Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:14:46 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33220 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #90 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:23:22 pm »

VAI TRÒ CỦA QUÂN, DÂN SƠN LA TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

TS THÀO XUÂN SÙNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương,
nguyên Bí thư Tỉnh ủy Sơn La


Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, địa bàn Tây Bắc giữ vị trí rất quan trọng. Tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Bắc. Trong thư gửi các chiến sĩ bộ đội Tây tiến ngày 1 tháng 2 năm 1947, đồng chí Võ Nguyên Giáp - Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam cũng đã xác định vị trí chiến lược quan trọng của "miền Việt Tây Tổ quốc".


Trong chiến dịch Tây Bắc, địa bàn Sơn La giữ vị trí trung tâm và là chiến trường chính, nên luôn được Trung ương Đảng và Khu ủy Tây Bắc (Tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách một số tỉnh Liên khu Việt Bắc lập ra Khu Tây Bắc (Khu 20), gồm các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, để tổ chức chỉ đạo được kịp thời thống nhất, đảm bảo sự thành công của chiến dịch. Khu ủy Tây Bắc đã bổ sung hai Đồng chí Khu ủy viên cho Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La, trong đó có đồng chí Trần Quyết làm Bí thư Tỉnh ủy. Khu ủy quán triệt: "Phải động viên toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, huy động mọi khả năng nhân, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ kháng chiến") chỉ đạo sát sao và tăng cường bổ sung cán bộ cho Đảng bộ tỉnh để lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ giao phó trên địa bàn trọng yếu này.


Nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến trường chính, chiến trường mang tính chiến lược, trọng yếu, tỉnh Sơn La đã khẩn trương và chuẩn bị tích cực về mọi mặt, phục vụ, phối hợp chiến đấu cùng bộ đội chủ lực nhằm đảm bảo những điều kiện cho chiến dịch Tây Bắc thắng lợi. Đây là một trong những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định, góp phần to lớn làm nên thắng lợi của chiến dịch.


Sử sách của Đảng bộ địa phương đã ghi lại khá sinh động vai trò của quân và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đối với chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Tuy nhiên, sau 60 năm nhìn lại chặng đường lịch sử đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất vẻ vang ấy, chúng tôi muốn tiếp tục khẳng định rõ nét và nhận thức sâu sắc hơn vai trò, vị trí của Sơn La với chiến dịch Tây Bắc năm 1952 trong buổi hội thảo khoa học hôm nay những nội dung chủ yếu sau:


1.Quá trình phát triển lực lượng kháng chiến ở Sơn La trước chiến dịch Tây Bắc.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh về việc xây dựng lực lượng cách mạng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, ngay từ những ngày đầu kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La, công tác xây dựng lực lượng kháng chiến đã từng bước phát triển, phát huy tốt vai trò ờ địa phương. Ngay sau khi khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng tháng Tám năm 1945, các đội vũ trang tập trung địa phương đã ra đời, tiêu biểu là Trung đoàn Giải phóng quân Sơn La được thành lập vào ngày 22 tháng 12 năm 1948, mang phiên hiệu Trung đoàn 148, do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Trung đoàn trưởng. Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng, SơnLa đã được Bộ Quốc phòng tăng cường một số đại đội bộ đội vừa làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị, vừa chiến đấu, ngăn chặn bước tiến của quân thù. Cùng với các đơn vị bộ đội tăng cường lên, Tỉnh ủy Sơn La tập trung chỉ đạo với quyết tâm bám đất, bám dân, biến hậu địch thành hậu phương cách mạng, vì vậy các đội xung phong vũ trung tuyên truyền của tỉnh được thành lập, sát cánh các đội xung phong vũ trang của Khu ủy X và XIV, làm nhiệm vụ "nhảy cóc" vào vùng hậu địch xây dựng cơ sở chính trị, phát triển lực lượng du kích. Từ cuối năm 1945 đến năm 1950, các huyện Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Mường La, Mai Sơn, Thuận Châu của tỉnh Sơn La đã xây dựng được các cơ sở chính trị vững chắc, các đội du kích, khu du kích nổi tiếng như Y Lương, Mường Mần, Hát Lót, Mường Sại (Mai Sơn), Mường Bú, Mường Chùm, Mường Bằng (Mường La), Long Hẹ, Mường Bám (Thuận Châu), Mường Do, Mường Bang, Mường Lang, Mường Cơi (Phù Yên), Mường Lựm (Yên Châu), Bản Mòn, A Má, Bó Sập, Chiềng Khừa, Tú Nang (Mộc Châu). Có thể khẳng định, cục diện chiến trường ở Sơn La đã thay đổi có lợi cho lực lượng cách mạng kháng chiến.


Trước yêu cầu thực tiễn phong trào và diễn biến tình hình ở địa phương, ngày 11 tháng 5 năm 1950, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng đã ra nghị quyết và xác định rõ: "Phải khẩn trương xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh, củng cố và phát triển dân quân du kích rộng rãi, tăng cường địch vận, thường xuyên chuẩn bị chiến trường". Về nhiệm vụ công tác quân sự, Hội nghị chỉ rõ: "Bộ đội chủ lực rút về tập trung, giao nhiệm vụ giữ đất cho bộ đội địa phương và dân quân du kích. Phải xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh củng cố và phát triển dân quân du kích rộng rãi để giữ vững và phát triển cơ sở". Thực hiện chủ trương trên, lực lượng bộ đội địa phương được củng cố và phát triển mạnh. Bên cạnh đó, các lực lượng chính trị cũng ngày càng phát triển. Năm 1950, tổng số đảng viên so với năm 1949 tăng 71%, các cơ sở đảng phát triển nhanh, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo ở địa phương.


Đến năm 1952, sau 7 năm bền bỉ đấu tranh gian khổ, địa bàn Sơn La từ chỗ "mất đất" đã vươn lên xây dựng được các cơ sở chính trị ban đầu và không ngừng mở rộng; các lực lượng vũ trang phát triển vững mạnh. Có thể khẳng định, trước khi diễn ra chiến dịch Tây Bắc năm 1952, lực lượng kháng chiến, bộ đội địa phương, dân quân du kích, lực lượng quần chúng cách mạng ở Sơn La đã phát triển mạnh về số lượng cũng như về tổ chức và cả trình độ kỹ chiến thuật, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến dịch thắng lợi.


2.Quân và nhân dân Sơn La phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu, phục vụ chiến đấu, kết thúc thắng lợi chiến dịch.

Trên cơ sơ nhận định đúng tình hình địch, khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực trên chiến trường rừng núi, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chuyển hướng tấn công chiến lược từ vùng trung du sang hướng chính là Tây Bắc. Tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc.


Nhận rõ vị trí quan trọng của chiến dịch đối với Sơn La, để kịp thời chỉ đạo quân và dân Sơn La chuẩn bị tích cực về mọi mặt và thực hiện tốt sự phối hợp hành động giữa địa phương với lực lượng bộ đội chủ lực trong chiến dịch giải phóng Tây Bắc, tháng 9 năm 1952, Ban chấp hành Tỉnh ủy Sơn La họp Hội nghị mở rộng và ra Nghị quyết "Nhận rõ tình hình, tích cực làm tròn nhiệm vụ". Hội nghị nhận định: bộ đội chủ lực lên hoạt động tác chiến trên địa bàn tỉnh, tiêu diệt sinh lực địch, sẽ giúp địa phương trong công tác tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, giải phóng đại bộ phận đất đai Sơn La, do đó tỉnh phải gấp rút chuẩn bị lực lượng mọi mặt để tiếp quản vùng giải phóng sau Chiến tranh thắng lợi, ổn định đời sống đồng bào các dân tộc, xây dựng cuộc sống mới.


Mọi mặt công tác diễn ra rất khẩn trương, đặc biệt là công tác chuẩn bị lực lượng phối hợp cùng các đơn vị chủ lực để giải phóng tỉnh Sơn La. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La phân công các đồng chí Tỉnh ủy viên trực tiếp chỉ đạo từng huyện, đồng thời tiếp tục thành lập ban cán sự và huyện đội ở các huyện Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, tăng cường cán bộ phụ trách công tác dân quân cho ba huyện mới thành lập ban cán sự. Đồng thời, Tỉnh ủy quyết định thành lập "Ban cung cấp tiền phương của tỉnh", do một đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng ban, nhằm phục vụ chiến dịch được kịp thời, hiệu quả nhất.


Về quân sự, các đơn vị bộ đội địa phương được bố trí ở các địa bàn theo kế hoạch, sẵn sàng phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đại đội 428, bộ đội địa phương của tỉnh tiến sâu vào khu Tranh Đấu - Mai Sơn, tại đây đơn vị tổ chức tuyên truyền vũ trang, phục hồi cơ sở, làm hậu thuẫn đắc lực cho dân quân du kích các xã, bản, củng cố khu du kích. Bộ đội địa phương huyện Mộc Châu, Yên Châu hoạt động mạnh trên đường số 41 từ Hát Lót, Yên Châu đến Mộc Lỵ. Đại đội 310 bộ đội địa phương của tỉnh trực tiếp hoạt động bảo vệ khu căn cứ Mộc Hạ, bố trí các điểm phục kích đề phòng địch càn quét, tấn công vào căn cứ trung tâm đầu não của tỉnh. Các trung đội bộ đội huyện Phù Yên, Mộc Châu, Mai Sơn tạo mọi điều kiện giúp đỡ và phối hợp với đại đội quân báo của Bộ Tổng tham mưu nắm tình hình, luồn sâu vào khu vực đồn bốt của địch điều tra trinh sát, vẽ sơ đồ, phục vụ công tác chuẩn bị chiến dịch giải phóng quê hương - một trong những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi trong chiến dịch.


Về chính trị, mặc dù địch ra sức càn quét, khủng bố, bắt nhân dân về tập trung quanh đồn để tạo vành đai nhằm khống chế hoả lực tiến công của ta, dùng nhiều chiêu bài để lôi kéo, lừa mỵ nhân dân, tung nhiều gián điệp vào phá cơ sở... nhưng tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều biện pháp thiết thực, bí mật đưa cán bộ, đáng viên trung kiên vào hoạt động, phát triển nhân tố mới của ta trong hàng ngũ binh lính địch. Các đội vũ trang tuyên truyền đẩy mạnh hoạt động trong vùng hậu địch, vận động, hướng dẫn nhân dân đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của địch, ủng hộ kháng chiến. Ở các vùng tự do, cùng với tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, nhân dân được phổ biến chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, tích cực tăng gia sản xuất để có lương thực, thực phẩm ủng hộ kháng chiến. Với những định hướng đúng đắn đó, đồng bào các dân tộc Sơn La đã phát huy tốt vai trò của mình, góp phần ủng hộ tích cực về lương thực, thực phẩm, bảo vệ, giữ bí mật, vận lương, tải đạn, dẫn đường, kéo pháo phục vụ kháng chiến, phục vụ chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #91 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2025, 09:24:49 pm »

Trước chiến dịch Tây Bắc bắt đầu, Đại đội 85 - Đoàn trinh sát 426 (mật hiệu là Tinh Cầu NS) thuộc Bộ Tổngtham mưu gồm 90 cán bộ, chiến sĩ nhận lệnh hành quân (tháng 8-1952) từ Đại Từ (Thái Nguyên) tiến sâu vào địa bàn Tây Bắc. Điểm hoạt động chính của Đoàn trinh sát 426 là "bám chắc trục đường 41 từ Cò Nòi đến tỉnh lỵ Sơn La"1 (Tinh Cầu trinh sát Nà Sản, tài liệu do các cựu chiến binh Đoàn trinh sát 426 biên soạn). Đầu tháng 9 năm 1952, Đại đội 85 - Đoàn trinh sát 426 bí mật hành quân vượt qua các đồn địch ở các vùng Quang Huy, Hồng Ngài (lúc đó thuộc Phù Yên), vượt sông Đà, qua đồn Tạ Khoa, Bản Chẹn, Pơm Bau (Yên Châu) đến điểm tập kết Cò Nòi, huyện Mai Sơn an toàn.


Đi tới đâu, Đại đội trinh sát 85 đều được nhân dân địa phương bảo vệ, giữ bí mật, tiếp tế lương thực, thực phẩm.

Đặc biệt, hơn 2 tháng hoạt động trên địa bàn Cò Nòi, Nà Sản - địa bàn trung tâm, nơi sở chỉ huy chiếm đóng Tây Bắc của giặc Pháp, trong khi đại bộ phận nhân dân bị địch tập trung về quanh đồn để khống chế, nhưng Đại đội trinh sát 85 vẫn được nhân dân cung cấp lương thực, thực phẩm, bảo vệ, giữ bí mật tuyệt đối an toàn cho đến ngày kết thúc chiến dịch.


Qua 2 đợt tấn công từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1952, các đơn vị thuộc các đại đoàn 316, 312,308 có sự phối hợp của bộ đội địa phương, dân quân du kích đã chiến đấu anh dũng, tiêu diệt các đồn địch, giải phóng hoàn toàn Phù Yên, Mường La, Quỳnh Nhai, Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu.


Địch ở các đồn lẻ còn lại và tàn quân của chúng rút chạy, co cụm về Nà Sản cố thủ. Đêm 30 tháng 11 năm 1952, đợt 3 của chiến dịch Tây Bắc tiếp tục tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Bộ chỉ huy chiến dịch xét thấy ta chưa đủ điều kiện đánh tập đoàn cứ điểm nên ngày 10 tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy chủ động kết thúc chiến dịch. Tỉnh Sơn La hoàn toàn giải phóng (trừ Nà Sản).


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, quân và dân Sơn La đã phối hợp cùng quân, dân Tây Bắc tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; giải phóng một vùng rộng lớn, góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, khoét sâu thêm mâu thuẫn và chỗ yếu của kẻ địch; phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào.


Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự trưởng thành về nhiều mặt của các lực lượng vũ trang nói chung, Sơn La nói riêng trong việc chấp hành mệnh lệnh, khả năng phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích. Sau chiến dịch, bộ đội địa phương Sơn La có 3 đại đội được Bộ chỉ huy chiến dịch biểu dương, khen thưởng vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu.


Đây cũng là thắng lợi của tinh thần giác ngộ cách mạng của nhân dân, hết lòng hết sức vì tiền tuyến. Nhân dân Sơn La dù bị kẻ địch khủng bố, càn quét, dồn về tập trung quanh đồn, thường xuyên bị vơ vét, cướp phá, nhưng vẫn tự nguyện gom góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công vừa phục vụ tiền tuyến vừa đánh giặc bảo vệ quê hương. Với khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", nhân dân Sơn La đã đóng góp 1.421.220 ngày công, có đợt tới 4.000 dân công phục vụ liên tục hàng tháng, tỉnh đã vận động nhân dân cung cấp được 693.434kg gạo, 8.000kg ngô, 48.321kg thịt các loại; vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên các kho tiền phương. Quân và dân Sơn La đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, phối hợp với quân dân cà nước đưa chiến dịch Tây Bắc 1952 lịch sử tới thắng lợi, góp phần to lớn giải phóng quê hương.


Thắng lợi to lớn của quân và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La trong chiến dịch Tây Bắc đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng về nhiều mặt, nhất là về vai trò hạt nhân lãnh đạo của mỗi đảng viên, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh. Từ thực tiễn chiến dịch, có thể khẳng định một số điểm chính như:

Một là, mặc dù số lượng đảng viên ít, địa bàn rộng, giao thông đi lại, điều kiện sản xuất khó khăn: âm mưu và thủ đoạn khủng bố, chia rẽ, lôi kéo đồng bào của kẻ địch thâm độc... nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các đồng chí đảng viên trong toàn Đảng bộ đã phát huy tốt vai trò trong việc tập hợp, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc thực hiện mục tiêu cách mạng. Vì vậy trong chiến dịch Tây Bắc, Sơn La đã huy động hiệu quả, đạt mức cao sự đóng góp sức người, sức của phục vụ kháng chiến, giải phóng quê hương.


Hai là, nắm vững chủ trương của Đảng, quy định trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, xây dựng kế hoạch hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng.

Công tác chuẩn bị để phối hợp phục vụ chiến dịch Tây Bắc có nhiều nội dung liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, các địa phương trong tỉnh. Thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Bắc, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phân tích rõ điều kiện, tình hình thuận lợi, khó khăn nhất là trong việc huy động thu gom lương thực, thực phẩm góp phần chuẩn bị đảm bảo hậu cần, cũng như trong việc phối hợp chiến đấu, thu dọn chiến trường, tiếp quản vùng giải phóng...


Ba là, xây dựng tinh thần chủ động, thường xuyên giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đối với quân và nhân dân.

Việc thống nhất tư tưởng, quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Nắm vững yêu cầu, nhiệm vụ được giao, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên, nhân dân về tình hình, nhiệm vụ, mục đích của chiến dịch được đặc biệt chú trọng, được tiến hành bằng nhiều biện pháp tích cực, liên tục từ trước, trong quá trình phục vụ chiến dịch, làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nâng cao ý thức tự giác, tự hào trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là mốc son chói lọi, là niềm tự hào về truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam nói chung, của nhân dân các dân tộc Sơn La nói riêng. Phát huy thành quả của chiến dịch Tây Bắc, trong những năm qua Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách vươn lên thoát đói, giảm nghèo, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh và cùng nhân dân cả nước phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #92 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:15:51 pm »

TỈNH ỦY SƠN LA LÀM TỐT CÔNG TÁC DÂN VẬN
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

HOÀNG VĂN CHẤT
Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy,
Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La


Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp xâm lược, thực hiện âm mưu thâm độc "chia để trị", thực dân Pháp cùng các thế lực phản động đã ráo riết thiết lập các xứ tự trị giả hiệu ở vùng Tây Bắc nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, đồng thời duy trì lâu dài sự bóc lột, thống trị của chúng. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, phong trào cách mạng Khu Tây Bắc nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong những năm tháng lịch sử oanh liệt ấy, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, cách mạng và đoàn kết, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng phong trào quần chúng, thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động, cảm hóa, giác ngộ, dân vận, binh vận... Từ đó, đã thành lập được các tổ chức quần chúng cứu quốc, các đoàn thể cách mạng, xây dựng được các phong trào cách mạng rộng khắp, tạo nên sức mạnh to lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tinh và Khu ủy Tây Bắc. Trong chiến dịch Tây Bắc 1952, quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng về việc mở hướng tiến công chiến lược lên Tây Bắc, Tỉnh ủy Sơn La đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành trong tỉnh thực hiện tốt công tác dân vận, góp phần làm nên chiến thắng của chiến dịch.


Tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị hạ quyết tâm phải giải phóng Tây Bắc và lãnh đạo xúc tiến việc chuẩn bị cho chiến dịch, trước hết là chuẩn bị đường sá, lương thực, thực phẩm. Để tập trung việc lãnh đạo kháng chiến sát hợp với tình hình khu vực, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết về thành lập Khu Tây Bắc, gồm 4 tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La. Từ đây, Đảng bộ tỉnh Sơn La thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy Tây Bắc. Điều đó tạo thuận lợi to lớn cho việc tập trung lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ phục vụ công cuộc kháng chiến nói chung, chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc nói riêng.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chính thức quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với mục tiêu tiêu hao sinh lực địch, giải phóng đồng bào các dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng một bộ phận đất đai vùng Tây Bắc. Nhiệm vụ quan trọng lúc này được Ban Thường vụ Khu ủy Tây Bắc xác định là huy động mọi khả năng nhân lực, vật lực để phục vụ chiến dịch Tây Bắc, phá tan "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" giả hiệu của địch, tạo đà tiến lên giải phóng hoàn toàn Tây Bắc.


Nhận thức được mục đích, tầm quan trọng của chiến dịch Tây Bắc, Tỉnh ủy Sơn La đã triệu tập Hội nghị Ban chấp hành mở rộng, đề ra Nghị quyết: "Nhận rõ tình hình, tích cực làm tròn nhiệm vụ" và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng huyện, từng đồng chí tỉnh ủy viên trực tiếp phụ trách chỉ đạo từng địa bàn trong tỉnh. Xác định rõ tỉnh Sơn La là một tỉnh giữ vị trí trọng yếu, là chiến trường chính trong chiến dịch, bên cạnh việc quan tâm củng cố tổ chức và sức mạnh đoàn kết, củng cố căn cứ và cơ sở kháng chiến, đẩy mạnh công tác hậu địch, xây dựng bộ đội địa phương để phối hợp với lực lượng bộ đội chủ lực cùng chiến đấu, Đảng bộ tỉnh Sơn La đặc biệt quan tâm đến phát triển công tác mặt trận và dân vận, địch vận để mở rộng mặt trận đấu tranh, chuẩn bị cho chiến dịch, thực hiện tốt nhiệm vụ của Trung ương và Khu ủy đề ra; vận động nhân dân các dân tộc trong tỉnh đóng góp sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến, vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất.


Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ nhất (diễn ra từ ngày 20-3 đến ngày 2-4-1951), đã đề ra chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Sơn La trong giai đoạn tới; ra nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, quân sự, văn hoá, dân vận ở địch hậu... Đại hội xác định cùng với quan tâm củng cố tổ chức và sức mạnh đoàn kết, phải đặc biệt quan tâm đến phát triển Mặt trận Liên Việt và công tác dân vận để mở rộng mặt trận đấu tranh: "Công tác dân vận là một bộ phận công tác quan trọng của Đảng, Đảng có vận động được nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng đưa ra thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công", và "Nhiệm vụ của công tác dân vận lúc này là phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đập tan âm mưu chia rẽ của địch; phải đẩy mạnh phát triển hội quần chúng, xây dựng mặt trận sâu rộng để thu hút nhân dân ủng hộ kháng chiến kiến quốc".


Sau đại hội, công tác dân vận ở các Cơ sở Đảng được tăng cường, góp phần quan trọng trong việc cùng Trung ương làm tốt công tác chuẩn bị, chiến đấu và giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc.

Ngày 14 tháng 10 năm 1952, đợt 1 chiến dịch Tây Bắc được mở màn, hướng tiến công của bộ đội ta là Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên. Đến ngày 23 tháng 10 năm 1952, đợt 1 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, ta giải phóng vùng tả ngạn sông Đà, hoàn toàn kiểm soát từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, đường 13 nối liền Yên Bái - Nghĩa Lộ. Đợt 2, ta tập trung tấn công các huyện thuộc hữu ngạn sông Đà như Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, tỉnh lỵ Sơn La và Thuận Châu. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, ta giải phóng Mộc Châu. Đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, hầu hết các huyện lỵ của tỉnh Sơn La được giải phóng (trừ Nà Sản). Đêm 30 tháng 11 năm 1952, quân ta mở chiến dịch tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Nhưng do lực lượng địch mạnh, nhận thấy bộ đội chưa đủ sức đánh tập đoàn cứ điểm này, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, ta đã tiêu diệt và bắt hơn 6.000 quân địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch. Căn cứ kháng chiến của ta được mở rộng và thêm vững chắc, âm mưu xây dựng "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" giả hiệu của thực dân Pháp bị đập tan.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi có một phần đóng góp quan trọng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #93 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:17:38 pm »

Đảng bộ tỉnh đã nhận thức đúng đắn và lãnh đạo công tác dân vận một cách có hiệu quả, huy động được đông đảo lực lượng nhân dân các dân tộc tham gia góp sức người, sức của cho chiến dịch. Để nâng cao nhận thức trong toàn quân, toàn dân, Tỉnh ủy đã tổ chức tốt đợt tuyên truyền về nội dung bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 1 tháng 10 năm 1951 đến cán bộ, Đảng viên và nhân dân Sơn La: "Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ; bền bỉ, dẻo dai vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, khắc phục mọi khó khăn; đảm bảo việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội; cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch". Đồng thời, tiến hành tuyên truyền, giáo dục nhân dân các dân tộc về tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm, tạo sự đồng tình trong nhân dân để sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng bộ đội chủ lực, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tiếp lương, tải đạn, phục vụ cáng thương, chăm sóc thường binh, dẫn đường cho bộ đội truy kích địch, trực tiếp tham gia thu dọn chiến trường, v.v...


Phục vụ tiền tuyến được Tỉnh ủy xác định là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu. Để huy động sự đóng góp sức người, sức của của nhân dân các dân tộc, Đảng bộ tỉnh Sơn La tích cực trang bị cho cán bộ, đảng viên phương pháp vận động quần chúng trong công tác dân vận. Với khẩu hiệu "Tất cả cho chiến dịch, tất cả cho chiến thắng", Mặt trận Liên Việt tỉnh và các tổ chức quần chúng như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông hội đã phát huy mạnh mẽ vai trò tập hợp, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia đóng góp lương thực cung cấp cho bộ đội; tự nguyện gia nhập lực lượng vũ trang để chiến đấu giải phóng Tây Bắc; xung phong đi dân công tích cực vận chuyển hàng hóa phục vụ tiền tuyến... Phong trào thi đua"Góp công sức để kháng chiến kiến quốc" trong nhân dân được phát động rộng khắp ở vùng căn cứ và cả vùng tạm chiếm. Các tổ chức quần chúng phát động nhiều phong trào thi đua thiết thực như: Thanh niên có phong trào thi đua tòng quân đánh giặc cứu nước; phụ nữ có phong trào thi đua giúp đỡ bộ đội, vận tải vũ khí, ủng hộ vải may quần áo. Ở vùng địch tạm chiếm, phong trào đấu tranh cũng được khơi dậy và phát triển, cá bí mật lẫn công khai.


Những nỗ lực của các cấp, các ngành Sơn La trong công tác dân vận đã tạo được sự đồng thuận cao của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Trong 2 đợt của chiến dịch, Sơn La đã huy động nhân dân đóng góp trên 1.421.000 ngày công, có đợt động viên trên 4.000 dân công phục vụ chiến dịch liên tục trong một tháng; 693.434kg gạo, 8.000kg ngô, 48.321kg thịt các loại, vận tải được 135 tấn gạo từ Phú Thọ về kho mặt trận tiền phương. Đặc biệt, đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao ở nhiều nơi của tỉnh không trong diện vận động như dân tộc Mông, Dao, Khơ Mú... vẫn xung phong đi dân công và tự nguyện cho Chính phủ vay lương thực, thực phẩm. Hàng trăm thanh niên các dân tộc hăng hái tự nguyện nhập ngũ, làm nghĩa vụ quân sự, tham gia dân công... góp phần to lớn vào thắng lợi của chiến dịch.


Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc 1952 có ý nghĩa hết sức to lớn đối với vùng Tây Bắc nói chung và đối với tỉnh Sơn La nói riêng. Kế hoạch chiếm đóng bình định lâu dài và âm mưu lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị" nhằm chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc, dùng người địa phương và bọn tay sai phản động địa phương đánh phong trào cách mạng địa phương của địch bị đập tan. Đồng thời, thắng lợi của chiến dịch còn có ý nghĩa to lớn đối với cục diện chiến trường Bắc Bộ, cục diện chiến trường chung của ba nước Đông Dương, đập tan ảo tưởng giành lại thế chủ động trên chiến trường của thực dân Pháp.


Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình của Trung ương về nghệ thuật quân sự, về phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, đó là: chọn chiến trường thích hợp để tiêu diệt địch, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các địa bàn, các chiến trường, giữa ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và lực lượng dân quân du kích), giữa quân và dân. Đồng thời, cũng ghi nhận đóng góp quan trọng của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong công tác dân vận, huy động dân công, lương thực, thực phẩm tại chỗ cho chiến dịch... Qua đó, phong trào cách mạng ỏ địa phương, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở thêm trưởng thành, vững mạnh, nhân dân các dân tộc Sơn La (trừ vùng Nà Sản) thoát khỏi ách thống trị, nô dịch của thực dân Pháp xâm lược.    Thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc đã khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng về nhiều mặt của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La, đặc biệt là vai trò chủ động, sáng tạo của Tỉnh ủy Sơn La trong việc chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền, ban ngành, đoàn thể trong tỉnh chuẩn bị chu đáo về mọi mặt; lãnh đạo các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích và các lực lượng cách mạng khắc phục vụ và phối hợp tác chiến hiệu quả với các đơn vị bộ đội chủ lực, góp phần quan trọng đưa chiến dịch Tây Bắc đến toàn thắng.


Sau chiến dịch, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La quyết tâm giữ vững vùng mới giải phóng, ổn định đời sống nhân dân, động viên nhân dân ra sức phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế, đẩy mạnh văn hóa, giáo dục, bước đầu tiến hành cải cách ruộng đất chia ruộng cho dân cày, tiếp tục góp phần tích cực cùng toàn Đảng, toàn quân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #94 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:19:50 pm »

Những kinh nghiệm và thành tựu trong lãnh đạo công tác dân vận của Tỉnh ủy Sơn La trong chiến dịch Tây Bắc cách đây 60 năm, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành những bài học vừa mang tính lý luận sâu sắc, vừa là những kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa thời sự cho mọi giai đoạn cách mạng của tỉnh. Những bài học đó là:

Một là: Quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, dựa vào dân, tin dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, tuyên truyền vận động, tổ chức, tập hợp nhân dân với các hình thức phù hợp. Thực tiễn đã chứng minh quần chúng nhân dân là lực lượng to lớn và quyết định của sự nghiệp cách mạng. Lực lượng đó phải được giác ngộ, tập hợp, đoàn kết thống nhất, được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc tuyên truyền vận động, tổ chức, tập hợp nhân dân với các hình thức thích hợp là một trong những bài học quan trọng của công tác dân vận. Nếu biết vận động, phát huy được sức mạnh của quần chúng thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Quần chúng nhân dân là lực lượng hùng hậu và vô tận để dựng nước và giữ nước; một khi dân đã hiểu, đã thông và tập hợp đoàn kết lại thì khó khăn, gian khổ hy sinh mấy cũng vượt qua và giành thắng lợi: "Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".


Hai là: Kế thừa, phát huy ý thức dân tộc, truyền thống yêu nước, đoàn kết gắn bó và tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân các dân tộc trong tỉnh một cách có chọn lọc; quán triệt và thực hiện chính sách đại đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, là nguồn sức mạnh to lớn "dời non, lấp biển" trong sự nghiệp cách mạng. Qua thử thách của các cuộc chiến tranh, nó được hun đúc, nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ, giúp quân và dân ta đập tan bao cuộc xâm lăng, thống trị, giữ vững và phát triển non sông đất nước. Phát huy truyền thống đó, công tác dân vận luôn đặt vấn đề đại đoàn kết các dân tộc là nền tảng vững chắc cho mọi thắng lợi, đặc biệt đối với một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc như Sơn La. Đây là một bài học lớn trong công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh xuyên suốt trong lịch sử phát triển.


Ba là: Nắm vững, quán triệt đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng về công tác vận động quần chúng, đồng thời biết vận dụng một cách sáng tạo đường lối ấy phù hợp với tình hình thực tế của một tỉnh miền núi, nhiều dân tộc. Mục tiêu, nhiệm vụ của công tác dân vận bao giờ cũng gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng. Mỗi một giai đoạn lịch sử đòi hỏi phải có nội dung và phương thức vận động quần chúng nhân dân phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn đó. Việc xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược là điều cơ bản nhất, song khi đã có mục tiêu, nhiệm vụ đúng đắn thì điều quyết định là tổ chức thực hiện tốt, làm cho đường lối, chính sách phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, tạo ra động lực thúc đẩy phong trào hành động cách mạng của nhân dân.


Bốn là: Công tác dân vận luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng gắn chặt với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Thực tiễn phong trào cách mạng khẳng định: công tác dân vận phải gắn chặt với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; ngược lại, công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cũng phải gắn liền với công tác dân vận mới có hiệu quả. Bên cạnh đó, việc nâng cao vai trò của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, vận động nhân dân có ý nghĩa quyết định trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo tốt công tác phối hợp giữa chính quyền với mặt trận và các đoàn thể trong vận động quần chúng, làm tốt sự phối hợp công tác dân vận giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo công tác dân vận dưới sự giám sát đóng góp xây dựng của nhân dân phải được quan tâm thường xuyên, giám sát chặt chẽ thông qua Quy chế dân chủ ở cơ sở.


Năm là: Chú trọng công tác xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận; không ngừng đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống dân vận. Trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân vận luôn được Tỉnh ủy chú trọng phù hợp với một tỉnh có nhiều dân tộc. Qua thực tiễn của phong trào cách mạng, nhiều lớp cán bộ đã trưởng thành, trong đó có nhiều cán bộ địa phương đi lên từ phong trào vận động quần chúng, được quần chúng yêu mến, tin tưởng. Điều đó khẳng định việc củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống dân vận, tăng cường làm tốt công tác vận động quần chúng đã được chú trọng đúng mức. Với phương châm hướng về cơ sở, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia quản lý xã hội; xây dựng phong cách làm việc gần dân, hiểu dân; tiếp tục củng cố, kiện toàn và phát huy tốt vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, công tác dân vận ngày càng được sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp. Tỉnh ủy Sơn La đã chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận các cấp có phẩm chất chính trị, năng lực và uy tín với quần chúng; quy hoạch tạo nguồn bồi dưỡng, đào tạo lại theo hướng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở cơ sở, đặc biệt là cán bộ người dân tộc tại chỗ, am hiểu phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc, địa phương đó..., đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.


Chiến thắng Tây Bắc 1952 là một trong những mốc son của lịch sử hào hùng của cách mạng Việt Nam. Chiến thắng ấy đã từng gắn với mỗi địa danh trên quê hương Sơn La anh hùng. Cùng với niềm tự hào to lớn được góp một phần vào thắng lợi chung, những bài học quý báu về công tác dân vận được rút ra qua thực tiễn chiến đấu đã trở thành tài sản quan trọng trong kho tàng lý luận về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Sơn La, đến nay tiếp tục được vận dụng, phát huy trong việc lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Chính những bài học này đã được Tỉnh ủy Sơn La vận dụng một cách sáng tạo trong triển khai các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước, mang lại hiệu quả cao trong xoá đói giảm nghèo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, củng cố được niềm tin vào Đảng, vào chế độ của đồng bào các dân tộc. Các chương trình lớn của tỉnh như xoá đói giảm nghèo; chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La; chương trình phát triển cây cao su; công tác phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội; chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi... đã thu được nhiều kết quả to lớn và tốt đẹp, từng bước đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực, góp phần vào thắng lợi chung trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #95 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:24:18 pm »

HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG SƠN LA TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá CẦM VĂN CÂU
Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La


Sau chiến dịch Hòa Bình, không để cho địch rảnh tay bình định, củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, nhất là trên chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã cân nhắc và lựa chọn hướng tiến công của ta trong Đông - Xuân 1952-1953; trong đó xác định: không có nơi nào địch yếu và sơ hơ hơn là hướng Tây Bắc. Hướng này, vừa là chiến trường có tầm chiến lược quan trọng, vừa có nhiều điều kiện để phát huy sở trường, cách đánh và trình độ của bộ đội ta qua bài học thực tiễn của mấy chiến dịch trước. Vì thế. Trung ương và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.


Để đảm bảo cho chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi, cùng với các hoạt động quân sự, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến đấu của bộ đội ta. Đối với lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cũng được các cấp ủy hết sức chú trọng. Rút kinh nghiệm từ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của một số chiến dịch trước đây cho thấy, một số cấp ủy vẫn coi nhẹ hoạt động này, nhất là công tác xây dựng Đảng và giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang địa phương, nên đứng trước những khó khăn, thử thách, ác liệt, thương vong, một số người dao động, chùn bước, giảm sút ý chí chiến đấu. Nhằm khắc phục tình trạng đó, trước khi bước vào chiến dịch Tây Bắc, Tỉnh ủy Sơn La đã xác định: Phải coi trọng và thực hiện công tác đảng, công tác chính trị, trước mắt là củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng trong lực lượng dân quân du kích và bộ đội địa phương; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong tình hình mới; phối hợp chặt chẽ và duy trì mối quan hệ giữa tổ chức đảng, đoàn ở địa phương và công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, thực hiện tốt nhiệm vụ kháng chiến. Trong đánh giá chất lượng lực lượng dân quân tự vệ, Tỉnh ủy nhận thấy, lực lượng này còn yếu về tư tưởng, tổ chức, nhất là nhận thức về chiến tranh du kích, còn ỷ lại bộ đội chủ lực. Bởi vậy, cần phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, động viên tư tưởng, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ chính trị, quân sự, kháng chiến; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, sự gắn bó, phối hợp giữa bộ đội chủ lực và dân quân du kích. Lực lượng vũ trang tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, mà trực tiếp là sự chỉ đạo của Tỉnh ủy đã xác định nhiệm vụ phục vụ kháng chiến cũng cần kíp và quan trọng như nhiệm vụ chiến đấu. Công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch là tổ chức huy động lực lượng dân công phục vụ cho chiến dịch Tây Bắc được tiến hành chu đáo, cả trước, trong và sau chiến dịch. Đây là nhiệm vụ rất vất vả, khó khăn, dân công phải chịu đựng gian khổ, ác liệt không kém gì bộ đội. Nhận rõ đặc điểm đó, từ Tỉnh ủy đến chi ủy đều cử cán bộ, đảng viên sâu sát cơ sở, chỉ huy, lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, xây dựng quyết tâm, nhắc nhở, động viên dân công giữ nghiêm kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Nằm trong đội hình chiến đấu và phục vụ chiến đấu phối hợp với bộ đội chủ lực và các tỉnh bạn trong chiến dịch Tây Bắc, nên hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Sơn La vừa tuân thủ nội dung, hình thức hoạt động chung, vừa mang tính đặc thù phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trên địa bàn.


Trước chiến dịch, cấp ủy các cấp đã làm tốt công tác chỉnh huấn chính trị, giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến chiến dịch. Chỉ rõ những việc cần chú ý trong tổ chức hoạt động công tác chính trị chiến dịch là: chiến dịch này thời gian dài, bộ đội phải liên tục chiến đấu, cho nên về tổ chức phải được củng cố, chấn chỉnh một cách nhanh chóng; phải chuẩn bị sẵn tân binh và cán bộ để kịp bổ sung trong chiến dịch; phải chú trọng chăm sóc thương, bệnh binh để họ mau trở về đơn vị chiến đấu. Về tư tưởng, các cấp ủy phải dự kiến và bám sát diễn biến tình hình để lãnh đạo, chấn chỉnh kịp thời; đề phòng tư tưởng thắng thì chủ quan, tự mãn, bại thì bi quan, dao động; đồng thời, khắc phục những biểu hiện ngại khó, ngại khổ, sợ thương vong, về cung cấp, giáo dục động viên bộ đội và dân công làm tốt nhiệm vụ bảo đảm vật chất cho chiến dịch, giữ vững sức khỏe bộ đội tác chiến dài ngày trên địa hình rừng núi. Lực lượng vũ trang Sơn La cũng đã tiến hành học tập, thấu suốt Chỉ thị ngày 16 tháng 8 năm 1952 của Trung ương Đảng về "Thi hành chính sách dân tộc thiểu số ở Khu Tây Bắc" "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa" về chính sách dân vận trong chiến dịch, "Huấn thị của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc" (9-9-1952). Ngoài ra, lực lượng vũ trang tỉnh còn được quán triệt những chỉ thị, hướng dẫn chuyên ngành, đi sâu lãnh đạo bảo đảm các mặt công tác, như: "Chỉ thị về công tác chính trị đối với dân công phục vụ tiền tuyến", "Chỉ thị về thưởng phạt trong Thu Đông 1952"... Để phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang tỉnh, Tỉnh ủy Sơn La đã chỉ đạo tiến hành kiện toàn hệ thống tổ chức đảng các cấp. Theo đó, các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh và các đại đội bộ đội địa phương huyện sinh hoạt theo tổ chức đảng ủy quân sự. Lực lượng dân quân, du kích thuộc chi bộ xã, thôn, bản thì sinh hoạt theo tổ chức đảng ở địa phương. Các tổ chức đảng tiến hành đại hội chi bộ để bầu cấp ủy mới; đồng thời, quán triệt tinh thần nghị quyết Hội nghị Đảng toàn quân, trong đó quy định mới về chức năng, nhiệm vụ của chi bộ. Tỉnh cũng yêu cầu, khi bộ đội đến đóng ở địa phương nào thì phải liên hệ chặt chẽ với cấp ủy địa phương để phối hợp hành động và phải tôn trọng nghị quyết, chủ trương của đảng bộ, chính quyền địa phương ấy.


Trong chiến dịch, công tác đảng, công tác chính trị luôn bám sát diễn biến trên chiến trường và mọi hoạt động của các đơn vị. Ngày 14 tháng 10 năm 1952, quân ta nổ súng mở màn đợt 1 của chiến dịch Tây Bắc, tiêu diệt các vị trí dọc đường, luồn sâu vào tiêu diệt Phân khu Nghĩa Lộ, tạo cơ hội để quân ta tiêu diệt tiếp một tiểu đoàn dù ứng chiến nhảy xuống Tú Lệ và truy kích địch trên đường từ Tú Lệ đến Ít Ong. Bộ đội vừa tiến công địch ở phía trước, vừa hình thành sớm mũi vu hồi ở đông - nam Lai Châu. Qua 11 ngày chiến đấu, quân và dân ta đã giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Quỳnh Nhai, đập tan phòng tuyến vòng ngoài của địch. Hòng cứu vãn tình thế nguy ngập, Bộ chỉ huy quân Pháp đã tăng cường cho Tây Bắc 7 tiểu đoàn, nhằm củng cố phòng tuyến Sơn La - Lai Châu đang bị quân ta uy hiếp nghiêm trọng. Tại Sơn La, chúng gấp rút củng cố các bốt, xây dựng hầm hào, lô cốt kiên cố ở nhiều vị trí xung yếu. Sau khi rút kinh nghiệm đợt 1 và củng cố lực lưựng, Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc quyết định bước vào đợt 2, với nhiệm vụ vượt sông Đà, tiến công khu vực Tạ Khoa, Ba Lay, Mộc Châu, nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ chủ yếu của địch trên tuyên sông Đà, tạo điêu kiện giải phóng Sơn La - Lai Châu. Với công tác chuẩn bị chu đáo, cách đánh táo bạo, tinh thần chiến đấu dũng cảm, đợt 2 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) và một phần tỉnh Lai Châu được giải phóng. Đứng trước nguy cơ bị mất hoàn toàn vùng Tây Bắc, thực dân Pháp cấp tốc thu gom toàn bộ số quân còn lại co về Nà Sản; đồng thời, tăng cường thèm lực lượng, củng cố, xây dựng Nà Sản thành một tập đoàn cứ điểm mạnh. Bước vào đợt 3 của chiến dịch, quân ta tập trung tấn công tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Song, do lực lượng địch mạnh, ta mở nhiều đợt tiến công nhưng không có kết quả. Nhận thấy quân ta chưa đủ sức đánh tập đoàn cứ điểm này, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 1952. Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, quân và dân ta đã tiêu diệt 6.000 tên địch, đập tan hoàn toàn âm mưu củng cố cái gọi là "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp. Riêng quân và dân Sơn La đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, chiến đấu kiên cường, dũng cảm, lợi dụng sự thông thạo địa hình, địa vật, làm chủ chiến trường; vận chuyển, cung cấp bảo đảm kịp thời vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm phục vụ chiến đấu; làm tốt công tác thu dung điều trị, chăm sóc thương binh... công tác đảng, công tác chính trị luôn bám sát mọi hoạt động của bộ đội và dân công hỏa tuyến, động viên, khích lệ, giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn, tiếp tục phục vụ cho kháng chiến lâu dài. Ở đâu có bộ đội, dân công, ở đó có tổ chức đảng, có hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, giải quyết kịp thời những vướng mắc về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện nhiệm vụ tác chiến với chấp hành đúng chính sách dân tộc, dân vận, địch vận trong chiến dịch. Trên địa bàn tỉnh, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều đi chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thu dọn chiến trường, tạo không khí sôi nổi, rộng khắp trong suốt quá trình chiến dịch.


Sau chiến dịch, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Sơn La tập trung vào tổng kết, đánh giá kết quả chiến đấu và phục vụ chiến đấu, củng cố lực lượng, xây dựng địa phương sau giải phóng. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới, Tỉnh ủy Sơn La quyết định triển khai chương trình công tác đặc biệt: "Những nhiệm vụ cần kíp củng cố vùng giải phóng", nhằm làm cho cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân thấy rõ ý nghĩa của chiến dịch Tây Bắc, âm mưu mới của địch và chủ trương đối phó của ta. Chỉ đạo các huyện, các ngành, các đơn vị nhanh chóng củng cố chính quyền các cấp ở Yên Cháu, Mai Sơn, Mường La; tổ chức hệ thống chính trị nhanh chóng đi vào hoạt động. Với bộ đội địa phương, củng cố lực lượng, chấn chỉnh đội hình, ổn định quân số, tiến hành kiểm điểm kết quả tham gia chiến dịch Tây Bắc; kiểm tra vũ khí, trang bị, bổ sung tân binh để tổ chức huấn luyện chống càn, bảo vệ dân. Ngoài nội dung trên, các địa phương còn khẩn trương làm tốt công tác bình xét, khen thưởng cho những tập thể, cá nhân đạt thành tích tốt trong tham gia chiến dịch; triển khai lực lượng bảo vệ kho tàng, bản, Mường, củng cố hạ tầng cơ sở, bảo đảm giao thông thông suốt; thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh...


Chiến dịch Tây Bắc đã đi vào lịch sử dân tộc 60 năm, song vẫn còn nguyên giá trị về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; về ý chí quyết tâm cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của quân và dân ta; về đường lối nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo của Đảng. Đặc biệt, những kinh nghiệm hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng vũ trang Sơn La nói riêng trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sẽ là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:27:34 pm »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TỈNH SƠN LA
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá HOÀNG NGỌC DŨNG
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy,
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La


Ngày 2 tháng 8 năm 1947, Trung đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên của tỉnh Sơn La được thành lập. Đó là một sự kiện lịch sử không chỉ của lực lượng vũ trang Sơn La, mà còn đối với cả đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Đó cũng là sự khởi đầu của chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Sơn La. Trong suốt chặng đường vẻ vang đó, không thể không nhắc đến sự đóng góp quan trọng của lực lượng vũ trang Sơn La đối với chiến dịch Tây Bắc 1952.


Nhận rõ Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng: địch chiếm thì uy hiếp sườn, sau lưng ta; chặn giao thông giữa ta và Trung Quốc; ngăn cản liên lạc giữa ta với cách mạng Lào; uy hiếp đường giao thông giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4. Mở chiến dịch này, không những có lợi cho cuộc kháng chiến của ta, mà cả cho cách mạng Lào. Đây là nơi địch yếu nhất, đánh vào khu vực này, địch nhất định phải đối phó ở chiến trường có lợi cho ta; do đó, ta có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường và giữ được ưu thế tương quan so sánh lực lượng. Qua một số chiến dịch chưa thật thành công (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung), Đảng ta càng thày rõ vai trò của Mặt trận Tây Bắc. Vì vậy, tháng 4 năm 1952, Hội nghị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Huấn thị đế chỉ đạo chiến dịch này, trong đó Người nhấn mạnh: Nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch. Trung ương Đảng xác định phương châm của chiến dịch là: Tiêu diệt sinh lực địch, đánh chắc tiến chắc. Sau khi có nghị quyết của Trung ương về mở chiến dịch Tây Bắc, Tổng Quân ủy tiến hành nhiều cuộc họp để nhận định tình hình, đề ra các phương án tác chiến, công tác chuẩn bị chiến trường và bảo đảm hậu cần cho mặt trận. Trên cơ sở đánh giá tình hình địch, tình hình ta và khảo sát chiến trường, Tổng Quân ủy đã hoàn chỉnh "Quyết tâm chiến dịch", trong đó xác định, thời kỳ thứ nhất, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch ở Tiểu khu Phù Yên, giải phóng Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, phát triển thắng lợi, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện để tiến công địch ở Sơn La. Tổng Quân ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định, nếu thuận lợi, bộ phận lớn lực lượng của ta nhanh chóng đánh thốc vào hướng Sơn La, cắt đường 41, tiến sâu vào vùng địch hậu để phát động nhân dân tranh đấu, cô lập Sơn La, làm rối loạn hậu phương của địch. Tuy nhiên, Tổng Quân ủy cũng nêu tình huống: nếu diễn biến không thuận lợi, thì đợt 2 ta sẽ dùng một bộ phận chủ lực chia làm hai cánh để giải quyết vùng đông nam Phân khu Sơn La.


Thực hiện quyết tâm của Tổng Quân ủy và nhận rõ vị trí quan trọng của chiến dịch đối với Sơn La, tháng 9 năm 1952, Tỉnh ủy Sơn La triệu tập Hội nghị Ban chấp hành mở rộng đề ra Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân tham gia chiến dịch. Trong đó, Tỉnh ủy xác định: toàn thể lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc trong tỉnh phải nhận rõ tình hình, khẩn trương triển khai thực hiện nhiệm vụ do Khu ủy Tây Bắc giao. Đảng bộ và ủy ban hành chính tỉnh cùng nhận thức rõ rằng: việc bộ đội chủ lực lên hoạt động tác chiến trên địa bàn, tiêu diệt sinh lực địch là điều kiện thuận lợi để tỉnh tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, tôi luyện, thử thách và phát triển lực lượng vũ trang. Đặc biệt, tỉnh coi đó là thời cơ để giải phóng đại bộ phận đất đai nên gấp rút chuẩn bị lực lượng để tiếp thu vùng mới giải phóng. Với nhận thức như vậy, Hội nghị đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng huyện, phân công các Tỉnh ủy viên trực tiếp chỉ đạo từng mặt công tác được phân công; thành lập Ban cán sự và huyện đội các huyện Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu; đồng thời, tăng cường cán bộ phụ trách công tác dân quân cho 3 huyện mới hình thành ban cán sự. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội đã chỉ đạo lực lượng vũ trang tỉnh, một mặt chủ động củng cố dân quân du kích xã, bản, mở rộng địa bàn hoạt động, phát triển các tổ du kích địa phương, làm nòng cốt cho nhân dân đẩy mạnh việc diệt tề, trừ gian và tăng cường công tác binh, địch vận; mặt khác, phối hợp cùng các lực lượng tích cực tham gia công tác chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị nhân, vật lực phục vụ chiến dịch theo đúng yêu cầu của Ban Thường vụ Khu ủy Tây Bắc. Cụ thể là, trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, lực lượng vũ trang tỉnh giúp bộ đội chủ lực nắm địa hình, nắm địch, tình hình địa phương, chỉ, đưa đường và cảnh giới. Cùng thời gian này, lực lượng vũ trang tỉnh còn tích cực tổ chức vận động quần chúng tham gia đấu tranh với địch, làm tốt công tác binh vận, lôi kéo binh lính địch về phía ta; đồng thời, cử thanh niên ta bí mật thâm nhập hàng ngũ của địch để lấy súng của chúng. Trong quá trình thực hành tiến công địch, lực lượng vũ trang tỉnh đã có 3 đại đội bộ đội địa phương và nhiều tổ, đội dân quân du kích tham gia phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bảo đảm cơ động, hậu cần cho chiến dịch. Trong suốt quá trình chiến dịch, ngoài việc tham gia cắt đường 41, cô lập, bao vây một số đồn, bốt của địch, tạo thế và lực cho bộ đội chủ lực triển khai, tiến công tiêu diệt địch, lực lượng vũ trang Sơn La còn phối hợp với ủy ban hành chính các cấp và quần chúng nhân dân đế kịp thời tiếp thu, quản lý và bảo vệ vùng mới giải phóng.


Thực hiện nhiệm vụ Trung ương và Khu ủy giao, lực lượng vũ trang Sơn La còn tiếp tục củng cố các căn cứ và cơ sở kháng chiến; đẩy mạnh công tác địch hậu, xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh để phối hợp với bộ đội chủ lực cùng chiến đấu, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Dựa vào tình hình cụ thể địa phương và Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân vùng giải phóng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy đã mở lớp tập huấn cấp tốc cho cán bộ về nội dung tiếp quản vùng giải phóng; thành lập Ban Cung cấp tiền phương, cử một đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy làm Trưởng ban. Để chuẩn bị cho chiến dịch, thực hiện nhiệm vụ của Khu ủy đề ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Sơn La đã hăng hái đóng góp lương thực cung cấp cho bộ đội; nhiều thanh niên dân tộc tự nguyện gia nhập lực lượng vũ trang để chiến đấu giải phóng Tây Bắc. Đặc biệt, trong huy động vận tải chuẩn bị cho chiến dịch, nhân dân đã xung phong đi dân công phục vụ chiến trường. Mặc dù máy bay địch bắn phá dữ dội, nhân dân vẫn không quản khó khăn, gian khổ, tích cực vận chuyển hàng hóa, vũ khí, trang bị, góp phần to lớn vào thắng lợi của chiến dịch.


Với quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc, đầu tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Mục tiêu của chiến dịch nhằm tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân; giải phóng một bộ phận đất đai vùng Tây Bắc Tổ quốc, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phát triển Chiến tranh du kích, tiến lên phá tan âm mưu của địch ở vùng đất rộng lớn có vị trí chiến lược quan trọng này. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316, Trung đoàn công binh 151 (Đại đoàn công pháo 351), Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 8 đại đội bộ đội địa phương của các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu. Riêng Sơn La, có 3 đại đội bộ đội địa phương và các đơn vị dân quân du kích tham gia phối hợp chiến đấu và phục vụ hậu cần chiến dịch.


Để kịp thời động viên các lực lượng tham gia chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi 2 bức thư động viên cản bộ, chiến sĩ và dân công ở Mặt trận Tây Bắc. Trong thư gửi cán bộ và chiến sĩ, Người nhấn mạnh:

"Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Các chú phải đánh cho thắng.

Tất cả các chú, cán bộ cũng như chiến sĩ, đều phải:

- Quyết tâm chiến đấu, triệt để chấp hành mệnh lệnh.

- Bền bỉ dẻo dai, vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn.

- Thương dân, trọng dân và tốt với dân.

- Tiêu diệt thật nhiều địch, giành cho được toàn thắng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia. H. 2002. tr. 573).


Đối với các chiến sĩ dân công, Bác động viên quyết tâm: "Các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ, phải cùng anh em bộ đội giành cho được thắng lớn.

Tất cả các cô, các chú đều phải:

- Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ phục vụ bộ đội.

- Bền bỉ, dẻo dai vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn.

- Đảm bảo việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội;

- Cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia. H. 2002. tr. 573).

Nhận được thư Bác, lực lượng vũ trang Sơn La cùng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở Mặt trận Tây Bắc vô cùng phấn khởi, càng tích cực chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu giành chiến thắng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #97 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:28:51 pm »

Tháng 10 năm 1952, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đã tập kết ở vị trí quy định. Công tác hậu cần đảm bảo đúng theo kế hoạch. Bộ đội chủ lực, quân và dân Tây Bắc sẵn sàng bước vào chiến dịch. Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu.

Chiến dịch Tây Bắc được chia làm 3 đợt:

- Đợt 1: Từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952.

- Đợt 2: Từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952.

- Đợt 3: Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952.

Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt khoảng 10.000 tên địch, thu nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật của chúng. Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động của địch bị tiêu diệt gọn. Nhiều tên chỉ huy phân khu, tiểu khu, đồn trưởng là những tên thực dân lâu năm ở Tây Bắc bị diệt hoặc bị bắt. Hầu hết quân ngụy người địa phương, chỗ dựa của địch để chiếm đóng Tây Bắc bị tan rã. Ta đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn trên một địa bàn chiến lược quan trọng, mở toang mạch nối giữa Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào; tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), bốn huyện phía nam Lai Châu, hai huyện phía tây Yên Bái (rộng 28.500km2, với 25 vạn dân). Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng sang vùng Tây Bắc và củng cố thêm vững chắc.


Thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vùng Tây Bắc của Tổ quốc, đặc biệt đối với Sơn La. Chiến thắng đó đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, bình định lâu dài và thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp lập nên "Xứ Thái tự trị" giả hiệu, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, dùng bọn tay sai phản động đánh phá phong trào cách mạng địa phương. Địch mất quyền kiểm soát về chiến lược đối với Tây Bắc. Chiến thắng Tây Bắc còn có ý nghĩa to lớn với cục diện chiến trường Bắc Bộ, cục diện chung của ba nước Đông Dương, đập tan ảo tưởng của thực dân Pháp hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự chỉ đạo nghệ thuật quân sự đúng đắn, chính xác và sáng tạo của Đảng ta về phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân; về chọn chiến trường thích hợp, kết hợp nhịp nhàng giữa các địa bàn, giữa các chiến trường và ba thứ quân. Đồng thời, để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức một chiến dịch chính quy ở một chiến trường xa, khó tiếp tế, vận chuyển.


Nói cách khác, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc, cùng với thắng lợi của quân, dân ta trên một số chiến trường phối hợp, đã mở ra thế và lực mới cho ta bước vào chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm lâu dài, gian khổ bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Với thắng lợi to lớn đó, Trung ương Đảng đánh giá: Chiến dịch Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đó là kết quả của tư duy quân sự đúng đắn, thể hiện sự lựa chọn hướng chiến trường, địa bàn tác chiến, phát huy được khả năng của ta, song lại hạn chế được sức mạnh của địch; đồng thời, còn thể hiện sự đoàn kết giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Bắc, trong đó có Sơn La. Thực tế cho thấy, trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, bộ đội địa phương và dân quân du kích của tỉnh đều hăng hái đi tiếp lương, tải đạn, vận chuyển thương, bệnh binh, hỗ trợ bộ đội chủ lực tiến công và truy kích địch. Chỉ tính từ khi có "Quyết tâm chiến dịch" (tháng 9-1952), quân và dân Sơn La đã đóng góp gần 1,5 triệu ngày công, có đợt số dân công phục vụ liên tục chiến dịch lên tới 4.000 người; cung cấp cho chiến dịch gần 700 tấn gạo, trên 48 tấn thịt; vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên các kho tiền phương... Đó là những con số đầy ý nghĩa, thể hiện tinh thần yêu nước và cách mạng của Đảng bộ, quân và dân Sơn La.


Kết thúc chiến dịch, mặc dù khu vực Nà Sản của Sơn La còn nằm trong vùng địch kiểm soát, song đại bộ phận địa bàn tỉnh Sơn La được giải phóng. Từ đây, đồng bào các dân tộc Sơn La càng thêm tin tưởng vào Bác Hồ, vào Đảng và quân đội nhân dân. Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đối với Sơn La còn có nhiều giá trị thực tiễn to lớn, bởi trước chiến dịch, do địch khủng bố gắt gao nên phần lớn cơ sở của ta bị mất liên lạc hoặc tan vỡ, lực lượng vũ trang của tinh chưa có điều kiện phát triển. Nhưng thông qua chiến dịch, các cơ sở của tỉnh được củng cố, kiện toàn về số lượng và được bồi dưỡng, rèn luyện về năng lực lãnh đạo, tổ chức quần chúng. Trước khi diễn ra chiến dịch Tây Bắc, lực lượng vũ trang tỉnh chỉ có một số đại đội đã qua tham gia chiến đấu; dân quân du kích chủ yếu mới tham gia vào công tác địch vận. Song, quá trình diễn ra chiến dịch cũng là quá trình lực lượng vũ trang tỉnh được trang bị về kiến thức quân sự, về trình độ tổ chức, chỉ huy chiến đấu và phục vụ chiến đấu, thật sự trở thành lực lượng nòng cốt cho toàn dân tiếp tục đấu tranh với kẻ địch cho đến ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng. Như vậy có thể thấy, nếu Trung ương Đảng không mở chiến dịch Tây Bắc, thì các tổ chức đảng, cơ sở chính quyền của tỉnh không có điều kiện để củng cố và phát triển; bộ đội địa phương và dân quân du kích không có điều kiện học tập, trao đổi với bộ đội chủ lực về phương thức tác chiến, thủ đoạn chiến đấu và các biện pháp bảo đảm chiến đấu. Ngược lại, không có quân - dân Tây Bắc, không có "thế trận lòng dân" Tây Bắc, không có sự phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại chỗ của lực lượng vũ trang Tây Bắc, trong đó có Sơn La, bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch sẽ không có chỗ đứng chân triển khai lực lượng và tiến công địch, và do đó, chiến dịch không thể giành thắng lợi... Đó là biện chứng của Chiến tranh nhân dân. Điều đó cũng nói lên vai trò hết sức quan trọng của Đảng bộ, quân và dân Sơn La đôì với chiến dịch Tây Bắc.


Sự trưởng thành bộ đội địa phương và dân quân du kích Sơn La qua chiến dịch Tây Bắc đã tạo ra cơ sở mới để lực lượng vũ trang của tỉnh phát triển, trưởng thành cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là yếu tố quan trọng để Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc trong tỉnh tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước và cách mạng, góp phần cùng quân dân cả nước kết thúc thắng lợi hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #98 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:33:15 pm »

PHỤ NỮ CÁC DÂN TỘC TỈNH SƠN LA
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SƠN LA


Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, Bà Trưng, Bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù. Thế kỷ XX, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh, cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em cho độc lập tự do của Tổ quốc. Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và Đảng hoàng hơn. Đảng, Bác Hồ phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" trong thời kỳ kháng chiến và "Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng" trong thời kỳ đổi mới đất nước không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam.


Cùng với phụ nữ cả nước, phụ nữ các dân tộc Tây Bắc, trong đó có Sơn La, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua những năm tháng kháng chiến anh dũng, viết nên trang sử vẻ vang của dân tộc. Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, phụ nữ Sơn La đã đóng góp một phần không nhỏ cho thắng lợi của chiến dịch.


Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, từ ngày 14 đến 19 tháng 4 năm 1950, Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất đã diễn ra tại Chiến khu Việt Bắc, quyết định hợp nhất tổ chức Phụ nữ cứu quốc và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Đại hội bầu ra Ban chấp hành Trung ương Hội do đồng chí Lê Thị Xuyến làm Chủ tịch. Sau Đại hội, tổ chức phụ nữ ở các tỉnh được kiện toàn. Sơn La được tăng cường các cán bộ phụ nữ từ Việt Bắc sang như: chị Cầm, chị Mễ, chị Cúc, chị Tiến, chị Hồng, chị Đới... Hội đã đề ra công tác cấp bách trước mắt: củng cố các tổ chức phụ nữ cứu quốc ở các cơ sở, đào tạo cán bộ phụ nữ địa phương để làm nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ các dân tộc. Một số đồng chí như chị Hảo, chị Hom, chị Vinh, chị Vân Sinh, chị Phấn, chị Hoá... đã trở thành những cán bộ phụ nữ thoát ly đầu tiên của tỉnh. Các chị được phân công về các huyện để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn chị em công tác. Được sự quan tâm lãnh đạo, chị em các huyện càng phấn khởi, tích cực tham gia tăng gia sản xuất để tự cung cấp lương thực, chống đói, đẩy mạnh công tác văn hoá, giáo dục và y tế trong khu căn cứ kháng chiến. Ngoài ra, chị em còn tích cực tham gia các lớp học xoá mù chữ, học cứu thương, chữa bệnh để kịp thời chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, bộ đội và nhân dân; vận động nhân dân ở sạch, ăn chín, uống sôi, giữ gìn vệ sinh phòng các loại dịch bệnh.


Thu Đông năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai và xây dựng Tây Bắc thành căn cứ địa vững chắc.

Sơn La là chiến trường chính của chiến dịch, nên mọi công việc chuẩn bị đòi hỏi phải sâu sát, tỉ mỉ, chu đáo và cấp bách. Thực hiện Nghị quyết "Nhận rõ tình hình, tích cực làm tròn nhiệm vụ" của Tỉnh ủy đề ra, nhân dân các dân tộc Sơn La, trong đó có tổ chức phụ nữ, đã tích cực chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng phối hợp với các đơn vị bộ đội bước vào chiến dịch. Các cán bộ phụ nữ xuống cơ sở tuyên truyền cho chị em hiểu rõ đi dân công để phục vụ chiến dịch, giúp bộ đội đánh giặc giải phóng quê hương. Từ đó, chị em đã hiểu rõ và tích cực tham gia. Trong điều kiện chiến đấu gian khổ, thuốc men thiếu thốn, chị em đã tìm kiếm thuốc bằng các lá cây rừng để cứu chữa cho thương binh. Chị em còn tích cực đóng góp thực phẩm, rau quả cho chiến dịch. Hàng vạn phụ nữ các dân tộc đã tham gia xay thóc, giã gạo để cung cấp lương thực cho tiền tuyến. Công tác bảo quản lương thực được chị em thực hiện rất tốt. Mặc dù nhà phải ăn khoai, sắn, củ mài thay cơm, nhưng chị em vẫn giữ đúng số lượng thóc, gạo đã được giao, tổ chức thành tổ xay giã, đội vận chuyển, sẵn sàng giúp đỡ nhau. Có khi thóc ở hậu phương chuyển lên chưa kịp xay giã, chị em đã thức suốt đêm giã gạo cho bộ đội ăn no đánh thắng. Chị em các dân tộc Thái, Mường, Mông và Dao, Khơ Mú... ở Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu và Mai Sơn tích cực tham gia mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch.


Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch Tây Bắc, Hội phụ nữ Sơn La đã vận động được 2.622 chị xung phong đi tiếp tế vận tải lương thực, đạn dược cho bộ đội chiến đấu. Bất chấp gian khổ, hiểm nguy, các chị đã hăng hái tham gia vào các đội thanh niên xung phong, làm đường, vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men ra chiến trường; tải thương, nuôi dưỡng thương binh, chống lầy, phá bom, đắp đường sạt lở, bắc cầu. Chị em dũng cảm thực hiện nhiệm vụ ngay cạnh những quả bom nổ chậm, ... Nhiều chị xông pha giữa bom đạn để cứu hàng, ngụy trang hàng hóa. Hết lòng vì thương binh, nhiều chị quỵ ngã trên đá tai mèo, đầu gối tóe máu nhưng thương binh vẫn được nằm an toàn trong cáng. Gặp trời mưa phùn, giá rét, các chị nhường áo mưa, áo bông cho thương binh, làm hầm, dựng lán cho thương binh. Tham gia công tác vận chuyển, chị em luôn có ý thức thi đua gắng sức vận chuyển thật nhiều đảm bảo kế hoạch trên giao. Nhiều tấm gương tiêu biểu như chị Hiếu, chị Cảnh, chị Huệ, ngoài nhiệm vụ của mình còn gánh giúp chị em trong đơn vị trèo qua dốc cao hay vượt suối và những nơi ngụy hiểm để đưa hàng đến nơi an toàn. Đường dài, gánh nặng, đi đêm, vượt qua những quãng bom nổ chậm của địch nhưng chị em không nao núng tinh thần và không chị nào trốn về, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều chị đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ.


Chia lửa với chiến trường, phụ nữ ở hậu phương cũng tích cực lao động sản xuất làm ra nhiều lúa gạo tiếp tế cho tiền tuyến; tham gia dân quân du kích, đấu tranh chống giặc bắt lính, làm công tác địch vận, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị, tuyên truyền vạch trần mọi âm mưu thâm độc của kẻ địch, đấu tranh trên các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa... gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.


Với vai trò người vợ, người mẹ, chị em đã hết lòng chăm sóc nuôi dưỡng dạy dỗ các con trưởng thành, tận tình chăm sóc cha mẹ giả, giữ trọn đạo thủy chung, trở thành nguồn động viên, cổ vũ to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho người chiến sĩ vững tay súng nơi chiến trường.


Các bà, các chị hiểu rằng nơi trầm mạc lành ít, dữ nhiều nhưng vẫn động viên, khuyến khích chồng, con, người thân lên đường ra trận. Ở đâu chị em cũng sẵn sàng hy sinh những tình cảm riêng tư của mình, vận động chồng con, người thân tòng quân giết giặc.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, quân và dân ta đã tiêu diệt 6.000 tên địch, đập tan hoàn toàn âm mưu củng cố "Xứ Thái tự trị" giả hiệu của thực dân Pháp, giải phóng 2/3 đất đai và 25 vạn dân. Quân và dân Sơn La, trong đó có chị em phụ nữ các dân tộc đã góp một phần công sức và cả máu xương cho chiến dịch thắng lợi. Nhân dân Sơn La đã đóng góp 1.421.220 ngày công, có đợt tới 4.000 dân công phục vụ liên tục hàng tháng, trong số đó một nửa là phụ nữ, cung cấp 693.434kg gạo, 8.000kg ngô, 48.321kg thịt các loại, vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên các kho tiền phương. Điều đó minh chứng chủ trương sử dụng nhân lực tại chỗ của Đảng là đúng đắn, xác hợp. Tổng kết chiến dịch, có 50 chị em các dân tộc Sơn La được Bộ Tổng tư lệnh tặng Bằng khen.


Có thể nói, phụ nữ nói chung, phụ nữ Sơn La nói riêng đã đóng vai trò quan trọng vào chiến thắng Tây Bắc 1952. Chính thực dân Pháp cũng phải thừa nhận: "Các ông đã thắng vì các ông có dân, không những nam giới mà cả phụ nữ cũng có mặt ở tiền tuyến". Quá khứ vẻ vang song hiện tai và tương lai cũng đang đặt lên đôi vai người phụ nữ nhiều trọng trách đòi hỏi phải nỗ lực nhiều hơn nữa để đóng góp sức mình vào sự phát triển của tỉnh nhà và của đất nước. Tiếp bước truyền thống vẻ vang của phụ nữ các thời kỳ, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Sơn La xin nguyện tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, chủ động phối hợp nhiều hơn nữa với các cấp, các ngành đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc trong các tầng lớp phụ nữ; tích cực chú trọng nhân rộng các điển hình phụ nữ giúp nhau xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm tăng thu nhập, phát triển kinh tế gia đình, làm giàu chính đáng, xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ vào tổ chức Hội. Thông qua phong trào và hoạt động của mình phấn đấu xây dựng Hội trở thành nơi đào tạo nguồn cán bộ nữ cho Đảng; là tổ chức tuyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ cả nước đóng góp sức lực, tài năng, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #99 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:38:31 pm »

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC HUYỆN MAI SƠN
VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

LÊ HỒNG MINH
Bí thư Huyện ủy Mai Sơn


Trong kháng chiến chống Pháp, huyện Mai Sơn có vị trí quan trọng của Sơn La, nơi có nhiều cơ quan đầu não kháng chiến của tỉnh đóng. Nằm ở vị trí ngã tư chiến lược, nơi có nhiều phong trào lạc quyên ủng hộ kháng chiến, nên thực dân Pháp xác định đây là một địa bàn có vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng, vì vậy chúng đã tập trung một lực lượng mạnh để chiếm giữ Mai Sơn, trong đó có cao nguyên Nà Sản. Một mặt chúng dùng lực lượng quân sự càn quét khủng bố, mặt khác tung gián điệp vào hàng ngũ ta để dò xét, phá hoại. Với lực lượng thiện chiến kết hợp với đội quân tay sai phản động, thực hiện chính sách "chia để trị", kẻ địch điên cuồng tiến công trên khắp địa bàn Mai Sơn, làm cho Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính châu Mai Thuận (liên huyện Mai Sơn - Thuận Châu) và khu du kích Dong Nơi (Chiềng Dong) bị võ. Từ đây, nhân dân các dân tộc Mai Sơn cũng chính thức bước vào cuộc chiến không cân sức với kẻ thù. Nhưng với một quyết tâm sắt đá và ý chí kiên cường, tuyệt đối tin tưởng vào sự thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến, Đảng bộvà nhân dân các dân tộc Mai Sơn vẫn tích cực tham gia các hoạt động kháng chiến, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Thu Đông năm 1952, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, với mục đích: Tiêu diệt sinh lực địch; giải phóng cho nhân dân các dân tộc Tây Bắc; giành lại vùng đất rộng lớn của Tây Bắc; tạo thế và lực cho cách mạng nước bạn Lào.

Ngày 14 tháng 10 năm 1952 chiến dịch Tây Bắc chính thức bắt đầu. Sau 11 ngày đêm chiến đấu, toàn bộ phòng tuyến vòng ngoài của địch từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà đã bị đập tan. Lực lượng chủ lực của ta gồm 6 trung đoàn lần lượt bóc từng "chiếc áo giáp sắt" của địch dọc đường 41. Trước nguy cơ phá sản chiến lược phòng thủ và bị đánh bật khỏi vùng Tây Bắc, thực dân Pháp đã vội vã tăng cường thêm 10 tiểu đoàn cùng với đám tàn quân co cụm về Nà Sản, lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, tổ chức xây dựng Nà Sản thành cứ điểm mạnh, là "con đê chắn sóng" hòng chắn giữ con đường 41 (quốc lộ 6), chia cắt Sơn La với Yên Châu, Mộc Châu, khống chế Mặt trận Thượng Lào và Lai Châu.


Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính, quân dân các dân tộc Mai Sơn phối hợp với 12 tiểu đoàn quân chủ lực thuộc các đại đoàn 308, 312, 316 đã nhất loạt đứng lên phá trại tập trung, diệt bọn tề gian, trở về bản quán của mình, làm cho đội ngũ quân địch hoảng loạn và hoang mang đến cực độ. Thừa thắng xông lên tiến công các cứ điểm xung quanh Nà Sản, tiêu diệt và làm bị thương hơn 404 tên địch, bắt sống và gọi hàng 266 tên, thu 218 súng các loại... buộc thực dân Pháp phải bỏ Nà Sản tháo chạy ngày 12 tháng 8 năm 1953, "Tập đoàn cứ điểm Nà Sản - bức tường thép thứ 2 ở Tây Bắc..." phá sản. Trong chiến công này, quân dân Mai Sơn đã đóng góp một phần quan trọng không chỉ bằng của cải vật chất mà bằng cả xương máu, điển hình trong đó là sự đóng góp của quân dân các xã Cò Nòi, Mường Bon, Mường Bủng, Hát Lót, Chiềng Lương, Chiềng Mung... Giải phóng Nà Sản, giải phóng Mai Sơn, Sơn La, tuyến đường huyết mạch chi viện cho cả chiến trường Tây Bắc và Thượng Lào được khai thông.


Tháng 12 năm 1952, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy và Tỉnh ủy Sơn La, Mai Sơn đã tích cực khắc phục hậu quả Chiến tranh, phục hồi sản xuất, từng bước mở rộng, củng cố vùng giải phóng chuẩn bị cơ sở vật chất, lương thực, thực phẩm phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ và hàng vạn bộ đội, dân công, thanh niên xung phong ở khắp các địa phương được huy động lên chiến trường Tây Bắc. Hàng trăm con em các dân tộc Mai Sơn đã tham gia các chiến dịch mở đường, vận chuyển lương thực, súng đạn phục vụ chiến dịch và gia nhập các lực lượng vũ trang, tham gia các trận đánh tại các mặt trận Bắc Lào, Mộc Châu... góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thực dân Pháp cho rằng, Cò Nòi là giao điểm của hai con đường giao thông trọng yếu chi viện lên Điện Biên Phủ. Hòng cản bước tiến của ta, chúng đã biến nơi đây thành trọng điểm bắn phá của máy bay địch. Theo ngành công binh Việt Nam tổng kết: Tại đèo Lũng Lô địch thả xuống đây mỗi ngày trên 31 tấn bom, bến phà Tạ Khoa là trên 13 tấn, đèo Pha Đin là trên 17 tấn. Trong đó ngã ba Cò Nòi là điểm nút, trọng điểm ác liệt nhất, nhằm cắt đứt con đường huyết mạch của ta, chúng ném xuống đây với mật độ bom dày đặc. Cứ 13 phút chúng lại tổ chức đánh phá một lần, có ngày chúng thả xuống đây 300 quả bom các loại, như: Bom phá, bom nổ chậm,bom napan, bom bươm bướm, không ngày nào vắng tiếng bom, chúng đánh dồn dập, tập trung vào điểm nút ngã ba Cò Nòi hòng biến ngã ba Cò Nòi thành một bãi lầy, đã phải hứng chịu hơn 69 tấn bom các loại mỗi ngày.


Trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhất là trong chiến dịch Tây Bắc, quân dân Mai Sơn đã tham gia chiến đấu (cả độc lập và phối thuộc) trên 200 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 894 tên địch, trong đó có 8 sĩ quan Âu - Phi, làm tan rã toàn bộ hệ thống ngụy quân, ngụy quyền cơ sở, góp phần quan trọng vào chiến công chung của dân tộc. Trong đó chiến thắng Nà Sản đã mở ra một cục diện mới cho cả chiến trường Tây Bắc, từ đây Mai Sơn thực sự là căn cứ hậu cần lớn mạnh phục vụ tổng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.


Trong suốt những năm tháng kháng chiến trên mảnh đất quê hương, trong chiến dịch "Mở đường thắng lợi" với quy mô lớn, hàng trăm nam, nữ thanh niên Mai Sơn tham gia cùng với lực lượng thanh niên xung phong mở đường 13 (quốc lộ 37 ngày nay) dài hơn 100 km nối liền Sơn La với Yên Bái, bất chấp máy bay địch ngày đêm tăng cường đánh phá, họ vẫn kiên cường bám trụ trên tuyến đường để san lấp hố bom, tải thương, chuyển đạn, lương thực, thực phẩm từ ngoài vào các tổng kho trung chuyển chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Trọng điểm ngã ba Cò Nòi là nơi hơn 100 nam, nữ thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh vì tuyến đường chi viện từ Việt Bắc sang chiến trường Tây Bắc.


Từ những đóng góp trên của quân và dân Mai Sơn trong chiến dịch Tây Bắc, có thể khẳng định rằng, những đóng góp, hy sinh đó là hết sức lớn lao, rất đáng trân trọng. Tuy ta chưa chiến thắng trọn vẹn việc tiêu diệt cứ điểm Nà Sản, song chiến dịch Tây Bắc, đặc biệt là chiến trường Nà Sản đã cho ta nhiều kinh nghiệm, nhiều bài học quý giá về tổ chức đánh công kiên vào các cứ điểm, kinh nghiệm tiến, lùi trong các trận đánh, Nà Sản cho ta hình dung được đầy đủ về một kiểu co cụm lớn theo kiểu tập đoàn cứ điểm, cho ta thấy được điểm mạnh, điểm yêu của ta và của địch, giúp cho ta rút ra được những bài học lớn trên chiến trường, từ đó tìm ra những cách đánh, cách phòng thủ phù hợp, hạn chế được những hy sinh, mất mát. Và trong chiến dịch này cũng đã để lại cho Đáng, Nhà nước ta nói chung, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Mai Sơn nói riêng bài học quý giá về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Nhờ kịp thời tổng kết kinh nghiệm chiến dịch Tây Bắc, chiến trường Nà Sản, mà Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết định chính xác tư tưởng chỉ đạo, diễn biến và thắng lợi cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ, đó là cách đánh.


Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhiều đơn vị, cá nhân được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như Đảng bộ, nhân dân xã Mường Chanh; Đảng bộ và nhân dân xã Cò Nòi; Đảng bộ và nhân dân xã Mường Bằng; Liệt sĩ Hà Văn Ang, Lò Văn Hắc (Mường Chanh) và 172 huân, huy chương kháng chiến hạng nhất, nhì; 11 kỷ niệm chương cho cán bộ cách mạng bị bắt và bị tù đày; 25 bằng khen của Chính phủ.


Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mai Sơn được Đảng, Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, năm 2001.

Từ những thành tích trên cho chúng ta thấy rằng trong khó khăn gian khổ, nhân dân các dân tộc Mai Sơn đã không sợ hy sinh, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm giải phóng quê hương... Đó là truyền thống yêu quê hương, đất nước của nhân dân các dân tộc Mai Sơn. với truyền thống đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mai Sơn sẽ thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới của Đảng, phấn đấu xây dựng quê hương Mai Sơn cách mạng ngày càng giàu đẹp, đạt danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM