Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:46:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33068 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #80 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:22:56 pm »

Để đáp ứng đủ nhân vật lực phục vụ kịp thời cho tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về huy động dân công. Ban dân công các tỉnh được thành lập. Việc điều khiển gom lương, vận chuyển chủ yếu dựa vào nguồn nhân vật lực địa phương, do Ban cung cấp tiền phương, Ban cán sự đường 41 - Tổng cục Cung cấp đảm nhiệm.


Ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái thuộc Liên khu Việt Bắc, thành lập Khu Tây Bắc. Đồng chí Bùi Quang Tạo được cử làm Chính ủy, Bí thư Khu ủy; đồng chí Bằng Giang là Tư lệnh; đồng chí Đồng Sỹ Học là Phó Chính ủy Khu. Từ ngày 30 tháng 7 năm 1952, Khu ủy Tây Bắc triển khai thực hiện các nhiệm vụ Trung ương giao. Trước mắt ổn định các tổ chức Đảng, chính quyền trong Khu, kiện toàn bộ máy lãnh đạo1 (Toàn Khu Tây Bắc có 145 chi bộ với 3.846 Đảng viên và 495 cán bộ (trong đó có 17 chi bộ bộ đội địa phương, 76 chi bộ xã, 51 chi bộ cơ quan, 1 chi bộ Xí nghiệp. Trong tổng số Đảng viên có 3.775 là đảng viên chính thức. Trong số 495 cán bộ có 5 khu ủy viên, 49 tỉnh ủy viên, 205 huyện ủy viên, 236 cán bộ xã (HS sỗ 1-K4, VPBQP)). Công tác xây dựng cơ sở hậu địch được Khu ủy hết sức chú trọng nhằm đảm bảo hành quân, trú quân, dẫn đường cho bộ đội, trinh sát nắm địch và tìm hiểu khả năng huy động nhân vật lực của các địa phương trong Khu phục vụ chiến dịch.


Tỉnh Yên Bái đưa cán bộ cốt cán xuống các cánh đồng lớn Mường Thanh, Nghĩa Lộ hoạt động; phục hồi và xây dựng thêm nhiều cơ sở mới ở Man La, Hố Pèng, Man Bó Siêu, Nga Hai, Văn Ngân, Dao Luôn và Khe Lóng; củng cố các cơ sở cũ ở Sơn Lương, Gia Hội và phát triển sâu vào Nghĩa Lộ; gây lại cơ sở ở Mường Khoa. Thân Thuộc, 48 bản của Than Uyên đã xây dựng được cơ sở mới.


Tỉnh Sơn La đã tăng cường cán bộ cho các trọng điểm, phát triển thêm cơ sở gần khắp Quang Huy, khu Mậu A,hữu ngạn sông Đà. Các tổ vũ trang tuyên truyền đã vào được Tạ Khoa, Cò Nòi, Hát Lót và gần thị xã...

Ngày 10 và 11 tháng 8 năm 1952, Ban chuẩn bị chiến trường hợp kiểm điểm thấy việc chuẩn bị cơ sở địa phương và gạo còn chậm... nên quyết định xúc tiến gấp việc điều tra thêm tình hình địch ở Bản Lìu, Cửa Nhì, Nghĩa Lộ; chuẩn bị thêm cơ sở ở Nghĩa Lộ, chủ yếu ở Sài Lương; củng cố thêm cơ sở ở Phù Yên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, gáy lại cơ sởở Yên Châu, Mường La và Than Uyên; xúc tiến bố trí các kho hậu cần khu vực hành quân ở tả ngạn sông Hồng; trước mắt lấy Yên Bái làm căn cứ hậu phương dựa vào các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc làm nguồn cung cấp chủ yếu về dân công và lương thực... Ngoài ra Ban cán sự đường 41 lấy Suối Rút cây số 22 làm căn cứ hậu phương, dựa vào vùng tự do của Liên khu 3 Hoà Bình, Ninh Bình và chủ yếu là Thanh Hoá để huy động nhân vật lực phục vụ cho chiến dịch. Chấn chỉnh biên chế và trang bị cho bộ đội địa phương ở Tây Bắc thích hợp với nhiệm vụ thâm nhập vào địch hậu.


Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Bí thư Tổng Quân ủy phổ biến nghị quyết của Trung ương Đảng mở chiến dịch Tây Bắc. Tổng Tham mưu trưởng trình bày kế hoạch chiến dịch trong đó giao cho Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 Mặt trận Tây Bắc luồn sâu vào địch hậu Quỳnh Nhai (tây bắc Sơn La 68km) để tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị, phát triển du kích chiến tranh, mở rộng căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, có kế hoạch tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; lấy nhiệm vụ tranh thủ nhân dân, củng cố và mở rộng cơ sở chính trị làm trọng tâm. Tổng Tham mưu trưởng nhấn mạnh việc sử dụng bộ phận nhỏ bộ đội vào địch hậu phát động nhân dân, hoạt động du kích nhằm cô lập Sơn La.


Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc được triệu tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm; Người nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ nhiều vấn đề trong đó đặc biệt nhấn mạnh chính sách đối với đồng bào thiểu số khi ta tiến quân vào Tây Bắc.
   

Thay mặt Tổng Quân ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận hội nghị nêu rõ ba nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch và nhấn mạnh nhiệm vụ tranh thủ nhân dân. Ở Tây Bắc việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng vì ở đây âm mưu phá khối đại đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc. Thực dân Pháp đã thất bại trong việc lập xử Tày, xứ Nùng, xứ Mường, xứ Thái tự trị ở Cao - Bắc - Lọng, Lào Cai, Hoà Bình, nhưng ở Tây Bắc các thế lực thù địch còn mạnh, còn khống chế được đại bộ phận các dân tộc. Ta phải tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc để đánh bại hoàn toàn âm mưu thâm độc chia để trị, "dùng người Việt đánh người Việt" của địch.


Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh làm Tư lệnh: đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Trần Đăng Ninh1 (Về đồng chí Chủ nhiệm Cung cấp có tài liệu viết là Nguyễn Thanh Bình. Ở đây, chúng tôi dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2006, tr. 824), Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Các cơ quan tổ chức các bộ phận tiền phương hình thành cơ quan chiến dịch.


Tiếp đó Hội nghị nghe phổ biến chỉ thị ngày 16 tháng 8 năm 1952 của Trung ương Đảng về "Thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở Khu Tây Bắc", "Tám điều mệnh lệnh" của Chính phủ về chính sách dân vận trong chiến dịch và huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại hội nghị..., Bộ Tổng tư lệnh cũng phổ biến 10 điều kỷ luật chung của quân đội và 3 điều kỷ luật chiến trường Tây Bắc...


Cuối tháng 9 năm 1952, Khu ủy Tây Bắc triệu tập Hội nghị cán bộ mở rộng quán triệt chính sách vận động số của Đảng. Hầu hết các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, huyện ủy và cán bộ các ban, ngành khu đều có mặt. Hội nghị đã nghiên cứu chỉ thị thành lập Khu Tây Bắc, học tập chính sách dân tộc thiểu số, Chỉ thị 15 của Trung ương về việc thực hiện chính sách dân tộc ở vùng mới giải phóng, đặt chương trình công tác 3 tháng cuối năm để động viên cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân toàn Khu huy động mọi khả năng phục vụ chiến dịch.


Ngày 16 tháng 9 năm 1952,Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị về hành quân, yêu cầu các đơn vị cho công binh sửa đường. Tổng Quân ủy giao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu đặt kế hoạch vượt sông Hồng và chỉ đạo trực tiếp các đơn vị vượt sông ở hướng chính. Ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị "Về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông 1952" nêu rõ những công việc cụ thể để thực hiện nhiệm vụ công tác chính trị trong chiến dịch Tây Bắc, nhấn mạnh việc chấp hành chính sách dân tộc thiểu số của Trung ương và kiên quyết thi hành Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ; làm đúng chính sách tù hàng binh để mở đường cho công việc tranh thủ nhân dân; tăng cường công tác chính sách đối với dân công; nâng cao tinh thần thương yêu nhau ngoài mặt trận...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #81 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2025, 08:24:34 pm »

Do những khó khăn đặc biệt của việc vượt sông, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định thành lập Ban chỉ huy vượt sông do Tổng Tham mưu trưởng làm trưởng ban để thống nhất điều khiển bộ đội, dân công vượt sông Thao vào chiếm lĩnh trận địa. Một số cán bộ tham mưu, công binh được cử vào Ban vượt sông. Ngoài ra Bộ Tổng tư lệnh điều thêm một số cán bộ thuộc các tổng cục, Liên khu Việt Bắc trong đó có nhiều cán bộ công binh và bảo vệ để bảo đảm an toàn và bí mật. Nhiệm vụ của Ban chỉ huy bên vượt là chuẩn bị đầy đủ phương tiện vượt sông, đặt kế hoạch, tổ chức các bến vượt. Ngày 7 tháng 10 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu ra mệnh lệnh tác chiến cho các đơn vị, xác định lại nhiệm vụ và quy định vượt sông cho các đơn vị...


Mặc dù lực lượng vượt sông rất lớn cả bộ đội và dân công, chưa kể binh khí kỹ thuật. Nhưng do làm tốt công tác vận động quần chúng, nên Ban chỉ huy vượt sông đã huy động trong nhân dân hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái được hơn 400 thuyền nan, gần 350 thuyền gỗ... để chở bộ đội và dân công. Các khu vực Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu tổ chức nhiều bến vượt, có bến chở bộ đội, có bến dành cho dân công. Suốt trong hai đêm (10 và 11-10-1952), Ban chỉ huy vượt sông đã bảo đảm cho 8 trung đoàn với trên 30.000 bộ đội, dân công tham gia chiến dịch đợt 1 vượt sông Thao một cách an toàn.


Do khả năng huy động lương thực từ hậu phương lên khó khăn, Tổng Quân ủy chủ trương huy động lương thực tại chỗ. Tây Bắc có bốn cánh đồng lúa, ta giải phóng hai, trừ Mường Thanh và Than Uyên. Lúc này đúng vào vụ mùa lúa chín. Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho bộ đội giúp dân gặt hái, xay giã và vận động nhân dân cho bộ đội vay hoặc bán. Do cán bộ địa phương tích cực vận động nên chỉ riêng Nghĩa Lộ đã huy động được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt. Tính cả Tây Bắc sau này Tổng cục Cung cấp đã huy động được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 15.500 dân công. Một con số tuy chưa nhiều so với số tiêu thụ trong chiến dịch1 (Chiến dịch Tây Bắc ta huy động 11.750 tấn gạo (tiêu thụ hét 9.890 tấn), 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 02 tấn thực phẩm khác), nhưng đã giải quyết được một phần khó khăn cho bộ đội.


Đêm 14 tháng 10 năm 1952, ta mở màn chiến dịch Tây Bắc và sau gần hai tháng anh dũng chiến đấu, chiến dịch đã kết thúc thắng lợi. Quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch2 (Diệt 1.005 lên, bắt 5.024 tên,tiêu diệt 4 tiểu đoàn, 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ, phá hủy và thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực, thực phẩm của địch); hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân. Vùng mới giải phóng rộng 28.500km2 với 250.000 dân là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, cả bốn cánh đồng lớn Mường Thanh, Nghĩa Lộ, Phù Yên, Than Uyên đã thuộc về ta. Tây Bắc trở thành căn cứ địa nối liền với căn cứ địa Việt Bắc là một bảo đảm cho cuộc kháng chiến lâu dài của ta và có tác động lớn đến cách mạng Lào.


Chiến thắng Tây Bắc đã đập tan cái gọi là "Xứ Thái tự trị" mà địch cho là "một thành công điển hình" trong âm mưu chia rẽ dân tộc "dùng người Việt đánh người Việt" của chúng.

Đây cũng là thắng lợi của tinh thần giác ngộ cách mạng, phục vụ hẽt lòng hết sức vì tiền tuyến của quân dân Khu Tây Bắc. Khu ủy Tây Bắc coi đây là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi tập trung sự lãnh đạo chặt chẽ từ trên xuống cơ sở. Nhiều nơi giáp hạt thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyện góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa phục vụ tiền tuyến vừa đánh giặc bảo vệ hậu phương. Anh chị em dân công chịu đựng gian khổ, khó khăn không kém bộ đội, ngày đêm xông pha hoả tuyến; nhiều người bị thương và hy sinh vì bom đạn địch. Khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng" đã quán triệt sâu sắc và trở thành hành động cách mạng của quần chúng.


Mặc dù gặp nhiều khó khăn, phải huy động một khối lượng lớn sức người, sức của, đường tiếp tế xa, lắm đèo nhiều suối, lại phải vượt qua sông Hồng và sông Đà, thời tiết khắc nghiệt, phương tiện vận chuyển thô sơ, chủ yếu bằng đôi vai, nhưng quân và dân Tây Bắc đã quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến dịch1 (Gần 20 vạn dân công với 7 triệu ngày công; 11.750 tấn gạo, 164 tấn muối 235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng đã được huy động và vận chuyển kịp thời phục vụ chiến đấu).


Có thể nói, tiềm lực to lớn của hậu phương là nhân tố quan trọng góp phần làm nên chiến thắng. Tiềm lực ấy được nhân lên, được phát huy cao độ, là thành công của công tác vận động quần chúng của Đảng mà cụ thể là sự nỗ lực của tất cả các lực lượng trong chiến dịch. Từ chủ trương, chính sách của Đảng đến hoạt động không biết mỏi của cán bộ cơ sở các cấp và bộ đội, đã luồn sâu, đi sát, sống giữa lòng dân, năm tình hình, giác ngộ, động viên quần chúng, vận động quần chúng nhận thức, tin theo và làm theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, một lòng một dạ tin tưởng, theo Đảng, tận tâm phục vụ và tham gia đóng góp sức người sức của cho chiến dịch. Điều đó được thể hiện trong điều kiện sinh sống không tập trung kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lại bị địch vơ vét, cướp phá, nhưng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động tại chỗ phục vụ cho chiến dịch 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác cùng với 150.000 ngày công. Đây là con số mang ý nghĩa to lớn, khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của ở vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ của Đảng ta là rất sáng suốt. Thực hiện quyền làm chủ của mình, nhân dân các dân tộc vùng mới giải phóng đã hăng hái đóng góp phục vụ chiến dịch, qua đó người dân càng gắn bó với cách mạng với sự nghiệp giải phóng quê hương. Riêng tỉnh Yên Bái đã huy động 5.428 dân công thường trực, chiếm 20% số dân, 1.000 dân công xung phong đi phục vụ một tháng và 2.312 dân công đi phục vụ trong 7 ngày; 730 tấn gạo, 622 con trâu, 368 con lợn, 16 tấn đậu, lạc, vừng và 722 tạ muối ăn. Thực hiện chủ trương huy động hậu cần tại chỗ, nhân dân Nghĩa Lộ nơi diễn ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt mở đầu chiến dịch Tây Bắc cũng tự nguyện đóng góp 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 con bò, 9 con lợn thịt để nuôi quân. Nhân dân Yên Bái đã làm tròn nghĩa vụ của mình cùng quân dân cả nước đưa chiến dịch đến toàn thắng.


Ngày 29 tháng 1 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Hội nghị tổng kết chiến dịch, Người nói các chú đã làm đúng chính sách của Trung ương đối với đồng bào thiểu số Tây Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận việc chấp hành chính sách dân tộc thiểu số của Trung ương đạt được yêu cầu.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiến lên một bước mới trên con đường tiếp tục giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược. Quân dân cả nước nói chung các dân tộc thiểu số Tây Bảc nói riêng càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Bộ đội ta đã chấp hành đúng chính sách dân tộc của Đảng và Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ, vận động quần chúng tích cực, tranh thủ được nhân dân, góp phần đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của địch ở Tây Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #82 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 08:55:47 pm »

CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG - NHÂN TỐ GÓP PHẦN THẮNG LỢI TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

TS CHU ĐÌNH LỘC
Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang
Trung tá CHU VĂN LỘC
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cuộc kháng chiến chống Pháp từ sau năm 1950 đã chuyển sang giai đoạn mới, quân ta giành được thế chủ động, mở những đợt hoạt động lớn gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Phát huy thế và lực mới, ngay từ cuối chiến dịch Hoà Bình (2-1952), Bộ Chính trị đã có ý định mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc. Trên cơ sở lực lượng, so sánh giữa ta và địch. Tổng Quân ủy nhận định: "Trên chiến trường Bắc Bộ lúc này, không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc"1 (Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975). tập 1, Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 175). Căn cứ đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm "tiêu diệt sinh lực dịch; tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân vùng Tây Bắc và cuối cùng là giải phóng một bộ phận đất đai ở vùng Tây Bắc"1 (Bộ Tổng tham mưu, Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, tập 2. Sđd. tr. 139). Các đơn vị tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn 308, 312, 316, Trung đoàn 351 Đại đoàn công pháo 351, Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 và một số đơn vị bộ đội địa phương... Chỉ huy trường chiến dịch: đồng chí Võ Nguyên Giáp; Tham mưu trưởng: đồng chí Hoàng Văn Thái; Chủ nhiệm chính trị: đồng chí Nguyễn Chí Thanh; Chủ nhiệm cung cấp: đồng chí Trần Đăng Ninh2 (Về Đồng chí Chủ nhiệm Cung cấp có tài liệu viết là Nguyễn Thanh Bình. Ở đây, chúng tôi dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân. H. 2006, tr 824). Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn và kết thúc ngày 10 tháng 12 năm 19523 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị. Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học. Nxb Chính trị quốc gia H.1996. tr. 186), diễn biến thành 3 đợt: Đợt 1, từ 14 đến 23 tháng 10; đợt 2, từ 7 đến 22-11; đợt 3, từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12 năm 1952.


Chiến dịch tiến công Tây Bắc là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội và dân công tham gia chiến dịch có vai trò hết sức quan trọng. Ngay từ những ngày chuẩn bị công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã được Đảng và Bác Hồ hết sức coi trọng. Đầu năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở lớp chỉnh Đảng với mục đích và yêu cầu là: "Lấy tư tưởng Mác-Lênin của giai cấp vô sản khắc phục những tư tưởng sai lầm trong Đảng..., do đó mà củng cố lập trường chính trị của cán bộ, đảng viên, làm cho... tư tưởng, cán bộ, Đảng viên nhận rõ ta, bạn, địch, nắm vững chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng, nắm vững tư tưởng trường kỳ kháng chiến tự lực cánh sinh..."1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001.tr. 103,66. 72. 74).


Để thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, tháng 4 năm 1952, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khẳng định: "Kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhân dân ta đoàn kết yêu nước, nhân dân thế giới giúp đỡ ta. Nên ngay từ đầu, ta hơn địch về chính trị, về tinh thần. Song ta kháng chiến về mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Đối với toàn bộ cuộc chiến tranh, thì chính trị và tinh thần là một nhân tố quyết định thắng lợi"2 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001. tr. 103, 66. 72. 74). Hội nghị đánh giá tình hình, chỉ ra những sai lầm, trong đó nhấn mạnh "coi nhẹ chất lượng chính trị của quân đội"3 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001.tr. 103,66. 72. 74), nguyên nhân là "phương pháp tư tưởng của ta còn tính chất chủ quan, một chiều. Lập trường giai cấp và quan điểm quần chúng trong Chiến tranh nhân dân của ta chưa được vững"4 (Văn kiện Đảng, Toàn tập. tập 13. Nxb Chính trị quốc gia. H 2001.tr. 103,66. 72. 74) và đề ra những nhiệm vụ thiết thực chuẩn bị tổng phản công, trong đó nhấn mạnh: "Xây dựng quân đội mạnh hơn nữa, tiến hành chính quân để đề cao chất lượng chính trị của bộ đội, đề cao tư tưởng của cán bộ cũng như đề cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật của toàn quân; tăng cường tổ chức, trang bị, cái thiện cung cấp..."5 (). Quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng, xây dựng tinh thần chủ động, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách dân tộc, tích cực tiến công địch, Tổng Quân ủy chỉ rõ: "Việc thống nhất tư tưởng, quán triệt sâu sắc quyết tâm mở chiến dịch của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được để đánh thắng quân địch"6 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952),H.1992. tr 76).


Từ quan điểm trên, các đơn vị tiến hành đợt chính quân chính trị, chỉnh huấn quân sự theo chủ trương của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3, nhằm nâng cao quan điểm, lập trường tư tưởng, khắc phục những nhận thức sai lầm về tổng phản công, nôn nóng, muốn thắng nhanh, hoặc ý lại sự viện trợ của nước ngoài... Việc lãnh đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trong Hội nghị Tuyên huấn toàn quân cũng đã xác định: "Phải đặt thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quân đội"1 (Nghị quyết Hội nghị Tuyên huấn toàn quân lần thứ nhất (từ 21- 30.8 1952)), rèn cho cán bộ, chiến sĩ có một tư tưởng chính trị vững vàng, nhận rõ thù, bạn và ta, nâng cao ý thức chính trị. Xây dựng tư tưởng kháng chiến lâu dài, gian khổ, niềm tin nhất định thắng lợi, rèn luyện tư tưởng tự lực cánh sinh, vượt mọi khó khăn, quét sạch các tư tưởng sai lầm và các bệnh đã mắc phải, củng cố phát triển bộ đội, quyết tâm chiến đấu tiêu diệt địch, bảo đảm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Kết hợp chặt chẽ giáo dục giác ngộ giai cấp với giác ngộ dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước cao độ và tinh thần quốc tế. Hiểu rõ tính chất quân đội nhân dân với mục đích xây dựng quân đội nhân dân, kết hợp giáo dục chính trị với nhiệm vụ quân sự, giáo dục chính trị với giải quyết vấn đề tư tưởng. Đây là một cuộc vận động học tập chính trị tập trung nhất, rộng lớn nhất kể từ ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944).


Nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung công tác chính trị đã tập trung đi sâu giáo dục tình hình nhiệm vụ chính trị ý nghĩa của chiến dịch, giáo dục cho bộ đội những chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, 10 điều kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ và dân công vùng Tây Bắc, 3 điều kỷ luật  chiến trường và các tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ tiến quân vào Tây Bắc. Cán bộ các cấp còn được quán triệt thêm một bước về phương châm, nhiệm vụ chiến lược, đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn hiện tại. Cán bộ từ đại đội trở lên học tài liệu "Mấy vấn đề cách mạng", cán bộ trung đội, tiểu đội và chiến sĩ học tài liệu "Quân đội nhân dân Việt Nam" và "Kháng chiến trường kỳ gian khổ nhất định thắng lợi".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #83 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 08:59:27 pm »

Biện pháp tiến hành chỉnh quân chính trị theo phương châm: phát huy tự do tư tưởng, liên hệ lý luận với thực tiễn, liên hệ nhận thức mới với nhận thức cũ, thảo luận, phân tích làm rõ đúng, sai, thực hành tự phê bình và phê bình để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Những vấn đề "ai là bạn", "ai là thù", "kháng chiến để làm gì", "vì sao kháng chiến phải lâu dài gian khổ nhưng nhất định thắng lợi", "Quân đội ta là quân đội của ai", "trách nhiệm và đạo đức cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân như thế nào?"... được tranh luận sôi nổi. Nguyên tắc của lãnh đạo tư tưởng là lấy tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin làm tiêu chuẩn để xem xét và giải quyết mọi vấn đề. Những biểu hiện sai lầm như quyết tâm chiến đấu chưa cao, tinh thần phục vụ nhân dân, yêu thương đồng đội chưa đầy đủ, ngại khó, ngại khổ... được phân tích và phê phán nghiêm khắc. Kiên quyết chống các tư tưởng sai lầm, tích cực xây dựng tư tưởng đúng đắn, giải quyết vấn đề tận gốc, giáo dục tư tưởng căn bản, phòng ngừa và sửa chữa cái sai, phát huy cái đúng, đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng hữu khuynh, lấy lợi ích cách mạng làm nguyên tắc cao nhất. Việc giáo dục chính trị cần phải tiến hành thường xuyên, có kế hoạch, có hệ thống, có nền nếp để bắt đầu xây dựng một chế độ giáo dục chính trị. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ các cấp phải chấp hành học tập lần nhau và giúp nhau sửa chữa, khắc phục thiếu sót, nhược điểm.


Chỉnh huấn chính trị là trọng tâm của việc chỉnh quân, vì có chỉnh huấn chính trị mới đạt được cơ sở cho sự tiến bộ về chiến thuật và kỹ thuật, đề cao được sức chiến đấu của bộ đội, chuẩn bị thực sự cho bộ đội để đón những thuận lợi, hoặc vượt qua những khó khăn, mới làm được nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng trong giai đoạn cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Muốn cho quân đội ta quyết chiến, quyết thắng hơn nữa thì phải chăm sóc đời sống, nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật, nhất là giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho họ có lập trường rõ rệt, chắc chắn, tức là lập trường quân đội của nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, và nâng cao tư tưởng giai cấp vô sản, khắc phục những tư tưởng không vô sản, phải làm cho quân đội ta trở nên một quân đội cách mạng của nhân dân, một quân đội vô địch1 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, (từ 22- 28.14.1952)). Cùng với chỉnh quân chính trị là chỉnh huấn quân sự, trong chính huấn quân sự là "chỉnh biên" theo nguyên tắc tinh binh, tinh cán, giảm quân số không chiến đấu, tăng thành phần chiến đấu. Các đơn vị chủ lực đều được củng cố, bổ sung thêm quân số, một số cán bộ trung đội, đại đội mới tốt nghiệp ở các trường lục quân và bổ túc sơ cấp được điều về làm lực lượng cán bộ dự trữ cho chiến dịch, "được huấn luyện 5 kỹ thuật cơ bản, học các cách đánh công sự cải tiến, đánh cả ban ngày lẫn ban đêm, nhiều đơn vị có diễn tập tác chiến hiệp đồng bộ pháo"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), H.1992. tr. 21). Ngoài ra, phổ biến kỹ các kinh nghiệm chiến đấu của các chiến dịch trước, các trang bị được bổ sung tương đối đầy đủ, thống nhất, bộ đội có thời gian nghỉ ngơi, dưỡng sức. Bộ đội địa phương và dân quân du kích thời gian này cũng có bước phát triển mới.


Nhờ giáo dục chính trị, tư tưởng đúng đắn, thiết thực, nhất là được học tập, quán triệt kỹ, đầy đủ các chỉ thị, mệnh lệnh, các quy định của chiến trường nên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao giác ngộ giai cấp cho quân đội, hiểu rõ mục đích chính trị của cuộc chiến đấu, phân rõ ranh giới giữa thù, bạn và ta, hiểu rõ bản chất và nhiệm vụ quân đội nhân dân, nâng cao lòng yêu nước, tinh thần quốc tế, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, phát huy tinh thần chịu đựng gian khổ, chiến đấu anh dũng, dẻo dai, hoàn thành một nhiệm vụ Đảng, quân đội giao. Đặc biệt lần này, do tầm quan trọng của công tác tranh thủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp soạn thảo và ký "Tám điều mệnh lệnh" của Chính phủ1 (Hồ Chí Minh, với các lực lượng vũ trang, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1962, tr 136 140). Lúc này, bộ đội ta muốn tranh thủ được nhân dân thì phải hòa mình cùng với nhân dân, khi đồng bào khó khăn phải chung vai gánh vác giúp đỡ, nhất là ở vùng mới giải phóng; phải cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt (làm việc) để hiểu về phong tục, tập quán của đồng bào; để đồng bào luôn coi bộ đội như con em của dân tộc mình, đây là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao, một yếu tố tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần cho bộ đội trước những thử thách ác liệt ở chiến trường Tây Bắc. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Người đã vượt suối, lũ và bao khó khăn dọc đường để đến dự Hội nghị cán hộ hàn kế hoạch tác chiến. Tại hội nghị, Người chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai, trong đó nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch. Người dặn: "... Làm cách mạng và kháng chiến là việc khó, nhưng quyết tâm thì cũng thành công. Quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói mà phải quyết tâm trong công tác, trong hành động", "Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhà kỷ luật nghiêm". "Phải nhớ rằng những quân đội cách mạng, trước hết là những người đảng viên, không sợ khó khăn mà phải khắc phục khó khăn, khi gặp một việc gì khó khăn, đơn vị nào được phụ trách thì rất lấy làm vẻ vang, những đơn vị không được phụ trách thì lấy làm buồn vì thấy mình chưa đủ trình độ và năng lực để làm việc đó... Từ đại đoàn trưởng cho đến tiểu đội trưởng phải đồng cam cộng khổ với anh em chiến sĩ, chăm nom săn sóc giúp đỡ nhau, coi nhau như chân tay ruột thịt"1 (Hồ Chí Minh. Với các lực lượng vũ trang. Sđd. tr. 136-140).


Bên cạnh việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội thì công tác giáo dục cho dân công cũng là một nội dung đặc biệt quan trọng góp phần đưa đến thắng lợi của chiến dịch. "Các đơn vị đều có một số đồng bào đi theo giúp. Đối với đồng bào, dân công, phải giáo dục, phải chăm nom thân mật, phải giải thích tuyên truyền cổ động, làm cho đồng bào vui vẻ công tác. Phải làm cho giữa dân công và bộ đội có tinh thần thân ái, đoàn kết khăng khít. Phải làm cho họ không muốn về mà muốn luôn luôn đi theo giúp bộ đội. Điều đó giúp cho mình chiến thắng. Nếu không làm được như thế thì sẽ gặp nhiều khó khăn"2 (Hồ Chí Minh. Với các lực lượng vũ trang. Sđd. tr. 136-140). Từ lời dạy của Bác, ta đã tổ chức quân sự hỏa lực lượng dân công thành từng đoàn, từng đội. Xác định lực lượng dân công là một lực lượng của chiến dịch và được quan tâm toàn diện như đối với bộ đội. Từ đầu kháng chiến chống Pháp đến lúc này, chưa bao giờ ta huy động một khối lượng sức người, sức của lớn như vậy, với hơn 2 vạn dân công và 7 triệu ngày công, 11.750 tấn gạo, 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí, quân trang, quân dụng1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thục dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994. tr 83). Có được kết quả đó là do chúng ta hết sức coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của anh chị em dân công.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #84 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:02:57 pm »

Cùng với việc giáo dục cho bộ đội và dân công, công tác chính trị còn phải nắm bắt được tâm lý, đời sống, sinh hoạt của nhân dân vùng Tây Bắc để có biện pháp vận động quần chúng ở địa phương. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, đồng bào nơi đây phải chịu áp bức bóc lột của thế lực phong kiến và thực dân Pháp. Chúng coi Tây Bắc như một giang sơn riêng; thả sức khai thác tài nguyên, lôi kéo một số con em các dân tộc Tây Bắc vào các tiểu đoàn lính Thái, lính Mường... phục vụ cho cái gọi là "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" và chính sách "dùng người bản xứ đánh người bản xứ"; vừa lấy người bán xứ làm bia đỡ đạn, vừa thực hiện âm mưu chia rẽ miền xuôi với miền ngược, biến Tây Bắc thành vùng "trắng" cách mạng. Đồng bào vùng Tây Bắc tuy rất căm ghét sự thống trị của giặc Pháp và tay sai, song sự hiểu biết về cách mạng còn sơ sài, cơ sở quần chúng chưa phát triển mạnh. Do bị địch khủng bố và lừa bịp, xuyên tạc nên cơ sở quần chúng được xây dựng từ năm 1948 phần lớn đã bị tan rã hoặc bị mất liên lạc. Một số nơi đã bắt được liên lạc nhưng phần lớn lại là vùng rẻo cao như Nghĩa Lộ, Phù Yên, Quỳnh Nhai. "Âm mưu phá hoại đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc, các thế lực thù địch còn mạnh, còn khống chế được đại bộ phận nhân dân"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đường tới Điện Biên Phủ. Nxb Quân đội nhân dân.H. 2001.tr. 321). Do vậy, việc "tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đường tới Điện Biên Phủ. Nxb Quân đội nhân dân.H. 2001.tr. 321) đến hoạt động tác chiến của quân đội cách mạng. Ngày 16 tháng 8 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về chính sách dân tộc thiểu số của Đảng ở Khu Q.T (Tây Bắc) nhấn mạnh: "Ra sức tuyên truyền, giáo dục tinh thần đoàn kết kháng chiến và yêu nước nồng nàn của đồng bào thiểu số, làm cho họ thêm tin tưởng vào kháng chiến nhất định thắng lợi"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia. H 2001, tr. 242). Công tác chính trị, tư tưởng lúc này là phải chuẩn bị tốt cơ sở quần chúng cách mạng ở đây. Muốn tranh thủ được nhân dân phải gây dựng được cơ sở, muốn tuyên truyền giác ngộ được nhân dân thì phải học tiếng địa phương và phải giữ nghiêm kỷ luật dân vận. Phải hiểu "phong tục tập quán" và "những điều cấm kỵ" của đồng bào thiểu số vùng Tây Bắc, ví như một số bản người Thái ở huyện Than Uyên có tục nếu người lạ đến nhà mà tự động thò tay khoắng vào lòng cái chõ thổi xôi thì dân sẽ đốt nhà, dọn đi nơi khác. Người Mông theo Pháp, nếu bị bắt làm tù binh mà bị trói hai tay quặt ra đằng sau thì họ sẵn sàng cắn lưỡi chết... Chính vì được học tập kỹ lưỡng về phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc nên bộ đội ta ít mắc phải những điều không hợp lòng dân. Cũng trong thời gian này, Trung ương đã tổ chức Khu ủy Tây Bắc để lãnh đạo việc chuẩn bị cơ sở quần chúng và bổ nhiệm đồng chí Bùi Quang Tạo, Ủy viên Liên khu Việt Bắc, nguyên Bí thư Khu 10 làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Khu Tây Bắc, đồng chí Bằng Giang được bổ nhiệm Tư lệnh, đồng chí Vũ Nhất làm Phó Chính ủy, đồng chí Phan Đức Hóa được cử làm Tham mưu trưởng1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Lịch sử Bộ Tham mưu Quân khu 2 (1946-2001). Nxb Quân đội nhân dân. H. 2002, tr. 134). Để đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ, Liên khu ủy Việt Bắc đã mở lớp đào tạo cán bộ cơ sở và tổ chức thâm nhập vào vùng địch. Một số đồng chí ủy viên liên khu đã được cử vào Sơn La và vùng tạm chiếm ở Yên Bái để trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng cơ sở chính trị, tổ chức, trang bị và huấn luyện các lực lượng vũ trang.


Trong quá trình cơ động lực lượng từ hậu phương đến các vị trí tập kết chiến dịch, do làm tốt công tác tư tưởng nên ta luôn giữ được bí mật trên các tuyến đường, cung đường hành quân, giữ nghiêm kỷ luật và bảo đảm an toàn. Bộ đội hành quân vào ban đêm theo các đường mòn, trật tự, chặt chẽ, thống nhất. Các đơn vị luôn chấp hành nghiêm mật danh, bí danh của đơn vị và cấp chỉ huy, ý thức phòng gian bảo mật cả quân và dân được phát huy cao độ ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi, với phương châm "3 không" (không biết, không nghe, không thấy).


Do tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội và nhân dân, tranh thủ được nhân dân nên công tác chuẩn bị chiến trường đạt kết quả tốt, khai thông mở nhiều tuyến đường để cơ động lực lượng, phương tiện chiến đấu, tiếp tế hậu cần bảo đảm cho chiến dịch...


Từ ngày 20 tháng 9, đến đầu tháng 10 năm 1952,chiến dịch bắt đầu triển khai, các đơn vị từ các điểm tạm dừng tiến vào vị trí tập kết, bộ đội tiếp tục chuẩn bị chiến đấu và vượt sông. Mặc dù lực lượng rất lớn, phương tiện vượt sông lại ít và thô sơ, bộ đội công binh thiếu, nhưng do tổ chức tỉ mỉ, chu đáo, chặt chẽ và bộ đội có nhiều biện pháp khắc phục khó khăn nên việc vượt sông bảo đảm an toàn, đúng kế hoạch. Trong 2 đêm đầu, ta đã vận chuyển được gần 3 vạn bộ đội và 2 đêm sau gần 3 vạn dân công cùng hàng chục tấn vũ khí, trang bị, phương tiện, lương thực, thực phẩm cho chiến dịch1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952),H.1992. tr. 28). Bên cạnh việc chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ trong hành, trú quân, ta còn làm tốt công tác chính trị, tư tưởng trong vượt sông, nên bộ đội và dân công đã tích cực, chủ động, tận dụng mọi nguyên liệu tại chỗ như tre, bương, vầu, nứa, chuối... ghép lại làm bè, mảng, dân công khiêng, vác thuyền nan từ Phú Thọ lên làm phương tiện vượt sông. Những thanh niên quen sông nước đã được tổ chức thành từng đội chở thuyền. Nhờ vậy, ta đã giải quyết thành công một khó khăn lớn là đưa được toàn bộ lực lượng chiến dịch (khoảng 60.000 người) qua sông an toàn, đầy đủ, đúng thời gian2 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). Sđd, tr. 69).


Sau cả ba đợt tiến công liên tục, ta đã phá vỡ thế phòng thủ của địch, diệt Phân khu Nghĩa Lộ, chiếm toàn bộ phòng tuyến sông Đà của địch từ Tuần Giáo đến Mộc Châu (Sơn La). Quân địch bị đánh thiệt hại nặng và buộc phải tháo chạy về Nà Sản tổ chức phòng ngự theo hình thái tập đoàn cứ điểm. Ngày 10 tháng 12 năm 1952, nhận thấy các đơn vị chưa đủ khả năng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Nà Sản, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc. Chiến dịch Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch (diệt và bắt gần 10.000 tên), phá hủy và thu được nhiều vũ khí của địch, giải phóng một vùng rộng lớn trên địa bàn chiến lược quan trọng 28.500km2 và 250.000 dân1 (Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975),tập 1, Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 179. (Cũng có tài liệu đưa ra "ta tiêu diệt được 6.029 địch trong đó có 1.200 Âu - Phi, nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan")). Chiến thắng Tây Bắc đã mở ra một thế chiến lược mới rất thuận lợi cho ta. Vùng giải phóng đã nối liền Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào.


Để đạt được những kết quả đó là do có sự lãnh đạo sáng suốt, chặt chẽ, sâu sát, sự quan tâm đầy đủ của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự chỉ đạo đúng đắn, kiên quyết, kịp thời của Tổng Quân ủy, Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã tập trung đi sâu tiến hành nhiều biện pháp tích cực, đồng bộ, chủ động, liên tục, xây dựng cho bộ đội và dân công, ý thức tự giác trách nhiệm và niềm tự hào trong nhiệm vụ. Cán bộ, chiến sĩ luôn được giáo dục, quán triệt đường lối kháng chiến, trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao kỷ luật, tự giác nghiêm minh, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, hết lòng thương yêu đồng chí đồng đội. Ngày 29 tháng 1 năm 1953, Tổng Quân ủy tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và biểu dương: "Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú, lần này không phải là hoàn toàn nhưng hơn mọi lần trước"1 (Hồ Chí Minh, về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1970. tr. 277).


Chiến dịch tiến công giải phóng Tây Bắc thắng lợi là cái mốc lịch sử trên đường tiếp tục phát triển thế chủ động chiến lược để nỗ lực chuẩn bị lực lượng giành thắng lợi trong những trận tiếp theo: là biểu hiện của sự đoàn kết, đồng lòng giữa các dân tộc anh em, bộ đội cũng như các đồng bào dân tộc thiểu số, một lòng theo Đảng, hết lòng hết sức vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Đồng thời, thắng lợi Tây Bắc đã góp phần quan trọng, đập tan âm mưu "Xứ Thái tự trị". "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" mà thực dân Pháp cho là "một thành công điển hình" để chia rẽ chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, chia rẽ người Thái với người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số và âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt".


Chiến thắng Tây Bắc còn có ý nghĩa to lớn đối với cục diện chiến trường Bắc Bộ, bởi địch cho rằng duy trì được ở đây ngoài tầm với của Việt Minh một căn cứ có thể tỏa ra xung quanh2 (Giuyn Roa. Trận Điện Biên Phủ. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. H 1998, tr. 18) vì đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng làm chủ được Tây Bắc và Thượng Lào sẽ tạo nên thế đứng vững chắc ở chiến trường Đông Dương.


Với chiến thắng Tây Bắc, quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu, nhiệm vụ mà Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra; góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược và làm cho nội bộ đối phương càng thêm mâu thuẫn. Qua chiến dịch này, quân đội ta có sự trưởng thành vượt bậc về nhiều mặt, đặc biệt, trong công tác giáo dục chính trị, đã phát huy tốt tinh thần tích cực, chủ động, khắc phục khó khăn gian khổ, kiên cường anh dũng trong chiến đấu và đó là một nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #85 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:09:21 pm »

KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG, TỔ CHỨC VẬN CHUYỂN, BẢO ĐẢM HẬU CẦN - KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Đại úy, ThS CÔNG PHƯƠNG KHƯƠNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với mục đích "Tiêu diệt sinh lực địch - tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963. tập 2. tr. 140), mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện cho Mặt trận Thượng Lào đẩy mạnh hoạt động. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, tại Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "Quyết tâm của chiến dịch là phải đánh cho thắng lợi"2 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1972. tr. 272).


Trung ương nhận định công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Lượng vật chất bảo đảm cho chiến dịch ước tính khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí đạn và dụng cụ, thuốc men cần thiết. Trong khi đó, hậu phương Việt Bắc,Thanh - Nghệ - Tĩnh đều cách xa địa bàn chiến dịch. Khả năng huy động sức người, sức của tại chỗ rất hạn chế. Đây lại là địa bàn có địa hình hiểm trở, rừng núi xen kẽ với cao nguyên và thung lũng. Sông Đà, sông Mã nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết, cùng với sông Hồng và các sông khác chia cắt Tây Bắc thành nhiều khu vực. Vào Tây Bắc chỉ có hai con đường chính: đường số 41 từ Hoà Bình đi Suối Rút, đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Cả hai con đường này đều là đường rừng núi bị hư hỏng nặng. Ngã ba, ngã tư các tuyến đường liên tỉnh, huyện đểu bị địch khống chế và thường xuyên tổ chức tuần tiễu, lùng sục...


Nhận rõ những khó khăn về bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho bộ đội tác chiến, Tổng cục Cung cấp xác định bên cạnh việc tận dụng năng lực tại chỗ phải dựa vào việc huy động, vận chuyển từ Việt Bắc sang và từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên. Ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị "Về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông năm 1952" trong đó nhấn mạnh "Bảo đảm cung cấp kịp thời, tìm đủ mọi cách tăng cường công tác cung cấp, hết sức giúp đỡ động viên ngành cung cấp, làm cho bộ đội luôn luôn được khỏe mạnh để củng cố" sức chiến đấu"1 ("Về công tác chính trị chiến dịch Thu Đông năm 1952" Dẫn theo Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân. H.1998, tr.136).


Theo đề nghị của Tổng Quân ủy, các đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Thanh Bình... được phân công trực tiếp chỉ đạo các địa bàn Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4. Tháng 7 năm 1952, Ban cán sự đường 41 cũng được thành lập chỉ đạo công tác mở đường và chuẩn bị phục vụ chiến dịch.


Theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ, các liên khu khẩn trương sửa chữa đường sá, mở thêm các tuyến đường mới và chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Liên khu Việt Bắc mở đường chạy dọc theo tả ngạn sông Hồng từ Phú Thọ đến Yên Bái và đẩy mạnh tu sửa tuyến đường sắt từ Yên Bái đến Mậu A, bảo đảm cho một camiôngray có thể kéo một toa tàu chạy thường xuyên. Liên khu 3 sửa chữa đường từ Ghềnh, Nho Quan lên Hòa Bình, đường 41 từ Hòa Bình qua Chợ Bờ, Suối Rút (dài 160km). Liên khu 4 sửa chữa đường từ Thanh Hóa lên Ngọc Lạc, Hồi Xuân, Bãi Sang và bắt đầu chuyển gạo từ Tĩnh Gia lên. Trong 3 tháng hè năm 1952, nhân dân Liên khu 3 và Liên khu 4 sửa chữa được 170km đường ô tô, 100km đường cho dân công và huy động được 5.254 tấn gạo.


Bộ Giao thông công chính đặt kế hoạch khẩn trương tu bổ các tuyến đường cho dân công, xe ô tô lên Tây Bắc. Hệ thống kho tàng được thiết lập ở vùng Mậu A, Cổ Phúc, Văn Phúc, Giới Phiên, Thạch Kiệt (tả ngạn sông Thao), vùng Suối Rút (Hoà Bình). Ban quân y chiến dịch cũng được thành lập do bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu làm trưởng ban. Sinh viên ở các trường quân y sắp tốt nghiệp cũng được điều động bổ sung cho các đội điều trị và cơ quan quân y các đơn vị.


Ban chỉ huy vượt sông cũng được thành lập gồm cán bộ tham mưu, công binh, hậu cần, bảo vệ, công đoàn vận tải sông. Thuyền mảng của nhân dân cũng được huy động. Các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ đã huy động 432 chiếc thuyền có trọng tải trên dưới 5 tạ làm công tác vận chuyển. Thuyền được tổ chức thành từng đơn vị dưới sự chỉ huy thống nhất của Công đoàn thuyền và của Ban chỉ huy vượt sông. Các khu vực Mậu A,Cổ Phúc, Âu Lâu mỗi nơi tổ chức thêm nhiều bến vượt, có bến riêng dành cho từng loại đối tượng, phương tiện theo khối lượng vận chuyển. Trong 2 đêm 10 và 11 tháng 10 năm 1952, các đơn vị chiến đấu vượt sông Hồng, bí mật tiến quân vào Tây Bắc. Trong 3 đêm tiếp theo, lực lượng hậu cần chiến dịch, trong đó có 24.840 dân công chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm (gồm cả một số trâu, bò) vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu. Chỉ tính riêng hướng Nghĩa Lộ đã có 27.800 bộ đội và 32.000 dân công mang theo vũ khí, lương thực vượt sông an toàn, đúng thời gian quy định.


Bảo đảm cho phương châm tác chiến là "đánh dài ngày, đánh liên tục, từng bước tiến chắc"1 (Những tài liệu chỉ đạo cac chiến địch, tâp 4, tr. 240), nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, diệt gọn nên khối lượng vật chất hậu cần - kỹ thuật là rất lớn. Sau khi tính toán, cân nhắc, Tổng cục Cung cấp thấy trong quá trình chiến dịch ta có thể tận dụng được nhiều chiến lợi phẩm để bổ sung cho bộ đội nên chủ trương chỉ chuẩn bị 81 tấn ở các kho trung tuyến nhằm hạn chế việc huy động nhiều dân công. Số vũ khí đạn còn lại bố trí hai kho ở Hào Gia và Mậu A phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Ngoài ra, Cục Quân khí còn bố trí một kho nhỏ ở Thạch Kiệt phục vụ cho hướng Gia Phù, đồng thời chuẩn bị sẵn thêm một số dự trữ ở kho Đoan Hùng...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #86 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:11:59 pm »

Để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động và sử dụng dân công. Ban dân công các tỉnh cũng được thành lập. Các địa phương khẩn trương thu thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã và tập trung gạo ở các khu vực dự kiến sẽ tập kết bộ đội và bên vượt sông ở bờ tả ngạn sông Hồng. Việc gom lương, vận chuyển chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, vật lực địa phương do Ban cung cấp tiền phương, Ban cán sự đường 41 của Tổng cục Cung cấp đảm nhiệm. Khả năng huy động nhân vật lực ở hậu phương đã bị hạn chế. Song việc vận chuyển từ hậu phương tới chiến trường càng khó khăn hơn. Tiền phương Tổng cục chủ trương huy động nhân vật lực tại các vùng mới giải phóng trong đó có hai cánh đồng lớn Nghĩa Lộ và Quang Huy. Bộ đội tham gia công tác dân vận cùng cán bộ địa phương, giúp dân gặt vụ mùa. Kết quả đã huy động được ở Nghĩa Lộ, Quang Huy, Mộc Châu, Mai Đà 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt và 15.000 dân công thành 150.000 ngày công1 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân. H. 1994, tr. 80).


Đến tháng 8 năm 1952, số vũ khí đạn chuẩn bị cho chiến dịch đã bảo đảm đủ. Tại kho Mậu A có 28 tấn, kho Yên Bái có 58 tấn, kho Thu Cúc 41 tấn. Số vũ khí đạn dự trữ cũng được chuyển về các kho Đoan Hùng, Sơn Dương. Các đơn vị tham gia chiến dịch trước khi hành quân tới vị trí tập kết được Cục Quân khí cấp phát đủ cơ số vũ khí đạn. Ở hướng phối hợp (Liên khu 3, 4), Ban cán sự đường 41 ở Suối Rút, Chợ Bờ chuẩn bị vũ khí đạn dược, phương tiện sẵn sàng chi viện cho chiến dịch theo hướng Mộc Châu - Sơn La.


Trong chiến dịch này bộ đội tác chiến trên một chiến trường rừng núi, khí hậu xấu nên việc chuẩn bị thuốc sốt rét và thuốc uống phòng bệnh cho bộ đội được quan tâm chú ý. Quân y bố trí các kho thuốc ở các khu vực chính để tiện cấp phát cho các đơn vị và các cơ sơ quân y, điều động 3 đội điều trị bổ sung đầy đủ thuốc men và phương tiện để có thể phục vụ từ 500 đến 800 thương binh. Quân y chiến dịch phải chuẩn bị thuốc chiến thương cho 5.000 thương binh và đầy đủ thuốc phòng bệnh cho bộ đội, phía Liên khu 3, Liên khu 4 cũng phải chuẩn bị cho chiến dịch phát triển sang hướng đường 41 và lên Sơn La.


Đầu tháng 9 năm 1952, Cục Thông tin liên lạc nhận kế hoạch bảo đảm thông tin cho chiến dịch và các đại đoàn (308, 312, 351), Trung đoàn 148 ở hướng chính, bảo đảm cho các đại đoàn 304, 320 ở hướng phối hợp. Giữa tháng 9, lực lượng thông tin lên đường thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến dịch. Tiểu đoàn 303 được bổ sung thêm 1 đại đội điện thoại mang theo 40 máy lẻ, 3 tổng đài, 100km dây bọc. Đại đội 101 vô tuyến điện được trang bị 1 máy MK2, 2 bộ GRC 694, hai bộ V101. Ban Thông tin chiến dịch đã tổ chức 4 mạng liên lạc từ sở chỉ huy xuống các đại đoàn và các mạng liên lạc vượt cấp xuống các trung đoàn. Trung đội chuyển đạt 231 được giao nhiệm vụ tổ chức đường, trạm liên lạc từ tiền tuyến về hậu phương. Các đơn vị tham gia chiến dịch đều được Cục Thông tin liên lạc bổ sung trang bị phục vụ công tác liên lạc thống nhất và đồng bộ. Tận dụng các tuyến dây trần của ngành bưu điện, Ban thông tin chiến dịch đã bảo đảm cho sở chỉ huy tổ chức chỉ huy chặt chẽ, kịp thời trên 3 bến vượt sông Hồng (Mậu A, Áu Lâu, Lan Đình) mỗi bến cách nhau 10km.


Để giữ yếu tố bí mật, bất ngờ, cơ quan bảo đảm hậu cần - kỹ thuật không được chuyển vật phẩm lên trước lót ổ, lập chân hàng, bố trí kho tàng ở khu vực chiến đấu mà phải chuẩn bị sẵn ở tả ngạn sòng Hồng. Khi bộ đội vượt sông tiến vào vùng địch, hậu cần - kỹ thuật mới rải trạm vận chuyển phục vụ cho các đơn vị.


Chuẩn bị cho bộ đội đánh địch trên hướng chủ yếu (Phân khu Nghĩa Lộ), lực lượng hậu cần - kỹ thuật tập trung hơn 2.000 tấn gạo và 38.000 dân công ở Yên Bái, bên bờ tả ngạn sông Hồng phục vụ các đơn vị hành quân đến khu vực tập kết và chuẩn bị rải trạm theo đường tiến quân của bộ đội vào Tây Bắc. Liên tục trong các đêm từ 10 đến đêm 13 tháng 10, hậu cần chiến dịch đã huy động 24.840 dân công chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu.


Đêm ngày 14 tháng 10 năm 1952, các đại đoàn đồng loạt nổ súng mở màn đợt 1 chiến dịch. Sau 5 ngày đêm chiến đấu liên tục, bộ đội ta đã đánh chiếm, bức rút nhiều đồn bốt, giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Ca Vịnh, Sài Lương... Chiến dịch phát triển nhanh, lực lượng phục vụ chiến dịch cũng hết sức cố gắng vận chuyển vũ khí đạn, lương thực, thực phẩm theo sát bộ đội, bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của các đơn vị.


Đợt 1 chiến dịch diễn ra nhiều trận công đồn ác liệt, số thương binh lên tới 1.014 người, cơ quan quân y chiến dịch triển khai ba đội điều trị (1, 5, 2) ở khu vực Nghĩa Lộ, Nậm Mười và Ca Vịnh. Ba Khe, cùng các đội điều trị đại đoàn cứu chữa thương binh. Trong đợt chiến đấu từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 10 ta liên tiếp tiến công tiêu diệt Pú Chạng, Nghĩa Lộ, Cửa Nhi, Bản Mo, số thương binh lên tới 1.014 người. Ban Quân y tiền phương điều động 3 đội điều trị của Cục phục vụ cho các đơn vị ở mũi tiến công chủ yếu.


Nhằm kéo lực lượng chủ lực của ta rút khỏi Tây Bắc, địch vội và huy động 3 binh đoàn cơ động mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ. Trước tình hình đó, Tổng cục Cung cấp đã chỉ thị cho các cơ sởở khu vực bị dịch tiến công phải cấp tốc sơ tán và tổ chức chiến đấu bảo vệ công xưởng. Cùng với cuộc tiến công trên hộ, địch dùng không quân đánh phá ác liệt các tuyến vận chuyển của ta từ Việt Bắc sang. Các trọng điểm như Đèo Giàng, Đèo Khế thường xuyên bị tác từ 6 đến 10 ngày. Các tuyến vận tải từ hậu phương ra tiền tuyến trở thành mặt trận chiến đấu quyết liệt. Bảo đảm giao thông, vận tải chống địch phá hoại trở thành nhiệm vụ chiến đấu của các lực lượng trên tuyến hậu cần - kỹ thuật.


Chuẩn bị cho đợt 2, Tổng cục Cung cấp tổ chức vận chuyển vũ khí đạn, lương thực từ Phú Thọ, Yên Bái sang hữu ngạn sông Hồng. Các đơn vị đều tổ chức bộ phận sửa chữa đường, vận tải gạo, đạn và chuyển thương binh về tuyến sau. Lực lượng trên hai tuyến Khâu Vác, Sài Lương sau khi giải thể được tập trung lên đường 13, tổ chức tuyến vận tải từ Âu Lâu, Ba Khe đến Tông Cao, Gia Phù, đồng thời khẩn trương củng cố tuyến Thu Cúc, Quang Huy, Tông Cao...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #87 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:14:55 pm »

Liên khu Việt Bắc gấp rút huy động thêm 12.000 dân công để bổ sung và thay thế. Liên khu 4 huy động thêm 11.000 dân công của tỉnh Nghệ An. Do các tuyến vận tải đều được mở rộng, các trạm bố trí cung đường hợp lý cùng với việc áp dụng định mức khoán nên năng suất đều vượt xa dự kiến. Mỗi đoàn dân công khoảng 1.000 người, gồm nhiều đội, tổ chức theo địa phương. Hậu cần chiến dịch khoán nhiệm vụ cho từng đoàn, trung bình mỗi chuyến 15 tấn. Do các tuyến vận tải đều được mở rộng, các trạm bố trí cung độ hợp lý, việc bảo đảm đời sống vật chất tinh thần cho dân công được quan tâm, chú ý, cán bộ cung cấp đi sát từng đoàn, kịp thời giải quyết khó khăn vướng mắc, nên dân công rất phấn khởi, năng suất mở đường và vận tại đều tăng hơn đợt 1. Ngoài dân công, trong đợi 2, hậu cần chiến dịch đã sử dụng ô tô vận tải ở một số đoạn. Trên đường 41 đoạn từ Suối Rút qua Mộc Hạ đến Lồm Xồm dài 64km được sửa chữa gấp rút cho 30 xe ô tô hoạt động. Trên đường 13 đoạn từ Yên Bái đến Ba Khe dài 61km cũng được tu bố cho 34 xe ô tô hoạt động.


Sau đợt tác chiến thứ nhất, một số vùng Tây Bắc được giải phóng. Bước vào chuẩn bị đợt 2, việc huy động nhân lực, vật lực tại chỗ được đẩy mạnh. Nhiều đơn vị cử cán bộ, chiến sĩ tham gia thu hoạch lúa với dân, đồng thời vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch. Nhân dân các dân tộc Lai Châu đã hăng hái tham gia phục vụ chiến dịch, đi dân công vận tải giúp đỡ bộ đội đánh giặc và cung cấp cho bộ đội 116 tấn gạo, 9.300kg ngô, 5.984kg thịt lợn, thịt bò, 06 con trâu, bò, lợn, 2.243 dân công đi phục vụ từ 1 đến 15 ngày và 100 con ngựa thồ đi 5 ngày1 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lai Châu. Ba mươi năm phấn đấu và xây dựng của Đảng bộ Lai Châu (1949-1979), Xuất bản năm 1980. tr. 46). Nhân dân Yên Bái cung cấp cho mặt trận 730 tấn gạo, 622 con trâu, 386 con lợn, 72 tấn muối và 16 tấn đậu, lạc, vừng; huy động 5.428 dân công thường trực (chiếm 20% số dân), 1.000 lượt người đi dân công 1 tháng, 2.312 lượt người đi dân công 7 ngày2 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2. Tây Bắc - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp. 1990. tr.181)... Tính chung toàn chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã đóng góp 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, hơn 15.000 dân công. Riêng khu vực Nghĩa Lộ, hậu cần chiến dịch huy động được 160 tấn gạo, 1,6 tấn thịt1 (Tổng cục Hậu cần. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. tập 1 (1944-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 1995. tr. 211. 214).


Trong đợt 2 chiến dịch (bắt đầu từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11), Ban cán sự đường 41 tổ chức vận chuyển gạo, đạn theo sát bộ đội trong tiến công và truy kích địch. Việc vận chuyển được tổ chức theo cung chặng và cuốn chiếu. Phương tiện vận tải có 461 xe đạp thồ, 168 xe trâu bò kéo, 24 thuyền, 30 ô tô đã vận chuyển được 528 tấn gạo (trong đó có 410 tấn từ Suối Rút lên và 70 tấn huy động ở Mộc Châu, 25 tấn từ đường 13 sang), bảo đảm kịp thời cho bộ đội tiến công và một phần dự trữ.


Trên hướng đường 13, lực lượng hậu cần tập trung chuyển gạo, đạn từ Yên Bái sang, bảo đảm cho các đơn vị hành quân vượt sông Đà và trong các trận đánh ở hữu ngạn sông Đà. Đường 13 từ Ba Khe đến Tạ Khoa, Cò Nòi tiếp tục được mở vượt đèo Lũng Lô, đèo Bản Ban, đèo Nhọt, đèo Chẹn dài 130km. Ở bên Tạ Khoa công binh làm cầu phao, ngày tháo, đêm lắp cho bộ đội và dân công qua sông. Ngoài 25 tấn gạo chuyển sang hướng đường 41, lực lượng hậu cần trên tuyến đường 13 đã chuẩn bị được 140 tấn cho các đơn vị tiếp tục ở lại Tây Bắc hoạt động sau chiến dịch và rải 313 tấn gạo dọc đường bộ đội hành quân2 (Tổng cục Hậu cần. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. tập 1 (1944-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 1995. tr. 211. 214).


Trong đợt 2, thương binh ít hơn so với đợt 1, nhưng sang đợt 3 chỉ tính riêng trong 4 trận tấn công ngoại vi Nà Sản, số thương binh đã nên tới 1.200 người. Rút kinh nghiệm của đợt 1, việc cấp cứu thương binh và chuyển thương đã được chú trọng hơn. Tuy nhiên sự liên hệ giữa các tuyến quân y chưa chặt chẽ, nên thương binh phải chuyển đi chuyển lại nhiều lần. Trong khi đó, các lực lượng tham gia chiến dịch phải tập trung chuẩn bị phương án đề phòng địch ở Nà Sản đánh ra. Tổng Quân ủy giao cho Ban cán sự đường 41 chuyển 1.291 thương binh trong các cơ sở điều trị từ Bản Ngà, Bản Hẻm, Chiềng Đông, Ba Lay về Phương Lâm (Hòa Bình). Ban cán sự đường 41 thành lập ban chuyển thương và chủ trương chuyển thương binh nhẹ bằng ô tô, thương binh vừa và nặng mới dùng dân công cáng. 28 xe ô tô, 2.223 dân công và hơn 1.000 nhân viên chuyên môn và phục vụ của các cơ sở quân y được huy động chuyển thương1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, 30 năm phục vụ và xây dựng của ngành quân y Quân đội nhân dân Việt Nam 1945-1975, Cục Quân y. 1976. tr. 172). Do tập trung lực lượng và tổ chức chu đáo nên chỉ sau 22 ngày toàn bộ thương binh đã được chuyển về hậu phương an toàn.


Với phương châm: đánh chỗ yếu trước, chỗ mạnh sau, bao vây toàn diện, công kích có trọng điểm, đánh ngoại vi trước, tranh thủ đột phá đánh vào tung thâm... từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở Nà Sản. Ngày 10 tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch. Đó là "thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động"2 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963. tập 2. tr. 217), mở ra một thế chiến lược mới; "Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải là hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước"3 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1972, tr. 277).


Trong chiến dịch Tây Bắc, lực lượng bảo đảm hậu cần - kỹ thuật đã kịp thời lập phương án tạo chân hàng và xây dựng các kho dọc theo hướng phát triển của chiến dịch, đồng thời mạnh dạn tính toán khối lượng chiến lợi phẩm cung cấp ngay cho bộ đội chiến đấu. Nhờ đó, lương thực, thực phẩm, vũ khí trang bị phục vụ yêu cầu của chiến dịch đã được bảo đảm đầy đủ, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn gần 28.500km2 và 250-000 dân. Ta thu được nhiều vũ khí trang bị trong đó có 3.002 súng trường, 500 tiểu liên, 205 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối, 11 khẩu pháo (có 2 khẩu 105mm), 98 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép, 100 tấn đạn các loại1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân H.2002, tr 299, 300).


Khác với chiến dịch Biên Giới và Hòa Bình công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật chiến dịch Tây Bắc phải phục vụ cho một lực lượng lớn tập trung tổ chức tiến công liên tục, đột phá tiêu diệt từng khu vực phòng ngự gồm nhiều cứ điểm tiểu đoàn, đại đội của địch có công sự vững chắc đồng thời phục vụ lực lượng làm nhiệm vụ ngăn chặn, đón lõng để tiêu diệt quân địch chi viện hoặc rút lui.


Vượt qua mọi khó khăn, với ý chí, lòng quyết tâm và sự sáng tạo, lực lượng bảo đảm hậu cần - kỹ thuật đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến dịch Tây Bắc, quân nhu đã cung cấp cho bộ đội và dân công 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt và 71 tấn thực phẩm khác2 (Cục Quân nhu, Lịch sử quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998, tr. 181). Trong đó nhân dân Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và các vùng mới giải phóng Tây Bắc đã huy động 191.000 lượt người đi dân công, đóng góp hơn 7 triệu ngày công, 1.011 xe đạp thồ, 258 xe trâu, xe bò và 556 thuyền vận tải trên sông Hồng, sông Đà, cung cấp cho chiến dịch 9.360 tấn gạo, 359 tấn muối và thực phẩm, 33 tấn đạn, 2.535 thương binh được cứu chữa tại mặt trận và đưa về các bệnh viện hậu phương an toàn. Trong chiến dịch, tổng số thuốc quân y đã phát gồm 27kg Sulfamid, 607 lọ Pênixilin, 566gam Novocain, 8.858ml Cloruafooc, 253kg bột bó, 101kg bông hút, 759m gạc hút, 16.451 cuộn băng các loại...1 (Bộ Quốc phòng. Lịch sử quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Tổng cục Hậu cần, 1991, tr. 359).


Chiến dịch Tây Bắc cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm về tổ chức và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật. Đó là sự phân công phối hợp giữa công tác hậu cần ở hậu phương với việc huy động nhân lực, vật lực phục vụ tiền tuyến và bảo đảm các nhu cầu của chiến dịch ở phía trước. Chiến dịch lớn, dài ngày nên hậu cần chiến dịch đặc biệt là hậu cần tiền phương không chí quan tâm đến việc huy động lực lượng, vật chất ở phía sau mà đòi hỏi phải hướng ra phía trước, bám sát chiến trường, nắm chắc tình hình hành quân và chiến đấu của bộ đội.


Việc tổ chức các tuyến vận tải và thực hành công tác vận tải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chiến dịch xa hậu phương. Trong chiến dịch Tây Bắc, hậu cần đã có những sáng tạo về tổ chức vận tải như rải trạm vận tải theo sát bộ đội hành quân vào chiến đấu và truy kích địch, kết hợp các phương thức vận tải bằng sức người, bằng các phương tiện thô sơ và cơ giới. Các hình thức "vận tải đèn lồng" "vận tải cuốn chiếu", "vận tải tiếp sức", vật chất được bố trí theo "hình thức búp măng" (ngoài nhiều, trong ít) cùng được áp dụng và phát huy hiệu quả. Lực lượng vận tải có thêm nhiều kinh nghiệm về tổ chức chỉ huy vượt sông, vận tải phục vụ bộ đội truy kích, chuyển thương binh bảng xe cơ giới về hậu phương sau chiến dịch. Đây cũng là lần đầu tiên hậu cần chiến dịch "vận chuyển thương binh bằng cơ giới"1 (Tổng cục Hâu cần, Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1992. tr. 60) và cũng là "lần đầu tiên sử dụng xe đạp làm phương tiện vận chuyển"2 (Cục Quân nhu. Lịch sử quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998, tr. 178) phục vụ chiến dịch.


Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Nxb Sự thật. tr. 311), bằng những phương án táo bạo đồng thời rút kinh nghiệm sau từng đợt, lực lượng trên tuyến hậu cần - kỹ thuật đã khắc phục mọi khó khăn để huy động, mở đường và vận tải tiếp tế lương thực, đạn dược cho bộ đội, phục vụ bộ đội tiến công, truy kích địch... đóng góp vào thắng lợi chung của toàn chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #88 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:18:35 pm »

NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC TỈNH SƠN LA
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

CẦM NGỌC MINH
Phó Bí thư Tính ủy,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La


Tháng 4 năm 1952, sau khi phân tích tình hình, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định tiến hành công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch và hạ quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc. Ngày 12 tháng 1 năm 1952, liên tỉnh Sơn - Lai được tách thành hai tỉnh Sơn La, Lai Châu và nhập vào Khu Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Khu ủy Tây Bắc chủ trương động viên toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, huy động mọi khả năng nhân, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ chiến dịch. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu được giao cho các tỉnh theo 2 hướng chiến địch là Nghĩa Lộ và đường số 41 Sơn La. Tỉnh Sơn La được giao nhiệm vụ trực tiếp phục vụ hướng đường 411 (Tuyến đường khai thông từ Suối Rút (Hòa Bình) nối với Mộc Châu (Sơn La) đi lên Điện Biên)


Việc chuẩn bị cho chiến dịch chủ yếu dựa vào nguồn nhân, vật lực địa phương. Nhân dân các dân tộc Sơn La đã tích cực thực hiện lệnh huy động dân công của Chính phủ,dùng sức mang vác của con người, sử dụng tất cả phương tiện sẵn có như xe bò, xe trâu, xe đạp thồ, xe goòng... phục vụ công tác vận chuyển chuẩn bị chiến dịch.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.

Trước khi bước vào chiến dịch, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: ở Tây Bắc, việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng, vì âm mưu phá khối đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc. Thực dân Pháp đã thất bại trong việc lập xứ Tày, xứ Nùng, xứ Mường, xứ Thái tự trị ở Cao - Bắc - Lạng, Lào Cai, Hòa Bình, nhưng ở Tây Bắc thế lực của địch còn mạnh, còn khống chế được phần lớn các dân tộc. Vì vậy, ta phải tranh thủ được nhân dân vùng Tây Bắc để đánh bại âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp. Tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, tranh thủ dân là 3 nhiệm vụ quan trọng, liên quan mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ có vị trí đặc biệt hơn cả là tiêu diệt sinh lực địch.


Vài ngày trước khi chiến dịch mở màn, ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch, trực tiếp giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch... Người căn dặn: Muốn giành thắng lợi phải có quyết tâm cao; hậu cần chiến dịch là vấn đề quan trọng và khó khăn; lương thực, vũ khí là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, sử dụng hợp lý... Quân và dân các dân tộc Sơn La khắc ghi lời dạy của Người, nêu cao tinh thần chiến đấu, sẵn sàng vượt mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, quyết tâm cùng cả nước giành thắng lợi trong chiến dịch.


Thực hiện nhiệm vụ được giao, Đảng bộ tỉnh Sơn La xác định trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh là phải nắm rõ tình hình, sẵn sàng tham gia phục vụ chiến dịch. Các đồng chí Tỉnh ủy viên được phân công trực tiếp về các huyện chỉ đạo cuộc chiến đấu của quân, dân trong tỉnh. Tại các huyện Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, các ban cán sự và các huyện đội được thành lập, cán bộ phụ trách dân quân được tăng cường. Quân và dân Sơn La ra sức tập trung chuẩn bị lực lượng để phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực, đảm bảo giành thắng lợi như mục tiêu, kế hoạch của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh và làm tròn nhiệm vụ trên hướng chiến dịch mà Khu ủy Tây Bắc giao cho.


Chiến dịch Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 năm 1952 và kết thúc thắng lợi vào ngày 10 tháng 12 năm 1952. Đợt 1 của chiến dịch diễn ra từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952. Ở hướng thứ yếu, quân, dân trong tỉnh tham gia chiến đấu nhiều trận phối hợp với bộ đội chủ lực. Quân dân Tiểu khu Phù Yên, Mường La... anh dũng chiến đấu, phối hợpvới bộ đội chủ lực tiêu diệt sinh lực địch. Đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi, ta đánh tan lực lượng địch đóng ở Phân khu Nghĩa Lộ - Phù Yên, giải phóng trên 10.000km2 từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai. Một bộ phận đất đai Sơn La thuộc vùng tả ngạn sông Đà được giải phóng gồm Phù Yên, Mường La, Quỳnh Nhai, đồng bào thoát khói ách kìm kẹp của thực dân.


Bị thiệt hại nặng nể, Bộ chỉ huy quân đội Pháp quyết định rút sang vùng hữu ngạn sông Đà, tăng cường lực lượng phòng thủ sông Đà, xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm mạnh để giữ Tây Bắc. Địch chia Tây Bắc thành 2 một trận: Sơn La và Lai Châu. Mặt trận Sơn La là hướng chính.



Trong thời gian trước khi quân, dân ta bước vào đợt 2 của chiến dịch, quân Pháp mở cuộc hành quân Loren đánh phá Phú Thọ, hậu phương chiến dịch nhằm kéo quân chủ lực của ta từ Tây Bắc về, phá kế hoạch tiến công Tây Bắc của ta. Tuy nhiên trong cuộc hành quân này, địch tiếp tục chịu nhiều thiệt hại về quân số và vũ khí, không đạt được mục tiêu đặt ra, phải rút quân về Mặt trận Tây Bắc và củng cố đồng bằng Bắc Bộ. Trong tình hình đó, Bộ Tổng tư lệnh quyết tâm tiếp tục mở đợt tiến công thứ 2 của chiến dịch giải phóng Tây Bắc, đánh mạnh vào các vị trí địch ở Mộc Châu và hữu ngạn sông Đà. Lực lượng chủ lực của ta tập trung cho hướng Sơn La gồm 6 trung đoàn của các đại đoàn 308, 312, 316. Nhân dân các địa phương Sơn La tích cực tham gia công tác hậu cần, vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược vào mặt trận.


Mở đầu đợt 2, ngay trong đêm 7 tháng 11, bộ đội Trung đoàn 148 vượt sông Đà, tiêu diệt vị trí địch ở Bản Hoa, sáng 18 tháng 11, tập kích địch ở Ba Lay, quân địch thiệt hại gần một tiểu đoàn. Kết thúc đợt 2 chiến dịch, quân dân ta giải phóng một vùng rộng lớn trên 17.700km2. Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) và một phần Lai Châu được giải phóng.


Trước những thất bại nặng nề, để cứu vãn tình thế, quân Pháp xây dựng Nà Sản thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất Tây Bắc - "một con đê ngăn sóng" với hệ thống phòng thủ liên hoàn 17 cứ điểm, có sân bay, trận địa pháo...

Đêm 30 tháng 11 năm 1952, mở đầu đợt 3 chiến dịch ta đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Sau nhiều trận chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta thương vong nhiều nhưng vẫn không giải quyết được mục tiêu. Nhận thấy ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm phòng thủ liên hoàn như Nà Sản, chưa đủ mạnh để giành thắng lợi hoàn toàn, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định ngừng tiến công vào ngày 10 tháng 12 năm 1952, kết thúc chiến dịch. Đợt tiến công cứ điểm Nà Sản (từ ngày 30-11 đến ngày 10-12-1952) tuy chưa giành được thắng lợi nhưng chính là bước tập dượt quan trọng, tạo tiền đề kinh nghiệm cho một chiến thắng chấn động địa cầu chiến thắng lịch sử Điện Biện Phủ 1954.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #89 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:20:12 pm »

Kết thúc chiến dịch Tây Bắc, quân dân ta đã tiêu diệt 6.000 tên địch, phá tan âm mưu xây dựng "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp. Trong quá trình chuẩn bị toàn diện cho chiến dịch, Đảng bộ tỉnh Sơn La vừa chỉ đạo xây dựng lực lượng, tích lũy nguồn nhân lực, vật lực, vừa làm tốt công tác hậu cần tại chỗ. Đồng thời, các lực lượng vũ trang của tỉnh thường xuyên chiến đấu với các ổ nhóm gián điệp, biệt kích và bọn phản động địa phương, bảo vệ an toàn các tuyến cầu đường vận chuyển, các trạm tổng kho hậu cần và giữ gìn trật tự trị an địa bàn. Tính chung trong chiến dịch, quân dân Sơn La đã đóng góp 1.421.220 ngày công phục vụ hàng tháng trời vận chuyển cho chiến dịch, cung cấp hơn 693 tấn gạo, 8 tấn ngô, hơn 48 tấn thịt, v.v...


Với những đóng góp trong chiến dịch Tây Bắc, nhân dân các dân tộc Sơn La đã khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của đồng bào khi được Đảng tin tưởng, giao phó. Tinh thần yêu nước của nhân dân đã được phát huy cao độ, cùng bộ đội chủ lực đánh bại mọi lực lượng chiếm đóng của địch, làm nên những chiến thắng vẻ vang trong kháng chiến.


Đối với Sơn La, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là:

1.Xác định đúng và quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực tự cường, dựa vào sức mình là chính trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnh.

2.Kết hợp chặt chẽ và đúng đắn nhiệm vụ chống thực dân với nhiệm vụ chống phong kiến, trong đó chủ yếu là nhiệm vụ chống thực dân.

3.Vừa chỉ đạo kháng chiến vừa chỉ đạo xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.

4.Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Vận dụng những bài học kinh nghiệm của chiến dịch Tây Bắc, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, sự giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương, các bộ, ngành, đoàn thể và các tỉnh bạn, tỉnh Sơn La đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường tiềm lực an ninh - quốc phòng. Kinh tế phát triển với tốc độ khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số sản phẩm chủ yếu từng bước được nâng lên; thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán; các ngành, các lĩnh vực, các vùng, các thành phần kinh tế đều có bước phát triển tiến bộ. Lĩnh vực an sinh xã hội ngày được quan tâm; công tác di dân, tái định cư dự án Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Sơn La được triển khai đảm bảo an toàn, đúng tiến độ; chủ động đối phó với những tác động bất lợi của tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới, cũng như sự thay đổi bất thường của thời tiết, sự tàn phá của thiên tai; ngăn chặn kịp thời các loại dịch bệnh nguy hiểm. Kết cấu hạ tầng phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được hoàn thiện, bộ mặt của tỉnh ngày một đổi mới, đặc biệt tính đã thoát khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó khăn. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; văn hóa, giáo dục, y tế đều có bước phát triển tiến bộ. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân được củng cố; giữ vững ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xây dựng được đảm bảo; quan hệ đối ngoại được mở rộng và phát triển.


Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc (1952-2012) diễn ra trong bối cảnh đất nước ta nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng đã giành được nhiều thành tựu to lớn. Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc, chiến sĩ các lực lượng vũ trang toàn tỉnh đang tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII. Đây là dịp chúng ta ôn lại chiến công vẻ vang của dân tộc, tôn vinh các anh hùng, liệt sĩ, những người con của đất nước đã cống hiến máu xương, tuổi xuân, công sức, trí tuệ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; khơi dậy niềm tự hào, tinh thần đại đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Mặc dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song với quyết tâm cao, phát huy truyền thống cách mạng và sức mạnh đoàn kết các dân tộc cùng với việc vận dụng những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, trong đó có bài học kinh nghiệm từ thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc năm 1952, chắc chắn rằng Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La sẽ vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, sớm đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM