Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:08:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33077 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #110 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:35:37 pm »

Tại Quảng Yên, Hải Ninh ngay trong ngày 14 tháng 10 khi chiến dịch Tây Bắc bắt đầu, Đại đội 908 và 911 đã tập kích tiêu diệt gọn 1 đại đội Bảo chính đoàn ở Đông Xá. Ngày 15 tháng 10, các đại đội 910, 911 và 923 đã tổ chức chống càn đạt hiệu quả tiêu diệt hơn 500 tên tại xã Văn Đức, Duy Linh, Duy Tân, Giang Hạ. Trong tháng 12, quân và dân các địa phương liên tục phục kích ở Đông Triều, Chí Linh, An Lạc, Văn Đức, Tân Dân, tiêu diệt quân địch và giải tán các hội tề, dõng ở Đông Triều, Đáp Khê, Phả Lại.


Khi đợt 1 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, ngày 28 tháng 10, quân Pháp mở cuộc hành quân Loren gồm 3 binh đoàn với 20 tiểu đoàn bộ binh, lính thủy đánh bộ cùng cơ giới tiến đánh lên Phú Thọ. Cuộc hành quân nhằm phá hoại hậu phương chiến dịch, ngăn cản lực lượng của ta chi viện cho chiến trường Tây Bắc và thu hút lực lượng chủ lực của ta về ứng cứu. Tiểu đoàn 183 thuộc Trung đoàn 246 cùng Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308, Trung đoàn 176 thuộc Đại đoàn 316 được giao nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương cùng nhân dân liên tục tổ chức chặn đánh địch.


Từ ngày 8 đến ngày 25 tháng 11, chiến sự liên tiếp diễn ra trên địa bàn các huyện Phù Ninh, Lâm Thao. Ta tổ chức nhiều trận phục kích chặn đánh địch ở Chân Mộng, Năng Yên, Trạm Thản, trên đường từ Phù Ninh về Hạc Trì, địch thiệt hại nặng. Sau gần 18 ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt 1.800 tên, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, đến ngày 25 tháng 11 địch buộc phải rút khỏi Phú Thọ.


Tại Vĩnh Phúc, ngày 16 tháng 11, Tiểu đoàn 185 thuộc Trung đoàn 246 (liên khu) cùng lực lượng vũ trang địa phương tập kích tiêu diệt gọn địch ở Đồi Uy, phục kích tiêu diệt 90 tên khi chúng đưa quân từ Mán Tép sang ứng cứu. Từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 426 (Thái Nguyên) phối hợp với Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 246 đã liên tiếp chặn đánh địch tiến công trên đường số 2 qua địa phận Vĩnh Phúc, đẩy lui nhiều đợt tấn công bằng xe tăng và bộ binh địch. Tổng kết lại, từ cuối tháng 11 đến hết tháng 12 năm 1952, các lực lượng vũ trang Vĩnh Phúc đã đánh 59 trận gồm chống càn, diệt viện, nhổ các vị trí địch, diệt và bắt gọi hàng trên 1.000 tên, phá 20 tháp canh, buộc địch phải thu hẹp phạm vi kiểm soát.


Ngoài công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, Bộ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc đã chỉ đạo các tỉnh làm tốt công tác tổ chức, huy động nhân tài, vật lực cho chiến dịch. Công tác chuẩn bị huy động sức người, sức của bảo đảm cho chiến dịch được liên khu triển khai hết sức khẩn trương, sôi động. Nhờ tích cực, chủ động trong tuyên truyền, cổ động, vận động nhân dân; tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, nên chỉ trong thời gian ngắn, toàn liên khu đã huy động được 4.820 tấn lương thực, hàng trăm tấn thực phẩm, 258 con trâu, bò, hàng nghìn xe đạp thồ, 2 phà, 432 thuyền mảng. Các tỉnh trong liên khu đã huy động 76.000 lượt dân công tham gia đóng góp hàng trăm vạn ngày công để sửa chữa, mở rộng và làm mới hàng trăm kilômét đường giao thông từ Cao Bằng xuống Thái Nguyên sang Tuyên Quang, Yên Bái; tu sửa 20km đường sắt từ Yên Bái đến Mậu A; cải tạo, mở rộng bốn bãi tuyến vận tải thuỷ sông Hồng từ Phú Thọ - Đoan Hùng - Yên Bái - Mậu A, để vận chuyển kịp thời hơn 5.000 tấn lương thực, thực phẩm, 127 tấn đạn cho tiền tuyến. Trên hướng chính từ Yên Bái đến Phân khu Nghĩa Lộ đã có 24.840 dân công cùng hành quân theo bộ đội, đảm nhận vận chuyển trên 1.000 tấn lương thực, thực phẩm và hàng trăm tấn đạn, cứu thương, tải thương trực tiếp phục vụ cho các đơn vị chiến đấu (riêng đợt 1 của chiến dịch đã có 1.014 bộ đội bị thương). Trên tuyến đường tiếp tế từ Cao Bằng về Thái Nguyên sang Tuyên Quang đi Yên Bái, dân công hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã huy động hơn 60 vạn ngày công để tu sửa đường, làm đường vòng tránh Đèo Giàng và tham gia vận chuyển hàng hoá, bảo đảm giao thông vận chuyển kịp thời cho chiến dịch. Trên các cung chặng vận chuyển, đặc biệt là những đoạn đường phải tu sửa, làm mới từ Đèo Giàng đến Mỹ Vi, Chợ Mới đến Nà Cù, từ Bắc Kạn sang Tuyên Quang, từ Yên Bái lên Tây Bắc liên tục bị máy bay địch đánh phá ác liệt. Một số cầu, cống, ngầm, bến phà bị phá hỏng nhiều lần, gây ùn tắc giao thông hàng chục ngày. Lực lượng phòng không của các tỉnh, đã cùng dân công bám trụ kiên quyết đánh trả máy bay địch, làm giảm hiệu quá ném bom của chúng. Ngoài dùng hoả lực khống chế máy bay, các đơn vị còn tổ chức tốt việc nguỵ trang, mở nhiều đường vòng, tránh để nghi binh lừa địch, nhờ vậy đã tiết kiệm được 70% công sức của dân công, bảo đảm an toàn cho những đoàn quân cơ động ra tiền tuyến và dân công đi phục vụ chiến dịch.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc với kết quả đạt được vượt ngoài dự kiến. Trong chiến công chung, quân và dân Việt Bắc đã đóng góp một phần đáng kể đế chiến dịch giành thắng lợi. Hàng nghìn thanh niên trai tráng của Việt Bắc đã tình nguyện tòng quân, gia nhập các đại đoàn chủ lực để trực tiếp lên chiến trường Tây Bắc chiến đấu, trong số đó đã có nhiều người con ưu tú của núi rừng Việt Bắc đã hy sinh, cống hiến tuổi thanh xuân của mình để giải phóng Tây Bắc. Các tỉnh trên địa bàn Việt Bắc mặc dù còn khó khăn, thiếu thốn đã huy động tối đa sức người, sức của để chi viện cho tiền tuyến. Phối hợp với chiến trường Tây Bắc lực lượng vũ trang Liên khu Việt Bắc đã đánh 622 trận lớn nhỏ, diệt 2.270 tên, làm bị thương hàng nghìn tên khác, bắt và gọi hàng hơn 500 tên; thu và phá hủy nhiều vũ khí trang bị; phá 30 km đường giao thông, cất 109 km dây thông tin, bắn cháy 54 xe ô tô các loại, 11 xe tăng, thiết giáp, 1 ca nô, 1 phà. Trong chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến sĩ dã dũng cảm, kiên cường, hy sinh vì quê hương, đất nước. Chỉ tính trong 3 tháng cuối năm 1952, lực lượng vũ trang liên khu có 126 đồng chí hy sinh, 114 đồng chí bị địch bắt, 58 đồng chí bị mất tích.


Nhân dân các dân tộc Việt Bắc vốn có lòng yêu nước nồng nàn, dù khó khăn gian khổ đến đâu vẫn không chùn bước, không quản hy sinh, một lòng một dạ theo Đảng, theo cách mạng, đóng góp sức người, sức của, tất cả cho tiền tuyến; thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập đó"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H 2009 tr 480 - 481). Nhân dân các dân tộc Việt Bắc thật xứng đáng là tấm gương sáng vì độc lập, vì tự do, xứng đáng với lời khen của Bác "Làm kiểu mẫu trong việc động viên nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến..."2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd. tr.435).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #111 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:39:58 pm »

Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá về nghệ thuật chỉ đạo, điều hành và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng của chiến tranh nhân dân, đặc biệt là về nghệ thuật tác chiến việc tổ chức bảo đảm, phối hợp hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng vũ trang và nhân dân trên khắp các chiến trường... Trong chiến dịch Tây Bắc, Liên khu Việt Bắc tuy không được xác định là chiến trường phối hợp sau lưng địch như Liên khu 3, nhưng những hoạt động bảo vệ an toàn căn cứ kháng chiến Trung ương, giữ bí mật trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch; nghi binh và tổ chức chiến đấu kìm chân, ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch: huy động sức người, sức của bảo đảm mọi mặt cho tiền tuyến... đã góp phần to lớn cho chiến dịch toàn thắng. Những bài học rút ra từ hoạt động tác chiến của quân và dân Liên khu Việt Bắc trong chiến dịch Tây Bắc Thu Đông năm 1952 cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị để vận dụng vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Thứ nhất: Phải xây dựng hệ thống căn cứ địa trên cơ sở khu vực phòng thủ vững chắc, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh.

Từ thực tiễn và vai trò của căn cứ địa Việt Bắc trong chiến tranh giải phóng cho thấy: không có chỗ đứng chân, không có căn cứ địa và khu giải phóng thì cách mạng không thể thành công, kháng chiến không thể thắng lợi. Trong kháng chiến, căn cứ địa rất được coi trọng; hệ thống căn cứ địa của các quân khu, chiến khu, liên khu trong cả nước được xây dựng và phát triển rộng khắp ở cả vùng rừng núi, trung du,đồng bằng và ven đô thị. Từ chỗ xây dựng cơ sở an toàn khu, giành quyền làm chủ ở rừng núi, ở nông thôn trên các địa bàn trọng yếu, ta còn xây dựng được các căn cứ ở đồng bằng, thậm chí ngay sau lưng địch. Căn cứ địa đã thực sự là hậu phương tại chỗ vững chắc, là nơi củng cố sức chiến đấu, là bàn đạp để tổ chức tiến hành các chiến dịch và bảo đảm tác chiến, thắng lợi.


Ngày nay, chúng ta đang sống trong hoà bình, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn ngụy cơ chiến tranh. Trong tương lai, nếu chiến tranh xảy ra, chúng ta sẽ phải đối mặt với cuộc chiến tranh công nghệ cao, kẻ thù sẽ sử dụng những vũ khí, trang bị hiện đại, không gian chiến trường rộng mở, không xác định được rõ ràng đâu là tiền tuyến, đâu là hậu phương. Việc bảo toàn lực lượng và vũ khí trang bị, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, ngay từ thời bình, từ Trung ương tới địa phương, trên địa bàn của từng quân khu phải thường xuyên chăm lo xây dựng hệ thống căn cứ vững chắc, sẵn sàng đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ theo hướng cơ bản, liên hoàn, vững chắc, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, xây dựng kinh tế làm trung tâm, quốc phòng - an ninh làm trọng yếu; coi trọng việc kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Phát huy thế mạnh của từng địa phương, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, tạo nền tảng bền vững trong khu vực phòng thủ, phát huy mọi tiềm năng, tạo ra mặt bằng tổng hợp vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh. Các đơn vị chủ lực cần phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng; bổ sung hoàn thiện các kế hoạch, phương án phòng thủ. Các địa phương cần không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, điều hành quân lý của chính quyền, trình độ tham mưu của cơ quan quân sự và các ban, ngành, đoàn thể địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.


Thứ hai: Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh làm nòng cốt của quốc phòng toàn dân và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Nhiệm vụ cơ bản của lực lượng vũ trang là chiến đấu giành và giữ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ nhân dân, Đảng và chế độ. Vì vậy, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang cũng phải được quan tâm, xây dựng vững mạnh, chú trọng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bảo đảm có bản lĩnh vững vàng, luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, có sức chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu cao. Bộ đội chủ lực của quân khu là lực lượng cơ động tác chiến độc lập, hoặc hiệp đồng quân binh chủng, phối hợp với các lực lượng vũ trang tại chỗ để tiến hành các chiến dịch phòng ngự, phản công, tiến công tiêu diệt địch. Trong thời bình, các đơn vị chủ lực của quân khu cần biên chế gọn, có số lượng hợp lý, trang bị ngày càng hiện đại; tổ chức huấn luyện thuần thục, có trình độ kỹ, chiến thuật giỏi; sẵn sàng chiến đấu cao, có sức cơ động nhanh, thành thạo tác chiến trên các địa bàn, trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết bằng các loại vũ khí có trong biên chế và được tăng cường. Bộ đội địa phương là lực lượng chủ yếu, nòng cốt trong hoạt động tác chiến giữ vững khu vực phòng thủ tỉnh, huyện. Vì vậy, phải xây dựng lực lượng bộ đội địa phương vững mạnh toàn diện thực sự là lực lượng chủ lực cơ động chiến đấu trên địa bàn đế làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân địa phương. Bộ đội địa phương phải có khả năng vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu độc lập tác chiến bảo vệ khu vực phòng thủ; có thể tăng cường phối hợp chiến đấu với chủ lực trong các chiến dịch phản công, tiến công trên địa bàn; khi có điều kiện tổ chức các trận đánh tập trung tiêu diệt lực lượng cấp tiểu đoàn, đại đội địch, chủ yếu là cấp đại đội.


Phải xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Lực lượng dân quân tự vệ phải được xây dựng, tổ chức bố trí đều khắp ở các điểm dân cư, được trang bị ngày càng tốt, được huấn luyện chu đáo, được dân nuôi dưỡng, bảo đảm tại chỗ và chiến đấu tại chỗ tốt theo phương châm làng giữ làng, xã giữ xã.


Thứ ba: Phải kết hợp chặt chẽ hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các đơn vị chủ lực.

Trong chiến tranh giải phóng, sự kết hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của bộ đội chủ lực rất được coi trọng kể cả phối hợp trực tiếp trên chiến trường chính và phối hợp gián tiếp ở chiến trường sau lưng địch. Sự phối hợp đó đã tạo ra một hình thức chiến tranh nhân dân với thế trận cài xen rất hiểm hóc có phản tuyến mà không phân tuyến, quân địch bị chia cắt, bao vây, bị tiến công từ mọi phía, buộc phải phân tán đối phó khắp mọi nơi, đông hoá ít, mạnh hoá yếu dẫn đến bị tiêu diệt. Trong tương lai nếu chiến tranh xảy ra, các hình thức tác chiến sẽ diễn ra trên nền tảng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố và thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đã được chuẩn bị sẵn từ thời bình. Để tiêu hao, tiêu diệt địch giữ vững địa bàn, ngoài những trận đánh lớn có quy mô chiến lược, chiến dịch, chúng ta vẫn phải chú trọng tới tác chiến rộng khắp của lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn tác chiến chủ yếu và cả trên địa bàn phối hợp chiến đấu sau lưng địch. Phải tạo sự phối, kết hợp,hiệp đồng chặt chẽ mọi thành phần lực lượng, từ đó phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân cho tác chiến phòng thủ bảo vệ địa phương cũng như khi bộ đội chủ lực mở các chiến dịch và hoạt động tác chiến trên địa bàn. Hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương phải thống nhất với tác chiến của các đơn vị chủ lực theo một kế hoạch chung. Bộ đội chủ lực phải dìu dắt giúp đỡ, bồi dưỡng về trình độ kỹ chiến thuật, nâng cao khả năng tác chiến cho lực lượng vũ trang địa phương, tham gia phát động quần chúng, khi cần có thể phân tán một phần lực lượng làm nòng cốt cho phong trào Chiến tranh nhân dân. Lực lượng vũ trang địa phương cần đẩy mạnh các hoạt động thường xuyên, rộng khắp với quy mô nhỏ để quấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân; mở các đợt hoạt động hoặc chiến dịch địa phương để thu hút, kìm chân lực lượng cơ động địch, tạo thế cho chủ lực tiến công tiêu diệt địch ở chiến trường chính, đồng thời phải hết sức tranh thủ thời cơ thuận lợi do các đòn tiến công của chủ lực tạo ra để đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở địa phương. Có như vậy, mới tạo được thế bao vây uy hiếp, căng kéo địch, tiêu hao, tiêu diệt địch rộng khắp, tạo điều kiện cho chủ lực đánh những đòn quyết định để kết thúc chiến dịch.


Thứ tư: Phải thường xuyên chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực bảo đảm cho nhu cầu tác chiến.

Thực tế trong chiến tranh giải phóng cho thấy, hậu phương vững chắc nhất là lòng dân, trước hết phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phải có sự giúp đỡ, ủng hộ của dân mới bền vững lâu dài. Mặc dù điều kiện kinh tế lúc bấy giờ rất khó khăn, nhưng do làm tốt công tác xây dựng cơ sở chính trị, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ngay từ thôn bản; có sự tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, nên trong từng chiến dịch cũng như suốt cả quá trình kháng chiến, nhân dân cả nước nói chung và nhân dân các dân tộc Việt Bắc nói riêng đã huy động đến mức cao nhất nhân tài vật lực cho nhu cầu tác chiến theo tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Có thể khẳng định: biết dựa vào dân, huy động được sức mạnh của toàn dân thực hiện Chiến tranh nhân dân rộng khắp trên cơ sở lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy vũ khí kém hiện đại để thắng hiện đại là điều cơ bản, quyết định để dân tộc ta đánh thắng kẻ thù.


60 năm đã qua, các thế hệ con cháu chúng ta không ai có thể quên được những công lao to lớn mà nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã đóng góp cho thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ nói chung và chiến dịch Tây Bắc nói riêng. Phát huy truyền thống cách mạng, quân và dân Việt Bắc - Quân khu 1 sẽ luôn thấm nhuần sâu sắc những bài học được rút ra từ xương máu của các thế hệ đi trước và vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện mới, không ngừng phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, góp phần cùng toàn Đáng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #112 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:28:09 pm »

QUÂN VÀ DÂN LIÊN KHU 4 VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

Trung tướng NGUYỄN HỮU CƯỜNG
Tư lệnh Quân khu 4


Sau chiến dịch Biên Giới Thu Đông năm 1950 và nhất là sau chiến dịch Hòa Bình đầu năm 1952, cục diện chiến tranh trên chiến trường cả nước thay đổi, ta chuyển sang giai đoạn chủ động phản công, tiến công địch trên các chiến trường, buộc địch càng lún sâu vào thế bị động, phòng ngự. Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương chủ trương tập trung lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với phong trào chiến tranh du kích đang phát triển mạnh ở khắp các vùng địch tạm chiếm. Ngoài ra, chúng ra sức củng cố, chiếm giữ vùng rừng núi Tây Bắc còn lại - một địa bàn chiến lược quan trọng để mở rộng chiến tranh ở Lào, nhằm ổn định tình hình, thoát khỏi thế bị động. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, quân và dân ta đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, mở rộng và củng cố khu căn cứ địa, nối liền Tây Bắc với vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và Việt Bắc,góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dânPháip phát triển lên một giai đoạn mới mang tính quyết định.


Liên khu 4 thời kỳ này có vùng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh và tiền tuyến Bình - Trị - Thiên. Quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh vừa chiến đấu bảo vệ hậu phương, vừa đóng góp sức người, sức của chi viện cho chiến trường chính Bắc Bộ, tiền tuyến Bình - Trị - Thiên và chiến trường Lào. Bình - Trị - Thiên kiên cường bám trụ, chiến đấu giữ đất, giành dân, phá tề, thu hút, phân tán lực lượng địch, tiêu hao, tiêu diệt địch, góp phần không nhỏ cùng cả nước giành thắng lợi hoàn toàn. Liên khu 4 được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá là "căn cứ địa vững chắc thứ hai của cả nước sau Việt Bắc". Trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952, quân và dân Liên khu 4 đã vượt qua nhiều khó khăn, hy sinh, gian khổ, vừa huy động một lực lượng to lớn cả về sức người và sức của ở hậu phương chi viện cho chiến dịch, vừa tích cực chủ động chiến đấu, thu hút, phân tán lực lượng địch ở tiền tuyến đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.


Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy giao, tháng 5 năm 1951, Đại hội Đảng bộ liên khu đã đề ra hai nhiệm vụ chính của toàn liên khu là tiếp tục xây dựng lực lượng quân sự, tiêu diệt sinh lực địch và đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là sản xuất lương thực, bảo đảm cung cấp nhu cầu cho tiền tuyến, cải thiện dân sinh. Đối với hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, Đại hội nhấn mạnh: "Tiếp tục động viên nhân tài, vật lực phục vụ tiền tuyến, phục vụ chiến trường chính, chiến trường Bình - Trị - Thiên và Lào, cung cấp lương thực, dân công, cán bộ chiến sĩ...; đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cung cấp cho tiền tuyến, xây dựng 3 tỉnh thành hậu phương vững chắc, bảo đảm cho kháng chiến lâu dài. Thanh - Nghệ - Tĩnh phải đảm nhiệm cả trước mắt và lâu dài nhiệm vụ cung cấp phần lớn nhân lực và vật lực cho Quân đội, nên việc đẩy mạnh sản xuất ở Thanh - Nghệ - Tĩnh là tối quan trọng".


Sau chiến dịch Quang Trung, tháng 6 năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái vào kiểm tra tình hình và giao nhiệm vụ cho Liên khu 4. Đại tướng chỉ rõ Liên khu 4 có vị trí và vai trò rất quan trọng, một mặt vẫn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến ở Bình - Trị - Thiên, mặt khác "Liên khu vừa phải tập trung sự nỗ lực cao nhất xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh - Nghệ - Tình, vừa sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ, cho các chiến trường Binh - Trị - Thiên, Tây Bắc và Thượng Lào". Triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao, Liên khu ủy đã xác định quyết tâm, động viên quân và dân toàn liên khu đoàn kết, khắc phục khó khăn, gian khổ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp, vừa xây dựng lực lượng đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, tiêu diệt sinh lực địch bảo vệ hậu phương, góp phần phân tán lực lượng dịch, vừa thi đua lao động sản xuất cả lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa chi viện cho các chiến trường mà trực tiếp là phục vụ cho chiến trường Tây Bắc.


Bước sang năm 1952, mặc dù ở trong thế bị động và buộc phải đối phó ở khắp nơi, song được Mỹ làm hậu thuẫn, thực dân Pháp vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lược.

Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, quân Pháp đã tiến hành hàng trăm cuộc hành quân càn quét, những cuộc càn quét này diễn ra ác liệt hơn cả về quy mô và cường độ đánh phá, chúng thi hành những chính sách tàn bạo như "phú sạch, đốt sạch, cướp sạch" để tiêu diệt lực lượng và khủng bố tinh thần của nhân dân ta. Cuộc đấu tranh ở Mặt trận Bình - Trị - Thiên diễn ra giằng co, quyết liệt, các lực lượng vũ trang đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, mở nhiều đợt hoạt động như tiến công địch ở Nam Đông (Thừa Thiên), Hà Thanh, Đông Hà (Quảng Trị), Bố Trạch, Quảng Trạch (Quảng Bình)... tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và củng cố thế đứng chân vững chắc cho ta, buộc quân Pháp phải thay đổi thế bố trí lực lượng, bổ sung thêm quân để đối phó, tăng cường càn quét, bắt lính hòng giành lại những vị trí đã mất và củng cố vùng đang chiếm giữ. Đây là một thắng lợi của quân và dân ta xét trên cục diện chiến trường cả nước, vì ta đã thu hút một lực lượng lớn quân Pháp ở Đông Dương, thực hiện chủ trương phân tán, dàn mỏng lực lượng địch để tiêu diệt. Bộ Tư lệnh Mặt trận Bình - Trị - Thiên chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động quân sự phối hợp với chiến trường chính, nhiệm vụ trọng tâm là tiêu diệt sinh lực địch, kiềm chế quân ứng chiến, phá chính sách tổng động viên của địch, bảo vệ mùa màng và bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu sản xuất lương thực.


Đối với vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, một địa bàn rộng lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với cả ta và địch, tuy nhiên do bị rơi vào thế bị động trên toàn chiến trường, nên quân Pháp khó có thể thôn tính được, nhưng chúng lại tăng cường thực hiện âm mưu phá hoại và càng đánh phá toàn diện hơn, hòng làm cho tiềm lực kinh tế kháng chiến của ta bị suy yếu, chúng cho máy bay ném bom phá hoại các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất như các đập nước, đê điều, kho tàng và các cơ sở kinh tế, quốc phòng như đập Bái Thượng ở Thanh Hoá, đập Ba Ra Đô Lương ở Nghệ An, cống Trung Lương ở Hà Tĩnh, làm cho 125.000 mẫu ruộng bị hạn hán, úng lụt. Đồng thời chúng cấu kết với bọn tay sai, phản động gây ra các vụ phản loạn ở Tràng Nứa, Xã Đoài (Nghệ An), Thạch Hà, Hương Khê (Hà Tĩnh), Ba Làng, Hòn Mê (Thanh Hoá)... và cho biệt kích đánh phá nhiều địa bàn phía tây và ven biển các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh. Thực hiện chủ trương của Đảng và Quân ủy Trung ương, Đảng bộ, chính quyền các cấp Liên khu 4 anh dũng, mưu trí chiến đấu, kiên quyết bảo vệ, xây dựng và củng cố hậu phương thành chỗ dựa vững chắc cho tiền tuyến, phát huy sức mạnh về quân sự, kinh tế, chính trị, nêu cao tinh thần cảnh giác, kịp thời đánh bại các hành động phá hoại của địch, củng cố vững chắc các tuyến phòng thủ ven biển và vùng biên giới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #113 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:30:36 pm »

Hưởng ứng phong trào chung của cả nước, từ cuối tháng 3 năm 1952, Liên khu 4 phát động cuộc vận động toàn dân hăng hái thi đua sản xuất, tiết kiệm chào mừng ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí thế "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Nhân dân các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và vùng căn cứ du kích Bình - Trị - Thiên thi đua khắc phục mọi khó khăn, hăng hái lao động sản xuất, tăng năng suất lao động cả trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất hàng hoá công nghiệp để đóng góp nhiều hơn cho kháng chiến. Cuộc đại vận động này diễn ra rất sôi nối, rộng khắp, đã thu hút hàng triệu đồng bào trong Liên khu 4 tham gia, đạt hiệu quả cao cả về bề rộng và chiều sâu, thu được nhiều lương thực, thực phẩm,hàng hóa tiêu dùng, nhờ đó nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến ngày càng được bảo đảm hơn cả về số lượng và chất lượng.


Cường độ đánh phá của địch vào hậu phương Thanh - Nghệ - Tinh và vùng tự do, vùng căn cứ Bình - Tri - Thiên diễn ra ngày càng ác liệt, giặc Pháp tiến hành "cuộc chiến tranh lúa gạo" hòng triệt phá nguồn lương thực, thực phẩm cho kháng chiến, chúng đánh nống ra các vùng, cắt đứt đường giao thông, chặn các con đường tiếp tế ra vào các khu căn cứ. Mặt khác, nhận thấy vị trí của hậu phương là nhân tố quyết định trong việc cung cấp sức người, sức của cho các mặt trận, nhất là trong việc phục vụ trực tiếp cho các chiến dịch lớn, giặc Pháp đã dùng máy bay ném bom, bắn phá hầu hết các công trình thuỷ lợi lùng sục, đốt phá các kho tàng để ngăn chặn nguồn tiếp tế của hậu phương Thanh - Nghệ -Tĩnh, gây đói kém để nhân dân giảm sút tinh thần chiến đấu.


Vượt lên trên tất cả những khó khăn, ác liệt, quân và dân ở hậu phương Liên khu 4 đã thể hiện sức sống mãnh liệt của lực lượng kháng chiến. Đảng bộ và chính quyền các cấp trong liên khu đã huy động hàng vạn lượt dân công tham gia chống thiên tai địch họa, khắc phục hậu quả chiến tranh, hàn gắn những đoạn đê, cầu cống xung yếu, sửa chữa các công trình thuỷ lợi, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất. Nông dân hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An thực hiện tiêu úng, cấy được 147.000 mẫu lúa, nông dân Hà Tĩnh đã đào được hàng nghìn mét mương tưới nước, cấy thêm được 4.143 mẫu lúa. Thiếu sức kéo, nhân dân các huyện Nghĩa Đàn, Diễn Châu, Anh Sơn, Hưng Nguyên đã cuốc hàng trăm mẫu đất để gieo cây.


Năm 1952 là năm đầu tiên thực hiện chính sách thu thuế nông nghiệp, cùng với cuộc vận động thi đua sản xuất, tiết kiệm, Liên khu 4 được Trung ương giao mức thuế nông nghiệp vụ chiếm xuân 1952 là 110.000 tấn thóc, tăng gấp 3 lần so với số lượng tạm thu cuối năm 1951. Nhận thức rõ trách nhiệm của hậu phương đối với tiền tuyến, Liên khu ủy đã phát động phong trào giao nộp thuế đủ và đúng thời hạn đã trở thành một phong trào thi đua yêu nước rộng rãi, các cấp bộ Đảng và chính quyền vận động nhân dân phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đối với sự nghiệp đánh giặc cứu nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế ủng hộ kháng chiến thành công, do vậy các tỉnh Thanh Hóa. Nghệ An đạt được 80-90% chỉ tiêu, riêng Hà Tĩnh sau 2 đợt tiến hành thu đã đạt 89% chỉ tiêu liên khu giao.


Song song với nhiệm vụ huy động đóng góp lương thực và các loại vật lực khác cho các chiến trường, Liên khu 4 đã huy động một lực lượng lớn sức người, sức của phục vụ cho chiến dịch tây Bắc, từ tháng 5 năm 1952, Khu ủy, Bộ Tư lệnh liên khu đã huy động trên 45.000 nhân công, 90 xe trâu bò kéo, 550 xe đạp thồ và 4 xe ô tô chạy bằng than của hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa; mở và sửa tuyến đường từ Thanh Hóa qua Hồi Xuân lên ngã ba Sang dài 190 km. Đây là lần đầu tiên liên khu sử dụng ô tô, xe đạp thồ vào việc vận chuyển phục vụ cho chiến dịch. Tháng 7 năm 1952, thực hiện quy định mới của Hội đồng Chính phủ, Liên khu ủy 4 thành lập Hội đồng Cung cấp mặt trận sau đó các tỉnh cũng thành lập Ban huy động dân công để huy động nhanh và nhiều nhất sức người, sức của cho chiến dịch.


Để đáp ứng yêu cầu về lực lượng cho chiến trường, tỉnh Nghệ An đã điều 3.852 tân binh và 7 đại đội bổ sung cho các mặt trận. Các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh huy động 35.000 dân công cùng với các đơn vị sửa đường và vận tải hàng tiếp tế cho chiến dịch Tây Bắc. Riêng tỉnh Nghệ An, từ tháng 4 năm 1952 đã huy động 30.000 dân công làm nhiệm vụ vận tải từ hậu phương ra tiền tuyến, trực tiếp phục vụ hướng đường 41 từ Hòa Bình đi Sơn La, tỉnh đảm nhiệm vận chuyển 1.000 tấn lương thực cung cấp cho tiền phương và chuẩn bị 2.100 tấn lương thực để cung cấp cho dân công trong hai tháng. Đoàn dân công Nghệ An vượt qua nhiều khó khăn, vất vả và ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển được giao. Hai tháng liền xuyên rừng, lội suối, đạn, bom, bệnh tật nhưng cán bộ, chiến sĩ dân công đã vượt qua tất cả, bám sát đội hình chiến đấu của các đại đoàn chủ lực, vượt Suối Rút, qua đường 12 lên Mộc Châu, Cò Nòi, Hát Lót, Yên Châu, Ba Hang, Sơn La hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ chiến dịch.


Phong trào tuyển quân, đi dân công ở các địa phương trong toàn liên khu diễn ra rất sôi nổi, không ngừng tăng cường lực lượng cho các chiến trường. Năm 1950, liên khu có 20 vạn người đăng ký xung phong tòng quân, riêng Nghệ An, Hà Tĩnh có 12 vạn người, đến chiến dịch Tây Bắc có hàng vạn bộ đội, dân công là con em của đồng bào liên khu trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, mặc dù lực lượng vũ trang kháng chiến đã tiêu diệt được nhiều vị trí quan trọng ở bắc Quảng Bình, nam Thừa Thiên nhưng lực lượng địch vẫn còn nhiều và chúng thay đổi phương thức hoạt động mở nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô vừa và nhỏ đan xen, liên tục đánh sâu vào vùng căn cứ du kích nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng giành lại thế chủ động. Hè thu năm 1952, chúng liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân phản kích với quy mô lớn và dài ngày đánh vào các vùng căn cứ của ta, quân và dân Bình - Trị - Thiên đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, anh dũng chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn một vạn tên địch, bức rút trên 20 đồn bốt và 6 tháp canh, lực lượng vũ trang ba thứ quân được củng cố, phong trào chiến tranh du kích được củng cố và tiếp tục phát triển, phá âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của địch.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định chính thức mở chiến dịch Tây Bắc. Liên khu ủy 4 triệu tập hội nghị nhằm triển khai nhiệm vụ phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, đề ra biện pháp đẩy mạnh hoạt động quân sự trên chiến trường Bình - Trị - Thiên cho phù hợp với tình hình mới, phát triển chiến tranh du kích, thu hút và tiêu hao sinh lực địch, hỗ trợ cho chiến trường chính và huy động cao nhất sức người, sức của của hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh chi viện cho chiến dịch Tây Bắc. Các cấp ủy trong lực lượng vũ trang liên khu phát động phong trào thi đua giết giặc lập công và kìm giữ lực lượng quân ứng chiến, đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị và kinh tế, góp phần cùng với các chiến trường khác tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, cổ vũ nhân dân trong toàn liên khu phấn khởi tin tưởng vào thắng lợi, vượt qua tất cả mọi khó khăn, hăng hái tham gia kháng chiến.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #114 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:35:05 pm »

Đáp ứng lời kêu gọi của Mặt trận Tây Bắc, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh mặc dù cùng một lúc phải trực tiếp chi viện cho nhiều mặt trận: Bình - Trị - Thiên, Liên khu 5,chiến trường Lào, song chỉ trong một thời gian ngắn, đã tập trung triển khai nhiệm vụ chi viện hậu cần cho chiến dịch theo sự phân công của Bộ chỉ huy mặt trận, tổ chức nhiều đoàn dân công tiếp tế cho chiến dịch đạt và vượt chỉ tiêu, yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa đã huy động tới 180.196 lượt dân công với trên ba triệu ngày công. Dân công đã phá đá mở đường và vận chuyển trên 20.000 tấn lương thực, thực phẩm lên Tây Bắc. Hai tỉnh đã huy động 9.350 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt cùng nhiều thực phẩm các loại. Trong điều kiện đường sá xa xôi, địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, hàng vạn dân công đã cùng bộ đội bí mật mở đường, huy động các phương tiện hiện có cùng với gùi thồ, gồng gánh, vận chuyển hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, vũ khí hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến dịch.


Sau gần hai tháng chiến đấu (từ 14-10 đến 10-12-1952), chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, quân và dân ta đã giải phóng đại bộ phận địa bàn Tây Bắc rộng 28.500 km2 với trên 25 vạn dân, mở rộng và củng cố căn cứ địa, tạo điều kiện cho các chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục đẩy mạnh phản công, tiến công địch. Thắng lợi của chiến dịch đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của quân và dân Liên khu 4. Quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh tiếp tục củng cố hậu phương, chi viện cho tiền tuyến và xây dựng lực lượng chặn đánh các cuộc tập kích, phản kích của địch. Phong trào chiến tranh du kích ở Mặt trận Bình - Tri - Thiên tiếp tục được củng cố và phát triển, quân và dân ta vừa chủ động chống địch càn quét, bảo vệ nhân dân, vừa phân tán lực lượng tiêu diệt nhiều đồn hốt, phá vành đai trắng, mở rộng vùng tự do. Quân và dân Liên khu 4 tự hào đã vượt qua nhiều hy sinh, gian khổ góp phần quan trọng cùng với quân và dân cả nước anh dũng chiến đấu để chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi. Với những thành tích trực tiếp phục vụ chiến dịch Tây Bắc, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa vinh dự được Hồ Chủ tịch và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Hai.


Với vai trò vừa là tiền tuyến, tổ chức xây dựng lực lượng, trực tiếp chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực dịch, vừa là hậu phương chi viện cho các chiến trường, chỉ trong một thời gian ngắn, quân và dân Liên khu 4 đã huy động được một số lượng lớn cả về nhân lực, vật lực chi viện cho chiến dịch Tây Bắc góp phần không nhỏ vào thắng lợi của chiến dịch, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được vận dụng thành công trong những năm cuối của kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay:


Một là, thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vận dụng sáng tạo đường lối chính trị, quân sự của Đảng vào thực hiện nhiệm vụ trên giao. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, hướng nhân dân một lòng, một dạ đi theo Đảng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong những nhân tố hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi.


Hai là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, trước hết là thế trận lòng dân phải không ngừng được củng cố và ngày càng vững chắc; bảo đảm vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu; vừa sản xuất, củng cố xây dựng tại chỗ và chi viện kịp thời cho các hướng chiến trường.


Ba là, xây dựng và không ngừng củng cố hậu cần liên khu ngày càng vững mạnh, hình thành thế trận hậu cần rộng khắp đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; huy động nguồn lực tổng hợp của toàn quân và toàn dân để phục vụ chiến dịch.


Bốn là, xác định đúng vai trò, vị trí của địa bàn là hậu phương chiến lược của cả nước, nơi tập trung nhân tài, vật lực; có khi là bàn đạp xuất phát tiến công của các lực lượng trong các chiến dịch, trên các hướng chiến trường. Do đó phải thường xuyên quan tâm xây dựng căn cứ địa cách mạng, căn cứ hậu cần chiến lược để luôn luôn chủ động, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ trên giao.


Suốt chặng đường đấu tranh đầy gian khổ, hv sinh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt là trong những năm cuối của cuộc kháng chiến, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta dốc sức, dốc lòng, huy động toàn bộ lực lượng để giáng những đòn quyết định trong các chiến dịch nối tiếp nhau từ năm 1952 đến năm 1954 và đi đến thắng lợi cuối cùng trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ; quân và dân Liên khu 4 vinh dự, tự hào được Đáng, Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ và đã hoàn thành xuất sắc vai trò vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương chiến lược của cả nước, góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #115 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:39:43 pm »

QUÂN VÀ DÂN THANH HÓA VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá ĐẶNG TRỌNG QUÂN
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa


Với vị thế cửa ngõ vùng tự do, phía Bắc giáp với chiến trường Bắc Bộ, trên hành lang chiến lược nối liền vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh với Tây Bắc thủ đô kháng chiến, Thanh Hóa vừa là căn cứ địa vừa là chiến trường. Do vị trí giáp ranh với chiến trường nên Thanh Hóa luôn ở vào tình trạng có thể xảy ra chiến sự và thường xuyên bị địch ném bom, bắn phá, tiến hành các hoạt động phá hoại bằng gián điệp, hoặc gây dựng các ổ nhóm phản động. Tình hình đó đã đặt ra trước Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa cùng một lúc hai nhiệm vụ hết sức nặng nề là: đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến. Trong chiến dịch Tây Bắc, quân và dân Thanh Hóa đã có những đóng góp đáng kể, cụ thể, Trung ương giao cho Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Liên khu 3 cùng tập trung chi viện sức người sức của cho chiến trường chính.


Trước khi bước vào thực hiện nhiệm vụ vận chuyển phục vụ chiến dịch Tây Bắc, tháng 5 năm 1952, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 4 đã huy động trên 45.000 nhân công, 90 xe trâu bò kéo, 550 xe đạp thồ và xe ô tô chạy bằng than của Nghệ An và Thanh Hóa mở, sửa tuyến đường từ Thanh Hóa qua Hồi Xuân lên ngã ba Sang dài 190km. Đây là lần đầu tiên liên khu sử dụng ô tô, xe đạp thồ vào việc mở đường và phục vụ cho chiến dịch1 (Lịch sử hậu cần lực lượng vũ trangQuân khu 4, Nxb Quân đội nhân dân, tr 139).


Trước yêu cầu của chiến dịch, Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương (do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo thành lập ngày 15-7-1950, là tổ chức đầu tiên, khai sinh cho các tổ chức thanh niên xung phong sau này), trong đó có lực lượng thanh niên xung phong Thanh Hóa hăng hái lên đường làm nhiệm vụ sửa chữa cầu đường, vận chuyển lương thực, thuốc men đạn dược ra mặt trận.


Tổng kết 3 tháng phục vụ chiến dịch Tây Bắc, nhiều tập thể, cá nhân thanh niên xung phong được khen thưởng. Liên phân đội Tô Hiệu được thưởng Huân chương và Cờ thi đua khá nhất của Hồ Chủ tịch. Liên phân đội 3 (trong đó có rất nhiều thanh niên xung phong Thanh Hóa) có nhiều thành tích phá bom nổ chậm, bảo đảm giao thông được thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba và được mang tên Hăngri Mactanh - người thanh niên Pháp tiêu biểu đã anh dũng đấu tranh phán đối cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam2 (Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Thanh Hóa thời kỳ 1945-1954, Nxb Thanh Hóa, tr 440).


Một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mà cũng là thành quả to lớn mà quân và dân Thanh Hóa đã đóng góp cho chiến dịch là hoàn thành xuất sắc công tác hậu cần,công tác vận chuyển lương thực, thực phẩm, hàng hóa và vũ khí... trong đó lực lượng dân công là nòng cốt; đã cung cấp cho chiến dịch 99.897 dân công dài hạn và 41.703 dân công ngắn hạn, chiếm 70% số dân công của toàn chiến địch. Trong thời gian đầu, việc huy động dân công gặp rất nhiều khó khăn, bọn phản động chui vào các đoàn dân công ngấm ngầm kích động những người kém giác ngộ bỏ ngũ nhằm phá kế hoạch phục vụ chiến dịch. Nhưng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy dựa vào quần chúng nhân dân, cùng với các chiến sĩ công an đã nhanh chóng phát hiện phá tan âm mưu của chúng. Công tác giáo dụcchính trịtư tưởng, tuyên truyền thi đua, bảo đảm vật chất, chăm sóc sức khỏe được tiến hành chặt chẽ, vì thế, phong trào xung phong đi dân công phát triển rầm rộ trong các ngành và đoàn thể quần chúng. Thanh niên rèn luyện sức khỏe để được đi dân công, hoãn cưới hỏi đế kịp đi chiến dịch. Các đoàn dân công hăng hái, phấn khởi lên đường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong thực hiện nhiệm vụ, đoàn dân công tiếp vận của Thanh Hóa luôn hoàn thành và vượt mức kế hoạch trên giao, được Bác Hồ tặng cờ "Phục vụ tiền tuyến khá nhất".


Để động viên kịp thời đội ngũ dân công tham gia chiến dịch, chính quyền các cấp và các tổ chức đoàn thể đã tạo điều kiện cho lực lượng dân công hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, động viên khuyến khích nhân dân trong tỉnh tích cực ủng hộ vật chất cho những người đang trực tiếp làm nhiệm vụ. Nhân dân ở hậu phương đã nêu cao tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Toàn tỉnh đã giúp những gia đình có người đi dân công hỏa tuyến hàng chục nghìn công tát nước, cấy hàng nghìn mẫu ruộng và hoa màu. Đây chính là nguồn động viên khích lệ vô cùng to lớn của nhân dân Thanh Hóa dành cho lực lượng dân công tỉnh nhà, những người có "bước đi vạn dặm, vai vác ngàn cân" góp phần làm nên thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc.


Khẳng định Thanh Hóa là kho người, kho của vùng bắc Trung Bộ, là nơi phát tích dân công hỏa tuyến với xe thồ huyền thoại, đồng thời là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm lớn cho các mặt trận quả không sai. Đợt 1 của chiến dịch Tây Bắc, Thanh Hóa đã huy động gần 2 vạn dân công vận chuyển 2.000 tấn gạo từ Vạn Mai qua Suối Rút (sở chỉ huy hậu cần chiến địch phía tây nam) theo đường Xồm Lồm - Cò Nòi lên Mộc Châu (Tây Bắc)1 (Lịch sử hậu cần lực lượng vũ trang Quân khu 4. Nxb Quân đội nhân dân. tr. 138-139). Với thành tích này, Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Hai cho Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa.


Đợt 2 của chiến dịch, chiến trường mở rộng, công tác vận chuyển khó khăn hơn nhiều, nhất là trên tuyến chủ yếu. Từ hữu ngạn sông Hồng qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười, đường rừng núi nhỏ hẹp, nhiều suối, nhiều dốc. Trời liên tục đổ mưa, sông, suối ngập nước gây cản trở cho việc đi lại. Trong khi đó, lực lượng hành quân của gần 2 đại đoàn và các đơn vị binh chủng đã hơn 20.000 người. Số lượng người di chuyển đông, lại có cả pháo binh mang vác nặng nề, cồng kềnh, di chuyển trên một tuyến đường độc đạo nên tình trạng ùn tắc xảy ra thường xuyên. Công tác tải lương vì thế cũng không hoàn thành đúng tiến độ, làm cho khẩu phần của bộ đội bị giảm sút nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định bỏ tuyến vận chuyển Khâu Vác, huy động dân công gấp rút sửachữa đường 13, nối thông từ Phú Thọ lên... Đồng thời, đường 14 từ Hồi Xuân (Quan Hóa - Thanh Hóa) lên Xồm Lồm cùng được sửa chữa để vận chuyển gạo từ Thanh Hóa, Nghệ An ra. Lúc này, Ban cán sự đường 41 (do một đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đại diện Tổng cục phía Nam, làm Trưởng ban) đã huy động được từ Thanh Hóa và Ninh Bình 5.254 tấn gạo. Trong quá trình vận chuyển, nhận thấy việc gồng gánh trên đường đèo dốc ít hiệu quả mà lại tốn nhiều sức lực, dân công Thanh Hóa đã có sáng kiến dùng xe đạp thồ thay quang gánh. Nhờ đó, mức vận chuyển tăng lên gấp 5 đến 10 lần so với việc sử dụng quang gánh. Từ sau chiến dịch Tây Bắc cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, xe đạp thồ đã trở thành một phương tiện vận chuyển quan trọng1 (Trích dẫn theo Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6/2012, tr. 43). Theo Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ riêng chiến dịch Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An và một sốđịa phương khác đã cung cấp cho chiến dịch 9.350 tấn gạo, 164 tấn muối, 71 tấn thực phẩm...


Có được sự đóng góp to lớn và có tính quyết định nêu trên chính là vì trong suốt những năm tháng kháng chiến lâu dài, gian khổ, Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể cùng quân và dân Thanh Hóa đã xây dựng tỉnh nhà thành một căn cứ hậu phương chiến lược, có nền kinh tế kháng chiến phát triển, đặc biệt là về sản xuất nông nghiệp, có sự nghiệp văn hóa, giáo dục ngày càng được coi trọng, củng cố và nâng cao. Điều đó được thể hiện ngay từ đầu kháng chiến, đặc biệt từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua ái quốc, hoạt động sản xuất trên tất cả các lĩnh vực được đẩy mạnh, nhất là sản xuất nông nghiệp.


Ở nông thôn dấy lên phong trào tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm không chỉ đủ ăn mà còn góp phần nuôi quân tại chỗ và cung cấp cho các chiến trường. Với khẩu hiệu "Tất cả để chiến thắng, sản xuất là hàng đầu", nông dân suốt ngày đêm lăn lộn trên đồng ruộng, làm thay phần việc cho người đi bộ đội, đi dân công phục vụ hỏa tuyến. Phụ nữ sản xuất thay chồng con đi chiến đấu. Phong trào sản xuất tiết kiệm đã thấm sâu vào tiềm thức của quần chúng. Từ năm 1952, cuộc "Đại vận động sản xuất và tiết kiệm", tăng năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, học tập chiến sĩ thi đua nông nghiệp Trịnh Xuân Bái được phát động rầm rộ khắp các địa phương, xí nghiệp. Các đơn vị bộ đội, dân quân tự vệ thành lập các trại sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm, góp phần quan trọng xây dựng tiềm lực kinh tế và chi viện đắc lực cho chiến trường đánh thắng. Và trên hết, lòng yêu nước, quyết tâm kháng chiến của bộ đội, các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc Thanh Hóa chính là động lực tạo nên sức mạnh, tạo ra khối lượng của cải vật chất vô cùng lớn để đóng góp vào thắng lợi của cả nước nói chung, chiến dịch Tây Bắc nói riêng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #116 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:43:10 pm »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH YÊN BÁI
THAM GIA CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH YÊN BÁI


Yên Bái là tỉnh miền núi ở phía tây bắc của Tổ quốc, nằm sâu trong căn cứ địa Việt Bắc, cách Thủ đô Hà Nội 180km. Phía bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía đông giáp tỉnh Tuyên Quang, phía nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu. Yên Bái có một vị trí địa lý quan trọng mà lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ xa xưa Yên Bái đã nổi tiếng là mảnh đất trù phú và tươi đẹp với những con người cần cù, trung hậu dũng cảm và giàu lòng yêu nước, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất. Với diện tích tự nhiên là 6.899,49 km2; dân số trên 75 vạn người, Yên Bái gồm 30 dân tộc anh em cùng chung sống với nhau từ lâu đời.


Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dưới ách thống trị của chúng, nhân dân Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng không cam chịu nô lệ, liên tiếp vùng dậy cầm vũ khí để giải phóng dân tộc. Một trong những chiến thắng tiêu biểu mở toang cánh cửa vào Tây Bắc, tạo bàn đạp cho quân và dân ta tiến vào giải phóng Điện Biên Phủ năm 1954 đó là chiến thắng Nghĩa Lộ ngày 18 tháng 10 năm 1952:


Nghĩa Lộ là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng thuộc vùng cửa ngõ phía Đông đi vào vùng Tây Bắc của Tổ quốc. Là một địa danh không những có truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc đậm nét mà còn có truyền thống yêu nước và cách mạng. Tiêu biểu là cuộc chiến đấu chống giặc Cờ Vàng do thủ lĩnh Cầm Hãnh đứng đầu và cuộc kháng chiến chống Pháp do Tuần phủ Nguyễn Quang Bích lãnh đạo, cùng các nghĩa quân đã lấy Nghĩa Lộ - Mường Lò làm căn cứ chiến đấu, anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược vào những năm cuối thế kỷ XIX.


Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, xác định Nghĩa Lộ có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực miền núi Tây Bắc, thực dân Pháp đã tăng cường lực lượng chiếm đóng, đẩy mạnh xây dựng bộ máy cai trị tay sai của chúng ở vùng đất này. Đến tháng 10 năm 1947, sau khi hoàn thành đánh chiếm lại Nghĩa Lộ (lần 2), thực dân Pháp đã khôi phục ngay hệ thống cai trị của chúng, xây dựng Nghĩa Lộ trở thành phân khu quân sự mạnh nhất trong 4 phân khu của địch án ngữ cửa ngõ phía Đông vùng Tây Bắc. Phân khu Nghĩa Lộ gồm 4 tiểu khu là Nghĩa Lộ, Ba Khe, Gia Hội, Than Uyên; Tiểu khu Nghĩa Lộ là nơi đặt sở chỉ huy phân khu của địch có hệ thống đồn bốt đày đặc, sân bay, hầm ngầm kiên cố với cứ điểm Nghĩa Lộ phố và cứ điểm Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồi) bao quát thung lũng Mường Lò với gần 1.000 quân chiếm giữ.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy Yên Bái, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thà hy sinh tất cá chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Đảng bộ huyện Văn Chấn đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ - Văn Chấn nhất tề đứng dậy đi theo Đảng, Bác Hồ xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở khắp vùng thấp, vùng cao trong huyện.


Trong bối cảnh đó, đầu tháng 10 năm 1951, bộ đội chủ lực của ta đã mở chiến dịch Lý Thường Kiệt. Từ ngày 1 tháng 10 đến đêm 9 tháng 10 quân ta liên tiếp tấn công địch ở Bản Tú, đồn Nghĩa Lộ và đồn Cửa Nhì, làm cho địch tổn thất rất nặng nề. Bộ đội ta đã tiêu diệt và bắt sống gần 2 tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng; mở rộng vùng địch hậu, nối lại các cơ sở từ Ca Vịnh, Ba Khe vào Nghĩa Lộ.


Đầu năm 1952, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới, có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Trên cơ sơ so sánh lực lượng và đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, với quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế Lào - Vân Nam (Trung Quốc), tạo điều kiện phát triển cách mạng Lào. Đợt 1 sẽ tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Phân khu Nghĩa Lộ, giải phóng Nghĩa Lộ; đợt 2 sẽ nhanh chóng tiến sang Sơn La, cô lập làm rối loạn hậu phương của địch.


Theo kế hoạch của Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc, để chuẩn bị cho chiến dịch mở màn, các lực lượng vũ trang huyện Văn Chấn, Trấn Yên cùng các đại đội 85, 87, 97 của tính vừa trinh sát đánh địch vừa bảo vệ các đường liên lạc vào vùng địch như đường 13, đường từ Mậu A qua đèo Khâu Vác. Nhân dân tỉnh Yên Bái đã cung cấp cho mặt trận 730 tấn gạo, 662 con trâu, bò, 386 con lợn, 72 tấn muối, 16 tấn đậu, lạc, vừng, đóng góp 1.000 dân công đi một tháng, 2.312 dân công đi trong 7 ngày. Tổ chức phục hồi đoạn đường xe lửa từ Yên Bái đi Lang Thíp, khai thông 100 km đường từ chợ Hiên vào Nghĩa Lộ trong hoàn cảnh địch đánh phá dữ dội (122 tấn bom nổ ngay, 12 tấn bom nổ chậm). Khai thác hàng nghìn mét khối gỗ, phá hơn 3 vạn khối đất đá, làm và bảo vệ đường vận tải cho chiến dịch. Vận chuyển 47.309 tấn hàng qua sông Hồng, huy động 430 thuyên, mảng để chở bộ đội, chở pháo sang sông.


Trung đoàn 88, 102, Đại đoàn 308 - đại đoàn quân chủ lực đầu tiên của quân đội ta, từ bến vượt theo đường Đại Bục, Khâu Vác vào vị trí xuất phát tấn công Nghĩa Lộ; Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 từ bến vượt qua đèo Bụt tiến sát Cửa Nhì. Trung đoàn 209, 165 Đại đoàn 312 bao vây Gia Hội. Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 vào Sài Lương chuẩn bị chiến đấu.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu. Để tạo thế và lực cho mũi tiến công chính vào các cứ điểm kiên cố của Phân khu Nghĩa Lộ, Trung đoàn 141 (Đại đoàn 316) tiến công vị trí Sài Lương, Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) tiến công đồn Ca Vịnh. Địch vội vàng rút quân khỏi các đồn Thượng Bằng La, Ba Khe ve cứu ngụy cho Nghĩa Lộ.


17 giờ 5 phút ngày 17 tháng 10, bộ đội ta bắt đầu tiến công vào cứ điểm Nghĩa Lộ. Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Pú Chạng (tức Nghĩa Lộ đồi) - Nơi đặt sở chỉ huy phân khu của địch. Sau hơn 3 giờ chiến đấu ác liệt, quân và dân ta đã hoàn toàn làm chủ cứ điểm này tiêu diệt và bắt 400 tên địch, trong đó có tên quan tư Tiriông, chỉ huy trưởng phân khu, thu toàn bộ vũ khí quân trang, quân dụng.


3 giờ 5 phút sáng ngày 18 tháng 10, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 nổ súng tiến công cứ điểm Nghĩa Lộ phố. Địch dựa vào hầm ngầm, lô cốt kiên cố điên cuồng chống cự nhưng với sức tiến công mạnh mẽ, áp đảo, chỉ sau 2 giờ 20 phút chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt và bắt toàn bộ 280 tên địch, thu nhiều vũ khí chiến lợi phẩm. 5 giờ 30 phút ngày 18 tháng 10, sau 12 giờ chiến đấu ác liệt hai cứ điểm kiên cố nhất của Phân khu Nghĩa Lộ đã bị xóa số. Đêm 18 tháng 10 năm 1952, quân ta tiếp tục tiến công vị trí Cửa Nhì, tiêu diệt và bắt gần 250 tên địch. Bọn địch ở Gia Hội vội rút lên Tú Lệ và tháo chạy sang Sơn La. Bộ đội Sư đoàn 312 bám sát truy kích địch, tiêu diệt và bắt giữ gần 400 tên. Nghĩa Lộ và các xã trong huyện Văn Chấn được hoàn toàn giải phóng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #117 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:45:20 pm »

Chiến dịch Tây Bắc mở màn thắng lợi, Nghĩa Lộ, Văn Chấn và tỉnh Yên Bái được giải phóng hoàn toàn khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Chiến thắng Nghĩa Lộ có ý nghĩa hết sức to lớn: Đã đập tan mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ sông Đà của địch, mở thông đường vào Tây Bắc, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc; làm tiền đề thuận lợi cho các chiến dịch tiếp theo; tạo thế và lực cho trận quyết chiến, quyết thắng ở Điện Biên Phủ sau này.


Chiến thắng Nghĩa Lộ là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sức mạnh cả về ý chí, tinh thần và vật chất của một dân tộc khát khao độc lập, tự do, không cam chịu nô lệ. Chiến thắng Nghĩa Lộ là một mốc son trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn nói riêng. Từ đây nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ và tỉnh Yên Bái được giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chế độ thực dân bao đời nay, làm thất bại âm mưu của địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Chiến thắng Nghĩa Lộ một sự kiện có ý nghĩa về chính trị, xã hội, quân sự, ảnh hưởng sâu rộng trong toàn tỉnh Yên Bái và các vùng lân cận.


Sau ngày quê hương được giải phóng, nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ đã phát huy truyền thống đoàn kết, khẩn trương bắt tay vào khôi phục, xây dựng, ổn định cuộc sống mới. Cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể được củng cố kịp thời lãnh đạo nhân dân thực hiện giảm tô, cải cách ruộng đất, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, đánh bại âm mưu gây phỉ, bạo động của địch, củng cố vững chắc vùng giải phóng, tiếp tục đóng góp to lớn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Văn Chấn, nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ hăng hái đi dân công tham gia mở đường 13A; vận chuyển hàng nghìn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm qua đèo Lũng Lô phục vụ chiến dịch. Nhiều thanh niên người Thái, Tày, Mường đã hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc, hy sinh anh dũng góp phần to lớn cùng quân, dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.


Ghi nhận những chiến công, đóng góp, cống hiến to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang thị trấn Nghĩa Lộ (nay là thị xã Nghĩa Lộ).


Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cách mạng nước ta chuyển sang một giai đoạn mới, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh đòi hòa bình thống nhất Tổ quốc. Đảng bộ chính quyền và nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ tập trung sức phát triển kinh tế - văn hóa, củng cố xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thế, lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác quốc phòng toàn dân, tiếp tục đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược mới của đế quốc Mỹ. Với khẩu hiệu "Tay cày, tay súng", quân và dân Nghĩa Lộ đã chiến đấu dũng cảm chống lại các trận ném bom phá hoại của máy bay Mỹ vào thị xã, bắn cháy 1 máy bay phản lực của Mỹ, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta; hàng nghìn thanh niên Nghĩa Lộ đã lên đường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp phần làm nên chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cùng cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Hiện nay, để tôn vinh chiến thắng Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã cho xây dựng cụm tượng đài chiến thắng Nghĩa Lộ và Nhà tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong chiến dịch giải phóng Nghĩa Lộ tháng 10 năm 1952, bên cạnh có Đài tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng vượt ngục hy sinh tại Căng Nghĩa Lộ ngày 17 tháng 3 năm 1945. Ngày 27 tháng 9 năm 1966, Nhà nước đã ra Quyết định số 24/10/QĐ-VH xếp hạng di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ là cụm di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #118 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:50:16 pm »

CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 CHIẾN THẮNG MANG TẦM VÓC,
Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC

Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp -
Viện Lich sử quân Sự Việt Nam


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), quân và dân ta trên khắp cả nước đã tổ chức và thực hiện 46 chiến dịch1 (Theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Nxb Quân đội nhân dân. H. 2000). Tính theo tuần tự thời gian, chiến dịch Tây Bắc năm 1952 là thứ 37, một chiến dịch tiến công quy mô lớn, trên địa bàn chiến lược quan trọng. Thắng lợi của chiến dịch này có ý nghĩa rất quan trọng cả về quân sự, chính trị và kinh tế, mang tầm vóc, ý nghĩa chiến lược, thế hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau đây:


1. Tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực, làm tan rã hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Bắc.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) nói chung và từng chiến dịch cụ thể nói riêng, mục tiêu hàng đầu đặt ra đối với ta là tiêu hao sinh lực địch. Đồng thời với tiêu hao sinh lực địch, tuỳ theo yêu cầu đặt ra của từng chiến dịch cụ thể chúng ta thực hiện các mục tiêu khác. Chiến dịch Tây Bắc cũng vậy, một trong các mục tiêu chính là tiêu hao sinh lực địch.


Trải qua 3 đợt chiến đấu, mặc dầu trong đợt 3 đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng về tổng thể chiến dịch Tây Bắc ta đã hoàn thành thắng lợi mục tiêu nói trên. Số lượng quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu là 6.029 tên trong đó có 1.005 tên bị tiêu diệt, trong số này có nhiều sĩ quan, binh lính Âu - Phi có "thâm niên" ở Tây Bắc, khá thông thạo phong tục tập quán, ngôn ngữ địa phương. Nhiều tiểu đoàn và đại đội địch bị xoá sổ, hoặc bị thiệt hại nặng, trong số này có các đơn vị lính nguỵ người địa phương - lực lượng đóng vai trò xung kích, cốt yếu để Pháp thực hiện chính sách "chia để tri", "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Thiệt hại vềquân số, tan rã của các đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội, trung đội, v.v. là một tổn thất lớn của địch, song lớn hơn là sự sụp đổ của các phân khu: Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sông Đà, Sơn La và cả toàn khu độc lập Tây Bắc (Zone Autonome Nord Ouest - ZANO). Lực lượng quân địch còn lại ở thị xã Lai Châu và Nà Sản trở nên cô lập, Như vậy, trên thực tế tuyến phòng thủ của Pháp ở Tây Bắc đã bị phá vỡ hoàn toàn.


Cùng với thiệt hại về quân số, địch còn chịu nhiều thiệt hại về vũ khí trang bị. Trong số đó, ta thu được là phần lớn, có 2 khẩu pháo 105mm, 1 pháo 94mm, 1 pháo 75mm, 7 pháo 57mm, 65 súng cối, 33 trọng liên và đại liên. Theo ước tính thì số vũ khí ta thu được trong chiến địch này đủ để trang bị cho nhiều trung đoàn bộ đội ta. Số vũ khí này trở thành "gậy ông đập lưng ông", bộ đội sử dụng đánh địch ngay trong chiến dịch này và cho các chiến dịch sau.


Thành tích về tiêu hao sinh lực địch ở Tây Bắc và các chiến trường phối hợp đã đưa tổng số quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu trong Thu Đông 1952 lên tới 13.800 tên, làm trầm trọng hơn tình trạng thiếu hụt quân số của địch.


Tổn thất về lực lượng và vũ khí, phương tiện Chiến tranh tính toán được về số lượng, biểu thị qua các số liệu thống kê, song tác động tinh thần từ thất bại ở Tây Bắc đối với các cấp chỉ huy và binh lính địch, không tính được, nhưng rất lớn, để lại nhiều hậu quả, di chứng tức thì và về sau.


2. Giải phóng phần lớn đất đai, dân số trên địa bàn chiến lược quan trọng

Giải phóng đất đai, dân số là mục tiêu rất quan trọng đối với chiến dịch Tây Bắc, bởi đây là vùng có nhiều dân tộc thiểu số (Thái, Mông, Tày, Nùng, v.v.) sinh sống, lại ở vị trí tiếp giáp với Việt Bắc - căn cứ địa kháng chiến của cả nước và vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh đang án ngữ đường giao thông liên lạc với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và các tỉnh vùng Thượng Lào.


Tây Bắc là địa bàn có vị thế chiến lược quan trọng trên nhiều phương diện, song cho tới mùa đông 1952, vùng này đang bị quân Pháp chiếm đóng toàn phần. Cùng với việc sử dụng lực lượng quân sự thiết lập hệ thống đồn bốt, chiếm đóng ở hầu hết các vị trí quan trọng, Pháp lập nên cái gọi là Xứ tự trị của người dân tộc thiểu số. Đó là "Xứ Thái tự trị" với 16 châu ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu và "Xứ Nùng tự trị", ở các châu phía tả ngạn sông Hồng thuộc tỉnh Lào Cai. Âm mưu lập các xứ tự trị của người dân tộc thiểu số là nhằm chia rẽ khối đoàn kết cộng đồng các dân tộc ít người và với người Kinh, thực hiện chính sách "chia để trị" "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Đứng đầu Xứ Thái tự trị là một Chúa xứ, kiêm tỉnh trưởng tỉnh Lai Châu. Phòng dân biểu xứ Thái với hơn 70 nghị viên. Tỉnh Sơn La và Phong Thổ có các tỉnh trưởng. Đứng đầu mỗi châu là một tri châu. Dưới chân là mường do các phía, tạo cai quản. Bên cạnh Chúa xứ và tỉnh trưởng có cố vấn người Pháp - người có thực quyền trong xứ và ở mỗi tỉnh. Toàn xứ có 3 tiểu đoàn Thái, do các sĩ quan Pháp trực tiếp chỉ huy và huấn luyện. Ngoài ra còn có các đơn vị vũ trang ở các châu, mường. Tham gia bộ máy chính quyền Xứ Thái tự trị, phần lớn là những người xuất thân từ tầng lớp khá giả, có địa vị. Nhân dân phải công nạp lương thực, thực phẩm, đàn ông có nghĩa vụ đi phu, đi lính. Các châu, mường, bản hàng tuần phải "cung cấp" chị em làm "vợ" cho binh lính ở các đồn bốt. Cùng với đó, chúng tuyên truyền đả kích Việt Minh, đưa lính dõng và bảo an ở địa phương này đi đàn áp, cướp phá ở địa phương khác, gây mâu thuẫn, hiềm khích giữa các dân tộc ít người với nhau và với người Kinh. Xứ tự trị của người dân tộc ở Tây Bắc, trước năm 1952, được Pháp coi là một "thành công điển hình" trong âm mưu chia rẽ dân tộc "dùng người Việt đánh người Việt, lấy Chiến tranh nuôi chiến tranh". Đó là cách nhìn nhận của phía Pháp. Trên thực tế, với việc ra đời các xứ tự trị của người dân tộc, là một trong những nguyên nhân làm cho phong trào đấu tranh cách mạng, kháng chiến chống Pháp của ta ở cáctỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái trong những năm trước năm 1952 gặp rất nhiều khó khăn.


Đối với ta, sau chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 và chiến dịch Hoà Bình (cuối 1951 đầu 1952), về căn bản chúng ta đã làm chủ được vùng Việt Bắc rộng lớn cùng tỉnh Hòa bình, song vùng Tây Bắc vẫn do địch chiếm đóng hầu như toàn bộ. Để tiếp tục giữ vững thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, một vấn đề đặt ra là cần phải giải phóng đất đai và đồng bào các dân tộc trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu khỏi ách chiếm đóng, áp bức bóc lột của thực dân Pháp và bọn tay sai, xây dựng Tây Bắc thành căn cứ địa kháng chiến.


Kết quả của chiến dịch Tây Bắc, vùng giải phóng mở rộng thêm 28.500km2, trong đó có cả 4 cánh đồng rộng lớn "vựa thóc" là Mường Thanh, Nghĩa Lộ, Phù Yên, Than Uyên, cùng với đó là 25 vạn dân. Với vùng giải phóng mới được mở ra, vùng tự do ở Tây Bắc đã lên tới 80% diện tích đất đai và gần 80% dân số. "Xứ tự trị của người dân tộc thiểu số", mà địch đã dày công tạo dựng từ nhiều năm trước đó đã bị đập tan.


Sau khi chiến dịch kết thúc, Tây Bắc chưa hoàn toàn sạch bóng quân thù, nhưng về căn bản Tây Bắc đã được giải phóng, ta hoàn toàn làm chủ vùng đất chiến lược này.

Tây Bắc đã thuộc về ta. Vùng tự do, căn cứ địa kháng chiến của cả nước ở Bắc Bộ được mở rộng, nối liền cả một vùng rộng lớn, bao gồm hầu như toàn bộ vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc; nối thông với Liên khu 3 và vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh; mối liên hệ giữa các địa bàn chiến lược trong nước và quốc tế thêm nhiều thuận lợi, ảnh hưởng trực tiếp có lợi cho công cuộc kháng chiến của Lào.


Như vậy, việc phần lớn đất đai và dân số Tây Bắc được giải phóng, là một thắng lợi có ý nghĩa mang tầm chiến lược. Từ chiến thắng này, Tây Bắc trở thành căn cứ địa, hậu phương cho cuộc chiến đấu của quân và dân ta. Đặc biệt trong Đông - Xuân 1953-1954, vùng giải phóng Tây Bắc có vai trò vị trí vô cùng quan trọng, đây là hậu phương trực tiếp cung cấp sức người sức của rất lớn cho Mặt trận Điện Biên Phủ, đây là địa bàn để các đại đoàn bộ đội và dân công với quân số hàng chục vạn người, dừng chân và trú đóng, chuẩn bị và xuất phát thực hành tiến công địch trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #119 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:52:23 pm »

3. Làm biến chuyển cục diện chiến tranh bất lợi cho địch, có lợi cho ta.

Chiến dịch Tây Bắc kết thúc, địch còn chiếm đóng một số vùng ở Tây Bắc, trong đó quan trọng là Nà Sản. Nhưng đối với Pháp đó là thất bại lớn với nhiều hệ luỵ. Báo Bằng chứng cơ đốc của Pháp viết "Tiếng súng Tây Bắc báo hiệu một mùa đông đáng lo ngại nữa cho Pháp, mùa đông thứ tám của cuộc chiến tranh ngày càng gợi ra những hình ảnh lo âu, thất vọng"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). tập 2, Nxb Quân đội nhân dân,H.1994, tr. 233). Sau chiến dịch Tây Bắc 1952, quân Pháp đang mắc kẹt vào mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng, giữa tiến công ra vùng tự do và phòng ngự ở vùng chúng đang kiểm soát, giữa tập trung ra miền Bắc và phân tán chiếm đóng miền Nam, giữa bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ và bảo vệ Thượng Lào. Quân địch thiếu hẳn một lực lượng cơ động chiến lược để đối phó với lực lượng vũ trang ta trên các chiến trường.


Tây Bắc thuộc về ta, quân Pháp ở Thượng Lào bị uy hiếp mạnh về phía đông, buộc phải điều lực lượng tăng cường cho Sầm Nưa, một địa bàn có vị trí quan trọng ở Thượng Lào. Song, quân địch ở Thượng Lào lâm vào thế cô lập, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho ta và bạn Lào mở chiến dịch tiến công Thượng Lào giành thắng lợi lớn vào đầu mùa hè 1953.


Thắng lợi Tây Bắc mùa đông 1952 là kết quả trực tiếp của gần hai tháng chiến đấu của quân và dân ta ở mặt trận này và cùng là hệ quả 7 năm chiến đấu trước đó của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên cả nước. Thắng lợi chung của toàn quốc trong năm 1952, cùng với chiến thắng Tây Bắc, làm cho cục diện chiến tranh ở Việt Nam nói riêng và toàn Đông Dương nói chung ngày càng biến chuyển mạnh theo chiều hướng có lợi cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Lào và Campuchia, biểu hiện cụ thể là:


Trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng tự do của ta hao gồm hầu hết các tỉnh miền núi rộng lớn ở Việt Bắc, Tây Bắc và tỉnh Hoà Bình thuộc Liên khu 3. Vùng địch tạm chiếm thu hẹp lại trong phạm vi các tỉnh vùng trung du và đồng bằng, duyên hải Đông Bắc và hai khu vực nhỏ ở Tây Bắc là Nà Sản và thị xã Lai Châu. Tại các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi quân Pháp coi là vùng do chúng kiểm soát, nhưng trên thực tế chúng chỉ chiếm được phần nhỏ, đó là các thành phố, thị xã và vùng lân cận cùng các tuyến giao thông quan trọng, còn ở vùng nông thôn rộng lớn là vùng tự do, khu du kích, căn cứ du kích của ta hoặc là vùng tranh chấp.


Ở Trung Bộ, trong các vùng địch chiếm đóng, kể từ Bình - Trị - Thiên cho tới bắc Quảng Nam, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận chiến tranh du kích đều phát triển mạnh. Ở Tây Nguyên, từ ngày 13 đến 28 tháng 1 năm 1953, Liên khu 5 mở chiến dịch An Khê, tiến công khu vực phòng ngự của địch từ đèo An Khê tới thị trấn An Khê thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai, giành thắng lợi lớn nhất từ trước tới đó trên chiến trường Tây Nguyên. Vùng tự do rộng lớn Thanh - Nghệ - Tĩnh ở Liên khu 4 và vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú ở Liên khu 5, ngày càng được củng cố, trở thành hậu phương vững chắc đảm bảo hậu cần tại chỗ và hậu cần chiến lược cho các chiến trường.


Tại Nam Bộ, vùng tự do và các căn cứ địa ở cả Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây vẫn đứng vững trước các cuộc hành quân bình định, đánh phá của địch. Phong trào chiến tranh du kích phát triển sâu rộng đến nhiều địa phương nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm. Cơ sở kháng chiến được gây dựng và mở rộng thêm ở nhiều vùng nông thôn và trong các đô thị.


Các lực lượng vũ trang ta lớn mạnh, trưởng thành hơn về mọi phương diện. Dân quân du kích phát triển rộng khắp các địa phương, nhất là trong vùng địch tạm chiếm, hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả. Bộ đội địa phương căn bản đã đảm nhiệm được nhiệm vụ tác chiến ở địa phương mình. Bộ đội chủ lực lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về chiến thuật đánh vận động, đánh công kiên. Nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến dịch của cấp chiến lược, chiến dịch ngày càng được nâng cao.


Có một vấn đề cần nói rõ thêm là đợt 3 - tiến công Tập đoàn cứ điểm Nà Sản, trong hai đêm (30-11 và 1-12) bộ đội ta đánh 4 trận thì có trận thành công, có trận không thành công, lực lượng ta bị tổn thất, thương vong. Sau các trận đánh đó, chúng ta ngừng tiến công và đến ngày 10 tháng 12, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch. Dựa vào đó, phía Pháp cho rằng chúng ta buộc phải kết thúc chiến dịch. Điều đó hoàn toàn không đúng. Đúng là bộ đội ta gặp khó khăn khi đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản, những trận đánh không thành công ở đợt 3 có ảnh hưởng đến kết quả của chiến dịch, nhưng việc chúng ta kết thúc chiến dịch là hoàn toàn chủ động.


Chiến dịch kết thúc khi chúng ta đã hoàn thành mục tiêu đề ra là tiêu hao sinh lực địch, giải phóng được 80% đất đai và dân số. Vấn đề đặt ra đối với ta ở Tây Bắc thời điểm đầu tháng 12 năm 1952 là không nhất thiết phải đập tan quân địch ở Nà Sản, mà cốt yếu là sau những thắng lợi đã đạt được, cần phải bảo toàn lực lượng bộ đội chủ lực, giữ vững và nhanh chóng xây dựng, củng cố vùng mới giải phóng thành căn cứ địa hậu phương vững chắc để chuẩn bị cho giai đoạn quyết liệt hơn sau đó. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản, vào thời điểm đó ta chưa thể đánh bại được. Song Nà Sản đã lâm vào thế bị bao vây, cô lập hoàn toàn, nhất định sẽ bị đánh bại hoặc địch sẽ phải tự rút bỏ. Thực tế lịch sử đã diễn ra là khi địch ở Thượng Lào bị bộ đội ta và lực lượng vũ trang cách mạng Lào đánh tan tác (5-1953), thì đến đầu tháng 8 năm 1953, quân Pháp buộc phải rút khỏi Nà Sản co cụm về Điện Biên Phủ.


Đánh giá về chiến thắng Tây Bắc, cần xem xét toàn cục, dựa theo các mục tiêu xác định và kết quả, thành công đạt được. Theo đó, chiến thắng Tây Bắc 1952 là rất to lớn, mang tầm vóc, ý nghĩa chiến lược.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM