Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:56:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33043 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #150 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2026, 08:31:36 pm »

Thắng lợi của việc đẩy mạnh chiến tranh du kích ở hậu địch đã góp phần bảo toàn và tăng cường bồi dưỡng lực lượng của ta; căng địch ra trên toàn chiến trường, giam chân địch ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, đồng thời làm cho các lực lượng vũ trang của ta ngày càng trưởng thành về mọi mặt, tạo cơ sở để Đảng ta chủ trương rút các đại đội độc lập và xây dựng lực lượng vũ trang tập trung chính quy vào những năm 1949-1950.


Để tổng kết những thành tựu đã đạt được của cách mạng Việt Nam, kịp thời đề ra đường lối đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến toàn thắng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đã vạch ra nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là đánh bại thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới; thảo luận và quyết định nhiều chính sách cơ bản trên mọi lĩnh vực, củng cố chính quyền, xây dựng quân đội, củng cố mặt trận để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng... Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của cuộc kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng, thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi ngày càng to lớn.


Thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong hai năm 1951-1952, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta đã ra sức xây dựng lực lượng, phục hồi và phát triển cuộc đấu tranh trong vùng sau lưng địch, củng cố hậu phương, mở một số cuộc tiến công về quân sự và đã giành thắng lợi.


Sau thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai và xây dựng căn cứ địa ở khu vực này. Trước khi chiến dịch bắt đầu, ngày 9 tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc. Người chỉ thị cho cán bộ dù gặp khó khăn đến đâu cũng phải quyết tâm đưa chiến dịch này đến thắng lợi. Khi quân ta tiến vào Tây Bắc (ngày 1-10-1952), Người cho công bố Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa: Bảo đảm tài sản và tính mạng của nhân dân; Bảo vệ nghề nghiệp làm ăn của nhân dân; tịch thu tài sản của giặc Pháp và của bọn phản động; Bảo vệ đền chùa, nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hóa khác; Thưởng người có công, phạt người có tội; Giữ gìn trật tự và an ninh; Nhân dân, đặc biệt là nông dân nên tổ chức lại; Bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài1 (Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật, tháng 1-1980. tr. 150).


Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã vượt mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu anh dũng trong hơn 2 tháng ròng (từ 14-10 đến ngày 10-12-1952), tiêu diệt hơn 6.000 tên địch, san phẳng nhiều đồn bốt, giải phóng hầu hết vùng tạm bị địch chiếm ở Tây Bắc rộng 28.500km2 với 25 vạn dân, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan ý đồ lập "Xứ Thái tự trị", đập tan hệ thống kìm kẹp của Pháp buộc chúng phải co cụm đóng giữ ở Nà Sản.


Tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc, lực lượng công an triển khai công tác nắm tình hình, bám sát điều tra lực lượng địch, hoạt động của bọn do thám, biệt kích và phản động. Công an đã kịp thời bao vây, đón bắt bọn do thám, biệt kích do địch thả xuống điều tra và phá hoại; khai thác tình hình qua bọn biệt kích bị bắt và tù binh, hàng binh phục vụ cho yêu cầu chỉ đạo chiến dịch.


Thành công trong phá tan ý đồ thành lập "Xử Thái tự trị" của thực dân Pháp đã cho ta nhiều kinh nghiệm quý để bảo vệ và giữ vững an ninh trên địa bàn Tây Bắc:

Trước hết là phải nắm, phân tích, dự báo đúng âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch;

Thứ hai, là phải chủ động, tích cực vận động nhân dân cùng tham gia đấu tranh;

Thứ ba, là trong đấu tranh cần phối hợp chặt chẽ giữa các mặt trận để tạo sức mạnh đánh thắng kẻ địch.


2-Là vùng núi cao, địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh, độ dốc lớn có tổng diện tích tự nhiên 91.000km2 (chiếm 27,68% diện tích cả nước); dân số có 7,4 triệu người (chiếm gần 9% dân số cả nước) với hơn 30 dân tộc sinh sống (đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 60%); toàn vùng có 108 huyện, thị, thành phố với 1.876 xã, phường, thị trấn, trong đó có 824 xã còn đặc biệt khó khăn, 8/11 tỉnh có đường biên giới quốc gia... Tây Bắc hôm nay vẫn là vùng chiến lược rất quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của cả nước.


Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự cố gắng nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong vùng, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc những năm qua đã có bước phát triển đáng kể: kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư xây dựng; năng lực sản xuất mới được tăng thêm; văn hóa xã hội có tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong vùng được cải thiện; chính trị ổn định, an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; chủ quyền lãnh thổ quốc gia được giữ vững; hệ thống chính trị các cấp được kiện toàn, chất lượng và hiệu quả được nâng lên; khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố, nhân dân các dân tộc vững tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước...


Tuy nhiên, do quy mô nền kinh tế vùng còn nhỏ bé, phân tán, chất lượng, hiệu quả thấp, lực lượng lao động phần lớn chưa qua đào tạo nên Tây Bắc cũng gặp một thách thức lớn là: sự tụt hậu về kinh tế và mức sống của người dân ngày càng xa hơn so với các vùng trong cả nước; lĩnh vực bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái trở thành gay gắt hơn khi nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.


Lợi dụng những thuận lợi và khó khăn trên, thời gian qua các nhóm phản động ở trong và ngoài nước tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá ta. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền phát triển đạo Tin lành trái phép ở các địa bàn vùng cao, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động dân di cư tự do, kích động tư tưởng ly khai nhằm thực hiện âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #151 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2026, 08:34:14 pm »

Đồng bào Mông là một mục tiêu mà các thế lực thù địch phản động tập trung lôi kéo, kích động, tập hợp lực lượng để chia rẽ dân tộc, chống phá cách mạng. Chúng lợi dụng tôn giáo, nhất là Tin lành, làm bùng nổ vấn đề Vàng Chứ gây xáo động trong nhiều vùng đồng bào Mông với quy mô lớn, hậu quả nghiêm trọng và chứa đựng nguy cơ manh động, khó lường. Lợi dụng sự xuất hiện của một số đạo lạ trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số như "Tín ngưỡng Dương Văn Minh", đạo "San sư khổ tảo", đạo "Chữ thập đỏ"..., các thế lực thù địch đã kích động, gây ra những mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân, tạo ra các nhân tố tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị trong dân tộc thiểu số vùng biên giới. Đáng chú ý, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết tuyên truyền lập "Vương quốc Mông" trong vùng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc với diện rộng và các luận điệu cực kỳ ngụy hiểm.


Ở vùng dân tộc Thái, lợi dụng tác động ngày càng tăng của bên ngoài thông qua việc tập hợp, sử dụng bọn phản động trong người Thái lưu vong và qua lĩnh vực nghiên cứu Thái học, một bộ phận người Thái gốc Việt ở nước ngoài đã gia tăng các hoạt động chống phá trong nước. Được sự hậu thuẫn về tinh thần, vật chất của các thế lực thù địch, chúng tập hợp lực lượng hình thành các hội, nhóm và xâm nhập về người nắm tình hình, gây cơ sở, kích động chia rẽ dân tộc, đòi phục hồi "Xử Thái tự trị". Ngoài tác động về văn hóa, hoạt động truyền đạo Tin lành đã tác động vào một bộ phận người Thái.


Bên cạnh đó, các thế lực thù địch gia tăng sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng (đài phát thanh bằng tiếng Mông, tiếng Thái) để tuyên truyền phá hoại tư tưởng; tiến hành chiến tranh tâm lý với các thủ đoạn tung tin, vu khống, phao tin đồn nhảm, phát tán tài liệu... gây nghi ngờ, chia rẽ giữa các dân tộc; thổi phồng những khó khăn, phức tạp trong xã hội, xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, dân chủ để vu không, xuyên tạc; lợi dụng chính sách mở cửa của ta để tạo cớ liên kết, phối hợp trong - ngoài, gây bạo loạn, vu cáo, kích động, mở rộng địa bàn chống phá... Tiêu biểu là các vụ việc: ngộ nhận theo đạo lạ "San sư khổ tảo" ở Hà Giang, Cao Bằng; vụ Mường Nhé ở Điện Biên...


Để kịp thời làm thất bại âm mưu, hành động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch ở khu vực Tây Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã và đang ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, chính sách; thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc; tạo điều kiện cho các địa phương trong vùng Tây Bắc khai thác tốt hơn các tiềm năng, lợi thế để phát triển toàn diện. Chủ trương của Đảng là xây dựng Tây Bắc thành vùng chiến lược mạnh về chính trị, giàu về kinh tế, có văn hóa, xã hội phát triển, an ninh, quốc phòng được củng cố, ngày càng vững chắc, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bao vệ Tổ quốc.


Muốn vậy, cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và tôn giáo, đặc biệt cần làm tốt công tác tư tưởng, tập trung vào các nội dung sau:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân khu vực Tây Bắc về âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Phản bác lại các hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, quản lý chặt chẽ các hoạt động dịch vụ thông tin, nhất là những thông tin tài liệu do phía nước ngoài cung cấp liên quan đến dân chủ, nhân quyền theo các giá trị phương Tây, kích động ly khai. Thực hiện đề án phủ sóng phát thanh, truyền hình tới các thôn, bản vùng Tây Bắc, nâng cao chất lượng phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc; tiếp tục thực hiện tốt Quyết định 975 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và vùng miền núi đặc biệt khó khăn.


Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, phối hợp giữa các bộ, ban ngành, quân khu, giữa Trung ương và các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch; xâydựng cơ chế thường xuyên, kịp thời, chặt chẽ, đảm bảo sự thống nhất khi xử lý các vấn đề, tránh để các thế lực thù dịch lợi dụng những sơ hở, đồng thời nâng cao sức mạnh và năng lực chiến đấu của hệ thống chính trị ở cơ sở từ khâu nắm dân, phát hiện, tham mưu đến tổ chức đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" gây và "tự diễn biến" từ cơ sở.


Ba là, tập trung củng cố hệ thống cơ sở chính trị ở cấp xã, phường, nhất là sự lãnh đạo của các tổ chức đảng và chính quyền, đặc biệt là các xã trọng điểm ở vùng núi và dân tộc trong khu vực để đủ sức thực hiện chức năng quản lý về an ninh, nắm chắc được tình hình, biết vận động quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và giải quyết được các vụ việc an ninh trật tự ở cơ sở.


Bốn là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 37- NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), phát huy truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng kiên cường, cần cù lao động đoàn kết thống nhất của các dân tộc ở khu vực Tây Bắc để thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của nhân dân với các khu vực khác trong nước, củng cố niềm tin của các dân tộc vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.


Năm là, đổi mới việc nắm bắt tình hình tư tưởng, nắm bắt dư luận xã hội và tăng cường trao đổi nghiệp vụ, giao ban an ninh tư tưởng giữa các tỉnh trong khu vực Tây Bắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tư tưởng. Mở rộng dân chủ đi đôi với thiết lập kỷ cương, kiên quyết ngăn chặn những vụ việc lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị xã hội trên địa bàn khu vực Tây Bắc. Tăng cường nắm chắc tình hình an ninh nội bộ, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là các vấn đề liên quan đến gắn tôn giáo với dân tộc; xử lý kịp thời, kiên quyết, khẩn trương, khôn khéo, nhanh gọn các tình huống phức tạp, không để lan rộng, không để các thế lực thù địch lấy cớ can thiệp.


Sáu là, có những quyết sách mạnh mẽ, cụ thể về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc tại khu vực Tây Bắc phù hợp với từng địa bàn; đặc biệt coi trọng bồi dưỡng cán bộ người dân tộc làm công tác tư tưởng, văn hóa, báo chí; phát huy vai trò của người có uy tín như già làng, trưởng bản trong các dân tộc thiểu số trên địa bàn để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng dân tộc trong giai đoạn đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.


Tóm lại, vùng cao, miền núi, biên giới nói chung, Tây Bắc nói riêng là các địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội đang bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, nhằm gây mất ổn định bên trong, tạo cớ để can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy, phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân cùng với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước luôn là nhân tố có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị. Đồng thời chính sự ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng sẽ tạo tiền đề để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển và mức sống của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc so với các vùng, miền trong cả nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, cùng cả nước phát triển đi lên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #152 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2026, 08:46:54 pm »

TÂY BẮC - VỊ THẾ ĐỊA CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

Thiếu tá, ThS LÊ QUÝ THI
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Lần theo sử cũ, vùng Tây Bắc ngày nay bao gồm: một phần của tỉnh Phú Thọ cùng các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và một phần tả ngạn tỉnh Yên Bái. Có 23 dân tộc sinh sống trên vùng đất này, đó là Thái, Mông, Lự, Hoa, Kinh, Mường, Tày, Nùng, Dao, La Ha, Xinh Mun, Khơ Mú, Kháng, Mảng, La Hủ...1 (Xem: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội xuất bản, 2005). Trong lịch sử chống ngoại xâm của người dân đất Việt, Tây Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh - quốc phòng.


Vùng Tây Bắc ngày nay phần lớn thuộc địa bàn Hưng Hóa xưa. Theo Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn, Hưng Hóa là đất Tân Hưng. Đời Tần thuộc Tượng Quận. Đời Hán thuộc Nam Trung, sử chép: Hùng Vương chia nước làm 15 bộ. Tân Hưng là một bộ. Đời Lý là đất Lâm Tây, Đăng Châu; đời Trần gọi là đạo Đà Giang, năm Quang Thái đổi là trấn Thiên Hưng. Thời thuộc Minh là châu Gia Hưng, châu Quy Hóa. Đời nhà Lê, Lê Thánh Tông chia đất nước thành 12 đạo thừa tuyên, trong đó có Hưng Hóa thừa tuyên được chia làm 3 phủ, 4 huyện, 17 châu"1 (Quốc sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất thống chí. tập 2, Nxb Lao động, Trung tám văn hóa ngôn ngữ) đó là: Phủ Gia Hưng có một huyện Thanh Xuyên (gồm 29 sách, 8 động) và 6 châu đó là: Phù Hoa châu (gồm 4 động), Mộc Châu (gồm 3 sách, 21 động), Mai Châu (gồm 4 động), Việt Châu (gồm 4 động), Thuận Châu (gồm 4 động); Phủ Quy Hóa có 3 huyện là: Văn Chấn (gồm 33 trang, 7 sách, 1 động), Yên Lập (gồm 6 xã, 17 sách, 4 động), Trấn Yên (gồm 33 trang, 1 châu, 2 sách) và 2 châu đó là: Văn Bàn (gồm 39 động), Thủy Vĩ (gồm 11 động); Phủ An Tây gồm 10 châu đó là: Luân Châu (gồm 6 động), Lai Châu (gồm 11 động), Quỳnh Nhai (gồm 5 động), Chiêu Tấn (gồm 10 động), Song Lộc (gồm 4 động), Tuy Phu (gồm 2 động), Hoàng Nham (gồm 4 động), Hợp Phì (gồm 4 động), Khiêm Châu (gồm 3 động), Lê Tuyến (gồm 4 động). Theo Hưng Hóa phong thổ lục của Hoàng Trọng Chính chép: "Phía Đông Nam châu này tiếp giáp các man thuộc địa phận Ai Lao, phía Bắc giáp châu Mộc, phía Tây giáp châu Tàm tỉnh Thanh Hóa"2 (Quốc sử quán Triều Nguyễn. Đại Nam Nhất thống chí, tập 2. Nxb Lao động. Trung tâm vân hóa ngôn ngữ Đông Tây, H. 2012. tr. 1517).


Đây là vùng đất có núi cao như dãy Hoàng Liên Sơn và sông lớn chảy qua như sông Mã, sông Đà, sông Thao, với vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong việc phòng thủ đất nước về hướng Tây Bắc. Từ xưa, vùng Tây Bắc luôn là địa bàn trọng yếu đã từng ghi đậm nhiều chiến tích chống giặc ngoại xâm của cha ông ta thuở trước.


Ngay từ buổi đầu dựng nước, địa bàn Tây Bắc nằm trong địa vực nước Văn Lang của các Vua Hùng. Trải qua các triều đại Lý - Trần... địa bàn Tây Bắc là một vùng đất in đậm nhiều sự kiện quân sự. Nhân dân nơi đây trải qua nhiều biến động của thời gian hàng nghìn năm đã góp sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, mở mang bờ cõi của ông cha ta. Đặc biệt, để chống lại các thế lực xâm lấn từ bên ngoài ngay từ đầu thế kỷ XIII, các thủ lĩnh địa phương nơi đây đã cho xây dựng một công trình phòng thủ tại Ba Mán thuộc châu Ninh Biên (nay là Điện Biên), gọi là thành Tam Vạn (tiếng Thái là Sam Mứn).


Do điều kiện địa lý, lịch sử cùng với cuộc sống lao động và đấu tranh chống giặc giã trong suốt chiều dài lịch sử, độc lập dân tộc đã trở thành tiềm thức của cư dân Tây Bắc. Với địa thế núi cao, rừng rậm, nhiều sông, suối, khi chống giặc ngoại xâm người dân nơi đây đã dựa vào thế hiểm trở của rừng núi, sử dụng yếu tố bất ngờ, mai phục, tiêu hao quân địch, khi có thời cơ phản công đánh bại giặc. Đấy là những chiến thuật tiêu biểu của quân dân Tây Bắc trong cuộc kháng chiến chống quân Tần, quân Triệu khi chúng xâm lược nước ta.


Trong cuộc đấu tranh chống xâm lược nhà Lương năm 542, trước cuộc tiến công của quân Lương, Lý Nam Đế đã chủ động đưa quân lên vùng Văn Lang, Cổ Tiết thuộc huyện Tam Nông, Phú Thọ lập căn cứ ngăn chặn giặc. Đến tháng 8 năm 546, tại đây được nhân dân ủng hộ, Lý Nam Đế đã mộ thêm binh sĩ, đưa quân hạ trại ở hồ Điển Triệt (huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc) tạo thế, tạo lực luyện binh đánh giặc. Sách Đại Việt sử kỹ toàn thư chép rằng: "Vua lại đem 2 vạn quân từ trong đất Lạo ra đóng ở hồ Điển Triệt, đóng nhiều thuyền đậu chật cả mặt hồ. Quán Lương sợ, cứ đóng lại ở cửa hồ không dám tiến vào"1 (Viện khoa học xã hội, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. Nxb Khoa học xã hội, H. 1998, tr.180).


Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, tại Bình Lệ Nguyên đã diễn ra những trận đánh quyết liệt được ghi đậm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Sau trận quyết chiến chiến lược Đông Bộ Đầu năm 1258, quân Mông Cổ thua chạy sang Trung Quốc, khi địch rút chạy qua vùng Tây Bắc, nghĩa quân của Hà Bổng, Hà Chương, Phùng Lộc đã cùng với nhân dân các dân tộc Tây Bắc, tiếp tục chặn đánh địch ở Quy Hoá, Cự Đà, Bạch Hạc khiến cho quân giặc thiệt hại nặng nề.


Năm 1280, khi tù trưởng đạo Đà Giang Trịnh Giác Mật làm phản, tình hình biên giới phía Tây Bắc trở nên căng thẳng trong khi sứ Mông - Nguyên đang từng ngày ép vương triều Trần quy thuận. Trần Nhật Duật được triều đình nhà Trần tin giao trọng trách dẹp Trịnh Giác Mật. Sau khi tìm hiểu kỹ việc phản loạn, Trần Nhật Duật đã một mình đi vào doanh trại tù trưởng Trịnh Giác Mật, bằng tài cảm hóa và am hiểu, trân trọng những tập tục của địa phương, quân nổi dậy đã quy thuận triều đình. Sau này, dưới sự lãnh đạo của Trần Nhật Duật, các tù trưởng miền Tây Bắc luôn sát cánh cùng với toàn dân tham gia đánh thắng giặc Mông - Nguyên.


Tiếp đó là cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 2 vào năm 1285. Dân binh Tây Bắc đã cùng với quân đội nhà Trần do Trần Nhật Duật chỉ huy đánh chặn địch ở Thu Vật, Yên Bình; cùng với Hà Đặc, Hà Chương đánh giặc ở Phù Ninh, Phú Thọ; ở Yên Bái diễn ra các trận chiến đấu ở Nghĩa Đô, Lục Yên do các thủ lĩnh họ Ma, họ Hoàng cầm đầu. Sử cũ còn ghi: "Dụ binh giặc đến huyện Phù Ninh, viên phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Tri Sơn cố thủ... lại dùi thủng cây to, cắm tên lớn vào giữa lỗ để giặc ngờ là sức bắn khỏe xuyên suốt được. Giặc sợ không dám đánh nhau với Đặc. Quân ta hăng hái xông ra đánh bại được giặc"1 (Viện khoa học xã hội. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2. Nxb Khoa học xã hội. H.1998, tr. 56).


Trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược vào đầu thế kỷ XV, quân dân Tây Bắc đã lập chiến công lớn trong trận đánh ở cầu Xa Lộc (1426), Lâm Thao, chặn đứng hơn một vạn quân địch không cho chúng về ứng cứu thành Đông Quan. Trần Nguyên Hãn, một tướng tài của Lê Lợi mà tên tuổi ông gắn liền với những chiến công ở Thuận Hoá, Chi Lăng, Xương Giang, là một tấm gương tiêu biểu về tinh thần ái quốc, trung quân. Khi cuộc kháng chiến đang diễn ra quyết liệt Lê Lợi đã cử các tướng Phạm Văn Xảo, Nguyễn Chích, Trịnh Khả lên thượng nguồn sông Thao phối hợp với nghĩa quân địa phương xây dựng thế trận. Sau chiến thắng Xương Giang, quân ta từ ải Lê Hoa đã tiến công đánh tan cánh quân Mộc Thạnh tiếp viện ứng cứu cho thành Đông Quan. Những hoạt động chiến đấu của quân dân Tây Bắc đã góp phần quét sạch quân xâm lược nhà Minh ra khỏi bờ cõi nước ta.


Đến giữa thế kỷ XVII, nhân lúc triều đình phong kiến Lê - Trịnh vào giai đoạn không ổn định, phân chia cát cứ, giặc Phẻ (hay còn gọi là giặc cờ vàng) từ Thượng Lào xâm lấn nước ta, chúng chiếm thành Tam Vạn (Sam Mứn nay thuộc Điện Biên). Các thủ lĩnh địa phương đã tập hợp nhân dân liên kết với nghĩa quân Hoàng Công Chất, tổ chức tiến công thành Tam Vạn, anh dũng chiến đấu, đánh đuối giặc ra khỏi biên giới. Hoàng Công Chất sau đó đã dựa vào địa bàn này để củng cố lực lượng, xây dựng thêm thành Bản Phủ, còn gọi là Chiềng Lề (Điện Biên) để dẹp yên nội loạn và trấn giữ đất nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #153 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2026, 08:50:06 pm »

Trước sự xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tây Bắc đã kiên cường đứng lên đánh trả, gây cho địch nhiều tổn thất. Các thủ lĩnh địa phương ở Sơn La như Cầm Ngọc Hách, Bạc Cầm Ten được sự hưởng ứng của đông đảo cư dân các dân tộc đã thành lập nghĩa quân thập châu dựa vào địa bàn hiểm trở nơi đây chống Pháp. Vào những năm 1859-1872 nhiều đội nghĩa binh được thành lập ở Mường La, Thuận Châu, Mộc Châu. Đặc biệt, nghĩa quân ở Sơn La đã tham gia cùng đội quân của Lưu Vĩnh Phúc tiến về Hà Nội phối hợp với nghĩa quân của Hoàng Tá Viêm giải vây thành Hà Nội, tham gia trận đánh ở Cầu Giấy vào 5 giờ sáng ngày 19 tháng 5 năm 18831 (Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, H. 2003, tr. 53).


Tháng 4 năm 1884, thực dân Pháp mở các cuộc hành quân đánh chiếm vùng thượng du Bắc Kỳ, lần lượt chiếm đóng các tỉnh: Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La và Lai Châu.

Hưởng ứng phong trào cần Vương chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của tuần phủ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích, nhân dân địa phương Tây Bắc tích cực tham gia nghĩa quân, xây dựng các phòng tuyến chiến đấu. Địa bàn vùng giữa sông Hồng và sông Đà, sông Chảy và sông Lô trở thành những trung tâm kháng chiến. Tinh thần chiến đấu ngoan cường, bền bỉ của nhân dân các dân tộc Tây Bắc cùng với thế núi, thế sông hiểm trở đã khiến cho giặc Pháp gặp nhiều khó khăn, thiệt hại trong quá trình bình định vùng đất này. Nguyễn Quang Bích dựa vào nghĩa quân thập châu tổ chức thành 4 đội: Đội ở Lai Châu, Phong Thổ; đội ở Mường La - Mai Sơn - Thuận Châu - Yên Châu; đội ở Mộc Châu và đội ở Văn Chấn - Văn Bàn chống Pháp. Mặc dù thực dân Pháp tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc Nguyễn Quang Bích nhưng ông kiên quyết chỉ huy nghĩa quân địa phương dựa vào vùng rừng núi Tam Mãnh hoạt động để chống Pháp quyết liệt. Nhiều trận chiến đấu tiêu biểu, diễn ra dọc sông Thao, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nặng nể. Các cuộc chiến đấu kiên cường của nghĩa quân đã góp phần không nhỏ làm thất bại kế hoạch bình định nhanh chóng vùng Tây Bắc của thực dân Pháp.


Sang đầu thế kỷ XX tại vùng rừng núi Tây Bắc liên tiếp nổ ra nhiều cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống lại ách chiếm đóng của thực dân Pháp. Tại Sơn La có phong trào chống Pháp do Bạch cầm Châu chỉ huy nghĩa quân ở Yên Châu, Thuận Châu; Hoàng Văn Bun chỉ huy phong trào ở Tạ Khoa, vùng ven sông Mã; Lường Văn Nổ ở Mường Lầm; Cầm Văn Ý ở Mường Hung; Cầm Văn Nối ở Chiềng Cang; Cầm Văn Tứ ở Mường Trai... Trên địa bàn Mường Thanh thời gian này còn có cuộc khởi nghĩa của Lương Sám liên tục tổ chức các trận tập kích địch ở khu vực Mường Thanh, sau đó mở rộng phạm vi hoạt động đến Mường Tè, rồi lan sang cả khu vực Phong Thổ.


Cùng thời gian này vùng Lập Thạch, Tam Đảo đã trở thành những căn cứ của nghĩa quân Đề Thám; ở thị xã Phú Thọ đầu năm 1915 có cuộc nổi dậy của nhân dân nơi đây để hưởng ứng phong trào "Việt Nam Quang phục hội"; ở phía Tây vùng Tây Bắc có cuộc khởi nghĩa của Vàng Phe Chay (người Mông) kéo dài từ năm 1918 đến năm 1922, được nhân dân các dân tộc hưởng ứng mạnh mẽ, phát triển trên một địa bàn rộng, lan cả sang Lào; tháng 1 năm 1927, ở Lai Châu đã nổ ra cuộc bạo động của tù nhân do Cai Vợi chỉ huy. Những cuộc nổi dậy đã để lại dấu ấn trong phong trào kháng Pháp của nhân dân Tây Bắc, tinh thần chiến đấu dũng cảm của nghĩa quân đã trở thành tấm gương đấu tranh cho đồng bào các dân tộc.


Đặc biệt, tiêu biểu và có tiếng vang cả trong và ngoài nước là cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân đảng phát động tháng 2 năm 1930. Mặc dù quân khởi nghĩa đã chiến đấu kiên cường, quả cảm song trước sự phản công của giặc Pháp với trang bị vũ khí hiện đại, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại và thực dân Pháp thực hiện đàn áp một cách man rợ các chiến sĩ yêu nước. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa nổ ra trên mảnh đất Yên Bái đã đánh dấu mốc son chói lọi trong những trang sử anh hùng của các dân tộc Tây Bắc. Sự trả thù hèn mạt của giặc Pháp không hề làm cho nhân dân ta nao núng. Ngược lại, tấm gương quả cảm của các chiến sĩ đã thức tỉnh tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc Tây Bắc đứng lên đấu tranh để giành lại độc lập cho Tổ quốc.


Do xác định địa hình hiểm trở miền núi Tây Bắc có vị trí và tầm quan trọng chiến lược đặc biệt, Trung ương Đảng đã lựa chọn Tây Bắc làm căn cứ địa cách mạng. Do vậy, sau Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng (2-1943), phần lớn địa phận các huyện Sơn Dương, Yên Sơn của Tuyên Quang trở thành trung tâm căn cứ cách mạng của cả nước. Từ khi Nguyễn Ái Quốc từ Cao Bằng về chiến khu Hoàng Hoa Thám hoạt động, nhiều địa phương ở Tây Bắc đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Song song, lực lượng vũ trang địa phương ngày càng phát triển đã giành được nhiều thắng lợi trong các cuộc vây ráp, càn quét của quân thù bảo vệ căn cứ địa cách mạng. Tháng 8 năm 1945, sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, nhân dân Tây Bắc đã tiến hành tổng khởi nghĩa, chỉ trong một thời gian ngắn bộ máy chính quyền tay sai bị tan rã, chính quyền cách mạng được thiết lập hầu hết các tỉnh ở Tây Bắc.


Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng còn non trẻ đã phải đương đầu với thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Trên mảnh đất này thực dân Pháp đã thi hành chính sách chia rẽ dân tộc, lợi dụng tình trạng lạc hậu về mọi mặt để thực hiện chính sách ngu dân, gây hằn thù giữa các dân tộc... kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi làm cho các thế lực phong kiến địa phương luôn luôn kình địch lẫn nhau, biến mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị thành mâu thuẫn giữa các dân tộc.


Đi đôi với việc không ngừng tăng cường củng cố bộ máy cai trị, thực dân Pháp còn dung túng mê tín dị đoan kìm hãm dân trí để dễ bề cai trị; khuyến khích các hủ tục cờ bạc, rượu chè, thực hiện âm mưu đách lạc hướng và làm tê liệt ý chí đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt thực dân Pháp lập ra xứ Thái, xứ Nùng, xứ Mường tự trị tuyên truyền cho những "Vua Mèo", khuyến khích phong trào tự trị của dân tộc Dáy, để càng khơi sâu lòng căm thù và gieo rắc sự nghi kỵ giữa các dân tộc.


Sau chiến thắng Biên Giới (1950), ta đã liên tiếp mở 3 chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung. Sau chiến thắng Hòa Bình, Tổng Quân ủy vạch kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952 đã xác định rõ: Hướng tiến công chính của ta trong Thu Đông 1952 là Tây Bắc và Bắc Bộ. Tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công trên Mặt trận Tây Bắc. Sau hai tháng chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đã giải phóng 80% vùng đất Tây Bắc và nối thông với phía tây căn cứ địa Việt Bắc khiến cho thế và lực của ta thêm vững mạnh. Tây Bắc được giải phóng, đường giao thông từ Việt Nam sang Lào, từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4 trở nên thông suốt tạo thành thế uy hiếp mới đối với quân Pháp trên chiến trường Bắc Đông Dương.


Nhìn chung lại, từ những đặc điểm về địa lý, quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội vùng Tây Bắc có vị trí trọng yếu phòng thủ đất nước trong lịch sử dân tộc nói chung, kháng chiến chống thực dân Pháp nói riêng. Đánh giá đúng tầm quan trọng của vùng Tây Bắc, Đảng ta đã có sự chỉ đạo kịp thời, sắc bén đưa chiến trường này dần phát triển. Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Tây Bắc được chọn làm hướng tiến công chủ yếu. Đúng như dự kiến về chiến lược của Tổng Quân ủy, chính tại đây quân và dân cả nước ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt.


Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí của địch ở Tây Bắc, phá âm mưu thâm độc lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số khác.


Những địa danh, tên đất, tên làng như Tam Vạn, Văn Lang, Cổ Tiết, Quy Hóa, Cự Đà, Phù Ninh, Mường La, Thuận Châu, Sơn Dương... và đặc biệt như Tả Sìn Thàng, Sình Hồ, Phong Thổ, Sa Pa, Lào Cai, Mộc Châu, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên Phủ trên chiến trường xưa càng thêm minh chứng cho những chiến công oanh liệt của quân và dân Tây Bắc trong chống giặc ngoại xâm, là biểu tượng sinh động của lòng quả cảm và tinh thần yêu nước, sẽ mãi trường tồn cùng năm tháng. Ngày nay, tự hào với truyền thống của miền Tây Bắc anh hùng, của chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đồng bào các dân tộc Tây Bắc quyết tâm giữ vững và phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng viết tiếp những trang sử mỏi dân giàu, nước mạnh và bảo vệ vững chắc vùng biên cương trọng yếu của đất nước ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #154 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 08:50:56 pm »

TẦM NHÌN TÂY BẮC TRONG CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG
VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

ThS BÙI THỊ ÁNH HỒNG
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật


Tây Bắc là một khu vực rộng lớn nằm ở phía tây bắc của Tổ quốc, đây cũng là "phên giậu" của Tổ quốc, nơi cư trú của nhiều dân tộc với nền văn hóa phong phú, đặc sắc và trình độ phát triển khác nhau. Với vị trí chiến lược trọng yếu, Tây Bắc luôn là mục tiêu chiếm đóng, chống phá của các thế lực ngoại xâm trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc Tây Bắc luôn thể hiện được tinh thần đoàn kết, kiên cường đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay, Tây Bắc có vị trí hết sức quan trọng, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, quyết định, chỉ thị nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình chính trị của khu vực. Mặc dù còn rất nhiều khó khăn song nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã và đang phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng để vươn lên, từng bước đưa khu vực Tây Bắc phát triển, hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Là "phên giậu" phía tây bắc của Tổ quốc nhưng với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai hết sức khắc nghiệt, đa số là đồng bào dân tộc có trình độ phát triển không đồng đều, do vậy nền kinh tế của khu vực Tây Bắc chậm phát triển nhất so với các vùng miền trong cả nước. Tây Bắc cùng là mục tiêu chống phá, lôi kéo, dụ dỗ, gây mất ổn định chính trị của các tổ chức phản động nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị của khu vực Tây Bắc là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, được Đảng, Chính phủ dành nhiều sự quan tâm, chỉ đạo.


Sau hơn 25 năm đổi mới đất nước, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc đã đạt được những kết quả quan trọng: Kinh tế các tỉnh hàng năm có mức tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng hướng. Tốc độ GDP tăng toàn vùng (giai đoạn 2005 - 2007) bình quân đạt 11,7%; năm 2008 đạt 11,8%; 6 tháng đầu năm 2009, mặc dù gặp khó khăn do suy thoái kinh tế và thiên tai nhưng vẫn đạt được 7,81%. GDP bình quân đầu người tăng khá, năm 2008 đạt 7,8 triệu đồng, gấp trên 3 lần so với năm 2000. Nhiều tiềm năng, lợi thế đã được phát huy, khai thác; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được đầu tư xây dựng; nhiều tuyến giao thông huyết mạch đã được cải tạo, nâng cấp; nhiều công trình mới đã được khởi công, đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, tạo thuận lợi hơn cho các địa phương phát triển đi lên.


Văn hoá - xã hội có bước phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng lên; tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm giảm 4%. Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền lãnh thổ quốc gia được giữ vững; hoạt động dối ngoại được củng cố, mở rộng. Hệ thống chính trị các cấp được củng cố, xây dựng, hoạt động có nhiều đổi mới, hiệu quả được nâng lên. Nhân dân các dân tộc vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.


Khu vực Tây Bắc đã có 344 trường tiểu học và 157 trường trung học cơ sở có nội trú dân nuôi, chiếm hơn 53% số trường tiểu học và trung học cơ sở có nội trú dân nuôi cả nước. Số học sinh nội trú dân nuôi trong các trường tiểu học và trung học cơ sở vùng Tây Bắc vào khoảng 30.655, chiếm 45,8% số học sinh nội trú dân nuôi cả nước. Tỷ lệ xã có trường tiểu học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo là 97%.


Các tỉnh đều chỉ đạo thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng nền quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, giữa quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh kinh tế. Các tỉnh đều xây dựng và triển khai phương án phòng, chống khủng bố, phá hoại, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.


Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và Chương trình hành động phòng, chống ma tuý, tích cực đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội. Triệt phá hầu hết các vụ án hình sự nghiêm trọng, kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, bước đầu làm giảm đối tượng nghiện ma tuý.


Thực hiện hiệu quả chương trình cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức từ tỉnh đến cơ sở. Chức năng của các cơ quan hành chính được rà soát, điều chỉnh hợp lý. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, rèn luyện tác phong làm việc, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ viên chức được chấn chỉnh. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được tăng cường, góp phần phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, khơi dậy nội lực, giữ vững kỷ cương, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực và các hành vi vi phạm pháp luật.


Tuy nhiên, vùng Tây Bắc còn nhiều khó khăn, GDP toàn vùng đến nay mới đạt 7,4% cả nước; GDP bình quân/người bằng gần một nửa mức bình quân chung, là mức thấp nhất so với các vùng trong cả nước.


Điểm xuất phát của các tỉnh trong vùng thấp, hầu hết các địa phương thuộc diện miền núi, biên giới, nhiều dân tộc, điều kiện tự nhiên khó khăn, suất đầu tư cao, thu hút đầu tư từ bên ngoài kém hấp dẫn, khả năng huy động nguồn lực từ nội bộ rất nhỏ bé. Kinh tế vùng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc, hiệu quả thấp. Các tiềm năng, lợi thế lớn của vùng chậm được khai thác; hiệu quả triển khai các dự án nhằm khai thác thế mạnh các tiềm năng về đất đai, đồi rừng, thuỷ điện, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu chưa cao. Việc thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển vùng kết quả còn thấp. Toàn vùng còn 22 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm; nhiều xã có đường, nhưng chủ yếu là đường đất, phần lớn chỉ đi được vào mùa khô.


Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào, nhất là đồng bào các dân tộc ít người ở vùng sâu, vùng cao còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, diện cận nghèo lớn; cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng còn gần 30%, cao nhất so với các vùng trong cả nước; nhiều xã vùng cao tỷ lệ hộ nghèo còn 50 - 60%, có thôn, bản tới 70 - 80%. Toàn vùng còn gần 20% số hộ chưa được nghe đài phát thanh, gần 30% số hộ chưa được xem truyền hình, gần 34,4% số hộ chưa có điện (huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu chưa có điện lưới quốc gia). Khoảng cách và độ chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội và mức sống của người dân giữa vùng với cả nước có xu hướng ngày càng xa.


Tệ nạn ma tuý, lây nhiễm HIV/AIDS chưa được kiềm chế; tình trạng buôn bán, vận chuyển ma tuý, tái trồng cây thuốc phiện, tệ nghiện hút, sử dụng ma tuý còn diễn biến phức tạp, bức xúc; toàn vùng có trên 40 nghìn người nghiện, chiếm khoảng 1/4 số người nghiện cả nước. Một số phong tục tập quán cũ lạc hậu còn nặng nề.


Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá ta. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền phát triển đạo Tin lành trái pháp luật ở các địa bàn vùng cao, biên giới; vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo: xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động di cư tự do, vượt biên trái phép sang Lào, buôn bán ma túy, kích động tư tưởng ly khai nhằm thực hiện âm mưu lập "Vương quốc Mông tự trị" ở Bắc Lào. Tình hình xuất nhập cảnh trái phép, buôn lậu qua biên giới buôn bán phụ nữ, trẻ em, tình trạng lao động vượt biên trái phép sang Trung Quốc làm thuê còn tiếp diễn.


Năng lực hoạt động và hiệu quả công tác của hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị cơ sở vùng sâu, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều hạn chế; năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý của cấp ủy, chính quyền một số địa phương còn yếu. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ vẫn còn nhiều bất cập: Phần lớn cán bộ cơ sở chưa đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ; trình độ văn hoá thấp, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 2008, toàn vùng còn khoảng trên 10% tổng số thôn, bản chưa có chi bộ và 1,0% thôn, bản chưa có đảng viên; cán bộ chuyên trách và công chức xã còn trên 12% mới tốt nghiệp tiểu học; trên 50% chưa qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; 40% chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; gần 65% chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước.


Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp, một bộ phận cán bộ và dân cư còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cấp trên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #155 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 08:53:47 pm »

Để xây dựng khu vực Tây Bắc nói riêng, vùng núi phía Bắc nói chung, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh lâu dài của đất nước, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 1 tháng 7 năm 2004 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2003 phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt - Trung đến năm 2010 và Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg ngày 5 tháng 2 năm 2008 về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2010. Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg khẳng định mục tiêu phải giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, nâng cao dân trí và cải thiện rõ rệt đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 1 tháng 7 năm 2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ xác định: "Trung du và miền núi Bắc Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước; có vai trò quyết định đối với môi trường sinh thái của cả vùng Bắc Bộ; có tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thuỷ điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu, là vùng có đồng bào dân tộc sinh sống gắn bó lâu đời, mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng".


Ngày 24 tháng 8 năm 2004, Bộ Chính trị đã ra Quyết định thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc nhằm giúp Bộ Chính trị chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW.

Định hướng và chính sách phát triển vùng, trong đó có vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: "Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ và vùng Tây Nguyên cần tập trung mọi nỗ lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn chặt với việc bảo đảm an ninh, quốc phòng. Phát triển mạnh thuỷ điện, công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác có hiệu quá quỹ đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả xuất khẩu và trồng rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến có công nghệ hiện đại. Phát triển du lịch sinh thái và văn hoá dân tộc. Phát triển hài hoà giữa các tiểu vùng, giữa các tầng lớp dân cư và giữa đồng bào các dân tộc..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2006, tr. 226).


Về an ninh - quốc phòng, Báo cáo cũng nhấn mạnh: "Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới và kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy các nguồn lực, lồng ghép các chương trình, các dự án để xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở vùng biên giới, hải đảo. Rà soát quy hoạch và điều chỉnh đất quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu về bố trí chiến lược quốc phòng, dành thêm đất cho phát triển kinh tế - xã hội. Có chính sách đặc biệt phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân tại các khu vực có yêu cầu đặc thù về quốc phòng, an ninh..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2006, tr. 228).


Định hướng cơ bản cho phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Bắc là thúc đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng địa phương, từng vùng, từng địa bàn, phù hợp với xu hướng phát triển chung của cả nước.


* Về phát triển kinh tế:

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng dân tộc và miền núi theo hướng phát triển mạnh kinh tế hàng hóa, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

+ Các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp và công nghiệp cần phát triển theo hướng khai thác tiềm năng của vùng về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu và tài nguyên khoáng sản để sản xuất hàng hoá theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

+ Các loại hình dịch vụ từng vùng được chú trọng phát triển, đặc biệt là hoạt động kinh tế dịch vụ các cửa khẩu biên giới với nước bạn.

+ Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm... nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần cho nhân dân.

+ Công tác định canh, định cư cũng như việc đưa dân ra sát biên giới sẽ được hoàn tất theo cơ sở, cải thiện đời sống cho đồng bào đi đôi với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc.


* Về phát triển đời sống văn hoá, xã hội:

+ Chú trọng phát triển văn hoá các vùng miền núi, dân tộc kết hợp hiện đại với bảo tồn và chấn hưng văn hoá. Chống các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội nhằm xây dựng bản làng văn minh, giàu bản sắc văn hoá. Mở rộng mạng lưới phát thanh, truyền hình, củng cố các đội thông tin lưu động và đưa sách báo đến với đồng bào, kể cả ở vùng sâu, vùng xa.

+ Chú trọng chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số. Phát triển giáo dục và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến tới phố cập trung học cơ sở cho đồng bào, đẩy mạnh xoá mù và tái mù chữ, nhằm nâng cao dân trí. Tăng cường và ưu tiến công tác đào tạo, chuyển giao ứng dụng khoa học và công nghệ, kỹ thuật mới cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.


Tóm lại, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc phải gắn liền với xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào qua các chương trình trọng điểm của Chính phủ như: Chương trình 135, Chương trình 327... để đến năm 2020, trong khu vực cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 5%, từng bước thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #156 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:01:52 pm »

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Đại tá, TS NGUYỄN XUÂN NĂNG
Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam
Đại úy PHẠM VŨ SƠN
Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Tây Bắc có vị trí chiến lược hết sức quan trọng với cả ta và địch. Kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952, Bộ Tổng tư lệnh xác định Tây Bắc là hướng tiến công chính. Tại đây, từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của thực dân Pháp.


Chiến dịch diễn ra qua 3 đợt. Đợt 1 (từ ngày 14 đến ngày 23-10), quân ta tiến công Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên, tiêu diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm (Ca Vịnh, Sài Lương, Pú Chạng, Nghĩa Lộ phố...), đập tan toàn bộ phòng tuyến vành ngoài của địch từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai. Đợt 2 (từ ngày 7 đến ngày 22-11), quân ta vượt sông Đà, tiến công hệ thống phòng ngự của địch trên cao nguyên Mộc Châu, kết hợp đánh vu hồi từ Quỳnh Nhai giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, buộc địch ở thị xã Sơn La rút chạy về Nà Sản. Đợt 3 (diễn ra từ ngày 30-11 đèn ngày 10-12). Thắng lợi của ta trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch buộc địch rút bỏ nhiều vị trí quan trọng chạy về Nà Sản co cụm thành "Tập đoàn cứ điểm" mạnh nhất lúc bấy giờ. Để giành toàn thắng cho chiến dịch, Bộ chỉ huy quyết định mở đợt 3 chiến dịch "Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản" nhưng không thành.


Trận đánh căn cứ Nà Sản được coi là trận đánh công kiên lớn nhất và cùng gay go ác liệt nhất từ trước đến thời điểm đó. Tuy không tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Nà Sản, song thắng lợi của chiến dịch là rất lớn. Trong toàn chiến dịch ta đã tiêu diệt, bắt và làm bị thương trên 6.000 tên địch, Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh chủng của Pháp bị xóa sổ. Tám phần mười đất đai ở Tây Bắc được giải phóng, nối liền với phía tây căn cứ địa Việt Bắc. Chiến thắng Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược to lớn cả về quân sự, chính trị. Nó đã tạo ra sự thay đổi cả về thế và lực theo hướng có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyên chủ động trên chiến trường.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh kiêm Tư lệnh chiến dịch Tây Bắc đánh giá: "Thu Đông 1952 là Thu Đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động... Thắng lợi đó đã rèn luyện nhiều cán bộ ta về kỹ thuật, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường lực lượng kháng chiến của nhân dân, nâng cao lòngtin tưởng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân với Đảng và Hồ Chủ tịch"1 (Báo báo Kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, tập 2. Bộ Tổng tham mưu, xuất bản 1963. tr 217).


Ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm của chiến thắng chiến dịch Tây Bắc đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá sâu sắc. Tuy nhiên, việc làm thế nào để bảo tồn, phát huy giá trị của di tích này nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau của đất nước còn nhiều vấn đề phải bàn.


Chúng ta đều biết, di tích nói chung, di tích lịch sử quân sự nói riêng có vai trò hẽt sức quan trọng trong việc giáo dục truyền thống. Hiến chương Vơni (1964) của ICOMMOS đã nêu: "Các di tích lịch sử của các thế hệ con người thấm đượm một thông điệp từ quá khứ đến ngày nay như những nhân chứng sống... Bổn phận của chúng ta ngày nay là phải chuyển giao cho các thế hệ mai sau muôn ngàn di tích đó với đầy đủ vẻ rực rỡ huy hoàng đích thạc của chúng".


Mặc dù vậy, các di tích chiến dịch Tây Bắc còn lại không nhiều và việc bảo tồn, phát huy giá trị của di tích còn nhiều bất cập. Xin đơn cử một vài ví dụ: - Khu di tích Trại và Đồn Nghĩa Lộ được công nhận là khu di tích lịch sử Cấp quốc gia ngày 27 tháng 9 năm 1996 theo Quyết định số 2410-QĐ/VH của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin. Di tích nằm trên một quả đồi được san phẳng, cao hơn mặt đường xung quanh khoảng 10m, ba mặt của khu di tích giáp với đường quốc lộ đi Trạm Tấu và Mù Căng Chải, tổng diện tích được bảo vệ là 8.700m2.


Trại và Đồn Nghĩa Lộ được thực dân Pháp lập ra từ khi chúng chiếm được Yên Bái. Đầu năm 1945, giặc Pháp đã đưa 85 chiến sĩ cách mạng từ Trại Bá Vân (Thái Nguyên) về giam giữ tại đây, trong đó có nhiều đồng chí là lãnh đạo Đảng của ta. Ngày 17 tháng 3 năm 1945, Chi bộ Trại đã tổ chức phá trại, song kế hoạch không thành. 9 đồng chí đã bị địch bắt và sát hại. Năm 1947, chúng củng cố đồn thành sở chỉ huy của Phân khu Nghĩa Lộ, án ngữ đường vào Tây Bắc và vùng Mường Lò rộng lớn. Ngày 18 tháng 10 năm 1952, đồn bị quân ta tiêu diệt. Đây là trận đánh kết thúc đợt 1 chiến dịch Tây Bắc.


Hiện nay Khu di tích chỉ còn lại một bãi trống, một lô cốt, cột cờ, một số đoạn đường hầm; khu mộ 9 chiến sĩ cách mạng bị giặc sát hại; một đài tưởng niệm; tượng đài Chiến thắng cùng với Nhà bia ghi tên các Liệt sĩ. Hàng năm lãnh đạo và nhân dân địa phương vẫn đến thắp hương tưởng niệm trong các dịp lễ tết, các ngày kỷ niệm (22-12; 18-10...).Nhiều đoàn khách tham quan cũng tới đây thắp hương ôn lại những giờ phút lịch sử hào hùng đã diễn ra tại di tích này.

- Khu di tích chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản thuộc xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ gồm nhiều di tích nhỏ trong đó có 4 di tích chính là: Khu Đồng Mo; Ngã ba Chân Mộng; Khu Lò Than; Nghĩa trang Trạm Thản. Khu di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 23 tháng 2 năm 2004 theo Quyết định số 08/2004/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

Chân Mộng - Trạm Thản ngày 17 tháng 11 năm 1952 là trận đánh quan trọng trong chiến dịch Tây Bắc. Thắng lợi của trận đánh góp phần đánh bại cuộc hành quân Loren của Pháp, bảo vệ hậu phương chiến dịch, tạo điều kiện cho chiến dịch Tây Bắc phát triển thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #157 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:04:28 pm »

Hiện nay khu di tích chỉ còn lưu giữ được một đoạn xích xe tăng, lazăng xe bọc thép bị quân ta bắn cháy; khung một xe cơ giới; một xe tăng 18 tấn. Tại đây chính quyền địa phương đã xây dựng bia di tích và nghĩa trang liệt sĩ hy sinh trong trận đánh...

- Khu di tích Nà Sản (nơi diễn ra trận đánh công kiên lớn nhất trong chiến dịch Tây Bắc) thuộc xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Khu di tích đã được Nhà nước xếp hạng cấp Quốc gia ngày 24 tháng 1 năm 1998 theo Quyết định số 95/1998/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin. Khu di tích hiện nay được phân bố trên một khu vực có nhiều quả đồi thấp, diện tích bảo vệ lên đến 15.280m2.


Nà Sản nằm ở vị trí rất quan trọng về quân sự, kinh tế ở chiến trường Tây Bắc, vì vậy Pháp đã chọn làm nơi đặt Sở chỉ huy của cái gọi là "Xứ Thái tự do", "Liên khu độc lập Tây Bắc" do trung tá Tôrăngca (Tranca) chỉ huy, sau này là Sở chỉ huy Phân khu Sơn La do đại tá Jin chỉ huy. Chính tại đây, các tướng Pháp: tướng Linarét (Linase), Tư lệnh chiến trường Bắc Bộ, đại tá Jin - Tư lệnh Phân khu Sơn La, đại tá Đồbécnácdi (Debernardy) - Tư lệnh không quân phía bắc đã họp bàn cách đối phó với 3 sư đoàn của ta ở Tây Bắc. Đây chính là trung tâm điều hành các cuộc hành quân cướp bóc, tàn phá, gây nhiều tội ác với đồng bào dân tộc tỉnh Sơn La và cả Tây Bắc.


Sau khi thua đau trong 2 đợt tiến công của quân ta trong chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp đã phải co cụm lại và xây dựng khu vực Nà Sản thành cứ điểm kiên cố để cố thủ. Tại đây chúng xây dựng cả khu sân bay Nà Sản rộng lớn, khu chỉ huy sở và các cụm cứ điểm cùng hệ thống trận địa pháo yểm trợ. Đây là kiểu cụm cứ điểm kiên cố nhất lần đầu tiên quân Pháp xây dựng tại chiến trường Việt Nam.


Hiện nay, những dấu tích của chiến dịch Tây Bắc tại Khu di tích Nà Sản hầu như không còn mấy, duy nhất chỉ có khu vực sân bay Nà Sản là còn giữ được cơ bản hiện trạng trong lịch sử.

Có thể nói, cả 3 di tích tiêu biểu của chiến dịch Tây Bắc như đã nêu ở trên nay đã bị thời gian làm mai một đi rất nhiều. Trong thời gian qua, mặc dù các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Phú Thọ đã có những nỗ lực rất lớn trong quản lý, bảo tồn, tôn tạo các di tích song việc bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá nói chung, di tích chiến thắng Tây Bắc nói riêng còn nhiều bất cập. Đặc biệt là nguồn ngân sách huy động cho tu bổ, tôn tạo Khu di tích lịch sử Nà San, Chân Mộng - Trạm Thản, Trại và Đồn Nghĩa Lộ ít lại không được đầu tư tập trung nên hiệu quả không cao.


Vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các khu di tích Nà Sản, Chân Mộng - Trạm Thản, Trại và Đồn Nghĩa Lộ đang là việc làm hết sức cấp thiết. Để làm được viêc này, cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là: Trước hết cần thống kê toàn bộ các di tích cần được bảo tồn, tôn tạo của chiến thắng Tây Bắc, trên cơ sở đó từng bước xây dựng và hoàn thiện quy hoạch tổng thể di tích, khoanh vùng bảo vệ, cắm mốc chỉ giới không để xâm phạm và lấn chiếm đất di tích. Tại các địa phương, cần tổ chức phong trào toàn dân bảo vệ di tích, tổ chức hội những người bảo vệ di tích làm nòng cốt. Đây là một tổ chức xã hội tự nguyện nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân đến với di tích, chăm sóc di tích, bảo vệ di tích.


Hai là: cần đầu tư thích đáng để trùng tu, tôn tạo các di tích hiện có, đồng thời nghiên cứu, tìm tòi phát hiện những di tích mới. Việc này phải kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm. Bên cạnh nguồn kinh phí do Nhà nước cấp phải vận động tốt các nguồn lực, thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác bảo tồn di tích. Nếu được đầu tư đúng mức, có trọng tâm trọng điểm chắc chắn các di tích sẽ phát huy tốt giá trị của nó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ.


Ba là: cần xây dựng nhà trưng bày bổ sung cho di tích. Trải qua thời gian, cùng sự tàn phá của thiên nhiên, sự xâm hại của con người nên hầu hết các di tích đã không còn nguyên vẹn. Vì vậy để người xem có thể hiểu được toàn cảnh diễn biến các sự kiện đã xảy ra tại di tích, chúng ta phải xây dựng nhà trưng bày bổ sung cho di tích. Hàng năm, di tích sẽ đón tiếp nhiều đoàn khách đến tham quan học tập, họ ở đủ mọi lứa tuổi, trình độ khác nhau, để ngày càng thu hút được đông đảo khách đến tìm hiểu, tham quan, học tập thì theo các nhà nghiên cứu khoa học về bảo tồn di sản văn hóa cả trong và ngoài nước đều có cùng đánh giá đó là "ngoài các yếu tố khách quan khác thì yếu tố quan trọng nhất vẫn là có trưng bày bổ sung trong di tích".


Đương nhiên cũng phải tùy vào phạm vi, quy mô, cấp độ của di tích mà cân nhắc di tích nào cần có nhà trưng bày, di tích nào chỉ cần dựng bia chứ không phải di tích nào cũng xây dựng nhà trưng bày. Nhưng ít ra với từng cụm di tích nên có nhà trưng bày chung.


Bốn là: Từng bước nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý di tích. Hiện tại, đội ngũ này ở địa phương vừa thiếu lại vừa yếu, không được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến di tích bị xuống cấp mà không ai quan tâm hoặc một di tích được trùng tu, tôn tạo bị làm biến dạng không giữ được tính nguyên gốc của nó. Vì vậy, phải đào tạo, bồi dưỡng và bố trí đội ngũ làm công tác quản lý, bảo tồn di tích vừa có "tâm" vừa có "tầm", có bản lĩnh chính trị, văn hoá, đạo đức nghề nghiệp. Có như vậy mới phát huy tối đa hiệu quả của di tích.


Năm là: Phải thường xuyên tổ chức các hoạt động ngay tại di tích. Xây dựng các kế hoạch, đề ra các giải pháp phối hợp có hiệu quả các tổ chức trong và ngoài tỉnh để quảng bá, giới thiệu, thu hút khách tham quan đến với di tích (như nghiên cứu xây dựng một Tuor tham quan du lịch 3 địa điểm: Di tích Nhà tù Sơn La - Khu di tích Chiến thắng Nà Sản - Thủy điện Sơn La). Đây là những hoạt động tuyên truyền giáo dục truyền thống kết hợp với du lịch góp phần phát triển kinh tế địa phương, tạo cơ sở để "Xây dựng nông thôn mới" mà toàn Đang, toàn dân, toàn quân ta đang cùng nhau thi đua thực hiện.


Nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng những ký ức về chiến thắng Tây Bắc không vì thế mà phai nhạt. Điều này có được chính nhờ một phần ở các di tích đã được bảo tồn. Những di tích còn lại là những minh chứng cho chiến thắng của chúng ta và thất bại nặng nề của thực dân Pháp. Đây cũng là bản "anh hùng ca" ca ngợi những người Việt Nam yêu nước chống lại nền thống trị của thực dân xâm lược. Là nơi mà các chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam đã vượt lên trên những gian nan thử thách đế biến những nơi này thành trường học cách mạng, thành nơi rèn luyện ý chí chiến đấu và để cuối cùng họ đã chiến thắng kẻ thù".


Vì vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị các di tích tiêu biểu trong chiến thắng Tây Bắc có vai trò vô cùng to lớn, nó giúp cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau cảm nhận được nhiều hơn những giá trị đích thực của truyền thống mà cha anh đi trước đã để lại, đặc biệt là những hình ảnh chiến đấu dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua mọi gian nan, thử thách, những tấm gương hy sinh anh dũng... của các thế hệ quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giành lại độc lập, tự do cho đất nước, từ đó tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ trẻ ngày hôm nay tiếp tục phấn đấu, cống hiến làm sao cho xứng đáng với thế hệ cha anh đi trước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #158 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:11:49 pm »

CHIẾN THẮNG TÂY BẮC THU ĐÔNG 1952 SỰ KIỆN VÀ CON SỐ

Đại tá, ThS CHU VĂN TÙNG
Trưởng phòng Thông tin - Tư liệu -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Thượng tá ĐỖ ĐĨNH VY
Phòng Thông tin- Tư liệu -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thực hiện chủ trương chuyển hướng tiến công chiến lược của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch tiến công Tây Bắc. Sau 2 tháng chiến đấu quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tranh thủ được nhân dân và giải phóng một vùng đất đai rộng lớn ở Tây Bắc.


Chiến dịch Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, nhưng quá trình diễn tiến của chiến dịch được chuẩn bị từ rất sớm. Để có cái nhìn tổng quan về quá trình đó, nhân cuộc Hội thảo khoa học kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, trong bài viết này chúng tôi tập hợp và giới thiệu những sự kiện quan trọng liên quan đến quá trình diễn biến của chiến dịch từ lúc chuẩn bị cho đến kết thúc chiến dịch.


Tháng 4 năm 1952: Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy bắt đầu xúc tiến triển khai các mặt công tác chuẩn bị chiến dịch.

Ngày 17 tháng 7 năm 1952: Ban Bí thư ra Nghị quyết thành lập Khu Tâv Bắc, nêu rõ, công tác trọng tâm của Khu ủy là hướng vào việc chuẩn bị chiến trường, đồng thời chuẩn bị xây dựng các căn cứ du kích và thu hồi các vùng được giải phóng.

Ngày 6 đến 9 tháng 9 năm 1952: Bộ Tổng tư lệnh mở hội nghị cán bộ, phổ biến quyết tâm chiến dịch. Trong hội nghị, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nêu lên 3 nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch và nhân mạnh: "Ở đồng bằng cũng như Tây Bắc, ta đều có điều kiện tiêu diệt địch, nhưng ở Tây Bắc ta có nhiều thuận lợi để tác chiến tập trung và tiêu diệt địch nhiều hơn".


Ngày 9 tháng 9 năm 1952: Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc. Người nói: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi...".


Cùng ngày, Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch, chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Cung cấp.


Từ 20 tháng 9 đến đầu tháng 10: Chấp hành Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh bắt đầu triển khai các đơn vị tiến vào vị trí tập kết. Đồng thời các đơn vị được lệnh tổ chức nghi binh, đánh lạc hướng phán đoán của địch. Trung đoàn 238 hoạt động ở Bắc Ninh Bắc Giang mang phiên hiệu là Đại đoàn 316; Trung đoàn 246 hoạt động ở Vĩnh Yên, Phúc Yên mang phiên hiệu là Đại đoàn 308; Trung đoàn 91 hoạt động ở Sơn Tây Phú Thọ mang phiên hiệu là Đại đoàn 312; đồng thời thay đổi khoá mật mã làm cho địch vẫn phán đoán Việt Minh tấn công ở đồng bằng nên chúng vẫn tổ chức bố trí 29 trong số 32 tiểu đoàn cơ động vào việc phòng thủ đồng bằng.


Ngày 1 tháng 10 năm 1952: Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ban Chấp hành Trung ương đã gửi thư động viên tới cán bộ, chiến sĩ, dân công ở Mặt trận Tây Bắc.

Ngày 10 tháng 10 năm 1952: Thay mặt Tổng tư lệnh quân đội Quốc gia Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra Nhật lệnh kêu gọi các đơn vị tiến quân vào Tây Bắc, nội dung của Nhật lệnh có đoạn nêu: "...Tiến quân vào Tây Bắc; tiêu diệt sinh lực địch; giải phóng nhân dân; giải phóng một bộ phận đất đai của Tổ quốc yêu quý... Tiến quân vào Tây Bắc; vượt mọi gian khổ, khắc phục khó khăn, chiến đấu anh dũng, tiêu diệt quân địch....


Trong hai đêm 10 và 11 tháng 10: Các đại đoàn bộ binh và đại đoàn công pháo tổ chức vượt sông ở 4 bến: Mậu A, Âu Lâu, Nước Nóng và Lan Bình. Riêng Trung đoàn 98 vượt sông ở Phú Thọ, cụ thể như sau:

- Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36) vượt bến Mậu A theo đường Khâu Vác tiến vào Nghĩa Lộ, đi đầu là 4 tiểu đoàn tiền vệ gọn nhẹ bao vây Pú Chạng, Nghĩa Lộ.

- Trung đoàn 36 vượt sông ở bến Âu Lâu, qua đèo Bụt Ca Vịnh, đèo Hồng vào chuẩn bị đánh Cửa Nhì.

- Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 141) qua sông ở bến Nước Nóng, theo Thuỵ Cuông - Nậm Bằng vào Gia Hội.

Ngày 20 tháng 9 đến 10 tháng 10: Trong khi bộ đội ở Tây Bắc tiến vào vị trí tập kết thì ở hướng đồng bằng Liên khu 3, Đại đoàn 320, Đại đoàn 304 cũng hành quân vào vùng địch hậu.

Những sự kiện và con số của cuộc tấn công đợt 1:

Đêm ngày 14 tháng 10 năm 1952: Để tạo thế cho Đại đoàn 308 vào sâu chiếm lĩnh trận địa tiêu diệt Nghĩa Lộ, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đánh trước vị trí Ca Vịnh trên đường số 13, nhưng do vây không chặt, địch chạy hết. Ngày 15, địch rút khỏi Thượng Bằng La, trung đoàn phục kích Núi Khum diệt được một số tên. Ngày 16, đơn vị chuẩn bị đánh Ba Khe, địch bỏ chạy về Làng Nhì, ta truy diệt được một số, còn phần lớn chạy vào rừng. Cùng đêm 14 tháng 10, Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 đánh Sài Lương, đồng thời bố trí lực lượng đánh viện trên đường Gia Hội.


Ngày 15 tháng 10: Đờ Linarét điều Tiểu đoàn 3 lê dương (3/3e REI) từ đồng bằng lên Nà Sản.

Ngày 16 tháng 10: Địch thả Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6e BPC) xuống Tú Lệ chặn đường tiếp tế của ta, giữ Sơn La và giải toả cho Nghĩa Lộ.

Đêm 17 tháng 10: Phát hiện địch tăng cường 1 đại đội Tabo và rời chỉ huy phân khu lên Pú Chạng, Bộ chỉ huy quyết định đánh Pú Chạng trước đêm 17 để tạo thuận lợi cho việc tiến công Nghĩa Lộ.

Ngày 17 tháng 10: Đại đoàn 308 sử dụng 2 trung đoàn đánh Nghĩa Lộ phố và Nghĩa Lộ đồi.

Trung đoàn 102 được tăng cường 2 đại đội Tiểu đoàn 322 Trung đoàn 88, có nhiệm vụ tiêu diệt Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồi). Sau 3 giờ 25 phút chiến đấu ác liệt, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm, loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên, có 177 tên bị bắt, trong đó có tên thiếu tá chỉ huy phân khu cùng của chúng, ta thu toàn bộ vũ khí trong đó có 1 lựu pháo 105mm. Ta thương vong 217 (hy sinh 31 bị thương 186 đồng chí).


Trung đoàn 88 đánh chiếm Nghĩa Lộ phố. Sau 2 giờ 20 phút chiến đấu ta chiếm được cứ điểm, loại khỏi vòng chiến đấu 280 tên (diệt 45 tên, bắt 235 tên) trong đó có 74 lính Âu - Phi (ta thương vong 303, hy sinh 42, bị thương 261 đồng chí).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #159 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:21:54 pm »

Đêm 18 tháng 10, Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 phát hiện địch ở Cửa Nhì hoang mang, chuẩn bị rút, ta quyết định đánh sớm, vây chặt và kịp thời nổ súng ngay khi địch mở cửa đồn tháo chạy. Sau 20 phút, ta tiêu diệt hoàn toàn vị trí này diệt 20 tên, bắt 194 tên.


Cùng ngày 18 tháng 10. Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 141) nhận lệnh đánh Gia Hội. Khi Trung đoàn 165 đến Gia Hội, địch đã bỏ chạy, trung đoàn đuổi theo đến Tú Lệ lúc 12 giờ ngày 19 tháng 10, lúc này Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6e BPC) của địch đã có mặt ở đây, ta tổ chức tập kích nhưng không thành công, để địch tràn qua chạy về đèo Cao Phạ (Khau Pha), ta tổ chức xuyên rừng chặn lại, tiêu diệt được một bộ phận. Suốt 4 ngày 5 đêm truy đuổi địch trên đoạn đường rừng dài gần 100km, Trung đoàn 165 diệt và bất gần 200 tên địch, Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 bị thiệt hại nặng.


Đêm 14 tháng 10: Trên hướng thứ yếu, Trung đoàn 98 tiêu diệt vị trí Nha Phù đêm 17 tiêu diệt sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên ở Bản Mo, ngày 18 tiến vào Vạn Yên, do trung đoàn không tìm cách vượt sông truy kích nên để địch chạy thoát.

Phía nam Lai Châu, Tiểu đoàn 910 Trung đoàn 148 từ Lào Cai tiến xuống Quỳnh Nhai. Đêm 11 tháng 10, kỳ tập tiêu diệt vị trí Nậm Sỏ. Ngày 14 địch cho Đại đội 5 Tiểu đoàn Thái số 2 lên tăng viện bị ta diệt một số, số còn lại chúng bỏ chạy. Ngày 15 dịch bỏ Quỳnh Nhai, chạy sang hữu ngạn sông Đà. Ngày 18 tháng 10 đơn vị tiến đến Nà Mu, địch bỏ chạy. Ngày 19 địch điều Tiểu đoàn Tabo 17 tăng cường cho Pắc Ná, ngày 23 tháng 10 ta diệt 1 đại đội số còn lại chạy sang bên kia sông.


Cùng trong thời gian trên, bộ đội địa phương và các đội du kích Cao Phạ, Mường La tích cực phối hợp với chủ lực lùng quét tàn binh bảo vệ địa phương. Các đại đội địa phương Văn Bàn, Văn Chấn bao vây Làng Chàng, Bản Lầu, kêu gọi địch đầu hàng và truy kích bọn rút chạy. Đại đội 302 (Lai Châu) cùng Tiểu đoàn 910 vũ trang tuyên truyền xây dựng chính quyền và xây dựng lực lượng vũ trang vùng mới giải phóng.


Sau hơn 10 ngày đêm chiến đấu (từ 14 - 23.10), đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta tiêu diệt đại bộ phận địch ở Nghĩa Lộ Tiểu khu Phù Yên, Tiểu khu Than Uyên. Diệt 500 tên, bắt 1.000 tên trong đó có 300 lính Âu - Phi, toàn bộ Ban chỉ huy Phân khu Nghĩa Lộ, và Ban chỉ huy Phân khu Phù Yên, giải phóng một vùng đất đai quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai (trừ khu Phong Thổ) rộng 10.000km2. Ta thu 1.400 súng trường tiểu liên, 22 trọng đại liên, 31 súng cối, 3 ĐKZ, 2 pháo 105mm, 14 VTĐ và nhiều quân trang quân dụng.


Ngày 25 tháng 10 năm 1952: Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi Hội nghị cán bộ ở Mặt trận Tây Bắc khen ngợi và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ chiến đấuở Mặt trận Tây Bắc trong đợt 1 chiến dịch: "Các đồng chí đã thấm nhuần quyết tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, làm cho quyết tâm ấy biến thành quyết tâm của chiến sĩ và nhân dân; có tinh thần chiến đấu anh dũng, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn để tiêu diệt địch; đánh nhanh chóng làm cho địch không kịp trở tay. Bên cạnh đó: Một số đồng chí còn thiếu tinh thần trách nhiệm, chấp hành mệnh lệnh chưa thật nghiêm chỉnh và triệt để; chưa nắm vững tư tưởng chiến thuật, chưa thật tích cực bao vây tiêu diệt địch, để một số địch chạy trốn và một số địch rút lui; công tác cung cấp còn thiếu sót, để có lúc bộ đội phải đói ăn; còn coi nhẹ công tác ngụy vận, địch vận; chưa thật coi trọng công tác dân vận, chưa ráo riết thi hành chính sách dân tộc thiểu số của Đảng và Mặt trận để tranh thủ nhân dân..."

Những sự kiện trong cuộc chống càn Loren lên Phú Thọ của đỉch:

Sau khi hoàn thành đợt 1, ta không thể chuyển ngay sang đợt 2 như dự kiến vì chưa chuẩn bị kịp lương thực, thực phẩm. Mặt khác, ta chưa nắm chắc địch ở hữu ngạn sông Đà nên cần có thời gian nắm tình hình địch, chấn chỉnh bộ đội rút kinh nghiệm chiến đấu, và chuẩn bị chiến trường, đồng thời tập trung bộ đội và dân công vận chuyển gạo.


Về phía địch, bị thất bại nặng nề, Bộ chỉ huy Pháp quyết định bỏ vùng tả ngạn sông Thao, rút sang hữu ngạn sông Đà, nhanh chóng thiết lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, tăng cường lực lượng, lập tuyến phòng thủ sông Đà, xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để quyết giữ vùng còn lại ở Tây Bắc. Chỉ sau một thời gian ngắn, chúng đã điều 9 tiểu đoàn cơ động từ đồng bằng và các nơi khác lên Tây Bắc, đưa số quân ở đây lên thành 16 tiểu đoàn và 32 đại đội. Cụ thể:


Tiểu đoàn số 6 dù (6e PBC) đổ xuống Tú Lệ; Tiểu đoàn Lê dương (3/3e REI) đến Sơn La. Ngày 20 đến 21 tháng 10, thêm Tiểu đoàn 3/e5 lê dương (3/5 RED, Tiểu đoàn 3/e1 Marốc (3/1RTM) đổ bằng máy bay xuống Nà Sản để củng cố tuyến phòng thủ mới. Ngày 26 tháng 10, địch lại điều 2 tiểu đoàn ngụy số 55 và 56 ((55-56 BVN) từ đồng bằng lên Nà Sản và Tiểu đoàn 27 Bắc Phi (277BMTS) lên Lai Châu. Đến ngày 2 tháng 11, địch điều thêm Tiểu đoàn ngụy Lào số 58 (58e BCL) từ Thượng Lào sang Điện Biên Phủ và Quỳnh Nhai. Sau khi hoàn thành việc củng cố các vùng còn lại ở Tây Bắc. Về chiến lược, Bộ chỉ huy Pháp ở Bắc Bộ quyết định mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ hòng phá vùng hậu phương chiến dịch và kéo chủ lực ta ở Tây Bắc về, phá cuộc tiến công của ta lên Tây Bắc.


Ngày 28 tháng 10: Khi đợt 1 chiến địch Tây Bắc vừa chấm dứt, ta đang chuẩn bị tiếp cho đợt 2, thì địch tung toàn bộ lực lượng cơ động dự bị chiến lược đánh lên Phú Thọ, lực lượng gồm: 9 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn cơ giới, 2 tiểu đoàn pháo, 2 thuỷ đội xung kích, 3 tiểu đoàn công binh cùng nhiều máy bay vận tải và ném bom.


Địch từ Trung Hà, Việt Trì theo đường sống, đường số 2 lên thị xã Phú Thọ và nhảy dù xuống Đoan Hùng. Ngày 13 tháng 11 một mũi tiến đến Bến Hiên, đi đến đâu chúng cũng lùng sục cướp bóc, đốt phá kho tàng, hoa màu của ta đến đó, tại đây chúng đã phá 3 kho gạo, 1 kho muối, 1 kho vũ khí hơn 100 tấn ta chưa kịp di chuyển.


Ngày 12 tháng 11 năm 1952: nhận rõ âm mưu của Pháp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng để ra chỉ thị địch đánh lên Phú Thọ và nhiệm vụ của chúng ta. Chỉ thị có đoạn nêu: Nhiệm vụ của chúng ta là phải tích cực phá tan kế hoạch của địch đánh lên Phú Thọ, đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, phối hợp tác chiến với mật trận chính.


Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh một mặt vẫn giữ nguyên quyết tâm tiếp tục tiến công vào Tây Bắc, mặt khác điều Trung đoàn 36 về cùng với lực lượng tại chỗ kiềm chế, tiêu hao, buộc địch phải rút khỏi Phú Thọ.

Ngày 17 tháng 11: Trung đoàn 36 đánh phục kích trên đường Chân Mộng - Năng Yên và Trạm Thản, diệt và bắt trên 400 tên, phá hủy 27 ô tô, 17 xe tăng, xe bọc thép.

Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 11: Trung đoàn 36 tiến công Núi Quyết (gần Cổ Tiết) diệt thêm 1 đại đội địch, làm cho binh đoàn cơ động số 4 của địch bị tổn thất nặng nề.

Kết quả gần 1 tháng địch đánh lên Phú Thọ chúng không làm thay đổi được quyết tâm chiến lược của ta mà còn bị tổn thất nặng nể: 1.800 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, có 173 tên bị bắt, 60 xe cơ giới bị phá huỷ, thu nhiều vũ khí. Ta căn bản hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ hậu phương. Thắng lợi chống cuộc càn quét lên Phú Thọ của địch đã cổ vũ, động viên quân và dân ta ở Mặt trận Tây Bắc tiến hành thắng lợi đợt 2 của chiến dịch.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM