Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:25:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31250 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 10:15:47 pm »


CHƯƠNG III

ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN - BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG CHI VIỆN TIỀN TUYẾN (1948 - 1950)


Sau thất bại Việt Bắc, thực dân Pháp phải thay đổi chiến lược «đánh nhanh thắng nhanh» sang «đánh lâu dài», thực hiện chính sách «Dùng người Việt hại người Việt».

Để kịp thời lãnh đạo quân và dân cả nước đánh bại âm mưu chiến lược mới của địch, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng mở rộng từ ngày 15 đến 17 tháng 1 năm 1948 đã đề ra nhiệm vụ cho thời kỳ mới.

Về quân sự, Trung ương chỉ rõ: « ... phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là trong vùng địch kiểm soát, đồng thời tùy theo tình thế, tập trung đánh vận động, tiêu diệt địch... Xúc tiến việc luyện quân lập công».

Về chính trị, Trung ương chủ trương củng cố khối đoàn kết toàn dân, phát động rộng rãi phong trào thi đua yêu nước; vận động nhân dân ủng hộ Chính phủ kháng chiến, chống việc lập chính quyền bù nhìn Bảo Đại, phá tan âm mưu «Dùng người Việt hại người Việt» của địch.

Quán triệt những chủ trương lớn của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương mở rộng (1-1948), Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 4 họp tháng 5 năm 1948 đã tập trung đánh giá tình hình Bình - Trị - Thiên, phê phán nhận thức sai lầm và những biểu hiện của tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực trong cán bộ các cấp, nhất là trong một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt của Bình — Trị — Thiên.

Trước thế mạnh và những thủ đoạn càn quét ác liệt của địch, những tổn thất lớn của ta, một số cán bộ, đảng viên hoang mang giao động. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng, dân quân du kích mới xây dựng còn non yếu bị tê liệt. Trước tình hình nghiêm trọng ấy, lãnh đạo các cấp chưa kịp thời đề ra được những chủ trương thích hợp để ổn định tư tưởng, tổ chức, giữ vững phong trào kháng chiến, thậm chí có nơi bị tan rã.

Đại hội còn chỉ rõ: thủ đoạn chủ yếu của địch để bình định Bình - Trị - Thiên là càn quét, chà đi sát lại quyết liệt. Vấn đề đặt ra lúc này là phải lãnh đạo nhân dân vừa biết tránh giặc vừa biết kiên quyết đánh giặc, đánh bại thủ đoạn càn quét của địch.

Từ thực tiễn hơn một năm đối chọi với địch ở Bình — Trị — Thiên, Đại hội đề ra những nhiệm vụ và biện pháp cốt yếu để chống lại hành động càn quét của địch: Phải xây dựng cơ sở quần chúng, tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh, vận động toàn dân trực tiếp tham gia đánh giặc giữ làng. Phải trừng trị bọn Việt gian, giải tán hội tề, vận động binh sĩ địch. Phải duy trì phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, cũng như hoạt động quân sự phối hợp chặt chẽ giữa các vùng trong một khu vực, các chiến trường trong Liên khu với chiến trường toàn quốc, tránh để địch dồn lực lượng đánh phá từng khu vực một.

Chủ trương: «Toàn dân tham gia đánh giặc» xuất phát từ đường lối kháng chiến của Đảng và được rút ra từ thực tiễn phong trào chiến tranh du kích ở Bình - Trị - Thiên là một chủ trương đúng đắn, là «điều kiện căn bản để khôi phục và phát triển chiến tranh du kích ở Bình - Trị - Thiên trong giờ phút gay go nhất của hai năm 1947 — 1948»1.

Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, nhiệm vụ của các chiến trường trong Liên khu, Đại hội chủ trương:

Tất cả cho Bình — Trị — Thiên.

1. Đánh mạnh ở Bình — Trị — Thiên.

2. Thúc đẩy phong trào kháng chiến, đề phòng địch đánh Thanh — Nghệ — Tĩnh, tranh thủ thời gian chuẩn bị ráo riết...

3. Mở rộng Mặt trận Trung Lào.

Đại hội đã bàu ra Ban chấp hành Liên khu chính thức đầu tiên. Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất là sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của cuộc chiến tranh nhân dân ở Liên khu 4 và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Liên khu ủy.


I. PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TIỀN TUYẾN — XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG

Thực hiệu chủ trương của Đại hội Đảng Liên khu lần thứ nhất «Đánh mạnh ở Bình — Trị — Thiên», Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu quyết định mở đợt tác chiến ở Bình — Trị — Thiên, lấy mặt trận bắc Quảng Bình làm hướng chính, nhằm đánh bại kế hoạch phá mùa tháng 5 của địch, bảo vệ nhân dân gặt hái, thu giấu tài sản. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, gây dựng cơ sở, phát triển lực lượng, đưa phong trào chiến tranh du kích ở bắc Quảng Bình tiến kịp hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, giữ vững giao thông liên lạc Bắc — Nam, phá âm mưu của địch chiếm bắc Quảng Bình làm bàn đạp tiến công Hà Tĩnh.

Cùng với việc điều động tiểu đoàn 346 thuộc trung đoàn 57 (Nghệ An) vào phối thuộc trung đoàn 103 (Hà Tĩnh), Bộ tư lệnh quyết định giao cho ban chỉ huy trung đoàn 103 trực tiếp tổ chức chỉ huy mặt trận bắc Quảng Bình.

Chủ trương đưa các đơn vị ở hậu phương ra chiến đấu ở phía trước đã tạo cơ hội tốt để nâng cao trình độ chỉ huy và bản lĩnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời thông qua thực tiễn chiến trường để kiểm nghiệm kết quả xây dựng và huấn luyện của các đơn vị.

Đây cũng là hành động thiết thực biểu thị tình cảm sâu sắc và trách nhiệm của ba tỉnh hậu phương đối với Bình — Trị — Thiên.

Cuối tháng 6 năm 1948, các tiểu đoàn 274, 346 và 400 dưới sự chỉ huy của đồng chí trung đoàn trưởng Tùng Lâm đã phối hợp chặt chẽ với du kích và nhân dân các địa phương, đồng loạt tiến công vào các vị trí Ba Đồn, Thụ Lộc, Cự Nẫm (bắc Quảng Bình), buộc địch phải cấp tốc điều động quân từ Đồng Hới và Quảng Trị đến cứu nguy.

Đầu tháng 7, bộ đội ta bí mật luồn về đồng bằng sau lưng địch, tiến công các vị trí Sen Bàng, Hy Duyệt (bắc Quảng Bình), diệt và làm bị thương hàng trăm tên. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch vội vàng rút bỏ các đồn lẻ Khương Hà (Bố Trạch), Mỹ Đức (Lệ Thủy), Phú Kinh, Minh Lễ (Quảng Trạch). Địa bàn của ta được mở rộng ở nhiều nơi. Phạm vi chiếm đóng của địch ở bắc Quảng Bình bị thu hẹp.

Hòa nhịp với hoạt động của bộ đội miền núi và đồng bằng Quảng Trạch, Bố Trạch (bắc Quảng Bình), ngày 2 tháng 8, bộ đội chủ lực được sự hỗ trợ của tự vệ và nhân dân thị xã đã dùng bom bay và các loại vũ khí tiến công đánh phá thị xã Đồng Hới. Trước sự xuất hiện vũ khí mới của ta, giặc Pháp hoang mang, sợ hãi, vội vàng cho vợ con và ngoại kiều di tản vào Quảng Trị. Bọn tay sai ở nhiều nơi hốt hoảng, bí mật liên lạc với cán bộ, bộ đội, xin trở về với cách mạng.
_______________________________________________
1. Trần Văn Quang, Báo cáo kinh nghiệm kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên năm 1949, hồ sơ số 41, tr. 2, Kho lưu trữ Bộ Quốc phòng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 10:21:08 pm »


Lợi dụng lúc chủ lực ta đang cơ động tác chiến trên các địa bàn khác, ngày 12 tháng 7 giặc Pháp huy động 500 bộ binh phối hợp với quân nhảy dù dùng 28 xe, tám ca nô, tàu chiến với 11 lần chiếc máy bay yểm hộ, mở cuộc càn quét lớn vào khu vực Ròn, tiến công vào làng Cảnh Dương. Dựa vào hệ thống nhà cửa, đường sá, công sự, vật cản và thế trận bày sẵn, du kích cùng nhân dân đã bám trụ kiên cường, dũng vũ khí, bom mìn tự tạo đánh trả địch trong suốt một ngày, diệt 11 tên Pháp, trong đó có tên quan ba, không một tên nào lọt được vào làng. Ngày 13 tháng 7, quân Pháp phải rút khỏi khu vực Ròn.

Làng chiến đấu Cảnh Dương (Quảng Trạch) bắc Quảng Bình đã trở thành một trong những làng chiến đấu anh hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bằng thực tiễn chiến đấu, nó gợi lên một bài học sâu sắc: Với diện tích chưa đầy một ki-lô-mét vuông và số dân không đông, vũ khí rất thô sơ, lại ở vào một địa hình không thuận lợi (làng ven biển) nhưng nhờ có sự chỉ đạo chặt chẽ thống nhất, có quyết tâm chiến đấu rất cao, biết xây dựng thế trận làng xã vững chắc, dựa vào hệ thống hầm hào, công sự, cây cối, hào rãnh vật cản, lực lượng chiến đấu tại chỗ của một làng chiến đấu vẫn có thể đánh lui được cuộc tiến công của địch có trang bị hiện đại, giữ vững được làng xóm.

Sáng 10 tháng 8, tại Tiên Lương (bắc Quảng Bình) tiểu đoàn 274 phối hợp với một bộ phận của tiểu đoàn 400 (trung đoàn 103) do tham mưu trưởng tiểu đoàn Lê Bá Huyện chỉ huy đã vận động phục kích quân địch đi quan sát khu vực Tiên Dương, phá hủy năm xe jeép, diệt 17 tên, trong đó có 14 tên Pháp (một cấp tá, ba cấp úy) và ba tên cầm đầu ngụy quyền địa phương (tên Nguyễn Nhơn tỉnh trưởng, Nguyễn Toan phó tỉnh trưởng bù nhìn Quảng Bình và tên huyện trưởng bù nhìn Quảng Trạch).

Đây là lần đầu ta diệt bọn đầu sỏ ngụy quyền cấp tỉnh. Thắng lợi Tiên Lương của ta đã gây tâm lý giao động đối với hệ thống ngụy quân, ngụy quyền các cấp trong toàn tỉnh. Nhân dân ta phấn khởi, hả lòng vì đã trừ khử được bọn bán nước nguy hiểm. Với thắng lợi này, ta đã chặn đứng được cuộc tiến công càn quét lớn của địch mà chúng dự định.

Sau gần 80 ngày đêm liên lục tiến công, quân và dân bắc Quảng Bình được sự chi viện của các tỉnh hậu phương, trực tiếp là Hà Tĩnh đã kết thúc thắng lợi, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch, thu hàng chục súng các loại, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, mở rộng địa bàn hoạt động của ta ở vùng đồng bằng.

Thắng lợi ấy đã góp phần chặn đứng âm mưu của địch chiếm bắc Quảng Bình làm bàn đạp tiến công Hà Tĩnh và các tỉnh phía bắc Liên khu.

Cùng thời gian trên, được sự chỉ đạo của Phân khu ủy và Bộ chỉ huy phân khu, quân và dân Quảng Trị, dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Lê Nam Thắng và chính ủy Lê Chưởng đã mở một đợt tác chiến phối hợp với mặt trận bắc Quảng Bình. Bằng những trận phục kích, vận động phục kích, địa lôi chiến... Bộ đội và dân quân Hướng Hóa liên tục đánh phá đường số 9, phá hủy hàng chục xe quân sự của địch tiếp tế vũ khí lương thực, thực phẩm cho mặt trận Trung Lào.

Ngày 23 tháng 6 một trung đội của trung đoàn 95 phục kích địch tại cầu Độc Mạch, diệt và bắt sống 13 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí và một xe công binh.

Ngày 7 tháng 7, tại An Đôn, tiểu đoàn 302 vận động phục kích đánh địch đi lùng, diệt bốn tiểu đội địch, bắt 20 tù binh, thu hàng chục súng, chặn đứng cuộc càn quét của địch.

Ngày 14 tháng 7, nhân ngày lễ quốc khánh Pháp, tại đồn Đập Huyện ta bố trí hai chiến sĩ gái gánh rượu, thịt vào khao tiệc quan, lính trong đồn. Khi bọn địch đã ăn uống no say, nhận được tín hiệu của ta từ trong đồn, tiểu đoàn 302 dưới sự chỉ huy trực tiếp của chính ủy Lê Chưởng và trung đoàn phó Phùng Thế Bằng đã ập vào đồn bắt gọn cả đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí không tốn một viên đạn, bốn sĩ quan Pháp đều bị bắt.

Ngày 9 tháng 8, tại ki-lô-mét 16 đường số 9, đại đội du kích Lê Hồng Phong phối hợp với một bộ phận thuộc trung đoàn 95 phục kích đoàn xe của địch, phá hủy và phá hỏng 13 xe, diệt 25 tên, thu 30 súng các loại. Đại đội du kích Lê Hồng Phong đã từng lập chiến công vang dội trên đường số 9, ghi thêm một chiến tích mới, xứng đáng với danh hiệu cao quý «Đơn vị kiểu mẫu của Liên khu 4» mà Hồ Chủ tịch trao tặng.

Phát huy đà thắng lợi, ngày 20 tháng 8 tại đèo Tân Lâm (đường số 9) trung đoàn 95 vận động phục kích đánh một đoàn xe vận tải của địch tiếp tế cho chiến trường Trung Lào, phá hủy, phá hỏng 16 xe, diệt và bắt sống 30 tên Pháp, thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng.

Để bảo vệ đội hình chiến đấu của trung đoàn, đại đội phó Hồng Vân chỉ huy một tiểu đội, bí mật đưa hai khẩu trung liên áp sát sân bay Đông Hà, bất ngờ bắn rơi tại chỗ một máy bay trinh sát, khi nó vừa rời khỏi đường băng, góp phần chi viện và cổ vũ bộ đội trong trận đánh này.

Đây là trận vận động phục kích giao thông quy mô cấp trung đoàn đầu tiên trên chiến trường Bình — Trị — Thiên. Thế trận được triển khai trên một tuyến dài hơn ba ki-lô-mét, có sự tham gia của nhiều lực lượng, đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất1. Tuy hiệu quả chiến đấu chưa cao nhưng đã thể hiện bước phát triển mới của bộ đội chủ lực phân khu về năng lực, tổ chức chỉ huy, về trình độ hợp đồng tác chiến cũng như bảo đảm hậu cần.

Sau trận Tân Lâm, địch phải dừng một thời gian để đối phó với chiến thuật phục kích giao thông của ta2.

Các hoạt động liên lục và có hiệu quả của trung đoàn 95, đại đội du kích Lê Hồng Phong đã góp phần làm suy yếu lực lượng quân Pháp ở Trung Lào, tạo điều kiện để quân và dân địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích, chặn đứng âm mưu của địch dùng Trung Lào làm bàn đạp tiến công Bình —Trị —Thiên.

Tại Thừa —Thiên, trung đoàn 101 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Hà Văn Lâu và chính ủy Trần Quý Hai, đã mở một đợt tác chiến phối hợp với mặt trận bắc Quảng Bình và Quảng Trị nhằm trực tiếp phá âm mưu chính trị của địch, đưa Phan Văn Giáo lên làm «Tổng trấn trung phần Việt Nam»3.

Ngày 27 tháng 6, tiểu đoàn 319 do chính trị viên Quách Sĩ Kha, tiểu đoàn trưởng Vương Tuấn Kiệt chỉ huy, bí mật hành quân vượt phá Tam Giang kỳ tập vị trí Mỹ Lợi. Được nhân mối làm nội ứng, tiểu đoàn hình thành nhiều mũi, đồng loạt xung phong vào đồn. Bị đánh bất ngờ. địch rối loạn, chống cự yếu ớt. Ta vừa đánh vừa gọi hàng. Sau một giờ chiến đấu ta diệt và bắt gọn toàn bộ quân địch, lôi kéo được sáu hàng binh Đức.
______________________________________________
1. Trận này trung đoàn 95 lần đầu tiên đã dùng điện thoại để chỉ huy đơn vị tham gia trận đánh.
2. Sau trận này, quân Pháp phải thay đổi thủ đoạn và quy luật hành quân vận chuyển. Từ những đoàn xe 20 — 30 chiếc trước đây, nay phải tăng lên 40 — 50 chiếc, có xe bọc thép, pháo binh và không quân hộ tống.
3. Ngày 21 tháng 6 năm 1948, Phan Van Giáo làm lễ chiêu bài tại điện Thái Hòa (Huế) nhận chức Tổng trấn trung phần Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 10:26:19 pm »


Đi đôi với tác chiến ở đồng bằng, ta đẩy mạnh hoạt động ở đô thị. 12 giờ ngày 16 tháng 6, một bộ phận trung đoàn 101 đột nhập vào thành Huế, dùng AT, ba-zô-ka, súng máy tiến công kho xăng, nhà ga, bắn cháy nhà chứa quân đụng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ta rút lui an toàn.

Ngày 9 tháng 7, tiểu đoàn 319 tổ chức kỳ tập đồn Hà Thanh huyện Phú Vang1. Tại dây, địch có 50 ngụy binh, phần lớn là thanh niên theo đạo Thiên chúa giáo do tên Thanh, trung úy linh mục phụ trách. Lợi dụng giáo lý, lòng tin của con chiên và sức mạnh của vũ khí, tên này ra sức kìm kẹp khống chế nhân dân, đánh phá phong trào chiến tranh du kích, gây nhiều tội ác đối với đồng bào trong vùng. Thường vụ huyện ủy Phú Vang yêu cầu tiểu đoàn 319 diệt đồn này để tạo điều kiện phát động phong trào quần chúng. Ta dùng Kê Men, một hàng binh người Đức giác ngộ, đã từng lập công trong trận Cầu Nhi, đóng vai sĩ quan Pháp, cùng 30 chiến sĩ cải trang thành ngụy binh lập mưu buộc bọn lính gác mở cổng đồn. Ta nhanh chóng ập vào đồn, nổ súng tiến công quân địch. Bị đánh bất ngờ, tên Thanh lẩn trốn, bọn địch không dám chống cự. Ta diệt 44 tên, thu một trung liên, 34 súng trường, cùng nhiều đạn dược, giải thoát bảy cán bộ bị chúng giam giữ, mọi tài sản thuộc nhà thờ vẫn được giữ nguyên vẹn. Nhân dân trong vùng phấn khởi hăng hái tham gia kháng chiến. Đồng bào công giáo càng hiểu rõ chính sách tự do tín ngưỡng của Chính phủ kháng chiến, cảm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm, kỷ luật nghiêm minh của bộ đội Cụ Hồ.

Sau trận diệt đồn Hà Thanh, trung đoàn 101 còn đánh thắng liền hai trận: Phục kích đánh chìm 14 đò lớn chở 150 tấn lương thực tại cửa Tư Hiền và trận vận động chiến đánh địch đi càn ở Dưỡng Mông (Phú Vang).

Trước sự tiến công dồn dập của quân dân Bình — Trị —Thiên, bọn chỉ huy Pháp ở trung phần Việt Nam ra lệnh cho quân lính canh gác nghiêm ngặt, tăng cường công sự phòng ngự, đào hầm tránh bom bay trong thành phố, rút chủ lực ra ngoài đề phòng ta tiến công. Đồng thời rút bỏ một loạt vị trí ở đồng bằng như Hà Thanh, Xuân Thiện, Trung Hà, Hòa Phú Đông, Quảng Xuyên, để tăng cường cho các vị trí xung yếu.

Ngày 27 tháng 9, tên thiếu tá Nguyễn Ngọc Lễ, tổng chỉ huy bảo vệ quân ở trung phần Việt Nam báo cáo lên bộ chỉ huy Pháp và thủ hiến trung phần: «Hai tháng nay tình hình bốn tỉnh (Bình — Trị — Thiên và Quảng Nam) rất nghiêm trọng. Việt Minh hoạt động ráo riết, lấy hét đồn này đến đồn khác và hoạt động cả ban ngày giữa tỉnh lỵ mà quân ta không đủ quân số và vũ khí để đối phó»2. Y khẩn khoản đề nghị: «... Cho 1.000 súng tay và súng máy, đóng thêm đồn ở tỉnh để giữ đất đai đã chiếm được và để «bảo vệ quân» khỏi thất bại. Nếu không giải quyết thì an ninh và trật tự không giữ nổi, nhiều làng mạc sẽ rơi vào tay Việt Minh...”.

Đi đôi với tiến công quân sự, ta đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, nhằm đập tan hệ thống ngụy quyền tay sai ở cơ sở. Để thực hiện chính sách bình định, quân Pháp đánh chiếm đến đâu liền xây đồn lập bốt, thiết lập ngụy quyền tay sai đến đấy. Giữa năm 1948, tại Bình — Trị — Thiên địch đã tổ chức được hệ thống ngụy quyền từ tỉnh đến thôn gồm hơn 1.347 ban hội tề. Chúng dùng hội tề để gây cơ sở chính trị và thanh thế cho chính quyền bù nhìn, động viên tinh thần ngụy quân, lừa bịp dân chúng, chia rẽ lương giáo, chia rẽ nhân dân với bộ đội, nhân dân với chính quyền cách mạng, tổ chức các đảng phái phản động, tuyển mộ ngụy binh, thân binh bổ sung cho quân đội ngụy, làm tai mắt dò xét cơ sở, lực lượng và các hoạt động của ta, làm công cụ để thu thuế, vơ vét của cải và phá hoại, bóp nghẹt kinh tế kháng chiến.

Nhận rõ âm mưu thâm độc của giặc Pháp và tác hại của hội tề, ta chủ trương vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa phối hợp với dân quân du kích, công an hỗ trợ quần chúng phá tề, diệt ác, thành lập chính quyền nhân dân. Tính đến năm 1948 ta phá được ba phần tư số hội tề của địch ở Bình —Trị —Thiên. Riêng Quảng Trị phá được 230/280 hội tề, Thừa Thiên phá 390/490 ban hội tề. Cuộc đấu tranh trên mặt trận này diễn ra hết sức dai dẳng và quyết liệt. Nhiều nơi ta vừa phá xong, địch lại quay về đàn áp nhân dân, khủng bố cán bộ, phá nát cơ sở, lập lại ngụy quyền tay sai. Có nơi ta phải phá đi phá lại ba đến bốn lần. Nhiều cán bộ cơ sở của ta bị bắt, bị giết. Thâm độc hơn, chúng còn lập hội tề bí mật, tề “hai mặt» để đối phó với ta. Những nơi lực lượng ta mạnh, chúng đặt trụ sở hội tề ở gần đồn, ngày hoạt động, tối rút vào ngủ trong đồn.

Từ kinh nghiệm thực tiễn của Bình — Trị — Thiên, Liên khu chủ trương phá tề thành từng đợt đều khắp ở ba tỉnh, tránh địch tập trung khủng bố từng nơi.

Tháng 8 năm 1948, Liên khu ra lệnh tổng phá tề lần thứ nhất. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các tỉnh ủy, được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân vùng tạm bị chiếm ở cả ba tỉnh Bình — Trị — Thiên đồng loạt nổi dạy phá kìm, diệt ác, quét tề trên nhiều vùng rộng lớn. Khí thế cách mạng của quần chúng sôi nổi như những ngày tổng khởi nghĩa, 80 phần trăm hội tề ở Bình - Trị — Thiên bị giải tán. Chính quyền nhân dân thôn, xã lần lượt ra đời.

Cuối năm 1948, Trung ương lại ra lệnh tổng phá tề. Các tỉnh Bình — Trị — Thiên tiếp tục tổng phá tề lần thứ hai, 95 phần trăm hội tề bị giải tán3. Các Ủy ban kháng chiến thành phố Huế, thị xã Đồng Hới... được thành lập lại và tiếp tục hoạt động, nêu cao vai trò, uy tín của chính quyền cách mạng.

Chủ trương «Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung» cùng với cuộc vận động «Diệt tề, trừ gian» là yếu tố quan trọng hàng đầu trong những năm 1947— 1948, đưa phong trào kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên vững bước đi lên, thực sự trở thành một cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện, bền bỉ, kiên cường4.
______________________________________________
1. Tại đây địch dùng nhà thờ đóng đồn.
2. Từ tháng 6 đến tháng 8, quân và dân Bình — Trị — Thiên đánh 57 trận, diệt gần 500 tên (có 350 Pháp), làm bị thương hơn 110 tên (có 50 Pháp), bắt 112 tên (có 13 Pháp), 10 hàng binh Đức, An-giê-ri, diệt tỉnh trưởng, tỉnh phó Quảng Bình, thu 252 súng, phá hủy, phá hỏng 44 xe bọc thép và xe quân sự các loại, bắn rơi hai máy bay, một đầu máy xe lửa, phá sập bảy cầu, đánh chìm 14 đò chở lương thực.
3. Trong ba tháng 10, 11, 12 năm 1948, Bình — Trị — Thiên phá tan 432 ban hội tề, trong đó giải tán 271, thuyết phục 123, bắt truy tố 38, thu 136 mộc triện, diệt và bắt 40 tên phản động, trong đó có Hoàng Công Trường, Lam Sơn và Cao Hữu Thưởng trong hội đồng chấp chính trung phần Việt Nam, bắt hơn 300 tên gián điệp, trong đó có tên Đặng Thuận Chi, trưởng tình báo quân sự tỉnh Thừa Thiên.
4. Trần Văn Quang, Báo cáo kinh nghiệm kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên, năm 1949, Hồ sơ 42, tr. 2, Kho lưu trữ Bộ Quốc phòng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 10:27:43 pm »


Để củng cố tinh thần ngụy quân, ngụy quyền sau các đòn tiến công quân sự và cuộc tổng phá tề của ta, từ giữa tháng 9 đến thượng tuần tháng 12 năm 1948, thực dân Pháp liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét vào căn cứ của phân khu và của các tỉnh, nhằm tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến, tiêu diệt chủ lực, hòng đè bẹp sức kháng chiến của Bình — Trị — Thiên, khôi phục lại ngụy quyền ở những nơi vừa bị mất.

Mở đầu chiến dịch, từ ngày 17 đến ngày 25 tháng 9, địch điều bốn tiểu đoàn từ Đà Nẵng, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, cùng 10 máy bay, 100 xe quân sự, năm ca nô, 100 đò, chia thành nhiều mũi, theo đường bộ và đường sông càn vào chiến khu tỉnh Quảng Trị và căn cứ của phân khu.

Trước cuộc tiến công ồ ạt của địch, để bảo vệ chiến khu, Ủy ban kháng chiến Phân khu kịp thời chỉ đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân mở một đợt tác chiến phối hợp trên toàn phân khu nhằm kìm chân, phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến khu chống phá cuộc càn quét của địch.

Tại Chiến khu Ba Lòng, trong tình huống hết sức khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ cơ quan đã bình tĩnh sơ tán tài liệu, chuyển thương bệnh binh, kho tàng vào sâu trong rừng; đồng thời tổ chức chiến đấu, phối hợp với đại đội trợ chiến 127 và trung đội cảnh vệ chặn đánh địch.

Dân quân du kích tiền chiến khu dùng mìn, địa lôi, lựu đạn phục kích đánh địch ở ngã tư Làng Am, Trường Phước, Ba Lòng, Phuớc Môn, Cùa, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch.

Đòn đánh trả của quân và dân phía trước chiến khu đã làm giảm cường độ và tốc độ tiến công của địch, góp phần bẻ gẫy cuộc càn của chúng, bảo vệ an toàn cơ quan tỉnh và phân khu.

Nắm vững thời cơ lúc địch rút lui, tinh thần mệt mỏi, chủ quan, tại Bến Đuồi, đại đội 127 trợ chiến (trung đoàn 95) và trung đội cảnh vệ do trung đoàn phó Phùng Thế Bằng chỉ huy, chặn đánh địch trên đoạn sông từ Bỏng đến Chủ Cá, Bãi Dài, Khe Trái, bắn chìm 40 đò, một ca nô, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Phối hợp với bộ đội ở chiến khu, bộ đội chủ lực cùng quân dân du kích trên cả ba tỉnh Bình-Trị-Thiên ráo riết hoạt động khắp nơi, diệt nhiều toán địch đi lùng sục, phục kích đánh giao thông, quấy rối các vị trí, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền, hỗ trợ nhân dân phá tề, trừ gian, làm rối hậu phương địch. Ta đã diệt hơn 300 tên, làm bị thương 150 tên.

Thắng lợi của ta trong việc đánh trả có hiệu quả cuộc càn quét quy mô lớn của địch, càng khẳng định vai trò hết sức quan trọng của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đồng thời cũng chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của phân khu và trình độ phối hợp tác chiến của các lực lượng vũ trang trên địa bàn ba tỉnh Bình - Trị - Thiên đã có bước tiến mới.

Đầu tháng 12 năm 1948, thực dân Pháp lại ráo riết chuẩn bị tiến công Troóc nhằm cắt đường giao thông liên lạc duy nhất của ta từ Thanh— Nghệ — Tĩnh vào Bình — Trị—Thiên và Trung Lào.

Làng Troóc là một căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Bình, nằm giữa một thung lũng hẹp ở miền tây-bắc của tỉnh, trên tuyến giao thông liên lạc Bắc Nam. Do có vị trí hết sức quan trọng đối với sự sống còn của các huyện miền tây bắc Quảng Bình, tây nam Hà Tĩnh, cũng như trong việc bảo đảm giao thông liên lạc Bắc-Nam nên Troóc đã trở thành một «quyết chiến điểm» quyết liệt giữa ta với địch trong nhiều năm.

Sáng ngày 10 tháng 12 năm 1948, lực lượng địch gồm 200 tên được không quân, pháo binh yểm hộ tổ chức hai gọng kìm tiến công vào Troóc. Để phòng ta đánh trả, địch bắt hàng trăm đồng bào đi trước đội hình tiến công để làm bia đỡ đạn cho chúng.

Dân quân du kích địa phương dùng vũ khí thô sơ tự tạo dũng cảm đánh trả địch, diệt 25 tên (có 13 tên Pháp).

Sau khi chiếm Troóc, với ý định chốt giữ lâu dài, địch gấp rút sửa chữa tỉnh lộ số 2, bắc cầu phao qua sông Xuân Sơn, xây dựng sân bay dã chiến, hệ thống công sự, trận địa cố thủ.

Ngày 19 tháng 12, Hội nghị Liên khu ủy mở rộng đã phân tích ý đồ của địch và hậu quả nghiêm trọng do cuộc tiến công của chúng gây ra và quyết nghị phải tổ chức đánh bật địch ra khỏi Troóc, khai thông đường liên lạc Bắc —Nam.

Ngày 25 tháng 12, hai đại đội thuộc trung đoàn 103 phối hợp với dâu quân du kích tiến công quân địch ở Troóc, diệt 18 tên Pháp và lê-dương. Tuy nhiên, do lực lượng địch còn đông, lại có hệ thống công sự vững chắc, lực lượng ta có hạn, thiếu hỏa lực, nên ta chưa đủ sức đẩy chúng ra khỏi vị trí. Tình hình đó đã gây cho ta nhiều khó khăn trong việc liên lạc tiếp tế từ Hà Tĩnh vào Quảng Trị, Thừa Thiên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 10:29:52 pm »


Đầu năm 1949, thực dân Pháp tổ chức những đợt vận chuyển lớn tiếp tế vũ khí, lương thực cho Quảng Trị, Quảng Bình và Trung Lào. Bộ chỉ huy Phân khu chủ trương tổ chức những trận đánh giao thông nhằm vào các đoàn tàu chở vũ khí quan trọng của địch, phá kế hoạch chuẩn bị của chúng, lấy vũ khí trang bị cho các đơn vị, cổ vũ các đại đội độc lập và các lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến, tạo ra bước phát triển mới trong phong trào chiến tranh du kích toàn phân khu.

Căn cứ vào ý định và quyết tâm của Bộ chỉ huy Phân khu, trung đoàn 101 quyết định chọn Hói Mít làm điểm tiến công đoàn tàu địch.

Hói Mít nắm trên tuyến đường sắt Đà Nẵng — Huế, cách ga Lăng Cô hai ki-lô-mét về phía bắc, kẹp giữa phá Lăng Cô đường số 1 và dải núi trùng điệp ở tây - tây nam. Địa hình có nhiều thuận lợi cho ta, song cũng thuận lợi cho địch trong việc cơ động lực lượng đến phản kích khi bị tiến công.

Sáng ngày 12 tháng 1 năm 1949, đoàn tàu chở vũ khí của địch được bộ binh và cơ giới yểm hộ, lọt vào trận địa phục kích của ta. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Trần Sâm, bộ đội ta đã dũng mãnh xông thẳng ra mặt đường, đánh chiếm đoàn tàu của địch. Dựa vào quân đông, hỏa lực mạnh, bọn địch trên tàu ngoan cố chống cự rất quyết liệt, cản được nhiều mũi xung phong của ta. Nhưng ta tập trung hỏa lực bắn mạnh vào toa chỉ huy, nhanh chóng đánh chiếm các toa khác. Bọn địch trên các toa lần lượt đầu hàng.

Trên hướng quốc lộ số 1, một bộ phận của ta đã kịp thời xung phong giáp lá cà, cắt đứt đội hình địch đi hộ tống, diệt hàng chục tên, đốt cháy nhiều xe. Bọn sống sót vứt súng chạy tán loạn.

Sau hơn một giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên, thu 10 trung liên, 30 tiểu liên, 180 súng trường, phá hỏng một đại bác 75 mi-li-mét, phá hủy hàng ngàn khẩu súng, 80 tấn đạn các loại, một đầu máy, 17 toa xe (bốn toa chở đạn)1.

Được tin đoàn tàu bị tiến công, địch lập tức điều quân ứng chiến liên tỉnh từ Huế, Đà Nẵng đến tiếp viện. Một bộ phận của ta bị địch bao vây bốn mặt. Suốt hai ngày liền bộ đội phải nhịn đói, chịu khát, bí mật giấu quân trong các rừng cây, bờ bụi dưới tầm pháo địch. Sang đêm thứ hai, được sự giúp đỡ của du kích và nhân dân, đơn vị đã bí mật luồn sát nách địch thoát vây về chiến khu Phú Lộc an toàn.

Hói Mít là trận phục kích tiêu diệt gọn của quân và dân Thừa Thiên, có sức cổ vũ mạnh mẽ quân và dân toàn liên khu. Đối với địch đây là một tổn thất lớn về vũ khí và phương tiện chiến tranh trong một trận đánh trên chiến trường Bình — Trị —Thiên từ trước đến nay.

Với chiến thẳng này, quân dân Thừa Thiên đã phá được kế hoạch tiến công của địch ngay trong giai đoạn chuẩn bị của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân dân Bình — Trị — Thiên, Trung Lào đánh thắng nhiều trận tiếp sau.

Sau trận thất bại Hói Mít, tên phó tư lệnh trung phần Việt Nam, Đờ La-rốc (De Larque) phải cấp tốc chỉ thị cho binh sĩ «Phải tiết kiệm đạn dược và vũ khí». Thời kỳ này mật độ sử dụng hỏa lực của địch ở Bình — Trị — Thiên giảm đi rõ rệt. Đại bác của chúng không còn thường xuyên bắn vào chiến khu như trước nữa.

Cay cú trước thất bại trong những ngày đầu năm, từ ngày 17 tháng 1 đến ngày 24 tháng 2 năm 1949, địch tập trung 500 rồi 2.000 quân, có máy bay, tàu chiến yểm hộ mở bốn cuộc càn quét vào vùng đồng bằng các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang (Thừa Thiên), Hải Lăng, Triệu Phong (Quảng Trị).

Sau đợt tổng lùng ở đồng bằng, địch tập trung lực lượng càn quét lên chiến khu.

Từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 14 tháng 3, địch huy động 2.000 quân, có không quân yểm hộ, mở cuộc tiến công vào Chiến khu Thừa Thiên, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của phân khu và gây ảnh hưởng cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại.

Chúng tiến công ba mặt: một mũi từ Động Truồi lên Khe Su, Ly Hy theo đường số 14 Khe Tro; một mũi từ Tuần theo sông Hữu Trạch tiến vào Bình Điền; một mũi từ Gia Lễ tiến lên Dương Hòa, Lương Miêu án ngữ phía trước chiến khu.

Nắm vững âm mưu thủ đoạn của địch, phân khu kịp thời chỉ đạo các cơ quan và nhân dân sơ tán, hạn chế tổn thất do địch gây ra, đồng thời chỉ đạo các lực lượng vũ trang toàn phân khu đánh địch rộng khắp, nhằm phá cuộc càn của địch, bảo vệ các cơ quan ở chiến khu.

Các đại đội độc lập của trung đoàn 101 phối hợp chặt chẽ cùng quân dân toàn tỉnh liên tục đánh địch đều khắp. Nổi bật là tiểu đoàn 319 đã bí mật luồn về sau lưng địch đánh trận vận động chiến ở Đôn Trì (11-3) làm cho địch bị bất ngờ, lúng túng.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, ngày 18 tháng 3 đại đội 1 dân quân tỉnh Thừa Thiên độc lập tác chiến, kết hợp tiến công quân sự với địch vận diệt gọn đồn Vân Trình. Toàn bộ bọn chỉ huy đồn đều bị diệt. Ta thu 41 súng, hơn một vạn viên đạn các loại. Với số vũ khí này, đại đội 1 dân quân không những tự trang bị đầy đủ cho mình mà còn chi viện đáng kể cho lực lượng du kích địa phương. Đây là đơn vị dân quân mạnh, có trình độ tác chiến giỏi, có khả năng độc lập tác chiến diệt gọn từ một đến hai trung đội địch trong một trận đánh.

Sau 20 ngày phối hợp chiến đấu bảo vệ chiến khu, quân và dân Thừa Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu 350 tên địch (có một quan tư, một quan ba, một quan hai). Cuộc tiến công của địch lên chiến khu không thực hiện được mục tiêu đề ra.
______________________________________________
1. Do không nắm được khối lượng vũ khí chở trên tàu, nên ta không bố trí đủ lực lượng thu chiến lợi phẩm, buộc phải hủy bỏ phần lớn số vũ khí, đạn dược thu được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2024, 10:31:22 pm »


Để đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở thành phố, thị xã, biến hậu phương an toàn của địch thành tiền phương của ta, phân khu sử dụng trung đoàn 95 tập kích vào Đông Hà — một thị xã nằm ở trung tâm Bình — Trị— Thiên, đồng thời là căn cứ hậu cần của địch tiếp tế cho cả Quảng Bình, Quảng Trị và Trung Lào.

Kế hoạch kỳ tập thị xã Đông Hà được dự kiến như sau: Tiểu đoàn 302 và 310 (thuộc trung đoàn 95) bí mật ém quân sát thị xã. Cùng lúc, cho một trung đội hàng binh Đức giác ngộ do Kê-men chỉ huy, cải trang thành đội lê-dương vào doanh trại địch cướp lấy xe bọc thép. Sau đó dùng xe bọc thép yểm hộ cho tiểu đoàn 302 đánh địch và chốt giữ thị xã. Tiểu đoàn 310 cùng hai tốp xe bọc thép, chia thành hai mũi đánh chiếm Cam Lộ, Đầu Mầu, Ba Dốc, Chợ Cầu. Đại đội du kích Lê Hồng Phong phối hợp với du kích Triệu Phong cắt đứt cầu Lai Phước và Ái Tử, ngăn chặn cơ giới địch từ Quảng Trị ra tiếp viện. Nếu tình hình phát triển thuận lợi, ta giải phóng và làm chủ hai huyện Cam Lộ, Gio Linh một thời gian.

Đêm 20 tháng 3, tiểu đoàn 302 và 310 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng 95 bí mật triển khai đội hình chiến đấu tại vị trí quy định. Cùng thời gian, Kê-men chỉ huy trung đội hàng binh Đức — trong tư thế của đội lê-dương đi tuần — theo đường số 9 vào trại lính địch trong thị xã Đông Hà, chiếm được hai xc bọc thép trực chiến của địch1 cơ động ra khỏi doanh trại, đón được một đại đội của tiểu đoàn 302. Tranh thủ yếu tố bất ngờ, ta nhanh chóng tiến công một số vị trí địch trong thị xã. Bị đánh bất ngờ, bọn chỉ huy địch hoảng hốt ra lệnh tắt điện và báo động chiến đấu toàn thị xã.

Phát hiện lực lượng ta không lớn và chỉ hoạt động trên một hướng, địch liền điều động lực lượng ra phản kích. Lúc này hai đại đội còn lại của tiểu đoàn 302 bị lạc vẫn chưa vào kịp. Đại đội vào trước của ta rơi vào tình thế khó khăn, phải vừa đánh trả vừa rút lui. Kê-men nhanh chóng cơ động hai xe bọc thép lên đường số 9 tiến công vị trí địch ở ki-lô-mét số 7. Nhưng bọn địch ở đây đã được báo động, tập trung hỏa lực chống trả quyết liệt. Biết không còn yếu tố bất ngờ nữa, Kê-men cùng trung đội hàng binh chủ động hủy xe và rút lui.

Cùng thời gian, tiểu đoàn 310 và các phân đội tham gia trận đánh, biết việc không thành đều rút lui theo kế hoạch đã định, ta diệt 54 tên, phá hủy hai xe bọc thép AM.

Do tư tưởng chủ quan, giản đơn, đánh giá sai lực lượng và ấu trĩ về nghệ thuật tác chiến, trận đánh vào thị xã Đông Hà đã không thực hiện được mục đích đề ra. Nhưng hành động táo bạo của quân ta đã có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào kháng chiến tại các thành phố, thị xã, làm náo động hậu phương địch và làm khủng hoảng thêm tinh thần chiến đấu vốn đã sa sút của bọn ngụy quân, ngụy quyền.

Trước đà tiến công dồn dập của quân ta, tháng 3 năm 1949, Bộ chỉ huy Pháp ở trung phần Việt Nam ra lệnh tăng cường các biện pháp kiểm soát và phòng thủ các thành phố, thị xã cùng lúc rút 14 đồn lẻ: Đá Đen (Bố Trạch), Thế Chi Đông, Lãnh Thủy, Đại Lộc (Quảng Điền), Chợ Phiên (Cam Lộ), Vân Cự (Hương Trà), Mỹ Lợi, Phú An (Phú Lộc), Quảng Xuyên (Phú Vang)... và rút thêm quân các nơi về tăng cường cho các thành phố, thị xã và các vị trí quan trọng.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất, được Thanh-Nghệ-Tĩnh tích cực chi viện, quân và dân Bình-Trị-Thiên đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, khẩn trương xây dựng lực lượng, đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự, chính trị, kinh tế, từng bước đánh bại mọi thủ đoạn của địch, đưa phong trào kháng chiến ở ba tỉnh tiền tuyến của liên khu vững bước đi lên. Thắng lợi đó trong năm 1948 là cơ sở vững chắc để quân dân Bình — Trị—Thiên tiếp tục tiến lên giành thắng lợi mới trong năm 1949, đồng thời góp phần cùng quân dân liên khu chặn đứng âm mưu của địch đánh chiếm Thanh—Nghệ—Tĩnh, bảo vệ vững chắc hậu phương trực tiếp của chiến trường Bình — Trị — Thiên và cũng là một hậu phương của chiến trường Bắc Bộ, bắc Đông Dương.
_____________________________________________
1. Ta chỉ lấy được hai xe bọc thép trực chiến (trong tổng số bảy xe), năm xe khác địch dùng xích sắt khóa cố định tại chỗ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2024, 10:22:36 pm »


*

*       *

 

Đi đôi với việc đánh chiếm ba tỉnh Bình—Trị—Thiên, thực dân Pháp âm mưu đánh chiếm ba tỉnh Thanh—Nghệ — Tĩnh nhằm phá một nguồn cung cấp nhân tài, vật lực của ta, chia cắt chiến trường Đông Dương, biến hậu phương ta thành nơi cung cấp sức người, sức của cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng.

Ở phía bắc liên khu, địch chiếm phan lớn địa bàn Liên khu 3, phía nam chúng chiếm Bình-—Trị—Thiên, phía tây chúng xây dựng hệ thống cứ điểm dọc biên giới Việt — Lào, phía đông liên khu, tàu chiến địch thường xuyên tuần tiễu, bắn phá, ngăn cản mọi hoạt động của ta trên biển và tổ chức nhiều cuộc đổ bộ bất ngờ vào vùng ven biển. Không quân địch có bọn phản động mặt đất chỉ điểm, liên tục trinh sát, đánh phá, khống chế đường bộ, đường biển, bến bãi, kho tàng, cơ sở sản xuất và khu vực dân cư. Chúng còn lén lút tung nhiều toán gián điệp, biệt kích từ biển vào, từ Bình—Trị—Thiên ra, dò la, nắm tình hình, móc nối xây dựng các tổ chức phản động trong các đảng phái tôn giáo, âm mưu phá ta từ bên trong, bí mật xây dựng bộ máy ngụy quyền tay sai ở một số địa phương, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng làm nội ứng. Chúng còn thường xuyên tung tin đồn nhảm, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, kích động chia rẽ lương giáo, gây hiềm khích giữa đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số...

Quán triệt chủ trương của Trung ương «Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của địch ở Bắc Bộ và Liên khu 4»1. Đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất (Tháng 5 năm 1948) quyết nghị: «Thúc đẩy phong trào kháng chiến, dành nhiều thời gian chuẩn bị ráo riết ở Thanh—Nghệ —Tĩnh». Nhiệm vụ trung tâm trước mắt của ba tỉnh hậu phương là: «chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, phải đánh thắng ngay từ trận đầu».

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng Liên khu, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh khẩn trương xây dựng làng chiến đấu, tổ chức bố phòng ven biển, sơ tán các kho thóc gạo về những nơi an toàn, đề phòng địch cướp phá và kịp thời phục vụ tại chỗ cho bộ đội. Các cơ quan, công xưởng sắm vũ khí, tự trang bị chiến đấu.

Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh, huyện tổ chức luyện tập theo các phương án dự kiến và bố trí lực lượng ở các vùng trọng điểm mà địch có thể tập kích bất ngờ.

Công tác phòng tránh máy bay, chống tập kích đường không, đường biển, chống gián điệp được liên khu đặc biệt chú ý, có kế hoạch cụ thể cho từng địa phương, đơn vị. Hàng vạn hầm trú ẩn cá nhân và hàng ngàn mét giao thông hào, hàng trăm trạm gác, chòi quan sát máy bay được triển khai khắp nơi. Đồi hoang, cồn cát, bãi bóng, sân bay, những nơi địch có thể nhảy dù đều được cắm chông tre, cọc gỗ.

Trên các cửa sông Mã, sông Đò Lèn, sông Ghép (Thanh Hóa), sông Bùng, sông Lam, Cửa Thới, Cửa Lò, Cửa Hội (Nghệ An) được dựng lên hàng ngàn, hàng vạn chiếc cọc sắt, tà vẹt, đường ray... làm sống dậy không khí chiến trận của Bạch Đằng thuở trước.

Công tác phá hoại được tiếp tục tiến hành ở những nơi chưa làm triệt để.

Tại Thanh Hóa, ta phá thêm các đường liên tỉnh, liên huyện, đắp thêm con chạch trên các đê lớn, vừa chống lụt, vừa làm ụ tác chiến.

Tại Nghệ An và Hà Tĩnh, các đường lớn đều có ụ chiến đấu, đường số 7 từ Dừa xuống Đô Lương được phá triệt để. Tự vệ thành phố còn phá tiếp sân bay Vinh.

Tính đến cuối năm 1948, toàn liên khu đã phá 1.800 ki-lô-mét trong tổng số 2.500 ki-lô-mét đường bộ và 2.500 mét trong tổng số 9.500 mét cầu.

Ngày 27 tháng 3, Trung ương Đảng ra chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, nhằm động viên nhiệt tình cách mạng và trí sáng tạo của quân và dân ta vào mục đích đẩy mạnh công cuộc kháng chiến kiến quốc.

Để cổ vũ phong trào thi đua cả nước, Hồ Chủ tịch kêu gọi:

«Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua.
Ngày ngày thi đua.
Ta nhất định thắng.
Địch nhất định thua».

Tháng 6 năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu phát động cuộc vận động «Thi đua ái quốc», trong toàn liên khu xây dựng nhiều «làng Cự Nẫm» với 4 nội dung: Củng cố chính quyền nhân dân, phát triển và huấn luyện dân quân, bố phòng tác chiến, lãnh đạo nhân dân tham gia kháng chiến.

Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu đặt giải thưởng: nhất và nhiều làng Cự Nẫm (toàn diện với bốn nội dung thưởng 100 khẩu súng, nhất về bố phòng tác chiến 1.000 quả lựu đạn, nhất về lãnh đạo phong trào nhân dân tham gia kháng chiến 10.000 đồng).

Ngày 10 tháng 7, Ban vận động thi đua ái quốc Liên khu và các tỉnh được thành lập. Sau lễ ký kết giao ước giữa ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, một cao trào thi đua ái quốc dấy lên sôi nổi liên tục trong các ngành, các giới cho đến từng nhà, từng người. Phong trào lan nhanh trong các lực lượng vũ trang liên khu ở cả hậu phương và tiền tuyến.

Hà Tĩnh có phong trào «Một năm xây dựng dân quân»; Nghệ An phát động «Một tháng gia nhập dân quân» với khẩu hiệu «Mỗi người dân là Một người lính». Nhân dân hăng hái xung phong gia nhập dân quân. Nam từ 18 đến 45, nữ từ 18 đến 35 tuổi đều ghi tên vào dân quân. Nhiều cụ già 60 đến 70 tuổi, nhiều phụ nữ đông con, có con mọn cũng tình nguyện xin vào dân quân. Trong thôn xóm, hầu như nhà nào cũng có người ở trong đội ngũ dân quân, không ít gia đình cả nhà đều là dân quân.

Chỉ một tháng sau ngày phát động, số lượng dân quân Nghệ An từ 166.460 đã lên tới 387.500 người2, trong đó có 43.380 lão dân quân, 67.200 nữ dân quân. Ở huyện Tương Dương (Nghệ An) đội du kích người dân tộc Mẹo lần đầu tiên được thành lập.

Sau một năm xây dựng, tổng sổ dân quân Hà Tĩnh đã lên tới 93.700 người, trong đó có 18.650 dân quân du kích thường trực, 75.050 dân quân du kích, 2.250 lão dân quân, 2.180 nữ dân quân.

Qua phong trào «Luyện quân lập công», Nghệ An chọn được hàng trăm cán bộ, đội viên bổ sung cho các đơn vị chủ lực và xây dựng ở mỗi huyện một đại đội độc lập.
______________________________________________
1. Trích Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương, tháng 1 năm 1948.
2. Tổng số cử tri Nghệ An là 460.896 người; Hà Tĩnh là 236.447 người (tháng 7 năm 1949).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2024, 10:28:14 pm »


Ngày 25 tháng 8, Hà Tĩnh tập trung dân quân thường trực của huyện lập ra bốn đại đội độc lập. Cùng thời gian này, Nghệ An tổ chức bốn đại đội, Thanh Hóa có chín đại đội dân quân thường trực.

Giữa lúc quân và dân liên khu, đặc biệt là ba tỉnh hậu phương đang tích cực chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu thì thực dân Pháp cũng tăng cường hoạt động trinh sát, đánh phá.

Tại mặt trận miền tây Thanh — Nghệ — Tĩnh, địch tăng quân vận chuyển, nghi binh và tổ chức những cuộc tập kích bất ngờ vào nội địa, cướp lương thực, bắt cóc cán bộ và bắt thanh niên đưa sang Lào đi lính cho chúng.

Cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1948, máy bay địch oanh tạc xưởng giấy Đồng Minh (Quan Kinh, Thanh Hóa), làm hư hỏng hoàn toàn xưởng này.

Tàu chiến địch thường xuyên tuần tiễu dọc ven biển kiểm soát giao thông, cướp phá thuyền đánh cá, tập kích lên bờ thăm dò lực lượng, khủng bố nhân dân, hoạt động gián điệp... Chỉ tính từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1948, chúng đã đổ bộ gần 20 lần lên các vùng Nhượng Bạn (Hà Tĩnh), Lạch Còn (Nghệ An), Cồn Liêu (Nga Sơn, Thanh Hóa), Nghi Sơn, Do Xuyên, Ba Làng, Biện Sơn thuộc Tĩnh Gia (Thanh Hóa).

Vừa luyện quân vừa lập công, trung tuần tháng 5 và tháng 6, quân dân miền tây Nghệ An, Thanh Hóa đánh địch ở Mường Mô, Mường Ngàn, Pắc Môn, Mường Xán (Nghệ An), Lang Hang, Lang Chánh (Thanh Hóa), diệt 116 tên (có 5 tên Pháp) làm bị thương 20 tên, bức địch rút đồn Mường Mô, giữ vững biên giới phía tây và củng cố vững chắc thế trận của ta.

Quy mô chiến tranh ngày càng phát triển, nhu cầu chi viện cho mặt trận Bình — Trị — Thiên và mặt trận Trung Lào ngày càng cao, đòi hỏi sự đóng góp rất lớn của hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh.

Cùng với phong trào “Luyện quân lập công”. Cuộc vận động thi đua phát triển nông nghiệp và các ngành nghề thủ công, nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách: về ăn, mặc cho bộ đội và nhân dân được tiến hành rộng khắp. Các tỉnh ủy phát động toàn dân thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm với khẩu hiệu «Diệt giặc đói như diệt giặc ngoại xâm», «Tấc đất, tấc vàng». Khắp nơi, nhân dân thi đua khai hoang phục hóa, mở rộng diện tích trồng lúa và phát triển các loại rau màu ngắn ngày để giải quyết nạn đói.

Nhằm phấn đấu đạt chỉ tiêu lương thực, liên khu và các tỉnh đã tiến hành đồng loạt nhiều biện pháp để đẩy mạnh sản xuất đáp ứng yêu cầu kháng chiến. Hai trại sản xuất «kiểu mẫu» ở Vạn Mai (Thanh Hóa), Ngàn Trươi (Hà Tĩnh) và một trại nhân giống trâu bò, cá, cung cấp cho ba tỉnh vùng tự do được thành lập. Khôi phục, cải tạo sáu đồn điền cũ của Pháp để lại1 biến thành cơ sở sản xuất quốc doanh của ta, giúp đỡ đưa 870 công nhân và 2.000 gia đình từ miền xuôi lên sản xuất. Tổ chức quỹ tín dụng giúp nông dân vốn để mua trâu bò và phát triển nghề thủ công dệt cói. Củng cố và sửa chữa hệ thống đê điều sông Mã, sông Hoàng Mai, sông Lam, sông La để ngăn lụt và ngăn mặn, làm cho 48 làng và 9.475 héc-ta ruộng được bảo vệ, mỗi năm thu thêm 5.125 tấn lúa. Sửa chữa và khai thác trạm bơm Đô Lương, Nam Đàn, hoàn thành công trình nông giang sông Rô (Nghệ An), đưa nước tưới cho hơn 35 héc-ta ruộng. Huy động 310.000 nhân công, chi gần bốn triệu đồng sửa chữa hệ thống kênh nông giang và 36 công trình đập, cống, mương máng, bảo đảm nước tưới cho 20.500 héc-ta.

Các tổ đổi công, vần công được thành lập, Thanh Hóa dẫn đầu phong trào với 3.000 tổ, Nghệ An 2.000 tổ, Hà Tĩnh 600 tổ, và Quảng Bình 260 tổ. Các tổ đổi công, vần công đã có tác dụng tốt trong việc đẩy mạnh sản xuất xây dựng nếp sống mới ở nông thôn, nhất là trong việc giúp đỡ các gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình có người đi bộ đội, đi dân công hoặc neo đơn.

Việc tự túc lương thực được đặt ra một cách tích cực trong bộ đội, cán bộ, công nhân viên chức. Các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, các cơ quan đoàn thể đều lập trại tăng gia để trồng trọt và chăn nuôi, tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Dân quân Thanh Hóa thành lập một trại sản xuất lớn, vỡ 16 héc-ta ruộng hoang, đào được một kênh nhỏ. Dân quân Hà Tĩnh làm được 75 héc-ta lúa, mỗi huyện có một trại tăng gia của dân quân tập trung, nơi nhiều nhất có đến 50 héc-ta. Có đại đội đã tự túc được 70 phần trăm lương thực.

Nhờ những nỗ lực trên đây, nạn đói được đẩy lùi, tình hình sản xuất lương thực từng bước ổn định và phát triển. Ba tỉnh hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh không những tự bảo đảm được nhu cầu lương thực tại chỗ cho nhân dân và lực lượng vũ trang, mà còn chi viện cho tiền tuyến Bình — Trị — Thiên, cung cấp cho Liên khu 5 hàng trăm tấn gạo và tiếp tế cho Bắc Bộ hàng ngàn tấn muối2.

Bên cạnh những thành quả giành được trên mặt trận kinh tế, cuộc vận động thi đua diệt dốt cũng thu được những thành tựu đáng kể.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, nhân dịp Người gửi thư khen Ty bình dân học vụ tỉnh Hà Tĩnh3, toàn liên khu dấy lên phong trào thi đua thanh toán nạn mù chữ với khẩu hiệu «Đại tiến công giặc dốt», «Diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm». Hội đồng kháng dốt, Hội khuyến học, Hội bảo trợ bình dân được nhanh chóng thành lập. Các lớp bình dân học vụ buổi trưa, buổi tối được mở khắp nơi, thu hút hàng vạn học viên già, trẻ, gái, trai.

Hệ thống các trường phổ thông tiểu học, trung học cũng phát triển mạnh mẽ. Năm 1948, toàn liên khu có 736 trường tiểu học với 2.300 lớp; 81.800 học sinh; 40 trường trung học với 180 lớp, 7.200 học sinh.

Trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn thiếu thốn, nhân dân vẫn hăng hái học hành, dù phải sử dụng cả đình, chùa làm lớp học, phải tổ chức các lớp học sáng sớm, chiều tối để tránh máy bay địch bắn phá, nhưng khó khăn nhất vẫn là giấy, mực. Với số lượng giấy ít ỏi, học sinh phải viết tiết kiệm dùng đến ba lượt: viết bằng bút chì, dùng lại bằng bút mực, ngâm giấy vào nước vôi cho phai mực cũ rồi đem phơi khô dùng lần thứ ba. Nhiều nơi học sinh phải hái quả mua pha chế thành mực tím để viết. Song những khó khăn ấy không làm cho nhân dân ta nản lòng mà càng hun đúc thêm sự bền gan vững chí «học nữa, học mãi» để trở thành những người có ích cho xã hội, phục vụ nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc.
_____________________________________________
1. Các đồn điền: Vạn Lại, Yên Mỹ (Thanh Hóa), Yên Sơn, Đào Nguyên, Phủ Quỳ (Nghệ An), Ngàn Trươi (Hà Tĩnh).
2. Trích báo cáo của Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu tháng 10 năm 1948.
3. Tháng 3 năm 1948. Ty bình dân học vụ Hà Tĩnh được Hồ Chủ tịch gửi thư khen. Huyện Cẩm Xuyên là đơn vị đầu tiên ở Liên khu 4 thanh toán xong nạn mù chữ, được Bác gửi thư khen (ngày 15 tháng 11 năm 1948).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2024, 10:31:33 pm »


Phong trào học văn hóa trong bộ đội được đẩy mạnh. Các đại đội đều mở lớp học cho cán bộ và chiến sĩ. Nhiều đồng chí mù chữ đã biết đọc, biết viết. Nhờ vậy, trình độ nhận thức chính trị, quân sự được nâng cao.

Các đơn vị bộ đội còn tích cực tham gia phong trào chống nạn mù chữ cho toàn dân. Ở đâu có bộ đội đóng là ở đó có phong trào bình dân học vụ sôi nổi, nhộn nhịp. Nhiều đơn vị để ra hàng trăm công đào giao thông hào, hầm hố, cùng dân quân tổ chức các chòi báo động tránh máy bay cho các lớp bình dân học vụ và các trường phổ thông.

Cùng với cuộc vận động diệt giặc dốt, phong trào thi đua xây dựng đời sống mới, «kiến thiết xã hội kiểu mẫu» tiếp tục được thực hiện với quy mô rộng và chất lượng mới.

Nhiều nơi, nhân dân tự đóng góp tiền bạc xây dựng trường học, trạm y tế, nhà hộ sinh. Phong trào sửa giếng cũ, sửa sang nhà ở, đưa hố xí, chuồng trâu bò xa nhà ở, sửa lại đường làng, phát quang cây cối... được tiến hành khắp nơi.

Trình độ văn hóa của nhân dân được nâng cao, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, nạn mê tín dị đoan giảm bớt và dần dần được xóa bỏ. Một nếp sống văn minh, giản dị, lành mạnh, đoàn kết thân ái được hình thành. Bộ mặt nông thôn ở ba tỉnh hậu phương từng bước đổi mới. Nhân dân càng gắn bó với chế độ mới, càng ra sức đẩy mạnh kháng chiến và kiến quốc.

Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu còn hết sức coi trọng mặt trận đấu tranh chính trị, bao gồm cuộc đấu tranh trấn áp bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo và bọn thổ ty, lang đạo ở thượng du, Thanh Hóa, Nghệ An, chống chiến tranh gián điệp của địch, đồng thời đấu tranh làm trong sạch nội bộ, xây dựng và phát triển các tổ chức đoàn thể cách mạng, tăng cường khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở công nông liên minh. Đây là một cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, phức tạp và sôi động nhất ở Thanh — Nghệ — Tĩnh.

Cầm đầu thế lực phản động lợi dụng đạo Thiên chúa là bọn cố đạo ngoại quốc và Trần Hữu Đức, tổng quản nhà chung xã Đoài (Nghệ An).

Tại đại hội liên đoàn địa phận, Trần Hữu Đức công khai bàn kế hoạch gây bạo loạn, lập chính quyền công giáo, thống nhất «giáo hội» với «liên đoàn công giáo», đưa một số tên cực đoan phản động như Bùi Quang Nga, Phạm Tuyên vào giữ những vị trí chủ chốt. Chúng quy định «các cha là ủy ban», «Liên đoàn là mặt trận». Chúng thông qua một chương trình hành động toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, nhằm biến «Liên đoàn công giáo» thành một chính quyền riêng biệt của người theo đạo Thiên chúa giáo.

Tại Nông Cống (Thanh Hóa) một số tên trong tổ chức «Dân tộc giải phóng» bị bắt trong vụ “Mậu Thôn” đã lén lút trở lại hoạt động ở nông thôn, dưới hình thức “Liên hiệp quốc gia”. Chúng đã bắt liên lạc với đồng bọn ở Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hoằng Hóa; lập được hai chi bộ ở Cổ Định và Mậu Thôn.

Phát hiện âm mưu nguy hiểm của chúng, Liên khu ủy và các tỉnh ủy Thanh — Nghệ —Tĩnh đã vận dụng đường lối sách lược đúng đắn của Đảng lãnh đạo quần chúng (nòng cốt là lực lượng cảnh sát công an) đấu tranh toàn diện với địch. Nhờ vậy, tuy đã có 70 đến 80 phần trăm giáo dân gia nhập liên đoàn, nhưng các chủ trương phản động của chúng đều bị quần chúng đấu tranh tẩy chay.

Ở miền tây Thanh Hóa, Lê Xuân Kỳ lợi dụng chức chủ tịch Ủy ban thượng du Thanh Hóa đã cùng con trai là Lê Xuân Tín ra sức bóc lột nhân dân, tuyển mộ binh lính, mua sắm vũ khí, bí mật lập chiến khu trong rừng, tích trữ lương thực, gạo, muối, ngấm ngầm chống phá cách mạng và chờ thời cơ lớn chuẩn bị đón Pháp vào thành lập “Xứ Mường tự trị”1.

Phát hiện ra bản chất hai mặt của cha con Kỳ — Tín, ngày 9 tháng 7 năm 1948, được sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, đồng chí Lê Hữu Khai, phụ trách công an tỉnh cùng với hai trinh sát viên đã bắt và tỳng giam cha con Kỹ — Tín, thu 10 khẩu súng các loại. Lực lượng dân quân địa phương phá hủy cơ sở chiến khu của chúng.

Tiếp đó, tỉnh phái một bộ phận thuộc trung đoàn 77 tiễu phỉ vùng Lang Chánh, bắt hơn một chục tên thổ phỉ, thu 19 súng trường. Tự vệ của Kỳ — Tín ở lục châu Thanh Hóa bị tước vũ khí hoàn toàn.

Việc trừng trị cha con Kỳ — Tín và diệt phỉ vùng Lang Chánh (Thanh Hóa) đã chấm dứt mối liên lạc giữa bọn phản động ở Thanh Hóa với bọn phản động trong dân tộc thiểu số ở tây Hòa Bình và Nghệ An; phá âm mưu lập Xứ mường Nùng, Thái tự trị của thực dân Pháp, quét sạch bọn thổ ty, lang đạo phản động ở cơ sở, đề cao vai trò quần chúng, góp phần giải phóng đồng bào miền núi khỏi chế độ thần quyền phong kiến hà khắc; thiết lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể nhân dân ở lục châu Thanh Hóa, đẩy mạnh chiến tranh du kích lên một bước mới.

Ở miền tây Nghệ An, lực lượng cảnh sát công an địa phương phối hợp với dân quân đã bắt những tên cầm đầu tổ chức «Liên châu Thái Bắc Việt» như Sầm Văn Cương, Sầm Văn Ngọc, Lò Văn Thớm, Lò Khăm Châu và một số tên khác, thu nhiều vũ khí, tài liệu.

Tòa án quân sự Liên khu 4 đã xét xử công khai và trừng trị đích đáng bọn phản động này.

Cùng với việc nhen nhóm, gây cơ sở phản động trong các đảng phái, tôn giáo, thực dân Pháp ráo riết hoạt động gián điệp. Càng thua đau về quân sự trên chiến trường, địch càng đẩy mạnh chiến tranh gián điệp phá hoại ba tỉnh hậu phương. Song, với phong trào quần chúng được giác ngộ và phát động khắp nơi, ta liên tiếp bẻ gẫy và đánh bại âm mưu gián điệp biệt kích của thực dân Pháp, tóm gọn 100 tên gián điệp, trong đó có nhiều tên đầu sỏ như: Hồ Tấn Hiệp, Phạm Minh Tân, Lương Văn Phổ, Tuần Nhuệ, Trần Thanh Vân...

Thắng lợi trên mặt trận đấu tranh chính trị đã góp phần chặn đứng âm mưu xâm lược của thực dân Pháp vào Thanh - Nghệ - Tĩnh, tăng cường sức mạnh toàn diện của ba tỉnh hậu phương.
_____________________________________________
1. Trong thời gian hoạt động vũ trang tuyên truyền, đội trinh sát công an tỉnh Thanh Hóa do đồng chí Lê Anh Sơn chỉ huy đã bắt được tên tự vệ của Kỳ mang thư của tên quan ba Pháp Va-nu-xem gửi cho Kỳ: «Nếu ông giúp quân đội Pháp đánh bọn Việt Minh cộng sản thì tôi đề nghị với thống sứ Pháp tại Đông Dương thành lập một vùng tự trị của người Mường từ thượng du Thanh Hóa đến thượng du Nghệ An. Ý ông thế nào?».
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2024, 10:34:48 pm »


Ngày 21 tháng 10, Liên khu khai mạc Đại hội tập quân sự lần thứ hai tại Thanh Hóa nhằm «đánh giá kết quả huấn luyện một năm, cổ vũ phong trào luyện quân lập công trong toàn liên khu». Đại hội đã thành công tốt đẹp, «gây được ấn tượng mãnh liệt về lực lượng kháng chiến của dân tộc trong nhân dân và các lực lượng vũ trang»1.

Phát huy kết quả của đại hội tập, ngày 15 tháng 11, bộ đội ta tiến công quét sạch địch ở Mường Lống, Mỹ Lý (Nghệ An), diệt và bắt toàn bộ quân địch, lập lại chính quyền nhân dân trong vùng.

Hòa cùng với chiến thắng của quân và dân miền tây Nghệ An, ngày 24 tháng 11, bộ đội miền tây Thanh Hóa bao vây tấn công địch ở đồn Cổ Lũng, buộc địch phải rút khỏi vị trí này, thu hai súng máy và hơn một chục khẩu súng các loại.

Chiến thắng Mường Lống và Cổ Lũng chứng tỏ quân và dân miền tây Nghệ An, Thanh Hóa luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, biết củng cố và dựa vào thế trận vững chắc, chủ động tiến công quân địch nên đã giữ vững được biên giới miền tây, chặn đứng âm mưu của giặc Pháp định dùng Đông Lào làm bàn đạp tiến công Thanh — Nghệ — Tĩnh từ phía tây.

Song song với việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, Liên khu ủy chỉ đạo ba tỉnh luôn hướng về «Bình — Trị — Thiên khói lửa” cùng cuộc chiến đấu của quân và dân Trung Lào sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của hai chiến trường.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, các ngành, các đoàn thể cứu quốc liên tiếp tổ chức mít tinh, phát động các cuộc vận động quần chúng ủng hộ Bình— Trị — Thiên.

Ngoài quyên góp của từng cá nhân và gia đình, nhiều nơi còn tổ chức diễn kịch, thi đấu bóng, tổ chức ngày hội sản xuất để lấy tiền mua sắm quần áo, chăn màn, thuốc men gửi vào giúp nhân dân Bình — Trị — Thiên. Ủy ban kháng chiến tỉnh Nghệ An tổ chức bán đấu giá chiếc áo lụa của Hồ Chủ tịch gửi tặng Bình — Trị — Thiên, lấy tiền giúp đồng bào ba tỉnh tiền tuyến. Chủ trương này được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Đồng bào ở Vinh đã mua chiếc áo với giá 30.000 đồng.

Liên khu phát động tuần lễ “Ủng hộ Bình — Trị — Thiên” (ngày 11 tháng 7 đến 18 tháng 7) và tuần lễ «Binh sĩ». Kết quả trong các tuần lễ trên, các đoàn thể và nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh góp được 1.875.000 đồng. Các hội phụ lão quyên góp được hai vạn đồng. Mặt trận Việt Minh Liên khu, hội Nông dân Liên khu phát động đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm. Công nhân ở ba tỉnh hậu phương nhiệt liệt ủng hộ phong trào «Làm giờ cứu quốc», lấy tiền góp vào «Quỹ kháng chiến» để ủng hộ Bình — Trị — Thiên. Tính đến tháng 10 năm 1948, công nhân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã làm được 10.778.200 giờ, trích ra 1.078.000 giờ lấy tiền góp vào quỹ ủng hộ Bình — Trị — Thiên, Nghệ An góp được 1.503.317 đồng, Thanh Hóa 1.037.185 đồng.

Liên khu tiếp tế vào Bình — Trị — Thiên 458 tấn thóc, 550 tấn gạo, 30 tấn ngô, 500 tấn muối, 48.535 mét vải, hàng vạn viên Áp-pi-rin. Cũng thời gian này, Liên khu 5 ủng hộ cho cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 101 mỗi người một bộ quân áo “Xi-ta”.

Ngoài ra liên khu còn chi viện cho Liên khu 5 hơn 360 tấn lúa, 40 tấn gạo, ba tấn nhựa thông và tiếp tế cho các tỉnh Bắc Bộ 2.000 tấn muối2.

Để kịp thời vận chuyển tiếp tế cho Bình - Trị - Thiên giữa năm 1948, Hà Tĩnh làm đường goòng từ ga Thanh Luyện (Hương Khê, Hà Tĩnh vào Đò Vàng (Tuyên Bắc, Quảng Bình) dài 30 ki-lô-mét. Hàng trăm công nhân đường sắt lành nghề được huy động xây dựng công trình này. Sau ba tháng phấn đấu khẩn trương và cực kỳ gian khổ, ngày 10 tháng 8 năm 1948 cùng một lúc hai đầu máy BTT1 và BTT2 đã vận chuyển chuyến hàng tình nghĩa đầu tiên của nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh gửi vào tiền tuyến Bình - Trị - Thiên. Nhờ có đường goòng, hàng từ liên khu chuyển vào Quảng Bình được nhanh hơn, hàng năm tiết kiệm được hàng vạn dân công, chi phí vận chuyển mỗi tấn hàng từ 12.000 đồng giảm xuống 170 đồng. Tính đến cuối năm 1948 tuyến đường goòng đã chuyển vào Bình — Trị — Thiên 400 tấn gạo, 12 tấn đường, 20 tấn bông, 900 mét vải. Xí nghiệp đường goòng được vinh dự đón nhận Huân chương chiến công hạng ba. Đây là đơn vị đầu tiên ở Thanh — Nghệ — Tĩnh được Chính phủ tặng huân chương.

Trước sự phát triển toàn diện của kháng chiến, để tăng cường lãnh đạo của liên khu, cuối năm 1948 Trung ương điều đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng ra làm Bí thư Khu ủy Liên khu 4, đồng chí Hoàng Anh làm Bí thư Phân khu ủy Bình — Trị — Thiên, đồng chí Trần Văn Quang, nguyên Ủy viên chính trị Liên khu 4 vào trực tiếp làm Phân khu trưởng kiêm ủy viên chính trị phân khu. Các cơ quan lãnh đạo liên khu và phân khu được tăng cường. Đó là yếu tố hết sức quan trọng tạo nên bước chuyển biến mới về tình hình quân sự ở liên khu.

Vận dụng một cách triệt để và sáng tạo phương châm kháng chiến đi đôi với kiến quốc của Đảng và Hồ Chủ tịch, trong điều kiện cụ thể của địa phương, quân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh chẳng những đã vượt qua được địch họa, thiên tai, ổn định tình hình trước mắt, mà còn tích cực chủ động xây dựng tiềm lực các mặt để tiếp tục kháng chiến lâu dài, bảo đảm nhu cầu tại chỗ cho nhân dân và lực lượng vũ trang. Đồng thời góp sức chi viện cho các chiến trường. Chỉ chưa đầy một năm, bộ mặt hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có nhiều thay đổi đáng kể.
_____________________________________________
1. Báo cáo của Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4.
2. Báo cáo tổng kết tại Hội nghị Liên khu từ 6 tháng 11 đến tháng 1 năm 1949, Cục Lưu trữ Văn phòng Phủ Thủ tướng, tập 5, hộp 12, hồ sơ. 119.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM