chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2024, 10:55:57 pm » |
|
II. XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG – ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN, PHỐI HỢP CHIẾN TRƯỜNG Bước sang năm 1949, tình hình quốc tế và Đông Dương phát triển thuận lợi cho ta, bất lợi cho địch. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang trên đà thắng lợi. Phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng khắp, hậu phương kháng chiến ngày càng được củng cố vững mạnh. Tuy nhiên, quân và dân ta vẫn phải đối phó gay gắt quyết liệt với những âm mưu mới của địch. Tháng 3 năm 1949, Hiệp ước E-ly-dê (Elysé) được ký kết giữa thực dân Pháp với Bảo Đại. Chính quyền bù nhìn trung ương được thành lập do Bảo Đại làm quốc trưởng kiêm tổng tư lệnh quân đội, Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ quốc phòng. Với hiệp ước này, Pháp tiến thêm một bước trong âm mưu «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh», «dùng người Việt đánh người Việt». Đồng thời, đế quốc Mỹ đã từng bước can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương 1. Tháng 5 năm 1949, đại tướng Rơ-ve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp cầm đầu một phái đoàn sang Đông Dương nghiên cứu tình hình, bày đặt mưu kế đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược. Rơ-ve vạch kế hoạch mang tên Y, với nội dung cơ bản là: nhanh chóng phát triển quân ngụy làm nhiệm vụ chiếm đóng, tập trung quân Âu - Phi xây dựng lực lượng cơ động càn quét 2, đánh phá phong trào chiến tranh du kích và mở các cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt chủ lực ta, hòng đảo ngược tình thế có lợi cho chúng. Rơ-ve chủ trương củng cố ngụy quyền làm công cụ thực hiện chính sách «dùng người Việt đánh người Việt», “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Trước âm mưu mới của địch, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 chủ trương: “Động viên mọi lực lượng kháng chiến kiến quốc, giành cho kỳ được độc lập và dân chủ thực sự» 3 với khẩu hiệu «Tất cả để chiến thắng» 4. Phát biểu trước Hội nghị, Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: «Kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi» 5. Về nhiệm vụ quân sự, hội nghị chỉ rõ: «Lấy du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phụ trợ. Nhưng cần mạnh bạo đẩy mạnh vận động chiến đi tới và khi có đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng». Hội nghị nhấn mạnh: «Việc xây dựng bộ đội chủ lực là trung tâm công tác lúc này. Muốn xây dựng một đội quân chủ lực mạnh mẽ cần phải có sự phát triển rộng rãi của phong trào dân quân và những bộ đội địa phương đã trưởng thành» 6. Thực hiện những chủ trương lớn của Đảng, Hội nghị quân chính Liên khu quyết nghị: «Tăng cường sức chiến đấu của bộ đội, mở rộng chiến tranh du kích, tăng cường huấn luyện, tăng gia sản xuất để tiến tới tự cung, tự cấp» 7. Cuối tháng 2 năm 1949, liên khu phát động cuộc vận động «Luyện quân lập công» trong các lực lượng vũ trang làm cơ sở xây dựng bộ đội chủ lực mạnh, đẩy mạnh tác chiến tập trung và vận động chiến, nâng cao trình độ dân quân tập trung tỉnh, huyện và du kích đủ sức bảo vệ địa phương để thực hiện chủ trương: tập trung các đại đội độc lập. Sau ba tháng khẩn trương huấn luyện, trình độ cán bộ, chiến sĩ được nâng lên rõ rệt. Dân quân, du kích phát triển mạnh, trình độ kỹ thuật, chiến thuật có bước tiến đáng kể. Đặc biệt, đại đội 1, đại đội 2 dân quân tập trung của tỉnh Thừa Thiên, đại đội du kích Lê Hồng Phong của tỉnh Quảng Trị có trình độ kỹ thuật và khả năng tác chiến tương đương bộ đội chủ lực. Riêng tỉnh Quảng Bình, ngày 20 Tháng 2 năm 1949 Bộ tư lệnh Liên khu quyết định thống nhất chiến trường nhằm đưa phong trào chiến tranh du kích ở Quảng Bình tiến kịp hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Đồng thời ngày 18 tháng 4, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định thành lập trung đoàn 18 (Quảng Bình) do đồng chí Phùng Duy Phiên làm trung đoàn trưởng, đồng chí Quang Minh làm ủy viên chính trị, đồng chí Tống Thái làm trung đoàn phó. Với việc thống nhất chiến trường Quảng Bình và thành tập trung đoàn 18, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đã tạo điều kiện rất cơ bản để quân dân Quảng Bình đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân ở địa phương. Cũng từ đây, tại Phân khu Bình - Trị - Thiên, mỗi tỉnh đã có một trung đoàn vừa đảm nhiệm chiến đấu bảo vệ địa phương mình, vừa sẵn sàng cơ động tác chiến tập trung theo kế hoạch của phân khu. Sự kiện này dẫn đến sự chuyển biến cả về thế lực của ta trên chiến trường Bình - Trị - Thiên từ mùa xuân năm 1949. Ngày 24 tháng 4, bộ tư lệnh điều tiểu đoàn 364 (trung đoàn 9) do tiểu đoàn trưởng Trần Sung và chính trị viên Nguyễn Tác chỉ huy, tăng cường cho phân khu. Tiểu đoàn có nhiệm vụ đánh địch, xây dựng cơ sở, phát triển dân quân du kích ở Mặt trận đường số 9, tạo thế phát triển liên minh chiến đấu với lực hrơng vũ trang cách mạng Lào. Sự có mặt của tiểu đoàn 364 trên địa bàn chiến lược này đã tạo ra nhân tố mới để đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích ở Mặt trận đường số 9 và Trung Lào. ______________________________________________ 1. Năm 1949, Mỹ viện trợ cho Pháp 20 triệu đô-la về quân sự. 2. Tháng 6 năm 1949, lực lượng quân cơ động của Pháp ở Đông Dương có 12 tiểu đoàn. 3 - 6. Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 tháng 1 năm 1949. 7. Nghị quyết Hội nghị quân chính Liên khu tháng 2 năm 1949.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2024, 10:58:29 pm » |
|
Tháng 4 năm 1949, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Cùng trong thời gian này tỉnh đội Thừa Thiên làm lễ trưởng thành cho đại đội 1, đại đội 2 dân quân tập trung tỉnh và bổ sung cho trung đoàn 1011. Đây là những đơn vị dân quân sớm trưởng thành trong phong trào thi đua «Củng cố và phát triển dân quân». Nó đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng dân quân, du kích Bình - Trị - Thiên và khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa các lực lượng vũ trang ba thứ quân trong tác chiến và xây dựng.
Nhận thấy phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh, lực lượng dân quân du kích có khả năng tự bảo vệ được địa phương, tháng 5 năm 1949, bộ tư lệnh ra lệnh tập trung các đại đội độc lập về xây dựng tiểu đoàn, trung đoàn tập trung. Đồng thời giao nhiệm vụ bảo vệ địa phương cho dân quân tập trung tỉnh, huyện đảm nhiệm.
Thực hiện chủ trương trên, các tỉnh tập trung các đại đội độc lập thành tiểu đoàn tập trung nằm trong đội hình chiến đấu của trung đoàn. Quảng Trị thành lập tiểu đoàn 310 (trung đoàn 95). Thừa Thiên thành lập tiểu đoàn 227 (trung đoàn 101). Thanh Hóa thành lập tiểu đoàn 375 (trung đoàn 77). Nghệ An thành lập tiểu đoàn 418 (trung đoàn 57). Hà Tĩnh thành lập tiểu đoàn 391 (trung đoàn 103).
Đến giữa tháng 8 năm 1949, toàn Liên khu đã tập trung được 14 tiểu đoàn (Phân khu Bình — Trị — Thiên năm tiểu đoàn, Thanh — Nghệ — Tĩnh chín tiểu đoàn).
Ngày 27 tháng 6, Liên khu điều trung đoàn 103 từ Hà Tĩnh ra Thanh Hóa làm chủ lực của Liên khu. Từ đây, nhiệm vụ bảo vệ Hà Tĩnh do bộ đội địa phương và dân quân du kích tự đảm nhiệm.
Sự xuất hiện trung đoàn 18 tại Quảng Bình và trước sự phát triển của phong trào chiến tranh du kích ở Bình — Trị —Thiên làm cho thực dân Pháp bất ngờ và bị động. Chúng tìm mọi cách tiêu hao, tiêu diệt trung đoàn 18 non trẻ và tích cực đánh phá, ngăn chặn sự phát triển của cuộc chiến tranh.
Từ tháng 6 năm 1949, địch khẩn trương triển khai kế hoạch Rơ-ve.
Tại Bình - Trị - Thiên, chúng đưa tên tướng Lô-ri-ốt (Lori-llot) thay tên Lơ-bơ-rít (Lebris) chỉ huy trung phần Việt Nam thay đổi một số thủ đoạn chiến thuật:
- Rút bớt các đồn miền núi, tập trung lực lượng phòng thủ thị xã, vùng đồng bằng đông dân và các trục giao thông chính.
- Ráo riết thực hiện chiến thuật lô cốt tháp canh kết hợp với đội ứng chiến mạnh.
- Tăng cường lực lượng bảo vệ quân, tổ chức lực lượng đặc biệt ác ôn (như đại đội “Áo đen”) do tên phản bội Quản Hậu chỉ huy làm nhiệm vụ càn quét, tàn sát, cướp bóc.
Chú trọng củng cố, đề cao ngụy quyền, tích cực tuyên truyền cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại, tăng cường các thủ đoạn chính trị, nhằm gây ảnh hưởng và chuẩn bị một khu vực an toàn để đón tên vua bù nhìn về Huế.
Đây là một kế hoạch quân sự, chính trị hết sức thâm độc và xảo quyệt mà thực dân Pháp đã sử dụng ở Bình - Trị - Thiên.
Sau một thời gian chuẩn bị, giữa tháng 6 năm 1949, địch liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét vào đồng bằng Bố Trạch, Quảng Trạch, chiến khu Quảng Trạch, Quảng Ninh (Quảng Bình) nhằm giữ chân chủ lực ta ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, tạo một hành lang an toàn bảo vệ thành phố Huế từ xa. Chúng còn điều thêm lực lượng từ Nam Bộ, Đà Nẵng ra Huế để bảo vệ Bảo Đại2. Tại hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, địch tăng cường các thủ đoạn chính trị lừa bịp xoa dịu lòng dân, tạo ra một không khí hòa bình giả tạo để gây thanh thế cho Bảo Đại.
Trước việc Pháp, Mỹ cho Bảo Đại «hồi loan». Ngày 28 tháng 3 năm 1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị vạch mặt bọn bán nước Bảo Đại.
Để đối phó với âm mưu mới của địch, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu chủ trương: triệt để diệt tề vạch mặt bọn bán nước, phá ảnh hưởng của bù nhìn Bảo Đại.
Quân và dân Bình - Trị - Thiên đồng loạt mở một đợt tiến công rộng khắp ở cả miền núi, đồng bằng và đô thị, nhằm phá tan ý đồ chính trị của địch, hạ uy thế ngụy quyền tay sai khi Bảo Đại có mặt ở Huế.
Tại Hải Lăng (Quảng Trị), ngày 6 tháng 6 ta đánh tan hai trung đội hộ tống đoàn biểu tình ủng hộ Bảo Đại do bọn tay sai tổ chức. Tiếp đó ta đánh tan một tiểu đoàn địch đến tiếp viện, biến cuộc biểu tình này thành cuộc biểu tình đả đảo Bảo Đại.
Tại Thừa Thiên, dân quân phối hợp với công an liên tiếp tiến công địch trước và trong những ngày Bảo Đại về Huế. Ngày 25 tháng 6, tiểu đoàn 319 cùng các đại đội độc lập cường tập đồn Lương Vân. Ngày 12 tháng 7, đúng vào lúc Bảo Đại đến Huế, mặc dù địch ra sức canh phòng nghiêm ngặt, đội biệt động thành phố phối hợp với dân quân và công an quấy rối thành phố Huế. Ngày 14 tháng 7, đại đội biệt động 123 phục kích một toán lính Ma-rốc đi lùng sục và bắn súng cối vào hoàng cung trong lúc Bảo Đại còn ở Huế.
Tuy hiệu quả chiến đấu chưa cao nhưng các trận đánh trên đã thể hiện thái độ chính trị của quân và dân Bình - Trị - Thiên kiên quyết phản đối chính quyền bù nhìn Bảo Đại, tay sai bán nước.
Tại Quảng Bình, đầu tháng 8, trung đoàn 18 liên tục tiến công địch tại Lệ Kỳ (Quảng Ninh) và Hòa Duyệt (Bố Trạch). Trước áp lực của ta, địch phải rút các đồn lẻ Mỹ Đức (Lệ Thủy), Trần Xá, Xuân Duy (Quảng Ninh), Bàu Bạc (thị xã Đồng Hới). _____________________________________________ 1. Để đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang địa phương, thời kỳ này các đơn vị dân quân tập trung tỉnh khi chuyển qua bộ đội chủ lực đều làm lễ “trưởng thành”. 2. Đến ngày 10 tháng 6, tại Huế địch đã tập trung được hơn 6.000 quân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2024, 11:02:06 pm » |
|
Tháng 8 năm 1949, nhân dân ba tỉnh Bình —Trị — Thiên tiếp tục nổi dậy quét sạch tề ngụy trên nhiều vùng rộng lớn. Công an phối hợp với dân quân du kích trừng trị hàng chục tên ác ôn, cảnh cáo bọn tay sai, giải tán 690 hội tề (trong tổng số 710 hội tề) ở ba tỉnh. Riêng tại Quảng Trị và Thừa Thiên, ta phá 95 phần trăm hội tề, số còn lại phải rút vào đồn.
Trước thất bại thảm hại này, Nguyễn Khoa Nghi tỉnh trưởng Quảng Bình đã phải báo cáo lên tổng trấn trung phần Việt Nam: «Sự hoạt động của Việt Minh ngày càng ráo riết. Ở các thôn quê, hương lý bị bắt, mộc triện bị thu, các tổng xã mất liên lạc, không có người làm việc hành chính. Phủ huyện làm việc trong tình trạng cô lập».
Cũng trong tháng 8 năm 1949, ba tỉnh Bình —Trị — Thiên tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân xã. Nhân dân hồ hởi, phấn khởi đi bỏ phiếu. Nhũng nơi xa đồn địch như Phú Thuận, Vĩnh Lộc (Phú Lộc) có 100 phần trăm số người đi bầu cử. Hàng ngàn đồng bào vùng bị địch chiếm đóng bí mật ra vùng tự do tham gia bầu cử. Đây là một thắng lợi lớn về chính trị của ta, nói lên trình độ giác ngộ cách mạng của đông đảo nhân dân địa phương.
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh và nghị quyết của Liên khu ủy “Tranh thủ chủ động từng trận đánh; mạnh bạo đẩy mạnh vận động chiến tiến tới». Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu Bình — Trị — Thiên mở hai đợt tác chiến tập trung, do đồng chí Trần Văn Quang chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Nam Thắng làm chỉ huy phó, đồng chí Lê Tùng làm tham mưu trưởng1.
Giữa tháng 7 năm 1949, Phân khu mở đọt tác chiến thứ nhất (gọi tắt là kế hoạch ABC), tại khu vực đường số 9 về tây Hướng Hóa nhằm gây dựng cơ sở, tạo bàn đạp cho tiểu đoàn 384 phát triển lên hướng bắc đường số 9 —Trung Lào. Lực lượng tham gia gồm tiểu đoàn 364, 302, tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95)2.
Ngày 18 tháng 7, tại làng Miệt, tiểu đoàn 302 đánh trận mở đầu, diệt một trung đội địch từ Khe Sanh đi tiếp tế cho đồn Nguồn Rào. Tiếp đó tiến công vị trí Nguồn Rào và phục kích đánh địch tiếp viện tại ki-lô-mét 46, diệt hơn một trung đội, phá hủy ba xe, nhưng không diệt được đồn.
Cuối tháng 8, ta vây Khe Sanh, Lao Bảo và phục kích tiêu diệt gọn bọn địch ở Nguồn Rào, khu vực bắc huyện Hướng Hóa được hoàn toàn giải phóng.
Cùng thời gian trên, tiểu đoàn 227 và tiểu đoàn 364 bí mật cơ động về đồng bằng Triệu — Hải — Phong — Quảng, phối hợp với tiểu đoàn 310 (trung đoàn 95) mở đợt tác chiến thứ hai (gọi tắt là kế hoạch GMC) nhằm tiêu diệt đội ứng chiến của địch đi càn quét và rèn luyện khả năng tác chiến của các tiểu đoàn.
Ngày 18 tháng 8, tiểu đoàn ứng chiến Bắc Phi cùng hai đại đội ngụy binh, sáu xe bọc thép lội nước, do tên thiếu tá Đờ-pong-tơ (Depointer) chỉ huy từ Mỹ Chánh càn xuống Mỹ Xuyên, Ưu Điểm (Phong Điền). Tại Mỹ Xuyên, dưới sự chỉ huy của trung đoàn phó Lê Bá Vân, tiểu đoàn 227 (đơn vị chủ công) phối hợp chặt chẽ với tiểu đoàn 310 và 364, đại đội địa phương Phong Điền và dân quân, vận động phục kích chặn đánh các cánh quân của địch. Quân ta chiếm xe bọc thép lội nước, dùng súng 12 ly7 trên xe bắn vào đội hình địch. Sau hơn một giờ chiến đấu, ta diệt gọn một đại đội, đánh tan hai đại đội, bắt sống thiếu tá Đờ-pong-tơ, tiểu đoàn trưởng kiêm phân khu trưởng Phân khu bắc Thừa Thiên, phá hủy ba xe lội nước, thu một súng cối, ba trung liên, một trọng liên 12 ly 7 và hơn 40 súng các loại, đập tan cuộc càn quét của địch.
Đây là lần đầu tiên tiểu đoàn đã chỉ huy được cả ba đại đội vận động tác chiến và cũng là lần đầu tiên ta tiêu diệt xe bọc thép lội nước, một loại phương tiện chiến tranh hiện đại mà địch vừa mới đưa vào Bình — Trị — Thiên để cơ động càn quét trên địa hình đồng bằng có nhiều sông rạch.
Thắng lợi Mỹ Xuyên thể hiện bước trưởng thành về năng lực chỉ huy của cán bộ các cấp và trình độ vận động chiến của bộ đội Bình - Trị - Thiên ở đồng bằng, mở ra triển vọng mới về tác chiến tập trung, đẩy mạnh vận động chiến của bộ đội chủ lực.
Chấp hành chỉ thị «Rèn cán chỉnh quân» của Bộ Tổng tư lệnh3, tháng 5 năm 1949 Liên khu phát động cuộc vận động «Rèn cán chỉnh quân lần thứ nhất» trong toàn Liên khu nhằm: Khẩn trương xây dựng bộ đội chủ lực lớn mạnh, để tiến tới giành thắng lợi về chiến lược.
Trong ba ngày 17 đến 19 tháng 8, tại Cầu Bố (Thanh Hóa) Bộ tư lệnh Liên khu mở đại hội thi đua rèn cán chỉnh quân trong toàn Liên khu. Dự đại hội có cán bộ chiến sĩ các trung đoàn 9, 103, các trường quân chính, thiếu sinh quân, liên khu bộ, các đại diện cơ quan đoàn thể và gần 20.000 cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân địa phương. Cuộc vận động «Rèn cán chỉnh quân xây dựng bộ đội đào luyện cán bộ» của Liên khu được chia làm ba thời kỳ:
— Thời kỳ thứ nhất, củng cố tổ chức, huấn luyện bộ đội.
— Thời kỳ thứ hai, tổ chức diễn tập.
— Thời kỳ thứ ba, vừa diễn tập vừa cơ động tham gia chiến dịch Đông — Xuân.
Để làm cơ sở cho việc huấn luyện bộ đội và vận dụng vào thực tiễn chiến đấu của đơn vị sắp tới, sau lễ phát động, Bộ tư lệnh mở ngay lớp tập huấn chiến thuật cho một số cán bộ chủ trì trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội và một số cán bộ chủ chốt ở cơ quan khu Bộ, do tư lệnh Nguyễn Sơn trực tiếp chỉ đạo và giảng dạy. ______________________________________________ 1. Cuối tháng 6, đồng chí Trần Văn Quang ra khu dự Đại hội Đảng, đồng chí Lê Nam Thắng trung đoàn trưởng 95 được ủy quyền chỉ huy. 2. Để điều chỉnh chất lượng giữa các đơn vị, tháng 6 năm 1949, tiểu đoàn 227 được điều sang trung đoàn 95. 3. Ngày 15 tháng 6 Bộ Tổng tư lệnh ra chỉ thị về hai cuộc vận động: «Rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh quân đội» và «Rèn luyện cán bộ, cải tiến kỹ thuật».
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2024, 11:04:49 pm » |
|
Tại phân khu Bình — Trị — Thiên, kết hợp chặt chẽ phong trào «Rèn cán chỉnh quân» với nhiệm vụ tác chiến, trong hai tháng 9 và 10, các đơn vị sôi nổi thi đua nâng cao kỹ thuật chiến đấu cá nhân và trình độ hiệp đồng phân đội để chuẩn bị tham gia chiến dịch Đông Xuân. Tại các tỉnh phía bắc Liên khu các ban rèn cán chỉnh quân được thành lập ở các đơn vị, cơ quan. Những cuộc phát động giao ước thi đua giữa các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội được tổ chức trọng thể. Công tác cổ động chính trị, sơ kết huấn luyện được duy trì chặt chẽ, gây không khí hào hứng sôi nổi.
Các trung đoàn, tỉnh đội còn mở “Đại hội Quân — Dân”. Trong không khí dạt dào tình cảm quân dân cả nước, nhiều đại diện cơ quan, xí nghiệp và cả một số tư nhân đã tình nguyện xung phong đỡ đầu bộ đội địa phương, dân quân và các đơn vị chủ lực mới xây dựng1.
Từ trong các lực lượng vũ trang, phong trào luyện quân lập công lan nhanh trong quần chúng.
Thanh niên Thanh — Nghệ — Tĩnh nhiệt liệt hưởng ứng tuần lễ “Đại hội tòng quân” do các tỉnh đoàn phát động năm 1949. Các phòng ghi tên nhập ngũ được tổ chức khắp nơi. Thanh — Nghệ — Tĩnh có 19.000 người tình nguyện tòng quân, gồm đủ các thành phần công nhân, nông dân, cán bộ, giáo viên, học sinh, thanh niên theo đạo Thiên chúa.
Nhờ làm tốt cả công tác tư tưởng và công tác tổ chức, cuộc vận động rèn cán chỉnh quân lần thứ nhất trong các lực lượng vũ trang, với sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân đã đạt được kết quả tốt, tạo điều kiện cho các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường liên khu.
Ngày 13 tháng 9 năm 1949, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định chọn trung đoàn 95 làm trung đoàn chủ lực phân khu2. Trung đoàn có nhiệm vụ cơ động tác chiến trên chiến trường Bình — Trị — Thiên. Sự kiện này chứng tỏ bước trưởng thành của bộ đội chủ lực phân khu.
Tháng 10 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập «Mặt trận Bình — Trị — Thiên — Trung Lào» với nhiệm vụ đẩy mạnh tác chiến tập trung ở hướng chiến lược đường số 9 — miền trung Đông Dương, dùng chủ lực tác chiến để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ3. Đồng chí Hà Văn Lâu được cử làm chỉ huy trưởng, đồng chí Trần Quý Hai làm ủy viên chính trị.
Sự ra đời của Mặt trận Bình — Trị — Thiên — Trung Lào là kết quả của một quá trình vận động phát triển về tổ chức chỉ huy và tổ chức chiến trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào kháng chiến và sự trưởng thành của lực lượng chủ lực hoạt động ở địa phương, cũng như khối đoàn kết liên minh chiến đấu Việt — Lào ở miền Trung Đông Dương.
Tháng 11 năm 1949, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở chiến dịch Lê Lợi nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá thế kìm kẹp của địch ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, khai thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 10, Liên khu 3 và Liên khu 4.
Lực lượng vũ trang Liên khu 4 tham gia chiến dịch có trung đoàn 9 và bộ đội địa phương, dân quân du kích thuộc Mặt trận miền tây Thanh Hóa.
Trung đoàn 9 (gồm tiểu đoàn 337, 353 và 400) được Bộ chỉ huy chiến dịch phân công hoạt động ở «Mặt trận C» của chiến dịch, có nhiệm vụ tiêu diệt vị trí Nghệ, Tu, Nê, Phong, phát triển về phía Cao Phong, Mường Kháng, uy hiếp hậu phương địch, cô lập Vũ Bản, mở rộng cơ sở dân quân du kích dọc đường số 12. Ban chỉ huy «Mặt trận C» do đồng chí Tùng Lâm làm chỉ huy trưởng.
Từ ngày 29 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1949 tiểu đoàn 400, đại đội 39 và đại đội 72 vũ trang tuyên truyền tiêu diệt gọn đồn Khống và đồn Toàn Thắng, diệt và bắt hàng chục tên, thu toàn bộ vũ khí.
Thắng lợi của trung đoàn 9 đã cổ vũ và tạo điều kiện cho «Mặt trận A, C», «chiến dịch Lê Lợi”, Mặt trận miền tây Thanh Hóa và Nga Sơn giành thắng lợi lớn, góp phần đánh bại âm mưu của thực dân Pháp lập «Xứ Mường” ở tây Hòa bình — Thanh Hóa.
Phối hợp với chiến dịch Lê Lợi, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu 4 chủ trương mở chiến dịch Đông Xuân tại Bình — Trị — Thiên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, xây dựng và mở rộng căn cứ đồng bằng. Đây là một kế hoạch hoạt động phối hợp lớn giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân của ba tỉnh Bình - Trị - Thiên. ______________________________________________ 1. Hưởng ứng cuộc rèn cán chỉnh quân lần thứ nhất, Ủy ban kháng chiến và Việt Minh tỉnh Nghệ An đỡ đầu tiểu đoàn 265, Hội Liên Việt đỡ đầu tiểu đoàn 246. Liên hiệp công đoàn đỡ đầu đại đội Hồng Sơn, tỉnh đoàn Thanh niên đỡ đầu đại đội 58, Hội Liên hiệp phụ nữ và Hội cứu quốc đỡ đầu đại đội 18. Đảng Dân chủ đỡ đầu đại đội 50, Bình — Thanh — Thương — Quán (tên của một hãng buôn tư nhân) đỡ đầu đại đội Mường Xén, công ty Việt Thắng đỡ đầu đại đội đặc biệt Quỳ Châu... Nhân dân Nghệ An góp 11 ngàn mẫu ruộng, 16 triệu đồng, nhân dân Hà Tĩnh góp 2 triệu 700 nghìn đồng, 886 tấn thóc, 50 thỏi vàng, 6 lạng bạc, 6 nhẫn vàng, 1.397 chiếc xuyến, 3.948 đôi hoa tai, 5.094 quan tiền đồng, 195 ngôi nhà, 9.900 héc-ta ruộng, 2.967 trâu bò và hàng ngàn gia cầm. 2. Trung đoàn 95 có thêm một đơn vị trợ chiến gồm một phân đội pháo, hai khẩu 12 ly 7, nhiều khẩu đội phóng bom, súng cối lớn và tốc xạ pháo. 3. Trích chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh về việc thành lập Mặt trận Bình—Trị — Thiên —Trung Lào, 10 năm 1949.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2024, 11:07:11 pm » |
|
Tháng 10 năm 1949, đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Đảng ủy Mặt trận chủ trì cuộc hội nghị liên tịch gồm Bộ chỉ huy Mặt trận, bí thư Tỉnh ủy và Tỉnh đội ba tỉnh Bình — Trị — Thiên, ban chỉ huy các trung đoàn 18, 95, 101 để bàn kế hoạch chuẩn bị chiến dịch này.
Hội nghị đề ra nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch như: nắm địch, chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bộ đội, kế hoạch phá hoại đánh giao thông, chuẩn bị lương thực, vũ khí, công tác địch vận, phá tề trừ gian, bao vây kinh tế địch, xây dựng căn cứ đồng bằng... Hội nghị đặt tên đợt hoạt động này là “Chiến dịch Lê Lai».
Lực lượng tham gia gồm: Các trung đoàn 18, 95, 101, tiểu đoàn 346 và 418 của trung đoàn 57 (Nghệ An), tiểu đoàn 364 và bộ đội địa phương, dân quân du kích Bình - Trị - Thiên.
Thời gian từ ngày 1 tháng 11 năm 1949 đến ngày 15 tháng 2 năm 1950, dự kiến chia làm hai đợt:
Đợt 1: (15 tháng 12 năm 1949 đến 15 tháng 1 năm 1950) hoạt động chủ yếu ở địa bàn từ nam Quảng Bình đến bắc Quảng Trị.
Đợt 2: (15 tháng 1 năm 1950 đến 15 tháng 2 năm 1950) từ nam Quảng Trị đến bắc Thừa Thiên.
Chỉ huy chiến dịch: Đồng chí Hà Văn Lâu, Tư lệnh mặt trận.
Trong giai đoạn chuẩn bị, mỗi trung đoàn đánh một trận lớn để «lấy đà». Từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 11 tháng 12 năm 1949 các trung đoàn 18, 57, 95 vừa ráo riết chuẩn bị chiến dịch và tranh thủ đánh một số trận gây cho địch nhiều thiệt hại.
Bộ đội địa phương, dân quân Quảng Trạch (Quảng Bình) phối hợp với bộ đội chủ lực, bao vây đồn Hòa Ninh, Ba Đồn, Đơn Sa, Phú Kinh, Minh Lễ. Dân quân du kích Vĩnh Linh tích cực chống càn, quấy rối đồn lẻ, phá hoại giao thông, cắt đứt vận chuyển tiếp tế của địch nhiều ngày. Đặc biệt ngày 11 tháng 11 năm 1949, quân và dân hai thôn Hiền Lộc, Hiền Ninh (Quảng Ninh) dựa vào làng chiến đấu, anh dũng đánh trả cuộc càn của 250 tên địch, có máy bay, pháo binh yểm hộ, Trong suốt bảy giờ liền, diệt nhiều tên, bẻ gãy cuộc càn quét lớn của địch1.
Dân quân xã Thụy Cần (Vĩnh Linh) vừa đánh địch kết hợp bao vây kinh tế trong suốt hai tháng liền, buộc địch phải rút khỏi đồn Thụy Cần.
Những đợt hoạt động trên tạo ra thế trận có lợi cho ta và giữ được yếu tố bất ngờ trước khi bắt đầu chiến dịch.
Dưới sự chỉ huy của đồng chí Hà Văn Lâu, chỉ huy trưởng chiến dịch, ngày 22 tháng 12 năm 1949, chiến dịch Lê Lai bắt đầu.
Mở màn đợt 1, tiểu đoàn 436 (trung đoàn 18) được tăng cường một đại đội phóng bom tiến công đồn Vạn Xuân, nhưng không diệt được hoàn toàn vị trí này. Sau khi kiểm tra tại chỗ thấy đồn địch quá rộng, hỏa lực công đồn của ta có hạn, chỉ huy trưởng chiến dịch quyết định chuyển sang bao vây đồn để diệt quân tiếp viện.
Đúng như dự kiến của ta, ngày 23 tháng 12, địch tám lần điều động quân đến tiếp viện, bị ta bắn chìm ba đò, diệt hàng chục tên.
Ngày 25 tháng 12, tại Thạch Xá, tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95) do tiểu đoàn trưởng Lê Thuyết chỉ huy, chặn đánh một cánh quân từ Đồng Hới vào tiếp viện cho đồn Vạn Xuân, diệt và làm bị thương 30 tên, bắt 51 tên, trong đó có tên thiếu tá Bơ-ruy (Bruge) chỉ huy phân khu Quảng Bình, tên trung úy đại đội trưởng, 22 tên Âu-Phi, thu 62 súng, hai máy vô tuyến điện, phá hủy bảy xe.
Ngày 30 tháng 12, địch rút chạy khỏi đồn Vạn Xuân. Từ đây, phía tây khu vực sông Kiến Giang (Lệ Thủy) được giải phóng. Vùng tự do của ta được mở rộng.
Ngày 31 tháng 12, ta vận động lính địch gây binh biến ở Cổ Hiền. Toàn bộ quân địch ở đồn này đã mang vũ khí về với kháng chiến.
Cùng thời gian trên, trung đoàn 95 chuẩn bị đánh quân ứng chiến liên tỉnh trên đường số 1 từ cầu Huyện đến Hạ Cờ, nhưng địch không đến, đợt 1 chiến dịch kết thúc.
Ngày 4 tháng 1 năm 1950, trung đoàn 95 rút vào Vĩnh Linh để chuẩn bị hoạt động đợt 2.
Phối hợp với hướng chính chiến dịch, trong đợt 1, từ ngày 13 tháng 12 năm 1949 đến ngày 15 tháng 1 năm 1950, trung đoàn 57 đánh địch ở Đại Nam, Hòa Ninh, giải phóng Đơn Sa (bắc Quảng Bình) phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở khu vực bắc-nam sông Gianh, buộc địch phải rút nhiều vị trí ở tả ngạn, giải phóng một khu vực Thiên chúa giáo mà trước đây địch đã xây dựng thành hậu phương của chúng. Tiếp đó, trung đoàn đánh quân tiếp viện từ Thanh Khê về Ba Đồn, diệt hơn 100 tên, bắt hơn một chục tù binh, giải tán nhiều ban hội tề. Về phía địch, phát hiện chủ lực ta hoạt động mạnh, bộ chỉ huy Pháp liền điều quân từ Huế và Đà Nẵng ra phối hợp với quân nhảy dù, hình thành bốn cánh quân mở cuộc càn lớn từ nam Quảng Bình vào Phong-Quảng nhằm tiêu diệt trung đoàn 101 và phân tán lực lượng ta. _____________________________________________ 1. Thôn Hiền Lộc có hai lớp rào bao bọc và hệ thống giao thông hào dài 2.000 mét, có đường hầm bí mật nối liền với thôn Ta Nhang. Quân Pháp càn vào thôn này nhằm khủng bố nhân dân, dập tắt phong trào xây dựng làng chiến đấu trong vùng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2024, 11:10:18 pm » |
|
Đêm 25 tháng 12, trung đoàn 95 vừa chuyển vào Phong Điền để phối hợp với trung đoàn 101 thực hiện kế hoạch đợt 2 thì được tin địch tập trung lực lượng lớn càn hai huyện Phong — Quảng. Ban chỉ huy trung đoàn 95 quyết định cơ động toàn bộ trung đoàn và tiểu đoàn 319 (trung đoàn 101) ra ngay Phong Chương (Phong Điền) để chặn đánh cánh quân lớn của địch càn khu vực này.
Ngày 27 tháng 1 năm 1950, tại chợ Vân Trình và làng Phò Trạch, dưới quyền chỉ huy của trung đoàn trưởng Lê Bá Vận, các tiểu đoàn 227, 302, 319, 310 đã chiến đấu quyết liệt với ba cánh quân địch suốt từ 9 giờ đến 17 giờ, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 130 tên Âu-Phi, làm bị thương 150 tên, giải thoát 50 cán bộ bị chúng bắt.
Lương Mai, Phò Trạch là trận vận động chiến lớn, chủ lực ta đã đọ sức quyết liệt với đội quân ứng chiến Âu — Phi của địch, là trận thử thách năng lực tổ chức chỉ huy của cán bộ và trình độ kỹ-chiến thuật của bộ đội. Thắng lợi của trận đánh khẳng định trình độ tác chiến vận động ở địa hình đồng bằng của bộ đội chủ lực Bình— Trị—Thiên đã có bước trưởng thành rõ rệt1. Tuy nhiên cũng bộc lộ rõ một số khuyết điểm về lãnh đạo, chỉ huy của cán bộ. Ta chưa hoàn thành được mục tiêu đề ra, chưa tiêu diệt được, một trong các cánh quân của địch, chủ lực ta cũng bị tổn thất đáng kể.
Phối hợp với bộ đội chủ lực, trong đợt hai các tỉnh đội phát động «Tuần lễ địa lôi», «Tuần lễ rào làng”, «Tuần lễ phá hoại» trong toàn tỉnh. Đêm đêm hàng ngàn dân quân và nhân dân đổ ra đường, dựng vật chướng ngại, cản tiếp tế của địch. Quốc lộ số 1 đoạn từ Lệ Thủy (Quảng Bình) đến Quảng Trị và tỉnh lộ số 2 (Bố Trạch) bị triệt phá nặng, làm tê liệt giao thông địch nhiều tuần lễ.
Bộ đội địa phương, dân quân du kích Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực tiến công vị trí Thanh Lê, Như Lý, Dốc Miếu, Cửa Tùng, Nham Biều, An Lộc, phá hoại nặng quốc lộ số 1 ở Vĩnh Linh và các tỉnh lộ. Dân quân, du kích thượng du bám đường số 9 phục kích giao thông, phá hủy bốn xe và chặt cây to lấp đường, làm tắc nghẽn gần 50 ki-lô-mét, buộc địch phải huy động lực lượng lớn để giải tỏa. Dân quân còn góp 40.000 ngày công rào 41 thôn, bao vây tám vị trí địch trong tỉnh.
Tại Thừa Thiên, lực lượng vũ trang địa phương giật mìn làm đổ một đoàn tàu quân sự ở Phú Lộc, đột nhập thành phố Huế, phá hỏng một đầu máy xe lửa và nhà máy điện tả ngạn sông Hương. Dân quân các huyện Phong — Quảng — Hương — Phú phá hoại nặng đường Sịa — Phú Ốc, Tuần — Tây Thượng — Thuận An, cắt tiếp tế địch nhiều ngày.
Trong chiến dịch Lê Lai, quân và dân Bình—Trị—Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên, thu hơn 200 súng các loại, lật 13.437 mét đường sắt, đào 49.000 mét khối đường đất, đắp 500 ụ trên đường giao thông, phá 67 cầu, 32 cống, cắt 22.213 mét dây điện thoại, giải phóng một khu vực rộng 5.000 ki-lô-mét vuông, mở rộng vùng tự do và căn cứ đồng bằng nam Quảng Bình.
Chiến dịch Lê Lai là chiến dịch phối hợp chiến trường Liên khu 3 của quân dân Bình—Trị—Thiên có quy mô lớn nhất từ trước đến lúc này đã gây cho địch nhiều thiệt hại, góp phần trực tiếp làm thay đổi so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta trên chiến trường liên khu, mở ra một triển vọng mới để đẩy mạnh quy mô tác chiến tập trung và vận động chiến lên một trình độ mới cao hơn, nhằm tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành thế chủ động chiến trường.
Tuy nhiên, ta còn phạm một số khuyết điểm: hiểu biết về chiến dịch và nghệ thuật chiến dịch còn hạn chế, mục đích chiến dịch thiếu cụ thể, phạm vi không gian rộng, thời gian quá dài, sử dụng lực lượng thiếu tập trung, chưa tạo được ưu thế để áp đảo quân địch. Khuyết điểm rõ nhất của lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch là tư tưởng chủ quan đơn giản, ham «đánh to thắng lớn» dẫn đến tình hình tuy diệt được một số sinh lực quan trọng của địch, nhưng chủ lực ta cũng bị tồn thất đáng kể.
Đi đôi với tiến công quân sự, công tác địch vận đã có bước tiến bộ mới. Từ chỗ chỉ lôi kéo từng cá nhân, từng bộ phận nhỏ, đến chiến dịch Lê Lai ta vận động được cả đơn vị địch như ở đồn Cổ Hiền (Quảng Bình), Địa Linh (Thừa Thiên) trở về với kháng chiến.
Mặt trận đấu tranh kinh tế với địch đã trở thành một bộ phận quan trọng của chiến tranh nhân dân ở địa phương. Nhân dân chống địch cướp thóc, gạo, không bán lương thực, thực phẩm cho chúng, cắt phá giao thông, cản trở tiếp tế của địch, kiểm soát các chợ vùng bị tạm chiếm, bài trừ hàng ngoại hóa...
Với truyền thống đoàn kết một lòng đánh giặc, nhân dân ở vùng tạm chiếm, vùng giáp ranh loan báo kịp thời âm mưu địch, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân ở vùng an toàn gặt hái, thu giấu của cải. Nhân dân ở vùng tương đối an toàn tổ chức nuôi dưỡng nhi đồng, mua sắm vũ khí chi viện cho dân quân, du kích ở những nơi địch thường xuyên khủng bố.
Thực hiện chính sách nông thôn của Đảng và Chính phủ, chính quyền các địa phương tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian và những ruộng bỏ hoang chia cho nông dân nghèo, dân quân du kích, hợp tác xã và tập đoàn cày cấy. Chính sách giảm tô, giảm tức được chính quyền các cấp thực hiện triệt để. Nhân dân phấn khởi tăng gia sản xuất, tích cực ủng hộ kháng chiến.
Với các biện pháp trên, mặc dù luôn luôn bị giặc khủng bố càn quét và bão lụt đe dọa, nhân dân Bình— Trị—Thiên vẫn cơ bản tự túc được phần lớn lương thực, mức sống tạm ổn định.
Biểu dương thành tích to lớn của quân dân Bình—Trị— Thiên trong năm 1949, Phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng tối cao Phạm Văn Đồng khẳng định: "Bình—Trị—Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận, đó là điều đáng khen. Tôi xin gửi lời hoan nghênh chiến sĩ đồng bào Bình — Trị — Thiên"2. ______________________________________________ 1. Tháng 3 năm 1950, Ban chấp hành Trung ương Đảng nhận xét: Trận Phò Trạch — Lương Mai có thể coi là một trận vận động chiến kiểu mẫu trong toàn quốc suốt quá trình phát triển vận động chiến của quân ta ở đồng bằng, (lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4). 2. Điện ngày 18 tháng 11 năm 1949 gửi Hội nghị kháng chiến hành chính Liên khu (Lưu trữ tại Phòng lịch sử Quân khu).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2024, 09:14:30 pm » |
|
Cuối năm 1949, đấu năm 1950, tình hình quốc tế và Đông Dương có những chuyển biến quan trọng.
Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của nhân dân ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Trên mặt trận ngoại giao, ta giành được thắng lợi to lớn. Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu lần lượt tuyên bố công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự kiện lịch sử có ý nghĩa đó đã đem đến cho quân và dân cả nước ta niềm cổ vũ to lớn.
Về phía địch, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong nước cũng như trên chiến trường, mâu thuẫn nội bộ giữa bọn chỉ huy quân sự Pháp trong việc thực hiện kế hoạch Rơ-ve, nhưng thực dân Pháp vẫn ngoan cố tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược với mức độ ngày càng tăng.
Tại chiến trường Bình—Trị—Thiên, sau chiến dịch Lê Lai địch tăng cường phòng thủ, tích cực đánh phá ta về nhiều mặt, nhằm giữ vững vùng chiếm đóng, vơ vét sức người, sức của và ngăn chặn sự phát triển của ta.
Ở đồng bằng Thừa Thiên và trên đường quốc lộ số 1 từ Huế đến Đông Hà, địch đóng hơn 90 cứ điểm, 120 lô cốt, tháp canh. Cứ 500 - 1000 mét lại có một lô cốt tháp canh. Ở các vùng có người theo đạo Thiên chúa chúng lập thêm các đồn hương vệ. Địch ra sức bắt lính, đôn quan, xây dựng Việt binh đoàn, lấy thanh niên theo đạo Thiên chúa giáo làm nòng cốt, xây dựng các đội ứng chiến mạnh, mở nhiều cuộc càn quét, dồn dân vào các khu chiêu an, dùng máy bay, pháo binh, tàu chiến đánh phá dữ dội vùng tự do của ta.
Cuối tháng 2 năm 1950, Bình—Trị—Thiên bị một trận lụt lớn chưa từng có. Hầu hết lúa công lương bị ngập. Lương thực thiếu, muối cũng rất khan hiếm. Bộ đội phải ăn cả gạo mục hấp sẵn vẫn chưa đủ no. Tình hình đó đã gây cho ta rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng lực lượng, đẩy mạnh tác chiến phối hợp chiến trường và thực hiên lệnh Tổng động viên1.
Giữa lúc địa phương đang tập trung đối phó với nạn đói thì giặc Pháp lại bắt đầu thực hiện kế hoạch cướp phá mùa tháng 4. Chúng dã man tổ chức "chiến dịch mùa lúa" cướp lúa hột, phá lúa non, vơ nốt số thóc ít ỏi còn lại sau trận lụt, hòng triệt nguồn tiếp tế chiến khu và đẩy nhân dân Bình —Trị —Thiên vào cảnh đói khổ không còn đủ sức chiến đấu, buộc phải theo chúng vào các khu «Chiêu an». Đây là một kế hoạch hết sức thâm độc, tàn bạo của thực dân Pháp và ngụy quyền tay sai.
Đầu tháng 4, bộ chỉ huy quân sự Pháp điều tiểu đoàn 8 Spahis, tiểu đoàn nhảy dù (B.E.P.) và một tiểu đoàn Bắc Phi từ Đà Nẵng ra mở nhiều cuộc hành quân càn quét cướp phá mùa ở hai tỉnh Trị — Thiên.
Ngụy quyền tay sai phát động «Chiến dịch Phan Văn Giáo» đánh vào vùng trọng điểm lúa. Giặc Pháp bắt đồng bào tập trung gặt, đập, làm sân phơi, vựa lúa dưới họng súng lưỡi lê của chúng. Tại những nơi không kiểm soát được chúng dùng máy bay, đại bác triệt phá hoa màu, trâu bò, nông cụ, công trình thủy lợi, đê đập, nhằm khuất phục nhân dân ta.
Để đối phó với âm mưu của địch, tháng 3 năm 1950 Thường vụ Liên khu ủy họp bất thường ra nghị quyết về «Kế hoạch bảo vệ mùa», coi đây là công tác trọng tâm của các cấp bộ Đảng ở Bình - Trị — Thiên trong thời gian này.
Hội nghị chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể của quân và dân Bình - Trị - Thiên là: «Đẩy mạnh chiến tranh du kích, gặt mau giấu kín, lấy dân quân và nông dân là trụ cột trong việc bảo vệ mùa. Lập tập đoàn vận tải để chuyển thóc trong vùng địch ra»2.
Thực hiện chủ trương trên, ngày 10 tháng 4, trung đoàn 95 đánh địch hành quân cướp lúa ở Hà My — Đầu Kênh (Triệu Phong), diệt ba đại đội, đập tan cuộc càn của địch. Nhân dân khắp vùng hồ hởi yên tâm gặp lúa.
Theo đầu ngọn lúa chín, đầu tháng 5 địch tập trung quân mở năm cuộc càn lớn với lực lượng từ 1.000 đến 2.000 tên vào các huyện Do Linh, Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị) và Lệ Thủy, Bố Trạch (Quảng Bình).
Kiên quyết bảo vệ nhân dân gặt mùa, từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 5 năm 1950, trung đoàn 18 đánh địch ở Thượng Phong và Thượng Trạch (Lệ Thủy), gây cho địch một số tổn thất. Biết không thể đương đầu với chủ lực ta bằng lực lượng tại chỗ của tỉnh, bộ chỉ huy Pháp ở trung phần cấp tốc điều tiểu đoàn 8 Spahis, gồm bốn đại đội thiện chiến cùng 150 tên thuộc tiểu đoàn 27 Âu - Phi (BTA) và tiểu đoàn 6 Spahis tiến công trung đoàn 18 ở Xuân Bồ (Lệ Thủy), nhằm tiêu diệt chủ lực ta, gạt bỏ trở lực để chúng tự do cướp phá mùa màng. ____________________________________________ 1. Tháng 2 năm 1950, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 20-SL quyết định tổng động viên. 2. Trích Nghị quyết Thường vụ Liên khu ủy (Tháng 3 năm 1950). Tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Đảng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2024, 09:20:48 pm » |
|
Ngày 20 tháng 5 năm 1950, sau khi dùng phi pháo bắn phá dữ dội vào làng Xuân Bồ, địch tổ chức hai gọng kìm từ hướng Mỹ Trạch và Thượng Phong đánh vào trung đoàn 18.
Được lệnh của trung đoàn trưởng Phùng Duy Phiên và ủy viên chính trị Quang Minh, tiểu đoàn 274 do tiểu đoàn trưởng Dương Bá Nuôi chỉ huy lập tức vượt sông về phía đông Xuân Bồ, phối hợp với tiểu đoàn 436 đánh địch.
Được sự yểm hộ mạnh mẽ của máy bay và pháo binh, từ 11 giờ đến 17 giờ, địch liên tiếp tổ chức nhiều đợt tấn công vào đội hình trung đoàn. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra rất gay go quyết liệt. Dựa vào công sự, làng chiến đấu, tiểu đoàn 274 và 436 đã dũng cảm đánh lui nhiều mũi tiến công của địch.
Bất chấp mọi nguy hiểm ác liệt, dân quân du kích và nhân dân sát cánh cùng bộ đội chiến đấu. Hàng chục thuyền lớn, nhỏ, hàng trăm cây chuối được ghép thành bè mảng kịp thời chở bộ đội và vũ khí qua sông. Các bà mẹ chiến sĩ và chị em phụ nữ tận tình tiếp tế cơm nước, săn sóc nuôi dưỡng thương binh.
Trong lửa đạn chiến đấu ác liệt, nhiều tấm gương anh dũng tuyệt vời đã xuất hiện. Tiêu biểu là anh hùng Lâm Úy và cha con cụ lái đò Dương Né. Cùng với chiến công Xuân Bồ lịch sử1, tên tuổi những người con ưu tú ấy của quê hương mãi mãi sống trong lòng dân Bình — Trị — Thiên.
Sau gần 10 giờ chiến đấu, ta diệt 200 tên, làm bị thương 300 tên, trong đó có tên quan năm Lăng-le (Langlais) chỉ huy trưởng phân khu Quảng Bình trực tiếp chỉ huy trận càn, tên quan tư Sơ-ríp (Serip), phó chỉ huy tiểu đoàn 8 Spahis và bốn tên quan hai. Thắng lợi nổi bật trong trận này là ta đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn 8 Spahis, phá tan kế hoạch cướp mùa tháng 5 của địch ở hai huyện trọng điểm lúa phía nam Quảng Bình, đập tan ý đồ của địch tiêu diệt trung đoàn 18.
Chỉ sau hơn một năm thành lập, trung đoàn 18 đã ghi thêm một chiến công xuất sắc, làm nức lòng quân dân Bình — Trị — Thiên và toàn liên khu.
Từ trận Xuân Bồ, ta đã rút ra nhiều bài học sâu sắc, nhất là công tác nắm địch và bố trí đóng quân ở đồng bằng.
Để chỉ đạo một chiến trường quan trọng và phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường toàn quốc, ngày 17 tháng 5 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra chỉ thị thành lập «Bộ chỉ huy Mặt trận Bình — Trị — Thiên» (trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh). Chỉ định đồng chí Trần Quý Hai làm chỉ huy trưởng, đồng chí Chu Văn Biên làm chính ủy. Mặt trận có nhiệm vụ «Thực hiện kế hoạch quân sự của Tổng tư lệnh; trực tiếp chỉ huy bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân thuộc mặt trận; phối hợp với Bộ tư lệnh địa phương Liên khu và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4 trong việc lãnh đạo và xây dựng bộ đội địa phương. Phát triển dân quân, chuẩn bị chiến trường và bảo vệ địa phương. Mặt trận có ba trung đoàn (18, 95, 101, tiểu đoàn 888 pháo binh)»2.
Ngày 14 tháng 4 năm 1950, dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Anh, đại diện Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4, Bí thư Đảng ủy Mặt trận, hội nghị quân — dân — chính Bình — Trị — Thiên họp bàn kế hoạch thực hiện chủ trương mở chiến dịch Đông Xuân. Nhằm «Phát triển chiến tranh du kích đến cực độ, đẩy vận động chiến lên địa vị chủ yếu»3.
Hội nghị quyết nghị: huy động tất cả khả năng của nhân dân ba tỉnh mở «Chiến dịch Phan Đình Phùng»; lấy chiến thắng của chiến dịch thúc đẩy cuộc chiến tranh du kích ở Bình —Trị —Thiên tiến lên đỉnh cao mới.
Ngày 10 tháng 6, tại xóm Luật Sơn, Trường Thủy (Lệ Thủy), Bộ chỉ huy Mặt trận phổ biến kế hoạch chiến dịch và giao nhiệm vụ tác chiến cho các đơn vị.
Ý định của chiến dịch là tiêu diệt đội ứng chiến tỉnh Quảng Bình và một bộ phận ứng chiến liên tỉnh, lấy tiêu diệt quân ứng chiến liên tỉnh làm chính. Diệt một cứ điểm bằng cách đánh công kiên để rút kinh nghiệm huấn luyện bộ đội.
Lực lượng tham gia hướng chủ yếu có: Trung đoàn 18 (gồm tiểu đoàn 346, 274) và trung đoàn 95 (gồm tiểu đoàn 227, 302 và 310, tiểu đoàn 888 pháo binh). Hướng phối hợp có trung đoàn 101, tiểu đoàn 364 và bộ đội địa phương, dân quân du kích ba tỉnh.
Chỉ huy chiến dịch đồng chí Trần Quý Hai, chỉ huy trưởng Mặt trận Bình — Trị — Thiên.
Ngày 17 tháng 6 mở màn chiến dịch, một đại đội thuộc trung đoàn 18 bao vây và quấy rối vị trí Sen Hạ. Ngày 18 tháng 6 ta tiếp tục bao vây vị trí này, nhằm kéo quân ứng chiến liên tỉnh đến để tiêu diệt.
Đúng như dự kiến của ta, sáng 19 tháng 6, địch điều 400 quân ứng chiến từ Hòa Luật Nam vào cứu nguy cho Sen Hạ liền bị tiểu đoàn 274 (lực lượng diệt viện) chặn đánh quyết liệt, diệt và bắt 250 tên, thu toàn bộ vũ khí, phá hủy chín xe tại Sen Động, Phú Thiết. _____________________________________________ 1. Trung đoàn 18 và một số cán bộ, chiến sĩ được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, liệt sĩ Lâm Úy được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. 2. Trích mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 17 tháng 5 năm 1950. 3. Nghị quyết Liên khu ủy về nhiệm vụ Bình — Trị — Thiên, ngày 30 tháng 2 năm 1950.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2024, 09:29:08 pm » |
|
Tối 19 tháng 6, trung đoàn 18 dùng trọng pháo yểm hộ cho bộ binh tiếp tục tiến công vị trí Sen Hạ lần thứ hai nhưng không kết quả. Địch cho hai đại đội lính dù quân thuộc 6è B C.C.P. nhảy dù xuống Sen Hạ và Hòa Luật Nam. Tiếp đó, ngày 21 tháng 6 chúng điều 82 xe chở 700 quân thuộc tiểu đoàn Âu — Phi (R.T.A.) và 200 quân từ Đồng Hới vào tiếp viện cho Sen Hạ.
Được tăng viện, từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 6, địch tổ chức càn quét quyết liệt vùng Mỹ Thổ, Duy Tân và yểm hộ cho đồng bọn ở Mỹ Trạch và Liêm Thiện rút về Hòa Luật.
Ngày 20 tháng 6, được tin địch tập trung quân ở Hồ Xá, mặt trận liên điều trung đoàn 95 và tiểu đoàn 274 vào Hạ Cờ, Chấp Lễ (Vĩnh Linh). Để bảo đảm đánh chắc thắng, ta điều luôn cả tiểu đoàn 436 vào chiến đấu.
Ngày 25 tháng 6, năm tiểu đoàn của ta bày sẵn thế trận tại Hạ Cờ. Chiều ngày 27 tháng 6, địch cho hơn 70 xe chở trên 1.000 tên, có máy bay yểm hộ, từ Đồng Hới vào Đông Hà, đoàn xe địch lọt vào trận địa phục kích sẵn của ta. Được lệnh của đồng chí Lê Bá Vận1, các đơn vị đồng loạt xung phong, cắt đội hình địch thành nhiều đoạn. Dựa vào địa hình có lợi, địch co cụm ngoan cố chống trả quyết liệt. Sau năm giờ chiến đấu vô cùng căng thẳng ta đã diệt hơn 300 tên địch, bắn rơi một máy bay chỉ điểm.
Hạ Cờ là trận đầu tiên ta sử dụng hai trung đoàn phục kích ban ngày trên địa hình đồng bằng chiến trường Bình-Trị-Thiên, làm tổn thất nặng nề đội quân ứng chiến tinh nhuệ của địch có máy bay, pháo binh yểm hộ. Thắng lợi đó đã góp phần nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực Bình - Trị - Thiên.
Sau trận này, trung đoàn 95 và tiểu đoàn 274 trở lại nam Quảng Bình để tiếp tục thực hiện kế hoạch đã đề ra.
Ngày 13 tháng 7, tiểu đoàn 436 được tăng cường trọng pháo cường tập vị trí Sen Hạ nhằm tạo điều kiện cho trung đoàn 95 diệt viện. Phán đoán được ý định của ta, địch đã không cho quân đến tiếp viện. Chiến dịch Phan Đình Phùng kết thúc.
Đúng vào thời điểm này Bộ Tổng tư lệnh lệnh cho Mặt trận Bình-Trị-Thiên kéo dài chiến dịch Phan Đình Phùng thêm một tháng để phối hợp với chiến dịch Biên Giới. Lúc này, tình hình địch đã thay đổi. Chiến trường nam Quảng Bình lại hẹp và trống trải, không thuận lợi cho bộ đội chủ lực hoạt động tập trung dài ngày. Lương thực, đạn dược hết, mặt khác sau các trận đọ sức quyết liệt với chủ lực địch, bộ đội ta chưa kịp củng cố lấy lại sức. Đó là những khó khăn lớn đang đặt ra lúc này. Nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề đối với chiến trường chính, Đảng ủy và Bộ chỉ huy Mặt trận chủ trương giao nhiệm vụ tác chiến khu vực bắc Quảng Bình cho bộ đội địa phương và dân quân du kích, còn chủ lực thì nhanh chóng cơ động vào nam Quảng Trị để tác chiến phối hợp với chiến trường.
Sau gần một tháng chiến đấu phối hợp theo yêu cầu của Bộ, quân và dân Bình-Trị-Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu 450 tên địch, phá hủy bảy xe, một kho đạn, bắn rơi một máy bay, thu năm trung liên và hơn 100 súng các loại.
Từ chiến dịch Lê Lai và Phan Đình Phùng, ta đã rút ra bài học bổ ích: Trên một chiến trường phối hợp như Bình—Trị —Thiên, trong điều kiện địch còn mạnh, địa bàn hẹp, trang bị vũ khí của ta còn thiếu thốn, nhất là vũ khí nặng, năng lực chỉ huy tác chiến của cán bộ còn yếu, thì việc tập trung chủ lực để mở chiến dịch đánh lớn dài ngày là chưa thật phù hợp, dễ gây tổn thất, ảnh hưởng sức chiến đấu lâu dài.
Đầu tháng 8 năm 1950, Đảng ủy Mặt trận họp bàn biện pháp giải quyết tình hình khó khăn của Bình-Trị-Thiên sau chiến dịch Phan Đình Phùng. Đảng ủy nhận định: Do có những thiếu sót về chỉ đạo, vận dụng chiến thuật, cũng như năng lực chỉ huy của cán bộ, trong các trận đánh lớn, tỷ lệ thương vong của bộ đội chủ lực và lượng tiêu thụ vũ khí đạn dược còn lớn.
Trong lúc đó, địch dựa vào hệ thống lô cốt tháp canh dày đặc và các đội ứng chiến mạnh, mở các cuộc hành quân càn quét lớn, nên điều kiện tác chiến cỏa bộ đội địa phương và dân quân du kích bị hạn chế. Phong trào chiến tranh du kích ở nhiều nơi bị chững lại, thậm chí bị giảm sút.
Trước tình hình ấy, hội nghị đề ra ba việc cần tập trung giải quyết:
“1. Tập trung huấn luyện, củng cố bộ đội chủ lực và chỉnh đốn cơ quan.
2. Đẩy mạnh hoạt động của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Bộ đội chủ lực lấy huấn luyện xây dựng làm chính, tổ chức đánh một, hai trận, nhưng không để ảnh hưởng nhiều đến xây dựng. Tránh khuynh hướng ăn to, cần đánh chắc thắng, cướp nhiều vũ khí của địch, nhất là đạn để tiếp tục hoạt động”.
Những chủ trương đúng đắn của hội nghị đã kịp thời tháo gỡ khó khăn trước mắt, góp phần giữ vững và phát triển phong trào chiến tranh do kích ở Bình — Trị — Thiên.
Thực hiện chủ trương trên, các đơn vị chủ lực củng cố bộ đội nhằm vào những mặt yếu hiện tại và yêu cầu chiến đấu sắp tới để huấn luyện. Ngoài các nội dung huấn luyện thường xuyên, các đơn vị còn học tập kỹ thuật bắn máy bay, sử dụng khí tài thông tin, chiến thuật đánh giao thông vận động phục kích, đánh cứ điểm và tác chiến trong thành phố.
Các trường đào tạo cán bộ sơ cấp cho địa phương được mở liên tiếp, mỗi khóa 200 người, thời gian ba đến bốn tháng. Năm 1950 Mặt trận đào tạo được 830 cán bộ từ tiểu đội đến đại đội, đáp ứng kịp thời yêu cầu chiến đấu và phát triển lực lượng của cả ba thứ quân.
Công tác tuyển quân, huấn luyện tân binh, bổ sung biên chế được khẩn trương tiến hành. Tiểu đoàn 888 trọng pháo trực thuộc Bộ chỉ huy Mặt trận được thành lập đã trang bị súng 12 ly 7, cối 120 mi-li-mét và phóng bom 185 mi-li-mét.
Trung đoàn 95 được ưu tiên trang bị pháo và khí tài thông tin.
Bộ đội địa phương phát triển mạnh. Dân quân được tổ chức lại thống nhất từ tỉnh đến xã. Nhiều bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên được cử làm chính trị viên xã đội. Hầu hết xã đội trưởng là đảng viên. Các chi bộ đưa các đảng viên vào làm nòng cốt. Các đoàn thể quần chúng cử những người hăng hái vào dân quân. Tình hình mọi mặt của mặt trận đều có bước chuyển biến. _____________________________________________ 1. Bộ chỉ huy Mặt trận giao cho ban chỉ huy trung đoàn 95 chỉ huy đánh trận này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2024, 09:29:56 pm » |
|
Cuối tháng 10 năm 1950, toàn liên khu lại bị lụt lớn chưa từng có với những hậu quả nặng nề: lúa bị mất 1.600 tấn, muối 1.000 tấn, 224 người chết; 1.400 trâu bò và gần 1.000 nóc nhà bị nước cuốn trôi.
Ở Bình — Trị — Thiên, lụt lớn hơn năm Giáp Tý (1924) là năm kỷ lục trước đây. Tại Huế nước trên mặt cầu Tràng Tiền ngập trên 1,50 mét, hơn 200 người bị chết, lúa cất giấu dưới đất bị mục, bị thối, số để trên nhà cũng bị hỏng và trôi sạch. Mùa tháng 10 mất từ 60 đến 80 phần trăm, rau ngắn ngày mới gieo trồng đều bị nước cuốn.
Lợi dụng khó khăn của ta, địch tăng cường càn quét khủng bố, bắt lính, lập hội tề, đẩy nhanh dân vào tình thế cùng cực.
Trước tình hình khó khăn dồn dập ấy, đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Đảng ủy Mặt trận triệu tập Bộ chỉ huy và các bí thư tỉnh ủy ba tỉnh bàn biện pháp khắc phục khẩn cấp. Hội nghị đề ra chủ trương:
1. Động viên toàn thể quân, dân đoàn kết khắc phục mọi khó khăn, nhanh chóng ổn định nơi ăn, ở, khẩn trương trồng rau màu ngắn ngày để cứu đói, phòng chống dịch bệnh phát triển.
2. Vận động đồng bào vùng tạm chiếm (nhất là thành phố Huế, Quảng Trị, Đồng Hới) đấu tranh buộc địch phải cứu tế nhân dân vùng bị lụt nghiêm trọng. Kêu gọi đồng bào đô thị, đặc biệt là giới Phật giáo ở Huế tổ chức quyên góp lương thực, thực phẩm, thuốc men chuyển ra vùng tự do giúp nhân dân và bộ đội.
3. Rút gọn cơ quan mặt trận, chỉ để lại chiến trường những đơn vị thật cần thiết, chấn chỉnh trung đoàn 95 và 101, điều tiểu đoàn 436 (thuộc trung đoàn 18) bổ sung cho trung đoàn 101 để có đủ ba tiểu đoàn. Thành lập hai khung tiểu đoàn đưa ra khu để xây dựng bổ sung cho trung đoàn 18.
Các lực lượng còn lại nhanh chóng tổ chức hành quân ra Hà Tĩnh để củng cố xây dựng, giảm bớt khẩu ăn tại chỗ, dành lương thực, thực phẩm cho hai trung đoàn ở lại chiến trường. Chưa bao giờ quân và dân Bình — Trị — Thiên lại đứng trước thử thách lớn như lúc này.
Tháng 11 năm 1950, hơn 2.500 cán bộ chiến sĩ thuộc trung đoàn 18 (trừ tiểu đoàn 436), tiểu đoàn pháo 888, trường quân chính, đoàn văn công và một số phân đội khác do đồng chí Phó chỉ huy Mặt trận chỉ huy lưu tuyến tạm biệt chiến trường, hành quân ra phía bắc liên khu trong đói rét, bệnh tật. Sau gần một tháng hành quân gian khổ, vượt hàng trăm ki-lô-mét, trung tuần tháng 12 các đơn vị đã có mặt ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh). Được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương đón tiếp niềm nở và nuôi dưỡng chu đáo.
Nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh lựa chọn hàng trăm cán bộ chiến sĩ ưu tú trong các tiểu đoàn bộ đội địa phương để xây dựng hai tiểu đoàn 226 và 332 bổ sung cho trung đoàn 18. Đồng thời quyên góp lương thực, thực phẩm, quần áo, tiền bạc nuôi dưỡng hàng ngàn cán bộ chiến sĩ trong tám tháng trời.
Tại Bình —Trị —Thiên, mặc dù cùng một lúc phải đương đầu với hai kẻ thù địch họa và thiên tai, nhưng quân dân ba tỉnh đã gan góc chịu đựng gian khổ, hy sinh quyết giữ vững cuộc kháng chiến.
Trong hoạn nạn khó khăn, quân dân Bình —Trị — Thiên, đã thực hiện “Bát cơm sẻ nửa, củ sắn chia đôi». Bộ đội bớt ăn, bớt mặc, nhường một phần thuốc men, cứu chữa những người dân đang ốm và chi viện cho những vùng khó khăn nhất.
Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu phát động ngay phong trào tăng gia sản xuất và tiết kiệm, ủng hộ Bình —Trị —Thiên, với khẩu hiệu «Tiết kiệm lương thực chi viện cho Bình—Trị — Thiên», «Tiết kiệm thì giờ để sản xuất», yêu cầu mỗi người vào công tác ở Bình — Trị — Thiên mang theo một ki-lô-gam gạo và nửa ki-lô-gam hạt giống (ngô, đậu...).
Các cơ quan đoàn thể và nhân dân ba tỉnh hậu phương gửi vào Bình —Trị—Thiên 4.500 tấn lương thực, 1.000 trâu bò. Với kinh nghiệm và sự nỗ lực chủ quan của mình chỉ sau mấy tháng, quân và dân ba tỉnh đã đẩy lùi được nạn đói, nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục sản xuất tiếp tục đưa phong trào kháng chiến đi lên, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến.
Vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, trong năm 1950 nhân dân Thừa Thiên đã góp được 474 tấn lúa, 13 triệu đồng và 15.000 dân công phục vụ kháng chiến, tạm cấp 5.778 mẫu ruộng đất cho nông dân nghèo. Quảng Trị góp quỹ kháng chiến 5,5 triệu đồng, quỹ công lương 312 tấn lúa, thuế điền thổ 768 tấn, 64.885 lượt người đi dân công. Quảng Bình góp quỹ công lương 1.885 tấn, thuế điền thổ 130 tấn.
Giữa năm 1950, thực dân Pháp đã đưa vào chiến trường Bình — Trị — Thiên những đoàn tàu bọc thép được trang bị vũ khí mạnh. Các toa đều có lỗ châu mai bắn ra các hướng. Đáng chú ý là tàu được trang bị hai khẩu pháo 40 mi-li-mét.
Để giải quyết khó khăn về vũ khí công đồn, rèn luyện trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội, sau một thời gian được huấn luyện cách đánh tàu bọc thép, bộ chỉ huy Mặt trận quyết định dùng một bộ phận của trung đoàn 95, 101 tiêu diệt đoàn tàu bọc thép trên đoạn đường sắt Mỹ Chánh — Diễn Sanh.
Tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95) được giao nhiệm vụ chủ công trong trận đánh này. Ngoài ba đại đội trong biên chế, tiểu đoàn còn được tăng cường và phối hợp chiến đấu: tiểu đoàn 319 và một đại đội thuộc trung đoàn 101, một đại đội công binh, một đại đội trợ chiến, một đại đội thông tin, hai đại đội bộ đội địa phương (Hải Lăng, Phong Điền), 200 dân quân phối hợp chiến đấu và vận tải tiếp tế.
Được sự chỉ viện đắc lực của đại đội trợ chiến và các đơn vị bạn, ngày 24 tháng 10 tiểu đoàn 227 do tiểu đoàn trưởng Trần Văn Trân chỉ huy hợp đồng chặt chẽ với hai tiểu đội công binh đánh bom, tiến công đoàn tàu bọc thép của địch dài 16 toa, có hai khẩu 40 mi-li-mét bố trí ở đầu và cuối tàu. Trận đánh diễn ra quyết liệt, kéo dài hai giờ liền. Ta phá hỏng một đầu máy, 10 toa, thu một khẩu pháo 40 mi-li-mét, một đại liên, một trung liên FM và 32 thùng đạn 40 mi-li-mét, diệt và làm bị thương hơn 100 tên, bắt chín tên (có một quan hai chỉ huy, một ty trưởng an ninh Quảng Trị, một chi trưởng an ninh Hải Lăng, sáu lính Âu — Phi).
Đây là lần đầu tiên ta sử dụng một lực lượng tương đối lớn (12 đại đội, có nhiều đơn vị kỹ thuật) phục kích ban ngày, đánh đoàn tàu bọc thép của địch — một phương tiện vận tải được trang bị hỏa lực mạnh.
Trận đánh diễn ra trên một khu vực gần nhiều cứ điểm có đường giao thông thuận tiện cho việc cơ động phản kích của địch. Nhưng nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức chỉ huy chặt chẽ, nên ta đã thực hiện được mục tiêu đề ra.
Thắng lợi Tân Điền đã thể hiện chủ trương «tập trung củng cố xây dựng bộ đội chủ lực» sau chiến dịch Phan Đình Phùng của Đảng ủy Mặt trận là chính xác và kịp thời.
Kết quả của trận đánh cũng khẳng định việc chuyển hướng chiến thuật của ta ở chiến trường Bình — Trị — Thiên là phù hợp và đạt được kết quả bước đầu đáng khích lệ. Đây cũng là trận đạt kỷ lục cao nhất từ trước tới nay về thu vũ khí, diệt lô cốt, đáp ứng nhu cầu bức thiết của chiến trường.
Với khẩu 40 mi-li-mét, một loại vũ khí bắn thẳng lợi hại, lần đầu tiên ta có trong tay, đầu năm 1951 trung đoàn 95 đã lập công xuất sắc diệt nhiều lô cốt ở Đức Trọng (Quảng Điền), mở ra một khả năng mới về đánh công đồn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|