Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:15:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31263 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2024, 07:57:01 pm »


Sau trận Thanh Hương —Ưu Điềm, vùng du kích của ta được mở rộng và củng cố, một số căn cứ lõm được hình thành. Phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh ở các xã vùng Phổ Lại, Vĩnh An và Thanh Hương. Lực lượng vũ trang ba thứ quân trưởng thành, có thêm kinh nghiệm chiến đấu, thế trận chiến tranh nhân dân có bước phát triển mới. Tuy nhiên, lực lượng ta có bị hao hụt, nhất là trung đoàn 95, các đơn vị đều thiếu cán bộ, bộ đội phải chiến đấu liên tục trong hoàn cảnh thiếu thốn, gian khổ, sức khỏe bị giảm sút.

Trước tình hình ấy, đảng ủy và bộ chỉ huy mặt trận chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, hoạt động nhỏ lẻ, chuẩn bị cho nhân dân tranh thủ thu hoạch, bảo vệ vụ mùa tháng 4 và tháng 5, đồng thời tranh thủ bổ sung quân và vũ khí, bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện chiến sĩ, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Bộ đội chủ lực tích cực bao vây, tiến công tiêu diệt 33 vị trí địch hoặc giam chân chúng để cho bộ đội địa phương và dân quân du kích bám đồng ruộng, bám dân, chống càn quét tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch. Nhân dân các địa phương vùng lúa tranh thủ gặt hái. Với những nỗ lực đó, quân và dân Bình — Trị — Thiên bước đầu phá tan kế hoạch cướp phá mùa của địch.

Cùng thời gian này cấp ủy và chính quyền các cấp vừa đặc biệt quan tâm tới việc bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài, vừa chăm lo xây dựng căn cứ địa, khu du kích, xem đây là một nhiệm vụ trọng yếu trong công tác của mình.

Ở các chiến khu Bang, Rợn, Lệ Thủy, Thủy Ba Thượng, Cẩm Phổ, Gio Linh, Cùa, Cam Lộ, Hòn Linh, Khe Hương, Hòa Mỹ, Lương Miêu... được củng cố thêm một bước, phòng thủ và dự phòng tốt, rào chắn, canh gác chặt chẽ, vững chắc hơn. Đặc biệt ở các khu vực tiền chiến khu được xây dựng như những làng chiến đấu Cự Nẫm năm trước, nhưng sáng tạo và chắc chắn hơn. Trong từng chiến khu đã chú trọng đến nhiệm vụ khai hoang trồng sắn, khoai và chăn nuôi gia súc, tự túc một phần lương thực và cải thiện đời sống.

Từ 14 đến 21 tháng 5 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu 4 lần thứ ba họp tại làng Hoa Quân, huyện Thanh Chương (Nghệ An). Đại hội kiểm điểm tình hình vừa qua, đề ra chủ trương lãnh đạo trong những năm tới và bầu ra Ban chấp hành mới của Đảng bộ Liên khu.

Đại hội đề ra hai nhiệm vụ của Liên khu là:

“ — Tiếp tục xây dựng lực lượng quân sự, tiêu diệt sinh lực địch, đồng thời bảo toàn và xây dựng lực lượng ta.

— Đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là sản xuất lương thực, bảo đảm cung cấp nhu cầu tiền tuyến và cải thiện dân sinh”1.

Về nhiệm vụ của Bình —Trị—Thiên, nghị quyết Đại hội nêu rõ: Cần kíp «củng cố và phát triển lực lượng, đủ sức chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chính, phát triển chiến tranh du kích khắp các địa phương. Tranh thủ thời cơ đẩy mạnh tăng gia sản xuất và tiết kiệm để bồi duỡng sức dân, duy trì cuộc kháng chiến lâu dài. Kiên nhẫn và bền bỉ xây dựng, phát triển cơ sở quần chúng ở các vùng địch hậu và cơ sở bí mật trong các thị xã»2.

Về nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, Đại hội chỉ rõ: «Trong điều kiện và hoàn cảnh chiến trường Bình-Trị-Thiên, bộ đội chủ lực không thể tăng thêm nhiều và cơ động khó khăn. Vì vậy, bộ đội địa phương sẽ là thành phần vũ trang quan trọng của chiến tranh nhân dân địa phương, nên cần được tăng cường và củng cố mọi mặt. Dân quân du kích là công cụ bạo lực chủ yếu ở cơ sở và là lực lượng trực tiếp làm nòng cốt đề thực hiện «vũ trang toàn dân và toàn dân đánh giặc», phải được đặc biệt quan tâm xây dựng. Trên cơ sở đó mà tiếp tục củng cố bộ đội chủ lực hiện có, tiến tới xây dựng thành đại đoàn»3.

Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng chính trị tư tưởng, kinh tế, tài chính và văn hóa xã hội của Liên khu trong những năm tới.

Đồng chí Hoàng Anh được bầu là Bí thư Liên khu ủy, đồng chí Lê Viết Lượng được cử làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu. Đồng chí Lê Nam Thắng được cử làm tư lệnh và đồng chí Võ Thúc Đồng làm chính ủy Liên khu. Đồng chí Chu Văn Biên được bầu làm phó bí thư Liên khu ủy trực tiếp làm bí thư Đảng ủy Mặt trận Bình—Trị—Thiên, đồng chí Trần Quý Hai được cử làm tư lệnh, đồng chí Lê Tự Đồng phó chính ủy, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy từ Liên khu xuống cơ sở đều được kiện toàn, củng cố.

Đại đội Đảng bộ các tỉnh trong liên khu cũng lần lượt được tiến hành. Tổ chức Đảng ở các địa phương từ đây ra hoạt động công khai lãnh đạo kháng chiến.
____________________________________________
1 - 3. Trích Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu 4 lần thứ ba. Hồ sơ lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2024, 07:58:42 pm »


Sau chiến dịch Quang Trung, tháng 6 năm 1951 Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng — Tổng tư lệnh quân đội quốc gia Việt Nam và Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng vào kiểm tra tình hình và giao nhiệm vụ cho Liên khu 4.

Về âm mưu của địch đối với địa bàn liên khu, Đại tướng chỉ rõ: «Trước mắt thực dân Pháp chưa thể đánh chiếm Thanh — Nghệ — Tĩnh, nhưng chúng sẽ dùng không quân đánh phá rất ác liệt, nhằm triệt phá kinh tế hậu phương ta, đồng thời chúng sẽ tung lực lượng phỉ đánh chiếm miền tây; tăng cường tập kích, biệt kích ven biển; sử dụng bọn gián điệp, phản động đội lốt tôn giáo phá hoại hậu phương chiến lược làm cho ta không đủ tài lực để phát triển chủ lực và đưa chiến tranh vận động tiến lên. Bộ đã nghiên cứu kỹ về so sánh lực lượng giữa địch và ta, về âm mưu và thủ đoạn của chúng, về khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và công tác bảo đảm cung cấp... Có thể chúng sẽ chuyển hướng hoạt động của chủ lực, mở chiến dịch lên miền Tây Bắc — ở đó lực lượng địch yếu và sơ hở, ở đó là một địa bàn chiến lược quan trọng. Nếu giải phóng được miền Tây Bắc và phối hợp với lực lượng bạn giải phóng một số tỉnh của Thượng Lào, ta sẽ tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhân dân các dân tộc, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, tạo nên một căn cứ chiến lược liên hoàn với chiến khu Việt Bắc — Tây Bắc — Thượng Lào — Thanh — Nghệ —Tĩnh».

Để có thể thực hiện được ý đồ chiến lược trên, Liên khu 4 có vị trí và vai trò rất quan trọng: «Một mặt vẫn tiếp tục đẩy mạnh tác chiến ở Bình - Trị - Thiên, tránh chủ quan khinh địch chống tư tưởng ăn to đánh lớn trong một số cán bộ, đẩy mạnh xây dựng lực lượng địa phương thay thế các trung đoàn chủ lực, xúc tiến sớm việc tập trung đại đoàn 325, xây dựng thành đại đoàn cơ động trong đội hình các đại đoàn chủ lực của Bộ. Một mặt Liên khu phải tập trung sự nỗ lực cao nhất xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương Thanh —Nghệ — Tĩnh, vừa sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính Bắc Bộ, cho các chiến trường Bình—Trị—Thiên, Tây Bắc và Thượng Lào”.

Sau khi Đại tướng giao nhiệm vụ, đồng chí Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng hướng dẫn Liên khu về công tác tham mưu, về xây dựng kế hoạch tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng ba thứ quân đảm nhiệm nhiệm vụ tác chiến địa bàn, vừa sẵn sàng bổ sung cho chủ lực, tinh giản cơ quan liên khu bộ từ 1.600 xuống 400 cán bộ, chiến sĩ, rút lực lượng bổ sung cho chiến trường.

Đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh và đồng chí Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng đã định hướng trước những vấn đề cơ bản và cụ thể, giúp Liên khu triển khai nhiệm vụ xây dựng và tác chiến trong những năm tới hiệu quả nhất.

Sự kiện lịch sử quan trọng này cùng với các sự kiện Đại hội Đảng bộ Liên khu và Đảng bộ các cấp, Đại hội thống nhất mặt trận Việt Minh —Liên Việt Liên khu thành công tốt đẹp, vừa đánh dấu bước phát triển mới của Liên khu trong công cuộc xây dựng và chiến đấu vừa xác định quyết tâm và động viên quân dân toàn liên khu đoàn kết, khắc phục khó khăn gian khổ, hăng hái bước vào chặng đường chiến đấu mới đầy triển vọng.

Hưởng ứng phong trào thi đua «Giết giặc lập công, sản xuất lập công, đề cao chiến sĩ», mở đầu bằng «Hội mừng chiến thắng Trung Du»1 và mừng sinh nhật Bác ngày 19 tháng 5 các đơn vị sôi nổi đẩy mạnh hoạt động tác chiến bảo vệ mùa tháng 5 và phối hợp với chiến dịch Quang Trung đang diễn ra ở Hà — Nam — Ninh.

Tại Quảng Trị và bắc Thừa Thiên, bộ đội địa phương cùng du kích Phong — Quảng — Triệu — Hải liên tiếp diệt 17 lô cốt trên tuyến phòng ngự Phú Ốc — Sịa, trung đoàn 101 đánh một số trận giao thông trên đường Phú Ốc — Vạn Xá.

Ở bắc Quảng Trị, trung đoàn 95 đánh trận công kiên đầu tiên vào vị trí Ba Dốc nằm trên đường số 1 thuộc huyện Gio Linh. Địch xây dựng tại đây một loạt lô cốt kiên cố nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, bảy hàng rào thép gai bao bọc, do một đại đội bộ binh và một trung đội pháo binh ngụy chiếm đóng. Chúng thường xuyên càn quét bắn phá và cướp bóc các vùng lân cận. Để tạo vành đai an toàn cho Ba Dốc, địch đã san bằng hai làng Lệ Môn và Gia Môn.

Trung đoàn 95 đã triển khai một số lực lượng hiệp đồng với bộ đội địa phương và dân quân du kích hai huyện Cam Lộ, Gio Linh chặn đánh quân tiếp viện của địch từ Đông Hà ra và từ Hồ Xá vào Ba Dốc.

Đêm 12 tháng 6 năm 1951, mở đầu cho trận đánh, đại đội 94 trợ chiến dùng chín khẩu súng phóng bom đồng loạt bắn vào Ba Dốc, tiểu đoàn 227 nhanh chóng vượt rào, dùng ĐKZ bắn sập các lô cốt, tiêu diệt các ổ đề kháng của địch, xung phong đánh chiếm từng khu nhà theo quy định. Sau hơn một giờ quyết chiến, tiểu đoàn đã làm chủ vị trí, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Ba Dốc, bắt 41 tên, thu 93 súng các loại và 20 tấn gạo.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, trong hai tháng 5 và 6, bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh gần 200 trận, diệt trên 400 tên, phá 31 lô cốt và hai vị trí, đập tan hệ thống phòng thủ của địch từ Quán Hầu đến Hòa Luật. Địch buộc phải điều lực lượng ứng chiến đói phó với ta ở Lệ Thủy, Quảng Ninh, Phong Thu, Phò Trạch. Nhân dân các vùng đô thị và vùng tạm chiếm đấu tranh chống địch đi càn, chống bắt lính, dồn dân. Đồng bào đô thị đòi được tự do đi lại, công nhân nhà đèn và sở bưu điện đấu tranh chống bắt tập quân sự, đòi tăng lương, trường quốc học Huế và trường kỹ nghệ đấu tranh không được bắt học sinh tập quân sự. Chị em bạn hàng ở chợ Đông Ba thành lập hội tương tế, cứu tế, bí mật quyên tiền mua lương thực, thuốc men gửi lên chiến khu. Các đội cơ sở hoạt động trong lòng địch tích cực quấy rối, phục kích, tập kích, ám sát địch, làm rối loạn an ninh, buộc địch phải tập trung lực lượng đối phó. Với sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với quân sự, giữa ba vùng, ba thứ quân, ta đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch bảo vệ mùa và phối hợp chiến trường chính Bắc Bộ. Trong vụ mùa này số thóc địch cướp được không quá hai đến ba phần trăm tổng thu nhập của ta.
_____________________________________________
1. Chiến dịch Trần Hưng Đạo ở Vĩnh Yên— Phúc Yên. Chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở đường số 18.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2024, 07:59:26 pm »


Sau một thời gian liên tục hoạt động tập trung, cuối tháng 6 năm 1951, Đảng ủy mặt trận quyết định phân tán trung đoàn 95 về phối hợp với các địa phương, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trung đoàn 101 chuyển vào vùng căn cứ Phú Vang để củng cố, cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên về chiến khu Dương Hòa tập huấn chiến thuật, chuẩn bị cho kế hoạch Thu Đông.

Địch nhiều lần tập trung lực lượng cơ động mạnh, liên tiếp càn quét tiêu diệt chủ lực ta, nhưng vẫn không thực hiện được. Để gỡ thế bị động, bộ chỉ huy Pháp tiếp tục tung lực lượng gián điệp và các tiểu đoàn ứng chiến càn quét thăm dò.

Ngày 23 tháng 7, được tin trung đoàn 101 đứng chân ở dải đất hẹp Mỹ Lợi, bốn bề đầm phá bao bọc, tên tướng Lo-ri-ốt (Lorrillot) chỉ huy trưởng bắc trung phần liền tập trung hải, lục, không quân quyết vây diệt trung đoàn này.

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 7, chúng triển khai xong lực lượng và vòng vây đã khép kín. Phía bắc Mỹ Lợi có tiểu đoàn 2 Bắc Phi, tiểu đoàn 8 ngụy. Phía tây Mỹ Lợi có hàng trăm xe cơ giới, xe tăng và ca nô vũ trang rải dọc quốc lộ số 1 và phá Tam Giang. Hướng chủ yếu đánh vào Mỹ Lợi gồm ba tiểu đoàn Âu — Phi được không quân, pháo binh chi viện, do tên đại tá Sốc-kên chỉ huy.

Tối 25 tháng 7, trong tình thế bị địch bao vây bất ngờ, ban chỉ huy trung đoàn 101 quyết định cho bộ đội rút khỏi Mỹ Lợi, vượt sang bờ tây phá Tam Giang vào vùng Dưỡng Mông, Thanh Lam Bồ để triển khai đánh địch.

Được đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương hết lòng giúp đỡ, trung đoàn đã vượt phá Tam Giang trước khi trời sáng. Lên tới bờ, trung đoàn liền triển khai đội hình chiến đấu, đồng thời cử cán bộ hiệp đồng với dân quân du kích các thôn trên dọc đường tiến quân của địch tích cực chặn đánh, kìm chân trước khi chúng đến khu vực quyết chiến điểm Thanh Lam Bồ.

Sáng 26 tháng 7, địch bắt đầu tiến quân. Dọc đường bị dân quân du kích chặn đánh quyết liệt, chúng bị cầm chân cả buổi sáng. Đến chiều, địch mới vượt được cầu Thanh Lam Bồ sang Hà Chữ. Chờ địch sang hết bên kia cầu, đại đội trưởng Bùi Thúc Dưỡng nhanh chóng chỉ huy đại đội 136 (tiểu đoàn 319) đánh chiếm đầu cầu, bịt đường rút lui của địch, biến cầu Thanh Lam Bồ thành điểm chốt kiên cường.

Cùng lúc ấy, trung đoàn trưởng Lê Thuyết ra lệnh cho toàn Trung đoàn công kích. Lập tức các tiểu đoàn 328, 436 và 319 cùng các đại đội hỏa lực trợ chiến đồng loại nổ súng tiến công, chia cắt đội hình địch để tiêu diệt. Sau gần hai giờ kịch chiến, tiểu đoàn 6 Âu — Phi bị tiêu diệt, tiểu đoàn 3 Bắc Phi bị đánh tơi tả, tên tiểu đoàn trưởng Ty-pha-nhơ (Typhagne) bị bắt. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, tiểu đoàn Bắc Phi và tiểu đoàn 8 ngụy không dám đến cứu. Chập tối, Sốc-kên vội vàng cho ca nô vũ trang ghé bến Trung Hà đón tiểu đoàn 6 Spahis và số sống sót vượt phá Tam Giang chuồn thẳng về Huế.

Trận càn chớp nhoáng của Pháp nhằm hốt gọn trung đoàn 101 ở Phú Vang bị thất bại. 950 tên bị diệt, 18 tên Âu —Phi bị bắt. Trung đoàn 101 và lực lượng vũ trang huyện Phú Vang đã lập công xuất sắc.

Với chiến thắng oanh liệt đó, một lần nữa trung đoàn 101 được Bác Hồ gửi thư khen ngợi.

Ngày 19 tháng 8 năm 1951, quân và dân Bình —Trị — Thiên vinh dự được Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng thưởng Huân chương Quân công hạng hai. Bản tuyên dương công trạng khẳng định:

«Trong quá trình đấu tranh gian khổ, nhân dân Bình — Trị — Thiên đã củng cố xây dựng được lực lượng vũ trang, từ đội du kích tiến lên quân chủ lực mạnh mẽ, chiến thắng địch một cách anh dũng.

Đã thực hiện được quân dân nhất trí, bộ đội yêu mến nhân dân, nhân dân giúp đỡ thương yêu bộ đội, đã gây nhiều cơ sở vững chắc trong lòng địch, phát triển du kích chiến tranh mạnh mẽ, bộ đội địa phương phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, đã chiến thắng oanh liệt và liên tiếp trong các trận vừa qua, đã kìm chế lực lượng địch và phối hợp chiến trường chính ».

Phần thưởng cao quý mà Chính phủ tặng thưởng đã tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Bình-Trị-Thiên tiếp tục tiến lên đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn xảo trá, tàn bạo của địch, giữ vững và phát triển phong trào kháng chiến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 08:51:42 pm »


*

*       *

Sau thất bại lớn ở Thanh Hương và Thanh Lam Bồ, địch thấy không thể tập trung lực lượng Âu — Phi tinh nhuệ mở những cuộc càn quét lớn. Chúng buộc phải thay đổi thủ đoạn hoạt động ở Bình — Trị — Thiên. Chúng triệt để thực hiện chính sách «dùng người Việt đánh người Việt» trên chiến trường này, ráo riết bắt lính, xây dựng các đơn vị chủ lực, kết hợp hành quân càn quét với các thủ đoạn chính trị để vơ vét sức người, sức của phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Chỉ trong hai tháng 9 và 10 năm 1951, địch đã bắt gần 3.000 thanh niên vào lính, đưa lực lượng ứng chiến từ sáu tiểu đoàn lên chín tiểu đoàn, quân chiếm đóng 12 tiểu đoàn. Đi dôi với bắt lính, Trần Văn Lý, thủ hiến Trung Việt còn ra sức củng cố bộ máy hành chính các cấp với những mỹ từ: «thanh liêm”, “chuyên cần», «gần dân», nhằm gây uy tín chính trị cho ngụy quyền, dùng bọn này làm công cụ phục vụ cho ý đồ lâu dài của chúng.

Đề đối phó với thủ đoạn mới của địch, Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định phân tán các trung đoàn thành từng tiểu đoàn, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động, nhằm kéo quân ứng chiến của địch ra khỏi vùng lúa chín để nhân dân thu hoạch mùa, khi cần thiết có thể nhanh chóng tập trung toàn trung đoàn đánh tiêu diệt lớn quân địch.

Trung đoàn 95 bám vùng nam Quảng Bình và bắc Quảng Trị. Trung đoàn 101 bám căn cứ Phong— Quảng — Triệu — Hải. Với sự chuyển hướng đúng đắn này, bộ đội chủ lực đã tiêu diệt 10 lô cốt của địch ở Quảng Bình, Thừa Thiên, buộc chúng phải rút khỏi vị trí Cự Nẫm, tháp canh Phú Thiết (Quảng Bình) và La Vang Thượng (Quảng Trị), và nhờ vậy đã giam chân được lực lượng ứng chiến của chúng trên đường số 1 từ Huế ra Hồ Xá (bắc Quảng Trị).

Bộ đội địa phương và dân quân du kích các tỉnh đã liên tiếp chặn đánh quân địch đi càn quét, cướp phá ở nam Thừa Thiên, bộ đội địa phương đã tiêu diệt từng tiểu đội địch ở suối Đá Dầm, Văn Dương, Sư Lỗ, Tây Thượng, Nông. Bộ đội Quảng Trị chống càn ở Bích La Đông, Tương Văn trên đường số 1 và số 9, diệt từng tốp địch đi tuần tiễu ở Cửa Việt, Ưu Điềm và đường số 9.

Nhân dân dồn sức gặt nhanh, thu gọn thóc lúa và cất giấu kịp thời. Cùng với «Vụ chiêm chủ lực», sản lượng lương thực cả năm ở Bình — Trị — Thiên đã đạt tới 208.800 tấn. Không những ta đã giành «Vụ mùa thắng lợi» mà còn đánh bại được các cuộc càn quét của địch, diệt 650 tên, trong đó tiểu đoàn số 23 ngụy bị loại khỏi vòng chiến đấu. Vị trí La Chữ và 32 lô cốt của địch từ Đồng Hới vào bắc Thừa Thiên bị tiêu diệt, hành lang tiếp tế nối Thanh - Nghệ - Tĩnh với Phong - Quảng - Triệu - Hải (Trị — Thiên) được khai thông. Phong trào chiến tranh du kích được đẩy mạnh ở cả ba tỉnh.

Phong trào đấu tranh chính trị trong các đô thị cũng phát triển. Ở Huế, công nhân đòi tăng lương, chống đuổi thợ, trí thức đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, vạch trần chính sách mị dân của tên trùm sỏ Việt gian Trần Văn Lý. Các đoàn thể quần chúng vận động con em bỏ ngũ, không đi lính đánh thuê, không tàn sát nhân dân. Hàng vạn truyền đơn được phát đến tận tay binh sĩ địch. Hơn 1.000 gia đình ngụy binh kéo đến các quận lỵ đòi chồng con. Đặc biệt thành ủy Huế đã lãnh đạo thắng lợi cuộc biểu tình của 2.000 chị em kéo vào đồn Mang Cá đòi trả chồng con về với gia đình, đã giải thoát được 1.800 thanh niên bị bắt.

Thắng lợi quân sự và chính trị của ta đã tác động sâu sắc đến hàng ngũ địch. Tinh thần binh lính địch hoang mang sa sút. Các vụ binh biến, nội ứng xuất hiện ngày càng nhiều. Binh lính đồn An Tuyền, Đôn Sầm, Hà Thanh, Thanh Cần nổi lên làm binh biến. 21 lính Âu — Phi ở Đông Hà đòi hồi hương, làm cho bọn chỉ huy lúng túng.

Trong khi cuộc chiến đấu ở Bình — Trị — Thiên đang diễn ra quyết liệt, thì ở Bắc Bộ, Tát-xi-nhi tập trung lực lượng mở cuộc tiến công lớn ra Hòa Bình.

Tổng quân ủy nhận định: «Địch đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi,... tạo cho ta một thời cơ tốt để tiêu diệt sinh lực chúng»1. Trung ương quyết định mở chiến dịch Hòa Bình nhằm vây diệt quân cơ động của địch. Các chiến trường khác trên toàn quốc phải hoạt động phối hợp tích cực. «Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ. Để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch Thu Đông của chúng»2.

Chấp hành chỉ thị của Trung ương và thư kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Liên khu ủy họp bất thường phân tích tình hình và đề ra chủ trương: Trong lúc lo đối phó với chủ lực ta ở Hòa Bình, địch sẽ sơ hở ở các chiến trường và sẽ bị hạn chế khả năng tiếp viện vào Bình — Trị — Thiên. Do vậy, Bình — Trị — Thiên phải đẩy mạnh hoạt động phối hợp, tranh thủ tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng căn cứ du kích, giải phóng đất, giành dân, củng cố thế đứng trên chiến trường.

Bộ chỉ huy Phân khu Bình — Trị — Thiên kịp thời xác định: Nơi địch sơ hở lúc này là bắc Quảng Bình. Mục tiêu tiến công là hệ thống chiếm đóng của địch ở huyện Bố Trạch. Bộ chỉ huy điều trung đoàn 95 nhanh chóng cơ động ra bắc Quảng Trị đánh địch.

Ngày 10 tháng 11, tiểu đoàn 227 tiêu diệt tháp canh Phúc Tự, tiểu đoàn 302 đánh vào Hoàn Lão, phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích Bố Trạch đã diệt 13 lô cốt và tháp canh ở xung quanh Hoàn Lão. Tiểu đoàn ngụy số 25 bị xóa sổ. Hầu hết huyện Bố Trạch được giải phóng.

Trung đoàn 101 diệt một số tháp canh ở Hương Trà (Thừa Thiên), san bằng lô cốt Bác Vọng, Giáp Viên, Vân Cự. Bộ đội Thừa Thiên diệt hai trung đội địch ở Nông và hai trung đội ở suối Đá Dầm. Đại đội Hương Thủy diệt một trung đội trên đường Vân Dương.

Tại Quảng Trị, tiểu đoàn tỉnh phá càn Bích La. Đại đội Cam Lộ tập kích quân ứng chiến trên đường Đập Huyện. Tiêu biểu là trận chống càn của dân quân du kích và nhân dân xã Vĩnh Hoàng (huyện Vĩnh Linh).
_______________________________________________
1. Nhận định của Tổng quân ủy về cuộc tiến công của địch ra Hòa Bình ngày 18 tháng 11 năm 1951. Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1976, t.1, tr. 447.
2. Thư của Hồ Chủ tịch gửi các cán bộ chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, tháng 1-1951. Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H. 1976, t. 1, tr. 448.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 08:53:35 pm »


Ngày 23 tháng 1 năm 1952, tiểu đoàn 27 Bắc Phi, tiểu đoàn 6 Spahis và tiểu đoàn 7 ngụy chia làm ba mũi càn vào xã Vĩnh Hoàng. Phán đoán trước âm mưu của địch, nên lực lượng dân quân du kích đã sẵn sàng thế trận. Do đó, khi các cánh quân của địch từ Hồ Xá mới tới đầu các thôn trong xã, chúng đã vấp phải mìn, nổ tung hai xe chở quân. Dân quân, du kích các thôn Đông, Tây, Trung và thôn Xuân Hòa, được sự hỗ trợ của đại đội 220 bộ đội địa phương tỉnh, đã dựa vào hệ thống «làng xã chiến đấu» anh dũng đánh trả các cuộc tiến công của địch. Sau hơn hai ngày đêm liên tiếp bị tập kích, phục kích tiêu hao, chiều ngày 25 tháng 1, bọn địch phải rút khỏi Vĩnh Hoàng. Dân quân du kích và bộ đội địa phương đã đánh bại được trận càn của ba tiểu đoàn địch, có máy bay, pháo binh chi viện, diệt gần 50 tên, phá hủy hai xe quân sự, bảo vệ được nhân dân và vùng du kích.

Tiếng súng phối hợp với chiến dịch Hòa Bình rền vang khắp chiến trường Bình - Trị - Thiên. Hơn 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hàng loạt lô cốt, tháp canh bị san bằng. Hàng chục hội tề bị phá. Vùng giải phóng bắc Quảng Bình được mở rộng.

Sang tháng 1 và 2 năm 1952, địch thay đổi thủ đoạn hoạt động: rút các vị trí lẻ và cô lập để tập trung các đơn vị ứng chiến, phối hợp lực lượng chiếm đóng mở các cuộc càn quét trên một diện hẹp và dài ngày, nhằm vào căn cứ du kích và vùng thường đứng chân của lực lượng chủ lực ta, hoạt động của bộ đội chủ lực trở nên lúng túng, bế tắc, chưa tìm ra cách đánh mới thích hợp, do đó không hoàn thành được nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính, để địch rút được tiểu đoàn ứng chiến số 28 ra tiếp viện cho Hòa Bình.

Đảng ủy mặt trận đã nghiên cứu kỹ tình hình, cố gắng khai thác những sai lầm của địch để tìm ra phương thức tác chiến thích hợp. Trước hết sử dụng toàn bộ lực lượng ba thứ quân đẩy mạnh hoạt động, tập trung vào đánh giao thông và quấy rối đô thị, nhằm phân tán lực lượng cơ động của địch, đồng thời sử dụng một trung đoàn chủ lực đánh vào một cứ điểm trọng yếu của chúng, nhằm tiêu diệt sinh lực địch và tiếp tục phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả. Phải tổ chức lại chiến trường, phân công lại nhiệm vụ: Bộ đội địa phương Thừa Thiên tiến công địch tại đô thị và đường số 1. Trung đoàn 181 và bộ đội địa phương Quảng Bình đánh giao thông, tập kích thị xã Đồng Hới và hoạt động nghi binh, thu hút quân ứng chiến của địch. Trung đoàn 95 cùng tiểu đoàn Quảng Trị và đại đội Gio Linh đánh ở Nam Đông. Trung đoàn 101 và bộ đội Cam Lộ, Triệu Phong đánh địch ở ngay tại khu vực đứng chân.

Theo kế hoạch đã định, các đơn vị triển khai thế trận đánh địch. Đồng chí Phùng Duy Phiên, Tham mưu trưởng mặt trận cùng với Ban chỉ huy trung đoàn 95 tổ chức tiến công vị trí Nam Đông.

Nam Đông là đồn chính trong hệ thống lô cốt Vạn Kim, Nam Tây và tiền Nam Đông, nằm ở điểm tiếp giáp các con đường 74, 75 và 76 thuộc huyện Gio Linh, do một đại đội lính ngụy chiếm đóng.

Đêm mồng 3 tháng 3 năm 1952, trung đoàn 95 và tiểu đoàn 230 (Quảng Trị) do trung đoàn trưởng Lê Văn Tri và chính ủy Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy, tiến công hệ thống phòng thủ của địch ở Nam Đông. Tiểu đoàn 227 đột kích vị trí tiền Nam Đông, tiểu đoàn 310 đánh vào Vạn Kim và Nam Tây. Sau hơn hai giờ chiến đấu, các đơn vị đã tiêu diệt toàn bộ địch trong khu vực này. Đêm 17 tháng 3, một bộ phận của tiểu đoàn 230 bao vây vị trí Nam Đông. Dân quân du kích và nhân dân bao vây các đồn lẻ, phá cầu cống trên đường số 74 và 75. Hệ thống chiếm đóng của địch ở Gio Linh bị uy hiếp. Địch phải tức tốc điều quân đến cứu viện. Trung đoàn 95 cùng bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị và huyện Gio Linh tổ chức phục kích trên đường số 74, cách Nam Đông ba ki-lô-mét.

Sáng ngày 18 tháng 3, bộ chỉ huy Pháp cho 80 xe chở 1.200 quân ứng chiến, có máy bay yểm hộ, từ Đông Hà lên giải tỏa Nam Đông. Đến trưa đội hình của địch đã nằm gọn trong trận địa phục kích của ta. Lập tức đại đội 202 nổ bom chặn đầu quân địch, châm ngòi cho trận đánh. Các khẩu đội ĐKZ đồng loại phát hỏa khống chế tiêu hao địch. Hỏa lực ngừng bắn, các chiến sĩ bộ binh xung phong đánh giáp lá cà, tiêu diệt số lớn quân địch. Số địch còn lại bỏ chạy tán loạn vào rừng, ta truy kích tiêu diệt một số.

Sau năm giờ chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt gần 800 tên địch, bắt 24 tên, phá hủy 15 xe quân sự và hai xe bọc thép, thu phần lớn vũ khí và đạn dược. Tiểu đoàn 27 Âu — Phi bị thiệt hại nặng.

Diệt xong viện binh, các đơn vị liền chuyển sang tiến công vị trí Nam Đông. Hơn 30 phút chiến đấu ta đã diệt gọn vị trí này. Hệ thống tháp canh của địch ở Gio Linh bị san bằng. Vùng căn cứ du kích Quảng Trị được mở rộng.

Trận đánh điểm, diệt viện ở Nam Đông — đường số 74 thắng lợi là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang ba thứ quân, là kết quả của nghệ thuật nắm địch và trình độ chỉ huy tác chiến của cán bộ ta.

Thi đua với mặt trận Nam Đông — đường 74, các địa phương và đơn vị đã liên tục tiến công địch đều khắp trên các hướng.

Ngày 21 tháng 3, các đơn vị thuộc trung đoàn 101 diệt hai tháp canh ở Cam Lộ, lật nhào ba toa tàu trên đường Mỹ Chánh — Đông Hà, đánh vị trí Sơn Tùng, diệt viện binh ở Khánh Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 150 tên, bắt 45 tên, san phẳng vị trí Sơn Tùng và 23 lô cốt trên đường Nông — Phú Bài — Gia Lễ — An Cựu.

Bộ đội địa phương huyện Hải Lăng tập kích đồn Hải Thái, diệt gần 40 tên. Đại đội 325 huyện Triệu Phong diệt lô cốt Phong Ngạn. Dân quân du kích Quảng Thanh phục kích diệt 15 tên địch trên đường số 1.

Ngày 25 tháng 3 dân quân xa Hải Thái, Phong Nhiên cài mìn diệt bảy tên Âu — Phi. Cùng ngày, dân quân xã Triệu Sơn (Triệu Phong) phá đường sắt, làm đổ sáu toa xe lửa của địch.

Phối hợp với phong trào du kích chiến tranh ở đồng bằng, phong trào đấu tranh của đồng bào đô thị trong thời gian này cũng phát triển mạnh. Công nhân sở hỏa xa, sở bưu điện liên tiếp đình công, đòi tăng lương. Công nhân nhà đèn thị xã Đồng Hới cắt điện suốt ba ngày đêm từ 4 đến 6 tháng 2 năm 1952. Đồng bào Phật giáo Huế quyên góp tiền mua lương thực, thuốc men gửi lên chiến khu. Phong trào vận động binh lính địch bỏ ngũ diễn ra ở nhiều nơi.
_______________________________________________
1. Sau khi ra Phú Thọ nhận vũ khí, tháng 1 năm 1952 trung đoàn 18 đã trở lại Bình — Trị — Thiên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 08:55:24 pm »


Chỉ tính từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 5 năm 1952 đã có 614 binh sĩ ngụy bỏ ngũ, mang 34 súng về với kháng chiến. 15 vụ binh biến hoặc làm nội ứng cho du kích diệt đồn rồi mang súng về với nhân dân. Binh lính 11 đồn ven thành phố Huế mang vũ khí về với kháng chiến, họ còn vận động được tám binh sĩ Âu —Phi cùng đi theo.

Ở phía bắc, một bộ phận thuộc trung đoàn 18 cùng tiểu đoàn 332 (Quảng Bình) đánh cụm quân địch tại Vạn Lộc— Hoàn Lão, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, đánh bại âm mưu của chúng, hòng giành lại huyện Bố Trạch.

Bị thất bại nặng ở Nam Đông — đường số  74, bộ chỉ huy Pháp buộc phải điều bốn tiểu đoàn ứng chiến và 1.000 quân Bắc Phi từ Bắc Bộ vào Bình - Trị - Thiên. Lực lượng ứng chiến của địch tại Bình - Trị - Thiên lúc này đã lên tới chín tiểu đoàn, quân chiếm đóng 15 tiểu đoàn và 18 đại đội phụ binh, xây dựng thêm hai đại đội pháo binh ở Nam Giao.

Chúng ráo riết bắt lính, thực hiện tổng động binh và huấn luyện quân hậu bị, xây dựng hai tiểu đoàn chủ lực ngụy số 27 và 29, đưa 4.000 thanh niên vào Mang Cá huấn luyện để xây dựng tiểu đoàn 30, trang bị thêm 135 xe GMC và 10 khẩu pháo.

Địch tập trung lực lượng, phương tiện mở các cuộc càn quét quy mô vào các khu du kích, vùng giáp ranh và vùng tạm chiếm để cướp phá mùa màng, lập hội tề và chuẩn bị đối phó với các cuộc tiến công của ta.

Tháng 4 năm 1952, Bộ chỉ huy mặt trận đã ra chủ trương: Tập trung các trung đoàn hoạt động mạnh, kéo lực luợng ứng chiến địch ra khỏi vùng lúa chín, để bộ đội địa phương và du kích bao vây kiềm chế quân chiếm đóng, bảo vệ nhân dân thu hoạch mùa.

Ngày 15 tháng 4, trung đoàn 101 diệt tháp canh Cây Đa, tập kích Diên Sanh.

Ngày 28 tháng 4, trung đoàn 95 diệt vị trí Hòa Luật và Vĩnh Tuy, tiểu đoàn 231 (Thừa Thiên), san bằng lô cốt Bao Vinh.

Một tháng sau, trung đoàn 101 lại tiêu diệt các vị trí Thượng Côn, La Khê, An Truyền, tiêu hao vị trí Địa Linh, bức hàng 11 lô cốt ở Phước Vinh, đánh sập cầu Bao Vinh, diệt bốn ca nô vận tải ở An Hòa, diệt một đại đội ở Khánh Mỹ, phá sập cầu Dài trên đường Phò Trạch —Đầu Kinh.

Trung đoàn 95 sau khi diệt một loạt vị trí phía nam Hòa Luật đã hành quân ra bắc Quảng Bình. Đêm 18 tháng 5 trung đoàn tiến công tiêu diệt vị trí Sen Bàng ở chân đèo Ba Rền. Sau đó xuống đồng bằng cùng với trung đoàn 18 và bộ đội địa phương chuẩn bị tiến công cụm phòng thủ vững chắc của địch ở Ba Đồn.

Ngày 30 tháng 5, trung đoàn 18 diệt vị trí Mỹ Hòa, tiểu đoàn 229 Quảng Bình và đại đội huyện Quảng Trạch cùng dân quân du kích diệt các tháp canh Cự Lại, Thuận Áng, Gia Viễn. Trung đoàn 95 sau khi diệt các tháp canh Cửa Phủ, Hang Bò, Kênh Kịa, chuyển sang tiến công Ba Đồn. Tiểu đoàn 227 và 310 tổ chức bốn lần tập kích, thương vong gần 200 vẫn chưa hạ được đồn chính. Trước tình thế đó, tư lệnh Trần Quý Hai cho trung đoàn 95 tiếp tục bao vây Ba Đồn và xốc lại lực lượng chuẩn bị đánh viện.

Sáng 31 tháng 5, địch cho năm ca nô chở quân từ Thanh Khê ngược sông Gianh, tiếp viện cho Ba Đồn. Lập tức bị tiểu đoàn 888 bắn chìm ba chiếc, hai chiếc còn lại quay đầu chạy thẳng về Thanh Khê.

Đêm 31 tháng 5, trung đoàn 95 lại chuyển sang công kích Ba Đồn. Sau hơn một giờ chống cự yếu ớt, bọn địch trong đồn tháo chạy, ta đã giải phóng toàn huyện Quảng Trạch.

Biết trung đoàn 95 và 18 đang ở bắc Quảng Bình, trung đoàn 101 phân tán hoạt động ở đồng bằng Phong Điền, ngày 19 tháng 6 bộ chỉ huy Pháp liền huy động tiểu đoàn 27 Âu—Phi, tiểu đoàn Bắc Phi số 2 đánh lên chiến khu Dương Hòa (tùy Thừa Thiên), nhằm vây diệt cơ quan chỉ đạo kháng chiến của Thừa Thiên, phá chiến khu và gây ảnh hưởng chính trị.

Được tin địch càn lên Dương Hòa, trung đoàn 101 lập tức hành quân cơ động 25 ki-lô-mét từ Phong Điền vào để phản kích.

Trưa 20 tháng 6, địch tiến lên Dương Hòa một cách dễ dàng nên rất chủ quan, chúng liền cho quân tản ra cướp phá.

Các mũi xung kích của tiểu đoàn 436 và 319 bất ngờ tiến công, bọn địch không kịp trở tay, bỏ chạy tán loạn vào rừng. Trận đánh kết thúc, ta đã diệt 350 tên, bắt 38 tên. Âm mưu của địch đánh chiếm chiến khu của ta bị thất bại.

Sau chiến thắng Dương Hòa, trung đoàn 101 vào Phú Vang, phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân nam Thừa Thiên đánh địch.

Đêm 27 rạng 28 tháng 6, ta tiến công các vị trí An Truyền, Tuyên Nam, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, gọi hàng 65 tên, tiêu hao các vị trí Sư Lỗ, Thanh Thủy, Thanh Phước. Ngày 29 tháng 6, dân quân Phú Vang đánh lật ba toa tàu ở khu vực Nông.

Nhờ phối hợp nhịp nhàng giữa ba thứ quân, đẩy nhanh nhịp độ tác chiến, chỉ trong vòng bốn tháng, ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng bắc Quảng Bình, mở rộng căn cứ du kích ở nhiều nơi và bảo vệ được vụ mùa, địch chỉ cướp được khoảng 10 phần trăm số lúa thu hoạch. Nhân dân phấn khởi đóng được 3.300 tấn thuế nông nghiệp, cung cấp cho bộ đội và cơ quan.

Tuy địch chiếm đóng được một số vùng phì nhiêu, đồng người nhiều của, mở rộng được vùng chiếm đóng nam Thừa Thiên, Ngô Xá (Quảng Trị) và càn phá cơ sở của ta ở nhiều nơi, nhưng chúng đã phải trả giá đắt, thương vong trên 6.000 tên, 17 vị trí và 60 lô cốt bị mất. Âm mưu tiêu diệt chủ lực ta đã không thực hiện được.

Càng thất bại, thực dân Pháp càng thực hiện âm mưu «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh», «dùng người Việt đánh người Việt» một cách quyết liệt hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 08:58:24 pm »


Ở Bình —Trị — Thiên, Lơ Blăng (Le Blanc) tiến hành cải tổ bộ máy ngụy quyền, đưa tên Lê Quang Thiết làm thủ hiến trung phần thay Trần Văn Lý, cách chức tỉnh trưởng Thừa Thiên Tôn Thất Đàn, đưa tên Nguyễn Đôn Duyên, tỉnh trưởng Quảng Trị vào thay, chuyển tên Nguyễn Hữu Hiệp, tỉnh trưởng Quảng Nam ra làm tỉnh trưởng Quảng Trị. Chúng ráo riết thúc bọn tay sai bắt lính xây dựng ngụy quân. Chỉ trong hai tháng 6 và 7, chúng đã bắt gần 3.000 thanh niên vào lính, xây dựng củng cố bảy tiểu đoàn cơ động và 15 tiểu đoàn chiếm đóng, trang bị thêm xe bọc thép và đại bác các cỡ.

Với lực lượng và vũ khí mới trang bị, chúng liên tiếp mở các cuộc càn quét quy mô lớn, thời gian dài vào những khu vực đông dân và căn cứ du kích, nhằm vơ vét sức người, sức của và diệt cơ quan chỉ đạo của ta.

Ngày 8 tháng 7, địch tập trung gần năm tiểu đoàn, 30 xe lội nước, sáu xe bọc thép, sáu khẩu đại bác, 13 máy bay và 10 ca nô, mở cuộc càn lớn mang tên cuộc hành binh Ca-đơ-rin (Cadrille) vào đồng bằng Phú Vang, nhằm bình định căn cứ du kích, mở rộng vùng kiểm soát nam Thừa Thiên.

Địch chia làm năm cánh, trong đó bốn cánh càn vào Hòa Đa, Quảng Xuyên, Trường Lưu, Phú Phong, còn một cánh rải dọc sông Lợi Nông và cầu Hai đề đón bắt đồng bào ta chạy lên chiến khu. Trận càn kéo dài từ ngày 8 đến ngày 20 tháng 7.

Lực lượng ta lúc này chỉ có hai đại đội thuộc tiểu đoàn 231 (Thừa Thiên), đại đội 325 huyện Phú Vang cùng dân quân du kích. Lực lượng vũ trang và nhân dân đã bám trụ kiên cường, chặn đánh địch, tiêu hao sinh lực địch, nhưng không phá được cuộc càn quy mô khá lớn và dài ngày của chúng. Địch đã tàn phá nhiều cơ sở của ta, lập được hội tề ở Xuân Ô, Trung Hà, Hòa Đa, bắt được 500 thanh niên và cướp đi 2.000 tấn lúa.

Địch thay đổi thủ đoạn càn quét, cán bộ chỉ huy của ta lại chủ quan, chưa đánh giá hết âm mưu và thủ đoạn mới của địch, chưa chuẩn bị sẵn sàng lực lượng và thế trận đánh địch nên đã không chống được cuộc càn quét, gây tổn thất cho phong trào. Địch thực hiện được âm mưu bình định vùng căn cứ của ta ở nam Thừa Thiên.

Sau khi chiếm được vùng căn cứ của ta ở nam Thừa Thiên, địch tập trung lực lượng càn quét các vùng căn cứ du kích, nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực ta, giành lại thế chủ động trên chiến trường.

Phát hiện được khu vực đóng quân của trung đoàn 101, Lơ Blăng liền tập trung bảy tiểu đoàn ứng chiến, 70 xe lội nước, 300 xe vận tải, 17 đại bác có 21 máy bay yểm trợ, do đích thân y chỉ huy, mở cuộc hành quan mang tên «Chiến dịch Châu chấu» (Opération Sauterelle) hòng «hốt gọn» trung đoàn 101.

Ngày 25 tháng 8, địch hành quân dọc phá Tam Giang, đến bờ biển Trung Đông chia làm hai mũi, hình thành thế bao vây Thanh Hương —Vĩnh Xương, dùng máy bay và pháo binh đánh phá, sau đó «phân lô hợp kích».

Trong tình thế bị bao vây bất ngờ, trung đoàn 101 vừa đánh vừa tìm chỗ địch sơ hở để phá vây. Tiểu đoàn 319 từ Kế Môn vừa ra đến Vĩnh Xương thì gặp địch, đã kịp thời tổ chức chiến đấu, diệt được một đại đội. Có xe cơ giới yểm hộ, địch tổ chức đột kích mạnh, tiểu đoàn 319 phải lùi về Hải Lăng. Chiếm được Vĩnh Xương, địch tập trung càn quét, cắt đôi đội hình chiến đấu của trung đoàn 101. Trung đoàn bộ dạt vào Đại Lộc, Phổ Chi, bị địch truy kích phải phân tán tìm đường thoát vây. Trung đoàn trưởng Lê Thuyết hy sinh, một số cán bộ cơ quan bị bắt. Lợi dụng lúc địch đang đuổi theo trung đoàn bộ, các tiểu đoàn phá vòng vây, chạy ra phía Linh Chiểu (Triệu Phong).

Ngày 29 tháng 8, trận càn «Châu chấu» kết thúc. Địch không tiêu diệt được trung đoàn 101, nhưng gây cho trung đoàn tổn thất nặng nề. Chúng đã bắt 500 thanh niên và bộ đội, bắn chết 300 con trâu, phá hết công cụ sản xuất, đốt cháy nhiều nhà cửa của nhân dân.

Để tiếp tục ý đồ tiêu diệt trung dọàn 101, đầu tháng 9 năm 1952, địch lại mở cuộc càn lớn mang tên «Chiến dịch Cá sấu» (Opération Caiman).

Lực lượng địch gồm tám tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn dù, 16 đại bác, sáu tàu thủy, 18 tàu Vơ-dét, 55 máy bay, 80 xe lội nước, 180 xe vận tải và bọc thép. Tướng Lơ Blăng trực tiếp chỉ huy, dưới quyền giám sát của tướng Đơ Li-na-rét (De Linarès) quyền chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

4 giờ sáng ngày 4 tháng 9, cánh quân thủy của địch đổ bộ lên Trung Đông, Gia Đồng, Kế Môn. Cánh quân bộ từ quốc lộ số 1 tiến vào Vĩnh Xương, Vân Trình, Trung Đông và Hội Yên, điểm gặp nhau là đồi cát Vĩnh Xương và làng Thanh Hương.

Trung đoàn 101 chủ trương: Tập trung lực lượng diệt cánh quân ở Trung Đông không cho chúng vượt sông Vân Trinh để hợp quân ở Thanh Hương. Triển khai xong đội hình càn quét, địch cho quân đánh chiếm đồi cát Vĩnh Xương. Tại đây, tiểu đoàn 436 đánh lui nhiều đợt tiến quân của địch, diệt một tiểu đoàn và hai xe bọc thép. 13 giờ địch nhảy dù thêm một tiểu đoàn xuống đồi cát Thanh Hương, đồng thời bọn địch ở Kế Môn cũng đột kích vào Thanh Hương. Tiểu đoàn 436 rút chạy, tiểu đoàn 328 và 319 hoang mang. Từ các hướng, địch mở đợt tiến công mạnh vào Thanh Hương, dồn cả trung đoàn vào vòng vây của chúng.

Ban chỉ huy trung đoàn chủ trương: lợi dụng đêm tối phá vây tại làng Kim Giao, đưa trung đoàn và đồng bào ra Quảng Trị, khi tiểu đoàn 328 phá được vòng vây cùng với các bộ phận trinh sát, thông tin và hàng trăm đồng bào vừa thoát vòng vây thì địch đã khép được cửa mở. Số thoát vây chạy về phía Chợ Cạn. Trung đoàn bộ, tiểu đoàn 436 và 319 phải nằm lại giữa vòng vây, một số bộ phận phải chôn súng, phân tán thành từng tốp bí mật thoát vây về phía Phong Chương. Ba ngày sau trung đoàn mới tập hợp được các đơn vị tại chiến khu Hòa Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:08:59 pm »


Ngày 25 tháng 9 năm 1952, Liên khu ủy họp kiểm điểm đánh giá tình hình hoạt động quân sự ở Bình —Trị — Thiên. Mặc dầu Liên khu ủy đã chỉ thị Mặt trận Bình — Trị —Thiên: «Muốn phá âm mưu mới của địch thì hoạt động của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương phải liên hệ mật thiết với phong trào đấu tranh của quần chúng, chủ động chống càn quét, phát triển chiến tranh du kích, giữ vững và đẩy mạnh phong trào đấu tranh trong lòng địch và vùng sát địch»1. Sau trận càn «Châu chấu», Bộ chỉ huy Mặt trận Bình — Trị — Thiên đã lệnh cho trung đoàn 101: Phải di chuyển chỗ ở, tăng cường hoạt động trinh sát nắm địch, đề phòng địch tiếp tục mở càn, đồng thời củng cố thế đứng chân, tranh thủ huấn luyện, nhanh chóng đưa đơn vị tiếp tục hoạt động tác chiến»2.

Thế nhưng ban chỉ huy trung đoàn 101 chấp hành mệnh lệnh không nghiêm, chủ quan nặng, mất cảnh giác nghiêm trọng, cho rằng sau đợt càn lớn, địch đã không còn sức để tiếp tục càn quét quy mô, cho nên không di chuyển vị trí đóng quân, vẫn tiếp tục tập trung cán bộ huấn luyện, hậu quả dẫn đến tổn thất lớn về tính mạng của bộ đội và tài sản của nhân dân, ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của trung đoàn và phong trào chiến tranh du kích trên chiến trường. Trong trận này tuy diệt được trên 800 tên địch, phá hai xe bọc thép, nhưng trung đoàn 101 cũng bị thương vong trên 1.000 cán bộ, chiến sĩ, 600 đồng bào và 300 thanh niên bị bắt, gần 100 cán bộ địa phương và dân quân du kích hy sinh, hơn 120 tấn lúa bị đốt phá.

Bộ chỉ huy mặt trận đã nghiêm khắc kiểm điểm trước Liên khu ủy, đồng thời củng cố ngay hệ thống tổ chức chỉ huy trung đoàn 101, bổ sung quân số, vũ khí, nhanh chóng đưa đơn vị tiếp tục tác chiến.

Sau ba trận càn liên tiếp trong tháng 8 và 9, địch chuyển giao Bình — Trị — Thiên cho quân ngụy đảm nhiệm và rút quân cơ động Âu — Phi đi chiến trường khác. Đồng thời chúng ra sức đôn quân, bắt lính, tăng cường các hệ thống phòng thủ và đánh phá ác liệt vùng du kích và chiến khu của ta.

Sự cố gắng và những thủ đoạn tàn bạo của địch trong những tháng cuối năm 1952 cùng với bão lụt trong tháng 10 đã làm cho tình hình Bình — Trị — Thiên trở nên khó khăn nghiêm trọng. Sau trận lụt ngày 25 tháng 10, lương thực và muối thiếu nhiều, mức ăn hàng ngày của bộ đội, cơ quan ở Quảng Trị, Thừa Thiên chỉ còn 250 gam một người. Thuế nông nghiệp các tỉnh chỉ thu được từ 30 đến 35 phần trăm so với chỉ tiêu. Thời tiết lại không thuận lợi cho sản xuất. «Thiên tai, địch họa càng gây khó khăn cho ta không kém gì cuối năm 1950»3.

Ngày 17 tháng 5 năm 1950 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định về việc «chấn chỉnh tổ chức quân chính quy ở Bình —Trị —Thiên», «củng cố các đơn vị chủ lực hiện có, tiến tới xây dựng thành đại đoàn chủ lực cơ động tác chiến dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tư lệnh»4.

Chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu gửi Bộ chỉ huy Mặt trận Bình — Trị — Thiên ngày 23 tháng 6 năm 1951 về nhiệm vụ: «gấp rút củng cố bộ đội địa phương, phát triển dân quân du kích, sẵn sàng thay thế lực lượng chủ lực, tiến tới xây dựng đại đoàn chủ lực ở Bình — Trị — Thiên»5.

Chấp hành quyết định của Bộ Quốc phòng và chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, sáu tháng cuối năm 1951 và nhất là trong năm 1952 quân và dân Bình-Trị-Thiên đã anh dũng vượt qua khó khăn, gian khổ, liên tục tiến công địch và thu được nhiều thắng lợi: diệt gần 10.000 tên địch, buộc địch phải ba lần tăng quân (bảy tiểu đoàn). Lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích phát triển đông về số lượng, vừa tác chiến và xây dựng ngày càng trưởng thành, đã phối hợp với chủ lực hoặc độc lập tác chiến, đánh gần 1.400 trận, diệt và bắt trên 3.000 tên địcn, góp phần đưa phong trào kháng chiến ở Bình-Trị-Thiên phát triển. Cùng với sự trưởng thành của bộ đội chủ lực, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích trong giai đoạn này cũng lớn mạnh vượt bậc, đáp ứng được yêu cầu phát triển của chiến tranh, vừa bảo vệ vững chắc địa phương vừa phối hợp có hiệu quả với hoạt động của bộ đội chủ lực, đảm đương được nhiệm vụ làm nòng cốt cho cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương đẩy mạnh công cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Trước sự lớn mạnh vượt bậc của lực lượng vũ trang ở Bình — Trị —Thiên, đồng thời để phù hợp với đặc điểm ở một chiến trường nhỏ hẹp — chiến trường phối hợp và cũng để giải quyết được một phần khó khăn về lương thực, Thường vụ Liên khu ủy trong phiên họp ngày 5 tháng 12 năm 1952 đã quyết nghị: «Rút các trung đoàn chủ lực ra khỏi chiến trường để xây dựng thành đại đoàn chủ lực». Ngày 15 tháng 12 năm 1952 Bộ tư lệnh Liên khu chỉ thị cho Phân khu Bình —Trị — Thiên thực hiện phương án «Di quân» (di chuyển đại bộ phận các trung đoàn chủ lực ra Nghệ Tĩnh) để xây dựng đại đoàn chủ lực. Giao nhiệm vụ xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích cho Bộ tư lệnh Liên khu 4 mà lãnh đạo trực tiếp là các tỉnh ủy.

Ngày 18 tháng 12 năm 1952, Đảng ủy Mặt trận Bình— Trị — Thiên cùng các đồng chí bí thư tỉnh ủy họp nghiên cứu chỉ thị của Liên khu ủy, của Bộ tư lệnh Liên khu. Sau đó Bộ chỉ huy mặt trận triển khai kế hoạch «Di quân» như sau:

— Hai trung đoàn 101 và 18 cùng với mặt trận Bộ chuyển ra vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh để xây dựng thành đại đoàn.

— Trung đoàn 95, đại đội 95 công binh, đại đội 264, 265 vận tải, bệnh xá K42, xưởng bào chế, ban quan khí, quân lương mặt trận ở lại chiến trường làm nhiệm vụ chiến đấu và thiết bị chiến trường.

Nhiệm vụ của trung đoàn 95 rất nặng nề, phải tranh thủ thời gian, làm nòng cốt hoạt động, dìu dắt lực lượng vũ trang địa phương. Trung đoàn hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện cho đại đoàn có thời gian xây dựng trưởng thành nhanh chóng.
_____________________________________________
1, 2. Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy lần thứ 3, (lưu trữ tại Phòng lịch sử Quân khu 4).
3. Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Bình — Trị — Thiên ngày 18 tháng 12 năm 1952. Hồ sơ lưu trữ tại Phòng lịch sử Quân khu 4.
4, 5. Tài liệu lưu trữ tại Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:10:37 pm »


*

*       *

Sinh ra trên chiến trường «Bình — Trị — Thiên khói lửa» các trung đoàn chủ lực đã lớn lên theo cuộc kháng chiến trường kỳ và lặp nên nhiều chiến công vẻ vang. Ngày 5 tháng 1 năm 1953, các trung đoàn ra vùng tự do Nghệ Tĩnh để xây dựng trong đội hình đại đoàn chủ lực cơ động - Đại đoàn 325. Cùng lớn lên theo sự trưởng thành mau chóng của lực lượng vũ trang ta, vừa mang truyền thống anh hùng của quân đội quốc gia Việt Nam, vừa mang bản chất kiên cường, bất khuất của quê hương «Bình - Trị - Thiên quật khởi», sát cánh kề vai cùng các đại đoàn chủ lực của Bộ tạo nên những quả đấm mạnh, sẵn sàng cơ động đánh bại lực lượng tập trung của thực dân Pháp bằng những chiến dịch phản công, tiến công thắng lợi trong Đông Xuân 1953 — 1954.

Ngày 15 tháng 1 năm 1953, các đơn vị ra tới Nghệ Tĩnh xây dựng. Được Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu quan tâm chỉ đạo, được đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ, các đơn vị đã bổ sung quan số, trang bị, ổn định tổ chức, tiến hành chỉnh huấn chính trị, học tập kỹ thuật, chiến thuật. Sau 10 tháng xây dựng, huấn luyện đại đoàn đã trưởng thành nhanh chóng, có thể cơ động tác chiến trên các chiến trường.

Trong Đông Xuân 1952 - 1953 hệ thống chiếm đóng của địch trên chiến trường Bình — Trị — Thiên gồm 185 vị trí, 232 lô cốt, tháp canh, với lực lượng bốn tiểu đoàn ứng chiến, 15 tiểu đoàn chiếm đóng, sáu đại đội binh chủng và 18 đại đội phụ binh.

Địch liên tiếp mở các cuộc càn quét khốc liệt trong từng địa phương, nhằm bình định có trọng điểm vùng căn cứ Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng và Phú Vang. Chỉ trong bốn tháng đấu năm 1953, địch mở 55 trận càn lớn nhỏ (trong đó có 17 trận càn với quy mô lực lượng từ một đến bốn tiểu đoàn). Địch đánh phá ác liệt nhất ở ba xã Quảng Ninh, Quảng Hòa và Quảng Đại thuộc huyện Quảng Điền. Tại đây địch càn liên tiếp ba trận với lực lượng từ hai đến bốn tiểu đoàn. Nhiều vùng chúng chà đi xát lại. Chỉ riêng xã Phú Thái, huyện Phú Vang trong vòng một tháng, chúng càn tới tám lần.

Đi đôi với hành động càn quét, địch tăng cường hoạt động gián điệp, biệt kích, sử dụng máy bay, đại bác bắn phá ác liệt vùng tự do của ta.

Sau khi phần lớn bộ đội chủ lực chuyển ra Nghệ Tĩnh xây dựng củng cố, lực lượng còn lại ở chiến trường đã mỏng, lương thực, vũ khí lại rất thiếu thốn. Trước diễn biến của tình hình, từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 3 năm 1953, Liên khu ủy họp bàn về vấn đề tác chiến và xây dựng ở chiến trường Bình — Trị — Thiên. Quán triệt phương châm chiến lược «Tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do... Quân đội ta phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch»1. Liên khu ủy chủ trương: «Chủ động chống càn quét, phá mọi âm mưu của địch, lấy đấu tranh vũ trang làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị của toàn dân, chấn chỉnh các ban dân quân huyện, ban xã đội, phân tán bộ đội địa phương vào từng thôn xă, nếu cần phân tán cả trung đoàn 95, thực hiện ba bám: bám địch, bám đồng bằng, bám dân».

Hội nghị đề ra phương châm hoạt động lúc này là: Du kích chiến là chính, chống càn quét là chủ yếu. Trong điều kiện thuận lợi đánh công kiên và vận động đánh nhỏ, nhằm phát triển du kích chiến tranh, luồn sâu vào địch hậu xây dựng cơ sở.

Sự chỉ đạo kịp thời của Liên khu ủy đã giúp cho chiến trường Bình — Trị — Thiên nhanh chóng vượt qua khó khăn thử thách, từng bước đi lên.

Tất cả các cuộc hành quân càn quét của địch đều bị lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh, tiêu hao và tiêu diệt. Trong trận càn ngày 12, 13 và 14 tháng 3 tại Quảng Ninh, Quảng Hòa, Quảng Đại huyện Quảng Điền, ta đã diệt hơn bốn đại đội địch, phá hai xe bọc thép. Các trận chống càn của bộ đội địa phương và dân quân du kích ở Cam Giang, Cam Thanh huyện Cam Lộ (Quảng Trị), Duy Ninh, Hàm Ninh huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên đều giành thắng lợi.

Các hình thức phục kích, đánh giao thông, tập kích ngày càng phát triển, đánh đổ nhiều đoàn tàu và xe cơ giới của địch, phá hệ thống lô cốt tháp canh trên đường Khánh Mỹ đi Phò Trạch, diệt 10 lô cốt ở Bích Khê và phá kho ở Đông Hà.

Với tinh thần liên tục tiến công, nên chỉ trong ba tháng đầu năm 1953, lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên đã đánh gần 400 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, lật nhào năm đoàn tàu, 28 toa và 26 xe cơ giới, thu trên 100 súng các loại. Ta đã mở rộng được khu du kích ở bắc và nam Quảng Bình, phong trào chiến tranh du kích vẫn được giữ vững, hình thái chiến trường dần dần được khôi phục.

Trong lúc bộ đội địa phương và du kích kết hợp vây đồn với địch vận, thì phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng do cấp ủy địa phương lãnh đạo cũng diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú sáng tạo. Hàng ngàn người ở làng Gia Độ (Thừa Thiên) kéo lên huyện đường đấu tranh, buộc địch phải thả 300 thanh niên bị bắt. Nhân dân hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh đấu tranh trực diện với địch, buộc chúng phải thả 177 thanh niên. Rải truyền đơn, gọi loa tuyên truyền trong lúc địch đi càn, phóng thích tù binh Âu—Phi ở Quảng Trị... đã tác động mạnh đến tinh thần binh sĩ địch. Trong nhiều cuộc càn quét, binh lính địch đã bớt hung hăng cướp phá, bắn giết, hoặc đấu tranh không đi càn hoặc bỏ hàng ngũ địch về với kháng chiến. Tuy vậy việc đấu tranh chống bắt lính và vận động ngụy binh vẫn chưa trở thành một phong trào rộng khắp trong nhân dân và chưa tác động mạnh mẽ, sâu sắc đối với hàng ngũ địch.

Phong trào đấu tranh chống địch dồn làng tập trung dân cũng diễn ra quyết liệt và bước đầu giành được thắng lợi ở một số địa phương trong ba tỉnh.
______________________________________________
1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 25 đến 30-1-1953 Văn kiện quân sự của Đảng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977, t.3, tr. 380.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:11:52 pm »


Song song với lãnh đạo đấu tranh chống địch, cấp ủy và chính quyền các địa phương đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế, xây dựng hậu phương, bồi dưỡng sức dân.

Nhân dân vùng tạm chiếm tìm mọi cách mua lương thực, thuốc men, hàng tiêu dùng chuyển ra vùng tự do. Đồng bào theo đạo Phật ở Huế đã gửi ra chiến khu hàng chục tấn gạo. Mặc dù thiên tai địch họa phá hoại nặng nề, nhân dân vùng tự do vẫn hăng hái kiên trì khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển kinh tế tự cung, tự cấp. Nhờ vậy diện tích gieo trồng ngô, khoai đều tăng, năng suất thu hoạch năm sau cao hơn năm trước từ 10 phần trăm trở lên. Các tỉnh đồng thời tiến hành phát động quần chúng giảm tô, giảm tức, đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân. Nhân dân phấn khởi tin tưởng, càng hăng hái tham gia kháng chiến, làm cho phong trào thi đua yêu nước ngày càng sôi nổi ở khắp mọi nơi.

Để tiếp tục động viên phong trào, ngày 17 tháng 4 Liên khu tổ chức Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Liên khu lần thứ nhất. Nhiều tập thể và cá nhân lập thành tích xuất sắc đã về dự đại hội: Đảng bộ và nhân dân các xã Phú Thái, Phú Thịnh, An Hòa (Thừa Thiên), Hải Thái, Vĩnh Đại, Hải Linh, An Trụ (Quảng Trị), Xuân Bồ, Hưng Đạo, Cảnh Dương (Quảng Bình), các tiểu đoàn 227 (trung đoàn 95), 436 (trung đoàn 101), đại đội 327 (Hải Lăng), đại đội 265 (Quảng Trạch). Các cá nhân Phạm Hành, Đặng Doãn, Trương Vệ, Nguyễn Xuân Đức (bộ đội chủ lực), Phan Chấp (bộ đội địa phương), Phan Đên, Hồ Dinh, Hoàng Thị Hậu, Nguyễn Thị Em, Trần Toản, Đinh Công (dân quân du kích), Trần Thị Hằng (nữ hộ lý viện K42) là những hình ảnh tiêu biểu cho cuộc chiến đấu đày gian lao thử thách và chiến thắng vẻ vang của quân và dân Bình — Trị — Thiên.

Phát huy kết quả đại hội, Bộ tư lệnh Liên khu phát động chiến dịch Hè Thu 1953, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ vụ mùa, phối hợp với chiến dịch Thượng Lào.

Bước vào Hè Thu, tuy đã phải điều ba tiểu đoàn cơ động ứng chiến tăng cường ra Bắc Bộ và vào Quảng Nam, nhưng địch vẫn tập trung lực lượng mở được các cuộc càn lớn ở Duy Ninh, Hàm Ninh (ngày 26 tháng 5) và Phong Chương, Phong Định (ngày 27 tháng 5). Đồng thời tăng cường củng cố hệ thống phòng ngự ở Quảng Bình, chuẩn bị cho các cuộc càn quét cướp phá mùa tháng 5.

Bộ chỉ huy Pháp giao cho ngụy binh cướp lúa mùa, cướp được đủ mức quy định thì không phải điều đi Bắc Bộ chiến đấu. Chủ trương này đã kích thích lính ngụy lao vào cướp phá mùa màng hết sức trắng trợn.

Trước tình hình đó, các tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo địa phương: «Chủ động chống càn để bảo vệ mùa, lấy đấu tranh quân sự làm trung tâm», kiên quyết bẻ gãy các cuộc càn của địch, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Thượng Lào.

Ngày 19 tháng 4, địch cho hai tiểu đoàn ngụy và Bắc Phi càn vào hai xã Duy Ninh và Hàm Ninh, nhưng bị ta đánh mạnh ở Thuận Lý và Phú Xá, địch buộc phải bỏ dở cuộc càn.

Cùng ngày, trung đoàn 95 diệt vị trí Bích La, đánh đổ đoàn tàu ở Bến Đá (Thừa Thiên), diệt một đại đội Âu-Phi.

Bộ đội địa phương và dân quân du kích Thừa Thiên liên tiếp phục kích đánh tàu xe trên quốc lộ số 1 và đường sẳt từ Hương Trà đến Phú Lộc, làm đổ ba đoàn tàu gồm 26 toa, diệt hàng trăm địch.

Ta còn phá hủy nhiều cầu quan trọng như Hiền Sĩ, Đá Dầm (Thừa Thiên), Đông Hà, Rào Quán (Quảng Trị), làm tê liệt giao thông của địch hàng tháng.

Trong đợi hoạt động này, lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.600 tên địch, bảo vệ được mùa tháng 5, khắc phục được nạn đói, nạn lụt tháng 10 năm trước gây ra, phối hợp có hiệu quả với chiến dịch Thượng Lào.

Thắng lợi liên tiếp giành được trên các chiến trường nhất là chiến thắng Thượng Lào của bạn và ta, quân và dân ta càng phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính, đẩy địch vào thế lúng túng, bị động.

Để cứu vẫn tình thế, Chính phủ Pháp triệu hồi Xa-lăng (Salan) về nước, cử tướng Na-va sang thay. Na-va đề ra kế hoạch bình định Việt Nam trong vòng 18 tháng.

Đây là một kế hoạch chiến lược quy mô lớn, một âm mưu chính trị rất thâm độc và xảo quyệt để chống lại cách mạng của ba nước trên bán đảo Đông Dương. Đây cũng là sự nỗ lực cao nhất và là cố gắng cuối cùng của Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu này.

Đối với chiến trường Bình — Trị — Thiên, Na-va (Navarre) vẫn coi là nơi an toàn phía sau của chúng. Địch chủ trương củng cố các vị trí chiếm đóng. Thúc ép ngụy quyền bắt lính để tổ chức thêm sáu tiểu đoàn quân ngụy thay thế cho bốn tiểu đoànÂu —Phi chiếm đóng. Nhằm làm suy yếu lực lượng kháng chiến và vơ vét nhân lực, vật lực của ta để cung cấp cho chiến trường chính của chúng, địch lại mở các cuộc hành quân càn quét bình định vùng đồng bằng Phong — Quảng — Triệu — Hải và đánh phá ác liệt cơ sở của ta ở Khu 3, Phú Lộc, Phú Vang, Phú Ốc — Sịa, Mỹ Chánh, Ưu Điềm và Đông Hà.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM