Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:43:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33081 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #160 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:29:12 pm »

Những sự kiện và con số của cuộc tiến công đợt 2:

Bước vào đợt 2 chiến dịch, theo chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch, để tranh thủ yếu tố bất ngờ, nghi binh lừa địch, Mặt trận Y13 à hướng Lai Châu nổ súng trước mở đầu đợt 2 chiến dịch.

Ngày 9 tháng 11 năm 1952: Đại tướng Võ Nguyên Giáp kêu gọi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, toàn thể anh chị em dân công vượt qua sông Đà, tiếp tục cuộc tiến quân vào Tây Bắc.


Trên hướng chủ yếu:

Ngày 17 tháng 11: Đại đoàn 312 tiến công Tà Pình nhưng không có địch nên chuyển sang đánh Bản Lay và Bản Hoa. Tại đây Trung đoàn 209 được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 141 tiến công Bản Hoa nhưng không diệt gọn được Tiểu đoàn Marốc số 3. Đêm 18 tháng 11, Trung đoàn 141 (thiếu 1 tiểu đoàn) đánh Bản Lay diệt hơn 1 tiểu đoàn địch.


Ngày 18 tháng 11: Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36), sau khi vượt sông Đà, sử dụng Tiểu đoàn 79 Trung đoàn 102 đánh Hát Lót, bắt 90, diệt 8 tên địch. Đêm 18, Tiểu đoàn 29 Trung đoàn 88, đánh Mường Lụm, diệt 38 tên, bắt 111 tên (có 69 lính Âu - Phi) thuộc Tiểu đoàn Marốc sô 3 ở Bản Hoa, Bản Lay chạy về.


Đêm 19 tháng 11: Đại đoàn 316 (thiếu), tiến công Mộc Châu, một cứ điểm mạnh, then chốt án ngữ đường số 41 do 1 tiểu đoàn địch chiếm giữ. Trong đó, Trung đoàn 174, được tăng cường Tiểu đoàn 215 của Trung đoàn 98, 1 Đại đội 3 khẩu pháo 75mm, 1 đại đội cối 2 khấu 120mm, 1 tiểu đoàn 12 khẩu 12,7mm, 1 trung đội ĐKZ, 1 trung đội công binh chia làm nhiều mũi tiến công cứ điểm Mộc Châu, ở hướng sân bay, Tiểu đoàn 439 Trung đoàn 98 bố trí chặn đánh để phòng địch rút chạy. Sau hơn 1 giờ chiến đấu hướng chủ yếu đột phá không thành công, hướng thứ yếu tác chiến thuận lợi hơn đã chiếm được vị trí tiền tiêu. Từ trên cao dùng hoả lực yểm trợ cho các hướng phát triển tiến công, đến 2 giờ 15 phút ngày 20 tháng 11 bọn chỉ huy cứ điểm Mộc Châu xin đầu hàng, một số binh lính tháo chạy rơi vào trận địa đón lõng của Tiểu đoàn 439 bắt gọn.


Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 309 tên, thu toàn bộ vũ khí, giải phóng hơn 1.000 dân bị bắt giam, ta thương vong 186 đồng chí. Như vậy, các trận đánh lớn mở đầu đợt 2 chiến dịch vào tuyến phòng thủ cao nguyên Mộc Châu giành thắng lợi lớn.

Sau khi hệ thống phòng ngự trên cao nguyên Mộc Châu bị đập vỡ. định co lại phòng thủ trong thế thất bại nên đã biến thành một cuộc rút lui hỗn loạn. Phát hiện địch rút lui, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị truy kích.

Ngày 19 tháng 11: Chấp hành mệnh lệnh của trên, các đơn vị của Đại đoàn 308, trong đó có Tiểu đoàn 23, Trung đoàn 88 từ Mường Lụm truy kích đến Nà Ngà nhưng chỉ kịp đánh bọn đi sau cùng, sau đó gặp Đại đội 3 Commăngđô ở Yên Châu xuống đón lực lượng rút chạy, ta lập tức đánh địch nhưng không diệt được gọn vì lực lượng ta quá ít. Cùng ngày địch rút Tiểu đoàn 3 lê dương ở Tạ Khoa và 2 tiểu đoàn Âu - Phi (1e+ 2eBEP) vừa tới Nà Sản để thành lập khu phòng ngự ở Chiềng Đông, Yên Châu, Cò Nòi, đề phòng ta tiến công theo đường 41. 13 giờ ngày 19 tháng 11 Trung đoàn 88 tới Yên Châu tiến công Tiểu đoàn 55 BVN nhưng sáng ngày 20 tháng 11 tiểu đoàn này đã bỏchạy, ta chuyển sang truy kích và tổ chức 1 tiểu đội luồn rừng chặn đầu và tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 55 BVN cùng lực lượng chiếm đóng ở Yên Châu và 1 đại đội của tiểu đoàn dù số 1 (1e BEP) từ Chiềng Đông xuống đón Tiểu đoàn 55 BVN, sau đó Trung đoàn 88 tiếp tục tiến đến Chiềng Đông, Cò Nòi, do mệt mỏi tốc độ truy kích chậm lại nên để 4 tiểu đoàn địch chạy thoát.


Ngày 23 tháng 11: Trung đoàn 88 đuổi địch tới sân bay Nà Sản, bị hoả lực địch bắn mạnh phải rút ra, đêm 23 trung đoàn tổ chức đánh Pú Hồng nhưng không thành công, thương vong nhiều trong khi Trung đoàn 102 (thiếu) ở phía sau chưa lên kịp.

Ngày 6 và 7 tháng 11: Ban chỉ huy Mặt trận Y13 cho Tiểu đoàn 910 vượt sông đánh tan Tiểu đoàn Thái khố xanh (BGT) ở Nậm Dín, đồng thời đưa Tiểu đoàn 542 Trung đoàn 165 vượt sông trong đêm ngày 7, sớm hơn dự định 8 ngày, thấy địch ở Nậm Dín bị ta tiêu diệt, địch ở Tuần Giáo, Luân Châu cũng rút chạy. Ngày 14 và 15 tháng 11, thấy thị xã Lai Châu bị uy hiếp, đường số 41 Sơn La - Lai Châu bị chặt đứt, địch điều 2 tiểu đoàn (2eBPC và 56eBVN) chiếm lại Luân Châu, Nậm Dín, nhằm khôi phục Tiểu khu Quỳnh Nhai và bảo vệ thị xã.


Ngày 16 và 22 tháng 11: Tiểu đoàn 910, Tiểu đoàn 542, Tiểu đoàn 564 hình thành hai mũi tiến công. Tiểu đoàn 910 tiến công tiểu đoàn dù ở ngã ba Nậm Dín, tiêu hao 3 đại đội; Tiểu đoàn 542 đánh địch ở Nong Bò, Cha Mong, diệt 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 ngụy; Tiểu đoàn 564 truy kích diệt và bắt sống gần như toàn bộ quân địch ở Mường Sài và Mường Piềng, thừa thắng Tiểu đoàn 564 phát triển đến Thuận Châu, địch ở đây hoảng sợ bỏ chạy, tiểu đoàn phối hợp với Tiểu đoàn 115 truy kích địch đến tận Sơn La, đến ngày 22 tháng 11, toàn bộ quân địch ở các vị trí còn lại ở thị xã Sơn La cũng rút hết về Nà Sản. Ta tiếp quản Thuận Châu, thị xã Sơn La và truy bắt được gần 400 tên tàn binh.


Ngày 30 tháng 11: Tiểu đoàn 542, sau khi vào Nậm Dín, qua Thuận Châu, tiến về Điện Biên Phủ, tập kích Tiểu đoàn nguỵ Lào và truy quét tàn binh lẩn trốn, bắt 726 tên có một quan tư, thu 600 súng các loại.

Kết quả trên hướng phối hợp trong đợt 2 ta đã diệt và bắt hơn 1.400 tên, tính cả đợt 1 trên hướng này ta đã diệt 12 đại đội, bắt 1.750 tên (có 75 lính Âu - Phi), thu nhiều quân trang quân dụng, giải phóng 6 huyện: Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu, Điện Biên Phủ rộng trên 3.000km2 với 100.000 dân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #161 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:30:56 pm »

Những sự kiện và con số cuộc tiến công Tập đoàn cứ điểm Nà Sản:

Ngay sau khi mất Nghĩa Lộ, Xalăng đã tính đến việc gom các vị trí lại lập thành những cứ điểm mạnh, hình thành một tập đoàn cứ điểm. Tập đoàn cứ điểm là một hình thức phòng ngự mới xuất hiện trên chiến trường nước ta sau thất bại liên tiếp của các hình thức phòng ngự khác. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản với chiều rộng khoảng hơn 10km2, được thiết lập theo hình thức phòng ngự hình vòng cung và chia ra thành 17 cứ điểm lớn nhỏ, 2 vành đai phòng ngự. Tổng binh lực địch đóng trong tập đoàn có khoảng 12.000 tên, gồm 10 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh.


Về ta, sau hai đợt tiến công, quân số hao hụt, công tác bảo đảm hậu cần không kịp thời, sức khoẻ bộ đội bị giảm sút, so sánh tình hình ta - địch, ta không chiếm được ưuthế tuyệt đối như thời kỳ đầu chiến dịch, nhưng tinh thần của bộ đội đang trên đà phấn khởi sau thắng lợi của đợt 1 và đợt 2 chiến dịch, nguồn huy động nhân vật lực ở vùng mới giải phóng có tiến triển tốt.


Căn cứ vào nhận định trên, ngày 24 tháng 11, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch hạ quyết tâm tiến công Tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Quá trình diễn biến trải qua các trận đánh tiêu biểu như sau:

Đêm 30 tháng 11: Tiểu đoàn 115 của Trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công Bản Hời phía Tây Bắc Nà Sản, cách trung tâm tập đoàn cứ điểm 2km, sau 7 giờ chiến đấu Tiểu đoàn 115 làm chủ được Bản Hời, diệt gần 1 đại đội địch. Cùng đêm 30 tháng 11, Trung đoàn 102 và Tiểu đoàn 322 của Trung đoàn 88 chiếm được Pú Hồng, diệt 4 trung đội của binh đoàn số 1 địch đóng trên cứ điểm 753, bắt sống tên quan ba Mêtét, do tổ chức phòng ngự không tốt, sau đó địch phản kích chiếm lại.


Đêm 1 tháng 12: Phát huy thắng lợi của Bản Hời, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 209 Đại đoàn 312, tiêu diệt Bản Vầy, Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đánhNà Si nhưng không thành công do sự chống trả quyết liệt của địch.

Ngày 2 tháng 12: Địch dùng máy bay ném bom và hoả lực pháo binh bắn trên 5.000 quả đạn vào đội hình ta, bộ đội bị thương vong nhiều (trên 1.200 thương binh). Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy ta chưa nắm chắc tình hình địch nên chưa đủ khả năng tiêu diệt Nà Sản, cần có thời gian chuẩn bị chu đáo, huấn luyện bộ đội, nghiên cứu kỹ về kiểu phòng ngự của địch nên đã quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 19521 (Trong sách: "Về Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm các chiến dịch lớn", tập II tr. 228 ghi: Trong cuộc tấn công Nà Sản, sau trận Bản Vầy và Nà Si, Tổng Quân ủy nhận thấy tiếp tục tấn công Nà Sản không có lợi nên đã kịp thời đình chỉ. Đó là chủ trương đúng).


Ngày 16 tháng 12 năm 1952: Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ chiến thắng ở Mặt trận Tây Bắc và chỉ đạo tiếp tục khuếch trương thắng lợi trên, đồng thời củng cố vùng mới giải phóng và đề phòng âm mưu địch quay trở lại.

Trong chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952, ta sử dụng một lực lượng bộ đội tương đối lớn với 3 đại đoàn chủ lực gồm: Đại đoàn 308 có 3 trung đoàn (Trung đoàn 36, Trung đoàn 88, Trung đoàn 102); Đại đoàn 312 có 3 trung đoàn (Trung đoàn 141, Trung đoàn 165, Trung đoàn 209); Đại đoàn 316 có 2 trung đoàn (Trung đoàn 98, Trung đoàn 174); Đại đoàn công pháo 351 (thiếu), 1 trung đoàn công binh và các lực lượng vũ trang địa phương, hoạt động dài ngày, gồm 3 đợt tiến công.


Về bảo đảm công tác hậu cần đã cung cấp 11.744 tấn gạo (Việt Bắc: 5.350 tấn, Khu 3 và 4: 5.254 tấn, Tây Bắc: 1.140 tấn); 164 tấn muối (Việt Bắc: 110 tấn, Khu 3, 4: 54 tấn); 235 tấn thịt (Việt Bắc: 190 tấn, Khu 3, 4: 5 tấn, Tây Bắc: 40 tấn); 83 tấn thực phẩm khác (Việt Bắc: 30 tấn, Khu 3, 4: 12 tấn, Tây Bắc: 41 tấn); 33 tấn đạn dược, cứu chữa 2.535 thương binh, huy động và sử dụng 191.000 dân công với gần 7 triệu ngày công.


Kết quả toàn chiến dịch (không kể mặt trận vùng sau lưng địch) ta diệt 1.005 tên, bắt 5.024 tên địch; tiêu diệt gọn 4 tiểu đoàn, 28 đại đội gồm: Tiểu đoàn ngụy Thái số 1 (1eBAT), Tiểu đoàn 3/e 1 Maroc (3/1RTM), Tiểu đoàn 58 ngụy Lào (58BCL), Tiểu đoàn ngụy số 55 (55BVN); đánh thiệt hại nhiều tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ gồm: Tiểu đoàn nguỵ Thái số 2 (2eBAT) và số 3 (3e BAT), Tiểu đoàn Thái khố Xanh (BGT), Tiểu đoàn ngụy số 56 (BVN), tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6CBPC), Tiểu đoàn Tabo 17 (17eTabo), phân đội độc lập Tây Bắc (BAZANO). Thu trang bị: Thu 11 khẩu pháo từ 75 - 105mm, gần 4.000 súng các loại, nhiều quân trang quân dụng, bắn rơi 6 máy bay. Giải phóng một vùng rộng lớn địa bàn chiến lược quan trọng ở Tây Bắc (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân). Với vùng giải phóng mới được mở ra, vùng tự do Tây Bắc đã chiếm 80% đất đai và 350.000 dân. Cả 4 cánh đồng lớn nhất: Điện Biên, Nghĩa Lộ, Phù Yên, Than Uyên đã về ta. Từ đây, Tây Bắc đã trở thành căn cứ địa, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, làm cơ sở cho cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân ta. Đường giao thông giữa Việt Bắc với Khu 3, Khu 4 và miền Nam có điều kiện củng cố. Mối liên hệ trong nước với quốc tế thêm thuận lợi, có ảnh hưởng tốt đến cách mạng ba nước Đông Dương.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #162 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:44:42 pm »

"CHIẾN THẮNG TÂY BẮC 1952 - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"
(Tổng thuật tham luận Hội thảo khoa học)

Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Khu Tây Bắc, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu (nay là Lai Châu và Điện Biên) là một địa bàn có vị trí chiến lược rất quan trọng. Nơi đây, tròn 60 năm về trước, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, thông minh, sáng tạo làm nên chiến thắng Tây Bắc 1952 có ý nghĩa rất quan trọng cả về quân sự, chính trị và kinh tế.


60 năm qua, đã có khá nhiều cuốn sách, bài viết để cặp đến sự kiện lịch sử này trên các góc độ khác nhau, song chưa có một cuộc Hội thảo khoa học nào đề cập một cách toàn diện về chiến dịch này. Chiến thắng Tây Bắc 1952 không chỉ cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ hơn, mà còn cần được tôn vinh xứng đáng với tầm vóc và ý nghĩa nhằm khơi dậy niềm tự hào dân tộc; góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam.


Dựa trên nhiều nguồn tư liệu lịch sử mới được khai thác, cùng với độ lùi của thời gian, cho phép chúng ta nhìn nhận sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của sự kiện lịch sử này, cũng như tầm nhìn chiến lược của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, rút ra những bài học lịch sử, từ đó gợi mở hướng vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, mà trực tiếp là về vấn đề quốc phòng, an ninh, đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Tây Bắc.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sử Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được gần 70 bài tham luận của các vị lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử, các đồng chí lãnh đạo, các vị tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội.


Mỗi tham luận là một công trình nghiên cứu độc lập, theo từng vấn đề cụ thể, phản ánh khá toàn diện, sâu sắc về chiến thắng Tây Bắc 1952, tập trung chính là các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, mở chiến dịch tiến công ở Tây Bắc, chủ trương đúng đắn, sáng suốt và sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh.

Vào cuối năm 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã trải qua 7 năm, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước đang có nhiều biến chuyển mới, các điều kiện để ta đẩy mạnh tiến công địch đã chín muồi. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định là chọn hướng tiến công địch ở đâu cho phù hợp với nhiệm vụ của giai đoạn chiến lược, giành được thắng lợi tạo đà phát triển mạnh mẽ cho kháng chiến.


Thực tế lịch sử cho thấy Thu Đông 1950, ta chủ động mở chiến dịch Biên Giới, trên địa bàn các tỉnh miền núi (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn) giành được thắng lợi tạo bước ngoặt lịch sử. Một trong những yếu tố dẫn tới thành công của chiến dịch nói trên là do ta chọn đúng hướng chiến dịch, phát huy được sở trường, ưu thế của mình; khoét sâu chỗ yếu, hạn chế tối đa sức mạnh về vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch. Sau đó, trong Xuân Hè 1951, ta chủ động mở liên tiếp 3 chiến dịch (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung) tiến công địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, song cả ba chiến dịch này đều không đạt được mục đích, lực lượng ta bị tổn thất không nhỏ. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng tiến công không chính xác, đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ lúc đó là chưa phù hợp, vì ở địa bàn này, địch phát huy được ưu thế về vũ khí, trang bị, hoả lực và khả năng cơ động bằng cơ giới, còn bộ đội chủ lực ta khó phát huy được sức mạnh và sở trường của mình.


Từ thực tế đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (4-1952), Trung ương Đảng nghiêm túc kiểm điểm, quán triệt đường lối kháng chiến trường kỳ, phương châm, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn này. Trung ương Đảng thống nhất chủ trương: tiếp tục phát huy quyền chủ động chiến lược, mở chiến dịch tiến công địch trong Thu Đông 1952 với phương châm: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh. Theo đó, tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc, nhằm giành thắng lợi cả về quân sự và chính trị là tiêu diệt, tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, giành dân, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của Pháp, xây dựng Tây Bắc thành căn cứ địa hậu phương kháng chiến.


Chọn Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh đã có sự cân nhắc đúng đắn trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình địch - ta chính xác, khách quan và khoa học. Ta đưa chủ lực đánh vào một địa bàn chiến lược hiểm yếu ở rừng núi, nơi địch tương đối yếu, sơ hở, chúng khó phát huy ưu thế về vũ khí trang bị, đặc biệt là không quân, pháo binh và khả năng cơ động, trong khi đó ta có thế phát huy sở trường, khắc phục chỗ yếu của mình; hạn chế sở trường, khoét sâu chỗ yếu của địch. Mặt khác, ở đồng bằng Bắc Bộ, hướng phòng thủ chủ yếu của địch, nơi chúng tập trung lực lượng cơ động và có thể phát huy ưu thế của vũ khí, trang bị, hỏa lực, ta chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương, tận dụng thời cơ địch phải tập trung đối phó với cuộc tiến công của ta ở Tây Bắc đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát động nhân dân vùng dậy chống phá hội tề, diệt trừ Việt gian, phản động, mở rộng thêm các khu du kích và căn cứ du kích, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.


Thực tế đã chứng minh đó là sự lựa chọn chủ động, chính xác, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng địch - ta và thực tế chiến trường lúc bấy giờ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #163 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2026, 09:46:58 pm »

Đề cập đến chủ đề này là tham luận của các đồng chí Mai Quang Phấn, Vũ Quang Hiển, Nguyễn Mạnh Hà, Lê Văn Thái, Vũ Tang Bồng, Nguyễn Huy Thục, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Văn Bắc, v.v.

Thứ hai, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến và là thất bại lớn của thực dân Pháp.

Sau gần 2 tháng mở chiến dịch Tây Bắc (14-10 đến 10-12-1952), trải qua 3 đợt chiến đấu, mặc dầu trong đợt 3 đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng về tổng thể, chiến dịch Tây Bắc ta đã hoàn thành thắng lợi mục tiêu đề ra. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.029 tên trong đó có 1.005 tên bị tiêu diệt, xóa sổ hoặc làm tan rã nhiều tiểu đoàn và đại đội địch. Thiệt hại về quân số là một tổn thất lớn của địch, song quan trọng hơn là sự sụp đổ của các phân khu Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sông Đà, Sơn La và cả toàn Khu độc lập Tây Bắc. Lực lượng quân địch còn lại ở thị xã Lai Châu và Nà Sản trở nên cô lập. Tuyến phòng thủ của Pháp ở Tây Bắc bị phá vỡ hoàn toàn.


Thành tích về tiêu hao sinh lực địch ở Tây Bắc và các chiến trường phối hợp đã đưa tổng số quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu trong Thu Đông 1952 lên tới 13.800 tên, làm trầm trọng hơn tình trạng thiếu hụt quân số, làm gia tăng mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng cơ động để mở các cuộc hành quân lớn với phân tán lực lượng để chiếm giữ các vùng chiếm đóng.


Cùng với thiệt hại về quân số, địch còn chịu nhiều tổn thất về vũ khí trang bị. Theo ước tính, số vũ khí ta thu được trong chiến dịch này đủ để trang bị cho nhiều trung đoàn. Số vũ khí đó trở thành "gậy ông đập lưng ông", bộ đội sử dụng đánh địch ngay trong chiến dịch này và cho các chiến dịch lớn trong Đông - Xuân 1953-1954.


Tổn thất về lực lượng và vũ khí, phương tiện Chiến tranh tính toán được về số lượng, biểu thị qua các số liệu thống kê, song tác động tinh thần từ thất bại ở Tây Bắc đối với các cấp chỉ huy và binh lính địch không tính được, nhưng rất lớn, để lại nhiều hậu quả, di chứng về sau. Chính phía Pháp, dẫu không muốn, cũng phải thừa nhận điều đó.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là tổng hợp của nhiều nhân tố, là kết quả của quá trình 7 năm kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1952, kết tinh sức mạnh tổng hợp của cả nước, trực tiếp là trên hướng chính Tây Bắc, bao gồm các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lai Châu (nay là Lai Châu và Điện Biên), Lào Cai; cùng với đó là hướng phối hợp ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, quan trọng là các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, v.v.; và của các liên khu (Việt Bắc, 3 và 4).


Chiến thắng Tây Bắc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta về nhiều phương diện. Với chiến dịch này, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phát triển lên một bước mới, thể hiện ở những nét đặc sắc là chủ động mở hướng tiến công địch trên địa bàn rừng núi và xác định mục đích chiến dịch đúng đắn, phù hợp; thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện" và công tác nghi binh chiến dịch; tập trung ưu thế lực lượng trong những trận then chốt, phá vỡ khu vực phòng ngự mạnh của địch.


Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch khẳng định trong Hội nghị sơ kết chiến dịch: "Thu Đông 1952 là Thu Đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động..."1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, tập 2, Bộ Tổng tham mưu xuất bản 1963, tr. 217).


Thắng lợi đó đã rèn luyện cho bộ đội ta, đồng thời đánh dấu sự phát triển vững chắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam và bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp.

Góp phần làm sáng tỏ nội dung này là tham luận của các đồng chí Bế Xuân Trường, Dương Đức Hòa, Nguyễn Doãn Khánh, Nguyễn Châu Thanh, Nguyễn Vĩnh Phú, Vũ Dương Nghi, Phạm Quang Xuân, Thào Xuân Sùng, Hoàng Văn Chất, Cầm Câu, Hoàng Ngọc Dùng, Lò Văn Giang, Vũ Quang Đạo, Dương Đình Lập, Trần Ngọc Long, Nguyễn Bá Quang, Phạm Hữu Thắng, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Thành Hữu, Nguyễn Bá Thông, Đỗ Nhuận, Nguyễn Ngọc Tùng, Lê Văn Cử, Lê Văn Phong, Lê Văn Thành, v.v.


Thứ ba, chiến thắng Tây Bắc 1952 có ý nghĩa quan trọng mang tầm chiến lược; những bài học kinh nghiệm từ chiến dịch Tây Bắc có giá trị lịch sử, gợi mở hướng vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trên cơ sở các nguồn tư liệu khai thác được, theo từng góc độ khác nhau, nhiều tham luận đề cập tầm vóc, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của chiến dịch này. Trong số đó tập trung nhất là tham luận của các đồng chí Trịnh Vương Hồng, Nguyễn Ngọc Toa, Đặng Văn Luyến, Đặng Ngọc Châu, Trần Văn Thức, Nguyễn Xuân Ngọc, Hoàng Thị Thanh, Dương Hồng Anh, Lê Thanh Bồi, Trương Mai Hương, v.v.


Các tham luận khẳng định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị và kinh tế. Ta đã từng bước mở rộng và giữ vững quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ; các lực lượng vũ trang nhân dân ta tích lũy thêm kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn, hiệp đồng binh chúng cao hơn trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương. Ta đã thực hiện thắng lợi quyết tâm của chiến dịch là tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng phần lớn đất đai và nhân dân các dân tộc Tây Bắc, tạo tiền đề xây dựng cơ sở quần chúng vững chắc và rộng rãi hơn, phá được âm mưu lập "Xứ Thái tự tri" để nuôi dưỡng chiến tranh của địch.


Chiến thắng Tây Bắc 1952 tạo tiền đề điều kiện thuận lợi đế quân và dân ta giành được thắng lợi quyết định trong Đông - Xuân 1953 - 1954, đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).


Chiến thắng Tây Bắc năm 1952 để lại nhiều bài học lịch sử quý báu, mang giá trị lý luận và thực tiễn, quan trọng là về chủ động tiến công địch; về phối hợp, hiệp đồng với các chiến trường cả nước, với chiến trường nước bạn Lào; xây dựng tình đoàn kết quân dân, quân với dân một ý chí, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn chiến lược quan trọng Tây Bắc.


Phát huy tinh thần chiến thắng Tây Bắc, các đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã giành được nhiều chiến công trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), trong chiến tranh bảo vệ biên giới, trong sự nghiệp xây dựng vá bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tây Bắc, cuộc Hội thảo khoa học này khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng; tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí của các lực lượng vũ trang; sự đóng góp của nhân dân; đồng thời ôn lại chiến công, tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, của những người đã làm nên chiến thắng Tây Bắc 1952, thông qua đó khơi dậy niềm tự hào, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM