Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:45:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33065 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #140 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:41:45 pm »

Từ năm 1952, ta thi hành chính sách thuế nông nghiệp ở khu căn cứ có kết quả, sang năm 1953 đã mở rộng chính sách thuế, cuối năm 1953 thu thuế nông nghiệp đạt kế hoạch. Năm 1954 nhân dân đóng góp vượt mức chỉ tiêu 176 tấn lương thực.

Mạng lưới mậu dịch quốc doanh được thành lập tổ chức vận chuyển, tiếp tế nông cụ, vải, muối, thuốc lào và các mặt hàng thiết yếu khắc phục vụ đời sống nhân dân cán bộ. Những người nghèo túng được Chính phủ cứu tế. Tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa miền xuôi - miền ngược, nhân dân các dân tộc trong tỉnh được xây dựng và phát triển. Tổ chức thu mua lâm thổ sản đươc trên 5.0000 đồng và hạ giá một số mặt hàng cần thiết. Do đó sức mua của nhân dân năm 1954 tăng gấp 2 lần năm 1953. Các ngành ngân hàng, tài chính được củng cố đã góp phần lưu thông tiền tệ, ổn định giá cả, hướng dẫn thương nhân kinh doanh, buôn bán những mặt hàng thiết yếu cho nhân dân. Các nghề thủ công cổ truyền dân tộc được khuyến khích phát triển như dệt vải, dệt lanh, sản xuất chum, vại, cày, cuốc, thuổng, dao... phù hợp thị hiếu và sức mua của dân.


Về văn hoá tư tưởng, bắt đầu bằng "diệt giặc dốt". Chế độ thực dân phong kiến để lại một di sản văn hoá vô cùng thảm hại: Hơn 90% dân số mù chữ, tri thức nghèo nàn, khoa học kỹ thuật lạc hậu... Nhưng cách mạng là sáng tạo. Đảng bộ quân và dân tỉnh Sơn La hết sức chú ý đến sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, y tế và từng bước thực hiện quyền dân chủ trong nhân dân. Nhiều con em các dân tộc được cử về trường của Trung ương và Khu đào tạo trở thành giáo viên, cán bộ y tế. Hàng năm giáo viên miền xuôi đã xung phong lên Sơn La đem văn hoá, tiếng nói, chữ viết của Đảng, Bác Hồ về với bản làng các dân tộc. Ngành học phổ thông, vỡ lòng và bình dân học vụ đều phát triển. Năm 1952 - 1953 đã mở 4 trường với hơn 100 học sinh khu tự do, năm học 1953 - 1954, tỉnh đã mở được 14 trường với 183 lớp, thu hút 4.511 học sinh từ vỡ lòng đến phổ thông.


Công tác vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân được chú ý hơn trước. Những tập tục xã hội cũ như mê tín, dị đoan, ma chay, cưới xin, xên bản, xên mường... được giảm dần, ốm đau, sinh đẻ được y tế can thiệp kịp thời. Các hình thức văn nghệ dân tộc múa, hát được khuyến khích sáng tác ngợi ca những chiến công oanh liệt của quân và dân ta, tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, công ơn trời biển của Đảng, của Bác, ca ngợi quê hương đất nước.


Về quân sự, khi bước vào kháng chiến so sánh lực lượng ta và địch, có người đã ví "châu chấu đá voi". Nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh với cái nhìn biện chứng về chiến tranh nhân dân chống đế quốc xâm lược đã viết: "Chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quân chúng của dân tộc. Cho nên, chúng ta quả quyết trả lời những kẻ lừng chừng và bi quan đó rằng: "nay tuy châu chấu đá voi, nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra".


Sau chiến thắng Tây Bắc năm 1952, Tỉnh ủy Sơn La đã chỉ đạo quân và dân "Tiếp tục phát triển nhanh du kích, kiên quyết hoàn thành kế hoạch xây dựng tiểu đoàn bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tích cực chống địch càn quét lấn chiếm, diệt do thám, gián diệp địch". Biên chế quân số các huyện từ 1 trung đội nâng lên 1 đại đội. Sạu khi rút một số đơn vị bộ đội chủ lực về, tỉnh tập trung xây dựng được 2 tiểu đoàn chủ lực. Tuyển quân được 1.043 tân binh. Lực lượng dân quân du kích có 1.151 người vừa chiến đấu bảo vệ và phục vụ chiến đấu. Cuối năm 1953, quân và dân Sơn La đánh lui các cuộc càn quét của quân Pháp từ cứ điểm Nà Sản, tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của cho chiến dịch Thượng Lào, chiến dịch giải phóng Lai Châu. Tại nhiều vùng có các cụm, nhóm phỉ hoạt động gây rối chống phá, quân và dân Sơn La đã cùng bộ đội chủ lực của Khu và Bộ tiến hành tiễu phỉ thắng lợi ở Nậm Khắt (Mù Căng Chải), Ngọc Chiến (Mường La), Tiểu khu 99 (Phù Yên), Mường Lầm (Sông Mã), Co Tòng, Chiềng Pấc, Mường Sại (Thuận Châu); chống gián điệp, biệt kích, truy lùng Việt gian phản động, tay sai của địch cài lại ở Yên Châu, Mai Sơn... kêu gọi hàng nghìn thanh niên bị ép theo phỉ trở về với cách mạng. Đặc biệt từ 23 tháng 10 đến ngày 23 tháng 11 năm 1953, quân và dân Sơn La đã cùng các đơn vị chủ lực đánh tan lực lượng phỉ ở Thuận Châu, bắt và gọi hàng 2.300 tên, trong đó có 5 tên cố vấn Pháp, thu 39 khẩu súng trung liên, 859 súng trường các loại cùng nhiều đạn dược, quân trang quân dụng. Tiễu phỉ thắng lợi đã đem lại sự ổn định về chính trị, cuộc sống bình yên cho nhân dân Sơn La, tạo điều kiện cho việc tiến về giải phóng Lai Châu và giải phóng toàn bộ Khu Tây Bắc.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, mặc dù bom đạn địch đánh phá dữ dội, nhưng hàng vạn quân và dân các dân tộc Sơn La từ khắp các bản làng, vùng miền khác nhau... không quản ngày, đêm vượt qua tuyến lửa, trèo đèo lội suối, vận chuyển lương thực, đạn dược phục vụ chiến đấu. Trên các cung đường băng qua rừng núi Sơn La, hàng nghìn phương tiện vận tải thô sơ, dân công các địa phương ngày đêm nối nhau chuyển hàng ra mặt trận... Lực lượng dân công Sơn La với 21.687 người đã đóng góp 2.434.759 ngày công vừa tham gia làm đường, sửa đường, vừa vận chuyển cho chiến dịch. Các phương tiện vận tải được huy động trong dân gồm 83 thuyền ca nô, hơn 800 ngựa thồ, góp phần vào việc vận chuyển khối lượng lớn 4.450.000 tấn hàng hoá ra mặt trận, cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng.


Những thắng lợi to lớn mà quân và dân Sơn La đã giành được như trên là do Đảng ta có chủ trương, chính sách sáng suốt; đồng thời Sơn La lại được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng tư lệnh và Khu ủy; với lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, nhân dân quyết định đi theo kháng chiến đến cùng, lại được sự cổ vũ của những thắng lợi liên tiếp trên các chiến trường, đặc biệt là sau chiến dịch Tây Bắc, quân và dân Sơn La thực hiện thành công chủ trương "Kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính" một cách vẻ vang.


Với vị trí chiến lược quan trọng của các tỉnh Tây Bắc đối với nước ta, bài học rút ra từ chiến thắng Tây Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những thập niên qua, luôn có giá trị sâu sắc đối với thực tiễn hiện nay.


Với yêu cầu thiết thực, đồng bộ, toàn diện và hiệu quả, tỉnh Sơn La đã và đang: ưu tiên giữ vững ổn định chính trị với cách làm và bước đi thích hợp trong việc thực hiện chính sách "các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ" của Đảng, Nhà nước ta. Tập trung đầu tư đi trước đối với hạ tầng giao thông và giáo dục đào tạo trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở vùng nông thôn, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định đời sống nhân dân bằng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho các hộ nông dân, dân tộc thiểu số. Tổ chức lồng ghép các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, cụ thể hoá và ban hành các chính sách đầu tư riêng cho các bản đặc biệt khó khăn nhất, với tinh thần "khó làm trước, dễ làm sau" và các khu căn cứ kháng chiến trước đây của tỉnh, bảo đảm "bản có công trình và dân có việc làm tăng thu nhập"; ra sức thực hiện: xây dựng mối quan hệ liên minh công - nông - trí thức trong phát triển cây công nghiệp, với chính sách các hộ nông dân được góp giá trị quyền sử dụng đất để trồng cây công nghiệp và mua cổ phần, hộ nông dân vẫn giữ giấy cấp quyền sử dụng đất và làm công nhân trực tiếp cho công ty...


Chủ động rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo tinh thần Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc, kiên quyết cắt bỏ các dự án chuyển đôi mục đích vì mục tiêu lợi nhuận và ảnh hưởng đến quy hoạch tổng thể của tỉnh và của cả vùng Tây Bắc.


Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, chương trình công nghiệp năng lượng đang diễn ra với nhịp độ nhanh với nhà máy Thủy điện Sơn La có công suất 2.400 MW lớn nhất Đông Nam Á sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2012 và 49 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đang được xây dựng với tổng công suất 3.398 MW, đã và đang tác động mạnh mẽ việc hình thành các chuỗi đô thị mới và các cụm công nghiệp khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc; chương trình di dân tái định cư các công trình thuỷ điện được tỉnh chỉ đạo chặt chẽ, với yêu cầu di chuyển an toàn và đảm bảo cuộc sống nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ; chương trình phòng chống ma tuý được triển khai quyết liệt theo phương châm "tập trung, thống nhất, toàn dân, toàn diện, kiên trì" và "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người" thực sự trở thành phong trào mạnh mẽ của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Sơn La.


Các chủ trương, chính sách về xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững mạnh về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh đang được tập trung lãnh đạo thực hiện một cách nghiêm túc gắn chặt với việc tăng cường hợp tác xây dựng địa bàn biên giới Việt Nam - Lào ổn định và phát triển toàn diện.


Coi trọng xây dựng cơ sở Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn trong sạch vững mạnh; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đưa Sơn La tiến nhanh, tiến mạnh hơn nữa, xứng đáng với tầm vóc lịch sử đã giành được qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời gian qua. Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc Sơn La nguyện đem tất cả khả năng, sức lực của mình giữ gìn, bảo vệ và phát huy những thành quả đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #141 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:02:39 pm »

TỪ CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952 SUY NGHĨ VỀ XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ HIỆN NAY TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 2

Thiếu tướng ĐẶNG VĂN LUYẾN
Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 2


Cách đây vừa tròn 60 năm, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, cùng với quân và dân cả nước, quân và dân Tây Bắc đã góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc năm 1952, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển lên một giai đoạn mới. Từ thắng lợi này, chúng tôi xin nêu một số vấn đề vận dụng vào xây dựng khu vực phòng thủ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay trên địa bàn Quân khu 2.


Đến năm 1952, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp đã bước sang năm thứ 7. Với những thắng lợi liên tiếp và sự trưởng thành của quân và dân ta, nhất là sau thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình, thực dân Pháp từ thế tiến công buộc phải chuyển sang thế phòng ngự bị động trên cả hai mặt trận chính diện và địch hậu. Nhằm thay đổi tình thế, địch ra sức củng cố, phát triển cả về quân sự và chính trị. Tại chiến trường Tây Bắc, chúng tăng cường lực lượng nhằm uy hiếp, khống chế bên sườn và sau lưng ta, cắt liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với Khu 3, Khu 4, tạo điều kiện che chở cho chúng ở Thượng Lào. Để đối phó trước sự tiến công của ta ở Tây Bắc địch bố trí 8 tiểu đoàn và 43 đại đội bộ binh, tổ chức thành 144 cứ điểm thuộc các phân khu Lai Châu, Sông Đà Nghĩa Lộ, Sơn La và các tiểu khu độc lập Thuận Châu Phù Yên, Tuần Giáo.


Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh là Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Lào Cai từ Liên khu Việt Bắc, thành lập Khu Tây Bắc. Đây là địa bàn đất rộng, người thưa, gồm nhiều dân tộc (34 dân tộc), chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số, kinh tế nghèo nàn, đường sá ít, núi cao, rừng rậm, sông suối nhiều, việc cơ động lực lượng và vận chuyển gặp rất nhiều trở ngại, về mùa thu và mùa đông, mây mù bao phủ suốt ngày và đêm, làm hạn chế đến tầm quan sát và ảnh hưởng tới hoạt động của không quân và pháo binh, nhưng lại có nhiều thuận lợi trong việc di chuyển lực lượng và tiếp cận mục tiêu.


Sau thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình, quyết không để cho địch rảnh tay bình định, củng cố thế chiếm đóng của chúng ở đồng bằng và trung du, từ kinh nghiệm của các chiến dịch lớn trước đó, Đảng ta nhận định phương hướng tiến công chiến lược có lợi cho ta lúc này là chiến trường rừng núi và chủ trương tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu tìm nơi sơ hở của địch mà đánh. Qua phân tích tình hình về mọi mặt, nhất là so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường, các điều kiện đảm bảo cho mở chiến dịch trong Thu Đông năm 1952 đã chín muồi, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc.


Quán triệt Nghị quyết Trung ương và quyết tâm của Tổng Quân ủy về mở chiến dịch Tây Bắc, cuối tháng 9 năm 1952, Bộ Tư lệnh Khu Tây Bắc mở Hội nghị cán bộ toàn khu để phổ biến, quán triệt mục đích, ý nghĩa và giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Với quyết tâm "tất cả cho chiến dịch toàn thắng", chỉ sau một thời gian ngăn, các địa phương trên địa bàn Tây Bắc đã huy động được 35.000 lượt dân công làm nhiệm vụ mở đường, vận chuyển được 50.000 tấn hàng từ hậu phương ra tiền tuyến, huy động 430 thuyền nan, trong 3 ngày đêm đã chở được 30.000 lượt bộ đội vượt sông Thao an toàn.


Chiến dịch Tây Bắc bắt đầu từ ngày 14 tháng 10 và kết thúc vào ngày 10 tháng 12 năm 1952. Sau gần 2 tháng chiến đấu, quân và dân ta đã giành thắng lợi to lớn, tiêu diệt 1.005 tên địch, bắt 5.024 tên, diệt 4 tiểu đoàn, 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ, phá huỷ và thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực, thực phẩm của địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn có diện tích 28.500km2, với 25 vạn dân, mở rộng hậu phương kháng chiến của cả nước.


Cùng với quân và dân cả nước, quân và dân Tây Bắc đã góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến dịch đề ra. Từ thắng lợi của chiến dịch, có thể rút ra một số vấn đề có ý nghĩa sau:

Một là, về chỉ đạo chiến lược, ta đã phân tích, đánh giá đúng tương quan lực lượng địch, ta, để lựa chọn chiến trường chính và mục tiêu chủ yếu là Tây Bắc để mở chiến dịch. Mở chiến dịch Tây Bắc, ta đã có sự cân nhắc đúng đắn, đưa chủ lực vào chiến trường rừng núi, địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược, nơi địch có lực lượng phòng thủ yếu, lại khó phát huy được sức mạnh về hoả lực pháo binh, không quân. Trong khi đó chiến trường rừng núi lại phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường đánh rừng núi của bộ đội ta.


Ta luôn tạo thế, nắm quyền chủ động chiến dịch, biết lượng sức, khéo léo phát huy thế mạnh chiến lược của mình đánh vào thế yếu của địch là giữa tập trung cơ động với phân tán chiếm đóng, giữa hành động quân sự với thủ đoạn chính trị... ta đã biết kìm chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của địch, đã tiến công thì đánh dứt điểm, nhanh chóng dồn địch vào thế bị động, bất ngờ.


Việc xác định mục đích chiến dịch và phương châm tác chiến chiến dịch đúng đắn, chính xác là: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một phần đất đai ở Tây Bắc", khẳng định trình độ chỉ đạo chiến lược, trình độ tổ chức, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có những bước phát triển mới, là kết quả của việc nắm vững quy luật vận động khách quan chiến tranh cách mạng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #142 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:04:24 pm »

Hai là, tập trung lực lượng đánh chiếm những khu vực then chốt, kết hợp với đón lõng, truy kích kịp thời, mạnh dạn thọc sâu, vu hồi, không cho địch co cụm, tranh thủ thời cơ đánh địch ngoài công sự.

Trong chiến dịch, ta tập trung lực lượng đập vỡ một số khu vực then chốt, kết hợp đón lõng, truy kích kịp thời, mạnh dạn thọc sâu vu hồi, chia cắt địch, kết hợp trong ngoài cùng đánh. Nhờ phân bố lực lượng một cách khoa học, ta đã tạo được một ưu thế về binh lực, hoả lực hơn hẳn địch trong một số trận đánh có tính chất quyết định, như trận đánh vào Nghĩa Lộ, khu vực Mộc Châu.


Táo bạo thọc sâu, chia cắt, vu hồi là ưu điểm nổi bật của chiến dịch. Trong đợt 2 của chiến dịch, ta bí mật vượt sông, luồn sâu để đánh bất ngờ vào khu vực hiểm yếu là cách đánh táo bạo, vận dụng rất linh hoạt, sáng tạo ở địa hình rừng núi. Mũi tiến từ Quỳnh Nhai xuống Thuận Châu là mũi thọc sâu vu hồi rất lợi hại, biết nắm thời cơ có lợi, thừa thắng xốc tới, thu được thắng lợi lớn.


Ba là, tổ chức chuẩn bị chiến dịch phải nắm vững nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ tiếp theo, quy rõ trách nhiệm, hiệp đồng chặt chẽ, lấy cơ quan tham mưu làm trung tâm để hiệp đồng.

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch là vấn đề rất quan trọng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương, vì vậy phải có công tác hiệp đồng chặt chẽ, cụ thể, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao từ trên xuống dưới. Do vậy, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã sớm xác định hướng tiến công là Tây Bắc để có thời gian chuẩn bị chu đáo cho chiến dịch (trên 3 tháng). Đồng thời, kế hoạch tác chiến chiến dịch được xác định sớm và cụ thể hoá từng bước nên có thời gian để hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị.


Việc tổ chức điều tra nắm địch, khảo sát địa hình được tiến hành theo 2 bước: Bước điều tra cơ bản phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tác chiến và bước trinh sát phục vụ cho việc chỉ huy, lấy cơ quan tham mưu làm trung tâm hiệp đồng giữa các cơ quan và giúp cho chỉ huy để chỉ đạo các cấp được kịp thời, thống nhất.


Bốn là, trong những tình huống bất lợi phải chủ động, mưu trí kết thúc chiến dịch đúng lúc, tìm mọi cách lừa địch, đảm bảo an toàn lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ tiếp theo.

Sau 4 trận tiến công liên tiếp không thành công, bộ đội bị thương vong nhiều, quân số thiếu hụt, sức khoẻ giảm sút, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định rút khỏi Nà Sản, kết thúc chiến dịch. Đây là một bài học đáng ghi nhớ, ta đã biết khéo léo kết thúc chiến dịch một cách có lợi nhất tránh được những tổn thất không cần thiết, bảo toàn được lực lượng, giữ vững được khí thế và niềm tin cho bộ đội. Điều này khẳng định bản lĩnh vững vàng, tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm và tính quyết đoán của người chỉ huy.


Kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật. Kết thúc chiến dịch trong tình huống thuận lợi đã khó, kết thúc trong điều kiện bất lợi càng khó khăn gấp bội. Nhận rõ điều này, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tích cực, chủ động tiến hành nhiều biện pháp có hiệu lực nhằm tạo bất ngờ đánh lừa địch, đảm bảo an toàn cho lực lượng ta.


Năm là, quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng tinh thần chủ động, tích cực tiến công địch, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách dân tộc, thường xuyên giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đối với cả bộ đội và dân công.


Đây là điều kiện không thể thiếu để đánh thắng quân địch, nắm vững yêu cầu này các đơn vị đã coi trọng công tác giáo dục tình hình nhiệm vụ, mục đích ý nghĩa của chiến dịch, đồng thời giáo dục chu đáo chính sách dân tộc của Đảng, các tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ tiến quân vào Tây Bắc.


Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị, với nhiều biện pháp tích cực, liên tục, nên công tác chính trị đã xây dựng được cho bộ đội và dân công ý thức tự giác, niềm tự hào trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình với quyết tâm cao nhất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #143 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:05:19 pm »

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đang đứng trước những thời cơ, vận hội mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức mới. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" bạo loạn lật đổ, các cuộc xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, bạo loạn ly khai, lật đổ, khủng bố, tranh chấp biên giới lãnh thổ, biển đảo và tài nguyên thiên nhiên sẽ tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp hơn.


Tây Bắc là địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh, là "phên giậu" của cả nước.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Nghị quyết Đại hội lần thứ vn của Đảng bộ Quân khu 2, việc xây dựng khu vực phòng thủ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay đang đặt ra những yêu cầu mới cao hơn. Trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, tiếp thu những kinh nghiệm và bài học thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc trong Thu Đông 1952,qua đó có thể vận dụng những nội dung sau đây vào xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 2 ngày nay.


Một là vận dụng một cách sáng tạo các quan điểm, tư tưởng về xây dựng toàn diện mọi mặt để tác chiến giành thắng lợi.

Trong chiến tranh hiện đại, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, vì vậy trong xây dựng khu vực phòng thủ phải tập trung xây dựng vững chắc toàn diện về mọi mặt, chỉ có xây dựng tiềm lực, kể cả tiềm lực vật chất lẫn tiềm lực tinh thần dựa vào sức mình là chính thì mới đảm bảo cho thế chủ động luôn được giữ vững. Trong chiến dịch Tây Bắc do ta làm tốt công tác chuẩn bị, từ chuẩn bị con người, đến cơ sở vật chất, với thời gian gần 3 tháng, cho nên từ khi chiến dịch bắt đầu cho đến khi kết thúc, ta luôn giữ thế chủ động về mọi mặt, đảm bảo cho chiến dịch giành thắng lợi. Qua thực tiễn chiến dịch, những quan điểm, tư tưởng về xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu cho các lực lượng tham gia chiến dịch, nhất là xây dựng về tư tưởng tích cực tiến công tiêu diệt địch, xây dựng tác phong dũng cảm, dẻo dai trong chiến đấu, làm cho bộ đội vượt qua mọi khó khăn, chịu đựng gian khổ để đảm bảo cho nhiệm vụ được hoàn thành vẫn còn nguyên giá trị để vận dụng vào trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay, đó chính là tư tưởng xây dựng cho quân và dân ta có ý chí tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính.


Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nếu chiến tranh xảy ra, thì đây là một cuộc chiến tranh vô cùng quyết liệt và phức tạp, phải đối phó với một kẻ địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Vì vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta phải tập trung xây dựng yếu tố chính trị tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do", "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", với một ý chí sát đã kiên cường bám trụ, tự lực, tự cường, chủ động đánh địch, mỗi người dân là một chiến sĩ đánh địch. Đồng thời, phải chuẩn bị cho khu vực phòng thủ có ý chí "quyết đánh, dám đánh và biết đánh", đánh bằng mọi thử vũ khí có trong tay, với mọi đối tượng, trong mọi tình huống. Đối với một kẻ địch có ưu thế vượt trội về vũ khí công nghệ cao, phải xây dựng khu vực phòng thủ cần phải "biết đánh", vận dụng tư tưởng lấy vũ khí thô sơ để chống lại hiện đại, sáng tạo ra cách đánh phù hợp và hiệu quả. Biết coi trọng bảo toàn lực lượng, hạn chế tối đa uy lực binh khi, kỹ thuật hiện đại của địch, để càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành và giành thắng lợi.


Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, phải xây dựng cho khu vực phòng thủ quan điểm tư tưởng: Dựa vào dân, phát huy sức mạnh mọi nguồn lực tại chỗ, toàn dân đánh giặc, đánh giặc trên mọi phương diện, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. Phát huy tinh thần sáng tạo lấy thô sơ để thắng hiện đại, coi trọng vũ khí thô sơ như chông, mìn, cạm bẫy tự tạo... để đánh thắng địch.


Để xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc, chúng ta phải biết vận dụng những tinh hoa bài học kinh nghiệm trong chiến dịch Tây Bắc về tổ chức xây dựng lực lượng, chuẩn bị thế trận, kết hợp sức mạnh tại chỗ với sức mạnh huy động từ nhiều phía, sự phối hợp giữa các lực lượng, các đơn vị, các địa phương trên địa bàn với nhau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #144 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:06:28 pm »

Hai là, tranh thủ mọi thời gian, tích cực chủ động chuẩn bị thật đầy đủ về mọi mặt.

Với thời gian hơn ba tháng chuẩn bị cho chiến dịch, đến giờ nổ súng là cả một quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ từ Trung ương đến các đơn vị bộ đội, các địa phương nơi địa bàn chiến dịch diễn ra. Kết quả của sự chuẩn bị chu đáo cả về con người và phương tiện, vật chất ấy được chứng minh bằng những chiến công của quân và dân ta trên chiến trường Tây Bắc. Quá trình đó để lại cho chúng ta nhiều bài học quý có giá trị để vận dụng vào trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay. Mọi công tác chuẩn bị về xây dựng khu vực phòng thủ phải đáp ứng cho được cả những yêu cầu trước mắt, hiện tại và tương lai. Công tác chuẩn bị đó phải toàn diện, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cái gì trước, cái gì sau. Xong điều đặc biệt là phải quan tâm xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ làm nòng cốt, đảm bảo chu đáo về cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật; tổ chức sơ tán bảo toàn lực lượng, phối hợp hiệp đồng giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ, nhất là lực lượng vũ trang với cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban ngành, đoàn thế địa phương.


Trong xây dựng khu vực phòng thủ, trước hết phải chuẩn bị về con người. Phải bằng nhiều biện pháp để tiến hành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn dân, cho các đối tượng, chú trọng kết hợp giữa giáo dục vận động quần chúng với quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội; xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng; kết hợp huấn luyện lực lượng vũ trang với xây dựng giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội và vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị vững chắc. Trong xây dựng khu vực phòng thủ, chúng ta phải vận dụng các quan điểm, tư tưởng về tổ chức thế trận, nghệ thuật bố trí đội hình và mưu mẹo sử dụng lực lượng. Từ phương án tác chiến để xác định thế trận xây dựng công trình, tổ chức bố trí phải liên hoàn, vững chắc, toàn diện cả công trình quân sự và dân sự, cả công trình chiến đấu và công trình phòng tránh, công trình bảo đảm cho chỉ huy và khu vực kho tàng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong một thể hoàn chỉnh, thống nhất trong khu vực phòng thủ.


Về chuẩn bị cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, bài học quan trọng nhất là biết dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân, có dân là có tất cả. Ngày nay, quá trình xây dựng khu vực phòng thủ trong điều kiện kinh tế đất nước đã khá hơn, xong quan điểm dựa vào dân, huy động mọi nguồn lực có trong dân vẫn còn nguyên giá trị. Bài học trong chiến dịch Tây Bắc về huy động mọi nguồn lực trong dân để phục vụ cho chiến dịch giành thắng lợi là một bài học quý cần được vận dụng trong điều kiện xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay.


Ba là, vận dụng nghệ thuật tác chiến chiến dịch một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh.

Nếu chiến tranh xảy ra, đất nước ta bị xâm lược, chúng ta phải tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện để bảo vệ Tổ quốc trong tình thế không cân sức, kẻ thù vượt trội so với ta về vũ khí trang bị, về cơ sở vật chất. Kinh nghiệm qua chiến dịch Tây Bắc cho thấy muốn giành thắng lợi chúng ta phải tìm ra cách đánh thích hợp, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân với nhiều hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu;kết hợp giữa tiến công với chốt chặn, tiêu hao, kìm giữ, bao vây, tập kích, phục kích. Chiến đấu luôn đi đôi với bảo vệ, bảo toàn lực lượng, chuẩn bị hậu cứ; coi trọng chiến đấu tiêu diệt dịch nhưng phải giữ được đất, giữ được dân. Ngày nay, trong tác chiến của khu vực phòng thủ trên một địa bàn rừng núi, trung du, đồng bằng và đô thị xen kẽ, phải vận dụng sáng tạo chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới với sự phát triển của một nền khoa học phù hợp, đáp ứng cho yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, mà bài học rút ra là phải có sự chỉ đạo đúng, chủ động về chiến dịch và sớm có kế hoạch chuẩn bị, công tác chuẩn bị phải chu đáo về mọi mặt, triển khai được thế trận tiến công hiểm hóc, giữ được bí mật, bất ngờ, vận dụng được cách đánh phù hợp với điều kiện so sánh lực lượng để hạn chế chỗ mạnh của địch, phát huy sở trường của ta, đồng thời phải phát huy được sức mạnh toàn dân trong chuẩn bị cũng như trong chiến đấu, phát huy cao độ yếu tố chính trị tinh thần, sự sáng tạo của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ để đánh bại kẻ thù. Đây là những bài học kinh nghiệm quý cần vận dụng vào trong xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 2 ngày nay.


Bốn là, vận dụng linh hoạt cơ chế đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu trong xây dựng khu vực phòng thủ.

Ngày nay, trong tác chiến khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) có nhiều lực lượng tham gia, với nhiều mối quan hệ phức tạp. Tuy đã có cơ chế, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong giải quyết những vấn đề liên quan. Hiện nay, mọi hoạt động của khu vực phòng thủ đang được vận hành theo Nghị quyết 02-BCT, song những kinh nghiệm về lãnh đạo, điều hành chỉ huy tác chiến trong tình hình hiện nay trên địa bàn Quân khu 2 vẫn có nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, trong đó nhất là việc phản cấp lãnh đạo, điều hành và chỉ huy đối với từng đối tượng, từng lực lượng, từng bộ phận và sự phối hợp giữa các ngành với nhau trong một khu vực phòng thủ (giữa cơ quan quân sự với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể) theo một cơ chê thống nhất về sự lãnh đạo, điều hành và chỉ huy.


Để đánh thắng kẻ địch có ưu thế về vũ khí công nghệ cao, về cơ sở vật chất, ta phải có cách đánh phù hợp, sáng tạo, có bản lĩnh và ý chí quyết tâm cao. Nhưng, phải bắt đầu từ sự lãnh đạo, chỉ huy sáng suốt, tài tình thì như vậy mới phát huy được sức mạnh của mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí trang bị có trong tay trong khu vực phòng thủ của thế trận chiến tranh nhân dân, dụ địch vào thế trận mà ta đã chuẩn bị sẵn. Tất cả mọi hoạt động tác chiến trong khu vực phòng thủ diễn ra trong một không gian rộng và thời gian chưa thể đoán biết trước được, lực lượng tham gia đa dạng, vì thế đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ huy sâu sát kịp thời, nắm bắt được những tình huống diễn ra trên từng hướng, từng lực lượng qua từng giai đoạn để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong khu vực phòng thủ.


Chiến thắng Tây Bắc là thắng lợi lớn của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tạo cơ sơ tiếp tục đưa cuộc kháng chiến tiến lên giành những thắng lợi mới, đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, có tầm vóc chiến lược cho thế hệ hôm nay. Tuy nhiên, học tập và vận dụng những bài học kinh nghiệm đó vào xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 2 ngày nay phải có sự sáng tạo, sát với tình hình quân khu trong thời kỳ mới. Vận dụng có hiệu quả những bài học lịch sử đó sẽ góp phần xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Quân khu 2, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #145 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:12:34 pm »

PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG TÂY BẮC TRONG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 2 HIỆN NAY

Thiếu tướng PHẠM NGỌC CHÂU
Phó Chính ủy Quân khu 2


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cùng với chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, chiến thắng chiến dịch Biên Giới 1950 và chiến dịch Hoà Bình 1952, chiến thắng Tây Bắc như một dấu ấn quan trọng, một dấu son trong lịch sử kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta nói chung, của quân và dân Tây Bắc nói riêng. Kỷ niệm 60 năm ngày chiến thắng Tây Bắc 1952, từ những bài học kinh nghiệm rút ra, xin nêu một số vấn đề vận dụng vào trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 2 hiện nay, để góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Sau chiến thắng chiến dịch Biên Giới 1950 và chiến dịch Hoà Bình 1952, quân và dân ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ phản công và tiến công, nhằm giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta tiến lên một bước mới.


Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc Bộ chỉ huy chiến dịch được thành lập, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và Yên Bái, từ Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc, với diện tích 44.300km2 và dân số gần 440.000 người. Tây Bắc là một vùng rừng núi trùng điệp, sông suối nhiều, đường sá ít, gặp Tắt nhiều khó khăn cho việc cơ động lực lượng và vận chuyển vật chất. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng đối với cách mạng Đông Dương.


Bước vào Đông - Xuân 1952-1953, từ đánh giá, so sánh về thế và lực giữa ta và địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy hạ quyết tâm mở chiến dịch Tây Bắc. Chiến dịch diễn ra từ ngày 14 tháng 10 năm 1952 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, được hình thành 3 đợt: Đợt 1 diễn ra từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 10 năm 1952; đợt 2 diễn ra từ ngày 7 đến ngày 22 tháng 11 năm 1952; đợt 3 diễn ra từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952. Phương châm của chiến dịch được Bộ chỉ huy chiến dịch xác định là: "Đánh điểm diệt viện". Sau gần 60 ngày đêm chiến đấu gian khổ, hy sinh, ác liệt, ta đã tiêu diệt, bắt và làm bị thương trên 6.000 tên địch; nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động thiện chiến của địch bị xoá sổ. Âm mưu xây dựng "Xứ Thái tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của thực dân Pháp bị thất bại. Tám phần mười đất đai của Tây Bắc được giải phóng, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, bổ sung cho tiềm lực kháng chiến và làm hậu phương của cả nước thêm lớn mạnh; đường giao thông quốc tế được nối liền với Trung Quốc và Lào, từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4, tạo điều kiện mới để quân và dân ta tiến lên giành thắng lợi.


Chiến dịch đã giành được thắng lợi to lớn về mọi mặt mà Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra. Tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc, ngày 29 tháng 1 năm 1953, Bác Hồ thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ biểu dương cán bộ, chiến sĩ: "Trung ương, Chính phủ khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Trung ương, Chính phủ, Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước".


Những giá trị tinh thần, cùng những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Tây Bắc 1952, bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, sự chỉ đạo đúng đắn kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy, của Bộ chỉ huy chiến dịch, đó còn là truyền thống trung thành một lòng với Đảng, với nhân dân; tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn; tinh thần tự lực, tự cường; quyết chiến, quyết thắng, luôn là niềm tự hào, nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta, đây chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên chiến thắng Tây Bắc.


Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang đứng trước những vận hội lớn, song cũng không ít những khó khăn thách thức trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Quân khu 2 là địa bàn rừng núi, biên giới, nền kinh tế - xã hội chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch lợi dụng chống phá quyết liệt trên nhiều lĩnh vực, như: truyền học đạo trái pháp luật, kích động, lôi kéo đồng bào di, dịch cư, nhất là một số đồng bào người Mông, nhằm tập hợp lực lượng tiến tới thành lập "Nhà nước Mông tự trị" chống phá cách mạng nước ta... Trước tình hình trên và những yêu cầu nhiệm vụ mới cũng đặt ra cho lực lượng vũ trang quân khu và nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tây Bắc nhiều trọng trách với nỗ lực đòi hỏi ngày càng cao hơn.


Để phát huy tinh thần chiến thắng Tây Bắc 1952 và truyền thống "Trung thành, tự lực, đoàn kết, anh dũng, chiến thắng", trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 2 hiện nay, cần phấn đấu thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Trước hết, chiến thắng Tây Bắc là chiến thắng của tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm chiến đấu cao, với lòng tin tưởng tuyệt đối của quân và dân Tây Bắc vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thực tiễn trong chiến đấu, xây dựng, trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu 2 hơn 60 năm qua đã chứng minh rằng: nhờ luôn được bồi đắp tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc, thường xuyên củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu và lòng tin tuyệt đối của quân và dân Tây Bắc vào sự lãnh đạo của Đảng, mà lực lượng vũ trang quân khu đã lập nên nhiều thành tích rất đáng tự hào.


Ngày nay để phát huy bài học trên, lực lượng vũ trang Quân khu 2 cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, có tinh thần và ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Tăng cường bồi dưỡng xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy Đảng các cấp. Bảo đảm lực lượng vũ trang luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân trong bất kỳ tình huống nào.


Hai là, chiến thắng Tây Bắc chính là sự lớn mạnh, trưởng thành của quân đội, trình độ tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ, trình độ kỹ chiến thuật của bộ đội; sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng và ỷ thức chấp hành kỷ luật cao trong chiến đấu.

Những kinh nghiệm trên trong xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 2 hiện nay cần nắm vững và quán triệt sâu sắc phương hướng xây dựng quân đội "Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ có số lượng hợp lý, cơ cấu tổ chức phù hợp, có chất lượng ngày càng cao.


Nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu (cả ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) lên một bước mới, với phương châm "Cơ bản, thiết thực, vững chắc".


Bộ đội chủ lực giỏi tác chiến hiệp đồng, liên tục, dài ngày, cơ động nhanh, bí mật bất ngờ, lấy mục tiêu đánh tiêu diệt gọn là chủ yếu, ứng phó linh hoạt với mọi điều kiện, tình huống; đồng thời có khả năng tác chiến giỏi ở địa hình rừng núi, trung du, đồng bằng và thành phố.


Bộ đội địa phương giỏi tác chiến trong khu vực phòng thủ, đánh địch cả trên không và mặt đất, có khả năng tiêu hao rộng rãi, tiêu diệt gọn từng bộ phận quân địch.

Dân quân tự vệ thuần thục tác chiến bảo vệ xã, phường và giữ gìn trật tự trị an, nâng cao trình độ kỹ năng bắn máy bay bay thấp và tên lửa hành trình của địch.

Coi trọng huấn luyện cả đồng bộ và chuyên sâu, vận dụng sáng tạo các quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp, phù hợp với tình hình quân khu. Huấn luyện toàn diện cả quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, cả cán bộ và chuyên môn nghiệp vụ, cả cơ quan và đơn vị.


Huấn luyện nâng cao trình độ công tác tham mưu cho chỉ huy, cơ quan các cấp. Tổ chức diễn tập, luyện tập theo phương án, tăng cường huấn luyện dã ngoại, huấn luyện đêm, luyện tập nâng cao khả năng cơ động, sức dẻo dai để tác chiến liên tục trong mọi điều kiện và tình huống.


Trong huấn luyện quán triệt và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của Đảng, những kinh nghiệm đã được tổng kết trong chiến tranh, chiến đấu để huấn luyện, truyền thụ kinh nghiệm cho bộ đội; nội dung huấn luyện phải sát với địa hình, địa bàn, vũ khí trang bị hiện có và khả năng được tăng cường, sát đối tượng tác chiến và cách đánh của ta.


Gắn huấn luyện với duy trì thực hiện nghiêm các chế độ, nền nếp xây dựng chính quy, kết hợp với nâng cao chất lượng công tác quản lý, rèn luyện kỷ luật bộ đội ở tất cả các cấp làm chuyển biến ý thức và năng lực chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội của mọi quân nhân, không để xảy ra các vụ việc nghiêm trọng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #146 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:15:14 pm »

Ba là, chiến thắng Tây Bắc là kết quả của ý chí, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường của quân và dân Quân khu Tây Bắc góp phần tạo nên chiến thắng.

Mặc dù trong điều kiện kinh tế còn nghèo, đời sống của nhân dân còn rất nhiều khó khăn, song nhân dân các dân tộc Tây Bắc vẫn một lòng hướng về Đảng, hướng về kháng chiến. Đã huy động cho chiến dịch được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt gia súc, gia cầm, 41 tấn thực phẩm khác, cùng hàng chục nghìn ngày công tham gia phục vụ chiến dịch. Đây là sự đóng góp to lớn có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ cho chiến dịch là hoàn toàn đúng đắn, mở ra phương thức bảo đảm hậu cần tại chỗ cho các chiến dịch sau này thành công.


Từ bài học đó, ngày nay trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng, lực lượng vũ trang quân khu hơn lúc nào hết cần tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao ý thức tự lực tự cường, có ý chí và tinh thần khắc phục mọi khó khăn trong sinh hoạt và công tác, có quan điểm cần kiệm, chống tham ô, lãng phí.


Cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng vũ trang quân khu ra sức phát huy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường đẩy mạnh tăng gia lao động sản xuất, kết hợp khai thác và quản lý tốt mọi nguồn lực để xây dựng doanh trại chính quy xanh, sạch, đẹp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, nhằm phục vụ tốt cho thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


Tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, tích cực chủ động tham gia xóa đói, giảm nghèo, phòng chống giảm nhẹ thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu nạn. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các dự án kinh tế kết hợp với quốc phòng trên một số địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, địa bàn người dân tộc thiểu số, vùng biên giới... góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần trong nhân dân và nếu Chiến tranh xảy ra thì đây là nguồn lực hậu cần tại chỗ để phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chiến đấu.


Bốn là, tiêu diệt địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một phần đất đai Tây Bắc là mục tiêu bao trùm của chiến dịch Tây Bắc.

Ngày nay trong xây dựng lực lượng vũ trang quân khu cần quán triệt vận dụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội: Trong khi đặt lên hàng đầu là nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu thi đồng thời phải làm tốt chức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, góp phần nâng cao giác ngộ nhận thức, sự ủng hộ và niềm tin tuyệt đối của nhân dân các dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi công cuộc đổi mới hiện nay.


Tăng cường phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương sớm phát hiện và giải quyết tốt những vấn đề bức xúc ở địa bàn cơ sở, góp phần củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc.


Luôn gắn bó một thiết và hết lòng giúp đỡ nhân dân, "xây dựng thế trận lòng dân", làm tốt công tác dân vận, không ngừng tăng cường, củng cố mối đoàn kết quân dân. Tích cực, chủ động tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh toàn diện làm lực lượng nòng cốt đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên mặt trận chính trị, tư tưởng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.


Chủ động phối hợp chặt chẽ với quân đội, nhân dân các địa phương nước bạn, trước hết là nước bạn Lào anh em, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tăng cường thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị, góp phần giữ vững ổn định trật tự an ninh khu vực biên giới, kịp thời ngăn ngừa và xử lý tốt các điểm nóng, kiên quyết đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực phản động thù địch đối với cách mạng hai nước, tạo điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.


Năm là, chiến thắng Tây Bắc bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, vai trò hệ thống chỉ huy các cấp trong quân đội.

Ngày nay trong xây dựng lực lượng vũ trang quân khu, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải chăm lo xây tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, trước hết cần tăng cường giáo dục xây dựng bản chất giai cấp công nhân trong lực lượng vũ trang quân khu, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ luôn nâng cao nhận thức cách mạng, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất trí cao với quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng; củng cố niềm tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, vững tin vào chính mình, vượt qua mọi khó khăn và cám dỗ, ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và tệ quan liêu, tham nhũng, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.


Quan tâm chăm lo nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng. Xây dựng tổ chức Đảng thực sự trong sạch vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ. Thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tính tiền phong gương mẫu về đạo đức, phong cách, lối sống, năng lực lãnh đạo và tổ chức hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong xây dựng quân đội "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", chú trọng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ tại chỗ, cán bộ là người dân tộc.


Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc có hiệu quả đợt sinh hoạt phê bình và tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã xác định.

Chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân vững mạnh, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở đơn vị cơ sở.


Lịch sử 60 năm qua từ chiến thắng Tây Bắc 1952, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, quân và dân cảnước đã lập nên nhiều kỳ tích anh hùng. Nhưng chiến thắng Tây Bắc vẫn luôn là một dấu ấn quan trọng, là mốc son trong lịch sử của dân tộc. Chiến thắng đó, một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, tầm nhìn và tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy; cùng sự kế thừa tinh hoa truyền thống đánh giặc ngoại xâm, phát triển nên nghệ thuật chỉ đạo, điều hành và phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh để giành chiến thắng trước kẻ thù thâm độc, xảo quyệt và mạnh về quân sự hơn ta gấp nhiều lần.


Thực tiễn 60 năm qua, có thể khẳng định rằng: Những chiến công, thành tích trong chiến đấu, xây dựng, trưởng thành không ngừng của lực lượng vũ trang quân khu luôn được kế thừa, bồi đắp từ những giá trị và tinh thần chiến thắng Tây Bắc. Với ý nghĩa đó, giá trị và tinh thần chiến thắng Tây Bắc 1952 đã và sẽ mãi mãi là điểm tựa tinh thần, là chất liệu quý và vững chắc tạo nên sức mạnh để lực lượng vũ trang Quân khu 2 hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao cho.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #147 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:19:11 pm »

TỪ VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BAC 1952 - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỀN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TS HOÀNG THỊ KIM THANH
Trưởng ban Địa phương Viện Lịch sử Đảng.
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh


Miền Tây Bắc của nước ta, phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); phía Nam giáp tỉnh Phong Xa Lỳ, Sầm Nưa (Lào), chạy dài cho đến tận thung lũng sông cả ở địa đầu dãy Trường Sơn. Đây là miền đất của những ngọn núi cao và cao nguyên. Dãy Hoàng Liên Sơn đồ sộ dài 180km (từ biên giới Trung Quốc đến Vạn Yên). Dãy núi sông Mã toả rộng sang cà Sầm Nưa (Lào) lan rộng đến vùng thượng du Thanh, Nghệ. Giữa hai mạch núi đồ sộ ấy là một vùng núi thấp rất rộng lớn thuộc lưu vực sông Đà và một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hoá, dài chừng 400km. Các sông ở miền Tây Bắc, tiêu biểu là sông Đà và sông Mã đều chảy trong vùng núi đá ra nên dốc, uốn khúc và chảy xiết. Miền Tây Bắc là một vùng thổ nhưỡng, động vật, thực vật phong phú là địa phận của các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu; nơi cư trú của các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Tày, Nùng, Mông... Đây là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng mà cả ta và địch đều phải cố gắng chiếm giữ. Bên nào thắng và giữ được sẽ nắm chắc khả năng làm chủ chiến trường và chủ động đưa cục diện chiến tranh theo ý đồ chiến lược của mình.


Tây Bắc có rất nhiều lợi thế về địa lý, không chỉ có đặc điểm là địa hình rừng núi hiểm trở, dễ cất giấu và xây dựng lực lượng, dễ luồn lách bao vây đối phương, dễ phát triển tác chiến chi viện xuống trung du, đồng bằng, đô thị. Ở đây còn có lợi thế thứ hai đó là một đầu mối giao thông lớn tiếp giáp với các nước Lào, Trung Quốc và thông thương với thế giới bên ngoài, là cầu nối liền giữa nước ta với các nước bạn. Nhận thấy Tây Bắc là khu vực quan trọng về chiến lược hiện tại và sau này, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đẳng đã chủ trương tách 4 tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La, từ Liên khu Việt Bắc thành lập Khu Tây Bắc.


Sau thất bại ở Biên Giới (tháng 12-1950), thực dân Pháp phái đại tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi (Delattre de Tassigny) - danh tướng số một của Pháp, sang Đông Dương làm Tổng chỉ huy kiêm Cao ủy hòng xoay chuyển tình thế. Kế hoạch Đờ Lát ra đòi gồm 4 điểm chính: Một là gấp rút tập trung binh lực; xây dựng lực lượng cơ động mạnh và phát triển quân nguỵ; hai là xây dựng tuyến phòng thủ boong ke (lô cốt xi măng cốt sắt) cắt Bắc Bộ từ Hồng Quảng đến Ninh Bình bằng con đường số 18 bao quanh đồng bằng Bắc Bộ và trung du bằng một "vành đai trắng" nhằm ngăn chặn quân ta tiến công vào vùng địch, ngăn chặn nhân lực, vật lực ta đưa ra vùng tự do; ba là tập trung lực lượng bình định vùng địch kiểm soát, chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc Bộ, củng cố nguỵ quyền và bắt lính; mở những cuộc tấn công ra vùng tự do của ta hòng giành lại thế chủ động, lấy lại tinh thần binh sĩ, có cớ xin thêm viện trợ Mỹ.


Trước âm mưu mới của thực dân Pháp, cuộc kháng chiến của nhân dân ta gặp muôn vàn khó khăn đòi hỏi Đảng ta phải có sách lược mới. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất khoá II (tháng 3-1951) đề ra phương châm tác chiến là tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ba thứ quân, tăng cường công tác địch vận; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, bảo đảm vấn đề cung cấp. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai khoá II (tháng 9-1951) đề ra ba nhiệm vụ lớn: ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá tan kế hoạch "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt đánh người Việt"; bồi dưỡng sức dân, xây dựng lực lượng củng cố hậu phương.


Giữa năm 1952, những thắng lợi của nhân dân ta ở vùng tự do và vùng sau lưng địch đã tạo ra sức mạnh mới cho cuộc kháng chiến. Đảng ta thấy rõ phương hướng tiến công chiến lược cho ta lúc này là vùng miền núi. Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng chủ trương, tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh và quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một phần đất đai và xây dựng căn cứ địa Tây Bắc. Việc chuẩn bị hậu cần đầy đủ đảm bảo cho chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc là rất khó khăn nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Vì Tây Bắc là một vùng rộng lớn,hiểm trở nhiều núi cao, rừng sâu, nhân dân các dân tộc sống thưa thớt, phần lớn đang bị dịch tạm chiếm; việc chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc như tập trung số lượng lớn vũ khí trang bị, lương thực, sửa chữa, tu bổ đường do mưa lũ, máy bay địch bắn phá, công tác vận chuyển hậu cần phải đảm bảo bí mật, bất ngờ. Nắm rõ tầm quan trọng của công tác hậu phương tại chỗ trên địa bàn Tây Bắc, nên ngay từ khi thành lập Khu Tây Bắc, Trung ương Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ quan trọng trước mắt Khu phải làm là: "Chuẩn bị nhân lực, vật lực để phục vụ tiền tuyến"1 (Đảng Cộng sàn Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001. tr. 212). Trước khi vào chiến dịch, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: "ở Tây Bắc, việc tranh thủ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng, vì âm mưu phákhối đoàn kết, chia rẽ dân tộc của địch rất thâm độc. Thực dân Pháp đã thất bại trong việc lập xứ Tày, xứ Nùng, xứ Mương, xứ Thái tự trị ở Cao - Bắc - Lạng, Lào Cai, Hoà Bình, nhưng ở Tây Bắc, thế lực của địch còn mạnh, còn khống chế được phần lớn các dân tộc. Vì vậy, ta phải tranh thủ được nhân dân vùng Tây Bắc để đánh bại âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp. Tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, tranh thủ nhân dân là ba nhiệm vụ quan trọng, liên quan mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ có vị trí đặc biệt quan trọng hơn cả là tiêu diệt sinh lực địch"2 (Dẫn theo: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), tập 2. Nxb Quân độinhân dân. H. 1994, tr. 208). Ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc. Người trực tiếp giao nhiệm vụ cho cán bộ tham gia chiến dịch và chỉ rõ việc muốn giành thắng lợi phải quyết tâm cao. Hậu cầnchiến dịch là vấn đề quan trọng và khó khăn. Người căn dặn: "Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 6. Nxb Chính trị quốc gia. H.2000. tr. 559). Để phát huy sức mạnh tại chỗ của quân và dân các dân tộc Tây Bắc, Bác cũng đã chỉ rõ cho cán bộ, chiến sĩ rằng: "Chính sách đối với đồng bào thiểu số, Chính phủ đã có quy định, các chú và bộ đội phải làm đúng. Đó là một cách tranh thủ nhân dân để phá tan ảm mưu của địch "lấy người Việt hại người Việt". Phải làm cho mỗi chiến sĩ là một người tuyên truyền. Các chú phải làm thế nào khi mình đến thì đồng bào hoan nghênh, khi đóng quân thì đồng bào vui vẻ giúp đỡ, khi mình đi thì đồng bào quyến luyến. Như thế là một đại thắng lợi"2 (Sdd. tr. 560).


Khu ủy Tây Bắc đã động viên toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, huy động mọi khả năng, nhân lực, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ chiến dịch. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, mặc dù phải sống dưới bom đạn, kìm kẹp của quân thù, khó khăn thiếu thốn mọi bề, vẫn tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho bộ đội ta bằng cả tinh thần, vật chất và sức lực. Về mặt hậu cần tại chỗ nhân dân Tây Bắc đã bảo đảm được 6.060 tấn gạo, 140 tấn muối, 238 tấn vũ khí đạn dược, 1.050 trâu, bò, 471 lợn, huy động được 67.500 dân công bằng1.892.000 ngày công. Điều quan trọng hơn là công tác hậu - cần tại chỗ đã đảm bảo được yếu tố kịp thời và phát huy được hiệu quả cao. Lòng yêu nước, tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em đã thể hiện thành tình thương yêu, che chở giúp đỡ động viên các chiến sĩ bộ đội làm tăng lên gấp bội tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược để giải phóng quê hương, đất nước.


Nhờ chuẩn bị tốt các yếu tố cho chiến dịch, trong đó có công tác đảm bảo hậu cần nên sau hai tháng chiến đấu (từ ngày 14-10 đến ngày 10-12-1952) tại Mặt trận Tây Bắc quân và dân ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu trên 6.000 tên địch, thu 11 khẩu pháo lớn, gần 4.000 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng, bắn rơi 6 máy bay, giải phóng đại bộ phận Khu Tây Bắc rộng 28.500 km2 (8 phần 10 đất đai địch tạm chiếm tại Tây Bắc) với 25 vạn dân, phá tan âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của giặc Pháp, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Địch phái co cụm, tập trung tàn quân về Nà Sản, xây dựng một tập đoàn cứ điểm lớn với lực lượng 10 tiểu đoàn để đối phó với sức mạnh của quân và dân ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #148 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2025, 09:21:40 pm »

Ý nghĩa to lớn của chiến thắng Tây Bắc là ta đã phá được thế uy hiếp của địch đối với Việt Bắc từ phía tây và đối với Thượng Lào từ phía đông, đồng thời tạo được điều kiện thuận lợi để phối hợp với cách mạng nước bạn. Ngoài ra còn cho ta nhiều kinh nghiệm quý về xác định phương hướng tấn công, về tổ chức chiến dịch lớn dài ngày ở chiến trường rừng núi xa căn cứ hậu phương và kinh nghiệm về huy động hậu phương tại chỗ. Đó là:


Đã minh chứng rõ rằng, việc huy động được hậu phương tại chỗ sẽ hiệu quả nhiều mặt và là yếu tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi. Khi mở chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, đợt 1 khi tấn công vào Nghĩa Lộ việc cung cấp tiếp tế gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội. Sang đợt 2 tiến công đường 41 (đường số 6 ngày nay), việc cung cấp tiếp tế vẫn gặp nhiều khó khăn cụ thể: gạo huy động ở Thanh Hoá và Ninh Bình được 5.250 tấn, nhưng vận chuyển bằng dân công gánh bộ tới Cò Nòi giao cho bộ đội chỉ còn 410 tấn đạt 8%, còn 90% dân công ăn và hao hụt trong vận chuyển dọc đường. Mặc dù trong điều kiện dân cư thưa thớt, kinh tế nghèo nàn, lại thường xuyên bị kẻ thù đánh phá, chịu nhiều tổn thất hy sinh, nhưng với tinh thần yêu nước, gắn bó với cách mạng, nhân dân Tây Bắc đã nỗ lực đóng góp một tỷ lệ tương đối lớn sức người, sức của cho chiến dịch (12% lượng gạo, 20% lượng thịt, 56% lượng thực phẩm khác, đặc biệt là lực lượng nhân công tại chỗ) góp phần quan trọng đưa đến thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Quán triệt sâu sắc quan điểm "Động viên toàn dân, quốc phòng toàn dân". Miền Tây Bắc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc. Bao đời nay, đồng bào các dân tộc nơi đây vừa hoà hợp đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Cũng như mọi người dân trên đất nước Việt Nam, đồng bào các dân tộc Tây Bắc không cam chịu sống dưới ách đoạ đày tàn bạo của giặc ngoại xâm, khi được giác ngộ họ đã đứng lên nêu cao tinh thần bất khuất, không quản ngại khó khăn, không sợ hy sinh, tìm mọi cách che giấu cán bộ cách mạng. Mặc dù phải sống dưới nanh vuốt của quân thù, khó khăn thiếu thốn mọi bề, vẫn tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho bộ đội ta bằng cả tinh thần, vật chất và sức lực. Thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam đã hình thành và phát triển trên địa bàn rừng núi Tây Bắc hiểm trở, xa xôi. Đây chính là nền tảng vững chắc làm nên thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Quan tâm xây dựng, củng cố hậu phương chung của chiến tranh, hậu phương tại chỗ của chiến trường. Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiếu số miền Nam (tháng 4-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán... và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau... Giang sơn và Chính phủ là Giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn non nước ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2002 tr. 217-218). Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, đồng bào các dân tộc Tây Bắc cũng như các dân tộc trong cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến, kiến quốc. Để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, Chính phủ đã thành lập Khu Tây Bắc tạo thuận lợi cho việc làm tốt công tác vận động quần chúng, huy động hậu cần tại chỗ phục vụ chiến dịch và phối hợp với bộ đội chủ lực của ta chiến đấu giải phóng Tây Bắc, làm cho thế bao vây chia cắt của địch bị phá vỡ. Sau chiến thắng Tây Bắc, kinh tế vùng tự do Tây Bắc phát triển, tinh thần và khí thế đánh giặc của quần chúng được phát động, nâng cao sức mạnh hậu phương tại chỗ chi viện cho chiến cuộc Đông Xuân, chiến dịch Điện Biên Phủ.


Phải xây dựng được các tuyến đường giao thông thuận tiện đảm bảo yêu cầu phục vụ chiến dịch. Trong việc xây dựng hậu phương kháng chiến, việc sửa chữa và mở đường giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng. Từ năm 1949, ta bắt đầu xây dựng lại tuyến giao thông vận tải ở hậu phương kháng chiến. Cuối năm 1952, để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc chúng ta cũng đã xây dựng các tuyến đường giao thông để cho xe ô tô tiến vào Tây Bắc, đường 41 (đường số 6 ngày nay) từ Liên khu 3 qua Hoà Bình tới Sơn La - Tuần Giáo, đường 15 từ Thanh Hoá nối với đường 41 ở Bãi Sang, đường 13 từ Yên Bái qua Ba Khe, Vạn Yên tới Tạ Khoa nối với đường 41 ở Cò Nòi. Trên ba tuyến đường quan trọng đó đã giúp bộ đội hành quân và vận chuyển hậu cần phục vụ đắc lực cho chiến dịch.


Trong công cuộc đổi mới đất nước, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Đối với nước ta hiện nay, sức mạnh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Từ thực tiễn huy động hậu phương tại chỗ cho kháng chiến trong chiến dịch Tây Bắc, chúng ta cần có chủ trương, biện pháp về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay như sau:

Một là, nâng cao nhận thức về hiệu quả và tác dụng quan trọng của việc huy động hậu phương tại chỗ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối với nước ta hiện nay, nếu có kẻ thù nào liều lĩnh tiến hành gây Chiến tranh xâm lược, nhất định đó sẽ là một cuộc chiến tranh công nghệ cao. Với một đất nước còn có những hạn chế nhiều mặt về vật chất - kỹ thuật để chiến đấu, nhưng lại rất giàu kinh nghiệm, truyền thống và tiềm lực chính trị - tinh thần; chúng ta có thể khai thác triệt để ưu thế về mặt chính trị - tinh thần và tiềm năng huy động vật chất - kỹ thuật tại chỗ. Chúng ta đánh địch ngay trên mảnh đất quê hương, được quê hương nuôi dưỡng, che chở, hun đúc sức mạnh, còn quân xâm lược ở nơi khác đến dù có tiềm lực nhưng phải chịu phí tổn gấp nhiều lần. Chúng ta sẽ huy động được sức mạnh to lớn của cả dân tộc cho tiền tuyến. Trong lịch sử cũng như hiện tại, vùng Tây Bắc luôn là địa bàn chiến lược trọng yếu, là nơi đầu nguồn của tất cả các dòng sông, nơi nắm giữ và cung cấp nguồn nước cho toàn bộ vùng châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Tây Bắc thực sự là nơi có nhiều tiềm năng và lợi thế cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng. Chiến lược phát triển bền vững Khu Tây Bắc của Đảng cũng chính là tạo ra khả năng và sức mạnh huy động hậu phương tại chỗ trong việc bảo vệ Tổ quốc.


Hai là, tăng cường sức mạnh đoàn kết toàn dân, củng cố quốc phòng toàn dân. Tây Bắc là vùng chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của nước ta. Do đó, công tác bồi dưỡng, giáo dục quốc phòng - an ninh cần được các cấp, các ngành, các địa phương trên địa bàn tiến hành thường xuyên, nghiêm túc và có nền nếp, phù hợp với từng đối tượng và địa bàn; chú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho cán bộ công chức, đảng viên trong hệ thống chính trị và thế hệ trẻ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh trên địa bàn, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức đối với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng thế trận lòng dân, nền quốc phòng toàn dân và lực lượng vũ trang Tây Bắc vững mạnh nâng cao tiềm lực quốc phòng; củng cố, tăng cường, khả năng huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để giải quyết các tình huống thiên tai, thảm họa, cháy rừng; ổn định và giữ vững an ninh trật tự, an toàn Khu Tây Bắc.


Ba là, phát huy tiềm năng để phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao sức mạnh quốc phòng - an ninh. Tây Bắc là vùng đất "phên giậu" của Tổ quốc, có đường biên giới tiếp giáp với hai nước bạn Trung Quốc và Lào. Những năm qua vùng đất này đã được Đảng và Nhà nước đầu tư nhiều về các chính sách ưu đãi cũng như cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, đến nay Tây Bắc vẫn là vùng đất nghèo, kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Trong bối cảnh đời sống nhân dân vùng cao còn gặp nhiều khó khăn, các cấp chính quyền cần tìm mọi biện pháp hỗ trợ, giảm bớt khó khăn trong cuộc sống của nhân dân. Nhà nước thực hiện điều tra, tổng hợp vùng kinh tế - lãnh thổ Tây Bắc nhằm đánh giá, xác định hiện trạng và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội làm cơ sở để xây dựng sơ đồ quy hoạch và tổ chức lãnh thổ vùng Tây Bắc, trong đó đặc biệt chú trọng đến nội dung bố trí và sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng tuổi thọ của các công trình thủy điện và gắn việc phát triển tài nguyên thiên nhiên với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Quy hoạch và tổ chức lại các nguồn nhân lực ở Tây Bắc, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nội dung quy hoạch phân bố dân cư, sản xuất theo lãnh thổ trên cơ sở động lực là các công trình thủy điện, nhằm mục đích góp phần sớm ổn định đời sống dân cư và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Nâng cao cảnh giác đập tan âm mưu truyền đạo trái pháp luật, tuyên truyền mê tín, kích động đồng bào dân tộc thiểu số làm giảm niềm tin vào Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với tăng cường tiềm lực, tạo cơ sở vật chất cho khu vực phòng thủ.


Bốn là, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vùng Tây Bắc. Hệ thống giao thông là huyết mạch để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng - an ninh. Là cơ sở để xây dựng Tây Bắc phát triển nhanh, toàn diện. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đặc biệt đến xây dựng các tuyến giao thông ở Tây Bắc. Đã xây dựng tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai, nối kết các khu vực nghèo và vùng sâu vùng xa của Tây Bắc với các trung tâm kinh tế phát triển. Một số dự án hạ tầng giao thông quan trọng đang được tiếp tục triển khai như: Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 6 đoạn Sơn La - Tuần Giáo và Tuần Giáo - Mường Lay; Dự án nâng cấp, cải tạo quốc lộ 279 Tuần Giáo - Điện Biên; Dự án khôi phục, cải tạo quốc lộ 70; Dự án nâng cấp quốc lộ 12... Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm thực hiện chương trình khoa học trọng điểm quốc gia phục vụ phát triển Tây Bắc theo hướng liên vùng, liên ngành, liên lĩnh vực. Phát triển hạ tầng giao thông của Tây Bắc là nội dung cốt yếu đề phát huy lợi thế sẵn có phát triển bền vững vùng Tây Bắc, tạo cơ sở vững chắc cho việc nâng cao khả nâng hậu phương tại chỗ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #149 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2026, 08:28:21 pm »

ĐÁNH BẠI ÂM MƯU LẬP "XỨ THÁI TỰ TRỊ" TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC, SUY NGHĨ VỀ CÔNG TÁC AN NINH TRÊN ĐỊA BÀN TÂY BẮC HIỆN NAY

Đại tá, TS NGUYỄN XUÂN NGỌC
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử công an


1-Bị thất bại trong chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông 1947), thực dân Pháp thấy rằng không thể nhanh chóng giải quyết chiến tranh bằng những cuộc "hành quân lớn" và càng không thể bằng chính lực lượng quân đội Pháp. Để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh, đầu năm 1948, chúng chuyển hướng chiến lược từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang đánh lâu dài với chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt hại người Việt" làm căn bản. Trước những khó khăn do tình hình ờ chính quốc, thực dân Pháp âm mưu mở rộng càn quét vùng tự do, củng cố vùng chiếm đóng, thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, củng cố ngụy quyền, phát triển ngụy quân và lập ra đội ngũ tề ngụy phản động làm cơ sở cho việc thực hiện mưu đồ của mình.


Chúng lập một hệ thống tháp canh, đồn bốt dày đặc quanh các đô thị và trục đường giao thông quan trọng, chia nhỏ lực lượng để chốt giữ các cứ điểm, kìm kẹp nhân dân, thực hiện những cuộc càn quét đánh phá nhỏ để ứng chiến với du kích của ta. Ở nhiều nơi trên cả nước, chúng cho máy bay oanh tạc các công trình thủy lợi, phá các đê đập, mùa màng hòng tàn phá cơ sở vật chất của cuộc kháng chiến, đồng thời ra sức càn quét, mở rộng vùng chiếm đóng theo vết dầu loang ở những địa bàn trọng điểm như vùng đông dân cư, dọc đường 1, đường 5, Tây Bắc và Đông Bắc, Bình Trị Thiên, Khu 5 và Nam Bộ. Bên cạnh đó, chúng đẩy mạnh cuộc chiến tranh gián điệp, dùng tiền và vũ khí để sử dụng bọn phản động trong tôn giáo, dân tộc, đảng phái chống lại kháng chiến, ủng hộ Chính phủ Bảo Đại.


Song song với các hoạt động quân sự, chính trị, thực hiện âm mưu "chia để trị". Trong đó, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách "chia để trị" đối với vùng các dân tộc thiểu số, các miền, các giáo phái. Chúng lập "Xứ Nùng tự trị" ở Đông Bắc, "Xứ Mường tự trị" ở Hòa Bình và "Xứ Tây Kỳ tự trị" ở Tây Nguyên, phát triển lực lượng chống phá cách mạng trong các vùng tập trung giáo dân ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung, sử dụng bọn phản động trong đạo Cao Đài ở miền Đông Nam Bộ, bọn phản động trong đạo Hòa Hảo ở miền Tây Nam Bộ, bọn Tờrốtkít và so phản động trong lực lượng Bình Xuyên ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.


Đặc biệt, lợi dụng đặc điểm nhiều đồi núi, tiếp giáp với nhiều nước trong khu vực, địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi sông suối, núi cao, khó khăn cho việc phát triển giao thông, có nhiều dân tộc sinh sống, trình độ dân trí thấp đời sống khó khăn của khu vực Tây Bắc, tháng 6 năm 1948 tên Ri Gô (người Pháp) đến vùng đất này, triệu tập các tên phản động nhất ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu là Bạc Cầm Qúy và Đèo Văn Long để họp tại Lai Châu. Do không giải quyết được mâu thuẫn giữa hai tên này nên ngày 5 tháng 7 năm 1948 trong hội nghị lần thứ hai, tên Ri Gô và bọn xâm lượccủa Pháp ở Tây Bắc đã khôn khéo nặn ra cái gọi là "Xứ Thái tự trị" gồm 12 châu Thái (bao gồm 3 tỉnh cũ: Lai Châu, Sơn La và Phong Thổ). Chúng đưa tên phản động Đèo Văn Long làm Chẩu Phen Đin (Chúa đất toàn xứ Thái), tên Bạc Cầm Quý làm Chẩu Phen Đin Khăm (Chúa tể vùng Sơn La) và cử Đơ Linhê, người Pháp làm cố vấn chính trị.


Đồng thời với việc thành lập "Xứ Thái tự trị", thực dân Pháp đã tổ chức ra "phòng dân biểu" toàn xứ Thái. Phần đông các nghị viện do chúng chỉ định. Đây vừa là một thủ đoạn lừa bịp nhân dân bằng những quyền dân chủ giả hiệu, vừa là âm mưu thâm độc nhằm tập hợp, sử dụng bọn quý tộc đang bất mãn về chức quyền. "Xứ Thái tự trị" có cơ cấu tổ chức như một chính quyền nhà nước riêng, nhưng thực chất mọi quyền hành đều nắm trong tay cố vấn Pháp. "Xứ Thái tự trị" và "phòng dân biểu" không đưa lại lợi ích gi cho nhân dân, nó chỉ là xiềng xích khóa chặt ách áp bức, bóc lột ngày càng tàn bạo hơn của thực dân Pháp và bọn chúa đất với nhân dân các dân tộc.


Trước âm mưu của Pháp, ngày 15 tháng 8 năm 1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp để đề ra những chủ trương mới. Phân tích những diễn biến của tình hình từ sau chiến thắng Việt Bắc và âm mưu thủ đoạn mới của địch, Hội nghị nhận định: Phải tăng cường xây dựng và phát triển lực lượng dân quân, đẩy mạnh chiến tranh du kích, nhất là vùng tạm bị địch kiểm soát, tùy điều kiện lực lượng 80 sánh cụ thể tập trung đánh vận động với phương châm tác chiến là "du kích chiến là chính, vận động chiến là phù trợ"1 (Dẫn theo: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia H 2001 tr. 142); củng cố khối đoàn kết toàn dân, củng cố chính quyền các cấp, lãnh đạo cuộc đấu tranh phá tan âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của kẻ thù; kiên quyết đấu tranh phá âm mưu lập chính phủ bù nhìn trung ương và lập tề tại những nơi chúng chiếm đóng; duy trì và đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân lao động; động viên mọi lực lượng văn hóa phục vụ kháng chiến...;


Trung ương Đảng quyết định phân tán một bộ phận bộ các đại đội độc lập luồn sâu vào vùng địch hậu xây dựng cơ sở chính trị, quân sự và đẩy mạnh Chiến tranh du kích phá rỗng hậu phương của địch, giành dân. giành chính quyền và cơ sở vật chất phục vụ kháng chiến; làm tốt công tác tuyên truyền để nhân dân các dân tộc Tây Bắc nhận rõ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng, chiếm đóng lâu dài đất nước ta của thực dân Pháp; đẩy mạnh phát triển các tổ chức cơ sở, củng cố chính quyền cách mạng trong các thôn bản trên địa bàn Tây Bắc; tổ chức vận động quần chúng đứng lên đấu tranh, kết hợp với đòn tiến công quân sự, đập tan ý đồ thành lập "Xứ Thái tự trị" của chúng...


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, hàng nghìn cán hộ, đảng viên được điều chuyển bổ sung cho các vùng sung yếu, hậu địch để thực hiện bám dân, bám cơ sở, bám địch, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến. Các đại đội độc lập phân tán, luồn sâu vào hậu địch làm nòng cốt xây dựng và tổ chức chiến tranh du kích. Cùng với các đại đội độc lập, các đội vũ trang vận động, tuyên truyền cho quần chúng nhân dân hiểu đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng, tổ chức nhân dân đấu tranh hợp pháp chống lại sự thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến.


Phong trào du kích chiến phát triển rộng khắp ở hậu địch từ đồng bằng Bắc Bộ đến miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ đã quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đẩy thực dân Pháp càng lún sâu vào khó khăn giữa phân tán và tập trung, giữa chiếm đóng và mở rộng càn quét, đồng thời làm cơ sở cho quần chúng nổi dậy tổng phá tề làm tan rã hàng loạt bộ máy tề ngụy ở cơ sở hoặc cảnh cáo, hạn chế bọn hào lý không được thẳng tay đàn áp nhân dân, phải cam kết bảo vệ nhân dân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM