Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:05:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33268 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #120 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 08:59:14 pm »

CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 - BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG

Đại úy, ThS TRẦN ANH TUẤN
Phó Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
NGUYỄN VĂN BẮC
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cách đây tròn 60 năm, trên chiến trường rừng núi Tây Bắc, quân và dân ta đã lập nên một chiến công vang dội. Đó là giành được thắng lợi hết sức quan trọng trong chiến dịch Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952), loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, đập tan âm mưu củng cố "Xứ Thái", "Xứ Nùng" tự trị của địch... góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân tiếp tục phát triển. Chiến thắng Tây Bắc một lần nữa khẳng định sự nhạy bén, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh cách mạng, đánh dấu bước phát triển mới về tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng.


1. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển hướng tiến công chiến lược đúng đắn, kịp thời.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược "Kiên quyết không ngừng thế tiến công", từ sau chiến dịch Biên Giới (1950), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta liên tiếp mở nhiều chiến dịch tiến công dịch ở vùng đồng bằng và trung du, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo nên thế và lực mới cho cuộc kháng chiến. Sau chiến dịch Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), thế chủ động chiến lược của ta tiếp tục được củng cố, trình độ chỉ huy và trình độ chiến thuật, kỹ thuật của bộ đội ta có bước phát triển mới. Phía Pháp phải thừa nhận rằng: "Chúng ta (quân Pháp) đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta (quân Pháp) ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó đã tạo thế lợi cho đối phương đưa các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân.H.2000. tr. 380). Thắng lợi của ta trong chiến dịch Hòa Bình là cơ sở quan trọng để quân ta tiếp tục giữ thế chủ động tiến công địch, giành những thắng lợi to lớn hơn.


Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra cho Đảng ta lúc này là có tiếp tục tiến công địch ở vùng đồng bằng, trung du nữa không? Thực tế cho thấy, trong năm 1951, trừ chiến dịch Lý Thường Kiệt (10-1951), còn 3 chiến dịch còn lại "ta đều không hoàn toàn đạt được mục đích chiến lược đề ra,nguyên nhân chính là do lúc đó, ta chọn hướng tiến công chiến lược vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ là không đúng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). H 1992. tr.55). Đến chiến dịch Hòa Bình đầu năm 1952, mặc dù ta đã giành được thắng lợi quan trọng, nhưng lúc này trung du và đồng bằng là nơi địch mạnh, phát huy được ưu thế của hỏa lực và có điều kiện thuận lợi để cơ động lực lượng ứng cứu cho nhau. Còn đối với ta, trung du và đồng bằng là nơi bộ đội ta không phát huy được sở trường đánh gần, đánh địch ngoài công sự để giành được những thắng lợi to lớn hơn.


Thực tế đó, mở ra cho Đảng ta suy nghĩ mới: Không nhất thiết phải đánh vào nơi địch mạnh mới thu được thắng lợi, mà cần tập trung lực lượng đánh vào những nơi rất hiểm yếu nhưng địch lại sơ hơ, không đề phòng, mà ta có thể đánh bất ngờ giành thắng lợi, tạo nên rung động thế trận của địch, khiến cho những chỗ mạnh hơn có liên quan của địch trở thành dễ, thành yếu để ta tiếp tục những đòn tiến công tiếp theo. Thế nên, ngay từ cuối chiến dịch Hòa Bình (2-1952), Bộ Chính trị đã có ý định sơ bộ mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc2 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952), Sđd. tr10).


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược, từ tháng 4 năm 1952, cùng với việc chỉ đạo tăng cường, củng cố lực lượng vũ trang, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh xúc tiến ngay công tác chuẩn bị chiến dịch. Ngay sau đó, theo chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, Phòng Quân báo thuộc Bộ Tổng tham mưu và một tiểu đoàn trinh sát của Bộ được lệnh thu thập tình hình về sự bố trí lực lượng của địch ở Tây Bắc, khả năng tăng viện và rút lui của chúng; tình hình cơ sở của chúng ta, khả năng cung cấp tại chỗ, địa hình vùng Tây Bắc...


Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, nghiên cứu kỹ thế bố trí lực lượng giữa ta và địch trên toàn chiến trường, cũng như địa hình, bố trí lực lượng của địch ở Tây Bắc, tháng 8 năm 1952, kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952 mà hướng tiến công chính là Tây Bắc được hoàn chỉnh. Cuối tháng 8 năm 1952, sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch tác chiến chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn thêm: "Đây là lần đầu tiên ta mở chiến dịch lớn, địa hình hiểm trở; cần nắm chắc địa hình và chú trọng thực hiện đúng chính sách dân tộc, giúp đỡ đồng bào dân tộc, bộ đội phải giữ kỷ luật dân vận"1 (Võ Nguyên Giáp Một số ý kiến về kháng chiến chống Pháp, Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh).


Đầu tháng 9 năm 1952, theo đề nghị Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch; tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc; giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Sđd. tr.390). Quyết định chọn hướng Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công, Bộ Chính trị có sự cân nhắc đúng đắn. Ta đưa chủ lực đánh vào một chiến trường rừng núi có tầm quan trọng chiến lược, nơi địch có lực lượng phòng thủ yếu, nhưng hiểm yếu, nơi địch khó phát huy được sức mạnh của pháo binh, không quân, lại là nơi phù hợp với so sánh lực lượng giữa ta và địch, phù hợp trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta. Đúng như nhận định của Tổng Quân ủy: "Trên chiến trường Bắc Bộ lúc này, không có hướng nào địch yếu như Tây Bắc"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân. H. 1995, tr.142).


Do tính chất quan trọng của chiến dịch Tây Bắc, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh mở Hội nghị cán bộ phổ biến quyết tâm chiến dịch. Đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai, trong đó nhiệm vụ chính là tiêu diệt sinh lực địch. Người chỉ thị: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này là phải đánh cho thắng lợi... Quyết tâm đó qua các chú mà đến người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên... Quyết tâm phải thấm nhuần sâu sắc đến mọi người trong bộ đội"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2009, tr 558).


Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 là chiến dịch đầu tiên mà ta chủ động đưa đại quân tiến đánh quân Pháp ở địa hình rừng núi phía tây của đồng bằng Bắc Bộ. Đó là sự chuyển hướng đúng đắn và phù hợp, thể hiện sự nhạy bén của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy trong chỉ đạo chiến lược. Điều đó đã khiến cho tướng Xalăng - Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp cũng bị bất ngờ. Bộ chỉ huy Pháp nhận được báo cáo của Phân khu Nghĩa Lộ có một số biểu hiện khả nghi về sự xuất hiện của chủ lực ta. Tuy vậy, tâm trí của Xalăng vẫn hướng nhiều về cái "đồng bằng có ích" ở Bắc Bộ. Y không tin là ta kéo đại quân lênTây Bắc, không tin là ta kham nổi vấn đề tiếp tế, vận chuyển trên một chiến trường xa xôi, hiểm trở. Cho tới lúc tiếng súng mở màn chiến dịch nổ ra, y vẫn còn thảo một chỉ thị mật gửi cho Đờ Linarét, chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ: "... Nghĩa Lộ và Sơn La đang bị uy hiếp nặng nề, nhưng các yếu tố nắm được chưa cho phép chúng ta có chủ trương... Phải đợi Việt Minh lộ rõ ý định của họ"1 (Trận đánh ba mươi năm (Ký sự lịch sử). Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005, tr 481).


Có thể khẳng định, thắng lợi ta giành được trong chiến dịch tiến công Tây Bắc trước hết là thắng lợi của sự chuyển hướng tiến công chiến lược đúng đắn, kịp thời của Đảng ta. Trong điều kiện ta nắm được quyền chủ động, nhưng chưa đủ ưu thế đế áp đáo, việc chọn hướng chiến dịch lên Tây Bắc - nơi có vị trí chiến lược quan trọng, địch lại tương đối yếu và sơ hở là một quyết định đúng đắn, phù hợp với thực tế chiến trường và bối cảnh chung của cuộc kháng chiến, phù hợp với trình độ tác chiến của bộ ta lúc đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #121 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 09:01:58 pm »

2. Đảng ta đã đề ra mục tiêu chiến dịch đúng đắn, chỉ đạo tác chiến chiến dịch chặt chẽ, linh hoạt.

Thu Đông năm 1952, Bộ Chính trị chủ trương tập trung phần lớn chủ lực cho chiến trường Tây Bắc, nhằm ba mục đích chính: tiêu diệt địch, giải phóng đất, tranh thủ dân. Cả ba nhiệm vụ đó đều quan trọng và có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ chính yếu có vị trí đặc biệt hơn cả là tiêu diệt sinh lực địch. Vì có tiêu diệt sinh lực địch mới giành được dân và giải phóng được đất đai, làm cho chiến dịch thắng lợi to lớn, tạo điều kiện và cơ sở vững chắc để thúc đẩy kháng chiến mau thành công. Đề ra mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch bao gồm cả lực lượng chủ lực tinh nhuệ và quân chiếm đóng, phá tan bộ máy kìm kẹp của địch với việc tranh thủ nhân dân, mở rộng vùng giải phóng, đã thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa quân sự với chính trị trong chiến dịch.


Khác chiến dịch Biên Giới (10-1950), chiến dịch Hòa Bình (2-1952), để thực hiện được mục tiêu chiến dịch, căn cứ vào thế bố trí của địch ở Tây Bắc, Tổng Quân ủy chủ trương chia thành từng khu vực để tiến công, đồng thời tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực để thực hiện đòn tiêu diệt trên các khu vực chủ yếu. Trên khu vực tiến công chủ yếu ta tập trung ưu thế áp đảo địch trong các trận đánh lớn then chốt. Ta chia thời gian chiến dịch thành từng đợt để tập trung sức mạnh hoàn thành dứt điểm nhiệm vụ của mỗi đợt, rồi tiếp tục tập trung sức cho đợt sau. Trong từng đợt, ta chọn thời điểm có lợi nhất nhằm phát huy thế và lực đế giành thắng lợi. Đây chính là nghệ thuật chia địch ra trong từng khoảng không gian và từng thời gian đểtiến công tiêu diệt. Phối hợp với Mặt trận Tây Bắc, ở đồng bằng Bắc Bộ, hướng phòng thủ chủ yếu của địch, nơi chúng tập trung lực lượng cơ động và trang bị kỹ thuật mạnh nhất, Tổng Quân ủy chủ trương sử dụng một bộ phận chủ lực nhất định, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tận dụng thời cơ địch tập trung đối phó với hướng tiến công chủ yếu của ta ở rừng núi; đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát động quần chúng vùng dậy phá tề trừ gian kết hợp với các hình thức đấu tranh chính trị,kinh tế khác, nhằm hạn chế chỗ mạnh của địch và phối hợp, chia lửa với chiến trường chính, tạo ra thế cả nước là một mặt trận, toàn dân đánh giặc.


Kiên trì và quyết tâm không rời tư tưởng giữ vững thế tiến công, trong chiến dịch Tây Bắc, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, quân và dân ta không ngừng tạo ưu thế, nắm quyền chủ động chiến dịch, biết lượng sức, khéo léo phát huy thế mạnh chiến lược của mình đánh vào thế yếu chiến lược của địch, biết khơi sâu mâu thuẫn vốn có của địch giữa tập trung và cơ động, giữa phân tán và chiếm đóng, giữa hành động quân sự với thủ đoạn chính trị. Ta biết kìm chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của địch. Trong các trận đầu của chiến dịch Tây Bắc, khi ta tiến công thì thực hiện đánh dứt điểm, tiến công liên tục, từng bước dồn địch vào thế bị động đối phó.


Nhờ chọn đúng hướng tiến công, xác định đúng đối tượng tác chiến, chỉ đạo tác chiến linh hoạt, ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, kể cả những đơn vị tinh nhuệ, lực lượng chiếm đóng của địch cùng bị đánh bại, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của quân Pháp ở Tây Bắc, tạo điều kiện cho bộ đội ta tranh thủ nhân dân, nâng cao nhận thức của đồng bào các dân tộc Tây Bắc đối với kháng chiến, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.


Trong chiến dịch Tây Bắc, thực hiện phương châm: đánh dài ngày liên tục; đánh chắc, tiến chắc; vây điểm diệt viện, phá điểm, sau 2 đợt tiến công liên tục, ta đã đạt được mục tiêu chiến lược, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, vùng giải phóng mới rộng 28.500km2 với 25 vạn dân đã thuộc về ta. Âm mưu lập "Xứ Thái", "Xứ Mường", "Xứ Nùng" tự trị nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của giặc Pháp bị đập tan. Tây Bắc trở thành căn cứ địa, nối liền với căn cứ Việt Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến lâu dài của ta. Tuy nhiên, trong diễn biến của chiến dịch, cụ thể là trong đợt 3, một vấn đề mới đã xuất hiện, vấn đề này thực sự là khó khăn đối với bộ đội ta, bởi trước đó chúng ta chưa trực tiếp đối diện. Đó là cách đánh tập đoàn cứ điểm.


Bị thất bại và thiệt hại lớn sau 2 đợt tấn công của quân ta địch rút chạy về Nà Sản. Đến ngày 23 tháng 11 năm 1952, địch ở Nà Sản có 8 tiểu đoàn bộ binh và dù, 1 tiểu đoàn pháo, 8 đại đội độc lập, 1 đại đội công binh1 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc. Sđd. tr. 46). Chúng tổ chức thành 1 tập đoàn cứ điểm gồm 24 điểm tựa đại đội và4điểm tựa trung đội trên các điểm cao, ở giữa có sân bay và sở chỉ huy. Nà Sảntrở thành cụm phòng ngự tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch lúc này ở Tây Bắc.


Sau khi Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch phân tích tình hình, trên tinh thần phấn khởi thắng lợi trong 2 đợt đầu, ta hạ quyết tâm: Tập trung lực lượng tiêu diệt dịch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch. Do đây là lần đầu ta đánh tập đoàn cứ điểm, mặc dầu có sự điều chỉnh trong cách đánh, nhưng quyết tâm tiêu diệt cứ điểm Nà Sản của ta đã không thành công, bộ đội bị thương vong. Nhận thấy chưa đủ khả năng tiêu diệt Nà Sản, cần phải có thời gian nghiên cứu kỹ về kiểu phòng ngự mới của địch nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch để tránh thiệt hại lực lượng kháng chiến, đồng thời nhanh chóng chuyển sang nhiệm vụ củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng.


Trước kiểu phòng ngự mới của địch, việc ta chủ động kết thúc sớm chiến dịch đã cho thấy sự tỉnh táo, nhạy bén trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Trung ướng Đảng, trực tiếp là Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch. Điều đó đã khẳng định bản lĩnh vững vàng, sự quyết đoán của người chỉ huy, giúp cho ta tránh được những thiệt hại không đáng có, bảo toàn được lực lượng, giữ vững được khí thế và niềm tin của cán bộ, chiến sĩ. Đúng như Tổng Quân ủy đã nhận định: "Đánh thì không chắc thắng, trong khi đó thì vùng mới giải phóng của ta rất rộng mà chưa được củng cố, cho nên Tổng Quân ủy chủ trương đình chỉ cuộc tiến công Nà Sản và chuyển hướng sang nhiệm vụ củng cố căn cứ địa Tây Bắc để giữ vững những thắng lợi vừa qua"1 (Chiến dịch tiến công Tây Bắc, Sđd. tr 70). Đây là một quyết định kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế, thể hiện nghệ thuật điều hành tác chiến linh hoạt, không chỉ biết chủ động tiến công khi có điều kiện mà còn biết kết thúc đúng lúc vào thời điểm có lợi nhất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #122 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2025, 09:04:04 pm »

3. Chỉ đạo thực hiện thành công nhiệm vụ bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch.

Mở chiến dịch tiến công Tây Bắc, một trong những khó khăn lớn nhất đặt ra cho Trung ương Đảng là phải giải quyết khâu chuẩn bị vật chất, hậu cần cho chiến trường, vì khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế, chiến trường xa căn cư hậu phương, đường vận tải tiếp tế qua núi cao rừng rậm, lắm đèo nhiều dốc. Nhận thấy đây là một vấn đề hết sức quan trọng, quyết định đến thành bại của chiến dịch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo mức cao nhất về vật chất đảm bảo cho bộ đội hoạt động lâu dài, liên tục trong chiến dịch.


Bộ Chính trị quyết định cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách cung cấp tiền phương, đồng thời tăng cường nhiều cán bộ có kinh nghiệm cho bộ phận cung cấp. Do sớm xác định được hướng tiến công chiến lược và dự kiến được đúng những khó khăn, nhất là vấn đề cung cấp hậu cần - kỹ thuật, từ tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng đã chỉ đạo các địa phương khẩn trương sửa chữa, mở thêm các tuyến đường mới và chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Tháng 7 năm 1952, để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ chiến dịch, Chính phủ ban hành bản điều lệ tạm thời về huy động dân công. Tiếp đó, Ban dân công ở các tỉnh cũng được thành lập.


Đến tháng 8 năm 1952, số vũ khí, đạn dược chuẩn bị cho chiến dịch đã bảo đảm đủ. Một hệ thống kho tàng được thiết lập ở vùng Mậu A, Cổ Phúc, Văn Phúc, Giới Phiên, Thạch Kiệt (tả ngạn sông Thao), vùng Suối Rút (Hòa Bình). Đầu tháng 9 năm 1952, các đơn vị tham gia chiến dịch đều được Cục Thông tin liên lạc bổ sung trang bị, bảo đảm liên lạc thống nhất đồng bộ. Trước ngày mở màn chiến dịch, Ban chỉ huy vượt sông đã hoàn thành nhiệm vụ điều hành bộ dội, dân công vượt sông Hồng an toàn, nhanh chóng vào Tây Bắc chiếm lĩnh trận địa; các đơn vị tham gia chiến dịch đều được cấp phát đủ cơ số vũ khí đạn dược.


Nhờ có sự chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, biết phát huy sức mạnh của toàn dân và hệ thống chính quyền các cấp, việc chuẩn bị giao thông, thu gom lương thực phục vụ cho chiến dịch đã thu được kết quả khả quan. Trong chiến dịch Tây Bắc, với phương châm tích cực vận chuyển từ hậu phương (Việt Bắc, Khu 3, Khu 4) lên Tây Bắc, tận dụng khả năng của địa phương, ta đã huy động được 20 vạn lượt dân công phục vụ tiền tuyến cùng 17.750 tấn gạo, 164 tấn muối, 235 tấn thịt, 86 tấn thực phẩm khác, 83 tấn vũ khí, đưa từ Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Thanh Hóa, Hòa Bình lên. Hậu phương tại chỗ của nhân dân vùng mới giải phóng Tây Bắc cũng đã tự nguyện đóng góp 1.140 tấn gạo, hơn 80 tấn thực phẩm và 18 vạn ngày công phục vụ chiến dịch. Nhờ sự đóng góp tích cực của nhân dân, ta đã bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch dài ngày trên rừng núi hiểm trở và cách xa hậu phương.


Để đảm bảo bí mật, bất ngờ, khác với các chiến dịch trước đó, lần này, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương không thực hiện chuyển vật phẩm lên trước lót ổ lập chân hàng, bố trí kho ở khu vực chiến đấu mà phải chuẩn bị sẵn ở tả ngạn sông Hồng. Khi bộ đội vượt sông tiến vào vùng địch, hậu cần - kỹ thuật mới rải trạm vận chuyển phục vụ cho các đơn vị. Do đó, yêu cầu công tác hậu cần - kỹ thuật phải theo sát các mũi tiến công suốt cả quá trình chiến dịch. Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nhưng thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6. Nxb Chính trị quốc gia H 2009 tr 559) với quyết tâm rất cao và bằng nhiều phương thức sáng tạo trong việc tổ chức vận tải, bộ phận cung cấp hậu cần - kỹ thuật đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc. Suốt chiến dịch, lực lượng hậu cần, kỹ thuật không quản ngại khó khăn, hy sinh luôn theo sát bộ đội, phục vụ vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí, thuốc men đảm bảo cho các đơn vị đánh dài ngày, liên tục, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ cứu chữa, chăm sóc thương bệnh binh. Tuy nhiên bên cạnh những thành công, công tác hậu cần còn có những hạn chế nhất định. Do công tác tổ chứcvận chuyển hậu cần chưa kịp thời nên có lúc lương thực và đạn dược thiếu đã ảnh hướng đến nhịp độ tiến công, mức phát triển của chiến dịch.


Thành công của việc huy động nhân lực, vật lực, cũng như công tác tổ chức đảm bảo hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch lớn, dài ngày trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương đã thể hiện bước phát triển mới trong tư tưởng chỉ đạo kháng chiến của Đảng ta, để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý.


Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi trở thành mốc lịch sử trên con đường tiếp tục phát triển thế chủ động chiến lược, giữ vững thế tiến công để nỗ lực chuẩn bị lực lượng giành toàn thắng. Chiến thắng Tây Bắc khẳng định bước phát triển mới trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng; sự phát triển tiến bộ về trình độ chỉ đạo, chỉ huy chiến tranh của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, trực tiếp là Bộ chỉ huy chiến dịch1 (Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch, đồng chí Trần Đăng Ninh làm chủ nhiệm cung cấp chiến dịch). Đó là kết quả của việc nắm vững quy luật vận động cách mạng và chiến tranh giải phóng ở nước ta, đồng thời là sự tiến bộ về nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng của cán bộ các cấp, các đơn vị chủ lực của ta. Về ý nghĩa chiến dịch Tây Bắc, ngày 10 tháng 12 năm 1952, trong hội nghị cán bộ các đơn vị dự chiến dịch, thay mặt Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch đánh giá: "Thu Đông 1952 là thu đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiệp tục giành thế chủ động... Thắng lợi đó đã rèn luyện nhiều cho bộ đội ta vẽ kỹ thuật, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường lực lượng kháng chiến của nhân dân, nâng cao lòng tin tưởng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối với Đảng và Hồ Chủ tịch..."1 (Báo cáo kế hoạchtác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963, tập 2, tr. 217).


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là cơ sở quan trọng giúp cho Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy củng cố, xây dựng quyết tâm mang tính chiến lược: Tây Bắc sẽ là điểm quyết chiến chiến lược trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #123 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:42:59 pm »

CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952
NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ LỚN

Thiếu tướng, PGS, TS TRỊNH VƯƠNG HỒNG
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Nhớ về miền Tây Bắc, nhắc đến chiến thắng Tây Bắc 1952, hẳn cảm xúc hào sảng lại về với mọi người bởi lời thơ bất hủ trong bài ca hùng tráng viết về Tây Bắc: Qua miền Tây Bắc...

   "Bộ đội ta vâng lệnh Cha già
   Về đây giải phóng quê nhà...
   Quân với dân một lòng,
   Không phản miền xuôi ngược,
   Cùng đồng tâm tiêu diệt hết quân thù...".


Chiến dịch Tây Bắc 1952 để lại nhiều bài học lịch sử mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cập nhật. Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi xin nêu vài bài học lớn, trong đó:

1. Sớm nhận rõ vị trí địa - chính trị, địa - quân sự của địa bàn Tây Bắc.

Chiến thắng Tây Bắc diễn ra vào năm thứ bảy của cuộc kháng chiến cứu nước, nhưng chiến thắng đó lại có nguồn gốc từ sự chỉ đạo ngay từ hồi đầu chiến tranh.

Trong chỉ đạo kháng chiến, việc sớm xác định đúng vị trí chiến lược của từng vùng miền, khu vực, địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Địa bàn có quan hệ hữu cơ với việc xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng hậu phương, quốc phòng an ninh, xây dựng và điều động - bố trí lực lượng chiến lược, hình thành ý định tác chiến và tổ chức chiến đấu, đến hoạt động phối hợp chiến trường (khu vực, cả nước hoặc toàn Đông Dương).

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định hình thành tổ chức, đơn vị vũ trang, lựa chọn cán bộ đưa lên Tây Bắc, phối hợp với lực lượng tại chỗ để bảo vệ độc lập - tự do, giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ, ngăn chặn quân Pháp từ Trung Quốc tràn xuống và từ Lào tiến sang; cũng trong khoảng thời gian trên (cuối năm 1945, trong năm 1946), các chi đội Nam tiến được cử vào Nam chiến đấu.


Để tổ chức kháng chiến hiệu quả, tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Bắc. Bộ Quốc phòng được phân công trực tiếp chỉ đạo mặt trận và giúp bạn Lào1 (Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia. Viện Sử học. Cao Văn Lượng (chủ biên) Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Khu Tây Bắc (1945-1954), Nxb Khoa học xã hội. H. 2002). Các đơn vị lên đường Tây tiến gồm lực lượng của nhiều tỉnh: Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái, Bắc Giang, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình...2 (Xin tham khảo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân.H.1994, tập 1; Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội - Ban liên lạc cựu chiến binh Tây tiến: Tây tiến một thời và mãi mãi. Nxb Hà Nội. H.2009).


Đầu năm 1946, được đế quốc Anh, Mỹ và chính quyền Tưởng Giới Thạch ủng hộ, tiếp tay, thực dân Pháp ra sức hoạt động tái chiếm nước ta, trong đó đặc biệt địa bàn Tây Bắc. Ngày 20 tháng 2 năm 1946, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn thể nhân dân đứng lên kháng chiến:

"Hỡi quốc dân Việt Nam!

Giặc Pháp đã vào Lai Châu. Chúng xin với Trung Quốc đem 4.000 quân qua Lào để đồn trú ở đó... Và nếu quân Pháp mượn đường Lai Châu và Thượng Lào để kéo xuống Hạ Lào bên dưới vĩ tuyến 16 độ thì việc mượn đường đó có khác gì việc xâm phạm chủ quyền của hai dân tộc Việt - Lào?

... Anh em dân tộc thiểu số Lào, Thái! Hãy liên minh chặt chẽ với Vệ quốc quân Việt Nam đánh tan kế hoạch xăm lăng của giặc Pháp"1 (Văn kiện Đảng 1945-1954, tập I (1945-1946). H. 1978. tr.169).


Ngày 1 tháng 2 năm 1947, trong Thư gửi bộ đội Tây tiến, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp viết: "Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng. Hùng cứ được vùng đó, không những quân địch cứ cao lâm hạ có thể uy hiếp hậu phương chúng ta, mà chúng lại mong thực hiện cái âm mưu ác độc dĩ Việt chế Việt chia rẽ các anh em thiểu số để tiến đánh chúng ta... Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam, chúng ta không thể để cho địch dễ dàng dẫm lên được"2 (Dẫn theo Ban Tuyên giáo Thánh ủy Hà Nội - Ban liên lạc cựu chiến binh Tây tiến. Sdd, tr.9-10).


Về phía thực dân Pháp, là kẻ xâm lược và chiếm đóng Đông Dương, Việt Nam gần một thế kỷ, lại có kinh nghiệmquân sự, hẳn họ không lạ gì vị trí chiến lược của Tây Bắc. Với họ, Tây Bắc kẽ là đất dứng chân để uy hiếpViệt Bắc và "là một vị trí chiến lược quan trọng chảng những đối với chiến trường Đông Dương, mà còn đối với miền Đông Nam Á" (G. Xabachiê: Số phận Đông Dương, kỷ niệm và tư liệu, 1941-1951. Nxb Plông. Pari, 1952), một "bàn xoay có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc và là chiếc chìa khoá bảo vệ Thượng Lào"2 (H.Nava Đóng Dương hấp hối. Nxb Plông, Pari, 1956. Dẫn theo Điện Biên Phủ hợp tuyển công trình khoa học. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2005 tr. 111-112). Càng dấn sâu vào cuộc Chiến tranh xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp càng chịu thêm nhiều ràng buộc với sức ép ngày càng lớn, trong đó có địa bàn Tây Bắc. H. Nava, viên tướng bốn sao, nguyên Tổng chí huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương những năm cuối cuộc chiến tranh (1953-1954), viết: "Xét về mặt chính trị, quyết định không bảo vệ Lào cũng là một điều rất nghiêm trọng... Để Luông Pha Băng, kinh đô hoàng gia và tôn giáo của Lào rơi vào tay kẻ thù có nghĩa là thú nhận ta đã bất lực trong việc bảo vệ những bạn bè tin cậy. Nó cũng có nghĩa là phủ nhận ngay cả những nguyên tắc của khối Liên hiệp Pháp. Thêm vào lý do chính trị cơ bản này, còn một lý do khác nữa. Đó là nếu người Mỹ giúp chúng ta ở Đông Dương, thì chính bởi vì chúng ta bảo vệ ở đây một khu vực quan trọng của Đông Nam Á: Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai. Đểđối phương tới được sông Mê Công tức là không làm tròn nhiệm vụ ấy"3 (H. Nava: Thời điểm của những sự thật, Nxb Công an nhân dân (và) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. H. 1994, người dịch Nguyễn Huy Cầu).


Việc sớm xác định đúng vị trí chiến lược địa - chính trị, địa - quân sự và đánh giá chính xác âm mưu của thực dânPháp đã giúp Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng kịp thời điều động cán bộ, bộ đội lên miền Tây Bắc, cùng các cấp lãnh đạo, chỉ huy tại địa bàn vận động quần chúng, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc. Tất thảy điều đó tạo thành cội nguồn của chiến thắng Tây Bắc 7 năm sau đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #124 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:45:40 pm »

2.Xây dựng quan hệ quân - dân đoàn kết nhất trí.

Nhận rõ vị trí địa bàn Tây Bắc, nhưng trong chỉ đạo kháng chiến, lại phải căn cứ vào nhiều nhân tố để ra quyết định hoạt động quân sự. Về phía đối phương, ngay từ cuối năm 1951, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tướng De Lattre (Đờ Lát) đã chỉ thị cho thuộc hạ, phải phong toả, ngăn chặn, để "không một hạt lúa, không một người nào được đưa ra khỏi đồng bằng Bắc Bộ"1 (Xem Nguyễn Văn Sự: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thế kỷ XX qua tư liệu nước ngoài, Nxb Quân đội nhân dân, H.2011, tr.410). Đờ Lát dùng thủ đoạn đánh vào dạ dày, vào nguồn nhân lực của đối phương, hy vọng Võ Nguyên Giáp chọn chiến trường lúa gạo đồng bằng, đó là lúc quân Pháp ra đòn2 (Xem Nguyễn Văn Sự, Sđđ, tr.411). Tuy nhiên, Võ Nguyên Giáp không bị mắc lừa, như cách nói của ký giả phương Tây: "Ông coi vấn đề tướng Đờ Lát đặt ra chẳng qua chỉ là miếng cồn gián mà một chiến lược gia đưa ra cho một chiến lược gia khác"3 (Xem Nguyễn Văn Sự, Sđd, tr.412).


Với mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai"4 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, 1950-1952, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.559), Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Ba nhiệm vụ trên có "quan hệ mật thiết với nhau. Có tiêu diệt được địch thì mới tranh thủ được nhân dân và giải phóng dược đất đai. Có tranh thủ được nhân dân thì mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu diệt sinh lực địch và giải phóng dược đất đai..."1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006. tr. 296), như phân tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị cán bộ chiến dịch Tây Bắc trong các ngày 6, 7, 8, 9 tháng 9 năm 1952. "Tranh thủ nhân dân" thực chất là giải phóng đồng bào, mà ở Tây Bắc "chỉ còn đồng bào Thái... là bị địch lợi dụng, giày xéo và thống trị"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2006. tr. 295). Đại tướng Lê Trọng Tấn, trong chiến dịch Tây Bắc là Đại tá, Đại đoàn trưởng 312 nhớ lại: "Từ cánh đồng Nghĩa Lộ, chúng tôi qua Thượng Bằng La, rồi Quang Huy, Vạn Yên... Nhìn nắm cơm của dân chỉ thấy một màu nâu xỉn cũng như nắm gỉ sắt. Hỏi nhân dân ăn gì? Dân vừa khóc, vừa nói ăn củ nâu. Hỏi củ nâu chát thế ăn làm sao? Sao không đào củ mài mà ăn? Bà con trả lời củ mài nằm sâu lắm không có sức đào.


Cánh đồng Phù Yên bằng phẳng dài hàng chục kilômét chỉ toàn một màu tro xám đến rợn người. Dọc ven suối, những bà, những chị người Thái lưng địu con ngơ ngác đi mò rêu suối..."3 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Nxb Quân đội nhân dân. H. 1994. tr.237).


Tiến vào Tây Bắc là đánh vào âm mưu "chia để trị", "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của địch; là để giác ngộ chính trị cho đồng bào, khơi dậy và phát huy lòng yêu nước, tiềm năng cách mạng của đồng bào, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, động viên đồng bào tích cực tham gia kháng chiến.


Do ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, chiến dịch Tây Bắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Người đến dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc, quán triệt quyết tâm, giao nhiệm vụ và động viên cán bộ, chiến sĩ; cùng ngày, Người tự tay soạn thảo và cho công bố "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ dân chủ cộng hoà Việt Nam" và ngày 1 tháng 10, Người viết thư gửi cán bộ, chiến sĩ chiến dịch Tây Bắc1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.558).


Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, Chính phủ đã có quy định, các chú và bộ đội phải làm đúng... Các chú phải làm thế nào khi mình đến thì đồng bào hoan nghênh, khi đóng quân thì đồng bào vui vẻ giúp đỡ, khi mình đi thì đồng bào quyến luyến..."2 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.560).


Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ quy định rõ, phải bảo vệ tính mệnh và tài sản của nhân dân; bảo vệ nghề nghiệp làm ăn của nhân dân; tịch thu tài sản của giặc Pháp và bọn phản quốc giao cho chính quyền nhân dân xử trí (chia cho dân); bảo vệ đền chùa nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hoá, xã hội khác, bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài...3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sdd, tr.564).


Nhờ chủ trương đúng đắn của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lòng tin vững chắc vào lòng yêu nước của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc, bộ đội ta cùng các cấp bộ đảng, chính quyền địa phương đã vượt qua gian khổ, hy sinh, kiên trì xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân, "thế trận lòng dân" Tây Bắc.


Y tá Phương Lan, người con gái Huế, sinh sống tại Phan Thiết, xin vào làm cứu thương trong chi đội Nam tiến Nam Long, do điều động của đơn vị, đầu năm 1947, bà thuộc đoàn quân Tây tiến, kể: "Hồi đó dân cũng đói lắm, bộ đội phải ăn độn đủ thứ rau, còn quần áo rách tả tơi, thương vô cùng. Án đã thiếu, thuốc men lại càng thiếu hơn, một viên ký ninh pha ra cho 5 người uống. Chữa kiết lị bằng lá mơ lông ở hàng rào, cho ti muối vào hấp cơm rồi ăn...


Có bữa hết gạo, bác sĩ Đức đi trước, tôi và một chị nữa cầm rá đi theo đến các nhà dân trong bản xin gạo. Dân bản thương bộ đội lắm, nhà có thì cho vài lon, nhà thiếu thì cho vài nắm. Đi khắp bản cũng được một rá đủ nấu cháo loãng cho anh em ăn được vài ngày"1 (Tây tiến một thời và mãi mãi. Sđd, tr. 165).


Đại tướng Lê Trọng Tấn nhớ lại ngày Tây Bắc giải phóng... "Tôi lại được gặp anh Trần Quyết - Bí thư và Ban Tỉnh ủy Sơn La. Rất cảm ơn các anh, những người cộng sản kiên cường đã nhen nhóm lên ngọn lửa cách mạng trong lòng đồng bào dân tộc Thái. Với lòng tin ở Đảng, ở nhân dân, các anh đã thức tỉnh tiềm năng cách mạng bấy lâu bị giặc cướp nước và bán nước vùi dập, thổi bừng lên ngọn lửa cách mạng trong lòng những đồng bào chất phác, tạo nên sức mạnh cho đòn tiến công sấm sét hôm nay.


... Tôi được nghe kể lại, câu chuyện một thương binh của ta (đồng chí Thập nay đã về hưu ở Sơn La) đã đươc một bà mẹ người Thái nuôi giấu trong nhà. Thuốc men không có, thức ăn bồi dưỡng cũng không, bà mẹ đã nuôi Thập bằng chính dòng sữa của mình,... Bà mẹ Thái nuôi đứa con người Kinh mình đầy thương tích trong cơn hấp hối... giữa vòng vây trùng điệp của quân thù"1 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd, tr.249).


Đồng bào Tây Bắc đã cùng đồng bào địa phương bạn đã góp phần cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn chiến dịch (đã sử dụng 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt, 71 tấn thực phẩm khác; huy động 194.000 dân công, gần bằng 7 triệu ngày công2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr 206)).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #125 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:50:09 pm »

3.Thống nhất quyết tâm cao và thấu triệt tư tưởng cách mạng tiến công.

Quyết tâm ở đây không chỉ là những nội dung thuộc văn kiện tác chiến: đánh giá về địch nói chung, trong từng tình huống nói riêng; về ý định tác chiến (tư tưởng phương châm chỉ đạo tác chiến); nhiệm vụ từng đơn vị, công tác hiệp đồng, bảo đảm; về tổ chức chỉ huy.v.v..., mà trước hết là ý chí - quyết tâm trong tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm đó phải thông suốt, thống nhất. Trong bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú mà đến người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. Quyết tâm không phải nói đầu miệng mà phải tin tưởng sâu sắc..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.558).


Thật sự, thực tế là, quyết tâm đánh thắng trong chiến dịch Tây Bắc đã thấm sâu từ Trung ương Đảng, từ lãnh tụ tối cao đến cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch và đồng bào tại địa bàn. Chính một trong những vị đại đoàn trưởng nổi tiếng trong chiến dịch, Đại tướng Lê Trọng Tấn đã viết: "Những bài học thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc lần này đối với bản thân tôi cũng như đối với đại đoàn2 (Tức Đại đoàn 312) là bài học về hạ quyết tâm và tổ chức thực hiện quyết tâm đó trong những khâu then chốt của trận đánh... Những thành công và những gì chưa thành công... của Đại đoàn cũng như của các đại đoàn bạn đều là những bài học quý giá giúp tôi trưởng thành... Tôi càng thấm thìa sâu sắc vai trò của nhân dân trong chiến tranh giải phóng nói chung, vai trò mà nhân dân các dân tộc Tây Bắc nói riêng và sự hy sinh, chịu đựng gian khổ đến tột độ của tập thể cán bộ, chiến sĩ đại đoàn. Dù cán bộ chỉ huy năng động, tài trí đến đâu nhưng cuối cùng chính người chiến sĩ cầm súng sẽ quyết định thắng lợi của chiến đấu, chiến dịch"3 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd, tr.250-251).


Quyết tâm hừng hực khí thế trong mọi cán bộ, chiến sĩ, vì vậy, tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cách mạng được thể hiện sinh động trên thực tế chiến trường. Trong Bản báo cáo tại Hội nghị cán bộ đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (9-11-1952), Đại tướng Tổng Tư lệnh viết: "ưu điểm lớn nhất là chúng ta đã tiến bộ về tư tưởng đã quán triệt quyết tâm của Trung ương... Hành quân phải leo trèo, vác nặng, trời mưa, thiếu ăn, thiếu ngủ, nhiều đơn vị phải nhịn đói, nhưng cán bộ và chiến sĩ đều cố gắng vượt qua. Trong chiến đấu thì cố gắng thực hiện nhiệm vụ có đơn vị đánh liền 2 vị trí lớn trong một đêm, có đơn vị truy kích địch hơn 100 cây số..."1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn. Sđd, tr. 322).


Kể về tinh thần vượt gian khổ đi chuẩn bị chiến trường của đơn vị cụ thể (Trung đoàn 141), Đại tướng Lê Trọng Tấn viết: Anh em theo đường khe Lóng vào Sài Lương, gạo (tiêu chuẩn) phải san cho 4 đồng bào đang đi đào củ rừng tình nguyện dẫn đường... "Tính ra anh em đã phải vượt suối tất cả ba mươi sáu lần mới tới được khe Lóng"2 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd, tr. 228). Trong chiến đấu, có đơn vị như "Tiểu đoàn 154... đã hành quân 205km, nhịn đói một ngày, vừa lĩnh được 5kg gạo nấu cháo chưa kịp sôi đã phải truy kích địch. Hơn một trăm tù binh và hàng đống vũ khí, quân trang, quân dụng của địch là sự đền bù cho sự chịu đựng gian khổ của Tiểu đoàn 154"3 (Đại tướng Lê Trọng Tấn: Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Sđd. tr. 231).


Thấu triệt tư tưởng cách mạng, tư tưởng tiến công, nhưng lại cần luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi tình huống, căn cứ vào những điều kiện cụ thể để chỉ đạo thực hiện hoạt động quân sự, theo phương châm "đánh ăn chắc tiến ăn chắc" của Trung ương1 (Báo cáo của Đại tướng Tổng tư lệnh trong Hội nghị đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (9-11-1952), xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd. tr. 326). Đây là thời điểm chuẩn bị đánh Nà Sản, mà Nà Sản đã được quân Pháp xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm, một căn cứ bộ - không quân thật sự, với một sân bay nằm giữa một thung lũng lòng chảo có núi bao bọc xung quanh, một "con nhím" với hai mươi mốt cứ điểm xung quanh một sân bay2 (Tham khảo Tướng Giáp suýt thất bại trong trận Điện Biên Phủ như thế nào của G.Boudarel và F.Caviglloli. in trong Điên Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học, Nxb Chính trị quốc gia. H. 2005, tr. 1008), một "con đê ngăn sóng", theo cách gọi của tướng lĩnh Pháp.


Dự lường được hầu hết những khó khăn của ta khi tiến công Nà Sản, trong báo cáo kể trên, Đại tướng nêu rõ: "Có phải vì mang quân đến Nà Sản rồi thì phải đánh hay không?

Không. Dù đã mang quân đến Nà Sản, nhưng nếu nhận thấy đánh không chắc thắng thì có thể điều bộ đội về"3 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd. tr. 332).


Kết thúc chiến dịch Tây Bắc, Tổng tư lệnh cùng Bộ chỉ huy họp rút kinh nghiệm tại một địa điểm gần đường 41, như một số học giả nước ngoài miêu tả: "Chủ lực Việt Minh không tràn ngập được Nà Sản vì bị máy bay ném bom và bắn phá ngăn chặn... Võ Nguyên Giáp kết luận rằng phải suy nghĩ thêm về loại hình phòng thủ này của quân Pháp và để tiêu diệt một cứ điểm như kiểu Nà Sản phải sử dụng hỏa lực pháo binh hạng nặng. Các đợt xung phong của bộ binh cần phải chuẩn bị chu đáo ở tất cả các cấp. Đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thể coi như một trận đánh mà là một chiến dịch thật sự bao gồm nhiều trận đánh kế tiếp nhau theo một chiến lược cần nghiên cứu thêm để xác định"1 (Dẫn theo Nguyễn Vân Sự Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thế kỷ XX qua tư liệu nước ngoài, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2011, tr. 419).


Nà Sản thể hiện, trong tiến công, không thành công, cần biết dừng đúng lúc. Nà Sản để lại bài học quý báu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, vào năm rưỡi sau đó, như một nhân tố về chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Trên đường lên sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, Tổng tư lệnh - Chỉ huy trưởng - Bí thư Đảng ủy Mặt trận Võ Nguyên Giáp đã dừng lại khá lâu ở Nà Sản ngẫm lại bài học không thành công ở đây. Và Điện Biên Phủ là "một Nà Sản luỹ thừa mười"2 (Xem bài của G.Boudarel và F.Caviglloli, in trong Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, H 2005. tr. 1013) vẫn bị quân và dân ta tiêu diệt.


Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 để lại nhiều bài học lịch sử quý báu, mang giá trị lý luận và thực tiễn cập nhật cần tiếp tục được nghiên cứu làm sáng tỏ thêm, ví như chiến dịch Tây Bắc với việc phối hợp, hiệp đồng với các chiến trường cả nước; với chiến trường nước bạn Lào; với việc xây dựng mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; là xây dựng tình đoàn kết quân - dân, quân với dân một ý chí, ở đây là đồng bào dân tộc thiểu số; là giáo dục ý chí quyết tâm cho bộ đội...


Chúng ta biết và mãi mãi nhớ ơn, tôn vinh các bậc tiền bối trong quân đội, trong cấp ủy và chính quyền, mặt trận các cấp địa phương và đồng bào trong cộng đồng hơn 30 dân tộc Tây Bắc đã làm nên thắng lợi năm xưa trong cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #126 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:54:33 pm »

MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Đại tá. PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Bước sang năm 1952, rút kinh nghiệm những mặt thành công và chưa thành công của các chiến dịch tiến công trên hướng trung du và đồng bằng - nơi địch phát huy được ưu thế về hỏa lực và sức cơ động, tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc.


Địa hình Tây Bắc hiểm trở, núi non trùng điệp, có dãy núi Hoàng Liên Sơn cao nhất nước ta. Đây là địa bàn chiến lược quan trọng, nhưng lại là nơi địch có nhiều sơ hở1 (Trên địa bàn Tây Bắc, địch có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội bộ binh bố trí thành 144 cứ điểm thuộc 4 phân khu Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và 3 tiểu khu độc lập Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Trong quá trình chiến dịch, địch tăng cường thêm 9 tiểu đoàn bộ binh và dù Âu - Phi, 3 tiểu đoàn ngụy, 1 tiểu đoàn biệt kích hỗn hợp, 1 tiểu đoàn pháo binh). Vì vậy, mở chiến dịch ở Tây Bắc ta có thể tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải phóng đất đai, phá âm mưu của Pháp lập Xứ Thái tự trị, mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động phía Thượng Lào.


Lực lượng của ta tham gia chiến dịch có Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 (thiếu), Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148; 6 đại đội sơn pháo 75mm với 12 khẩu, 3 đại đội súng cối 120mm, 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội bộ đội địa phương do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức chỉ huy1 (Bộ Quốc phòng. Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004, tr.195). Sau gần hai tháng chiến đấu, quân và dân ta đã bắt hơn6.000 địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội) giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân) nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch. Thắng lợi đó là kết quả của sự nỗ lực và quyết tâm của toàn quân và toàn dân ta, trong đó có cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận hậu cần.


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch. Tháng 5 năm 1952, Tổng cục Cung cấp bắt đầu tiến hành chuẩn bị chiến trường trên hướng Tây Bắc.


Quân số hậu cần chiến dịch phải bảo đảm khoảng 35.000 người. Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Trần Đăng Ninh trực tiếp chỉ đạo công tác hậu cần. Phân công cán bộ của Tổng cục xuống phụ trách ở Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4 để tổ chức huy động nhân vật lực ở 10 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên thuộc Liên khu Việt Bắc; Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình thuộc Liên khu 3; Thanh Hóa, Nghệ An thuộc Liên khu 4. Hậu cần các cấp đã huy động trên 10.000 tấn lương thực, thực phẩm; 191.000 lượt dân công với trên 7 triệu ngày công. Kết quả đã bảo đảm 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt (không kể số thực phẩm các đơn vị đã chuẩn bị và khai thác tại chỗ), 33 tấn đạn; cứu chữa 2.535 thương binh1 (Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần. Từ điển Hậu cần quân sự, Nxb Quân độinhân dân, H. 2009, tr. 210).


Tuy nhiên, đây là một chiến dịch có quy mô lớn, thời gian diễn ra dài ở chiến trường rừng núi xa căn cứ hậu phương, hệ thống đường sá phục vụ bảo đảm hầu như chưa có nên công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Ở giai đoạn đầu, do cơ quan tham mưu kế hoạch hậu cần và vận tải nghiên cứu chuẩn bị chiến trường chưa chu đáo, chỉ huy chỉ đạo có phần chủ quan, thiếu kiểm tra đôn đốc, không xử lý kịp thời các diễn biến nên trong đợt 1 của chiến dịch công tác hậu cần không hoàn thành nhiệm vụ trên tuyến vận tải Mậu A - Khâu Vác - Nậm Mười. Ở tuyến vận tải này, do đường nhỏ, độc đạo, khó đi, lại đi chung với các lực lượng khác nên vật chất hậu cần trên tuyến bị ùn tắc, đến điểm tập kết chậm hơn quy định, không kịp đáp ứng đủ nhu cầu cho bộ đội, làm ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ ở Mặt trận Tây Bắc, Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ: Công tác cung cấp còn nhiều thiếu sót để có lúc bộ đội phải ăn đói2 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3, H. 1997, tr. 24). Đợt 2, đợt 3 các lực lượng hậu cần đã nhanh chóng rút kinh nghiệm, khắc phục khó khăn đểm ở đường, tiếp tế lương thực cho bộ đội, vận chuyển cứu chữa thương binh kịp thời, góp phần cùng các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến dịch.


Chiến dịch Tây Bắc để lại nhiều kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công về tổ chức bảo đảm hậu cần. Đó là:

Thứ nhất: Tác chiến trên địa bàn rừng núi, hệ thống đường sá chưa phát triển, cần tập trung xây dựng, sửa chữa, chuẩn bị mạng đường vận tải đủ đáp ứng yêu cầu phục vụ chiến dịch.

Theo đề nghị của Tổng Quân ủy và Tổng cục Cung cấp, tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban cán sự đường 41 gồm các đồng chí Hoàng Văn Tiến, Nguyễn Văn Thân... trực tiếp chỉ đạo công tác mở đường và chuẩn bị phục vụ chiến dịch.


Tuy nhiên, Trung ương nhận định công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì hậu phương Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh đều cách xa Tây Bắc hàng trăm kilômét. Tây Bắc là vùng địch chiếm đóng từ lâu, kinh tế nghèo nàn, dân cư thưa thớt, chủ yếu là dân tộc ít người, kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp, lại bị địch khủng bố, bóc lột tàn tệ nên đời sống nhân dân rất thấp, khả năng huy động sức người, sức của tại chỗ rất hạn chế. Đây lại là địa bàn có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi sông suối, rừng núi. Sông Đà, sông Mã nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết quanh năm, cùng với sông Hồng và các sông khác chia cắt Tây Bắc thành nhiều khu vực. Vào Tây Bắc chỉ có 2 con đường chính: Đường số 41 từ Hoà Bình đi Suối Rút, đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Cả 2 con đường này đều là đường rừng núi bị hư hỏng nhiều do lâu ngày không được sửa chữa, tu bổ. Tại các ngã ba, ngã tư tuyến đường liên tỉnh, huyện đểu bị địch khống chế và thường xuyên tổ chức tuần tiễu, lùng sục khiến cho cán bộ, bộ đội ta vào hoạt động rất khó khăn.


Theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ, các liên khu khẩn trương sửa chữa đường sá, mở thêm các tuyến đường mới và chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Liên khu Việt Bắc mở đường chạy dọc theo bờ tả ngạn sông Hồng từ Phú Thọ đến Yên Bái và đẩy mạnh tu sửa tuyến đường sắt từ Yên Bái đến Mậu A, bảo đảm cho xe camiôngray có thể kéo một toa tàu chạy thường xuyên. Liên khu 3 sửa chữa đường từ Ghềnh, Nho Quan lên Hòa Bình, đường 41 từ Hòa Bình qua Chợ Bờ, Suối Rút (dài 160km). Liên khu 4 sửa chữa đường từ Thanh Hóa lên Ngọc Lạc, Hồi Xuân, Bãi Sang và đường chuyển gạo từ Tình Gia lên. Trong 3 tháng hè năm 1952, nhân dân Liên khu 3, Liên khu 4 sửa chữa được 170km đường ô tô, 150km đường cho dân công và huy động được 5.254 tấn gạo.


Chuẩn bị cho đợt 2, Tổng cục Cung cấp đã tổ chức vận chuyển vũ khí đạn, lương thực từ Phú Thọ và Yên Bái sang hữu ngạn sông Hồng. Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, các đơn vị đều tổ chức bộ phận sửa chữa đường, vận tải gạo, đạn và chuyển thương binh vế tuyến sau. Lực lượng trên tuyến Khâu Vác và Sài Lương sau khi giải thể được tập trung lên đường 13, tổ chức tuyến vận tải từ Âu Lâu, Ba Khe đến Tông Cao, Gia Phù, đồng thời khẩn trương củng cố tuyến Thu Cúc, Quang Huy, Tông Cao...


Việc tổ chức các tuyến đường vận tải và thực hành công tác vận tải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đôì với chiến dịch xa hậu phương. Trong chiến dịch Tây Bắc, hậu cần đã có những sáng tạo về tổ chức vận tải như rải trạm vận tải theo sát bộ đội hành quân vào chiến đấu và truy kích địch, kết hợp các phương thức vận tải bằng sức người, bằng các phương tiện thô sơ và cơ giới. Các hình thức vận tải đèn lồng, vận tải cuốn chiếu, bố trí vận tải theo hình búp măng...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #127 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:56:31 pm »

Thứ hai: Trong điều kiện nền kinh tế địa bàn chiến dịch còn hạn chế, cần kết hợp chặt chẽ huy động vật chất hậu cần tại chỗ và từ nơi khác đưa đến.

Lượng vật chất bảo đảm cho chiến dịch ước tính khoảng 9.000 tấn lương thực, thực phẩm; 120 tấn vũ khí đạn và dụng cụ, thuốc men cần thiết. Vì vậy, số dân công cần huy động khoảng 35.000 người, làm nhiệm vụ vận chuyển vật chất từ hậu phương ra tiền tuyến.


Bảo đảm cho phương châm tác chiến là đánh liên tục, dài ngày, từng bước vững chắc, nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, tiêu diệt gọn nên khối lượng vật chất hậu cần là rất lớn. Sau khi tính toán, cân nhắc, Tổng cục nhận thấy trong quá trình chiến dịch ta có thể tận dụng được nhiều chiến lợi phẩm để bổ sung cho bộ đội nên chủ trương chỉ chuẩn bị 81 tấn vũ khí đạn ở các kho trung tuyến nhằm hạn chế việc huy động nhiều dân công. Số vũ khí đạn còn lại bố trí ở Hào Gia và Mậu A phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Ngoài ra, Cục Quân khí còn bố trí một kho nhỏ ở Thạch Kiệt phục vụ cho hướng Gia Phù, đồng thời chuẩn bị sẵn thêm một số dự trữ ở kho Đoan Hùng để có thểbổ sung khi cần thiết.


Trong quá trình bảo đảm cho chiến dịch, lực lượng của ta không những phải tập trung vận chuyển một khối lượnglớn vũ khí, lương thực mà còn phải tu bổ lại nhiều đoạn đường do mưa lũ và máy bay địch phá hoại. Ngoài ra, phải khéo léo, bí mật, bất ngờ tổ chức chuyển gạo, đạn qua sông Thao. Sau đó, cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo đảm kỹ thuật lại phải hành quân cùng với bộ đội hàng trăm kilômét, xây dựng, bố trí các kho trạm sâu trong lòng dịch để thuận tiện cho việc cấp phát vũ khí đạn dược, phục vụ bộ đội tại chỗ...


Để khắc phục những khó khăn trong quá trình vượt sông, Bộ chỉ huy đã thành lập Ban chỉ huy vượt sông gồm cán bộ tham mưu, công binh, hậu cần, bảo vệ, công đoàn vận tải sông để thống nhất điều hành bộ đội, dân công vượt sông Hồng vào chiếm lĩnh trận địa. Chỉ tính riêng hướng Nghĩa Lộ đã có 27.800 bộ đội và 32.000 dân công mang theo vũ khí, lương thực vượt sông an toàn, đúng thời gian quy định. Ngoài ra, Ban chỉ huy vượt sông còn huy động nhiều thuyền mảng của nhân dân và lập thêm nhiều bến bãi nhằm bảo đảm cho bộ đội dân công vượt sông bí mật, nhanh chóng, an toàn. Các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ đã huy động của nhân dân 432 chiếc thuyền có trọng tải trên dưới 5 tạ làm công tác vận chuyển. Các thuyền được tổ chức thành từng đơn vị dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy vượt sông. Các khu vực Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu mỗi nơi tổ chức thêm nhiều bến vượt, có bến riêng dành cho từng loại đối tượng, phương tiện theo khối lượng vận chuyển qua hướng đó.


Chuẩn bị cho đợt 2, việc huy động nhân lực, vật lực tại chỗ cũng được đẩy mạnh. Nhiều đơn vị cử cán bộ, chiến sĩ tham gia thu hoạch lúa với dân, đồng thời vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch.

Các địa phương khẩn trương thu thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã, tập trung gạo ở các khu vực dự kiến sẽ tập kết bộ đội và các bến vượt sông ở bờ tả ngạn sông Hồng. Tính chung toàn chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã đóng góp 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, hơn 15.000 dân công. Riêng khu vực Nghĩa Lộ, hậu cần chiến dịch huy động được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt1 (Lịch sử hậu cần trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Sđd. tr. 211).


Trên hướng đường 13, lực lượng hậu cần tập trung chuyển gạo, đạn từ Yên Bái sang, bảo đảm cho các đơn vị hành quân vượt sông Đà và trong các trận đánh ở hữu ngạn sông Đà. Đường 13 từ Ba Khe đến Tạ Khoa, Cò Nòi tiếp tục được mở vượt đèo Lũng Lô, đèo Bản Ban, đèo Nhọt, đèo Chẹn dài 130km. Ở bến Tạ Khoa công binh làm cầu phao, ngày tháo đêm lắp cho bộ đội và dân công qua sông. Ngoài 25 tấn gạo chuyển sang hướng đường 41, lực lượng hậu cần trên tuyến đường 13 đã chuẩn bị được 140 tấn cho các đơn vị tiếp tục ở lại Tây Bắc hoạt động sau chiến dịch và rải 313 tấn gạo dọc đường phục vụ bộ đội lui quân.


Kết quả ta đã huy động tại Việt Bắc 5.350 tấn gạo, 110 tấn muối, 220 tấn thực phẩm; ở Liên khu 3 và 4 là 5.254 tấn gạo, 54 tấn muối, 17 tấn thực phẩm; tại Tây Bắc (vùng mới giải phóng) được 1.140 tấn gạo, 81 tấn thực phẩm.

Thứ ba: Kết hợp chặt chẽ với các địa phương trên địa bàn chiến dịch, huy động đủ lực Lượng dân công phục vụ chiến dịch; kết hợp vận tải thô sơ sức người với vận tải cơ giới, khai thác tối đa phương tiện vận tải cơ giới.

Để đẩy mạnh việc huy động nhân lực phục vụ tiền tuyến, ngày 14 tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành bản Điều lệ tạm thời về huy động dân công. Tiếp đó ban dân công các tỉnh cũng được thành lập. Việc gom lương, vận chuyển chủ yếu dựa vào nguồn nhân vật lực địa phương do Ban cung cấp tiền phương, Ban cán sự đường 41 của Tổng cục Cung cấp đảm nhiệm.


Chuẩn bị cho bộ đội đánh địch trên hướng chủ yếu ở Phân khu Nghĩa Lộ, các lực lượng hậu cần tập trung hơn 2.000 tấn gạo và 38.000 dân công ở Yên Bái, bên bờ tả ngạn sông Hồng phục vụ các đơn vị hành quân đến khu vực tập kết và chuẩn bị rải trạm theo đường tiến quân của bộ đội vào Tây Bắc. Liên tục trong các đêm từ 10 đến 13 tháng 10, hậu cần chiến dịch đã huy động 24.840 dân công chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu.


Chuẩn bị cho đợt 2 Liên khu Việt Bắc gấp rút huy động thêm 12.000 dân công đế bổ sung và thay thế. Liên khu 4 huy động thêm 11.000 dân công của tỉnh Nghệ An. Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường đồng chí Đàm Quang Trung và Trần Văn Quang cùng 27 cán bộ trung cấp, sơ cấp cho hậu cần chiến dịch để tổ chức và chỉ huy các đoàn dân công trên đường 41. Do các tuyến vận tải đều được mở rộng, các trạm bố trí cung đường hợp lý cùng với việc áp dụng định mức khoán, nên năng suất đều vượt xa dự kiến. Ngoài dân công vận tải, trong đợt 2, hậu cần chiến dịch đã sử dụng ô tô vận tải ở một số đoạn. Trên đường 41, đoạn từ Suối Rút qua Mộc Hạ đến Lồm Xồm dài 64km, được sửa chữa gấp rút cho 30 xe ô tô hoạt động. Trên đường 13, đoạn từ Yên Bái đến Ba Khe dài 61km, cũng được tu bổ cho 34 xe ô tô hoạt động.


Việc vận chuyển được tổ chức theo cung chặng và cuốn chiếu. Phương tiện vận tải có 461 xe đạp thồ, 168 xe trâu, bò kéo, 24 thuyền, 30 ô tô đã vận chuyển được 528 tấn gạo (trong đó có 410 tấn từ Suối Rút lên và 70 tấn huy động ở Mộc Châu, 25 tấn từ đường 13 sang), bảo đảm kịp thời cho bộ đội tiến công và một phần dự trữ.


Tính chung toàn chiến dịch, khối lượng vận chuyển của dân công chiếm 34%, ô tô chiếm 44,5%; xe thô sơ, thuyền nan chiếm 21,5%.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #128 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 07:58:14 pm »

Thứ tư: Chuẩn bị bộ máy chỉ huy hậu cần mạnh, đồng bộ, tổ chức bố trí hậu cần hợp lý có trọng điểm và chiều sâu, bám sát bộ đội trong quá trình chiến đấu.

Nhận rõ những khó khăn về bảo đảm hậu cần cho bộ đội tác chiến, Tổng cục xác định nguồn cung cấp chủ yếu phải dựa vào việc vận chuyển từ Việt Bắc sang và từ Liên Khu 3, Liên khu 4 lên. Các đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Thanh Bình,... được phân công chỉ đạo các địa bàn Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4.


Do tầm quan trọng của chiến dịch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách công tác cung cấp tiền phương. Bộ Giao thông công chính đặt kế hoạch khẩn trương tu bổ các tuyến đường cho dân công, xe ô tô lên Tây Bắc. Một hệ thống kho tàng được thiết lập ở vùng Mậu A, Cổ Phúc, Văn Phúc, Giới Phiên, Thạch Kiệt phía tả ngạn sông Thao và vùng Suối Rút tỉnh Hoà Bình.


Đến tháng 8 năm 1952, số vũ khí đạn chuẩn bị cho chiến dịch đã bảo đảm đủ. Tại kho ở khu vực Mậu A có 28 tấn kho ở Yên Bái có 58 tấn, kho Thu Cúc 41 tấn. Số vũ khí đạn dự trữ cùng được chuyển về các kho bố trí tại Đoan Hùng, Sơn Dương.

Các đơn vị tham gia chiến dịch trước khi hành quân tới vị trí tập kết đã được Cục Quân khí cấp phát đủ cơ số vũ khí đạn. Song việc bổ sung vũ khí đạn cho các đơn vị trong quá trình chiến đấu gặp không ít khó khăn do các đơn vị không nắm được chính xác yêu cầu của mình nên phải tiến hành bổ sung nhiều lần. Nhiều chủng loại vũ khí, đạn không đúng tiêu chuẩn hoặc hư hỏng, nhưng do các đơn vị không kiểm tra nên trước khi hành quân mới yêu cầu đổi, nhất là đối với lựu đạn, đạn hỏng, liều phóng... Mặc dù vậy, cán bộ, chiến sĩ quân khí vẫn tìm mọi cách khắc phục, bảo đảm đầy đủ nhu cầu của các đơn vị.


Chiến dịch phát triển nhanh, lực lượng phục vụ chiến dịch cũng hết sức cố gắng vận chuyển vũ khí đạn theo sát bộ đội, bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của các đơn vị. Ở hướng phối hợp (Liên khu 3, Liên khu 4), Ban cán sự đường 41 ở Suối Rút, Chợ Bờ chuẩn bị vũ khí đạn dược, phương tiện sẵn sàng chi viện cho chiến dịch theo hướng Mộc Châu - Sơn La. Đáp ứng kịp thời cho đợt 2 của chiến dịch. Trong đợt chiến đấu này, Ban cán sự đường 41 tổ chức gánh gạo, đạn theo sát bộ đội trong tiến công và truy kích địch. Nỗ lực của ngành hậu cần đã góp phần vào thắng lợi đợt 2 của chiến dịch, tiêu diệt 3.000 tên địch, trong đó có 2 tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn, làm thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và một bộ phận của tiểu đoàn dù. Tỉnh Sơn La được giải phóng (trừ Nà Sản). Địch phải co cụm về Nà Sản, tập trung xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh.


Thứ năm: Phát huy vai trò và sức mạnh của hậu phương, quan tâm bảo vệ hậu cần và bảo vệ hậu phương trong quá trình diễn ra chiến dịch.

Để giữ yếu tố bí mật, bất ngờ cho chiến dịch, theo quy định cơ quan hậu cần kỹ thuật không được chuyển vật chất lên trước lót sẵn lập chân hàng và bố trí kho tàng ở khu vực chiến đấu mà phải chuẩn bị sẵn ở tả ngạn sông Hông. Khi bộ đội vượt sông tiến vào vùng địch, hậu cần mới rải trạm vận chuyển phục vụ cho các đơn vị.


Đêm ngày 14 tháng 10 năm 1952, các đại đoàn đồng loạt nổ súng mở màn đợt 1 chiến dịch. Sau 5 ngày đêm chiến đấu liên tục, bộ đội ta đã đánh chiếm, bức rút nhiều đồn bốt, giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Ca Vịnh, Sài Lương... Trước đòn tiến công của ta, địch vội vã huy động 3 binh đoàn cơ động mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ hòng kéo lực lượng chủ lực của ta từ Tây Bắc trở về bảo vệ Việt Bắc. Trước âm mưu của địch, Tổng cục Cung cấp đã chỉ thị cho các cơ sở ở khu vực bị địch tiến công phải cấp tốc sơ tán và tổ chức chiến đấu bảo vệ công xưởng. Quán triệt mục tiêu chiến đấu của Tổng cục, các xưởng một mặt tổ chức việc sơ tán trang thiết bị, một mặt chuẩn bị chiến đấu. Xưởng quân giới ở Hiên tổ chức gài mìn quanh khu vực công xưởng, tổ chức đánh du kích, quấy rối, tiêu hao sinh lực địch, chặn đứng các cuộc tiến công của địch vào công xưởng. Kho quân khí D5 ở Đoan Hùng do nhận được thông báo chậm nên không kịp tổ chức sơ tán vì vậy bị địch phá hủy mất gần 100 tấn vũ khí đạn. Một số kho gạo, muối của địa phương cũng bị địch phá hủy1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử hậu cần - kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Nxb Quân độinhân dân. H. 2010, tr. 438). Cùng với cuộc tiến công trên bộ, địch dùng không quân đánh phá ác liệt các tuyến vận chuyển của ta từ Việt Bắc sang. Các trọng điểm như Đèo Giàng, Đèo Khế thường xuyên bị tắc.Các tuyến vận tải từ hậu phương ra tiến tuyến trở thành mặt trận chiến đấu quyết liệt. Bảo đảm giao thông, vận tải chống địch phá hoại trở thành nhiệm vụ chiến đấu của các lực lượng trên tuyến hậu cần kỹ thuật.


Trong chiến dịch Tây Bắc, các lực lượng hậu cần kỹ thuật quân sự đã kịp thời lập phương án tạo chân hàng và xây dựng các kho dọc theo hướng phát triển của chiến dịch, đồng thời mạnh dạn dự tính khối lượng chiến lợi phẩm để cung cấp ngay cho bộ đội chiến đấu. Nhờ đó, lương thực, thực phẩm, vũ khí trang bị kỹ thuật phục vụ yêu cầu của chiến dịch đã được bảo đảm đầy đủ, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực ta tiêu diệt địch, giải phóng đất đai. Ta thu được của địch một khối lượng lớn vũ khí trang bị, trong đó có 3.002 súng trường, 500 tiểu liên, 205 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối, 11 khẩu pháo, 98 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép và 100 tấn đạn các loại.


Bảo đảm cho một chiến dịch lớn, dài ngày trên chiến trường rừng núi, trong khi hệ thống đường sá phục vụ bảo đảm hầu như chưa có, lại xa hậu phương nên công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh em bên cung cấp phải có quyết tâm để có lương thực, vũ khí cho bộ đội"1 (Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6, tr. 559), bằng những phương án táo bạo, đồng thời rút kinh nghiệm sau từng đợt, lực lượng trên tuyến hậu cần đã khắc phục mọi khó khăn để mở đường và vận tải tiếp tế lương thực, đạn dược, phục vụ bộ đội tiến công, truy kích địch, cứu chữa thương bệnh binh.


Tính chung trong toàn chiến dịch, nhân dân Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và các vùng mới giải phóng Tây Bắc đã huy động 191.000 lượt người đi dân công, đóng góp hơn 7 triệu ngày công, 1.011 xe đạp thồ, 258 xe trâu bò và 556 thuyền vận tải trên sông Hồng, sông Đà, cung cấp cho chiến dịch 9.360 tấn gạo, 359 tấn muối và thực phẩm, 33 tấn đạn, 2.535 thương binh được cứu chữa tại mặt trận và đưa về các bệnh viện hậu phương an toàn...1 (Đây là lần đầu tiên hậu cần chiến dịch vận chuyển thương binh bằng cơ giới).


Chiến dịch Tây Bắc để lại những kinh nghiệm quý về tổ chức và bảo đảm hậu cần kỹ thuật. Đó là công tác phân công phối hợp giữa công tác hậu cần ở hậu phương với việc huy động nhân lực, vật lực phục vụ tiền tuyến và bảo đảm các nhu cầu của chiến dịch ờ phía trước. Chiến dịch lớn, dài ngày nên không chỉ quan tâm đến việc huy động lực lượng, vật chất ở phía sau mà đòi hỏi hậu cần chiến dịch đặc biệt là hậu cần tiền phương phải hướng ra phía trước, bám sát chiến trường, nắm chắc tình hình hành quân và chiến đấu của bộ đội. Những kinh nghiệm đó được nghiên cứu, vận dụng cho công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #129 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:02:00 pm »

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ CHỌN HƯỚNG TIẾN CÔNG
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá, TS VŨ TANG BỔNG
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Năm 1952, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp bước sang năm thứ 7 nhưng ngày càng đi vào ngõ cụt. Thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta, đặc biệt là từ sau chiến dịch Biên Giới (Thu Đông 1950) càng khiến cho tình hình nước Pháp thêm rối ren. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp phản đối "cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và bẩn thỉu", ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta ngày càng mạnh mẽ. Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, lại được Mỹ tăng cường viện trợ, giới thực dân phản động Pháp vẫn tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.


Trên chiến trường Việt Nam, thực dân Pháp ra sức bình định và mở rộng phạm vi chiếm đóng. Tại đồng bằng và trung du Bắc Bộ, trong Xuân Hè 1952 chúng liên tiếp mở hàng trăm cuộc càn quét lớn nhỏ trong đó có 20 cuộc càn có quy mô từ 18 đến 20 tiểu đoàn, có cuộc càn kéo dài tới 2 tháng. Chúng tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch lập "Vành đai trắng", xây dựng hệ thống đồn bốt, "boong ke" kiên cố, ra sức bắt lính, phát triển ngụy quân, bao vây kinh tế, phá hoại tiềm lực kháng chiến của ta. Tuy nhiên, trước sự đấu tranh anh dũng của quân dân ta, chúng chẳng những không cải thiện được tình hình mà ngày càng lún sâu vào thế bị động chiến lược.


Để đối phó với ta, lực lượng địch chủ yếu được bố trí ở chiến trường chính Bắc Bộ với 88 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 32 tiểu đoàn cơ động). Riêng ở đồng bằng, địch có 25 tiểu đoàn cơ động, trung du có 4 tiểu đoàn, Tây Bắc có 3 tiểu đoàn. Máy bay có 145 chiếc, chiếm 42% lực lượng không quân của chúng trên toàn chiến trường Đông Dương. Pháo binh có 11 tiểu đoàn chiếm 50%. Các lực lượng binh chủng khác cũng được bố trí với tỷ lệ cao (cơ giới 37%, công binh 57%)1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc. Sđd, tr. 7. 8. 9).


Về phía ta, sau thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình, thế chủ động chiến lược ngày càng được củng cố, khả năng và trình độ tác chiến của cả ba thứ quân ngày càng được nâng cao. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở vùng sau lưng địch tuy có nơi gặp khó khăn, tổn thất nhưng nhìn chung vẫn giữ vững và phát triển. Nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên thôn, liên xã, liên huyện hình thành và hoạt động ngày càng mạnh mẽ khiến hậu phương địch luôn mất ổn định, thế bố trí chiến lược của chúng bị đảo lộn, mâu thuẫn giữa yêu cầu tập trung khối quân cơ động với phân tán lực lượng để chiếm giữ những vùng đã chiếm đóng ngày càng gay gắt, không thể khắc phục nổi.


Có thể nói, các điều kiện để ta mở một chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952 đã chín muồi. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định là chọn hướng tiến công ở đâu cho phù hợp với nhiệm vụ của giai đoạn chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng giữa địch và ta, trong điều kiện địch chiếm ưu thế về vũ khí trang bị?


Sau thắng lợi của chiến dịch Biên Giới (Thu Đông 1950), trong năm 1951 ta liên tiếp mở 4 chiến dịch tiến công địch ở chiến trường chính Bắc Bộ (không tính chiến dịch phản công Hòa Bình). Ngoài chiến dịch Lý Thường Kiệt tiến công Nghĩa Lộ (tháng 10-1951) hoàn thành một phần mục đích đề ra còn ba chiến dịch khác (chiến dịch Trần Hưng Đạo ở trung du, chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở đường số 18, chiến dịch Quang Trung ở Hà - Nam - Ninh) đều không thành công như mong đợi. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng tiến công không chính xác. Vì trung du và đồng bằng là nơi địch phát huy được ưu thế về vũ khí trang bị, hỏa lực và khả năng cơ động, trong khi đây lại là những nơi bộ đội chủ lực ta không phát huy được sức mạnh và sở trường của mình do yếu kém hơn địch về vũ khí trang bị. Ngoài ra sau chiến thắng Biên Giới, ta bắt đầu nhận được sự giúp đỡ của các nước anh em. Số vũ khí trang bị ta nhận được tuy không lớn nhưng ít nhiều đã nảy sinh tư tưởng dựa vào viện trợ của nước ngoài, nôn nóng, muốn đánh lớn, thắng nhanh. Các bạn Trung Quốc, Liên Xô cũng muốn ta sớm giành thắng lợi để tập trung vào cuộc chiến tranh Triều Tiên đang diễn ra hết sức gay go quyết liệt.


Tháng 4 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 3. Tại hội nghị này, Trung ương đã nghiêm túc kiểm điểm, phê phán những nhận thức và tư tưởng sai trái kể trên đồng thời quán triệt thêm một bước đường lối kháng chiến trường kỳ, phương châm, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn này. Trong lúc địch còn mạnh hơn ta về vũ khí trang bị, về tổng quân số lực lượng cơ động chiến lược của ta mới chỉ xấp xỉ địch, ta tuy nắm quyền chủ động nhưng chưa đủ ưu thế áp đảo địch thì việc chọn hướng mở chiến dịch phải phủ hợp với thế và lực của ta. Ta cần chọn nơi địch yếu, sơ hở mà đánh, khoét sâu vào những chỗ yếu cơ bản của địch, làm chúng suy yếu dần, ta dần trưởng thành lên, giành thắng lợi từng bước, dần dần tạo ra chuyển biến so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta; tiến lên tiến hành những chiến dịch, những trận quyết chiến chiến lược giành thắng lợi quyết định.


Từ những nhận định đánh giá đúng đắn, chính xác và khoa học nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đề ra chủ trương: Tiếp tục phát huy quyền chủ động chiến lược mở chiến dịch tiến công địch trong Thu Đông 1952 với phương châm: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh.


Cũng cần phải trình bày thêm, tháng 2 năm 1952, ngay khi chiến dịch Hòa Bình sắp kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đã có ý định sơ bộ mở các chiến dịch tiến công địch trên hướng Tây Bắc và Thượng Lào và đã giao cho Bộ Tổng tư lệnh nghiên cứu, chuẩn bị nhằm "Tiêu diệt sinh lực địch, kể cả quân tăng viện từ đồng bằng lên, giải phóng một vùng rộng lớn ở Tây Bắc và Thượng Lào, tranh thủ nhân dân"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005, tr. 158). Trong đó nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch có vị trí quan trọng đặc biệt. Chỉ có làm tốt nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch mới làm tốt được hai nhiệm vụ kia. Giải phóng được Tây Bắc và Thượng Lào còn có ý nghĩa lâu dài đối với cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước. Giải phóng được Tây Bắc sẽ mở rộng thêm hậu phương chiến lược, liên kết được chiến trường hai nước, mở rộng thêm được đường liên lạc với quốc tế. Đặc biệt giải phóng được Tây Bắc là bước đầu của chiến lược giành quyền làm chủ vùng rừng núi suốt từ Việt Bắc, Tây Bắc đến miền Đông Nam Bộ, tạo điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam pu chia1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2005. tr. 158).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM