, sức của cho chiến trường Tây Bắc, phụ nữ ở nhiều địa phương đã không quản ngại gian nan. hăng hái gia nhập các đoàn dân công tham gia phục vụ chiến dịch, vẫn biết Tây Bắc là vùng núi cao, rừng sâu hiểm trở, có nhiều ruồi vàng, bọ chó, rắn rết; thời tiết thất thường: khi giá lạnh, lúc nắng thiêu; điều kiện sinh hoạt rất khó khăn... nhưng lực lượng nữ tham gia phục vụ chiến dịch vẫn không hề ít hơn so với các chiến dịch trước đó. Ở bất cứ địa phương nào trong đoàn dân công ra hỏa tuyến đều có mặt những người phụ nữ. Chị em đến từ các làng, xã của vùng đồng bằng Liên khu 3, 4, từ các làng, bản của vùng núi rừng phía Bắc...


Tại Sơn La - một trong những chiến trường chính, đồng bào các dân tộc tích cực chuẩn bị nhân lực, vật lực sẵn sàng phối hợp với các đơn vị lực lượng vũ trang bước vào chiến dịch. Được sự tuyên truyền, giác ngộ của cán bộ cách mạng, phụ nữ các dân tộc ở Sơn La thấu hiểu cần phải giúp bộ đội đánh giặc để giải phóng quê hương và mở ra một cuộc sống mới cho chính bản thân mình. Vượt qua những uy hiếp của kẻ thù, những hiểm ngụy kề cận và cả những rào cản của phong tục tập quán địa phương, nhiều chị em đã rời bản, xuống núi tham gia vào các đội dân công. Đã có 2.622 phụ nữ các dân tộc Sơn La gia nhập đội quân tham gia phục vụ chiến dịch. Thanh Hóa - một vùng tự do trong kháng chiến, có tới hai phần ba số dân công phục vụ chiến dịch là phụ nữ1 (Những Chặng đường lịch sử vẻ vang của phụ nữ Thanh Hoa. Nxb Thanh Hóa, 1980, tr 35). Nhiều chị em trong vùng địch tạm chiếm đã bí mật vượt qua sự kiểm soát của địch ra vùng tự do đến với các đội dân công lên Tây Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #76 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:11:37 pm »

Không chỉ có mặt trong các đội dân công, chị em còn gia nhập lực lượng thanh niên xung phong - một lực lượng không chỉ cần có sức khỏe mà còn phải có tinh thần xung kích. Nhiều nữ thanh niên đã có mặt trong các đội "Thanh niên xung phong công tác" ngay từ những ngày đầu thành lập để sửa chữa cầu đường và vận tải phục vụ các chiến dịch. Tháng 9 năm 1952. Đội thanh niên xung phong công tác Trung ương thứ hai được lệnh điều 8 liên phân đội (1, 2, 3, 4,5, Liên phân đội Hoàng Hữu Nam, Trần Hưng Đạo và Tô Hiệu) phục vụ chiến dịch Tây Bắc trong thời gian từ ngày 14 tháng 10 đến 10 tháng 12 năm 1952. Nhiều chị em đã có mặt trong các đội tăng cường cho chiến dịch.


Tham gia phục vụ trực tiếp chiến dịch, chị em đảm nhận nhiều công việc khác nhau: sửa chữa cầu đường, đảm bảo giao thông vận tải, bảo vệ kho tàng, tải thương, làm cấp dưỡng cho bộ đội, chăm sóc thương binh... Mặc dù phải làm việc trong rừng sâu, núi cao, thời tiết khắc nghiệt, điều kiện ăn ở thiếu thốn nhưng ở bất cứ công việc nào, người phụ nữ cũng tỏ rõ sự bền bỉ, dẻo dai, dũng cảm... Trên đường vận chuyển, các chị không ngại đường xa, gánh nặng, tất cả đều đem hết khả năng để đảm bảo kế hoạch được giao với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến".


Là một bộ phận trong hàng vạn dân công và thanh niên xung phong tham gia phục vụ chiến dịch, lực lượng nữ đã góp công sức của mình vào việc đào đắp hàng vạn mét khối đất đá để khôi phục và mở mới hàng trăm kilômét đường, củng cố hàng chục bến sông và vận chuyển11.750 tấn gạo, 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí đạn, quân trang, quân dụng1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 1994, tr.75), cùng nhiều dụng cụ y tế cần thiết và thuốc chữa trị cho khoảng 5.000 thương binh. Trong tổng số 7 triệu ngày công của lực lượng dân công phục vụ chiến dịch, chị em đã đóng góp 1.691.000 ngày công2 (Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam. tập 1, Nxb Phụ nữ. H. 1980 tr 161).


Trong công tác tải thương, nhiều chị đã vấp ngã trên các mỏm đá, đầu gối tróc máu nhưng thương binh vẫn được an toàn trong cáng. Tại các trạm phẫu, các chiến sĩ được các chị tận tụy hết lòng chăm sóc bằng tình cảm của những người chị, người em gái. Tình cảm chân thành của những người phụ nữ trên các tuyến đường lên Tây Bắc luôn là nguồn động viên tinh thần cho những người chiến sĩ khi bị thương hoặc lúc ốm đau. "Một chị dân công gặp một đồng chí thương binh đang được đưa về trạm quân y. Chị lấy chăn của mình đắp cho anh thương binh, đồng chí thương binh ngước nhìn cảm động: Thôi chị để mà dùng, tôi mình mẩy máu me thế này... Chị dân công kéo chăn đắp cho người chiến sĩ nghẹn ngào: Chiếc chăn của tôi chưa xứng đáng với tinh thần hy sinh của các anh"1 (Trần Đăng Ninh - Con người và lịch sử. Nxb Chính trị quốc gia H 1996 tr. 464).


Cùng với những hoạt động tích cực của chị em trực tiếp phục vụ chiến dịch, chị em ở hậu phương hăng hái tham gia quyên góp lương thực, thực phẩm. Với sự góp sức của phụ nữ, từ nhiều địa phương hàng nghìn tấn gạo, hàng trăm tấn thịt cùng hàng chục tấn thực phẩm khác đã được tập trung về các khu kho để vận chuyển lên chiến trường. Tại Tây Bắc, mặc dù điều kiện rất khó khăn, nhiều gia đình phải ăn khoai, sắn thay cơm nhưng phụ nữ ở các địa phương vẫn tích cực động viên người thân trong gia đình đóng góp đủ số lương thực đã được giao. Hàng nghìn chị em các dân tộc Thái, Mường, Mông, Dao... tham gia vào các tổ xay xát, thức trắng nhiều đêm xay thóc, giã gạo để kịp thời cho bộ đội "ăn no đánh thắng". Phụ nữ và đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã dành cho các lực lượng tham gia chiến dịch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác. Đó là những đóng góp có ý nghĩa to lớn của phụ nữ và nhân dân nơi đây vì Tây Bắc là vùng ít dán, kinh tế nghèo nàn, luôn bị ké thù cướp phá vơ vét. "Một tấn gạo huy động tại Tây Bắc có giá trị bằng 12 tấn đưa từ Khu 3, Khu 4 lên. Ngoài tác dụng kịp thời, nó còn tiết kiệm mồ hôi xương máu trong quá trình vận chuyển"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dỊch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1992, tr. 74). Những hoạt động của chị em nơi diễn ra chiến trận đã góp phần đảm bảo kịp thời cho bộ đội có đủ lương ăn trong những ngày chiến dịch.


Sau gần hai tháng, vượt qua những gian nan vất vả của địa bàn rừng núi xa hậu phương, của bom đạn kẻ thù ngày đêm uy hiếp, chiến dịch tiến công Tây Bắc của quân và dân ta đã giành thắng lợi to lớn. Phụ nữ đã có nhiều hoạt động tích cực phục vụ chiến dịch. Không chỉ có mặt trong các đội tu sửa cầu đường, vận tải, tải thương, chăm sóc thương binh nơi chiến trường. Ở hậu phương, chị em là một bộ phận quan trọng trong công việc huy động, quyên góp lương thực, thực phẩm, động viên những người thân lên đường ra chiến trường. Những thành tích, bài học từ chiến dịch Tây Bắc được chị em kế thừa, phát huy trong các chiến dịch tiếp theo, đặc biệt là trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954) để cùng toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #77 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:15:30 pm »

CÔNG TÁC ĐỊCH VẬN TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại úy, ThS LÊ VĂN CỬ
Viện Lịch sửquân sự Việt Nam


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), công tác địch vận được Đảng ta xác định là nhiệm vụ có tầm quan trọng chiến lược, "tác chiến quan trọng như thế nào thì địch vận cũng cần như thế... Phải dùng mọi hình thức, nắm lấy mọi cơ hội mà tuyên truyền làm tan rã tinh thần địch, làm cho binh lính địch nhận rõ ta với địch có chung một kẻ thù là bọn thực dân phản động Pháp, khiến cho họ thỏa hiệp với ta, vác súng chạy sang ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8 (1945-1947). Nxb Chính trịquốc gia, H. 2000. tr 197), "công tác vận động ngụy hinh là công tác vận động quần chúng và phải huy động quần chúng tham gia". Thực hiện chủ trương của Đảng, cùng với mũi tiến công quân sự, công tác địch vận đã được tiến hành thường xuyên liên tục với nhiều nội dung, hình thức và phương pháp phong phú, có hiệu quả. Chiến dịch Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952) là một trong những chiến dịch đã tiến hành công tác binh - địch vận có kết quả.


Sau thất bại trong chiến dịch Hoà Bình, từ mùa hè năm 1952, thực dân Pháp huy động binh lực lớn (quy mô từ 8 đến 20 tiểu đoàn bộ binh, 3 đến 7 tiểu đoàn pháo binh và nhiều phương tiện chiến tranh gồm nhiều xe cơ giới, tàu chiến, lực lượng công binh) mở những cuộc càn quét kéo dài từ 3 đến 4 tuần lễ để bình định vùng tạm chiếm ở trung du và đồng bằng, ven biển trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam với tổng số 75 cuộc, nhằm hạn chế sự uy hiếp của ta ở hậu phương của chúng.


Trước những diễn biến mới của tình hình, không để cho địch có điều kiện củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, nhất là ở chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã cân nhắc và chọn hướng tiến công của ta trong Đông - Xuân 1952-1953 là hướng Tây Bắc. Hướng này vừa là chiến trường có tầm chiến lược quan trọng, vừa có nhiều điều kiện để phát huy sở trường, cách đánh và trình độ tác chiến của bộ đội ta. Do vậy, Trung ương và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.


Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng. Từ đây địch có thể uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào. Lực lượng chiếm đóng Tây Bắc của địch có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, 11 khẩu pháo bố trí phân tán trên 14 cứ điểm, gồm phần lớn là quân ngụy: Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội đóng ở Phân khu Nghĩa Lộ; Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội đóng ở Phân khu sông Đà; Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội đóng ở Phân khu Sơn La; Tiểu đoàn GFOT và 14 đại đội đóng ở Phân khu Lai Châu; tiểu đoàn ngụy (DAZANO) đóng ở Tiểu khu Tuần Giáo. Lực lượng Âu - Phi có 3 tiểu đoàn (5e, 17e Tabo,2/2e RTA) chốt ở Sơn La, Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động. Ngoài ra còn có các tiểu đoàn dù (10eBPC, 2e BEP) ở Hà Nội, khi cần sẽ sẵn sàng tăng viện cho Tây Bắc bằng đường hàng không.


Với lực lượng địch như trên, để đánh bại chúng, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy xác định cùng với tiến công quân sự phải tiến hành tốt công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch, trong đó địch vận được xác định là một mũi tiến công quan trọng.

Thực hiện chủ trương của Trung ương và Tổng Quân ủy, ngay từ cuối tháng 6 năm 1952, để chuẩn bị cho chiến dịch, Tổng cục Chính trị đã tổ chức Hội nghị cán bộ chủ trì các cơ quan trong Tổng cục bàn việc nắm tình hình, giúp các địa phương khu vực Tây Bắc củng cố, xây dựng và phát triển cơ sở chính trị; giao nhiệm vụ chuẩn bị cụ thể cho các cơ quan trong Tổng cục. Đối với ngành địch vận, ngay sau hội nghị, Cục Địch vận đã cử cán bộ đi cơ sở trực tiếp chỉ đạo và cùng cơ quan địch vận các cấp nghiên cứu tình hình địch ở Tây Bắc, trọng tâm là các nội dung: tinh thần, tư tưởng, tâm lý, thành phần quân số các đơn vị địch, trong đó chú trọng quân ngụy, sĩ quan là người địa phương; mâu thuẫn nội bộ, thái độ của quân Pháp đối với quân ngụy địa phương; dự kiến sự chuyển biến tình hình tư tưởng, thái độ, sự tan rã của chúng khi chiến sự diễn ra. Qua quá trình nghiên cứu, chuẩn bị, Cục Địch vận đã tham mưu, đề xuất Tổng cục Chính trị chỉ đạo kế hoạch, nội dung, khẩu hiệu, phương thức tuyên truyền vận động và bố trí hệ thống lãnh đạo công tác; chuẩn bị kế hoạch giáo dục, quản lý và thả tù binh, hàng binh; phổ biến những quy định về kỷ luật và thái độ địch vận áp dụng trong chiến dịch.


Tiếp sau Hội nghị cán bộ cơ quan Tổng cục Chính trị. Hội nghị địch vận các đơn vị chủ lực cũng được tổ chức để nghiên cứu phương pháp tuyên truyền và phổ biến các điều quy định về chính sách tù, hàng binh, đặc biệt là chính sách giáo dục và phóng thích nhanh chóng các tù binh ngụy người địa phương.


Do mục đích và tính chất quan trọng của chiến dịch, nên ngay từ khi triển khai công tác chuẩn bị chiến dịch, Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những chỉ thị, mệnh lệnh cho can bộ và bộ đội thi hành trong quá trình tiến hành chiến dịch. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chính phủ ban hành "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Cộng hoà dân chủ Việt Nam'', trong đó. Điều 5 về "Thưởng người có công, phạt người có tội" quy định: "Bọn phản quốc, đại gian, đại ác, sẽ bị trừng trị. Những người bị giặc bắt ép phải theo chúng, nay không chống lại chính quyền và Quân đội nhân dân, thì sẽ được Chính phủ khoan hồng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6 (1950-1952), Nxb Chính trị quốc gia, H.2000. tr. 565), về "Giữ gìn trật tự trị an", Điều 6 quy định:

"Tàn quân của giặc Pháp và bọn thổ phỉ đều phải ra thú với quân đội và chính quyền nhân dân.

Ai tự động ra thú và nộp hết vũ khí, sẽ được Chính phủ khoan hồng.

Ai chống cự, không ra thú, hoặc giấu giếm vũ khí sẽ bị trừng phạt.

Ai che giấu cho bọn thực dân, bù nhìn hoặc dung túng giúp bọn thổ phỉ, sẽ bị truy tố.

Ai có công giúp chính quyền và quân đội nhân dân đuổi bắt bọn tàn quân của thực dân Pháp và bọn thổ phỉ hoặc kêu gọi bọn đó ra đầu thú thì sẽ được thưởng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6 (1950-1952), Nxb Chính trị quốc gia. H. 2000. tr 566).


Có thể nói, những mệnh lệnh của Chính phủ là kim chỉ nam hướng dẫn công tác dân vận và địch vận cho cán bộ và bộ đội thực hiện trong quá trình diễn ra chiến dịch Tây Bắc.

Nghiêm chỉnh chấp hành Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ, ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị "Về công tác chính trị trong chiến dịch Thu Đông 1952", nêu rõ những công việc cụ thể để thực hiện công tác chính trị trong chiến dịch Tây Bắc. Về công tác địch vận, chỉ thị yêu cầu: "Hoàn thành công tác ngụy vận, làm đúng chính sách tù, hàng binh để mở đường tốt đẹp cho công việc tranh thủ nhân dân"2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến địch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945-1975. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998. tr. 136).


Với tinh thần nghiêm túc và tích cực của các cấp, các ngành mà cơ quan dịch vận quân đội là nòng cốt, đến khi bộ đội ta nổ súng mở màn chiến dịch Tây Bắc, những điều kiện cần thiết để tiến hành công tác địch vận chiến dịch đã được chuẩn bị khá chu đáo.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #78 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:17:39 pm »

Chiến dịch Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, được chia làm 3 đợt. Lực lượng tham gia gồm các đại đoàn chủ lực là 308, 312, 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75mm, 3 đại đội súng cối 120mm, 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội bộ đội địa phương, do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức, chỉ huy; tiến công vào 4 phân khu (Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La) và 3 tiểu khu độc lập (Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo) của địch. Để thực hiện tốt công tác địch vận trong chiến dịch quan trọng này, đồng chí Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Địch vận cùng một số cán bộ trong Cục đã trực tiếp tham gia bộ phận tiền phương của Tổng cục Chính trị. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, nhiều đơn vị đã làm tốt công tác địch vận kết hợp với tác chiến, có nhiều hình thức sáng tạo, thu được thắng lợi nhanh chóng và hạn chế đổ máu. Bộ đội ta đã chấp hành đúng chính sách dân tộc của Đảng và Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ, thi hành tốt chính sách tù binh, hàng binh, tranh thủ được nhân dân, góp phần đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của địch ở Tây Bắc.


Về công tác tuyên truyền, vận động, căn cứ vào kết quả điều tra tình hình tư tưởng binh lính địch và các tài liệu của tham mưu, báo cáo của cấp ủy các địa phương, cơ quan địch vận đã đề ra những khẩu hiệu tuyên truyền phù hợp. Với ngụy binh là người địa phương, nhất là ngụy binh người Thái, ta đề ra khẩu hiệu: "Súng của giặc mang qua mình, ở với giặc thì chết, bỏ giặc về thì sống". Với binh lính Âu - Phi, ta đề ra khẩu hiệu: "Đừng chết vô ích, chịu bắt làm tù binh sẽ được đối đãi tử tế, được phóng thích và hồi hương". Do thành phần binh lính địch có nhiều quốc tịch, dân tộc khác nhau, ta đã dùng nhiều truyền đơn in bằng các thứ tiếng: Việt, Thái, Pháp,... kể cả tranh vẽ, minh hoạ cho những đối tượng không biết chữ để phát tán vào hàng ngũ địch. Sau đợt 1 của chiến dịch, ta dùng những lời tuyên bố, kêu gọi của chính sĩ quan và binh lính địch bị bắt trong đợt 1 để tuyên truyền. Với các đối tượng địch khác nhau như sĩ quan, binh lính Pháp, binh lính ngụy người Sơn La, Lai Châu, binh lính các tiểu đoàn dù..., ta có các loại truyền đơn phù hợp cho từng đối tượng. Sau đợt 2 chiến dịch, ta có truyền đơn cho các tiểu đoàn Bắc Phi, tiểu đoàn lê dương, v.v...


Cùng với phát hành các loại truyền đơn, việc kêu gọi địch trong tác chiến được thực hiện trong nhiều trận đánh. Nhiều đơn vị dùng cả hàng binh, tù binh để kêu gọi địch đầu hàng.

Trong trận đánh căn cứ Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồi) ngày 17 tháng 10 năm 1952 do Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) đảm nhận, sau khi ta làm chủ mặt đất, địch chui xuống hầm ngầm cố thủ và chống cự lại bằng lựu đạn và tiểu liên. Khi phát hiện ra hầm ngầm của địch, ta kêu gọi địch đầu hàng, tuy nhiên chúng vẫn ngoan cố chống cự. Ta cho đánh một quá bộc phá 10kg và kêu gọi, địch vẫn dùng tiểu liên và lựu đạn tiếp tục chống cự quyết liệt. Ta cho nổ quả bộc phá 25kg, địch vẫn dựa vào hầm ngầm kiên cố tiếp tục bán và ném lựu đạn đánh trả. Trước tình hình đó, bộ đội ta hô lớn: Nếu không đầu hàng, ta cho nổ quá bộc phá 35kg và đếm to từ 1 đến 10. Khi ta đếm đến 9, không còn đường nào khác, quân địch kéo nhau ra hàng, tất cả có 84 tên, trong đó có một tên thiếu tá chỉ huy Phân khu Nghĩa Lộ1 (Trận tấn công cứ điểm Nghĩa Lộ - Pú Chạng, Cục nghiên cứu Khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu, xuất bản năm 1960. Dẫn theo Lịch sử Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1947-2007), Nxb Quân đội nhân dân, H 2008, tr 136-137).


Ở hướng Nghĩa Lộ phố (hướng thứ yếu) do Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) đám nhiệm, do vào chiếm lĩnh trận địa chậm nên 3 giờ sáng ngày 18 mới nổ súng tiến công. Dựa vào lô cốt chữ H và phía sau còn một khu vực an toàn, địch ngoan cố chống cự. Khi bộ đội ta đánh sập được một góc của lô cốt chữ H, một số tên mới ra hàng, trong đó có tên đại úy chỉ huy phó phân khu. Sau đó, bộ đội ta vừa tiếp tục tiến công, vừa kết hợp kêu gọi. Trước sự tiến công quân sự mạnh mẽ kết hợp với sức ép tâm lý do sự kêu gọi của ta, cuối cùng toàn bộ quân địch dưới hầm ngầm đã kéo nhau ra hàng.


Đêm 20 tháng 10 năm 1952, tại trận Ba Khe do Trung đoàn 174 đám nhiệm, bộ đội ta không tiến công địch trong đồn mà truy tìm tàn binh địch đang chạy trốn tan tác trong rừng. Cơ quan địch vận tổ chức rải truyền đơn ở những đoạn đường gần khu vực tàn binh địch lẩn trốn, viết những khẩu hiệu cắm ở những nơi tàn binh địch có thể đi lại. Kết quả trong 5 ngày, quân ta đã bắt được gần 100 tên, trong đó có một quan hai chỉ huy đồn Ca Vịnh và tên đồn trưởng đồn Ba Khe. Có trường hợp địch đói ăn, vào ăn trộm của dân hoặc xin ăn, bị dân bắt được đem giao cho bộ đội. Một số tên còn tự động vác súng đến nộp cho bộ đội. Ta động viên những tên này đi gọi những tên khác trong rừng. Một số tên còn chỉ chỗ trốn của sĩ quan để bộ đội ta đến bắt, chỉ chỗ địch giấu súng, điện đài để bộ đội ta đến thu...


Trận Mường Say, sau 3 ngày bao vây và phát động nhân dân kêu gọi địch đầu hàng, khi địch rút chạy, cả nhân dân địa phương và bộ đội vừa truy kích vừa kêu gọi địch đầu hàng, kết quả có 1 đại đội ngụy ra hàng. Bộ đội ta đã linh hoạt kết hợp công tác địch vận với dân vận thông qua việc thả tù binh, dùng tù binh và gia đình họ tiếp tục kêu gọi, vận động số binh linh còn trong các đơn vị ngụy. Một số gia đình ngụy binh có con em còn lẩn trốn trong rừng đã tự giác báo cáo với bộ đội và được các đơn vị ta giúp tìm, kêu gọi ra hàng và đưa về gia đình an toàn.


Cùng với công tác tuyên truyền, vận động, kêu gọi địch đầu hàng, công tác tù, hàng binh trong chiến dịch cũng có nhiều tiến bộ. Tây Bắc là chiến dịch đầu tiên ta sử dụng được đại đa số tù binh là sĩ quan Pháp, Phi, ngụy viết những tài liệu có giá trị, kịp thời phục vụ công tác tuyên truyền địch vận ngay trong chiến dịch. Những tài liệu như lời kêu gọi của sĩ quan và binh lính Pháp ở Nghĩa Lộ, của tù binh thuộc 6e B.P.C, thuộc 3/I RTM đều có chữ ký của hầu hết tù binh, binh lính và sĩ quan. Chúng ta đã dùng phương pháp giải thích vận động theo đúng đường lối quần chúng, dùng một số tù binh tương đối tiến bộ hơn để vận động những tù binh khác cũng như binh lính đang còn trong hàng ngũ địch.


Nghiêm chỉnh thực hiện mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, vấn đề đối xử với tù, hàng binh trong chiến dịch có nhiều tiến bộ đáng kể. Những hiện tượng tự phát trước đây đã từng diễn ra như ngược đãi và tàn sát tù binh, thương binh địch đã không còn. Trong nhiều trường hợp, bộ đội ta đã có nhiếu hành động nhân đạo như chia phần cơm cho tù binh hoặc kiên quyết không nhận những thứ như đồng hồ, bút máy hay tiền bạc do tù binh đưa trong khi bị dẫn giải. Đồng thời, giải thích cho tù binh hiểu về tính chất của quân đội ta, làm cho tù binh tin tưởng và cảm phục bộ đội, tạo được tâm lý yên tâm cho tù binh khi đang bị ta bắt giữ.


Công tác giáo dục và phóng thích ngụy binh người địa phương đã được thực hiện nhanh chóng và kịp thời.Tất cả các ngụy binh trước khi được phóng thích về địa phương đều được giáo dục từ 2 đến 4 ngày, được cấp giấy tờ, cá biệt một số còn được cấp lương thực khi phóng thích để hỗ trợ họ có điều kiện trở về gia đình ở xa. Nói chung, chỉ khoảng 10 ngày sau khi giải phóng Tây Bắc, hầu hết tàn binh địch đều mang vũ khí nộp cho chính quyền.


Tuy đạt được những thành tích đáng kể nhưng công tác địch vận trong chiến dịch Tây Bắc vẫn còn một số hạn chế nhất định như việc phổ biến chính sách trong nhân dân và vận động, hướng dẫn nhân dân tham gia chưa được rộng rãi, đặc biệt là chính sách đối với ngụy binh và gia đình ngụy binh. Trong khi tác chiến, việc kêu gọi địch nhiều nơi thực hiện chưa phù hợp ví dụ như bao vây địch chưa chặt, chưa chắc thắng đã kêu gọi, làm cho địch chạy thoát. Công tác vận động tàn binh cũng có khuyết điểm như ở Sài Lương, trong khi kêu gọi vẫn bắn súng lung tung làm địch sợ hãi không dám ra hàng. Thái độ đối với tù binh lẻ tẻ còn có hiện tượng lệch lạc như đánh tù binh, dùng tù binh khiêng thương binh của ta. Trái lại, có nơi xảy ra hiện tượng thực hiện máy móc chính sách tù binh, ưu đãi tù binh thái quá như cho tù binh bị thương nằm điều trị trong quân y viện cùng với thương binh của ta, dùng bộ đội khiêng tù binh bị thương, v.v...


Mặc dù còn một số khuyết điểm nhưng nhìn chung, công tác địch vận trong chiến dịch Tây Bắc đã thu được nhiều thành tích. Cùng với tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội với những đòn tiến công quân sự mạnh mẽ, đường lối, chính sách của ta đối với tù binh, hàng binh đã được thực hiện nghiêm chỉnh, có tác dụng tốt cho việc tuyên truyền, kêu gọi dịch ra hàng. Cán bộ, chiến sĩ và cấp ủy địa phương đã phối hợp chặt chẽ trong công tác địch vận. Có thế khẳng định, những thành tích địch vận đạt được đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch Tây Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #79 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:21:01 pm »

CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU
Ban Tổng kết biên soạn lịch sử Bộ Tổng tham mưu


Tháng 9 năm 1952, từ so sánh thế lực giữa ta và địch trên chiến trường, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc1 (Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn. Bộ Tổng tham mưu, tập II, tr. 139).


Tuy thời gian được chuẩn bị dài nhưng trong chiến dịch ta gặp nhiều khó khăn do nhận thức trước đây cho Tây Bắc là chiến trường thứ yếu, ít quan tâm nên nắm không chắc. Mặt trận Tây Bắc lúc này gồm bốn tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu2 (Quyết định thành lập Khu Tây Bắc ngày 17 tháng 7 năm 1952) rộng chừng 44.300km2 với khoảng 440.000 dân gồm nhiều dân tộc, trong đó người Thái chiếm đa số3 (Người Thái: 200 000 người (45%), người Mông: 70.000 người (16%), người Thổ: 47.000 người (10%), người Mường: 36.000 người (8%) cỏn các dân tộc thiểu số khác: 87.000 người (21%)).


Lợi dụng chính quyền ta sau Cách mạng tháng Tám còn non yếu, tàn binh Pháp sau ngày Nhật đảo chính chạy sang Trung Quốc quay về chiếm hai tỉnh Lai Châu Sơn La, các huyện Văn Chấn, Văn Bàn, Than Uyên,Phong Thổ, Bình Lư; lập xứ Thái tự trị để chia rẽ dân tộc đưa bọn tay sai cũ Đèo Văn Long, Bạc Cầm Quỳ ra làm tay sai kìm kẹp nhân dân.


Về phía ta, bộ đội và cán bộ ta hầu hết chưa quen địa bàn, cơ sở nhân dân chưa vững chắc, nhân dân chưa hiểu hết các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ...

Tây Bắc có nhiều dãy núi cao trên 1.000m, cao nhất là Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Phan Xi Păng 3.142m; có hai đường chính vào Tây Bắc là đường 13 từ Yên Bái đi Ba Khe, Phù Yên, Tạ Khoa, Cò Nòi gặp đường 41 và đường 6 từ Hoà Bình lên Mộc Châu nối đường 41 lên Sơn La Lai Châu... Tiến vào Tây Bắc phải qua hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đà. Sông Hồng lúc này là ranh giới giữa ta và địch. Tây Bắc có 4 cánh đồng lớn là Mường Thanh, Nghĩa Lộ, Than Uyên và Phù Yên.


Nghiên cứu chiến trường Tây Bắc, Bộ Tổng tham mưu nhận thấy rõ những thuận lợi và khó khăn, đặc biệt khó khăn về việc nắm tình hình chưa chắc và vấn đề tiếp tế, cung cấp cho lực lượng lớn chủ lực ta hoạt động. Cơ sở chính trị ở Tây Bắc yêu, bị xáo trộn nhiều sau chiến dịch Lý Thường Kiệt không thành công, bị địch khủng bố chỉ còn lại một số nơi1 (Cơ sở Văn Chấn có Sài Lương, Gia Hội, Phù Nhâm, Sơn Tịnh, Hạnh Sơn, Thạch Tương, Sơn A, Sơn Lương, Trạm Tấu, Đả Sỏi, Ba Khe, Suối Đá, Ba Cầu, Than Uyên có Mường Khoa, Thân Thuộc, Mường Thản, Mường Cay, Mường Kim, Khao Mảng, Lao Chày, Pún Mún, Tú Lệ. Phù Yên có Quang Huy, Tương Gia Phù, Tấn Tượng Phong, Khu Mông 99. Mai Sơn có Hát Lót, Chiềng Bang, Mai Ly). Đồng bào Tây Bắc ít có điều kiện tiếp xúc với cách mạng, lại bị lừa bịp, khống chế, dùng Chiến tranh tâm lý, chia rẽ, phá hoại chính sách của Đảng, nên vấn đề tranh thủ nhân dân, vấn đề vận động quần chúng là nhiệm vụ hết sức quan trọng của chiến dịch. Cơ sở yêu ảnh hưởng nhiều đến vấn đề nắm địch, vấn đề phối hợp chiến đấu, đẩy mạnh du kích Chiến tranh và vấn đề huy động nhân vật lực của địa phương.


Phân tích sâu các mặt nói trên, Bộ Tổng tham mưu cùng Tổng cục Cung cấp bàn cụ thể kế hoạch bảo đảm vật chất cho chiến dịch... Bộ Tổng tham mưu đề nghị Tổng Quân ủy tăng cường cán bộ dân vận cho Tây Bắc làm công tác chính trị, dân vận, gây cơ sở và nắm quần chúng.


Đầu tháng 4 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu sơ bộ dự thảo xong kế hoạch chiến dịch báo cáo Tổng Quân ủy. Ngày 16 tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy họp mở rộng có đại biểu tham mưu, chính trị, cung cấp, Văn phòng Thủ tướng phủ, Văn phòng Trung ương, Liên khu ủy Việt Bắc, phổ biến chỉ thị của Trung ương Đảng mở chiến dịch Tây Bắc; phổ biến sơ bộ kế hoạch tác chiến. Tổng Quân ủy quyết định thành lập Ban chuẩn bị chiến trường gồm các đồng chí Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái, Lê Liêm, Nguyễn Văn Nhạn, Phan Mỹ, Chu Văn Tấn. Bùi Quang Tạo, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học và đồng chí Bằng Giang đại biểu Mặt trận Tây Bắc.


Trong hai ngày 27 và 28 tháng 4 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến trường họp nghe Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình trong đó có việc cử đoàn cán bộ và chiến sĩ Cục Quân báo do đồng chí Lê Quang Vũ phụ trách đi nghiên cứu địch ở Nghĩa Lộ. Ngoài ra còn có một số cán bộ địa phương của Phù Yên đi xây dựng cơ sở, một số cán bộ tác chiến đi nghiên cứu địa hình, đặt kế hoạch hành trú quân, tập kết cho các đơn vị. Số cán bộ này sẽ lên đường đi Tây Bắc vào ngày 2 tháng 5 năm 1952. Liên khu Việt Bắc cử hai liên khu ủy đi Tây Bắc, tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ sở. Đồng chí Đồng Sỹ Học phụ trách Văn Chấn và Nghĩa Lộ; đồng chí Trần Quyết phụ trách Vạn Yên và Quang Huy. Đồng thời Liên khu mở lớp bồi dưỡng cán bộ cơ sở là các huyện ủy viên và quần chúng tết ở địa phương Tây Bắc, Cán bộ Bộ Tổng tham mưu được cử tới lớp học nắm thêm tình hình địch, tình hình cơ sở và binh yếu địa chí để bổ sung kế hoạch tác chiến...


Trong các ngày 2 và 3 tháng 6 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến trường họp kiểm tra thêm mật chuẩn bị. Đồng chí Bùi Quang Tạo báo cáo khả năng huy động nhân vật lực ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái. Đợt đầu chiến dịch dự kiến 4.335 tấn gạo, 90 tấn muối, 125 tấn thịt, 527 tấn vũ khí đạn dược. Liên khu 4 sẽ chuẩn bị lương thực cho đợt 2... Trong khi vật chất phải bảo đảm cho chiến dịch ước tính khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí đạn dược; khoảng 35.000 dân công.


Ngày 4 và 5 tháng 7 năm 1952 Tổng Quân ủy họp mở rộng. Tổng Tham mưu trưởng thông báo tin tức của đoàn đi trinh sát. Ta đã bắt được liên lạc với một số cán bộ cơ sở ở Nghĩa Lộ, Phù Yên, Quỳnh Nhai, nhưng phần nhiều còn ở trên núi cao chưa xuống được đồng bằng và chưa phát triển được sâu vào vùng địch tạm chiếm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM