Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:58:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31286 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2024, 09:32:24 pm »


*

*        *

Đi đôi với việc đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp ráo riết bình định mở rộng vùng chiếm đóng Lào, hòng dùng đất Lào làm bàn đạp xâm lược Việt Nam.

Tại Trung Lào, địch có 2.000 quân trong đó có 200 tên Pháp, do Vi-ri (Vigrir) chỉ huy, sở chỉ huy đặt tại Xà-vẳn-nạ-khệt. Chúng chia Trung Lào thành hai tiểu khu: Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà Khẹt.

Tháng 3 năm 1948, Bộ Tổng chỉ huy ra chỉ thị chỉ rõ phương châm, phương thức hoạt động cho các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Mặt trận Lào —Miên.

Về nhiệm vụ của Liên khu 4, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị: Cùng với bạn củng cố hành lang Mường Mô — Xiêng Khoảng —Pắc Xan —Sa-ra-van và phát triển từ đường số 9 — Sê Pôn — Xiêng Khoảng xuống Sa-ra-van.

Quán triệt nhiệm vụ trên giao và yêu cầu của bạn, tháng 7 năm 1948, Bộ chỉ huy Phân khu đã giải thể tiểu đoàn 301, tổ chức thành đại đội công tác số 55 sang hoạt động ở đường số 9. Cùng thời gian này một bộ phận thuộc lực lượng vũ trang Lào đóng ở Sầm Nưa được phái về Bu-la-pha cùng phối hợp hoạt động.

Tại Xà-vẳn-nạ-khột, bộ đội ta tổ chức thành các đội vũ trang tuyên truyền sát cánh cùng lực lượng vũ trang yêu nước Lào bám bản, bám dân gây dựng phong trào quần chúng nhân dân, tổ chức dân quân du kích.

Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang của bạn và bộ đội tình nguyện của ta, Hội «Ai Lao cứu quốc» đã bước đầu tổ chức được một số đội vũ trang và cơ sở quần chúng, làm hạt nhân để phát triển phong trào sau này.

Tháng 10 năm 1948, đại đội số 55 đánh trận đầu tiên ở Xa Muội, diệt một trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí trong đó có một cối 61. Tiếp đó ta phối hợp với bộ đội bạn tập kích tiêu diệt đồn Mường Noòng, thu toàn bộ vũ khí, giải phóng hai huyện Tà Ôi và Mường Noòng. Ngày 22 tháng 11 năm 1948, đội vũ trang tuyên truyền Lào do ông Thao Bun chỉ huy đột nhập thôn Tha Thom (Xiêng Khoảng) cướp được chín súng trường.

Tính đến cuối năm 1948, Liên quan Việt — Lào đã đánh 19 trận, gây được uy tín chính trị trong nhân dân Lào.

Tháng 11 năm 1948, đồng chí Kham Phê Van, đại diện Ít-xa-la đến Con Cuông (Nghệ An) để tổ chức cơ quan Đông Lào. Sau đó, phòng đại diện Đông Lào được thành lập đặt bên cạnh phòng Biên Chính Liên khu 4. Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu đã giúp đỡ Ủy ban kháng chiến Đông Lào về tài chính và mọi mặt.

Ngày 1 tháng 12 năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Đông Lào được thành lập, đồng chí Thao-nư-hắc được cử làm chủ tịch, đồng chí Thao Ô phó chủ tịch, đồng chí Thao-bu-la ủy viên quân sự, đồng chí Sin-ga-po ủy viên chính trị.

Ngày 20 tháng 1 năm 1949, tại xã Mường Hùng huyện Siềng Khọ tỉnh Sầm Nưa, đồng chí Cay-xỏn-phôm-vi-hản tuyên bố thành lập quân đội Lào Ít-xa-la, tiền thân của quân đội giải phóng nhân dân Lào.

Sự ra đời của Ủy ban kháng chiến hành chính Đông Lào và quân đội Ít-xa-la là một sự kiện lịch sử trọng đại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Lào.

Nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, ngày 15 tháng 2 năm 1949, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương triệu tập Hội nghị cán bộ Lào— Miên. Hội nghị chỉ rõ: Nhiệm vụ cần kíp của cách mạng Lào — Miên hiện nay là xây dựng căn cứ địa, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền ở căn cứ địa...

Để giúp Khu ủy chỉ đạo bộ đội tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Trung Lào và giúp bạn có hiệu quả, ngày 1 tháng 8 Ban cán sự Trung Lào được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Liên khu ủy gồm bảy đồng chí do đồng chí Nguyễn Minh Châu, khu ủy viên phụ trách.

Tháng 10 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy quân đội Lào Ít-xa-la quyết định phân chia lại phạm vi hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Liên khu 4 có trách nhiệm với Trung Lào, Liên khu 5 phụ trách Hạ Lào, còn Bắc Lào do Bộ đảm nhiệm1.

Tháng 12 năm 1949, Bộ chỉ huy Phân khu Bình — Trị — Thiên điều tiểu đoàn 364 sang hoạt động. Bộ đội ta đã phối hợp với bộ đội giải phóng Lào lập hai căn cứ ở huyện Tà Ôi và Mường Noòng. Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Tà Ôi và 15 ủy ban xã thuộc hai huyện này đã được thành lập. Các tổ chức quân chủng lần lượt được tổ chức.

Ngày 26 tháng 2, Liên khu ủy ra nghị quyết chuyên đề về công tác giúp bạn ở Trung Lào, chủ trương mở rộng mặt trận Trung Lào, hướng chính là đường số 9, xây dựng căn cứ địa, đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền, thi hành «đại đội độc lập», giúp bạn và cùng bạn phát triển dân quân, lấy bản làm cơ sở, xây dựng bộ đội địa phương, lấy huyện làm cơ sở, đào tạo cán bộ người Lào.

Ngày 19 tháng 5 năm 1950, Liên khu quyết định Thành tập trung đoàn 120 tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào. Đồng chí Trường Sinh được cử làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Hữu Khai làm chính ủy.

Sự ra đời của trung đoàn này thể hiện sự phát triển của lực lượng vũ trang Liên quân Việt — Lào và thế trận chiến tranh nhân dân ở Trung Lào, sự quan tâm của Liên khu ủy cùng sự đóng góp to lớn của Liên khu đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Lào.

Sau một thời gian hoạt động, được sự phối hợp giúp đỡ của lực lượng vũ trang và nhân dân bạn, ta và bạn đã xây dựng và củng cố được bốn vùng căn cứ rộng lớn, gồm 600 bản với 30.000 dân dọc biên giới Việt — Lào, có chính quyền cách mạng, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Ngày 20 tháng 11, hội nghị cán bộ ở Mặt trận Trung Lào lần thứ nhất họp, đánh giá và biểu dương thành tích của bộ đội tình nguyện Việt Nam: Đã mạnh dạn phát triển và xây dựng cơ sở kháng chiến, góp phần cùng bạn củng cố được các tổ chức Ít-xa-la, xây dựng được các đội vũ trang công tác chính trị và trung đoàn Trung Lào, đánh được nhiều trận, buộc địch phải bỏ 10 vị trí, gây được ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân Lào.

Về nhiệm vụ tới, hội nghị chủ trương ta và bạn cùng tích cực phát triển chiến tranh nhân dân xuống đồng bằng và các vùng xung yếu của Trung Lào, với khẩu hiệu hành động «Tiến về đồng bằng».

Mặc dù cùng một lúc phải đối phó với nhiều âm mưu thủ đoạn mới của địch và những hậu quả to lớn do thiên tai gây ra, trong hai năm 1949 — 1950, quân dân Bình — Trị— Thiên đã anh dũng phấn dấu, khẩn trương xây dựng phát triển lực lượng và thế trận, đẩy mạnh quy mô tác chiến tập trung, từng bước phát triển vận động chiến, phối hợp chặt chẽ với các chiến trường, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh quan trọng của địch, củng cố, mở rộng vùng tự do và căn cứ sau lưng địch.

Phong trào đấu tranh của quần chúng tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở khắp cả miền xuôi, miền núi và đồng bằng, đô thị, phá vỡ hệ thống ngụy quyền tay sai ở một số cơ sở, huyện lỵ.

Sự lãnh đạo, chỉ huy, công tác tổ chức thiết bị chiến trường, nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Bộ chỉ huy Mặt trận có bước tiến đáng kể. Đó là những thành công có ý nghĩa hết sức quan trọng để quân dân Bình—Trị — Thiên cùng cả nước tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến.
______________________________________________
1. Phạm vi Trung Lào bao gồm từ đường số 7 Bắc Xan đến đường số 9 Sa-ra-van, trước đây Liên khu đã phái bộ đội sang hoạt động ở cả vùng Hạ Lào và Bắc Lào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2024, 08:33:15 pm »


III. XÂY DỰNG BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG CHIẾN LƯỢC—
CHI VIỆN TIỀN TUYẾN

Để tiếp tục thực hiện âm mưu bao vây, uy hiếp và đánh chiếm Thanh — Nghệ — Tĩnh khi có điều kiện, đầu năm 1949 tại miền tây và dọc biên giới Việt - Lào, giặc Pháp bố trí một lực lượng đáng kể gần 2.500 tên (có hơn 150 Pháp). Chúng ráo riết tăng cường phòng thủ các vị trí then chốt như Noọng Hét, Keng Đu (Nghệ An), Vạn Mai, Yên Khương, Bát Mọt (Thanh Hóa), Na Pê (giáp Hà Tĩnh) làm bàn đạp hoạt động lấn dần vào nội địa ta. Địch còn mở nhiều cuộc càn quét vào các vùng dọc biên giới, bắt cóc cán bộ địa phương, tung biệt kích vào nội địa, bắt liên lạc với bọn thổ ty, lang đạo, để phá chính quyền ta, chia rẽ hai dân tộc Việt — Lào.

Ở vùng duyên hải và trung du ba tỉnh, không quân, hải quân địch tăng cường trinh sát đánh phá. Không quân địch dã man ném bom vào thường dân gây ra các vụ thảm sát, giết hại một lúc hàng chục đồng bào ta ở thị trấn Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn, đốt cháy hàng trăm nóc nhà... gây bao đau thương tang tóc, cản trở công việc làm ăn, đi lại của nhân dân. Ngày 19 tháng 5 năm 1950, tại chợ Kiều (Thanh Hóa), chúng ném bom vào giữa buổi chợ đang đông, giết và làm bị thương hơn 700 người. Máy bay địch còn tập trung đánh phá vào các xưởng quốc phòng và xưởng kỹ nghệ của ta, phá hủy nhiều máy móc phương tiện, nguyên vật liệu, kho tàng, gây nhiều thiệt hại.

Nhằm phá hoại nền nông nghiệp của ta, máy bay địch còn ném bom các công trình thủy lợi quan trọng như Trung Lương, Đông Lương (Hà Tĩnh), Nam Đàn, Vinh (Nghệ An), Bái Thượng. Bàn Thạch (Thanh Hóa).

Tháng 4 năm 1949, Đại hội Đảng bộ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã chỉ rõ nhiệm vụ của quân dân trong các tỉnh: Tích cực chi viện Bình Trị Thiên, cung cấp kịp thời cho chiến trường chính Bắc Bộ, ra sức kiện toàn và phát triển tổ chức dân quân du kích. Xây dựng kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân. Xây dựng chính quyền nhân dân, củng cố khối đoàn kết toàn dân...

Đại hội các tỉnh đã bầu ra ban chấp hành mới. Đồng chí Bùi Đạt (tức Nguyễn Minh Châu) làm bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa. Đồng chí Lê Nguyên Mân, bí thư tỉnh ủy Nghệ An. Đồng chí Nguyễn Sáng, bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh.

Trong không khí thi đua ái quốc đang diễn ra sôi nổi khắp liên khu, ngày 10 tháng 7 năm 1948 Đại hội Đảng Liên khu lần thứ hai đã được tiến hành tại đình Võ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An).

Về âm mưu thủ đoạn của địch đối với Thanh — Nghệ — Tĩnh, Đại hội chỉ rõ: “Địch không thể đủ sức xâm lược Thanh — Nghệ — Tĩnh đại quy mô như Bình — Trị — Thiên, nhưng rất có thể thọc mũi dùi vào chỗ sơ hở của ta, rồi rút hay khuyếch trương xâm lấn mà thôi”1.

Đại hội chủ trương: Gấp rút tăng cường cho chiến trường Bình — Trị — Thiên, giữ vững và phát triển Thanh — Nghệ — Tĩnh, phát triển khả năng ở đây thành một lực lượng hùng hậu, cung cấp cho tiền tuyến

Đại hội đề ra năm nhiệm vụ cho Thanh — Nghệ — Tĩnh:

1. Cấp tốc chỉnh đốn huấn luyện bộ đội địa phương bổ sung bộ đội chủ lực để điều ra tiền tuyến. Dân quân phải hoàn toàn thay thế bộ đội địa phương làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương.

2. Tuyển mộ thanh niên, dân quân vào các đội tiếp tế vũ khí cho mặt trận. Tổ chức huấn luyện thanh niên về quân sự làm lực lượng dự trữ, bổ sung cho bộ đội.

3. Thành lập những đội vũ trang tuyên truyền để chi viện cách mạng Lào.

4 Tích cực bảo vệ miền tây, miền biển, đề phòng địch đổ bộ, thọc mũi dùi vào các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh.

5. Xây dựng cơ sở kinh tế của chế độ dân chủ mới, nhằm mục tiêu cung cấp cho tiền tuyến và tự túc ăn, mặc, học cho dân.

Đại hội bầu ra Ban chấp hành mới do đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư.

Đến cuối tháng 10 năm 1949, đồng chí Hoàng Minh Thảo được Trung ương cử làm Tư lệnh Liên khu 4 thay đồng chí Nguyễn Sơn ra Việt Bắc nhận công tác mới.

Để mở đầu phong trào thi đua thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng Liên khu và phối hợp với hoạt động Bình — Trị — Thiên, Liên khu mở một đợt tác chiến ở mặt trận miền tây Thanh Hóa, Nghệ An.

Ngày 22 tháng 7, đại đội 117 (tiểu đoàn 265) tiêu diệt vị trí Mường Lống lần thứ hai, đánh tan hai toán tiếp viện từ Noọng Hét, Mỹ Lý sang.

Tiếp theo chiến công đầu của tây Nghệ An, ngày 24 tháng 7, tiểu đoàn 355 (trung đoàn 77) phối hợp với tiểu đoàn miền tây Thanh Hóa và trung đội dân quân Cầm Bá Thước tiến công vị trí Cổ Lũng (tây Thanh Hóa), nhưng không kết quả.
____________________________________________
1. Văn kiện Đại hội Đảng bộ Liên khu 4 lần thứ hai (Tháng 7 năm 1949).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2024, 08:37:45 pm »


Ngày 5 tháng 9, Bộ tư lệnh Liên khu ra chỉ thị về nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Thanh - Nghệ - Tĩnh. Bản chỉ lệnh nêu rõ: địch có thể dùng từng bộ phận hải, lục, không quân thọc vào những khu trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa ở Thanh - Nghệ - Tĩnh. Vì vậy mỗi tỉnh phải huấn luyện được một tiểu đoàn bộ đội địa phương làm nhiệm vụ bộ đội chủ lực, mỗi huyện tiến tới có một đại đội độc lập làm nhiệm vụ bảo vệ địa phương. Các đơn vị này phải huấn luyện và hoạt động ở những địa bàn xung yếu mà quân địch có thể chọc vào.

Các đơn vị dân quân thường trực huyện được tập trung thành các tiểu đoàn bộ đội địa phương. Tiểu đoàn 198 (Nghệ An), tiểu đoàn 290 (Hà Tĩnh), tiểu đoàn 275 (Thanh Hóa) lần lượt ra đời. Ở các huyện xúc tiến thành lập đại đội bộ đội địa phương.

Đúng như nhận định của Liên khu, ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 giặc Pháp huy động hơn 1.000 quân (trong đó có 500 tên Pháp và Âu-Phi), năm tàu chiến, năm ca nô, có không quân pháo hạm yểm hộ, tập kích vào huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) nhằm phá kinh tế hậu phương, thăm dò lực lượng ta, tuyên truyền gây thanh thế cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại.

Địch tiến quân theo hai cánh: một cánh từ Lạch Quèn vào Quỳnh Yên và một cánh từ Lạch Quèn vào Rừng Thông — Cầu Giát về Thuận Nghĩa.

Ngay sau khi địch đổ bộ, huyện đội Quỳnh Lưu đã điều hai trung đội du kích thường trực huyện xuống phối hợp chiến đấu với dân quân du kích các xã Văn Phương, Quảng Mai, Song Quỳnh, Văn Thành.

Tại Đồi Thông trên đường số 1, một trung đội du kích thường trực huyện phối hợp với đại đội 53 liên phao (thụộc trung đoàn 57) đánh trả mũi tiến công của địch. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đồng đội và vũ khí thoát khỏi vòng vây của chúng1. Dân quân các xã Văn Hải, Liên Hóa, Quy Hóa đã gan góc bám địch, đánh trả các mũi tiến quân của chúng, diệt và làm bị thương hàng chục tên. Đồng chí Hoàng Thái, du kích xã Quỳnh Chi dùng mìn diệt 19 tên Pháp. Khi địch bao vây, đồng chí còn bình tĩnh ném tiếp hai quả lựu đạn cuối cùng, diệt thêm một số địch và đã anh dũng hy sinh.

Trong ba ngày đánh trả địch, lực lượng vũ trang địa phương đã diệt hơn 100 tên (có 37 lính Âu — Phi).

Nhưng địch đã gây cho địa phương những tổn thất lớn, chúng đã giết và làm bị thương hơn 150 người, bắt hơn 100 người, cướp phá hàng trăm thuyền đánh cá, đốt phá gần 1.000 nóc nhà.

Cuộc tập kích của địch vào Quỳnh Lưu đã để lại một bài học sâu sắc về tinh thần cảnh giác và kinh nghiệm tổ chức huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu các lực lượng vũ trang địa phương.

Ngày 16 tháng 10 năm 1949, thực dân Pháp mở chiến dịch Ăng-tơ-ra-xít (Anthracid) nhảy dù chiếm Bùi Chu, Phát Diệm nhằm gây khó khăn cho ta trong việc điều động chủ lực tham gia các chiến dịch2 nhen nhóm lực lượng phản động trong đạo Thiên chúa chống phá cách mạng và biến khu vực Bùi Chu — Phát Diệm — Nga Sơn thành hậu phương để khai thác sức người, sức của phục vụ cho chúng.

Sau khi chiếm được Phát Diệm, ngày 21 tháng 10, địch tiến vào Nga Sơn (Thanh Hóa) chiếm Tân Hải, Liên Quy, nhà thờ Tam Tòng và mở nhiều cuộc càn quét vào Kiên Giáp. Các cánh quân của chúng đã bị tiểu đoàn 375 (thuộc trung đoàn 103) chặn đánh quyết liệt, buộc địch phải co lại.

Phát huy thắng lợi chiến dịch Lê Lợi và chiến thắng của trung đoàn 9 ở mặt trận C, nhân lúc bọn địch ở miền tây Thanh Hóa đang hoang mang giao động, ngày 18 tháng 12 năm 1949, tiểu đoàn 355 cùng đại đội liên pháo tiến công vị trí Cổ Lũng. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 22 tháng 12, anh em binh sĩ trong đồn đã bí mật nổi dậy diệt tên chỉ huy Pháp, mang súng trở về với kháng chiến3.

Thừa thắng, ngày 22 tháng 12, tiểu đoàn 355 và lực lượng vũ trang miền tây phối hợp tiến công vị trí Vạn Mai, Đồng Uông, Poong Nưa. Bọn địch ở cả ba đồn trên đã phải rút chạy sang Lào. Cả một vùng rộng lớn ở miền tây Thanh Hóa được giải phóng. Đây là thắng lợi quân sự chưa từng có ở miền tây Thanh Hóa.

Trước thắng lợi của quân dân ta trên các mặt trận miền tây, tháng 4 năm 1950 toàn bộ quân địch ở miền tây Thanh Hóa, Nghệ An đã phải rút bỏ vị trí chiếm đóng và chạy về bên kia biên giới Việt — Lào. Miền tây của Liên khu lúc này sạch bóng quân xâm lược. Âm mưu dùng miền tây làm bàn đạp tiến công Thanh Hóa, Nghệ An của thực dân Pháp đã bị phá sản.

Từ đây đồng bào các dân tộc sáu châu Thanh Hóa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và bọn thổ ty, lang đạo phản động. Thắng lợi trên đã tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng, tạo cơ sở để phát triển dân quân, du kích người Thượng để bảo vệ làng bản, động viên, cổ vũ nhân dân hăng hái sản xuất và tham gia kháng chiến.
______________________________________________
1. Hiện nay ngay tại Đồi Thông trên đường số 1, nhân dân địa phương dựng đài liệt sĩ tưởng nhớ những người đã hy sinh trong trận đánh này.
2. Ngày 15-10-1949, Liên khu điều trung đoàn 9 tham gia chiến dịch Lê Lợi, trung đoàn 57 tham gia chiến dịch Lê Lai ở Bình — Trị — Thiên.
3. Cổ Lũng là một vị trí quan trọng, địch nhiều lần đánh chiếm, chốt giữ, bị ta diệt và bức rút nhiều lần.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2024, 08:42:04 pm »


Với quyết tâm giành thắng lợi lớn đẩy mạnh cuộc kháng chiến sang thời kỳ mới, tháng 1 năm 1950 Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 của Đảng quyết định: Gấp rút hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị để chuyển sang tổng phản công. Tình hình đó đặt ra cho quân và dân Thanh-Nghệ-Tĩnh những nhiệm vụ hết sức to lớn đối với việc chi viện cho các chiến trường.

Nghị quyết của Liên khu ủy về “Nhiệm vụ Liên khu 4 chuyển mạnh sang tổng phản công” nhấn mạnh: “Bảo vệ Thanh — Nghệ — Tĩnh là nhiệm vụ tối quan hệ cho cả chiến trường toàn quốc, là nhiệm vụ trung tâm lãnh đạo để sửa soạn chuyển sang tổng phản công có hiệu quả. Phải xây dựng Thanh - Nghệ — Tĩnh thành một hậu phương vững chắc, một kho dự trữ nhân tài, vật lực, sẵn sàng tiếp tế kịp thời cho các chiến trường”1.

Để đập tan âm mưu phá hoại của địch, xây dựng hậu phương vững mạnh, an toàn, nhất là về mặt chính trị, ngày 15 tháng 1 năm 1950, tiểu đoàn 375 thuộc trung đoàn 103 tiến công quân địch ở Hồ Vương, Chính Đại, Hội Giao (Nga Sơn), diệt 50 tên, thu hàng chục khẩu súng.

Nhân đà thắng lợi về quân sự, Ty Công an Nghệ An quyết định bắt tên Biên — một tên phản động đội lốt linh mục — và một số tên phản động khác trong «Ban chấp hành Liên đoàn công giáo» xứ Vĩnh Yên, đưa ra truy tố trước pháp luật vì tội làm tay sai cho thực dân Pháp.

Tiếp theo đó, ngày 30 tháng 4 ta đồng loạt tiến công vào sào huyệt của tổ chức «Dân chúng liên hiệp», bắt gọn bọn Phạm Tuyên, Bùi Quỳnh, Trương Văn Liên, trấn áp bọn phản động tay sai trong vùng. Những tên đầu sỏ của tổ chức này đều bị trừng trị đích đáng2.

Ngày 9 tháng 2 năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập đại đoàn 304 — đại đoàn chủ lực thứ hai của quân đội ta (sau đại đoàn 308). Lực lượng đại đoàn gồm trung đoàn 9, trung đoàn 57 chủ lực Liên khu 4 và trung đoàn 66 chủ lực Liên khu 3. Đồng chí Hoàng Minh Thảo được cử làm đại đoàn trưởng, đồng chí Trần Văn Quang làm chính ủy đại đoàn.

Ngày 30 tháng 3, tại Nông Cống (Thanh Hóa), Liên khu mở hội nghị quân chính bàn việc thành lập đại đoàn 304. Sau hội nghị này, lễ thành lập đại đoàn được tổ chức trọng thể tại Thọ Xuân (Thanh Hóa) với sự có mặt đầy đủ cả đại biểu địa phương và toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn.

Trong quá trình xây dựng tại địa phương, đại đoàn được, tỉnh ủy và quân dân Thanh Hóa hết lòng chăm sóc, nuôi dưỡng và giúp đỡ về mọi mặt.

Sự ra đời của đại đoàn 304 thể hiện sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta và là bước ngoặt đáng ghi nhớ trong tiến trình phát triển lực lượng vũ trang ở Liên khu 4 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ngày 9 tháng 2 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra chỉ thị thành lập Bộ tư lệnh địa phương Liên khu 4, với chức năng và nhiệm vụ:

“Lãnh đạo xây dựng các đơn vị bộ đội chủ lực còn lại, bộ đội địa phương và dân quân liên khu (kể cả ở Bình - Trị - Thiên)”3.

Bộ tư lệnh địa phương gồm các đồng chí Trần Sâm làm tư lệnh, đồng chí Lê Chưởng làm chính ủy.

Về Đảng, Liên khu ủy 4 vẫn là tổ chức duy nhất lãnh đạo Đảng bộ sáu tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh — Bình — Trị — Thiên. Trải qua rèn luyện thử thách trong kháng chiến, Đảng bộ Liên khu ngày càng trưởng thành, cơ chế tổ chức từng bước được kiện toàn và phát triển, kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo càng phong phú. Vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng, mà trực tiếp là Liên khu ủy đối với các lực lượng vũ trang và nhân dân toàn liên khu ngày càng được xác lập vững chắc.
______________________________________________
1. Nghị quyết Liên khu ủy về “Nhiệm vụ Liên khu 4 chuyển mạnh sang tổng phản công” năm 1950. Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
2. Ngày 31 Tháng 8 năm 1950, Tòa án quân sự Liên khu 4 đã mở phiên tòa công khai tại thị trấn Đô Lương (Nghệ An) tuyên án tử hình tên Phạm Tuyên, phạt tù khổ sai 20 năm tên Bùi Quỳnh, 15 năm tù đối với Vương Đình Dinh và Nguyễn Ngọc Hoàn.
3. Trích nghị định số 62-NĐA ngày 9 tháng 2 năm 1950 của Bộ Tổng tư lệnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2024, 08:44:32 pm »


Ngày 17 tháng 7 năm 1950, quân Pháp tiến công Nga Sơn lần thứ hai. Được máy bay, pháo binh chi viện, địch dùng hai gọng kìm tiến công vào Liên Sơn, rồi sau đó phát triển đánh chiếm các vị trí Chính Đại, Điền Hộ, Mai An Tiêm và Tân Hải.

Hưởng ứng phong trào thi đua «Giết giặc lập công», phối hợp với chiến dịch Biên Giới, không cho địch trụ vững lập bàn đạp tiến công bắc Thanh Hóa, từ ngày 8 đến 17 tháng 9, một bộ phận trung đoàn 9 (đại đoàn 304) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh, huyện mở đợt tiến công quân địch ở Nga Sơn. Ngày 15 tháng 9, ta cường tập vào các vị trí Liên Sơn, Hồ Vương, Hói Đác, đánh sập hai lô cốt, địch phải bỏ chạy khỏi vị trí Hồ Vương, Hói Đác.

Cùng thời gian, tiểu đoàn 353 (trung đoàn 9) phối hợp với đại đội 10 bộ đội địa phương huyện cùng đại đội 65 bộ đội địa phương tỉnh và dân quân địa phương tiến công vị trí Chính Đại, diệt và bắt toàn bộ quân địch.

Cả đợt hoạt động này, ta đã diệt và làm bị thương 300 tên, thu một số vũ khí các loại, bảo vệ được nhân dân Liên Sơn và Tân Đức làm vụ cói 1.000 héc-ta, trị giá 200 triệu đồng. Đồng bào địa phương vô cùng phấn khởi, tình đoàn kết quân dân càng thêm gắn bó. Phong trào chiến tranh du kích có điều kiện phát triển. Bọn phản động hoang mang lo sợ, nhiều tên mang theo cả gia đình trốn ra Phát Diệm.

Lực lượng vũ trang ngày càng phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh và quy mô tác chiến ngày càng lớn thì nhu cầu về vũ khí ngày càng tăng, đòi hỏi sự hỗ trợ của ngành quân giới1.

Nghệ An, Hà Tĩnh có 15 xưởng sản xuất và sửa chữa vũ khí. Thanh Hóa có một xưởng vũ khí và các tổ vũ khí ở Yên Định, Thiệu Hóa. Tổng số công nhân ngành quân giới của tỉnh và khu ở Nghệ An có tới 4.189 người, trong đó công nhân nhà máy xe lửa Trường Thi là lực lượng nòng cốt.

Một số xưởng quân giới huyện, ngoài việc sửa chữa vũ khí thông thường đã tự sản xuất được địa lôi, súng kíp. Riêng xưởng quân giới Hà Tĩnh đã sửa chữa 500 súng trường trong một năm.

Liên khu có 21 xưởng, ba công xưởng cơ động, đã chế tạo được súng, đạn, mìn, thủy lôi, bom bay, ba-zô-ka, chất nổ và một số hóa chất cần thiết. Ngành quân giới còn mở lớp dạy nghề đào tạo được hơn 200 công nhân kỹ thuật.

Phong trào thi đua đuổi và vượt Ngô Văn Phú — một chiến sĩ quân giới có nhiều sáng kiến đạt năng suất cao, được phát động rộng rãi trong toàn ngành quân giới Liên khu. Giáo sư Phan Đình Ái chế được a-xít sun-phua-ríc và chất nổ. Kỹ sư Võ Quý Huấn thí nghiệm nấu gang thành công... Nhiều sáng kiến có giá trị ra đời, góp phần quan trọng đẩy mạnh sản xuất của ngành quân giới.

Trước yêu cầu mới của kháng chiến, ngày 12 tháng 2 năm 1950 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 20-SL tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn dân phục vụ kháng chiến. Tính đến cuối tháng 10 năm 1950 toàn liên khu có gần 200.000 người ghi tên tòng quân, Nghệ An, Hà Tĩnh có 120.000 người. Riêng xã Hồng Yên (Can Lộc) có 1.112 người, 295 học sinh chuyên khoa trường trung học Phan Đình Phùng (trong đó có 13 nữ sinh) đều ghi tên tòng quân. Liên khu đã động viên bốn khóa tân binh, huấn luyện cho 36.120 người, bổ sung 5.000 người cho đại đoàn 304, gần 500 người cho Bắc Lào, ra Việt Bắc 4.000 người, tuyển cho Bộ Quốc phòng và Trường lục quân 6.000 học sinh, sáu đại đội bộ đội địa phương được điều ra Việt Bắc làm nhiệm vụ tiếp tế.

Trong năm 1950, Liên khu huy động năm đợt dân công với hơn 47 vạn lượt người phục vụ tiền tuyến, đi vận tải tiếp tế, rào làng kháng chiến, sửa chữa đường sá, xây dựng kho tàng.

Nhân dân hăng hái lên đường theo yêu cầu của Đảng. Nhiều vùng những người trẻ khỏe đã đóng góp từ 60 đến 70 phần trăm số ngày công trong một năm. Không ít gia đình cùng lúc có hai đến ba người đi dân công hỏa tuyến. Nhân dân toàn liên khu đã mua hơn 80 triệu đồng công phiếu kháng chiến, đóng 30 triệu đồng vào quỹ kháng chiến, hơn 30 triệu đồng thuế điền thổ.

Năm 1950, Liên khu cung cấp cho chiến dịch Lê Lợi và chiến dịch Hữu Ngạn 5.000 tấn lúa, góp quỹ công lương 8.500 tấn, quỹ khao quân 11.000 tấn, thuế điền thổ 14.500 tấn, nuôi 36.000 tân binh, 3.000 cán bộ chiến sĩ, thương binh Bình — Trị — Thiên trong tám tháng, tiếp nhận ba vạn nhân dân Hà — Nam — Ninh sơ tán vào, một số cán bộ và nhân dân Lào, ủng hộ bộ đội địa phương và dân quân du kích 31.000 héc-ta ruộng để cày cấy tự túc.

Trong tuần lễ quyên góp kim khí cho quân giới, nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh thu được 144 tấn kim loại các loại. Riêng ở tỉnh Hà Tĩnh đã quyên góp được 57 đôi hoa tai, một đôi xuyến vàng, 242 đồng bạc trắng, hàng trăm quan tiền đồng, nhiều dụng cụ gia đình như: sanh, chảo, mâm, chậu, nồi đồng và đồ thờ như lư hương, độc bình.

Tuy nhiên, do nhận thức đơn giản một chiều và do tư tưởng chủ quan nóng vội, một số cán bộ đã phạm sai lầm trong việc chỉ đạo thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, như huy động sức người, sức của quá mức, ảnh hưởng tới sản xuất và dự trữ lực lượng để xây dựng hậu phương; cách làm còn thiếu dân chủ, dùng biện pháp hành chính mệnh lệnh, gò ép nhân dân.

Những thiếu sót trên đã phần nào gây nên tình hình căng thẳng ở nông thôn, làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết của Đảng.

Ngày 1 tháng 7 năm 1950, Hồ Chủ tịch đã gửi thư cho nhân dân Liên khu 4 tự phê bình và xin lỗi đồng bào về việc một số cán bộ, đảng viên phạm sai lầm trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các cuộc vận động quyên góp ủng hộ kháng chiến. Trung ương Đảng đã chỉ thị cho Đảng bộ Liên khu 4 căn cứ vào thư của Bác mà tự phê bình trước quần chúng.

Chấp hành chỉ thị trên, Liên khu ủy, các tỉnh ủy và các tổ chức Đảng cơ sở ở ba tỉnh, các đơn vị bộ đội đã tổ chức học tập và tự phê bình theo như thư của Người. Kiên quyết khắc phục những thiếu sót đã phạm phải trong các cuộc vận động quyên góp trước đây. Nhân dân được đấu tranh phê bình, cởi mở thắc mắc, những gia đình bị thiệt thòi do bị quyên góp quá mức được hoàn lại. Mối quan hệ đoàn kết giữa cán bộ và quần chúng được củng cố. Nhân dân phấn khởi tiếp tục tự nguyện đóng góp sức người sức của cho kháng chiến.
______________________________________________
1. Tính đến tháng 5 năm 1950, toàn liên khu có bộ đội địa phương 10.500 người, dân quân 709.000 người, du kích 87.000 người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2024, 08:45:31 pm »


Đi đôi với việc tổng động viên, chính quyền các cấp đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm xây dựng và phát triển kinh tế, bảo đảm nhu cầu kháng chiến và bồi dưỡng sức dân.

Để gây một phong trào thi đua sản xuất lương thực rộng khắp, bảo đảm tự túc về ăn và mặc, cuối năm 1949 Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu phát động cuộc vận động «Vụ chiêm quyết thắng». Tháng 6 năm 1950 lại phát động cuộc vận động «Vụ mùa chủ lực», đặt các giải thưởng điển hình về năng suất lúa, về năng suất bông, về gia đình có thu nhập bình quân cao.

Cuối năm 1950, cả liên khu bị lụt nặng, ảnh hưởng không ít đến năng suất sản lượng lúa và màu. Nhưng nhờ tích cực khai hoang phục hóa đi đôi với thâm canh tăng năng suất và thực hiện tốt các biện pháp thủy lợi, thâm canh, làm phân xanh và đẩy mạnh phong trào vần công, đổi công, nên đời sống nhân dân và quân đội vẫn được bảo đảm.

Việc tự túc lương thực được ráo riết đặt ra trong bộ đội, cán bộ, công nhân viên chức với lời kêu gọi: «Ai đã ở trong Vệ quốc đoàn là phải tăng gia sản xuất. Cán bộ càng phải gương mẫu».

Liên khu đề ra chỉ tiêu: Mỗi trung đoàn làm từ 30 đến 35 héc-ta lúa, tổ chức 30 đến 50 khung dệt vải, tự túc một nửa nhu cầu rau xanh.

Quán triệt chủ trương của Liên khu ủy và lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu, các lực lượng vũ trang toàn Liên khu sôi nổi thi đua tăng gia sản xuất. Các đơn vị chủ lực ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều lập trại tăng gia. Khẩn trương khai hoang phục hóa, nhận thêm một số ruộng của nhân dân và đoàn thể gom cho để trồng trọt, chăn nuôi. Sáu tháng đầu năm 1950, các lực lượng vũ trang đã nhận 15.000 héc-ta ruộng hiến điền đưa vào sản xuất.

Nhờ tích cực lao động sản xuất, gắn liền tác chiến với xây dựng, nhiều đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích tập trung cả ở tiền tuyến và hậu phương đã tự túc được lương thực.

Cùng với sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề thủ công cũng được chú ý phát triển, nhất là nghề dệt vải, làm giấy. Hội nghị kinh tế Liên khu 4 tháng 10 năm 1949 đã vạch ra đề án tự túc vải với khẩu hiệu:

“Tập đoàn rảnh rải
Dệt vải thêm công,
Rảnh răng cày cấy
Xeo giấy bình dân ».

Đến năm 1950, ngoài xưởng dệt của cơ quan kinh tế và các xưởng của liên khu, còn có hàng trăm xưởng dệt nằm rải rác khắp ba tỉnh, hàng năm sản xuất hàng triệu mét vải, bảo đảm được 40 phần trăm nhu cầu của bộ đội và nhân dân. Các khung cửi gia đình phát triển khá mạnh. Riêng tại Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có tới 40.000 khung cửi hẹp. Nghề giấy cũng được khuyến khích. Thanh — Nghệ — Tĩnh có 51 xưởng, sản xuất được 122 tấn. Các nghề dệt cói, làm muối, nước mắm, xà phòng, gốm, da đều được chú ý.

Về công kỹ nghệ, toàn liên khu có 57 xưởng công nghệ, 34 xưởng kỹ nghệ, với 7.000 công nhân, đã sản xuất được 28 máy điện, ba máy bơm nước, một số máy khoan, máy xay bột giấy, máy bào... Ta còn sản xuất được cồn 90 độ, a-xít, dầu nhớt, thuốc nổ, diêm tiêu (riêng diêm tiêu không những đủ dùng mà còn cung cấp cho các liên khu khác). Mỏ than Khe Bố (Nghệ An), Mỹ Long (Thanh Hóa) hàng năm sản xuất hơn 1.600 tấn, cung cấp cho các xưởng quân giới và cơ xưởng vũ khí các huyện.

Đi đôi với việc đẩy mạnh sản xuất, ta đã kiên quyết đấu tranh kinh tế với địch. Ban bao vây kinh tế từ khu đến xã được thành lập. Nhân dân tích cực hưởng ứng các chủ trương bài trừ hàng xa xỉ phẩm, hàng ngoại hóa, bảo vệ đồng bạc Việt Nam, đấu tranh chống bọn đầu cơ buôn lậu.

Chính sách giảm tô, giảm tức, chia công điền, công thổ cho nông dân nghèo được chính quyền các cấp thực hiện. Hầu hết bần cố nông đều được chia ruộng.

Công tác phát triển văn hóa, giáo dục và y tế, xây dựng đời sống mới được coi trọng.

Các tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh đã thực hiện chương trình cải cách giáo dục phổ thông theo chương trình mới. Các tỉnh đều có một trường cấp 3 (hệ 9 năm), huyện có trường cấp 2, xã có trường cấp 1.

Hà Tĩnh được Bộ Quốc gia giáo dục công nhận là tỉnh đầu tiên ở liên khu thanh toán xong nạn mù chữ. Hà Tĩnh vinh dự được Hồ Chủ tịch tặng thưởng huân chương Độc lập hạng nhì về thành tích nói trên (tháng 2 năm 1949).

Các tệ nạn xã hội như hút thuốc phiện, nghiện rượu, cờ bạc, các hủ tục bị xóa bỏ. Các trại cứu tế của tỉnh, huyện được thành lập đã thu dung, nuôi dưỡng người tàn tật hoặc già cả không người nương tựa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2024, 08:46:20 pm »


*

*        *

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Tổng quân ủy, sự lãnh đạo kịp thời của Bộ Quốc phòng — Tổng tư lệnh; Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp, nhạy bén và sáng tạo của Liên khu ủy, của các tỉnh ủy, của Bộ tư lệnh Liên khu và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu, được chiến thắng Việt Bắc và Biên Giới cổ vũ, trong ba năm 1948 - 1949 và 1950 quân dân Liên khu 4 đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, khẩn trương phát triển lực lượng ba thứ quân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên các địa bàn, làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, góp phần đánh bại âm mưu «dùng người Việt đánh người Việt», «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh» và «kế hoạch Rơ-ve» của thực dân Pháp trên địa bàn liên khu.

Đây là thời kỳ dài nhất — Ba năm — 1.000 ngày —chiếm một phần ba thời gian kháng chiến chống Pháp của quân và dân Liên khu 4. Vượt qua những thử thách gay go quyết liệt của năm đầu kháng chiến, nhất là của Bình — Trị — Thiên khói lửa, thời kỳ 1949 - 1950, Liên khu 4 đã có bước phát triển rất quan trọng cả về lực lượng, thế trận và tác chiến, ở cả tiền tuyến và hậu phương, với nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế.

Bình — Trị — Thiên chiến tranh du kích đã có bước tiến về bề rộng và chiều sâu, từ đồng bằng tiến sâu vào hậu địch, trong đó có những «chiến dịch» tổng phá tề, tạo nên những thay đổi trong so sánh lực lượng địch — ta trên từng vùng rộng lớn.

Thanh — Nghệ — Tĩnh có bước phát triển toàn diện trong xây dựng, củng cố hậu phương cả về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần rất quan trọng đẩy lùi mưu đồ của giặc Pháp tiến công lấn ra vùng tự do của liên khu.

Trong thời kỳ này, các đơn vị bộ đội tập trung Khu 4 đã có bước tiến bộ qua các cuộc vận động «Luyện quan lập công», «Rèn luyện cán bộ, chẩn chỉnh quân đội», các đợt tổ chức lại chiến trường ở cả Bình — Trị — Thiên và Thanh — Nghệ — Tĩnh, các phong trào tòng quân, nhập ngũ, phong trào “đỡ đầu» bộ đội rất rầm rộ, sôi nổi. Trong đó có sự kiện nổi bật là sự ra đời của đại đoàn 304, đại đoàn đầu tiên được xây dựng ở Liên khu 4 và là đại đoàn thứ hai của quân đội ta (sau đại đoàn 308).

Mặt trận Trung Lào cũng có chuyển biến mới, với sự phát triển đồng đều cả lực lượng bạn và ta, tạo điều kiện cho cả lực lượng Ít-xa-la (Lào) và bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp phát triển chiến tranh nhân dân xuống đồng bằng.

Tuy nhiên, do chưa nắm thật vững mối quan hệ có tính quy luật giữa việc xây dựng và phát triển ba thứ quân phải được giải quyết một cách cân đối với vấn đề xây dựng địa bàn đứng chân và điều kiện bảo đảm của hậu phương, bao gồm cả hậu phương chiến trường chính và chiến trường tại chỗ, nên Bộ chỉ huy chiến trường đã nóng vội tăng nhanh số bộ đội tập trung, vượt quá khả năng thực tế của chiến trường, tập trung lực lượng lớn nhưng địa bàn đứng chân hẹp, chưa thể chứa đựng nổi một khối lượng lớn về công tác bảo đảm. Trong lúc xây dựng và củng cố hậu phương chưa tiến kịp với tốc độ phát triển của lực lượng chủ lực, nên hiệu suất chiến đấu đã có những thất bại cục bộ. Tập trung chủ lực mở chiến dịch lớn trên địa bàn đồng bằng trong giai đoạn này là chưa phù hợp.

Trong lãnh đạo, chỉ huy còn mang nặng tư tưởng ham ăn to, đánh lớn, chưa thật chú trọng đến nhiệm vụ xây dựng chất lượng chiến đấu và huấn luyện cho bộ đội.

Trong xây dựng hậu phương, có lúc, có nhiệm vụ còn nặng về mệnh lệnh, cưỡng bức. Chưa coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân, vận động quần chúng nhân dân tự giác, hăng hái tham gia kháng chiến và kiến quốc.

Những nhược điểm, khuyết điểm trên đây đã được Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu từng bước uốn nắn và khắc phục để trong hoàn cảnh nào cũng phải phấn đấu đi lên khi cuộc kháng chiến đã chuyển mạnh sang tổng phản công.

Những chuyển biến trên đây đã đánh dấu bước trưởng thành của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu trong lãnh đạo chỉ đạo chiến tranh nhân dân trên một địa bàn chiến lược quan trọng ở miền trung nước ta, miền trung ba nước Đông Dương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2024, 07:46:18 pm »


CHƯƠNG IV
BÁM TRỤ CHỐNG CÀN, PHÁ ÂM MƯU BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH,
DỐC SỨC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG
(1951 - 1953)


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước sang năm thứ năm. Những thắng lợi về chính trị, ngoại giao cùng với chiến thắng liên tiếp của quân và dân ta trên các chiến trường, nhất là chiến thắng Biên Giới đã tạo nên cục diện mới có lợi cho ta. Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại, mở ra bước ngoặt to lớn, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiến đến thắng lợi.

Sau chiến dịch Biên Giới, thế và lực của ta đã có bước phát triển mới, địch càng lún sau vào thế bị động lúng túng. Chính phủ Pháp cử tướng Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi (DeLattrede Tassigny), tư lệnh lục quân khối Bắc Đại Tây Dương sang làm tổng chỉ huy kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương, tăng thêm quân bổ sung và được Mỹ tăng cường viện trợ1.

Lực lượng kháng chiến của ta ngày càng phát triển rộng khắp, các đại đoàn chủ lực lần lượt ra đời, góp phần đẩy mạnh cả chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy trên các chiến trường.

Sự thay đổi to lớn về thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường cả nước, nhất là chiến trường chính Bắc Bộ đã tác động sâu sắc đến mọi hoạt động của Liên khu 4.

I. CHỐNG PHÁ ÂM MƯU BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH, PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH—ĐẠI ĐOÀN 325 RA ĐỜI

Bước vào năm 1951, chiến trường Bình—Trị—Thiên trở thành một trong những trọng điểm «bình định» của địch. Lực lượng của chúng có sáu tiểu đoàn, ba đại đội Âu-Phi và sáu tiểu đoàn ngụy, chiếm đóng 172 vị trí, hơn 200 lô cốt và tháp canh ở thành phố, thị xã và các đầu mối giao thông quan trọng2.

So với chiến trường Bắc Bộ thì việc triển khai kế hoạch Tát-xi-nhi của địch ở Bình—Trị—Thiên chậm hơn. Một mặt chúng phải điều lực lượng ra đối phó với ta trong chiến dịch Trần Hưng Đạo ở trung du Bắc Bộ. Mặt khác, chúng chủ quan cho rằng sau chiến dịch Phan Đình Phùng, chủ lực Khu 4 chưa kịp chuẩn bị, chưa kịp khắc phục những khó khăn từ cuối năm 1950. Vì vậy chúng rút hai tiểu đoàn Âu—Phi ra Bắc Bộ, tổ chức, bố trí lại lực lượng ứng chiến và chiếm đóng trên chiến trường Bình — Trị—Thiên.

Bố trí xong lực lượng, địch liên tiếp mở các cuộc càn quét khốc liệt vùng tạm chiếm và càn lên chiến khu của ta ở Hòa Mỹ, Hương Trà, Phong Điền, Hương Thủy, Triệu Phong, nhằm gây thêm khó khăn cho ta về kinh tế và quân sự, khống chế nhân dân, cắt đứt mối liên hệ giữa nhân dân với cán bộ và lực lượng vũ trang cách mạng, mở rộng và củng cố vùng tạm chiếm, bảo đảm an toàn cho các khu vực chiếm đóng của chúng.

Lực lượng vũ trong nòng cốt ở Bình-Trị-Thiên lúc này có các trung đoàn 95 và 101, tiểu đoàn 888 pháo binh, ba tiểu đoàn tỉnh, 17 đại đội huyện và dân quân du kích. Chiến tranh du kích vẫn thường xuyên uy hiếp địch, gây cho chúng nhiều tổn thất ngay cả ở đô thị, sào huyệt của chúng. Tuy vậy, địch vẫn củng cố được thế chiếm đóng ở đồng bằng, gây khó khăn lớn cho ta. Cơ sở nhiều nơi bị tổn thất, phong trào đấu tranh trong vùng địch hậu giảm sút, hoạt động của lực lượng vũ trang bị hạn chế, cấp ủy ở một số địa phương chưa tìm được hình thức đấu tranh thích hợp, lực lượng vũ trang lại coi nhẹ chiến tranh du kích ở vùng tạm chiếm.

Đầu tháng 1 năm 1951, Liên khu ủy mở hội nghị cán bộ toàn liên khu để quán triệt nhiệm vụ quân sự năm 1951, rút kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến trong năm qua và giải quyết vấn đề cung cấp cho chiến trường Bình— Trị—Thiên. Hội nghị xác định nhiệm vụ quân sự cấp bách của liên khu là:

— Đẩy mạnh tác chiến phối hợp chiến trường chính.

— Tiến tới xây dựng đại đoàn 325 chủ lực.

— Xúc tiến điều tra chuẩn bị chiến trường.

Liên khu ủy đã nghiêm khắc kiểm điểm tìm ra nguyên nhân của tình hình chậm phát triển, nhiều khó khăn vừa qua là do các cấp ủy Đảng chưa chú trọng giáo dục để đảng viên và quần chúng thấy hết âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt tàn bạo của địch, chưa có những hình thức đấu tranh thích hợp, việc tổ chức chỉ huy và trình độ tác chiến của bộ đội còn nhiều hạn chế.

Ngay sau hội nghị, Liên khu đã tiếp tế hơn 904 tấn gạo, 45 tấn muối cho quân và dân Bình—Trị—Thiên để kịp thời giải quyết khó khăn.
______________________________________________
1. Ngày 13 tháng 12 năm 1950, Mỹ kỹ kết viện trợ cho Pháp ở Đông Dương: Năm 1951: 62 tỷ; năm 1952: 200 tỷ và năm 1953: 265 tỷ phơ-răng.
2. Lực lượng địch bố trí ở Bình — Trị — Thiên lúc này bằng một phần ba lực lượng của chúng trên chiến trường Bắc Bộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2024, 07:50:18 pm »


Tháng 2, Hội nghị quân chính Mặt trận Bình—Trị—Thiên họp tại chiến khu Ba Lòng để quán triệt nhiệm vụ quân sự năm 1951 của Liên khu.

Ở chiến trường Bình—Trị—Thiên lúc này: «Lực lượng địch tuy mạnh, âm mưu của chúng rất xảo quyệt, nhưng ta vẫn làm chủ được địa bàn rừng núi, chiến tranh du kích ở một số vùng đồng bằng vẫn duy trì. Qua thử thách gian khổ, quyết liệt, ta vẫn giữ được phong trào trên cả ba vùng, nhân dân hết lòng ủng hộ kháng chiến. Nếu biết phát huy thế mạnh đó thì thế và lực của ta sẽ tăng lên gấp bội, khó khăn lớn nhất của ta không phải là mất dân, cũng không phải vì địch mạnh, mà là làm sao tìm ra cách đánh thích hợp, phối hợp lực lượng ba thứ quân có hiệu quả để đánh thắng địch. Tác chiến của chủ lực phải phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và dân quân du kích, thực hiện tốt phương châm đánh nhỏ ăn chắc», đánh tiêu diệt, làm chủ chiến trường, thu vũ khí»1.

Lãnh đạo, chỉ huy Bình — Trị—Thiên quyết định tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ nhận thức sâu sắc nhiệm vụ tác chiến và xây dựng, đồng thời hiểu rõ trách nhiệm to lớn của mình đối với phong trào. Trên cơ sở đó, nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, quyết tâm «xây đà chiến thắng», bám dân, bám đất, giữ vững địa bàn, chăm lo củng cố mọi mặt, đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh bại âm mưu bình định của địch, đưa phong trào ở Bình-Trị-Thiên tiến kịp các chiến trường.

Ngày 12 tháng 2, tiểu đoàn 436 được tiểu đoàn 888 pháo binh chi viện, tiến công tiêu diệt hoàn toàn vị trí An Gia trong hệ thống phòng thủ Phú Ốc—Sịa huyện Quảng Điền. Ngay sau đó, địch cho quân đến tiếp viện, giải tỏa và chiếm lại vị trí này.

Đêm 3 và sáng ngày 4 tháng 3, kết hợp đánh điểm với diệt viện, trung đoàn 101 lại diệt vị trí An Gia và diệt hai trung đội địch từ Phú Ốc đến cứu viện.

Sau chiến thắng An Gia, Bộ chỉ huy Mặt trận chủ trương giao cho trung đoàn 101 cường tập vị trí Phổ Lại, nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, làm tan rã tinh thần binh lính địch nhất là tiểu đoàn 7 quân ngụy, đẩy mạnh đà chiến thắng, chuẩn bị cho hoạt động bảo vệ mùa tháng 4.

Trung đoàn 101 nhanh chóng tổ chức lực lượng, hành quan chiếm lĩnh trận địa. Đêm 9 tháng 3, các đơn vị đã ở vị trí chiến đấu thì được tin địch tăng viện một đại đội gần 150 sĩ quan và hạ sĩ quan đến thực tập. Tranh thủ lúc địch chưa ổn định, mật độ đóng quân dày đặc, tiểu đoàn 436 do tiểu đoàn trưởng Dương Bá Nuôi chỉ huy, bất ngờ tiến công quyết liệt. Sau hai giờ chiến đấu, ta đã đánh chiếm vị trí, tiêu diệt toàn bộ quân địch, thu toàn bộ vũ khí.

Phối hợp với tiểu đoàn 436, dân quân du kích và nhân dân huyện Quảng Điền tích cực phá cầu đường trên tuyến phòng ngự Phú Ốc — Sịa, chặn đường tiếp viện của địch. Đại đội 325 Quảng Điền tiến công uy hiếp, buộc địch rút khỏi đồn Quảng Thanh.

Chiến thắng Phổ Lại cùng với chiến thắng An Gia đã bẻ gãy tuyến phòng ngự Phú Ốc — Sịa của địch. Với thắng lợi đó, ta đã «xây được đà chiến thắng» ở Bình - Trị - Thiên.

Để tiếp tục chỉ đạo các hoạt động quân sự, Nghị quyết thường vụ Liên khu ủy đầu tháng 3 nêu rõ: «Trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, chiến tranh du kích là chính, quy mô tác chiến của chủ lực là trung đoàn, khi cần có thể tổ chức hai trung đoàn, nhưng phải chuẩn bị chu đáo, chủ động đánh tiêu diệt ăn chắc, đánh quân ứng chiến là chính. Khi đánh xong phải phân tán về từng tỉnh cùng với bộ đội địa phương hoạt động, đẩy mạnh chiến tranh du kích»2.

Nghị quyết Thường vụ Liên khu đang được mặt trận Bình — Trị — Thiên tổ chức thực hiện thì bộ chỉ huy Pháp cũng chuẩn bị càn lớn vào Thanh Hương — Mỹ Xuyên. Chúng đã huy động trên 2.200 quân ứng chiến tinh nhuệ có pháo binh, công binh, cơ giới và máy bay chi viện, chia làm hai cánh hành quân chiếm lĩnh trận địa, hình thành thế bao vây căn cứ Thanh Hương — Mỹ Xuyên.

Cách thứ nhất có hơn 1.000 địch do tên trung tá Sốc-kên (Socket) chỉ huy, đánh vào Vĩnh An — Ưu Điềm.

Cách thứ hai có gần 1.500 tên, do tên trung tá Bút-tin (Buttin) chỉ huy, đánh vào Thanh Hương—Mỹ Xuyên.

Cả hai cánh quân đặt dưới quyền chỉ huy của tên đại tá Ta-bo (Tabor).

Chiều 10 tháng 3, tất cả các cánh quân của địch đã tập kết đầy đủ ở vị trí xuất phát tiến công.

Lần đầu tiên trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, địch tổ chức một cuộc càn quét lớn, lực lượng mạnh và được chuẩn bị chu đáo. Chúng hy vọng sẽ quần nát căn cứ đồng bằng Phong — Hải, buộc chủ lực ta phải bị động đối phó.

17 giờ ngày 10 tháng 3, khi địch điều pháo vào Mỹ Chánh và ca nô chở quân đổ bộ vào sông Vĩnh Định, Bộ chỉ huy mặt trận khẳng định: địch càn lớn vào vùng căn cứ Phong Điền và Hải Lăng. Một mặt lệnh cho các trung đoàn 95 và 101 cơ động đánh địch, mặt khác tổ chức hiệp đồng với địa phương chỉ đạo bộ đội địa phương và dân quân du kích bám địch chống càn, làm chậm bước tiến của chúng, đồng thời nhanh chóng tổ chức cho nhân dân cất giấu của cải, tản cư vào căn cứ. Bộ chỉ huy mặt trận về đồng bằng trực tiếp chỉ huy chống càn.

Các trung đoàn 95 và 101 nhanh chóng hành quân trong đêm chiếm lĩnh trận địa. Sáng 11 tháng 3, các trung đoàn tập kết đầy đủ ở Thanh Hương - Mỹ Xuyên kịp thời nổ súng đánh địch, mở đầu trận chống càn.

Trên hướng Vĩnh An — Ưu Điềm, trung đoàn 95 vừa tới Phong Lâu thì binh đoàn Sốc-kên đã tràn vào trận địa ta, đại đội 153 và tiểu đoàn 310 lọt vào vòng vây của địch. Bị đánh bất ngờ, cả tiểu đoàn 310 tán loạn, đại đội 153 bị tổn thất nặng. Thừa cơ, địch đuổi theo số thoát vây đến Vĩnh An.

Trung đoàn trưởng Lê Bá Vận và chính ủy Trần Văn Bành quyết định tập trung lực lượng còn lại tiến công địch ở Vĩnh An. Binh đoàn Sốc-kên bỏ chạy về Ưu Điềm, ý đồ kéo quân về Thanh Hương — Mỹ Xuyên, tập trung lực lượng tiêu diệt chủ lực ta đã bị phá sản.

Trong trận Vĩnh An — Ưu Điểm, ta đã tiêu diệt hai đại đội địch, bẻ gãy trận càn, phá âm mưu hợp quân của chúng, nhưng ta cũng bị bất ngờ và tổn thất hai đại đội.
_______________________________________________
1. Báo cáo của đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Phân khu ủy Bình—Trị—Thiên tại Hội nghị, Phông Khu 4, lưu trữ K4 Bộ quốc phòng, hồ sơ 235, tr.11.
1. Nghị quyết số 52-NQ-LK4 ngày 19 tháng 3 năm 1951. Tài liệu lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2024, 07:52:55 pm »


Khi cánh quân Sốc-kên bị chặn đánh quyết liệt ở Vĩnh An thì cánh quân Bút-tin trên đường tiến công vào làng Thanh Hương cũng phải đối phó chật vật với dân quân, du kích và bộ đội địa phương. Mới bám được rìa làng, Bút-tin vội vã cho quân chọc thẳng vào làng Thanh Hương, nhưng bị tiểu đoàn 319 (trung đoàn 101) do tiểu đoàn trưởng Triệu Huy Hùng chỉ huy đánh bật ra và tiếp đó kiên cường bám trụ, liên tiếp bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của chúng. 16 giờ ngày 11 tháng 3, tiểu đoàn 328 chặn cánh quân của địch từ ngoài biển vào, còn tiểu đoàn 436 (trung đoàn 101) được lệnh đánh tạt sườn quân địch ở chân đồi cát Vĩnh Xương. Bị tiến công từ hai phía, địch bỏ chạy vào làng Thanh Hương, có thủ ở khu vực nhà thờ Tháp Một.

Tại căn cứ Phong Lai, Bộ chỉ huy phân khu cùng cơ quan1 họp khẩn cấp bàn kế hoạch chuẩn bị cho trận đánh ngày 12 tháng 3. Sau khi phân tích tình hình so sánh lực lượng, Bộ chỉ huy quyết định: Tập trung tiêu diệt binh đoàn Bút-tin và giao nhiệm vụ này cho trung đoàn 101. Các lực lượng khác sẵn sàng cơ động chặn đánh quân tiếp viện của địch. Chủ trương này được phổ biến ngay trong đêm 11 tháng 3.

Nhận mệnh lệnh tác chiến, trung đoàn 101 do trung đoàn trưởng Lê Văn Tri và chính ủy Lê Tự Đồng chỉ huy nhanh chóng xốc lại lực lượng, bổ sung vũ khí đạn dược, động viên tinh thần cán bộ chiến sĩ tiếp tục đánh địch. Nhân dân các xã ở khu vực Thanh Hương vừa đoàn kết đấu tranh buộc địch không được càn quét cướp phá, tàn sát nhân dân, không được cưỡng bức con em họ đi càn, vừa vận động binh lính địch buông súng trở về với nhân dân.

Được sự hỗ trợ của chủ lực và trước phong trào đấu tranh của nhân dân, nhiều người trong số bị địch bắt đi càn bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân. Trong số hơn 250 người bị địch bắt đi càn đã có gần 30 người cướp súng địch và chạy theo du kích. Nhân dân còn suốt đêm nổi lửa nấu cơm, tiếp tế phục vụ bộ đội. Cán bộ địa phương kịp thời tuyển chọn du kích bổ sung cho bộ đội.

5 giờ sáng 12 tháng 3, các tiểu đoàn 319 và 436 khép chặt vòng vây nhà thờ Tháp Một, dùng hỏa lực khống chế, vừa liên tiếp dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Bọn địch hoang mang, Bút-tin liều mạng tháo chạy về phía thị xã Quảng Trị. Nhưng đạn cối của ta bắn dữ dội và xung kích của ta đã áp sát. Địch hoảng sợ tháo chạy tán loạn ra phía đường số 68. Bộ đội và dân quân du kích hai huyện Phong — Hải chặn đánh hất toàn bộ quân địch xuống đồng lầy Thanh Hương. Trận giáp chiến giữa ta và địch diễn ra ác liệt trên cánh đồng Thanh Hương.

9 giờ ngày 12 tháng 3, trận chống càn Thanh Hương — Mỹ Xuyên kết thúc thắng lợi. Binh đoàn Bút-tin bị tiêu diệt, tên trung tá Bút-tin tử trận, trên 1.200 tên chết và bị thương, 52 tên bị bắt, ta thu trên 100 súng các loại và giải thoát cho 250 người bị địch cưỡng bức đi càn.

Trận chống càn Thanh Hương — Ưu Điềm là trận vận động chiến lớn nhất từ trước tới nay ở Bình — Trị— Thiên, diễn ra liên tiếp suốt ba ngày đêm. Là trận vận động chiến quy mô với toàn bộ lực lượng chủ lực có mặt trên chiến trường, cơ động nhanh, kết hợp chặt chẽ giữa phản kích, đột kích, tập kích với bám trụ vững vàng, bẻ gãy từng cánh quân của địch. Ta đã biết phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, giữa quân và dân, giữa đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, liên tục tiến công làm cho địch có lực lượng ứng chiến lớn và phương tiện chiến tranh hiện đại vẫn bị thất bại. Kế hoạch của Tát-xi-nhi tiêu diệt chủ lực ta và giao chiến trường Bình — Trị — Thiên cho quân ngụy đảm nhiệm để rút quân ứng chiến tăng cường cho chiến trường Bắc Bộ bị phá sản.

Chiến thắng Thanh Hương — Ưu Điềm đã góp phần quan trọng giải quyết được nhiều khó khăn trong phong trào chiến tranh nhân dân và nhiều vấn đề về lãnh đạo, chỉ huy tác chiến trên chiến trường Bình — Trị — Thiên.

Chiến thắng Thanh Hương — Ưu Điềm đánh dấu bước trưởng thành của chủ lực ta trong việc vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, nhất là chiến thuật vận động chiến trong chống càn. Chất lượng đánh tiêu diệt đã có bước tiến bộ đáng kể. Trong thế trận chung và có sự phối hợp giữa ba thứ quân, bộ đội chủ lực Bình — Trị — Thiên đã có thể tiêu diệt từng tiểu đoàn, binh đoàn địch.

Với chiến thắng vẻ vang này, ngày 19 tháng 3 năm 1951 quân và dân Bình — Trị — Thiên đã vinh dự được Bác Hồ gửi thư khen:

«Tôi thân ái gửi đồng bào và bộ đội Bình-Trị-Thiên đã thắng một trận khá. Thắng lợi ấy là do sự dũng cảm của bộ đội, lòng hăng hái của toàn dân và sức đoàn kết của quân dân chính... Chúng ta phải cố gắng hơn nữa và phải nhớ rằng ở Liên khu 4 du kích là chính, vận động chiến là phụ. Kháng chiến là trường kỳ gian khổ, rồi mới đến thắng lợi hoàn toàn».

Cùng thời gian này quân và dân Bình — Trị — Thiên còn được đón nhận điện và thư khen của đồng chí Tổng bí thư Trường-Chinh, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của Liên khu uy và Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4, cùng nhiều thư, điện cổ vũ của các chiến trường.

Sau thất bại ở Thanh Hương-Ưu Điềm, địch không rút bớt được mà phải bổ sung cho chiến trường Bình-Trị-Thiên để nhanh chóng khôi phục lực lượng ứng chiến. Chúng đưa tiểu đoàn 1 Bắc Phi từ Đà Nẵng ra thay thế tiểu đoàn 4 Bắc Phi, lấy đại đội ứng chiến ở Quảng Bình bổ sung cho tiểu đoàn 6 Spahis, tăng thêm lính khố đỏ cho tiểu đoàn 27 Âu — Phi và đưa từ Bắc Bộ vào hai tiểu đoàn. Tính đến tháng 6 năm 1951, lực lượng địch ở Bình —Trị —Thiên đã lên tới bảy tiểu đoàn Âu — Phi ứng chiến và 10 tiểu đoàn quân ngụy chiếm đóng2.

Thất bại về quân sự của địch kéo theo sự lúng túng phân hóa về chính trị. Mâu thuẫn giữa quân ngụy với quân Pháp thêm gay gắt, nội bộ ngụy quân, ngụy quyền xâu xé thanh trừng lẫn nhau, xu hướng bỏ Pháp đi theo quan thầy mới là Mỹ bắt đầu xuất hiện trong hàng ngũ địch. Tuy nhiên, cả Pháp lẫn Mỹ đều muốn sử dụng bọn đội lốt đạo Thiên chúa làm tay sai đắc lực cho chúng. Tháng 5 năm 1951, chúng đưa Trần Văn Lý là tên phản động lên thay Phan Văn Giáo.

Chúng rút bỏ các vị trí cô lập, ra sức củng cố hành lang, chia thành từng ô để dễ kiểm soát, tập trung giữ vững các đường giao thông quan trọng.
_______________________________________________
1. Đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Phân khu ủy kiêm chính ủy Mặt trận thay đồng chí Trần Quý Hai ra họp ở Việt Bắc.
2. Lực lượng Âu—Phi ứng chiến có tiểu đoàn: Tuy-ni-di số 2, An-giê-ri số 27, Sê-nê-gan số 28, tiểu đoàn 6 Spahis, tiểu đoàn lê-dương số 1, tiểu đoàn Ma-rốc số 1 và tiểu đoàn thuộc địa số 21. Lực lượng chiếm đóng có: trung đoàn Nguyễn Huệ (hai tiểu đoàn) ở Quảng Bình, trung đoàn Trần Hưng Đạo (hai tiểu đoàn) ở Quảng Trị, trung đoàn Duy Tân (hai tiểu đoàn) ở Thừa Thiên, và bốn tiểu đoàn biệt lập số 7, 8, 12 và 23.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM