Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:07:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31238 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2024, 08:25:33 pm »


Nhận rõ tầm quan trọng đặc biệt và vai trò chiến lược của dân quân tự vệ, các cấp ủy Đảng trong khu càng chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, làm nòng cốt cho phong trào «toàn dân đánh giặc» ở cơ sở. Cũng từ đây quân giặc mỗi lần vào thôn xóm, đốt nhà, cướp của, chém giết nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, bắt thanh niên đi lính đều bị trừng trị. Dân quân Minh Lễ (huyện Quảng Trạch) phối hợp với bộ đội Lê Trực đánh địch càn quét ở thôn Chung Anh, giết 12 tên Pháp và 30 Việt gian. Dân quân có nhiều cách đánh mưu trí, sáng tạo. Phong trào «cướp súng Tây đánh Tây», nhất là phong trào «Úm hè» được phát động học tập khắp nơi. Không có vũ khí đánh địch, một tổ dân quân Quảng Trị liền nghĩ cách dùng vỏ chai, giả vờ chôn mìn giữa đường số 9. Một chiếc xe Jeep thấy hiện tượng khả nghi dừng lại. Tên sĩ quan và hai tên lính bước ra khỏi xe. Tổ dân quân đã bí mật phục kích sẵn bên đường, lập tức vác đại đao xông ra giết cả ba tên, đốt xe, lấy được một súng ngắn, hai súng trường.

Ngày 15 tháng 6, tổ dân quân xã Thanh Lam (Hương Thủy) do chính trị viên xã đội chỉ huy, gánh phân ra ruộng, khi đến gần ba lính ngụy tuần tra đường sắt, đồng chí chỉ huy vội đặt gánh giả vờ nghỉ để chuyện trò với lính và nói «Om hè», lập tức tổ dân quân xông vào, quật ngã cả ba tên, lấy được ba súng.

Các lối đánh du kích do «Biệt động đội», “Quyết tử quân” của các đơn vị nhỏ ở các trung đoàn Cao Vân, Thiện Thuật, tiểu đoàn Lê Trực ngày càng sôi nổi, nhất là trong các đợt thi đua lập thành tích chào mừng các ngày kỷ niệm lớn của đất nước. Lập thành tích kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh, đêm 16 tháng 8, ta tấn công đồn Minh Lễ, giết 17 tên Pháp. Ngày 24 tháng 9 ta tiến công vị trí Xóm Xoài giết 30 tên Pháp và ngụy, trong đó có tên quan ba Đờ Séc-tô. Trên 100 tên địch ở vị trí Nhĩ Hạ, chợ Cầu càn quét làng Cẩm Phổ (Gio Linh). Trung đội 1 của đại đội 149 và trung đội 12 của đại đội 150 chặn đánh quyết liệt và khôn khéo. Trận càn thất bại, 14 tên Pháp bị giết, có một thiếu úy, một chuẩn úy, nhiều tên khác bị thương. Ta thu một trung liên, tám súng trường.

Vừa đẩy mạnh tác chiến, các lực lượng vũ trang vừa tuyên truyền, giúp đỡ nhân dân lập làng chiến đấu. Làng chiến đấu Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch (Quảng Bình) nằm trên đường tỉnh lộ Hoàn Lão — Khương Hà — Xuân Sơn là làng chiến đấu tiêu biểu của Quảng Bình và của cả Khu 4. Làng Cự Nẫm có chi bộ đảng gồm bảy đảng viên trực tiếp lãnh đạo chiến đấu, sản xuất. Được sự giúp đỡ của đại đội 3 tiểu đoàn Lê Trực, cấp ủy đảng, chính quyền phát động toàn dân xây dựng làng chiến đấu. Lực lượng vũ trang gồm một tiểu đội dân quân thường trực, được huấn luyện thành thạo kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, cách sử dụng các loại vũ khí tự tạo như bom mìn, địa lôi, bàn chông. Ở đây có hai trung đội dân quân phục vụ chiến đấu. Nhân dân rào làng bằng tre gỗ, đào hào giao thông và nhiều hố chiến đấu để vận động đánh địch cả ngoài làng và trong làng. Dân quân lập chòi cao quan sát để báo động khi phát hiện địch từ xa. Trước khi địch vào làng càn quét, tiểu đội dân quân thường trực đã triển khai ra vị trí chiến đấu. Một tổ dân quân theo giao thông hào dẫn người già, trẻ em tản ra một nơi bí mật cách làng không xa, đã được chuẩn bị chu đáo từ trước (có hầm giấu gạo, vò đựng nước, bếp nấu ăn, chuồng nuôi lợn, gà, vịt). Nhờ vậy, ngay trong trận đầu, làng chiến đấu Cự Nẫm đã chủ động đánh địch và thắng địch. Ngày 7 tháng 5, trung đội lính Pháp khoảng 30 tên kéo vào làng Cự Nẫm càn quét, lập hội tề. Dân quân phối hợp với bộ đội đã chặn đánh quvết liệt, giết 10 tên và làm bị thương nhiều tên khác. Âm mưu lập hội tề của chúng bị thất bại.

Làng chiến đấu Cự Nẫm được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương vì “đã huy động lực lượng của toàn dân lập làng Cự Nẫm thành một làng chiến đấu kiểu mẫu và nhờ đó đã đương đầu một cách anh dũng với giặc trong năm đầu cuộc kháng chiến». Bộ chỉ huy Khu 4 cũng đã phát động các địa phương học tập Làng chiến đấu kiểu mẫu Cự Nẫm.

Đi đôi với đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, vấn đề trừ gian, phá tề là một nhiệm vụ cấp bách và rất quan trọng. Dân quân, bộ đội phối hợp với các «Đội danh dự» của công an phá âm mưu lập chính quyền bù nhìn của địch. Có nơi bọn tề mới mọc lên ngày hôm trước, tối hôm sau đã bị trừng trị như Lý Châu, Thanh Thủy Thượng. Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu còn chỉ rõ: «Chính sách trừ gian, phá tề không phải chỉ có xử phạt mà còn phải cảm hóa, lôi kéo họ về với dân tộc»1. Phải giáo dục cho bọn tề, ngụy, Việt gian thấy rõ sức mạnh chính nghĩa thuộc về nhân dân, sức mạnh «Toàn dân đánh giặc» là vô địch, thấy rõ chính sách khoan hồng của Chính phủ và Hồ Chủ tịch để họ từ bỏ con đường làm tay sai cho giặc, quay về phục vụ Tổ quốc, giống nòi. Có nơi như ở Võ Xá (Thừa Thiên), ta vận động được hội tề lập công chuộc tội. Ngày 13 tháng 7 lý trưởng Võ Xá lên đồn báo với Pháp «Việt Minh về” và dẫn quân giặc đi vào chỗ bộ đội, dân quân pbục kích. Kết quả ta diệt 33 lính Pháp, 15 lính ngụy, có tên trung úy Sa-vê bị bắt cùng 13 lính ngụy khác và một hạ sĩ quan Pháp, thu một trung liên, năm tiểu liên, chín súng trường.

Nhiều tên Việt gian đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân bị nghiêm trị, như tên Thái Nguyễn Trinh, tri huyện Hương Trà, hai anh em tên Lý Nhân ở Bảo Vinh. Tuy nhiên có nơi quá tả trong công tác phá tề như ở Hương Thủy (Thừa Thiên). Những biểu hiện sai trái đã được kịp thời uốn nắn, sửa chữa.

Nhằm tập trung chỉ đạo cuộc kháng chiến, ngày 28 tháng 7 ủy ban hành chính cấp khu, tỉnh, huyện, xã thành ủy ban kháng chiến hành chính. Trung ương đã chỉ định các đồng chí phụ trách:

— Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Khu, đồng chí Hồ Tùng Mậu.

— Ủy viên hành chính Khu, đồng chí Trần Hữu Dực.

— Ủy viên quân sự Khu, đồng chí Nguyễn Sơn.

—  Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên, đồng chí Hoàng Anh.

—  Chủ tịch tỉnh Quảng Trị, đồng chí Nguyễn Xuân Luyện.

— Chủ tịch tỉnh Quảng Bình, đồng chí Hoàng Văn Diệm.

— Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, đồng chí Trần Hữu Duyệt.

— Chủ tịch tỉnh Nghệ An, đồng chí Lê Viết Lượng.

— Chủ tịch tỉnh Thanh Hóa, đồng chí Đặng Việt Châu.

Để chỉ huy thống nhất các lực lượng đóng trong tỉnh, mỗi tỉnh có một ban chỉ huy tác chiến chung gồm:

— Chỉ huy trưởng: đồng chí trung đoàn trưởng.

— Chính trị viên: đồng chí chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh.

— Phó chỉ huy: đồng chí tỉnh đội trưởng.

Sự thống nhất ủy ban kháng chiến hành chính các cấp, sự chỉ huy thống nhất của ban chỉ huy tác chiến chung đã tăng cường hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến ở các địa phương ngày càng giành nhiều thắng lợi.
______________________________________________
1. Hội nghị cán bộ Khu 4 - 28 tháng 7 năm 1947. Lưu trữ Phông Khu 4, K4 Bộ Quốc phòng, hồ sơ 210, tờ. 18.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2024, 08:27:36 pm »


*

*           *

Ngay trong năm đầu kháng chiến, quân và dân ta đã phải trải qua những gian khổ và ác liệt về nhiều mặt. Âm mưu độc ác của đế quốc Pháp không những bắn giết nhân dân ta bằng bom, đạn mà chúng còn muốn làm cho nhân dân ta chết dần, chết mòn vì đói, rét, bệnh tật như tên tướng thực dân cáo già Lơ-bơ-rít tuyên bố: «Làm cho dân chúng chết đói để dễ bề cai tri». Ở Bình — Trị — Thiên, thôn xóm, nhà cửa bị đốt cháy gần hết. Dân sửa nhà, địch đốt phá, đồng bào làm đi làm lại năm, bảy lần vẫn không nản. Đồng bào nghĩ cách làm nhà tháo, lắp dễ dàng. Nhà gồm mấy tấm cửa, mấy tấm phên, mấy tấm tranh móc ráp lại. Khi giặc đến, nhân dân quẳng dưới ao hoặc ngoài ruộng, trên nền chỉ trơ mấy cái cột. Giặc phát hiện được vớt lên phá nát. Đồng bào vẫn kiên trì làm lại nhà. Hơn lúc nào hết tình làng, nghĩa xóm mặn nồng, chung thủy, bà con đi xa 10 đến 15 ki-lô-mét cắt giúp nhau ít tranh, hoặc giúp nhau một vài cây tre. Tuy nhiên ở nhiều nơi không thể làm được nhà như ở Phú Vang, Hải Lăng... nhiều gia đình phải ở ngoài bụi cây.

Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Cơm không đủ ăn, áo quần vá chằng vá đụp. Ngoài đồng vắng bóng người, vắng trâu, bò cày bừa. Địch cho xe ô tô chạy bừa lên ruộng lúa, giặc bắt tập trung lúa lên đồn và hạ lệnh: «Ai trữ lúa ăn quá ba ngày, bắn».

Quân địch còn bắt nhân dân đóng nhiều thứ thuế: Thuế đinh, mỗi người 20 đồng, thuế điền thổ, mỗi tháng 0,5 đồng một thước. Thuế ánh sáng, mỗi tháng năm đồng, thuế vệ sinh, mỗi tháng hai đồng, thuế xe kéo, mỗi tháng 20 đồng, v.v.

Địch bắt nhân dân phải tiêu bạc Đông Dương. Đồng bạc Việt Nam của ta bị địch xé, nhưng đồng bào vẫn tiêu dùng.

Đời sống nhân dân càng đói khổ bao nhiêu, đời sống bộ đội càng gian khổ bấy nhiêu. Thu đông 1947, bộ đội Bình - Trị - Thiên phải chịu đựng cái đói, cái rét ghê gớm. Thóc gạo không còn, ngô khoai chỉ có một ít, áo quần, chăn chiếu cũng không còn. Ở chiến khu Truồi (Thừa Thiên), địch phong tỏa mọi nẻo đường tiếp tế. Lương thực chỉ còn một ít ngô sắn. Áo quần rách như xơ mướp. Ban đêm phải đốt củi nằm cho ấm. Mặc dù đói, rét, anh em vẫn bám trụ, quyết giữ vững chiến khu. Ở chiến khu Hòa Mỹ, Ba Lòng, khẩu phần mỗi người một ngày chỉ được vài vắt cơm bằng quả trứng. Khi hết gạo, mỗi người chỉ được ăn vài khúc sắn nhỏ. Ghẻ lở đầy người. Chấy rận phát sinh nhiều.

Trong lúc cái đói, cái rét đang đe dọa nhân dân, bộ đội, giặc Pháp lại tập trung lực lượng mở rộng vùng chiếm đóng. Chúng củng cố Ba Đồn, đánh chiếm Hướng Phương, Tiên Lang, Cương Hà, Xuân Sơn, Hà Lồi, Troóc, làm bàn đạp đánh ra Hà Tĩnh, cắt đường tiếp tế của ta từ Nghệ Tĩnh vào Tuyên Hóa qua Ba Lùm, Ba Lòi, U Bò (nam Quảng Bình).

Để chi viện chiến trường Bình — Trị — Thiên, Khu ủy đã điều động nhiều đơn vị dân công chuyển hàng trăm tấn gạo vượt núi Ba Kền ra tiền tuyến. Đường xa, đi bộ, khi đến địa điểm quy định, chẳng những không còn gạo để tiếp tế cho chiến trường mà đoàn dân công phải nhận thêm gần chục tấn gạo của Quảng Bình mới đủ ăn dọc đường trở ra Hà Tĩnh.

Với tình nghĩa anh em ruột thịt, nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, hy sinh, cung cấp cho tiền tuyến Bình — Trị — Thiên đánh thắng. Tiếp tế đường bộ gặp khó khăn, khu ủy và Bộ chỉ huy Khu cho vận chuyển bằng đường biển. Mặc dù quân Pháp phong tỏa gay gắt, các đội vận tải thuyền buồm vẫn cập bến Hương Đạo (Lệ Thủy), Cương Gián, Thái Lai, Rạch Nước (Vĩnh Linh), Gia Đằng (Triệu Phong), Kẻ Môn, Đại Lược (bắc cửa Thuận An)... Ba tháng cuối năm 1947, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã chuyển được vào Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên trêu 100 tấn gạo, 320 tấn muối, 21.000 mét vải, 10.000 viên thuốc sốt rét, 300 súng trường, 35.000 quả lựu đạn, 200 đạn ba-zô-ka. Thanh Hóa còn ủng hộ 1.500.000 đồng. Hà Tĩnh và Nghệ An ủng hộ 2.700.000 đồng.

Để đảm bảo nguồn hậu cần tại chỗ của chiến tranh nhân dân, các cấp ủy đảng ở địa phương chủ trương động viên nhân dân và bộ đội cùng đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất kết hợp chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chiến đấu để bảo vệ sản xuất. Đẩy mạnh sản xuất để bồi dưỡng sức chiến đấu kháng chiến lâu dài. Dân quân xã không thoát ly địa phương, nòng cốt xung kích cả trong chiến đấu và sản xuất. Nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, quân và dân Bình — Trị — Thiên vượt qua nạn đói. Đêm đêm từng đoàn hàng mấy trăm người gánh gạo tiếp tế cho chiến khu.

Trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ ác liệt, quân và dân Khu 4 vẫn lạc quan, tin tưởng, duy trì nếp sống văn hóa vui tươi lành mạnh. Các lớp bình dân học vụ vẫn mở. Có lớp mở ngay gần vị trí địch. Nhân dân cảnh giác chu đáo để sẵn những dụng cụ kéo sợi, dệt vải, đánh cá, khi quân giặc đến, lớp học biến thành phường dệt vải hoặc đánh cá. Các sách báo vẫn ra đều đặn, truyền đi nhịp sống chiến đấu, sản xuất của quân và dân Khu 4. Giữa tiếng đạn nổ, bom rền, lời động viên cổ vũ thi đua ái quốc của Đảng, của Bác Hồ, của Khu ủy, của tỉnh ủy vẫn truyền đến tận từng chiến hào, thôn xóm, làng bản, cả vùng tự do và vùng địch tạm chiếm. Khu có báo Cứu quốc, Chiến sĩ. Thanh Hóa có Truyền tin, Chống giặc. Nghệ An có Truyền thanh, Kháng chiến. Hà Tĩnh có Thông tin, Gọi bạn. Quảng Bình có Truyền tin, Thống nhất. Quảng Trị có Tiếng vang, Địch vận, Người lính. Thừa Thiên có Giết giặc, Tiến quân.

Những ngày đầu kháng chiến, Khu 4 là nơi tập trung nhiều vẫn nghệ sĩ ở các tỉnh phía bắc. Nhiều bài hát ca ngợi cuộc kháng chiến thần thánh, tinh thần anh dũng chiến đấu, sản xuất, chi viện tiền tuyến của quân và dân Khu 4, có bài nổi tiếng như «Bình — Trị — Thiên khói lửa» của Nguyễn Văn Thương... Đại hội văn nghệ toàn khu cũng chỉ rõ: Văn hóa, văn nghệ phải đứng trên lập trường dân tộc, dân chủ theo phương châm «Dân tộc — khoa học — đại chúng», nên phong trào văn hóa, văn nghệ Khu 4 ngày càng đi đúng hướng, tích cực động viên quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh, Bình — Trị — Thiên hăng hái thi đua giết giặc lập công.

Qua một năm thử thách chưa từng có, với sự nỗ lực vượt bậc của cán bộ, đảng viên, bộ đội, nhan dân, lực lượng kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên đã dần dần hồi phục, đảng bộ các cấp đã từng bước củng cố, đội ngũ đảng viên được tôi luyện và phát triển.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2024, 08:29:56 pm »


Sau khi quân Pháp đánh chiếm Thừa Thiên, tháng 2 năm 1947 Đảng bộ Thừa Thiên còn trên 600 đảng viên, đến cuối tháng 9 năm 1947 có trên 1.100 đảng viên.

Chính quyền các cấp được củng cố và ngày càng được nhân dân tín nhiệm. Phần lớn ủy ban kháng chiến hành chính các xã ở ba huyện phía nam Thừa Thiên, nơi cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhất lại làm việc có nền nếp, tích cực chỉ đạo cuộc kháng chiến hết lòng phục vụ nhân dân.

Các lực lượng vũ trang được củng cố. Phần lớn các tiểu đoàn, đại đội được phân tán về các huyện, xã phối hợp với dân quân tự vệ, tổ chức thực hiện chiến tranh du kích ở cơ sở.

Trung đoàn Cao Vân được củng cố có đủ ba tiểu đoàn. Tiểu đoàn 18 trước đây chỉ còn hai trung đội, nay có bốn đại đội hoạt động ở khắp nam Thừa Thiên. Tiểu đoàn 17 có ba đại đội ra gần khu để huấn luyện. Tiểu đoàn 16 có một đại đội hoạt động ở huyện Hương Trà và Thuận Hóa, một đại đội tập trung huấn luyện. Đại đội biệt động và liên đội pháo tập trung xây dựng ở Hòa Mỹ bảo vệ chiến khu.

Tiểu đoàn tiếp phòng quân mang phiên hiệu tiểu đoàn 328 mặc dầu quân số ít, song vẫn có đủ biên chế bốn đại đội. Trung đoàn Thiện Thuật biên chế đủ ba tiểu đoàn 13, 14, 15.

Tiểu đoàn 15 đủ ba đại đội, tập trung xây dựng và bảo vệ chiến khu. Tiểu đoàn 14 cũng ba đại đội hoạt động vũ trang tuyên truyền ở hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Tiểu đoàn 13 có ba đại đội hoạt động ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ.

Tiểu đoàn Lê Trực (Quảng Bình) có tới sáu đại đội. Một đại đội hoạt động ở miền nam Quảng Bình (huyện Lệ Thủy, nam Quảng Ninh). Hai đại đội hoạt động ở khu vực giữa tỉnh (huyện Bố Trạch, bắc Quảng Ninh— Đồng Hới). Ba đại đội hoạt động ở miền tây (Quảng Trạch — Tuyên Hóa).

Các tỉnh đều có dân quân và dân quân thường trực. Mỗi huyện có từ một tiểu đội đến một trung đội dân quân thường trực (tỉnh Quảng Trị có một đại đội, huyện Lệ Thủy cũng có tới một đại đội).

Tuy vậy, bộ đội ta ở Bình — Trị — Thiên cũng chỉ bằng gần một nửa (43 phần trăm) so với số quân địch. Vũ khí của ta còn rất thiếu, ước tính chỉ bằng sáu phần trăm vũ khí của địch. Tính bình quân cứ ba chiến sĩ mới có một khẩu súng. Vũ khí nặng hầu như chưa có gì. Dân quân ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên cũng chỉ có trên 500 súng trường, 26 tiểu liên, 2.448 quả lựu đạn và trên 100 quả bom.

Tính từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đến ngày 31 tháng 11 năm 1947, các lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên đã chiến đấu trên 200 trận, tiêu diệt 5.000 tên địch. Bộ đội, dân quân, công an tích cực phá tề, trừ gian, đã thuyết phục được trên 800 hội tề không làm việc cho địch dưới nhiều mức độ, diệt trên 160 ban hội tề khác, nghiêm trị gần 1.500 tên Việt gian.

Cách đánh du kích của bộ đội, dân quân ngày càng linh hoạt. Các trung đoàn Cao Vân, Thiện Thuậl, tiểu đoàn Lê Trực liên tiếp tập kích, phục kích bao vây quấy rối địch. Chiến tranh du kích phát triển, làm cho địch mất ăn, mất ngủ. Bộ đội chủ lực có điều kiện xây dựng huấn luyện, chủ động tiến công địch. Ta giữ vững một số vùng đồng bằng đông dân; các khu du kích ở đồng bằng và ven đô thị xuất hiện; ta lại xây dựng nhiều căn cứ chiến khu; hình thái chiến tranh cài răng lược giữa ta và địch ngày càng rõ nét trên chiến trường Bình — Trị — Thiên. Ngày càng có nhiều đơn vị bộ đội, dân quân tự vệ đánh hay, đánh giỏi như tiểu đoàn 14 Quảng Trị, tiểu đoàn 18 Thừa Thiên, đại đội dân quân thường trực Lê Hồng Phong của Quảng Trị, làng chiến đấu Cự Nẫm ở Quảng Bình... Nhiều cán bộ, đảng viên kiên cường, dũng cảm làm rạng rỡ truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của quê hương. Đồng chí Phùng Đông, phó trung đoàn trưởng trung đoàn Cao Vân bị địch bắt. Chúng dùng mọi biện pháp dụ dỗ mua chuộc và tra tấn cực kỳ dã man nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết kiên cường và bất khuất. Đồng chí Trần Hồng Trường, bí thư huyện ủy Cam Lộ, một chiến sĩ cách mạng đã từng bị giam ở nhà tù Buôn Ma Thuột hăng say nhiệt tình, sâu sát cơ sở, góp phần quyết định giữ vững phong trào trong huyện trước sự khủng bố rất ác liệt của kẻ thù và đồng chí đã hy sinh anh dũng.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được phát huy ở mọi lứa tuổi, trên mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi.

Gia đình cụ Học, một cơ sở cách mạng ở thành phố Huế, bí mật nuôi các chiến sĩ «Quyết tử quân », để lực lượng này bất ngờ tấn công vào đồn địch, gây náo động ngay tại sào huyệt của chúng. Các mẹ ở Hương Thủy (Thừa Thiên), Ninh Lễ (Quảng Bình) cuốc đất, trồng khoai cấy lúa để nuôi bộ đội. Mẹ Hán1 cũng như nhiều mẹ ở Phong Điền (Thừa Thiên) nhường lon gạo cuối cùng nấu cháo nuôi bộ đội đánh giặc. Những cô gái Vân Kiều dùng gùi cõng chiến sĩ «Biệt động» đường số 9 bị thương, vượt qua đồn địch đưa về căn cứ an toàn. Những cô dân quân gan dạ chèo đò vượt qua bom đạn quân thù.

«Thuyền em lên xuống Ba Lòng
Chở anh bộ đội qua vùng chiến khu”

Em Hãn là chiến sĩ liên lạc của trung đoàn Thiện Thuật. Khi đồng chí chỉ huy và 25 anh, chị dân công vượt qua đoạn đường nguy hiểm, bất ngờ bị địch phục kích, em hô xung phong để kéo hỏa lực địch về phía mình. Đoàn cán bộ và dân công được an toàn, nhưng em Hàn đã anh dũng hy sinh.

Trải qua một năm chiến đấu kiên cường, quân dân Bình—Trị—Thiên đã lập công xuất sắc. Cuối năm 1947, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi thư khen ngợi:

«Các chiến sĩ thân mến.

Từ khi mặt trận lan rộng, quân địch ở Bình — Trị — Thiên chiếm đóng nhiều nơi... Các chiến sĩ đã gan dạ, chịu đựng mọi khó khăn để chặn sức tàn ác của địch. Các chiến sĩ đã thu được nhiều thành tích vẻ vang, song khó khăn vẫn còn nhiều.

«Các chiến sĩ.

... Muốn thắng phải noi gương Việt Bắc, phát động một phong trào du kích khắp nơi, chú trọng vũ trang tuyên truyền, phá các hội tề, tiến tới tiêu diệt các cứ điểm nhỏ hoặc lực lượng nhỏ của địch.

Mong rằng rồi đây, rất chóng, quân dân toàn quốc và riêng tôi, sẽ được thấy các chiến sĩ Bình — Trị—Thiên chiến thắng một cách oanh liệt»2.

Bức thư khen ngợi của Đại tướng Tổng tư lệnh gây một niềm phấn khởi, tin tưởng, động viên cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng vũ trang Bình—Trị—Thiên nói riêng, Khu 4 nói chung, hăng hái thi đua lập công trên tất cả các mặt. Lực lượng kháng chiến ngày càng trưởng thành, chiến tranh du kích trên đà phát triển. Quân Pháp không những phải đương đầu với hàng ngàn bộ đội chủ lực, hàng vạn dân quân tự vệ mà với cả sức mạnh hùng hậu của phong trào «Toàn dân đánh giặc».

Cùng thời gian này, sau thất bại ở Việt Bắc, quân địch buộc phải thay đổi chiến lược, kéo dài chiến tranh, «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt». Tuy nhiên ở Bình—Trị—Thiên lúc này, quân Pháp vẫn còn chiếm ưu thế về quân sự.
______________________________________________
1. Mẹ của đồng chí Nguyễn Chí Thanh.
2. Chiến trường Bình—Trị—Thiên, những ngày đầu kháng chiến. Nhà xuất bản Văn Sử Địa. Lưu trữ thư viện Nghệ Tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2024, 08:31:36 pm »


Đầu năm 1948, Trung ương Đảng ra chỉ thị thành lập Phân khu Bình—Trị—Thiên trực thuộc Khu 4. Đây là một chủ trương kịp thời, đúng đắn và sáng suốt. Trung ương chỉ định đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, làm Bí thư Phân khu ủy.

Bộ chỉ huy Phân khu Bình—Trị—Thiên chỉ đạo các trung đoàn chủ lực 101, 95, tiểu đoàn 274 cùng các lực lượng vũ trang địa phương hoạt động.

Cuối năm 1947, phiên hiệu các đơn vị có thay đổi, trung đoàn Cao Vân đổi thành trung đoàn 101, tiểu đoàn 16 thành tiểu đoàn 319, tiểu đoàn 17 thành tiểu đoàn 328, tiểu đoàn 18 thành tiểu đoàn 227. Trung đoàn Thiện Thuật đổi thành trung đoàn 95, tiểu đoàn 13 thành tiểu đoàn 301, tiểu đoàn 14 thành tiểu đoàn 302, tiểu đoàn 15 thành tiểu đoàn 310, tiểu đoàn Lê Trực thành tiểu đoàn 274.

Trung ương chỉ định đồng chí Vương Thừa Vũ làm Phân khu trưởng. Đồng chí Lữ Giang Chính trị ủy viên phân khu. Ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của phân khu được thành lập. Các đại đội quân báo, thông tin, bảo vệ và bệnh xá, xưởng quân giới là những đơn vị trực thuộc phân khu.

Trước sự phát triển chiến tranh du kích ở Bình—Trị— Thiên, giặc Pháp điên cuồng tổ chức nhiều cuộc càn quét quy mô lớn, chà đi xát lại từng địa bàn hàng tuần lễ như «Tuần lễ Lê Ninh» ở Quảng Bình, «Tuần lẽ Hải Lăng» ở Quảng Trị, «Tuần lễ Phú Vang» ở Thừa Thiên, hòng tiêu diệt bộ đội, cán bộ, đảng viên, dập tắt phong trào kháng chiến ở địa phương. Giặc Pháp ngày càng dùng nhiều thủ đoạn rất dã man, tàn bạo như chặt người ra nhiều khúc, bêu đầu ở chợ, chọc tiết mổ bụng, xé xác trẻ em, quẳng vào đống lửa, dùng giày đinh dẫm lên cụ già. Nhiều vụ thảm sát rùng rợn xảy ra.

Ngày 30 tháng 11 năm 1947, địch huy động trên 200 tên ngụy cùng lực lượng bảo vệ quân ở các đồn Phú Hòa, Xuân Hồ, Thượng Phong, Hòa Nam, Ba Đình, Hòa Lạc đánh vào các thôn Mỹ Trạch, Phú Chánh (Lệ Thủy), đốt trên 400 ngôi nhà, cướp thóc lúa, bắn chết trâu, bò. Chúng bắt 300 người dân chạy trên cầu rồi dùng súng liên thanh nhả đạn, bao nhiêu ông già, bà lão, phụ nữ, trẻ em chết nắm ngổn ngang trên cầu. Chúng còn cướp em bé chưa đầy một tuổi, cầm hai chân xé xác rồi quẳng xuống sông, mẹ em kêu thét, lại bị chúng bắn ngã gục ngay trên nền cầu. Nhiều gia đình ở Mỹ Trạch bị giết hết. Từ đó nhân dân vùng này lấy ngày đó là «Ngày căm giận».

Nước mắt còn chưa khô trên đôi má nhăn nheo của bà mẹ Quảng Bình, thì tội ác tầy trời của giặc Pháp lại trùm lên đôi vai gày của bà má Quảng Trị. Các vụ thảm sát rùng rợn ở Hải Châu, Hải Trình, Chợ Cạn lại xảy ra. Ở Chợ Cạn (Triệu Phong, Quảng Trị), quân Pháp dồn dân vào một cái đình rộng, khóa cửa đình lại rồi dùng liên thanh quét, giết trên 600 người dân, phần lớn là ông bà già, phụ nữ, trẻ em và đốt hơn 400 nóc nhà.

Ở Thừa Thiên đến tháng 10 năm 1947, giặc Pháp đã đốt trên 5.000 ngôi nhà, giết trên 2.000 người, hãm hiếp hàng ngàn phụ nữ1. Quân địch dùng các đội ứng chiến nhỏ kết hợp với quân chiếm đóng, càn quét khu du kích và vùng tự do ở đồng bằng Thừa Thiên, Quảng Trị, hòng khủng bố, tìm bắt cán bộ. Song các cuộc càn quét của địch dù tàn bạo đến đâu cũng như những cơn bão tràn qua, cuốn đi một số nhà cửa, làm gãy cây cối, phá hoại mùa màng, nhưng không đè bẹp được ý chí, lòng dân kiên định hướng về Cụ Hồ, hướng về kháng chiến.

Sau các cuộc càn quét ác liệt ở đồng bằng, cuối tháng 2 năm 1948, quân Pháp liên tục tiến công các chiến khu Bang, Rợn, LệThủy (Quảng Bình), Thủy Ba Thượng, Vĩnh Linh, Cẩm Phổ, Gio Linh, Cùa, Cam Lộ, Hòn Linh, Khe Mương (Quảng Trị), Hòa Mỹ, Lương Miêu (Thừa Thiên).

Lúc đầu địch dùng lực lượng khoảng một đại đội hoặc một trung đội, lợi dụng yếu tố bí mật bất ngờ, áp dụng chiến thuật cuốn chiếu, nhảy cóc, đánh nhanh, rút nhanh, càng về sau địch dùng lực lượng lớn hơn, có sức cơ động nhanh, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến. Ngoài lực lượng bộ binh, địch dùng từng trung đội hoặc đại đội bất ngờ nhảy dù xuống chiến khu. Các trận càn đều thất bại như trận càn vào chiến khu Hòn Linh.

Đêm 6 tháng 3, các đơn vị pháo binh địch ở Diên Sanh, Mỹ Chánh bắn mãnh liệt lên chiến khu Hòn Linh hòng chặn đường rút lui của quân ta. Sáng ngày 7 tháng 3, khoảng 500 quân chia làm ba cánh tiến công chiến khu. Tiếp đó năm chiếc máy bay da-cô-ta chở quân nhảy dù xuống xóm Nhà Gỗ, nơi Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu đóng.

Biết trước âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của địch, ta có kế hoạch chủ động đối phó nên lực lượng được bảo toàn. Các đơn vị chủ lực ở đồng bằng và tiền chiến khu chủ động tiến công địch trước lúc địch càn quét chiến khu. Phân khu chủ trương để một bộ phận ở chiến khu phối hợp với dân quân địa phương tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.

Sau các đợt càn quét, địch tuyên truyền rùm beng đã tiêu diệt hết cộng sản ở chiến khu, nhưng mánh khóe lừa bịp của chúng đã không qua tai mắt của nhân dân. Tỷ lệ thương vong của địch khá cao. Bọn chỉ huy Pháp phải công nhận: «Các chiến thuật cổ điển áp dụng từ trước đến nay, chiến thuật gọng kìm đánh chớp nhoáng, ô ạt, không có hiệu quả với rừng núi hiểm trở, với chiến thuật du kích vận động, với tinh thần cảm tử của đối phương».

Cùng với chỉ đạo các hoạt động chiến đấu quyết liệt ở tiền tuyến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Bộ chỉ huy Khu đã chú trọng xây dựng bộ đội ở hậu phương Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh để tiếp tục đưa các đơn vị được huấn luyện cơ bản toàn diện ra phía trước.

Để kiểm tra kết quả huấn luyện qua thực tế chiến đấu, đại đội 87 tiểu đoàn 400 trung đoàn 9 cùng một số cán bộ tham mưu từ Thanh - Nghệ - Tĩnh vào chiến trường Bình — Trị — Thiên. Khu còn cử đồng chí Trần Văn Quang, Chính trị ủy viên Khu trực tiếp chỉ huy để rút kinh nghiệm xây dựng, huấn luyện bộ đội.

Ngày 7 tháng 4 năm 1948, đại đội 87 phối hợp với một đại đội của trung đoàn 95 vận động phục kích đánh địch càn quét ở làng Đồng Dương (Quảng Trị). Sau một giờ ba mươi phút cán bộ chiến sĩ đại đội 87 đã mưu trí, dũng cảm chiến đấu, diệt gọn hai trung đội địch, trong đó có tên Mon-rê, đồn trưởng đồn Thê Chí Đông, bắt tám tù binh Pháp, năm lính ngụy và 16 hương vệ.

Trong những năm đầu kháng chiến ở chiến trường Bình — Trị — Thiên, chiến thắng Đồng Dương lúc này có ý nghĩa lớn về nhiều mặt. Tiếp sau Hộ Thành, Đất Đỏ, trận thắng Đồng Dương càng gây niềm tin tưởng trong nhân dân vùng địch tạm chiếm đối với kháng chiến, với cách mạng. Trận thắng Đồng Dương là một thực tiễn thành công về cách đánh thích hợp — du kích vận động chiến lừa địch ra ngoài đồn bốt để tiêu diệt gọn, bắt tù binh, thu vũ khí. Trận thắng Đồng Dương chứng tỏ: Khi tình hình quân địch ở Bình — Trị — Thiên còn có ưu thế về quân sự, lực lượng ta có hạn, nếu nắm vững quy luật hoạt động của chúng và có cách đánh thích hợp, bộ đội ta vẫn có thể chiến đấu đạt hiệu quả cao.

Đây là một thực tiễn sinh động, một bài học thiết thực, động viên cổ vũ các lực lượng vũ trang Khu 4 đẩy mạnh chiến tranh du kích ở Bình — Trị — Thiên phát triển. Chiến thắng Đồng Dương còn nêu lên một kinh nghiệm thực tiễn là vừa chiến đấu, vừa huấn luyện, kết hợp chặt chẽ chiến đấu và huấn luyện, huấn luyện và chiến đấu là một trong những quy luật hoạt động của quân đội ta trong chiến tranh.
_____________________________________________
1. Báo cáo của Ủy ban hành chính Khu 4, 1947. Cục lưu trữ Phủ Thủ tướng, hộp 12. hồ sơ 107, tờ 3.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2024, 09:35:50 pm »


III. XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG
CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ VÙNG TỰ DO

Sau khi sử dụng lực lượng lớn đánh chiếm Bình — Trị — Thiên, quân Pháp âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng cả về phía tây và phía đông của liên khu.

Ở phía tây Thanh — Nghệ — Tĩnh, chúng cho quân từ Lào sang tập kích vào các xã thuộc huyện Trường Xuân (Thanh Hóa), Tương Dương, Quỳ Châu (Nghệ An), Hương Khê (Hà Tĩnh), Tuyên Hóa (Quảng Bình), Hướng Hóa (Quảng Trị). Chúng cấu kết với bọn thổ ty, lang đạo phản động như Lê Xuân Kỳ, Lê Xuân Tín (Thường Xuân - Thanh Hóa), bọn phản động trong đảng «Bào ca» (tây Nghệ An) lập «Xứ Mường tự trị», «Xứ Thái tự trị».

Ở phía đông, từ ngoài biển chúng tập kích, bắn đại bác vào các xã ven biển thuộc huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Kỳ Anh (Hà Tĩnh), biệt kích đốt phá, thăm dò, tiêu diệt lực lượng ta.

Ở đồng bằng, giặc Pháp cấu kết với bọn phản động «Liên đoàn công giáo» thuộc địa phận Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, trung tâm chỉ huy là bọn phản động đầu sỏ đội lốt tôn giáo núp trong Tòa giám mục xã Đoài (Nghi Lộc) mua sắm vũ khí, luyện lập quân sự, chống đối chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng ngầm để khi có thời cơ làm tay sai đắc lực cho chúng đánh phá cách mạng.

Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Bộ chỉ huy Khu vừa chỉ đạo tiến công, bao vây quân Pháp ở Vinh, Huế, vừa chăm lo xây dựng lực lượng, củng cố bảo vệ vùng tự do ở Thanh — Nghệ — Tĩnh và cả ở Bình — Trị — Thiên, đảng bộ các tỉnh chuyển hẳn công tác tư tưởng, công tác tổ chức sang chỉ đạo chiến tranh. Chính quyền các cấp ngày càng được kiện toàn. Các đoàn thể thanh niên cứu quốc, nông dân cứu quốc, hội liên việt được củng cố và mở rộng, kết nạp thêm nhiều hội viên. Khối đoàn kết toàn dân trên địa bàn bắc Trung Bộ ngày càng vững chắc. Nhân dân đẩy mạnh công tác bố phòng, chống các cuộc đổ bộ, tập kích, nhất là các xã ven biển, cắm cọc ở các cửa biển, cửa sông lớn như Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Ròn, đào chiến hào xung quanh các đỉnh núi sát biển như ở Nghi Lộc, Quảng Xương. Để chống quân nhảy dù, nhân dân còn cắm chông tre vót nhọn lên tua tủa ở các bãi biển, các sân vận động và sân bay Yên Đại (Nghệ An). Các trung đoàn 57 (Nghệ An), trung đoàn 103 (Hà Tĩnh), trung đoàn 77 (Thanh Hóa) được bố trí ở các vung quan trọng ven biển như Kỳ Anh, Cầu Cấm, Cửa Hội, Cẩm Xuyên, Sầm Sơn, Tĩnh Gia để chống quân địch đổ bộ.

Song song, với cuộc chiến đấu quyết liệt ở Huế, ở cả Thanh - Nghệ - Tĩnh và Bình - Trị - Thiên toàn dân nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch, phá hoại để kháng chiến: “…Nếu nhà cửa kiên cố mà Pháp có thể dùng làm nơi căn cứ thì Pháp sẽ đem xe tăng, tàu thủy đến đánh ta, và chúng sẽ đốt phá cướp bóc sạch trơn... Bây giờ ta phải phá để chặn chúng lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng”1.

Các thành phố, thị xã, nhà máy, đường sá, các lô cốt cũ của địch đều bị phá hủy. Thành phố Vinh, thị xã Thanh Hóa, Hà Tĩnh thực hiện chủ trương triệt để tiêu thổ kháng chiến. Trên 11.000 ngôi nhà, trong đó có 301 ngôi nhà tầng ở thành phố Vinh, trên 10.000 mét vuông nhà tại thị xã Hà Tĩnh bị phá sập. Thị xã Thanh Hóa phá 30 công sở, trên 1.600 nhà có tầng và không có tầng. Nhiều gia đình cán bộ, bộ đội, nhân dân lao động tự nguyện phá những ngôi nhà của mình để vợ con ở thành phố, thị xã tản cư về quê để đi kháng chiến. Liên hiệp công đoàn các tỉnh tổ chức tháo gỡ máy mỏc, nguyên vật liệu, phá hoại để kháng chiến, di chuyển để xây dựng các xí nghiệp quốc phòng và phục vụ dân sinh. Liên hiệp công đoàn Nghệ An đã huy động hơn 45.000 công tham gia phá hoại thành phố Vinh và sân bay Nghi Lộc, đã chuyển trên 2.000 tấn máy móc, dụng cụ nguyên vật liệu từ đồng bằng lên vùng rừng núi. Liên hiệp công đoàn Thanh Hóa, Hà Tĩnh đã tích cực tham gia phá hoại thị xã Thanh Hóa, Sầm Sơn, mỏ Cơ-rôm (Cổ Định), thị xã Hà Tĩnh, nhà máy điện...

Các địa phương vừa đẩy mạnh công tác phá hoại vừa kết hợp tiến hành công tác phòng thủ. Các đường giao thông chiến lược quan trọng được phá hoại triệt để, không cho địch có đường để cơ động. Đường sắt từ Đồng Giao (Ninh Bình) đến Chu Lễ (Hương Khê - Hà Tĩnh) bị bóc hết thanh ray, tà vẹt. Nền đường bị đào sâu từng quãng, 45 cầu lớn dài trên 50 mét bị đánh sập. 77 đầu máy xe lửa, 750 toa tàu bị phá. Đường số 1 chạy từ Đồng Giao (Ninh Bình) đến Đèo Ngang (Quảng Bình) bị cắt từng đoạn từ hai đến ba mét, đào sâu từ một đến một mét rưỡi. Giữa ngã ba, ngã tư đường phố, các ụ chiến đấu, các lô cốt nổi lên với những lỗ châu mai hướng ra phía trước. Giao thông hào chằng chịt dọc ngang thành phố, thị xã.

Gắn liền với công tác phá hoại, việc tản cư, di chuyển được đẩy mạnh. Đông đảo nhân dân ở Bình — Trị — Thiên ở vùng địch tạm chiếm tản cư ra vùng tự do, một số đông tản cư ra Nghệ An, Hà Tĩnh. Người già, trẻ em tản cư, sơ tán đến những vùng không có chiến sự xảy ra. Nhân dân thành phố, thị xã tản cư về nông thôn, lên miền núi. Nhiều trại sản xuất được thành lập, Nghệ An có trại Thanh Sơn, Lê Mạc, Hà Tĩnh có trại Đá Bạc, Tây Hồ. Quảng Bình có hai trại nhưng bị quân địch uy hiếp, tiếp tế khó khăn, nên đồng bào tản cư được chuyển ra Hà Tĩnh. Bác Hồ căn dặn đồng bào “Kiên quyết tản cư», coi tản cư cũng là nhiệm vụ kháng chiến và gửi thư kêu gọi đồng bào ở hậu phương giúp đỡ đồng bào tản cư:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng»2

Theo lời Người, nhân dân các địa phương Khu 4 phát huy truyền thống tốt đẹp của con Lạc cháu Hồng, nêu cao tình hữu ái, tạo mọi điều kiện cho đồng bào tản cư nhanh chóng ổn định cuộc sống, bắt tay vào lao động sản xuất, tham gia kháng chiến.

Số người tản cư từ Bình - Trị - Thiên ra và từ Khu 3 vào Thanh - Nghệ - Tĩnh là 112.000 người, được trợ cấp 12 triệu đồng. Trên 4.000 Hoa kiều tản cư cũng được trợ cấp 12 triệu đồng.
______________________________________________
1. Hồ Chí Minh, Tuyển tập. Nhà xuất bản Sự thật. H.1960, tr. 256.
2. Những bức thư của Hồ chủ tịch (1947 — 1948), Sở thông tin Khu 4 xuất bản năm 1948, Lưu trữ Phòng lịch sử Quân khu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2024, 09:39:38 pm »


Giữa những ngày tích cực sôi nổi chuẩn bị củng cố mọi mặt, bảo vệ vững chắc vùng tự do, cán bộ, bộ đội, nhân dân tỉnh Thanh Hóa vô cùng phấn khởi được Bác Hồ về thăm từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 2 năm 1947. Đồng chí Bùi Đạt, bí thư tỉnh ủy; đồng chí Đặng Việt Châu, phái viên chính phủ; đồng chí Lê Chủ, chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh đi đón Bác. Trong buổi nói chuyện với đông đảo cán bộ và một số nhân sĩ, trí thức ở Thanh Hóa vào chiều 20 tháng 2, Bác căn dặn: «Tỉnh Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu. Lần sau về đây, tôi sẽ thấy mỗi người là một người kiểu mẫu»1.

Bác còn gửi thư thăm hỏi đồng bào thượng du Thanh Hóa;

«Cùng đồng bào yêu quý.

Tôi đến thăm Thanh Hóa, tôi định lên thăm đồng bào, nhưng vì có việc gấp phải trở về ngay, chưa lên được, tôi lấy làm tiếc. Lần sau có dịp tôi sẽ lên thăm các đồng bào. Lúc này toàn thể quốc dân ra sức chống giặc, cứu nước. Tôi chắc rằng đồng bào thượng du đã ra sức đoàn kết, chuẩn bị tham gia giết giặc cứu nước để giữ vững quyền thống nhất độc lập của Tổ quốc. Việc dìu dắt đồng bào thượng du, tôi trông cậy lòng ái quốc và sự hăng hái của các vị lãnh đạo»2.

Cũng trong dịp này, Bác gửi cho các đồng chí Trung Bộ một bức thư. Trong thư Bác căn dặn: «... ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau này: a) Địa phương chủ nghĩa. Chỉ chăm lo lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ... b) Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”. Người lại chỉ rõ: “... Vẫn biết các đồng chí Trung Bộ nói chung thì có nhiều ưu điểm như: nhẫn nại, chịu khó, kiên quyết, tháo vát, nhiều sáng kiến. Đó là những đức tính rất quý báu. Nó làm căn bản cho những tính tốt khác phát triển. Nhưng trong thời kỳ khó khăn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm ấy thôi cũng chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục cho những khuyết điểm vừa kể trên, thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi»3.

Nghiêm chỉnh thực hiện lời dạy bảo ân cần của lãnh tụ kính yêu, cấp ủy các cấp trong toàn khu đã phát động một đợt học tập sau rộng trong các đảng bộ. Từng đồng chí đã nghiêm khắc kiểm điểm bản thân và đề ra phương hướng khắc phục nhanh chóng và triệt để những khuyết điểm, giải quyết được những biểu hiện mất đoàn kết, bè phái, cô lập, hẹp hòi, cục bộ địa phương chủ nghĩa và đề cao tinh thần hy sinh của người cán bộ, đảng viên trước mọi gian khổ ác liệt.

Để đảm bảo sự chỉ đạo được kịp thời hơn, ngày 4 tháng 4 năm 1947, Chính phủ ra sắc lệnh lập Ủy ban hành chính miền thượng du Thanh hóa, với nhiệm vụ giúp Ủy ban hành chính tỉnh giải quyết các công việc ở sáu huyện miền tây: Ngọc Lạc, Lang Chánh, Thường Xuân, Bá Thước Quan Hóa, Cẩm Thủy trực tiếp động viên và tổ chức nhân dân chuẩn bị kháng chiến, đẩy mạnh sản xuất. Đồng thời chỉ thị cho các địa phương nghiêm trị những hành động chống đối của bọn thổ ty, lang đạo phản động như Lê Xuân Kỳ, Lê Xuân Tín, tri châu huyện Thường Xuân là Đạo Thắng, thổ ty Mường Đạt đang cấu kết với giặc lập «Xứ Mường tự trị». Để nghi binh lừa địch, Ủy ban kháng chiến tỉnh để Lê Xuân Kỳ làm chủ tịch Ủy ban hành chính miền thượng du, Phạm Thúc Tiêu làm phó chủ tịch, đồng chí Phạm Văn Bình làm ủy viên. Đạo Thắng làm chỉ huy trưởng ba đại đội dân quân thượng du, Lê Xuân Tín làm phó chỉ huy, đồng chí Trần Anh Sơn làm chính ủy (trên thực tế Kỳ, Tín, Tiêu, Thắng không có thực quyền. Mọi công việc vẫn do đồng chí Bình và đồng chí Sơn quyết định và giám sát bọn chúng). Tháng 8 năm 1947 ta giải phóng Hồi Xuân, La Hán, Cổ Lũng. Nhưng sau một thời gian, quân Pháp lại chiếm Hồi Xuân, Yên Khương, Bát Mọt. Ta bắt Hai Phìa và Đạo Thắng vì đã làm tay sai cho giặc.

Ở miền tây Nghệ An, bọn thổ ty, lang đạo phản động ở Tương Dương, Quỳ Châu bị nghiêm trị. Ở các vùng đồng bằng, ven biển Khu 4, âm mưu thủ đoạn thâm độc xảo quyệt của bọn phản động đội lốt tôn giáo cũng bị vạch trần. Tháng 6 năm 1947, năm tên cầm đầu bọn phản động ở Mậu Thôn phạm tội giết cán bộ, phá rối trật tự trị an ở địa phương, chống phá chính quyền cách mạng bị đội cảnh vệ của Ty Công an Thanh Hóa trấn áp. Bọn cầm đầu bị tòa án quân sự Khu 4 kết án tử hình. Tháng 9, bọn phản động ở Liên Sơn, Điền Hộ (Nga Sơn) giết bộ đội, bắt cóc cán bộ, thành lập đội tự vệ công giáo chống cộng cũng bị trừng trị, đội tự vệ này bị giải tán.

Qua phát động phong trào thi đua yêu nước, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, khối đoàn kết toàn dân ngày càng mở rộng. Mặt trận Liên Việt Khu 4 có gần 740.000 hội viên. Ngày 15 tháng 9, các nhân sĩ, công chức ở Nghệ An đốt sắc, bài ngà, «mề đay” do chính quyền thực dân, phong kiến cấp trước đây để tỏ thái độ đoạn tuyệt với chế độ cũ, quyết tâm đoàn kết kháng chiến.

Bộ chỉ huy khu 4 và các tỉnh rất quan tâm xây dựng phát triển các lực lượng vũ trang. Đến cuối năm 1947, khu 4 đã có trên 12.000 quân.

Trung đoàn 9 chủ lực có 4 tiểu đoàn: 256, 337, 409, 364 với gần 2.000 quân.

Trung đoàn 77 có hai tiểu đoàn: 355, 373 và ba đại đội trực thuộc với trên 1.600 quân.

Trung đoàn 57 có ba tiểu đoàn: 265, 418, 436 với trên 1.900 quân (tiểu đoàn 265 có một đại đội người Mẹo).

Trung đoàn 103 có hai tiểu đoàn: 391, 400 và hai đại đội trực thuộc.

Trung đoàn 95 có ba tiểu đoàn với 1.745 quân.

Trung đoàn 101 có ba tiểu đoàn với 1.111 quân.

Tiểu đoàn 274 có sáu đại đội với 938 quân.

Toàn khu có trên 250.000 dân quân và trên 5.000 dân quân thường trực.

Về lực lượng dân quân thường trực, Thanh Hóa có chín đại đội, Nghệ An bốn đại đội, Hà Tĩnh hai đại đội, mỗi huyện có một trung đội.
_____________________________________________
1. Lưu trữ Ban lịch sử quân sự Thanh Hóa.
2. Sở thông tin Khu 4 xuất bản năm 1948. Lưu trữ Ban lịch sử quân sự Thanh Hóa.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập. Nhà xuất bản Sự thật. H. 1984, t.4. tr 299 — 301.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2024, 09:43:11 pm »


Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, việc huấn luyện quân sự, chính trị được coi trọng. Bộ đội rèn luyện kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn động tác xung phong, hành quân ban đêm, chiến thuật cá nhân tập kích, phục kích. Về chính trị bộ đội học đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, bồi dưỡng lòng yêu nước, chí căm thù địch, học thuộc lòng «10 lời thề danh dự», «12 điều kỷ luật».

Dân quân học kỹ thuật cá nhân chiến đấu, các nội dung cần thiết về chiến thuật cá nhân, những quy định về phòng gian bí mật, vai trò nòng cốt xung kích trong chiến đấu và sản xuất.

Hệ thống tổ chức Đảng được kiện toàn từ Quân khu ủy, trung đoàn ủy, tiểu đoàn ủy đến chi bộ đại đội. Công tác phát triển Đảng được coi trọng. Ở các đơn vị bộ đội chủ lực toàn Khu có 129 chi bộ với trên 1.300 đảng vỉên. Tỷ lệ lãnh đạo 10 phần trăm. Chi bộ đại đội chiến đấu lấy tên gọi “Chi bộ chiến lũy”. Chi bộ đại đội 87, trung đoàn 95 có 65 đảng viên là chi bộ khá nhất. Các cấp ủy đảng địa phương trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xã.

Việc cung cấp ăn mặc của bộ đội do các địa phương đảm nhiệm. Nhân dân góp lúa, gạo nuôi bộ đội, cho bộ đội áo, quần, «mỗi xóm một bộ quân phục», «mỗi thôn một áo trấn thủ» trở thành khẩu hiệu hành động của nhiều vùng. Bộ đội đi chân đất, đội mũ lá, mặc áo vét, mang súng trường hoặc vác đại đao, mã tấu. Bộ đội còn tự sắm “bi đông ống tre”, «bát ống bương», “ba lô mây”, «giỏ lựu đạn tre».

Các trung đoàn tổ chức những đội nông binh để cố gắng tự túc một phần lương thực. Trung đoàn 57 có trại sản xuất ở Nghi Lộc, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, mỗi năm thu hoạch gần 50 tấn lúa.

Ngoài việc cung cấp về ăn mặc cho bộ đội, nhân dân Khu 4 còn hăng hái mua công phiếu, tích cực ủng hộ ban “Mùa đông kháng chiến” để lấy tiền ủng hộ bộ đội. Thanh Hóa ủng hộ 33.200 đồng, Nghệ An 880.000 đồng, Hà Tĩnh 910.000 đồng.

Các tầng lớp nhân dân ở các địa phương sôi nổi tham gia kháng chiến. Thanh niên hăng hái xung phong vào bộ đội. Vợ động viên chồng tòng quân, ông già, bà mẹ động viên con cháu đi giết giặc, cứu nước. Những biểu hiện trên ở khắp nơi, nói lên truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của quân và dân Khu 4. Mỗi lần Tổ quốc lâm nguy, truyền thống ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ, «Cả quê hương lên đường ra trận», khắp nơi rầm rộ ngày «Hội tòng quân».

Các cấp lãnh đạo và chỉ huy rất coi trọng giải quyết trang bị, vũ khí để nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn mọi mặt, Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu, các tỉnh ủy, tỉnh đội vẫn chăm lo xây dựng các công binh xưởng để sản xuất và sửa chữa vũ khí.

Ngay từ ngày toàn quốc kháng chiến, phong trào sản xuất vũ khí thô sơ đã sôi nổi khắp các địa phương. Ở đồng bằng người lột đường sắt đường tàu rèn thêm dao kiếm, kẻ biến đạn pháo lép của địch làm thành bom, mìn, địa lôi. Ở miền núi, nhân dân vót chông, làm cung nỏ có tẩm thuốc độc để bảo vệ làng bản.

Song song với công tác phá hoại ở thành phố, thị xã, hàng vạn công nhân, nhân dân lao động, với đôi vai khiêng vác, kết hợp phương tiện vận chuyển thô sơ đã chuyển hàng ngàn tấn máy móc nguyên vật liệu, trèo đèo lội suối, vượt hàng trăm cây số vào rừng già, hang sâu xây dựng công binh xưởng. Nhiều cán bộ, đảng viên, công nhân lành nghề, nhà trí thức tự nguyện lên rừng, đem hết nhiệt tình, sự hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ và khoa học kỹ thuật phục vụ kháng chiến. Đồng chí Đinh Văn Đức một đảng viên cũ của nhà máy Trường Thi, Xứ ủy viên Trung Kỳ từ năm 1930 — 1931, là khu ủy viên Khu 4 trực tiếp chỉ đạo ngành quân giới toàn Khu. Đồng chí Võ Quý Huấn, giám đốc xưởng đúc gang thuộc sở khoáng chất kỹ nghệ Trung Bộ đã tự chế ra chiếc máy tiện nhỏ đầu tiên phục vụ sản xuất vũ khí.

Nhiều cơ sở sản xuất vũ khí được xây dựng. Chấp hành chỉ thị của Ủy ban kháng chiến Trung Bộ, các đồng chí thành ủy Thuận Hóa (Huế) và sở hỏa xa đã lãnh đạo công nhân nhà máy điện, xưởng dạy nghề của Trường kỹ nghệ, phòng thí nghiệm của Trường Quốc học, xưởng sửa chữa cơ khí của Bộ điện, của Phường Đức ở thành phố, các nhà ga trên dọc đường xe lửa... tháo gỡ và di chuyển máy móc, dụng cụ, vật liệu ra Hương Khê (Hà Tĩnh). Tại đây Ủy ban Trung Bộ đã thành lập hai cơ sở sản xuất vũ khí là ATK1 (An toàn khu 1) và ATK2, sau đó xưởng Đội Quyên ở Đông Hà cũng chuyển ra xã Tiên Nông (Đô Lương — Nghệ An) lập xưởng quân giới Khu 4.

Khu còn có nhiều xưởng khác như: Xưởng Phủ Quỳ có trên 100 công nhân và xưởng Lê Đình Dụ (mang tên người công nhân ưu tú trong khi nghiên cứu cấu tạo đạn đã hy sinh) sản xuất đạn ba-zô-ka; xưởng Lê Viết Thuật có 100 công nhân, chuyên sản xuất các bộ phận trong lựu đạn và địa lôi. Xưởng Hoàng Hữu Nam đúc vỏ lựu đạn, sản xuất các loại dụng cụ rèn, dập để dập đạn AT, xưởng Quách Văn Cừ, sản xuất đạn AT và chế măng sông súng AT.

Các tỉnh có các cơ xưởng của địa phương như: Xưởng Cao Thắng (Thanh Hóa) sản xuất lựu đạn; xưởng Đặng Thái Thân (Nghệ An) sản xuất lựu đạn, các bộ phận thông thường của các loại súng trường, xưởng Trần Tảo (Quảng Bình) sản xuất mìn, lựu đạn, xưởng Hùng Việt (Quảng Trị) sản xuất lựu đạn, xưởng Phú Lâm (Thừa Thiên) sản xuất mìn, lựu đạn và sửa chữa các loại súng.

Ngoài ra các tỉnh còn có các công trường để sửa chữa súng, đạn, sản xuất lựu đạn cho các huyện như công trường Phan Bội Châu, Đội Cung (Nghệ An); công trường Minh Khai, Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh). Các trung đoàn có các kíp lưu động, mỗi kíp trên dưới 10 công nhân mang theo dụng cụ gọn nhẹ, các loại phụ tùng đi theo từng đơn vị để sửa chữa vũ khí hỏng hóc.

Để tập trung thống nhất chỉ đạo các xưởng sản xuất vũ khí đạn dược, ngày 12 tháng 8 năm 1947, Bộ chỉ huy quyết định sáp nhập các xưởng và chia thành bốn loại:

Loại 1: gồm năm xưởng lớn: Phủ Quỳ, Lê Đình Dụ, Hoàng Hữu Nam, Quách Văn Cừ, Huỳnh Thúc Kháng.

Loại 2: gồm 11 xưởng nhẹ như xưởng Thái Văn Lung, Phó Đức Chính, cơ khí quân cụ, v.v.

Loại 3: gồm các xưởng của các tỉnh như xưởng Hoàng Văn Thụ, Phạm Hồng Thái, v.v.

Loại 4: gồm các xưởng vũ khí của dân quân, sản xuất súng kíp, lựu đạn.

Bằng tinh thần yêu nước nồng nàn, trí thông minh sáng tạo, cán bộ công nhân ngành quân giới Khu 4 đã phát huy nhiều sáng kiến, sản xuất được nhiều loại vũ khí đạn dược rất cần thiết lúc bấy giờ như ba-zô-ka, lựu đạn, mìn, đạn đam1, cối 51 mi-li-mét… phóng bom bay xa 150 mét đến 200 mét. Nhân dịp vào kiểm tra Khu 4 đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng, sau khi nghe báo cáo và trực tiếp xem xét đã nhận xét: «Các công binh xưởng Khu 4 có năng lực sản xuất khá».
_______________________________________________
1. Đạn đam là đạn súng trường.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 09:45:42 pm »


*

*       *

Sau khi mở rộng chiến tranh ra ngoài các thành phố Hà Đông, Phủ Lý, Nam Định... cùng với việc chuẩn bị tiến công lên Việt Bắc, thực dân Pháp tổ chức một lực lượng đánh vào bắc Khu 4, địa bàn ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, nhất là Thanh Hóa có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Nhưng lúc này lực lượng chính trị, quân sự của ta ở đây còn yếu. Đồng chí Khu trưởng đề nghị với Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu dời cơ quan lãnh đạo chỉ huy Khu 4 ra Thanh Hóa để xây dựng lực lượng và trực tiếp sẵn sàng đối phó với âm mưu đánh phá của địch. Sau khi ra vùng Sim, Lai Triều (Nông Cống) Khu chủ trương đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công. Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, Khu lấy việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là khâu trung tâm. Bên cạnh lớp cán bộ cũ hoạt động lâu năm của Đảng, đã trải qua rèn luyện thử thách, giữ những cương vị chủ chốt. Lúc này đã có thêm một đội ngũ cán bộ mới, trẻ, khỏe, hăng hái, nhiệt tình cách mạng, được thử thách trong công tác, chiến đấu gian khổ ác liệt. Lớp cán bộ này được luân phiên nhau tập trung về Khu để bồi dưỡng một cách tương đối cơ bản, toàn diện, sát với thực tế chiến đấu, để trở thành những cán bộ có đạo đức và đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ.

Lớp bồi dưỡng cán bộ trung cấp đầu tiên thời gian sáu tháng, gồm 50 cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn bộ đội chủ lực, cán bộ chỉ huy quân sự địa phương cấp tỉnh và trưởng, phó phòng, cơ quan khu. Đồng chí Khu trưởng, đồng chí ủy viên chính trị Khu trực tiếp phụ trách các nội dung về quan điểm trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, về chiến thuật tập kích, phục kích «du kích vận động chiến», về tổ chức, xây dựng, quản lý bộ đội, chỉ huy tác chiến đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn.

Lớp bổ túc cán bộ đại đội gồm 120 đồng chí trẻ khỏe đã được thử thách, rèn luyện trong chiến đấu.

Khu ủy tổ chức lớp bồi dưỡng ngắn ngày các ủy viên thường vụ tỉnh ủy, thường trực ủy ban, cán bộ đầu ngành về đường lối kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ căn cứ Thanh — Nghệ — Tĩnh. Các văn nghệ sĩ, các nhà báo cũng được tập trung bồi dưỡng đường lối kháng chiến.

Cùng với việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, Khu chủ trương xây dựng trung đoàn 9 thành trung đoàn chủ lực mạnh của Khu. Cán bộ, chiến sĩ được học tập cách đánh tập trung tiểu đoàn, trung đoàn với chiến thuật tập kích, vận động phục kích, đánh địch phòng ngự. Ngày 29 tháng 11 năm 1947, các cán bộ thuộc lớp bổ túc cùng trung đoàn 9 tổ chức diễn tập hành quân chiến đấu, xuất phát từ Sim, tập đánh «địch» đồng thời phòng ngự rừng Thông, tổ chức phòng ngự Sầm Sơn, đánh địch đổ bộ vượt sông Ghép, đánh gặp địch ở Chuông, sau đó tập hành quân cấp tốc về Cổ Định.

Ngày 30 tháng 11, Khu mở «Đại hội tập» lần thứ nhất. Một đợt thi đua rèn luyện sôi nổi giữa cán bộ, chiến sĩ, giữa các đơn vị diễn ra trên tất cả các mặt: kỹ thuật, chiến thuật, công tác nuôi dưỡng quản lý bộ đội, công tác chính trị, văn hóa văn nghệ... Nhiều đơn vị lập được thành tích: trung đoàn 9 đoạt cờ «Gắng thắng». Đại đội Thanh Hóa đoạt cờ «Học giỏi”. Đại đội Hà Tĩnh đoạt cờ «Kỹ thuật giỏi».

Sau đại hội tập, Bộ chỉ huy phân công cán bộ trung cấp đi nhận nhiệm vụ ở các trung đoàn, các tỉnh. Ưu tiên các đơn vị phía trước, mỗi trung đoàn chủ lực ở Bình — Trị— Thiên được bổ sung từ 30 đến 40 cán bộ đại đội, trung đội trẻ, khỏe, đã qua bồi dưỡng tương đối cơ bản và toàn diện, làm nòng cốt để xây dựng đơn vị, thực hiện nhiệm vụ tác chiến năm 1948.

Ngày 4 tháng 1 năm 1948, đại đội bộ đội Việt kiều ở Xiêm1 về đến Cửa Rào (Nghệ An) tham gia kháng chiến. Đơn vị gồm 170 cán bộ, chiến sĩ mang theo bảy trung liên, 22 tiểu liên Sten, 18 các-bin.

Ngày 23 tháng 1, Chính phủ ra sắc lệnh hợp nhất các Khu thành Liên khu. Các Liên khu được coi như một đơn vị chiến lược hoàn chỉnh cả về chính trị, quân sự, kinh tế, hoạt động tương đối độc lập do Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu trực tiếp chỉ đạo. Khu 4 đổi tên thành Liên khu 4 (trong đó có Phân khu Bình — Trị — Thiên).

Cùng ngày, Bác Hồ gửi thư cho bộ đội và dân quân du kích tỉnh Nghệ An2:

«... Tôi gửi lời thăm bộ đội và dân quân du kích tỉnh Nghệ An». Trong thư Bác căn dặn: «Mong từ nay trở đi, anh em sẽ cố gắng tập luyện, học tập kinh nghiệm của các bộ đội khác. Từ cán bộ cho đến tất cả chiến sĩ khuyên gắng nhau, thi đua nhau, giúp đỡ nhau, cố sức làm thế nào cho kịp hoặc làm hơn những bộ đội khác trong cuộc luyện bộ đội lập chiến công. Tôi chờ kết quả thắng lợi của anh em, và gửi thư khen ngợi anh em, như tôi đã vui lòng khen ngợi những bộ đội đánh giỏi».

Lời dạy bảo của Bác đã ăn sâu vào tâm trí, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ. Các đơn vị đã tập trung nghiên cứu học tập, đề cao phê bình và tự phê bình, nghiêm khắc phê phán tư tưởng thái bình chủ nghĩa, duy trì tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 57 đã huấn luyện tốt, hăng hái xung phong vào chiến trường Bình—Trị—Thiên chiến đấu và lên miền tây, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ ác liệt, bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang. Dân quân tự vệ nòng cốt xung kích trong sản xuất, khắc phục dần hậu quả tai hại do bão lụt gây cho vụ mùa năm 1947.
______________________________________________
1. Tức Thái Lan.
2. Bức thư tự tay Hồ Chủ tịch đánh máy và giao cho thiếu tướng Trần Tử Bình, Phó tổng thanh tra quân đội quốc gia Việt Nam để chuyển cho toàn thể bộ đội và dân quân Nghệ An, nhân dịp đi thanh tra bộ đội Khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 09:51:35 pm »


Đầu năm 1948 Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương chỉ rõ: «Chiến địch Việt Bắc đã mang lại cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc ta một chuyển biến lớn... Năm nay quân và dân ta phải phá một cuộc tấn công mùa đông của địch, làm cho chúng thất bại nặng nề, nếu chúng đánh vào mấy tỉnh miền Bắc, Khu 4»1.

Thực hiện quyết tâm của Trung ương, Đại hội Đảng bộ các tỉnh kiểm điểm tình hình và đề ra các chủ trương, biện pháp củng cố xây dựng lực lượng, chi viện tiền tuyến, củng cố miền tây, phát triển kinh tế tự cung, tự cấp, sẵn sàng đối phó với âm mưu mới của địch.

Đại hội Đảng bộ Nghệ An, Hà Tĩnh đã bầu ra Ban chấp hành mới: Tỉnh ủy Nghệ An có 25 ủy viên, đồng chí Ngô Xuân Hàm làm bí thư tỉnh ủy, Hà Tĩnh có 15 ủy viên, đồng chí Hà Uyên làm bí thư.

Ở phía tây Nghệ An, dưới sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Liên khu, ban chỉ huy các mặt trận được thành lập. Ban chỉ huy mặt trận đường số 7 gồm đại diện trung đoàn 57 và đơn vị Liên quan Việt-Lào đóng tại Mường Xén; Ban chỉ huy mặt trận Quỳ Châu gồm đại diện đại đội 58, trung đội dân quân thường trực của huyện đóng tại thị trấn Kẻ Bọn.

Nhờ làm tốt công tác địch vận, (có 20 lính ngụy Lào làm nội ứng), bộ đội miền tây Nghệ An phối hợp với bộ đội giải phóng Lào, tấn công đồn Bản Na, bắt 20 tù binh, thu 20 súng trường và 30 súng kíp.

Cùng thời gian này, Đảng bộ Thanh Hóa động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế tự cung, tự cấp. Thanh Hóa được mùa, đảm bảo tự túc lương thực và chi viện chiến trường hàng ngàn tấn thóc. Công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả, phá tan âm mưu địch cấu kết với bọn thổ ty, lang đạo phản động lập "Xứ Mường tự trị". Số lang đạo tiến bộ như Phạm Thúc Tiêu, Phạm Bá Trình, chủ tịch huyện Quan Hóa ngày càng tích cực tham gia kháng chiến. Các dân tộc miền núi ngày càng đoàn kết xung quanh Đảng, Bác Hồ. Đồng bào theo đạo Thiên chúa ngày càng tin tưởng ở chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ, thấy rõ tội ác dã man của giặc.

Ngày 3 tháng 4 năm 1948, giặc Pháp khủng bố giáo dân xứ đạo Cồn Liêu (huyện Nga Sơn), giết 100 thanh niên, bắt 40 giáo dân, hãm hiếp nhiều bà xơ, cướp nhiều trâu bò, lợn, gà. Giáo dân rất phẫn uất, nguyền rủa bọn phản động đội lốt tôn giáo.

Để tổng kết và đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công, tháng 4 năm 1948, trên 230 cán bộ các trung đoàn, tiểu đoàn, các tỉnh đội, các phòng ban của cơ quan liên khu bộ về dự hội nghị. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Sơn, chủ trì hội nghị.

Hội nghị chủ trương:

— Đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở Bình—Trị—Thiên, sẵn sàng đánh bại âm mưu địch tiến công Thanh - Nghệ - Tĩnh.

— Tiếp tục đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công, tiến tới Đại hội tập lần thứ hai, xây dựng nhiều ngọn cờ "Học tập giỏi", "Chiến đấu giỏi", nhiều "Làng chiến đấu Cự Nẫm" ,v.v.

Để đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địa phương, Liên khu ủy, Bộ chỉ huy Liên khu chủ trương chia chiến trường Quảng Bình ra làm hai: Trung đoàn 95 (Phân khu Bình— Trị — Thiên), có thêm một đại đội bộ đội chủ lực Quảng Bình, phụ trách phía nam huyện Quảng Ninh và huyện Lệ Thủy. Trung đoàn 103 phụ trách mặt trận bắc Quảng Bình (từ Long Đại trở ra) đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy Liên khu. Hai tỉnh ủy Hà Tĩnh, Quảng Bình bàn bạc thống nhất kế hoạch lãnh đạo mặt trận, xây dựng và tác chiến. Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến Hà Tĩnh huy động nhân tài, vật lực phục vụ tiền tuyến2.

Trong đợt tác chiến đấu tiên, trung đoàn 103 đã giành được thắng lợi ở Minh Lễ, Tiên Lễ, Khương Hà, Thụ Lộc... đã ngăn chặn địch từ xa, phá âm mưu địch dùng bắc Quảng Bình làm bàn đạp đánh ra Hà Tĩnh.

Đi đôi với tăng cường lực lượng chiến đấu, Bộ chỉ huy Liên khu chỉ thị cho các xưởng, các địa phương đẩy mạnh việc sản xuất vũ khí để trang bị cho bộ đội ở phía trước.

Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1948, cơ xưởng Chu Lễ đã giao cho Quảng Bình 31 bức kích pháo, 1.220 quả lựu đạn, 300 súng kíp, 375 quả mìn.

Quảng Trị 18 bức kích pháo, 500 quả đạn, 80 quả mìn và 230 lựu đạn.

Thừa Thiên 16 bức kích pháo, 600 quả đạn, 21 súng kíp, 25 quả mìn, 666 lựu đạn.

Cùng thời gian này, hàng ngàn dân công Nghệ An, Hà Tĩnh vượt muôn vàn khó khăn, gian khổ, núi rừng hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt làm con đường xuyên sơn gần 200 ki-lô-mét từ Hà Tĩnh vào Quảng Bình, Quảng Trị để tiếp tế cho tiền tuyến.

Ở các mặt trận phía tây liên khu, các tiểu đoàn của trung đoàn 77, trung đoàn 57, trung đoàn 103, đại đội 6 Quảng Bình, đội biệt động đường số 9, Quảng Trị phối hợp với bộ đội giải phóng Lào đẩy mạnh tác chiến, vũ trang tuyên truyền, kịp thời trừng trị những hành động lấn chiếm của địch ở SầmTớ, Mường Dương, Noọng Hét, Ba-na-phào, Mụ Giạ.

Sự liên minh chiến đấu của bộ đội tình nguyện Việt Nam và các lực lượng vũ trang yêu nước Lào không những làm cho lực lượng kháng chiến ở Trung Lào được phát triển mà còn mở rộng vùng tự do miền tây Liên khu 4, ngăn chặn kịp thời âm mưu lấn chiếm của địch.
____________________________________________
1. Văn kiện quân sự của Đảng, 1945 — 1950, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, t. 2, tr. 278.
2. Tiểu đoàn 400 của trung đoàn 103, tiểu đoàn 346 của trung đoàn 57, tiểu đoàn 274 Quảng Bình, phối thuộc chiến đấu với trung đoàn 103.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 09:52:57 pm »


*

*       *

Ngay năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Liên khu 4 đã sớm bình thành ba vùng rõ rệt:

Thanh - Nghệ - Tĩnh là vùng tự do, không ngừng được xây dựng củng cố, phát triển lực lượng và thế trận, ngăn chặn âm mưu địch mở rộng chiến tranh.

Bình - Trị - Thiên là tiền tuyến quân và dân địa phương đã đương đầu một cách anh dũng với âm mưu bình định, khủng bố dã man tàn bạo của địch.

Miền tây Liên khu được cũng cố. Các lực lượng vũ trang sát cánh với bộ đội giải phóng Lào chiến đấu bảo vệ biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế.

Quân Pháp tập trung lực lượng lớn đánh chiếm Bình — Trị—Thiên, đã thiết lập được hệ thống chiếm đóng ở thành phố, thị xã, thị trấn, đường giao thông chiến lược quan trọng, một số vùng nông thôn, lập được ngụy quyền. Nhưng ta vẫn giữ vững vùng rừng núi và một phần vùng nông thôn, chiến tranh du kích được đẩy mạnh cả ở rừng núi và đồng bằng. Mặc đù quân Pháp đã cố gắng cao độ, song qua thực tế chiến đấu chứng tỏ sức mạnh của địch có hạn. Quân Pháp tuy đang còn ưu thế về quân sự, nhưng ngày càng bộc lộ nhiều mâu thuẫn, nhiều chỗ yếu, nhiều sơ hở.

Với thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt, giặc Pháp muốn dập tắt phong trào kháng chiến của nhân dân Bình— Trị —Thiên, dùng Bình — Trị —Thiên làm bàn đạp tiến công Thanh - Nghệ -Tĩnh, hòng thực hiện âm mưu chia cắt chiến lược Việt Nam và Đông Dương. Nhưng Khu 4 vẫn nối liền chiến trường phía bắc và chiến trường phía Nam, chiến trường bắc Trung Bộ với chiến trường Trung Lào.

Bước vào cuộc kháng chiến, các lực lượng vũ trang Khu 4 tuy có quyết tâm chiến đấu rất cao, nhưng ban đầu, bộ đội và nhân dân kể cả đội ngũ cán bộ lãnh đạo và chỉ huy còn ấu trĩ về kiến thức quân sự, vũ khí trang bị lạc hậu và thiếu thốn, nên đứng trước một quân đội xâm lược nhà nghề, đông về số lượng, có trang bị hiện đại, nhiều nơi ta bị tổn thất nặng.

Chiến đấu trên một địa bàn có nhiều khó khăn, địa thế dài và hẹp, kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, lại xa sự lãnh đạo của Bộ Tổng chỉ huy, các lực lượng vũ trang nhân dân Khu 4 đã luôn luôn nên cao tinh thần anh dũng sáng tạo, lại kịp thời đúc rút kinh nghiệm, xứng đáng là nòng cốt xung kích của toàn dân đánh giặc, đã cùng nhân dân bắt gọn bọn địch ở Vinh, bao vây quân địch ở Huế, chặn bước tiến của địch trên đường số 9, làm nhụt ý chí của địch mở rộng chiến tranh ra Thanh — Nghệ — Tĩnh, bảo vệ biên giới phía tây của Liên khu, thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Trung Lào.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu lúc mới mở đầu kháng chiến có nhược điểm, thiếu sót, nhưng ngày càng trưởng thành vững mạnh hơn đối với cả phía trước và phía sau, quốc gia và quốc tế. Ban chấp hành đảng bộ các tỉnh, cả Thanh - Nghệ — Tĩnh và Bình — Trị —Thiên đã quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn địa phương mình, giành nhiều thắng lợi. Đặc biệt các cấp ủy đảng ba tỉnh ở phía trước (Bình — Trị — Thiên) đã nêu cao ý chí quyết tâm, trách nhiệm nặng nề, trước vận mệnh Tổ quốc, trước đời sống nhân dân, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân, không đổ vấy trách nhiệm cho ai, nhưng cũng rất nghiêm khắc với nhược điểm, thiếu sót và thất bại, đồng thời cũng rất dũng cảm, vị tha và luôn luôn giữ vững lòng tin ở dân, dựa vào dân, lấy đạo lý quần chúng nhân dân làm gốc, bám dân phát động tinh thần yêu nước và ý chí anh hùng của nhân dân, trở về đồng bằng, khôi phục tinh thần kháng chiến, tinh thần tự lực tự cường, vượt qua chặng đường đầu tiên thử thách gay go, gian khổ và ác liệt để từ «Bình — Trị — Thiên khói lửa» vươn lên thành «Bình — Trị — Thiên quật khởi».

Những thắng lợi của cả năm 1947 và đầu năm 1948 trên đây là những thắng lợi bước đầu của phong trào kháng chiến ở bắc Trung Bộ, nhưng có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Đó là tiền đề cho quân và dân Liên khu 4 trong những năm tiếp sau vươn lên giành những thắng lợi lớn hơn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM