chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:27:54 pm » |
|
Ngày 17 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch lấy danh nghĩa «một người đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí» ở quê hương (tỉnh Nghệ An nay là tỉnh Nghệ Tĩnh). Trong thư, Hồ Chủ tịch chỉ rõ những khó khăn, thuận lợi trong công cuộc kiến thiết bảo vệ đất nước: «...Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi của một đôi giai từng1. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngọại giao, nào tài chính... trăm dâu nghìn mối đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị... Kỷ luật không đủ nghiêm. Để cho bọn giả mạo tiếng Chính phủ hoặc tên Việt Minh ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy đồ đạc của dân, làm cho dân oán». Người thẳng thắn chỉ trích «Khuynh hướng chật hẹp và bao biện, việc gì cũng do người Việt Minh làm, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc». Người nghiêm khắc phê phán hiện tượng «Lạm dụng hình phạt... đào bới chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm thì nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung... Đề phòng hủ hóa. Cán bộ ta có nhiều người «cúc cung tận tụỵ», hết sức trung thành với nhiệm vụ, với chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa lên mặt quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư2. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ, Đoàn thể»3. Người chỉ rõ tác hại của những sai lầm đó và kêu gọi đảng viên quyết tâm sửa chữa ngay để giữ vững khối đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân.
Bức thư thẳng thắn, sâu sắc đầy tình nhân ái của Hồ Chủ tịch cùng với sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Trung Kỳ lúc này đã thúc đẩy mọi hoạt động cách mạng trong các tỉnh. Ngay sau những ngày giành được chính quyền, tỉnh ủy Thanh Hóa triệu tập hội nghị mở rộng bàn về các chủ trương, biện pháp củng cố và xây dựng các tổ chức Đảng từ cơ sở trở lên, coi trọng công tác phát triển đảng viên mới, tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ để tăng cường cho các huyện, các ngành.
Ngày 10 tháng 9, hội nghị cán bộ tỉnh Quảng Trị bàn việc củng cố xây dựng chính quyền các cấp, xây dựng lực lượng vũ trang bầu tỉnh ủy lâm thời. Đồng chí Đặng Thí được cử làm bí thư tỉnh ủy.
Đầu tháng 10, các đảng viên tích cực ở Nghệ An và Hà Tĩnh đã lần lượt mở hội nghị thành lập đảng bộ, cử tỉnh ủy lâm thời và lập Ban chuyên trách xây dựng Đảng. Đồng chí Nguyễn Xuân Linh được cử làm bí thư tỉnh ủy Nghệ An. Đồng chí Nguyễn Thái được cử làm bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh.
Cuối năm 1945, các tỉnh ủy lâm thời hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh họp kiểm điểm công tác xây dựng Đảng, phân công những đồng chí có năng lực và tín nhiệm xuống giúp các huyện, đề ra nhiều biện pháp xây dựng Đảng, bầu bổ sung thêm tỉnh ủy viên và quyết nghị các chủ trương về công tác mặt trận, xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang và các nhiệm vụ kinh tế xã hội.
Công tác xây dựng, củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc được coi trọng. Các Hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc phát triển mạnh. Các tỉnh còn có các tổ chức như Hội văn hóa cứu quốc, Công giáo cứu quốc, Phật giáo cứu quốc, Chức nghiệp cứu quốc, Hương đào cứu quốc, Công thương gia cứu quốc... để thu hút rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân vào đội ngũ. Thông qua các Hội cứu quốc, ta đã động vỉên, giáo dục toàn dân phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.
Cùng với công tác xây dựng Đảng, xây dựng mặt trận phát triển đoàn thể quần chúng, việc xây dựng, củng cố chính quyền được đặc biệt coi trọng. «Chính phủ lâm thời cách mạng các tỉnh» được cử ra sau ngày tổng khởi nghĩa nay đổi thành «Ủy ban nhân dân cách mạng», sau đổi là «Ủy ban nhân dân». Thực hiện chủ trương của Trung ương, thành phần trong Ủy ban nhân dân các địa phương được mở rộng. Đại biểu các đoàn thể cứu quốc và những người ngoài Đảng có khả năng và uy tín được cử thêm vào trong bộ máy chính quyền4.
Những tàn dư chế độ cũ như lối làm việc quan liêu, nạn hối lộ, tham nhũng bị đấu tranh ngăn chặn tích cực. Cách xưng hô, giao tiếp giữa nhân viên chính quyền với nhân dân, gần gũi, giản dị, không hách dịch cửa quyền. Các ngành chuyên môn của ủy ban nhân dân được chấn chỉnh. Các ủy ban nhân dân lập ban giải quyết các đơn từ, kiện tụng, khiếu nại của nhân dân. Đơn vị hành chính cấp tổng được bãi bỏ5.
Các chủ trương trên đã góp phần tăng cường khối đoàn kết toàn dân, động viên mọi công dân nêu cao tinh thần làm chủ, hăng hái tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng và chế độ dân chủ cộng hòa.
Vào cuối năm 1945, đầu năm 1946, các tỉnh chuẩn bị tham gia Tổng tuyển cử Quốc hội và bầu cử hội đồng nhân dân các cấp.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân cả nước hăng hái tham gia ngày hội Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội. Cũng như đồng bào và chiến sĩ cả nước, lần đầu tiên quân và dân Khu 4 được thực sự làm nhiệm vụ người công dân của một nước độc lập, tự do. Từ các thành phố, thị xã, đến các vùng nông thôn, đồng bằng, núi rừng xa xôi hẻo lánh, ở các mặt trận, trên biên giới phía tây... nhân dân và cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang đều nô nức đi bỏ phiếu bầu cử những đại biểu của mình vào Quốc hội. Có những cụ già, những người tàn tật cũng nhờ con cháu dìu đến nơi bầu cử để được tự tay bỏ lá phiếu đầu tiên trong đời mình. Tròn 97 phần trăm cử tri đã đi bỏ phiếu bầu Quốc hội.
Cuối tháng 2, các tỉnh tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. Sau đó hội đồng nhân dân khóa I họp phiên đầu tiên để bàn định những nhiệm vụ cần kíp về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, bầu cử ủy ban nhân dân và ban thanh tra hành chính. Một số nhân sĩ, viên chức cũ tiến bộ được cử vào Ủy ban hoặc giúp việc các ngành chuyên môn của Ủy ban nhân dân.
Một nhiệm vụ quan trọng cấp bách được đặt lên hàng đầu là khắc phục nạn đói và ổn định đời sống nhân dân. Chính quyền các cấp đã chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của Chính phủ về bỏ thuế thân, giảm 25 phần trăm hoặc miễn hoàn toàn thuế nông nghiệp cho những vùng bị lụt, tạm chia ruộng đất công, ruộng đất của thực dân Pháp cho dân cày nghèo, áp dụng luật lao động ngày làm 8 giờ và chế độ bảo hiểm xã hội cho công nhân... _______________________________________________ 1. Tầng lớp, giai cấp. 2. Ý nói lấy của công làm của riêng. 3. Hồi ấy Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật. Đoàn thể là tổ chức Đảng. 4. Ngày 12 tháng 12 năm 1945 tỉnh ủy Hà Tĩnh quyết định chỉ để một phần ba thành viên Ủy ban nhân dân các cấp là đảng viên. 5. Dưới chế độ cũ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh có 1.563 làng xã và khu phố. Nay được hợp nhất thành 480 xã lớn và khu phó. Căp tổng là cấp chính quyền trung gian giữa huyện và xã.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:31:46 pm » |
|
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, noi theo gương sáng của Bác Hồ, các tỉnh tổ chức phong trào «Nhường cơm sẻ áo», «Hũ gạo cứu đói», «Ngày đồng tâm». Các đoàn cứu đói từng thôn xã, từng phố phường đem gạo đến những gia đình gặp khó khăn lớn.
Có địa phương (như Kỳ Anh — Hà Tĩnh) lập trại tế bần để nuôi dưỡng và tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người không nơi nương tựa. Phong trào tiết kiệm lương thực, nghiêm cấm nấu rượu bằng gạo được nhân dân tự giác chấp hành.
Phong trào tăng gia sản xuất phát triển mạnh. Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch «Tăng gia sản xuất. Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa», «Tấc đất tấc vàng» đã trở thành hành động thiết thực và có kết quả cụ thể từng ngày. Khắp nơi, mọi ngành, mọi giới, từng nhà, từng người đều tranh thủ thời gian, tận dụng mọi mảnh vườn, ụ đất để trồng trọt, chăn nuôi. Phong trào làm thủy lợi, nạo vét hệ thống nông giang, đắp đê ngăn nước mặn, ngăn cát, tu sửa đập nước phát triển. Nhiều địa phương thành lập Ban chỉ đạo sản xuất. Hội nông gia tương tế cho vay vốn lập các hợp tác xã thủ công nghiệp sản xuất nông cụ để bán cho nhân dân, lập ngân hàng tín dụng cho nông dân vay vốn để mua sắm nông cụ sản xuất, trâu, bò, lúa giống, nhất là những vùng bị đói, bán thuốc phòng chống dịch trâu, bò, gia súc... Có tỉnh (như Nghệ An) còn thành lập tiểu ban canh nông để chỉ đạo việc khôi phục, củng cố và phát triển sản xuất các đồn điền của Pháp.
Nhờ những chủ trương, chính sách khuyến khích sản xuất và thực hành tiết kiệm trên, nạn đói dần dần được đẩy lùi. Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, nhân dân các tỉnh Khu 4 không những tự đùm bọc lấy mình mà còn tích cực giúp đỡ đồng bào đồng bằng Bắc Bộ đang lâm vào nạn đói gay gắt do đê vỡ, hoa màu, tài sản bị thiệt hại nặng.
Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã giúp đồng bằng Bắc Bộ 477 tấn gạo, chiếm 24 phần trăm số gạo quyên góp của cả Bắc Bộ và bốn tỉnh Trung Bộ1.
Góp phần giải quyết khó khăn nghiêm trọng về kinh tế tài chính của đất nước và hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, nhân dân Khu 4 tự giác, hăng hái đóng góp vào «Quỹ độc lập», «Quỹ đảm phụ quốc phòng ». Các địa phương, nhất là ở các thành phố, thị xã đã tổ chức các «Tuần lễ vàng», rất trang nghiêm trọng thể. Nhiều bà mẹ, nhiều chị em đem cả những đồ trang sức quý hiếm như vòng vàng, xuyến vàng, nhẫn vàng, hoa tai vàng... hiến dâng cho Tổ quốc.
Nghệ An quyên góp được 23,62 ki-lô-gam vàng, huyện Phủ Quỳ 150 ki-lô-gam bạc, thành phố Vinh ngoài vàng còn góp thêm 161.116 đồng.
Hà Tĩnh quyên góp tám ki-lô-gam vàng, 53 ki-lô-gam bạc và một số kim cương, ngọc quý. Bà Đức thôn Kẻ Hộ, xã Cẩm Quan huyện Cẩm Xuyên (gia đình liệt sĩ) ủng hộ bốn đôi trâm vàng, một con trâu và 40 bát đĩa quý. Ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên quyên góp được 370 ki-lô-gam vàng, bạc.
Đi đôi với nhiệm vụ chống giặc đói, khắc phục khó khăn về tài chính, tiền tệ, nhiệm vụ chống giặc dốt, xây dựng đời sống mới cũng được triển khai tích cực và sôi nổi khắp các tỉnh. Các khẩu hiệu cổ động «Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt», «Thêm một người đi học là thêm một viên đạn bắn vào quân thù, thêm một viên gạch xây đài độc lập của nước nhà» được chăng lên các ngả đường cổng chợ, đình làng. Các lớp bình dân học vụ phát triển mạnh. Cuộc vận động bài trừ giặc dốt được phát động bằng mọi biện pháp vừa tự giác vừa có tính chất bắt buộc2.
Những cải cách xã hội được đẩy mạnh. Cuộc vận động đời sống mới phát triển. Những tục lệ ma chay, tế lễ đình đám... phiền phức và tốn kém giảm dần. Việc cưới hỏi do Đoàn thanh niên phụ trách được tổ chức vui vẻ, giản dị và tiết kiệm. Những tệ nạn xã hội như đánh bạc, nghiện rượu, hút thuốc phiện, mãi dâm, cầu cúng, bói toán được bài trừ. Phong trào xây dựng thôn xã, đường phố kiểu mẫu phát triển. Nhân dân tự nguyện góp công, góp của làm đường, cầu cống, sân vận động, phòng đọc sách báo, chòi phát thanh, bảng tin, trạm xá, nhà hộ sinh. Nhiều tỉnh tổ chức hội y học dân tộc và nhà thương để chữa bệnh cho nhân dân. Ở thành phố Vinh có nhà thương Hồ Chí Minh dành cho quân đội. Phong trào thể dục, thể thao «Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia» được thanh niên, thiếu niên tham gia tích cực. Những bài ca cách mạng như «Tiếng gọi thanh niên», «Du kích quân», «Diệt phát xít»... hát vang trong các buổi họp, lớp học, ngoài bãi tập, ngoài đường. Những buổi văn nghệ, kịch nói, kịch thơ như Trần Bình Trọng... cổ vũ truyền thống yêu nước của dân tộc, được nhân dân hoan nghênh nhiệt liệt. Song song với việc xây dựng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Các địa phương đã đặc biệt chú trọng nhiệm vụ xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang.
Tiếp theo việc thành lập Bộ tư lệnh Chiến khu 4 ngày 15 tháng10 năm 1945, việc củng cố tổ chức cơ quan chiến khu cũng được xúc tiến: đồng chí Hoàng Điền làm tham mưu trưởng, đồng chí Chu Văn Biên làm tham mưu chủ nhiệm, phụ trách công tác nội bộ cơ quan tham mưu, đồng chí Trần Văn Quang, trưởng phòng chính trị, đồng chí Mười Uyển trưởng phòng cung cấp, đồng chí Lê Lộc, chánh văn phòng chiến khu. Cơ quan chiến khu đóng tại tòa giám binh và dinh tổng đốc cũ ở Vinh. Ngày 16 tháng 12 năm 1945, các hệ thống tổ chức chỉ huy, thông tin liên lạc, quân báo... được thành lập và bắt đầu hoạt động, tiến hành củng cố các chi đội giải phóng quân và chỉ đạo nhiệm vụ công tác quân sự ở các địa phương. Ở các tỉnh, các đội quân chủ lực được biên chế thành các chi đội và thống nhất tên gọi «Chi đội giải phóng quân»3. Mỗi tỉnh có một chi đội, mỗi chi đội có từ ba đến bốn đại đội (tùy theo quân số nhiều hay ít). Bên cạnh các chi đội giải phóng quân, mỗi tỉnh còn có từ một đến ba đại đội dân quân thường trực do địa phương nuôi dưỡng, lực lượng dân quân kết hợp với các lực lượng trinh sát, công an, cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ cơ quan đảng, chính quyền ở các địa phương (các lực lượng này về sau thống nhất thành lực lượng công an).
Để có đủ cán bộ có trình độ nhất định về lãnh đạo và chỉ huy công tác quân sự, Xứ ủy đã cấp tốc mở lớp đào tạo cán bộ đại đội, trung đội trong vòng hai tháng. Học viên là những cán bộ chỉ huy các chi đội giải phóng quân và những cán bộ công tác Đảng, chính quyền ở các địa phương. Giáo viên chính trị gồm các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Trần Hữu Dực, Tố Hữu, Lê Chưởng, giáo viên quân sự là những cựu binh sĩ cũ như Quản Hậu, Lý Hồng Chương4. Các tỉnh mở lớp đào tạo cán bộ tiểu đội trưởng (có cả một số cán bộ đảng, chính quyền cấp tỉnh, huyện tham gia học tập). ______________________________________________ 1. Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh, tr. 221. 2. Ngày 2-11-1945, Hội nghị tỉnh ủy Nghệ An quyết nghị: Trong một năm phải vận động nhân dân từ 18 tuổi trở lên đều đi học và đều biết đọc, biết viết. Đối với đảng viên, sau ba tháng nếu không biết chữ sẽ bị kỷ luật. 3. Sau Cách mạng tháng Tám, các tỉnh đã tổ chức đội quân chủ lực nhưng tên gọi khác nhau. Nơi gọi Cứu quốc quân, Giải phóng quân, nơi gọi Ủy ban quân sự, Tư lệnh giải phóng quân v.v. Sau ngày 2-9 thống nhất tên gọi là Chi đội giải phóng quân. Chi đội tương đương trung đoàn, đại đội tương đương tiểu đoàn, trung đội tương đương đại đội, phân đội tương đương trung đội. 4. Quản Hậu chỉ huy quân khố xanh, sau Cách mạng Tháng Tám có tham gia huấn luyện quân sự cho ta. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, chạy theo Pháp làm đại đội trưởng đại đội Áo Đen, đã bị ta trừng trị. Lý Hồng Chương, trung ương ủy viên Quốc dân đảng, phó giám hiệu trường bổ túc quân sự của ta ở Huế. Về sau ta phát hiện được âm mưu lâu dài của y. Y bỏ chạy, làm tư lệnh Quốc dân đảng. Bị ta trừng trị tại Yên Bái.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:34:34 pm » |
|
Cuối tháng 12 năm 1945, để phù hợp hơn với tình hình và đặc điểm nhiệm vụ công tác quân sự, các tổ chức quân sự ở địa phương được sắp xếp lại. Các tỉnh, huyện bỏ ủy viên quân sự trong ủy ban nhân dân để tổ chức tỉnh đội, huyện đội trực tiếp chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương, các huyện bỏ tổ chức quân giải phóng. Các chi đội giải phóng quân các tỉnh được củng cố kiện toàn, sau đổi là chi đội vệ quốc đoàn, đến đầu năm 1946 đổi là Chi đội vệ quốc quân.
Thanh Hóa có chi đội Đinh Công Tráng do đồng chí Hoàng Tiến Trình làm chi đội trưởng, đồng chí Nguyễn Kiện làm chính trị ủy viên. Nghệ An có chi đội Đội Cung do đồng chí Mười Uyển làm chi đội trưởng, đồng chí Nguyễn Phan làm chính trị ủy viên.
Hà Tĩnh có chi đội Phan Đình Phùng do đồng chí Nghiêm Thưởng làm chi đội trưởng, đồng chí Phạm Quang Minh làm chính trị ủy viên.
Quảng Bình có chi đội Lê Trực do đồng chí Quách Sĩ Tạo làm chi đội trưởng, đồng chí Trần Hường làm chính trị ủy viên.
Thừa Thiên có chi đội Trần Cao Vân do đồng chí Trần Gia Hội1 làm chi đội trưởng, đồng chí Hoàng Xuân Lưu làm chính trị ủy viên, ông Phùng Đông2 làm tham mưu trưởng.
Tổng quân số toàn Chiến khu 4 lúc này có khoảng trên 10.000 người, trang bị đủ các loại súng trường của các nước Pháp, Nhật, Tàu, Nga và một số ít súng tiểu liên, trung liên, đại liên, cối 80, 81 mi-li-mét… Ở Nghệ An có một khẩu pháo 75 mi-li-mét, một khẩu 37 mi-li- mét, một khẩu 20 mi-li-mét, bốn xe bọc thép bánh xích và một số tàu, xuồng của lớp huấn luyện hải quân ở Cửa Lò.
Sau một thời gian ổn định tổ chức và triển khai các nhiệm vụ, Bộ chỉ huy tiếp nhận trường quân sự của Xứ ủy. Ngày 11 tháng 2 năm 1946, từ Huế trường được chuyển ra xã Nhượng Bạn, huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) do đồng chí Nguyễn Thanh Đồng phụ trách. Ngày 18 tháng 2, trường tiếp tục khai giảng khóa mới gồm 146 học viên. Các tỉnh vẫn tiếp tục mở trường đào tạo cán bộ tiểu đội.
Việc huấn luyện quân sự cho bộ đội và dân quân tự vệ trong toàn khu được đẩy mạnh. Phong trào học tập quân sự được mọi tầng lớp nhân dân tham gia sôi nổi. Nhiều chị em cắt tóc ngắn, đội mũ ca-lô, mặc quần soóc (quân âu ngắn ống) hoặc quần gôn (quần bó ống), được trang bị súng trường, giáo mác hoặc gậy tre, hăng hái luyện tập quân sự. Nội dung huấn luyện bao gồm:
— Về chính trị: học các bài nói và viết của Hồ Chủ tịch như: Đường cách mệnh, Chiến tranh du kích... và các nội dung: Chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Mở rộng khối đoàn kết toàn dân để kháng chiến kiến quốc, 12 điều kỷ luật, 10 lời thề danh dự của Vệ quốc đoàn...
— Về quân sự: học điều lệnh đội ngũ (buộc dây vào chân trái để làm chuẩn và hô khẩu lệnh theo chân buộc lạt). Về kỹ thuật: học các bài đánh bạch binh (đánh bằng kiếm, giáo mác, gậy gộc...) ném lựu đạn, gài mìn, cắm chông, đâm lê, sử dụng cung nỏ... và các bài võ dân tộc.
— Về chiến thuật: học cách dàn trận, tiến, lùi cấp tiểu đội, trung đội...
Bên cạnh công tác tổ chức lực lượng, huấn luyện quân sự, đào tạo cán bộ, việc nâng cao chất lượng chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang được chú trọng. Xứ ủy và các tỉnh đã điều động nhiều đảng viên, cán bộ sang công tác trong quân đội. Hệ thống tổ chức Đảng, hệ thống cán bộ chính trị được xây dựng và củng cố. Các lực lượng dân quân tự vệ do cấp ủy địa phương trực tiếp lãnh đạo. Thời gian đầu, chi đội quân giải phóng có chi bộ đảng hoạt đông bí mật. Cuối năm 1945 có những cuộc họp chuyên đề của cán bộ đảng bàn về công tác xây dựng Đảng. Đầu năm 1946, Quân ủy Trung ương được thành lập để giúp Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo quân đội, đã tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang Chiến khu 4.
Song song với xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang, thi hành sắc lệnh số 23 ngày 21 tháng 2 năm 1946 của Chính phủ và nghị định của Bộ Nội vụ ngày 11 tháng 4 năm 1946 về Tổ chức cơ cấu bộ máy của Việt Nam Công an vụ, ty công an các tỉnh trong Liên khu được thành lập vào tháng 4 năm 1946 trên cơ sở ty trinh sát và sở cảnh sát xung phong sáp nhập.
Ty công an nhanh chóng phát triển các «Di động viên» xuống cơ sở huyện xã, xây dựng nhân cốt bao gồm các «Cảm tình viên» và «Cộng tác viên» tạo thành mạng lưới công an rộng khắp các địa phương.
Tuy mới được sáp nhập và bước đầu còn lúng túng, song mạng lưới trinh sát viên, công an viên, biệt động đội vừa làm vừa học, nâng cao năng lực, nghiệp vụ, vừa góp phần rất lớn vào việc theo dõi, khám phá, quản lý những ổ nhóm phản động, trừng trị những tên việt gian, mật thám đầu sỏ, tham gia vào việc ổn định an ninh, trật tự xã hội, chống thù trong giặc ngoài. Cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang về số lượng và chất lượng, vấn đề tăng cường trang bị vũ khí cũng là một yêu cầu bức thiết. Từ trước và trong Cách mạng Tháng Tám, các tỉnh đã thu được một số vũ khí của bảo an binh và của quân Nhạt hoặc dùng tiền, vàng, bạc và thuốc phiện mua hay đổi vũ khí của quân Tưởng. Mặt khác, ta tự giải quyết băng cách lập các công binh xưởng sửa chữa súng trường, tiểu liên, sản xuất đạn, lựu đạn, mìn, rèn đúc các loại vũ khí thô sơ (giáo mác, mã tấu, dao kiếm...) ở các lò rèn thôn, xóm. ______________________________________________ 1. Đồng chí Trần Gia Hội là cựu binh sĩ giác ngộ cách mạng hoạt động hăng hái tích cực. 2. Ông Phùng Đông là thiếu úy của Pháp, có lòng yêu nước, chiến đấu dũng cảm, hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, được Chính phủ truy tặng Huân chương quân công hạng ba.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:37:06 pm » |
|
Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, họp bàn việc lập một xưởng chế tạo vũ khí. Sau hội nghị Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định lấy máy và nguyên liệu của nhà máy diêm Hàm Rồng, mỏ cơ-rôm (Cổ Định) để thành lập xưởng ở Bái Thượng, đặt tên là xưởng Cao Thắng1 do đồng chí Hoàng Thế Bảo làm xưởng trưởng. Sau hơn một tháng xây dựng, đến cuối tháng 10 năm 1945 với trên 30 công nhân, xưởng đi vào nghiên cứu chế tạo thành công súng tiểu liên Sten và lựu đạn có chuôi.
Ở Nghệ An, Ủy ban nhân dân giao cho đồng chí Đinh Văn Đức tập hợp công nhân trường kỹ nghệ, lấy máy ở nhà máy Trường Thi về Đô Lương lập xưởng Đặng Thái Thân2. Xưởng có khoảng 100 công nhân, sửa chữa và nghiên cứu chế tạo lựu đạn kiểu Mỹ. Hai đồng chí Phan Tư và Nguyễn Xuân Bình đã hy sinh trong lúc chế tạo lựu đạn. Ở Vinh lập thêm xưởng Rạng Đông để sửa chữa súng Sten, sửa chữa ôtô. Sau đó chuyển xưởng về Thanh Chương đổi tên là xưởng Lê Viết Thuật3.
Ở Hà Tĩnh các đồng chí Bùi Xuân Nghi, Trần Trọng Tâm được Ủy ban nhân dân giao tổ chức đi lấy máy ở Trường Thi đem về Nhượng Bạn (huyện Cẩm Xuyên) lập xưởng. Xưởng gồm khoảng 100 công nhân, nghiên cứu chế tạo súng Sten và sửa chữa các loại súng hỏng của Nhật.
Ở Quảng Bình, Ủy ban nhân dân triệu tập một số học sinh trường kỹ nghệ và công nhân hỏa xa, giao cho đồng chí Trần Tảo và đồng chí Đại lấy máy ở nhà máy nước đá và Đê-pô hỏa xa Thuận Lý lập xưởng ở Quy Hậu (huyện Lệ Thủy). Đồng chí Trần Tảo hy sinh trong lúc chế tạo vũ khí nên xưởng đặt tên là xưởng Trần Tảo.
Ở Thừa Thiên, Ủy ban nhân dân tỉnh và ban chỉ huy chi đội Trần Cao Vân ngay từ tháng 9 năm 1945 giao cho các đồng chí Phan Lục, Văn Thắng, Võ Sung tập hợp khoảng 200 công nhân, lấy máy ở trường kỹ nghệ Huế, xưởng vôi Long Thọ, xưởng hỏa xa, nhà đèn lập hai xưởng. Xưởng Ngọc Lâm chuyên sửa chữa súng cũ của Nhật, Pháp và đúc vỏ lựu đạn Mỹ. Xưởng Phú Lâm, chuyên nghiên cứu chế tạo Pun-mi-nát, sản xuất ngòi nổ, hạt nổ và làm đạn súng trường.
Để chỉ đạo thống nhất các xưởng, cuối tháng 12 năm 1945 bộ chỉ huy chiến khu quyết định thành lập ban chế tạo khí giới đo đồng chí Lê Đình Tạo làm trưởng ban, các đồng chí Đinh Văn Đức và Trần Trọng Tâm làm phó ban.
Những hoạt động của ngành quân giới Khu 4 đã góp phần tích cực giải quyết một khó khăn lớn lúc bấy giờ là vấn đề trang bị vũ khí cho các lực lượng vũ trang.
Như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ, trực tiếp là Xứ ủy Trung Kỳ, quân và dân Khu 4 đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, làm được nhiều việc và xây dựng thực lực cách mạng, xây dựng đảng bộ, xây dựng chính quyền ở địa phương, chống giặc đói, giặc dốt, xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt làm công cụ đắc lực sắc bén bảo vệ chính quyền cách mạng và chế độ dân chủ nhân dân, sẵn sàng đối phó với giặc trong, thù ngoài. ______________________________________________ 1. Cao Thắng là cán bộ của nghĩa quân Phan Đình Phùng, ông tổ chức nhiều cơ sở rèn đúc vũ khí (ở căn cứ Hương Khê, Hà Tĩnh) để tự trang bị cho nghĩa quân chống Pháp hơn 10 năm. 1. Đặng Thái Thân là sĩ phu yêu nước ở Nghệ An, tham gia thành lập hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo để tiến hành công cuộc chống Pháp cứu nước, ông đã hy sinh trong lúc thừa hành nhiệm vụ. 1. Lê Viết Thuật tham gia thành lập Phân cục Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Phong Sắc vào khoảng tháng 3 năm 1930 để xây dựng cơ sở đảng ở các tỉnh miền bắc và miền trung Trung Kỳ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:39:02 pm » |
|
Đánh địch ở miền tây — Bảo vệ biên giới — Thực hiện liên minh chiến đấu Việt-Lào
Sau ngày Nhật đảo chính (9 tháng 3 năm 1945), một số lực lượng Pháp chạy khỏi các tỉnh lỵ, đồn binh ở Việt Nam, Lào, về ẩn náu vùng rừng núi phía tây Việt Nam và đông Lào, bám các trục đường giao thông quan trọng.
Ở đường số 9 có khoảng một tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuộc lữ đoàn bộ binh thuộc địa Trung Đông Dương của tướng Tuốc-canh, chiếm đóng vùng ngoại vi Sê Pôn, Mường-phìn, Pha-lan, hơn một đại đội chiếm Cam-cớt, Lạc-xao...
Ở đường số 12, một đại đội đóng chốt đèo Mụ Giạ (Ba-na-phào), Nhom-ma-rát, Ma-ha-xây.
Ở đường số 7, một đại đội chiếm Noọng Hét, Bản Ban, Mường Ngan, Mường Ngát.
Ở Sầm Nưa, quân địch chiếm giữ Sầm Tớ, Mường Na, Mường Lau, móc nối với bọn phản động ở năm châu thượng du Thanh Hóa và Quỳ Châu (Nghệ An).
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với ý đồ trở lại xâm lược nước ta, cùng với việc quân Anh - Ấn đánh chiếm Nam Bộ, bọn thực dân Pháp đã cho quân nhảy dù xuống tây bắc Huế và tổ chức lại đám tàn quân Pháp trên đất Lào để thực hiện ý đồ đánh chiếm Khu 4 từ phía tây.
Ngày 28 tháng 8 năm 1945, một tốp bốn tên do một tên thiếu tá chỉ huy, nhảy dù xuống Hiền Sĩ nhằm móc nối với bọn Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Bảo Đại để chuẩn bị lập chính quyền phản động khi thời cơ đến, tổ nhảy dù này đã bị ta bắt gọn.
Một toán khác gồm ba tên nhảy dù xuống Lạc Xao (tỉnh Khăm Muộn), truyền đạt chỉ thị cho đám tàn quân chuẩn bị lực lượng, cấu kết với bọn tay sai ở miền núi, xây dựng căn cứ chuẩn bị đánh chiếm thành phố Vinh.
Cùng thời gian trên, khoảng gần một đại đội địch do tên quan ba Pháp chỉ huy từ thị trấn Cam Cớt theo trục đường số 8 đánh chiếm Na-pê, dùng Na-pê làm bàn đạp, chuẩn bị tấn công đánh chiếm thị xã Hà Tĩnh và thành phố Vinh.
Đồng chí Cương, chủ sự bưu điện ở Na-pê đã kịp thời điện báo tình hình cho cán bộ chỉ huy hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
Để kịp ngăn chặn từ xa âm mưu của địch, đồng chí Lê Lộc, chủ tịch Ủy ban quân sự tỉnh Hà Tĩnh, và đồng chí Nghiêm Thưởng, chỉ huy trưởng chi đội Phan Đình Phùng quyết định tổ chức một đại đội gồm các đội viên chi đội và dân quân hai huyện Hương Sơn, Đức Thọ, có một số cựu binh sĩ giác ngộ cách mạng tham gia, đặt dưới quyền chỉ huy của đồng chí Trần Đình Bé. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, đơn vị lên đường với quyết tâm tiêu diệt quân Pháp ở Na Pê.
Trận chiến đấu diễn ra từ ngày 6 đến 4 giờ ngày 8 tháng 9 năm 1945. Trong quá trình chiến đấu được bổ sung thêm một trung đội của chi đội Đội Cung (Nghệ An). Ta tiêu diệt một trung đội địch, diệt tên quan ba Pháp, bắt sống tên quan hai. Đồng chí Trần Đình Bé chỉ huy linh hoạt, chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh anh dũng. Phối hợp chiến đấu với bộ đội Hương Sơn, Đức Thọ, bộ đội Thanh Chương (Nghệ An) do đồng chí Thọ chỉ huy cùng với lực lượng vũ trang của bạn bí mật bất ngờ tập kích huyện lỵ Cam Cớt, diệt thêm một số địch, số còn lại chạy tán loạn. Liên quân Lào — Việt truy kích đến cầu Na Hương giết thêm tên quan tư và tên quan hai, lấy được bản kế hoạch đánh chiếm thành phố Vinh của chúng.
Chiến thắng Na Pê là chiến công đầu xuất sắc của các lực lượng vũ trang Nghệ An, Hà Tĩnh phối hợp chiến đấu với lực lượng yêu nước Lào, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, đập tan âm mưu của thực dân Pháp định dùng Na Pê làm bàn đạp theo trục đường số 8 đánh chiếm thành phố Vinh. Phối hợp với bộ đội Lào, bộ đội Việt Nam đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền, xây dựng lực lượng và chính quyền cách mạng ở hai huyện Căm Cớt, Lạc Xao, thành những căn cứ kháng chiến của tỉnh Khăm Muộn.
Cùng với mặt trận đường số 8, bộ đội Quảng Trị đã tổ chức một số trận chiến đấu ở phía tây đường số 9. Kết hợp với lực lượng yêu nước Lào ở tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt do các đồng chí Thao Ô, Nu-hắc chỉ huy, cùng với đồng chí Trần Hoài Quang, bàn bạc với các đồng chí phụ trách Trung Bộ kế hoạch phối hợp tác chiến của liên quân. Đồng chí Ba Thụ làm chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Lạc (Chu Huy Mân) được cử làm chính trị ủy viên mặt trận Đường số 9. Đồng chí Khu trưởng Khu 4 lên tận mặt trận kiểm tra kế hoạch tác chiến, cơ quan phân phòng Khu 4 tập trung huy động lương thực, thực phẩm, thuốc men... chi viện kịp thời cho mặt trận Đường số 9.
Ngoài lực lượng của Quảng Trị, Bộ chỉ huy chiến khu còn tăng cường cho mặt trận một bộ phận chi đội Trần Cao Vân. Nhiều đoàn đại biểu thay mặt chính quyền, đoàn thể lên tận mặt trận thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ. Đoàn đại biểu phụ nữ Trung Bộ do các chị Lê Thị Quế, Võ Thị Thể, Đào Thị Đính, đoàn đại biểu phụ nữ tỉnh Quảng Trị do chị Lê Thị Diệu Muội mang nhiều quà bánh của nhân dân Trị—Thiên—Huế lên tận mặt trận trao tặng chiến sĩ.
Đầu tháng 12 năm 1945, bộ đội ta phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Lào tiến công bọn địch trong thị trấn Sê Pôn, diệt và bắt 53 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí, lừa, ngựa. Sau đó tiến công địch ở Mường Phìn, Huội Cay, Cầu Thà Khống đạt được một số thắng lợi. Nhưng khi tiến công địch ở Pha Lan, do chủ quan nên bộ đội bị thương vong cao.
Ở đường số 12, đại đội 6 cùng dân quân huyện Tuyên Hóa phối hợp với một bộ phận bộ đội huyện Hương Khê đánh thắng địch ở Bãi Dinh (Quảng Bình), buộc địch phải rút về cố thủ ở Ba-na-phào.
Ở đường số 7, tỉnh ủy Nghệ An cử nhiều cán bộ tăng cường cho huyện Tương Dương để xây dựng lực lượng cách mạng, trọng tâm là hai thị trấn Cửa Rào và Mường Xén. Tỉnh còn tổ chức một đại đội lấy quân của hai huyện Anh Sơn và Thanh Chương lên xây dựng cơ sở chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số Hơ-mông, Khơ-mú.
Đầu tháng 10 năm 1945, một trung đội bộ đội huyện Thanh Chương do đồng chí Nguyễn Như Cầu, bí thư huyện ủy Thanh Chương trực tiếp chỉ huy, tiến đánh Noọng Hét. Do không nắm được tình hình địch và thiếu kinh nghiệm chiến đấu, bộ đội bị địch phục kích, trung đội bị tổn thất nặng. Đồng chí Nguyễn Như Cầu hy sinh.
Sau trận thất bại này, ta rút kinh nghiệm, tăng cường lực lượng khoảng một tiểu đoàn, cử các đồng chí Võ Văn Bính, Nguyễn Oanh, Nguyễn Đình Tùng chỉ đạo mặt trận, đồng chí Quốc Vinh làm chỉ huy trưởng.
Các đơn vị bộ đội Lào gồm một đại đội bộ đội Sầm Nưa do Xiêng Xinh chỉ huy, một đại đội bộ đội Mẹo thuộc chi đội Đội Cung, một đại đội Lào Thênh, đánh Xiêng Khoảng do Nhiêu-vu chỉ huy, sau đó rút về Tương Dương để củng cố. Sau một thời gian xây dựng đại đội, Xiêng Xinh lại trở về hoạt động phía nam tỉnh Sầm Nưa. Đại đội Nhiêu-vu trở về Xiêng Khoảng hoạt động sâu vào các huyện Mường Mộc, Noọng Hét, Mường Khăm. Đây là những lực lượng nòng cốt liên minh chiến đấu Việt-Lào.
Tại Cửa Rào, Mường Xén (Nghệ An) đời sống bộ đội, nhân dân vô cùng khó khăn. Nạn đói rét, bệnh tật hoành hành, thuốc chữa bệnh không có. Thêm vào đó, từng trung đội, đại đội quân Tưởng lần lượt đến Cửa Rào để vơ vét thuốc phiện.
Để ổn định tình hình, đồng chí Khu trưởng Lê Thiết Hùng, đồng chí phó chủ tịch tỉnh Nghệ An, Nguyễn Tài lên mặt trận đường 7 cùng với địa phương tìm mọi biện pháp giải quyết khó khăn cho bộ đội và nhân dân. Trước mắt, ngăn chặn kịp thời quân Tưởng không cho chúng vơ vét thuốc phiện, nguồn kinh tế chủ yếu của dân tộc Hơ-mông.
Ở miền thượng du Thanh Hóa và phía tây Phủ Quỳ bọn địch ở phía đông Sầm Nưa tìm bắt liên lạc với bọn phản động Kỳ, Tín ở châu Lang Chánh, Quan Hóa; Sầm Văn Kim, Lò Khăm Thi ở Quỳ Châu, một mặt giả vờ tích cực tham gia cách mạng (Sầm Văn Kim là đại biểu quốc hội khóa 1, ủy viên Ủy ban hành chính thượng du Nghệ An) mặt khác ra sức lừa bịp, bóc lột nhân dân miền núi, bắt nhân dân phải cung cấp của ngon, vật quý cho chúng.
Tỉnh ủy Nghệ An, Thanh Hóa tổ chức ban cán sự các huyện miền núi, đưa cán bộ vào trong ủy ban nhân dân huyện để tranh thủ tầng lớp lang đạo tiến bộ, cô lập bọn thổ ty lang đạo phản động, giáo dục tuyên truyền giác ngộ nhân dân hăng hái tham gia cách mạng.
Để chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược, cuối tháng 10 năm 1946, đại diện hai chính phủ Việt Nam và Lào ký hiệp nghị liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc. Ngày 14 tháng 1 năm 1946, ta cùng bạn tổ chức lớp huấn luyện đào tạo cán bộ quân sự gồm 26 thanh niên yêu nước Lào và thanh niên Việt kiều, sau đó ta giúp bạn mở tiếp hai khóa.
Âm mưu của thực dân Pháp trở lại xâm chiếm toàn cõi Đông Dương ngày càng bộc lộ trắng trợn. Chúng mở rộng phạm vi lấn chiếm. Nhiều thành phố, thị xã của Lào như Xà-vẳn-nạ-khệt, Thà-khẹt, Viêng Chăn... dần dần bị quân Pháp chiếm đóng. Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, tháng 5 năm 1946, ta và bạn thành lập chi đoàn Trần Phú và các phân đội cảm tử. Tiếp đó, ta giúp bạn xây dựng cơ sở ở nông thôn, các căn cứ du kích và phát triển lực lượng vũ trang.
Chiến thắng Na Pê, Sê Pôn... cùng với những trận chiến đấu gian khổ hy sinh ở phía tây đường số 7, số 9 là những chiến thắng giòn giã đầu tiên của liên minh chiến đấu Việt Lào. Tuy có những tổn thất hy sinh, nhưng quân và dân Khu 4 phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào đã bảo vệ chính quyền ở các huyện, xã miền tây, tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển thuận lợi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:43:04 pm » |
|
Đối phó với quân Tưởng — Bảo vệ chính quyền cách mạng
Bên cạnh những nhiệm vụ nặng nề cấp bách như xây dựng thực lực cách mạng, chống quân Pháp ở miền tây, liên minh chiến đấu với quân và dân Trung Lào, thì việc đối phó với quân Tưởng mang danh nghĩa Đồng minh kéo vào miền Bắc nước ta tước khí giới quân Nhật là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp.
Quân Tưởng vào miền Bắc còn mang theo bọn tay sai phản động Việt Nam quốc dân đảng (thường gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) nhằm lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ của ta, thiết lập chính quyền tay sai, biến Việt Nam thành một nước chư hầu của Trung Hoa dân quốc.
Ở cấp trung ương, bọn cầm đầu quân đội Tưởng buộc phải giao thiệp với chính phủ ta để đóng quân ở các nơi quy định và được cung cấp lương thực, thực phẩm. Nhưng chúng lại yêu sách rất ngang ngược: đòi ta phải giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, báo cáo quân số, giải thể quân đội, cải tổ chính phủ, giành những chức vụ quan trọng cho bọn tay sai của chúng và còn đe dọa dùng vũ lực lật đổ chính quyền.
Ở miền Trung chúng đưa quân đoàn 60 chiếm đóng từ Nam Định, Thanh Hóa đến Đà Nẵng. Ở Lào chúng đưa sang một sư đoàn. Khu 4 phải đối phó và nuôi dưỡng hai vạn quân Tưởng đóng trên sáu tỉnh và quân của chúng ở Lào thường hay qua lại.
Quân Tưởng kéo vào Thanh Hóa một trung đoàn. Chúng chiếm đóng các vị trí xung yếu trong thị xã. Chúng đắp sa bàn ở thị xã, tổ chức tập trận giả, đặt súng máy ở các ngả đường, tước vũ khí bất cứ ai đi qua1. Chúng ép ta đưa bọn tay sai của chúng vào chính quyền cấp tỉnh2. Dựa vào thế quan thầy, bọn Việt Quốc, Việt Cách ở Thanh Hóa tổ chức bắt cóc, tống tiền cấu kết với bọn phản bội, lôi kéo quần chúng lạc hậu3, tuyên truyền nói xấu Đảng Cộng sản, chống đối chính quyền, xây dựng cơ sở phản cách mạng. Tại ấp Di Linh, tên Hoàng Văn Bách, liên lạc với bọn Quốc dân đảng ở Hà Nội đưa người và vũ khí vào tăng cường xây dựng «Đệ lục chiến khu», xây dựng «Tỉnh đảng bộ» và các khu phố lẻ.
Ngày 24 tháng 9, một sư đoàn quân ô hợp do Khâu Bình Thường chỉ huy, kéo vào Nghệ An, Hà Tĩnh. Đến Vinh chúng gặp ủy ban nhân dân tỉnh đòi đặt sở chỉ huy trên gác hai tòa công sứ Pháp (nơi ủy ban nhân dân tỉnh đang làm việc) và lấy trường Nguyễn Công Trứ làm nơi đóng quân. Chúng rải quân chiếm đóng nhiều nơi xung yếu, án ngữ các tuyến giao thông quan trọng (Vinh — Hà Nội, Vinh — Lào). Chúng đóng quân ở cầu Cấm trên trục đường số 1, cầu Yên Xuân trên trục đường sắt Bắc — Nam, thị trấn Đức Thọ trên đường số 8... chúng ngang ngược hạch sách, vơ vét của cải, ăn hàng, cướp chợ, dọa nạt ức hiếp nhân dân. Cùng thời gian này một trung đoàn quân Tưởng khác đóng ở Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, đội quân ô hợp và đói rách này đã gây ra biết bao nhiêu tội ác đối với đồng báo ta, chúng ăn cướp, ăn quỵt, ăn chặn, phá phách, vo vét bất kể thứ gì, chúng dùng tiền «quan kim» trên thị trường, một loại tiền mất giá nghiêm trọng của chúng.
Theo chủ trương của Trung ương Đảng, ta tạm thời nhân nhượng quân Tưởng để giảm bớt căng thẳng, nhưng nhân nhượng có nguyên tắc. Để tránh xung đột, ta cử những cán bộ biết tiếng Trung Hoa, chữ Hán, có khả năng giao tiếp, khôn khéo, thuyết phục tranh thủ những tên chỉ huy quan trọng. Bọn sĩ quan các cấp: sư đoàn, quân đoàn thường qua lại kiểm tra quân Nhật và làm việc với các đồng chí trong ủy ban Trung Bộ. Ta làm việc với tư thế chủ nhà, tiếp khách chững chạc lịch sự, chu đáo, nên chúng phải kính nể. Các tỉnh còn thành lập « Ban Hoa — Việt thân thiện”, mở lớp dạy chữ Trung Hoa để dễ giao tiếp, đối với binh lính, ta hạn chế chúng ra chợ mua bán, gây rối loạn thị trường và làm mất an ninh trật tự, một mặt công bố thể lệ đổi bạc Trung Hoa sang bạc Việt Nam, lập ban tiếp tế đồ mua lương thực, thực phẩm cho chúng, mặt khác ta tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình biểu dương sức mạnh của quần chúng, gây thanh thế chính trị ở hầu hết các địa phương có quân Tưởng đóng. Nhân dịp này, ta có mua hoặc đổi được một số vũ khí của quân Tưởng. _____________________________________________ 1. Có lần đồng chí phó chủ tịch tỉnh đi qua cũng bị chúng bắt giữ, tước vũ khí. 2. Như bọn đầu sỏ Quốc dân đảng: Đặng Trần Hồ, Lê Hữu Nhơn. 3. Bọn Quốc dân đảng lôi kéo, lũng đoạn «Liên minh võ sĩ cứu quốc».
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:47:26 pm » |
|
Bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách núp dưới bóng quân Tưởng tranh thủ xây dựng, phát triển lực lượng trong đám cựu công chức, các phần tử phản động và bọn địa chủ cường hào gian ác, chúng liên hệ với bọn đầu sỏ, mang báo «Việt Nam» với những nội dung rất phản động của bọn Quốc dân đảng xuất bản ở Hà Nội vào phát hành ở các tỉnh Trung Bộ và rải truyền đơn đả kích Việt Minh, xuyên tạc mục tiêu, hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương, đả kích chính quyền, viết thư nặc danh, hăm dọa ám sát cán bộ lãnh đạo và cốt cán. Chúng còn tổ chức lạc quyên gây quỹ, in bạc giả, hô hào lập hội «Tứ dân», chuẩn bị lập trụ sở công khai tỉnh đảng bộ ở thành phố Vinh. Chúng kích động lôi kéo một số học sinh ở trường Nguyễn Công Trứ cùng công nhân chậm tiến ở nhà máy Trường Thi biểu tình chống đối chính quyền và xúi giục một số người lạc hậu ở xã Trường Sơn (huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) bao vây trụ sở ủy ban nhân dân, đòi giải quyết các yêu sách phi lý.
Thời gian này bọn Việt Quốc ở Nghệ An có trên 400 tên, ở Hà Tĩnh có hàng trăm tên. Ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên chúng đã tổ chức được một số cơ sở “chi bộ” ở huyện và tỉnh, nhưng không dám hoạt động công khai và chưa có ảnh hưởng gì trong nhân dân. Ta cảnh giác đề phòng những tên đầu sỏ chui vào nội bộ để chống phá cách mạng, kiên quyết trừng trị những tên có nhiều tội ác và các tổ chức của chúng. Ta đã kịp thời phát hiện tên Lý Hồng Chương, ủy viên trung ương Quốc dân đảng vào làm phó giám hiệu trường sĩ quan Trung Bộ truyền bá chủ nghĩa «Tam dân», hòng tranh thủ thanh niên, nắm cán bộ quân sự đi theo chúng. Trong quá trình học tập chính trị, ta đã làm cho học viên quán triệt sâu sắc đường lối chủ trương chính sách của Đảng, căm thù bọn chúng.
Ngày 11 tháng 12 năm 1945, tại Thanh Hóa được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng công an và tự vệ đã tiến công, phá tan “chiến khu Di Linh”. Ngày 5 tháng 3 năm 1946, đội Sao Vàng (công an của khu) đã trừng trị tên tay sai chỉ điểm Hoàng Văn Bách. Đêm 6 tháng 4, lực lượng vũ trang của tỉnh kết hợp với công an tiến công vào các khu bộ lẻ ở một số khu phố. Đến trung tuần tháng 4, bọn quốc dân đảng bị quét sạch khỏi trụ sở Nông Giang, phố Cửa Tả và những ổ nhóm khác ở thị xã. Những tên trốn tránh chui lủi vào trú ngụ trong các trại lính của quân Tưởng. Ngày 29 tháng 4, bọn Quốc dân đảng theo gót quân Tưởng rút khỏi Thanh Hóa, nhưng đến Phủ Lý (Hà-Nam-Ninh), bọn chúng đã bị ta bắt gọn, không một tên nào trốn thoát1.
Ở Nghệ An, Hà Tĩnh, các lực lượng vũ trang và công an theo dõi chặt chẽ các hoạt động của bọn Việt Quốc và Việt Cách, ta bám sát các phương tiện giao thông, đón bắt và tịch thu nhiều tài liệu, vũ khí của bọn đầu sỏ ở Hà Nội chuyển vào và bọn tay sai ở Nghệ An, Hà Tĩnh chuyển ra tại Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Hoàng Mai... Ta phá tan những vụ chống đối, dẹp gọn những cuộc biểu tình chống chính quyền cách mạng, nghiêm khắc cảnh cáo bọn tay chân, kiên quyết trừng trị bọn cầm đầu và những tên ngoan cố2. Hoạt động của chúng ngày càng tê liệt, tổ chức của chúng tan rã dần.
Tình thế quân Tưởng gặp nhiều khó khăn, trong nước mâu thuẫn sâu sắc, nội chiến lan rộng. Cuối tháng 12 năm 1945 Tưởng Giới Thạch đưa quân đoàn 53 sang Việt Nam và điều hai quân đoàn 60 và 62 về hướng đông bắc Trung Quốc để đối phó với quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, và nhằm chặt vây cánh của tập đoàn quân phiệt Vân Nam.
Sau hơn sáu tháng, quân Tưởng sang Việt Nam, kéo theo bọn Việt Quốc, Việt Cách nhưng không đạt được âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền tay sai. Tưởng Giới Thạch buộc phải cùng chính phủ Pháp ký Hiệp ước Trùng Khánh, cho quân Pháp thay quân Tưởng chiếm đóng miền Bắc Việt Nam để đổi lấy một số quyền lợi kinh tế và lãnh thổ3.
Trước diễn biến của tình hình, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đuổi nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn phản động tay sai của chúng để tập trung vào một kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tài chèo lái tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nhanh nhạy, sáng tạo, vừa mềm dẻo, vừa nguyên tắc của các cấp ủy đảng, quân và dân Liên khu 4 đã hạn chế được những hành động phá phách của quân Tưởng mà còn thuyết phục chúng bàn giao quyền giữ an ninh trật tự cho chính quyền ta chứ không phải giao cho Pháp như bọn cầm đầu chúng thỏa thuận.
Ở Nghệ An, đồng chí Nguyễn Tài, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã thuyết phục tên Trần Túng Tài, sư đoàn trưởng Sư đoàn Vĩnh Dụ bàn giao quyền giữ an ninh trật tự cho chính quyền tỉnh. Đến chiều ngày 30 tháng 3 năm 1946, đồng chí Lê Viết Lượng chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Trần Túng Tài, sư đoàn trưởng quân đội Trung Hoa dân quốc đóng tại Nghệ An đã ký biên bản bàn giao4. Ở Huế, Thanh Hóa đều có những văn kiện bàn giao tương tự.
Ngày 17 tháng 4 năm 1946, quân Tưởng rút khỏi Vinh, Hà Tĩnh. Đến cuối tháng 4 năm 1946 toàn bộ quân Tưởng rút khỏi các địa phương Khu 4, phần lớn bọn tay sai phản động đã bị trừng trị. Trước đó, số ít Việt Quốc, Việt Cách còn lại ẩn náu dưới ô các quan thày, đến đây chuyển sang làm tay sai cho chủ mới là thực dân Pháp. Do ta đấu tranh khôn khéo, mềm dẻo, có lý, có tình, nên bọn sĩ quan Tưởng phải tôn trọng và hợp tác với ta, cuối cùng phải cuốn gói ra đi. Ta đã giành thắng lợi lớn trên mặt trận đấu tranh ngoại giao. Trong một thời gian ngắn, cùng với quân và dân miền Bắc, quân và dân Khu 4 đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên quyết và khôn khéo đã loại trừ được kẻ thù rất nguy hiểm là quân Tưởng và bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách, bảo vệ vững chắc chính quyền non trẻ để tập trung sức lực và trí tuệ chống kẻ thù chủ yếu lúc này là thực dân Pháp xâm lược. _______________________________________________ 1. Có ý kiến nói bọn tay sai phản động chạy theo quân Tưởng bị ta bắt ở ga Đồng Giao. 2. Theo tư liệu «Lịch sử công an Nghệ Tĩnh», ta đã nghiêm khắc xét xử nhiều tên Việt Nam quốc dân đảng, xử tử hình tên Nguyễn Văn Chất, trưởng ban ám sát, có nhiều nợ máu, đặc phái viên của Nguyễn Hải Thần. 3. Pháp phải trả lại các tô giới và nhượng địa trên đất Truug Hoa, bán lại đường Côn Minh — Hồ Kiều cho Tưởng và miễn thuế qua cảng Hải Phòng. 4. BIÊN BÀN BÀN GIAO Ngày 30 tháng 3 năm 1946 Việt Nam dân chủ Cộng hòa năm thứ 2. Sư đoàn trưởng sư đoàn Vĩnh Dụ, Trần Túng Tài, đại diện quân đội Trung Quốc ở Vinh. Ông Lê Viết Lượng, chủ tịch Ủy ban hành chính, đại diện Chính phủ Việt Nam ở Vinh. Khoản 1: Bắt đầu từ hôm nay quân đội Trung Hoa giao việc giữ gìn an ninh trong tỉnh Nghệ An cho Chính phủ Việt Nam đảm nhiệm. Khoản 2: Chính phủ Việt Nam ở Nghệ An sẽ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản, tính mệnh Hoa kiều, Pháp kiều và các kiều dân khác trú ngụ trong địa phận Nghệ An. Khoản 3: Hoa kiều, Pháp kiều và các kiều dân khác hoàn toàn tuân theo luật lệ hiện hành của Chính phủ Việt Nam ở Nghệ An. Ký tên Chủ tịch Lê Viết Lượng Ký tên Thượng hiệu Trần Túng Tài
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2024, 09:52:03 pm » |
|
Ủng hộ Nam Bộ kháng chiếnỞ miền Nam, bám theo gót quân Anh, giặc Pháp trở lại Sài Gòn — Chợ Lớn rồi nổ súng tấn công mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai, mở rộng chiến tranh khắp các tỉnh Nam Bộ và cực nam Trung Bộ. Ngày 29 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ và nhân dân cả nước «Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ». Ngày 23 tháng 11, cả nước tổ chức «Ngày Nam Bộ kháng chiến”. Cùng ngày Hồ Chủ tịch nêu rõ quyết tâm: «Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công» 1. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đồng bào Nam Bộ đã anh dũng chiến đấu chống thực dân Pháp. Nhiều gương hy sinh sáng chói đã cổ vũ nhiệt tình chiến sĩ, đồng bào miền Bắc vào Nam giết giặc. Các tỉnh Khu 4 lập ngay “Phòng Nam Bộ” ghi tên những người tình nguyện vào Nam chiến đấu và tổ chức các đơn vị Nam tiến. Các địa phương thành lập Ủy ban ủng hộ chiến sĩ Nam Bộ, lập «Quỹ Nam Bộ», tổ chức «Ngày kháng chiến», «Ngày nỗ lực sản xuất». Hội chợ, hoạt động thể thao, văn hóa để quyên góp tiền bạc, thuốc men quần áo, chăn màn gửi vào Nam và tổ chức nhiều cuộc mít tinh biểu tình rầm rộ ủng hộ Nam Bộ kháng chiến. Phong trào tình nguyện vào Nam giết giặc đã được mọi tầng lớp nhân dân các tỉnh Khu 4 hưởng ứng nhiệt liệt. Thiếu niên xung phong đi làm liên lạc, phụ nữ xung phong đi làm tiếp tế cứu thương, thanh niên, học sinh, sinh viên tình nguyện trực tiếp cầm súng chiến đấu. Có cụ già đã xung phong tình nguyện làm đơn xin «được đi lính đánh Tây» 2. Các đơn vị Nam tiến được tổ chức chặt chẽ thành những đơn vị quân đội gồm những người xung phong tình nguyện, đã được huấn luyện quân sự, được ưu tiên trang bị vũ khí tốt 3. Sau ba ngày quân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, ngày 26 tháng 9 năm 1945, chuyến xe lửa đầu tiên chở đoàn quân Nam tiến chuyển bánh vào Nam. Chuyến thứ nhất chở một chi đội từ Hà Nội vào đến ga Thanh Hóa được tăng cường thêm một đại đội, đến ga Vinh thêm hai đại đội, đến Quảng Trị thêm một chi đội và đến ga Huế thêm một đại đội nữa. Những cuộc tiễn đưa người thân, chồng con, anh em lên đường vào Nam giết giặc và tặng quà bánh cho bộ đội Nam tiến ở đình làng, trụ sở, khu phố, bến xe, bến tàu rất nồng thắm và đầy xúc động. Trên các toa tàu, sân ga, những chàng trai Vệ quốc nai nịt gọn gàng, vai đeo súng, hông dắt lựu đạn, nét mặt tươi vui, hồn nhiên hát vang những bài ca hùng tráng «Tiếng súng vang sông núi miền Nam, ầm vang đất nước Việt Nam», «Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu», «Đoàn vệ quốc quân mỗi lần ra đi...». Các đơn vị Nam tiến của các tỉnh Khu 4 được phân công chiến đấu ở nhiều vùng. Các đại đội Thanh Hóa, Quảng Trị chiến đấu ở cực nam Trung Bộ, đại đội Hà Tĩnh, đại đội Thừa Thiên chiến đấu ở Nha Trang, đại đội Nghệ An chiến đấu ở Buôn Ma Thuột. Nhiều đơn vị ngay từ những ngày đầu khi mới vào Nam đã chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc. Trong một trận phục kích ở đèo Phượng Hoàng, ngày 27 tháng 10 năm 1945, đại đội Thừa Thiên bắt toàn bộ quân Nhật trên 18 xe hành quân từ Tây Nguyên theo đường 21 về Ninh Hòa. Sau khi ta giải thích chính sách, thả cho chúng về, quân Nhật đã giao lại cho đơn vị 240 khẩu súng và nhiều đạn dược. Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến lức này không chỉ là ý thức chiến tranh mà còn là lương tâm, tình cảm của quân và dân Khu 4 đối với chiến sĩ, đồng bào ruột thịt ở miền Nam. Phong trào Nam tiến của các tỉnh Khu 4 biểu hiện một phần hình ảnh cả nước ra trận, phản ánh ý chí quyết tâm «Nước Việt Nam là một, Nam Bắc một nhà», «Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. *
* * Qua hơn nửa năm xây dựng và bảo vệ chính quyền, đảng bộ chính quyền, cơ quan quân sự cùng quân và dân Khu 4 đã quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch trong hoàn cảnh của địa phương. Cán bộ, đảng viên, quân dân Khu 4 đã phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bền bỉ, phấn đấu xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ, vượt qua thời kỳ trứng nước để bước vào một thời kỳ mới đầy khó khăn, thử thách mới. ______________________________________________ 1. Hồ Chí Minh, Tuyển tập (1920 — 1954), Nhà xuất bản Sự thật, H. 1980. tr. 375. 2. Thư cụ Nguyễn Văn Ngãi gửi chủ tịch tỉnh Nghệ An nhờ gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội: «Làng Phúc Yên ngày 29 tháng 9 năm 1945 — năm Việt Nam dân chủ cộng hòa thứ nhất. Thưa Chủ tịch. Tôi tên là Nguyễn Văn Ngãi 62 tuổi ở làng Phúc Yên, tổng Xuân Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, sinh được ba con trai, một con gái. Đứa đầu đã đi lính giải phóng rồi... Tôi thấy tôi sống hơn sáu chục năm rồi mà chưa làm được việc gì ích lợi cho nước nhà. Bây giờ nghe nói quân Tây đánh nhau với quân ta trong Sài Gòn. Hắn ác lắm, đem súng bắn giết đàn bà, con nít và đốt phá cướp bóc dân ta. Tôi giận lắm chỉ muốn ra đi lính, nhưng trong làng họ nói tra rồi không đi được. Xin Chủ tịch cho tôi được đi lính đánh Tây. Tôi đội ơn Chủ tịch lắm lắm. Nay kính thư Nguyễn Văn Ngãi ký» 3. Mỗi đại đội có 115 quân, được trang bị 15 súng trường, 300 quả lựu đạn, 10 quả mìn, chỉ huy đại đội có súng ngắn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:03:53 pm » |
|
II. KHẨN TRƯƠNG CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Sau hơn sáu tháng đấu tranh gay go quyết liệt phức tạp, quân và dân ta đang đứng trước tình hình mới. Ở miền Nam, quân Anh đã rút về nước, nhưng quân Pháp lại chiếm đóng phần lớn đất Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ (chúng cũng đã chiếm cả Cam-pu-chia và phần lớn nước Lào). Cuộc kháng chiến của đồng bào và chiến sĩ miền Nam vẫn tiếp diễn rất kiên cường, dũng cảm. Ở miền Bắc, quân Tưởng buộc phải để quân Pháp thay thế, nhưng đại diện chính phủ Pháp phải điều đình với chính phủ ta. Nhằm tránh tình trạng bất lợi, ngay từ cuối tháng 2 năm 1946, khi Pháp và Tưởng còn đang thương lượng ký hiệp ước Trùng Khánh, Ban thường vụ Trung ương Đảng ta họp quyết nghị: «Ta nên nói chuyện với Pháp, nhưng đồng thời phải chuẩn bị kháng chiến» 1. Sau khi hiệp ước Pháp — Hoa được chúng ký kết, Thường vụ Trung ương Đảng lại chỉ rõ: «Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta» 2. Ngày 5 tháng 3 năm 1946. Ban chấp hành Trung ương họp mở rộng, nhất trí tán thành chủ trương đàm phán với Pháp. Tiếp đó, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp ký hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Ngày 9 tháng 3 năm 1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị lịch sử: «Hòa để tiến», bản chỉ thị vạch rõ hòa với Pháp là nhằm: «... Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào... chuẩn bị đầy đủ, nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới” 3. Chấp hành chỉ thị «Hòa để tiến», cấp ủy các địa phương Khu 4 đã kịp thời giải thích cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa nội dung chỉ thị, xác định trách nhiệm, thái độ trước tình hình mới. Để thi hành hiệp định sơ bộ, hội nghị tham mưu hai bên đã bàn việc đóng quân tiếp phòng giữa ta và Pháp. Ta thành lập Bộ Tổng chỉ huy tiếp phòng quân và chuyển một số đơn vị Vệ quốc đoàn làm nhiệm vụ tiếp phòng. Để theo dõi và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thi hành hiệp định, ta và Pháp đều tổ chức Ủy ban liên lạc và kiểm soát trung Ương (gọi tắt là ủy ban liêm kiểm). Trung ương quyết định đồng chí Lê Thiết Hùng làm tổng chỉ huy, đồng chí Trần Văn Quang làm chính ủy, và đồng chí Hoàng Điền làm tham mưu trưởng quân tiếp phòng Việt Nam. Ngày 3 tháng 4. Việt Nam và Pháp ký hiệp định quân sự quy định nơi đóng quân và số quân của các lực lượng tiếp phòng mỗi bên. Ở Khu 4 hiệp định quân sự quy định: Quân tiếp phòng Pháp đóng ở Vinh 900; ở Huế 825. Quan tiếp phòng Việt Nam đóng ở Thanh Hóa 684; Vinh 904; Đồng Hới 220; Đông Hà 684; Huế 500. Các địa phương có quân tiếp phòng quân Pháp đóng, còn tổ chức Ban liên kiểm Việt — Pháp; ở Vinh có Ban liên kiểm và một tiểu đoàn quân tiếp phòng Việt Nam do đồng chí Lê Nam Thắng phụ trách. Ở Huế Ban liên kiểm và tiểu đoàn quân tiếp phòng do đồng chí Lê Khánh Khang phụ trách. Quân tiếp phòng của Pháp ở Huế lúc đầu có 750 tên đóng ở trường Khải Định, Pen-lơ-ranh và khách sạn Mo-ranh. Lực lượng tiếp phòng của ta đóng xen lẫn với các vị trí của quân Pháp để kìm chế các hoạt động và ngăn cản sự liên hệ móc nối giữa quân Pháp với các phần tử tay sai phản động ở địa phương. Lực lượng quân tiếp phòng của Pháp ở Vinh theo quy định là 900 tên. Ngày 8 tháng 4, chỉ có một trung đội gồm 40 tên Pháp từ Hà Nội vào. Chúng đòi đóng quân ở những vị trí quân Tưởng đã ở trước (tòa Công sứ, trường Nguyễn Công Trứ). Ta buộc chúng phải đóng theo vị trí do ta sắp xếp 4. Chúng không thể dễ dàng hoạt động chống phá, trên thực tế trung đội này chỉ là một đơn vị phục vụ cho phái đoàn liên kiểm. Nhưng ở phía tây Khu 4 chúng ráo riết chuẩn bị xâm lược như đưa quân từ đông Lào áp sát biên giới Thừa Thiên, Quảng Trị, các trục đường số 9, đường số 8, đường số 7 và đưa quân từ Thượng Lào xuống uy hiếp miền tây Thanh Hóa. Thời gian này các tổ chức phòng nhì 5, gián điệp của Pháp tăng cường hoạt động. Chúng tung người, tung tiền móc nối bọn tay sai cũ của Pháp còn ẩn náu ở các tỉnh và tìm cách liên lạc, tranh thủ bọn thổ ty, lang đạo phản động ở miền núi «Lê Xuân Kỳ, Lê Xuân Tín ở Thanh Hóa. Sầm Văn Kim, Lò Khăm Thi ở Nghệ An). Hoạt động tình báo, gián điệp của Pháp lúc này diễn ra trên nhiều lĩnh vực, thuộc nhiều tổ chức. Lực lượng tình báo quân sự do tên Tê-ri-cơ (Thérique) trong bộ tham mưu quân đội Pháp ở bắc Đông Dương chỉ huy, tổ chức tình báo dân sự do tên Ra-ma-di-ê (Ramadier) nguyên phó công sứ ở Vinh trước lúc Nhật đảo chính cầm đầu. Chúng còn hết sức chú trọng nắm những phần tử phản động trong đạo Thiên chúa và những cha cố nước ngoài ở địa phương như Xéc-ba-ôn (Kerbaol). Mục tiêu, nội dung và phương thức hoạt động của các lực lượng tình báo gián điệp của Pháp qua bọn phản động tay sai trên địa bàn Khu 4 rất thâm độc và xảo quyệt. Chúng tuyên truyền xuyên tạc việc ta ký hiệp định ngày 6 tháng ba là bán nước, để gây chia rẽ giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng nhân dân. Chúng thu thập tin tức năm tình hình nội bộ của ta, tìm hiểu thái độ của dân chủng đối với Chính phủ, tinh thần thái độ của lực lượng chống đối và tổ chức phá hoại về kinh tế, tài chính. Quân Pháp ngày càng vi phạm trắng trợn việc thi hành hiệp định trên phạm vi cả nước ta. Ở miền Nam chúng vẫn tiếp tục các cuộc hành quân “bình định”, ở miền Bắc chúng có nhiều hành động khiêu khích và tự ý đưa quân đến đóng một số nơi không quy định. ______________________________________________ 1. Biên bản Hội nghị thường vụ Trung ương Đảng ngày 24 tháng 2 năm 1946 — Lưu văn phòng Trung ương Đảng. 2. Văn kiện Đảng 1945 — 1954, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1987, t. 1, tr. 42. 3. Văn kiện quân sự của Đảng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. H, 1976. tr. 39. 4. Quân Pháp đóng ở sở canh nông cũ (thời ấy gọi la Khu (Ba Bò), thuộc xã Hùng Đình) ngoài khu trung tâm thành phố. 5. Phòng nhì (2e Bureau) là cơ quan tình báo của quân đội Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:09:14 pm » |
|
Trước tình hình trên, Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã kiên trì tìm giải pháp thương lượng với chính phủ Pháp1 nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn để có thêm điều kiện xây dựng thực lực về mọi mặt, chủ động chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Để nâng cao tiềm lực mọi mặt cho công cuộc chuẩn bị kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Chính phủ và nhân dân phải đồng tâm nhất trí, ra sức tổ chức, ra sức công tác. đoàn kết hơn nữa, mở mang kinh tế, xây dựng nước nhà, thực hành đời sống mới, khắp mọi phương diện. Bất kỳ gái, trai, già, trẻ, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, toàn thể quốc dân phải ra sức làm việc”2.
Đáp lời kêu gọi của Bác, nhân dân các tỉnh Khu 4 tiếp tục đẩy mạnh phong trào sản xuất và học tập, diệt giặc đói, giặc dốt.
Công cuộc khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích canh tác phát triển ở nhiều nơi. Nhiều tỉnh tổ chức các trại tăng gia sản xuất, trại chăn nuôi, thành lập các hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xa mua bán, hợp tác xã tín dụng.
Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, các địa phương đã chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống (như trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, làm đồ gốm, rèn đúc...) trong gia đình thôn xóm. Các tuyến đường liên huyện, liên xã và nhiều cầu cống được sửa chữa và làm thêm. Một số nhà máy được chỉnh đốn để phục hồi sản xuất. Các hợp tác xã thủ công nghiệp được thành lập.
Nhà máy Trường Thi (Vinh) được chỉnh đốn để sửa chữa các đầu máy và toa xe lửa. Tỉnh Hà Tĩnh xuất 100.000 đồng cho nhân dân vay để thành lập năm hợp tác xã tiểu công nghiệp (đúc đồ đồng, lưỡi cày, làm mộc).
Về tài chính, tiền Việt Nam phát hành tiếp ở Khu 4 và Bắc Bộ được toàn dân tín nhiệm.
Phong trào xóa nạn mù chữ tiếp tục phát triển rộng khắp, được mọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực. Ở mỗi thôn xóm, đường phố, bản làng có nhiều lớp bình dân học vụ mở cả buổi trưa, buổi tối. Các trường tiểu học được mở rộng đến xã. Nhiều huyện đã có trường trung học. Các trường đã sử dụng sách giáo khoa mới và dùng tiếng Việt thay thế tiếng nước ngoài trong trường học.
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao phát triển sôi nổi. Những vở kịch, bài thơ, những ca khúc hùng tráng (Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng. Đống Đa, Chiến sĩ ca...) có tác dụng cổ vũ tinh thần quật cường của dân tộc, được mọi người ưa thích, nhất là đối với thanh niên và thiếu niên.
Chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố. Khối đoàn kết toàn dân được mở rộng. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội khóa 1 kỳ họp thứ 2 thông qua, khẳng định sự vững mạnh của chính thể dân chủ mới. Bọn phản động tay sai Tưởng trước đây ở trong chính phủ và quốc hội đã bỏ chạy theo chủ hoặc tìm cách chống phá cách mạng, đã bị trừng trị.
Ở Khu 4, tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch, các cấp từ cơ sở trở lên đến khu đều được tiếp tục củng cố kiện toàn. Các đoàn thể quần chúng từ đội thiếu niên, đoàn thanh niên, hội phụ nữ đến hội phụ lão hoạt động sôi nổi hăng hái, có hiệu lực thiết thực trên nhiều lĩnh vực công tác và cuộc sống.
Theo sáng kiến của bà Lê Thị Quế, ủy viên Ban chấp hành Hội phụ nữ cứu quốc Trung Bộ, tháng 6 năm 1946 Hội mẹ chiến sĩ (gồm những phụ nữ 40 tuổi trở lên) được thành lập. Tỉnh Quảng Trị tổ chức chi hội đầu tiên. Tiếp đến các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa cũng thành lập Hội mẹ chiến sĩ. Tháng 7 thành phố Vinh, Bến Thủy thành lập Hội mẹ chiến sĩ đến tận cơ sở khu phố, xã.
Tăng cường mở rộng khối đoàn kết toàn dân, ngày 29 tháng 5 Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập và tổ chức rộng rãi xuống tận cơ sở.
Trước tình hình mới, để phù hợp với yêu cầu lãnh đạo trực tiếp, tháng 2 năm 1946 Trung ương Đảng quyết định giải thể Xứ ủy Trung Kỳ, Bắc Kỳ, tổ chức các Khu ủy. Ở Trung Kỳ chia thành hai khu (Khu 4 và Khu 5). Những cán bộ chủ chốt của xứ ủy được phân công về công tác ở các khu. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được cử làm bí thư Khu ủy 4.
Các tỉnh lần lượt tiến hành đại hội đảng, xác định chủ trương công tác mới và tiếp tục kiện toàn cấp ủy đảng.
Công tác an ninh, bảo vệ, chống địch nội địa, làm trong sạch địa bàn, trong sạch nội bộ trên địa bàn khu lúc này có vì trí hết sức quan trọng. Bọn phản động tay sai và những phần tử thoái hóa biến chất bị loại ra khỏi các cơ quan, đoàn thể. Bọn quốc gia liên hiệp — một ngụy đảng lập ở vùng tạm chiếm miền Nam kéo ra Khu 4 hoạt động cũng bị ta bắt ở Nghệ An3.
Bọn phản động còn lợi dụng đạo Thiên chúa tuyên truyền chống đối chính quyền địa phương, gieo rắc tâm lý sợ mất đạo, mất chúa. Chúng bắt ép giáo dân ra khỏi các đoàn thể cứu quốc, tổ chức đại đội thanh niên công giáo, đội tự vệ công giáo (xã Đoài, Nghệ An) hòng đòi lập xã công giáo riêng (huyện Anh Sơn, Nghệ An). Ta đã cử cán bộ trinh sát, công an vào nắm tình hình, bồi dưỡng những giáo dân cốt cán có lòng yêu nước, cả nhưng linh mục tiến bộ để tuyên truyền, giáo dục giác ngộ hiểu rõ chính sách tự do tín ngưỡng của chính phủ, trách nhiệm của mọi công dân đối với Tổ quốc, kjp thời ngăn chặn các hành động chống phá của chúng.
Đối với phái bộ và lực lượng tiếp phòng Pháp, ta bố trí ở những nơi bảo đảm được nhu cầu đời sống của họ, nhưng hạn chế, ngăn chặn các mối quan hệ hoạt động. Đối với bọn tình báo, gián điệp, ta bắt giữ nhiều tên, thu nhiều tài liệu và kiến quyết trừng trị những tên nguy hiểm4. ______________________________________________ 1. Các cuộc thương lượng với Pháp sau Hiệp định ngày 6 tháng ba: Hội nghị trù bị Đà Lạt (19-4-1946), Hội nghị Fonteinebleau (6-7-1946), Ký tạm ước (14-9-1946). 2. «Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về». Hồ Chí Minh. Tuyển tập. Nhà xuất bản Sự thật, H. 1980, t.1. tr.391. 3. Tên Lâm Văn Khuê bị đưa đi an trí. Những tên khác bị quản thúc. 4. Tên Trần Ngọc Thanh, gián điệp chui vào làm trưởng ban trinh sát trung đoàn 57 bị xử tử hình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|