Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:08:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31246 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:13:00 pm »


Mở đầu kế hoạch Na-va ở Bình — Trị — Thiên, ngày 28 tháng 7 năm 1953, địch mở trận càn quy mô lớn mang tên “Cuộc hành binh Các-mác-gơ” (Opération Carmarge) vào căn cứ du kích ở bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải, với lực lượng 13 tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn dù, 400 xe cơ giới, 160 xe lội nước, bốn tàu thủy, 14 ca nô, 48 máy bay và hai trung đoàn pháo binh do tên tướng Lơ Blăng, tư lệnh quân Pháp ở Trung Bộ trực tiếp chỉ huy. Bên cạnh, ngày 1 tháng 8 tướng Na-va đến trực tiếp đốc chiến.

Ý đồ của địch là: thu hẹp căn cứ của ta, tiến tới bình định Phong — Quảng — Triệu — Hải, bắt thanh niên đi lính, phá hoại kinh tế và tiêu diệt chủ lực ta.

Mục tiêu địch tiến quân theo bốn mũi:

Mũi 1: đổ bộ lên phía đông bắc (Tân An, Mỹ Thủy)
Mũi 2: ém quân từ tây bắc sang đông đường số 1.
Mũi 3: từ hướng tây nam (Mỹ Chánh) đánh xuống.
Mũi 4: đổ bộ lên Lai Hà.

Hợp điểm cuộc hành binh là làng Đôn Quê — Đồng Dương.

Thế trận bao vây đã hình thành. Địch cho không quân, pháo binh bắn phá khu vực Cùa, Trấm, Tro, Hòa Mỹ, Phong Thái, bộ binh rải ra chốt các ngả đường.

Trước tình hình đó, ban chỉ huy trung đoàn 95 đã cùng với các cấp ủy địa phương xác định kế hoạch phối hợp tác chiến, tiểu đoàn 310 ở lại phối hợp với bộ đội tỉnh, huyện và dân quân quấy rối bám đánh địch ở từng thôn xã, làm chậm bước tiến của chúng, còn phần lớn lực lượng trung đoàn vượt ra ngoài vòng vây, nhanh chóng quay lại tập kích vào nơi sơ hở của địch để tiêu diệt, tiêu hao sinh lực chúng. Một số cán bộ và dân quân được giao trách nhiệm hướng dẫn tổ chức nhân dân cất giấu tài sản và tản cư lên chiến khu.

Khi địch bắt đầu tiến công, cũng là lúc lực lượng ta triển khai xong thế trận. Các hướng tiến công của địch đều bị lực lượng vũ trang địa phương bám đánh liên tục. Với nhiều lối đánh linh hoạt, sáng tạo. Dân quân các làng Trung Đô, Phước Diễn, Lương Mai, Linh Yên, Gia Đẳng, Mỹ Thủy, đã gây cho địch nhiều tổn thất.

Tiểu đoàn 302 chặn đánh cánh quân trên hướng đường số 1. Tiểu đoàn 310 chặn đánh cánh quân địch ở làng Trung Thanh. Tiểu đoàn 227 chặn đánh cánh quân của địch ở Phú An, không cho chúng đến sông Vân Trình để khép kín vòng vây.

Sau gần một ngày tiến công, địch vẫn không khép kín được vòng vây. Lơ Blăng tức tốc thúc cánh quân thủy theo bờ sông Vân Trình lên và cho lính dù đổ xuống để hợp vây. Lập tức cả quân thủy, quân dù và cơ giới đều bị các lực lượng ta ở các hướng chặn đánh quyết liệt.

Sáng hôm sau, địch dốc toàn bộ lực lượng đánh mạnh hơn nữa nhằm vây chặt trung đoàn 95 và lực lượng vũ trang địa phương để tiêu diệt. Nhưng khi chúng tiến được vào làng Đôn Quê — Đồng Dương thì trung đoàn 95 cùng cơ quan dân chính đảng và nhân dân đã ra khỏi vòng vây.

Ý đồ của địch tiêu diệt trung đoàn 95 không thực hiện được. Ngày 5 tháng 8 năm 1953, bộ chỉ huy Pháp phải ra lệnh rút quân, kết thúc cuộc càn quét.

Ba quân chủng, hải, lục, không quân hiện đại, có hàng chục tiểu đoàn thiện chiến với các sĩ quan cao cấp nhất chỉ huy, đành phải bất lực trước một trung đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương của ta. Ta đã anh dũng chiến đấu diệt hơn 400 tên, nhưng chưa phá được âm mưu bình định của chúng. Cơ sở của ta ở nhiều nơi bị địch đánh bật ra ngoài, làm cho phong trào địa phương gặp nhiều khó khăn.

Tháng 9 năm 1953, trung đoàn 95 hành quân ra Thanh — Nghệ —Tĩnh trở về đội hình đại đoàn 325 để chuẩn bị tham gia chiến cuộc Đông Xuân 1953 — 1954. Lực lượng tác chiến trên chiến trường chỉ để lại bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Lợi dụng tình hình đó, địch mở tiếp một số trận càn nhỏ vào bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải, bắc Quảng Trị và nam Quảng Bình. Đồng Thời dùng không quân đánh phá các căn cứ du kích và chiến khu của ta.

Chúng đã cướp mất của ta hơn 2.000 tấn thóc, giết trên 3.000 con trâu, mở rộng vùng chiếm đóng ở nam Thừa Thiên và bốn huyện Phong - Quảng - Triệu - Hải, lập vành đai trắng dọc quốc lộ số 1 (ở Phú Lộc, Hương Thủy, Lai Hà —Mỹ Chánh, Hồ Xá - Đông Hà và Đồng Hới—Thanh Khê), khôi phục lại hệ thống ngụy quyền ở những nơi mới lấn chiếm.

Ngày 26 tháng 9, Bình —Trị — Thiên lại bị một trận lụt lớn, làm hỏng hầu hết lúa mùa đang chín.

Địch họa và thiên tai liên tiếp xảy ra đã làm cho tình hình Bình — Trị — Thiên càng khó khăn hơn. Song được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy các cấp, lực lượng vũ trang và nhân dân Bình — Trị — Thiên phát huy truyền thống đoàn kết tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn gian khổ cả trong chống địch họa và thiên tai, giữ vững và phát triển phong trào du kích chiến tranh, cùng quân và dân cả nước chuẩn bị mọi mặt bước vào cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953— 1954.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:14:08 pm »


II. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, DỐC SỨC CHI VIỆN TIỀN TUYẾN, PHÁT TRIỂN LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT-LÀO

Ngay từ sau chiến dịch Biên giới, Thanh — Nghệ — Tĩnh đã trở thành một hậu phương chiến lược của chiến trường chính Bắc Bộ và của các chiến trường bắc Đông Dương, cung cấp sức người, sức của cho các hướng chiến lược Bắc Bộ, bắc Trung Bộ, Trung, Thượng Lào, vừa là địa bàn chiến lược tạo thế uy hiếp địch từ phía nam đồng bằng sông Hồng.

Quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh dốc sức «Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng».

Tháng 1 năm 1951, Thường vụ Liên khu ủy chỉ thị cho các tỉnh ủy tập trung xây dựng lực lượng tại chỗ, học tập kinh nghiệm của Bình — Trị—Thiên, tác chiến bảo vệ địa bàn, phấn đấu trong một thời gian để lực lượng vũ trang tự đảm nhiệm được nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, vừa bổ sung quân cho các chiến trường.

Bộ tư lệnh Liên khu cùng các tỉnh tập trung chỉ đạo, nâng cao sức chiến đấu của bộ đội địa phương, điều tiểu đoàn 195 Nghệ An đi Phú Thọ, tiểu đoàn 275 và 11 đại đội Thanh Hóa tăng cường lực lượng chiến đấu cho chiến trường chính Bắc Bộ. Liên khu thành tập trung đoàn 51 chủ lực. Thanh Hóa có hai tiểu đoàn, 14 đại đội, sáu trung đội. Nghệ An có hai tiểu đoàn, 10 đại đội, hai trung đội. Hà Tĩnh có một tiểu đoàn, tám đại đội. Toàn khu có 15 trại huấn luyện với 19.000 tân binh.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với dân quân được cấp ủy địa phương đặc biệt coi trọng, bí thư chi bộ trực tiếp làm chính trị viên xã đội. Các đoàn thể quần chúng đều có trách nhiệm tham gia xây dựng dân quân, không để tình trạng khoán trắng cho nông hội như trước nữa. Ở các vùng xung yếu, dân quân được tăng cường thêm vũ khí và bố trí nhiều thời gian huấn luyện. Dân quân vừa bám đồng ruộng sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa phương.

Công tác huấn luyện quân sự và công tác Đảng, công tác chính trị được đẩy mạnh, đã góp phần nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương. Cán bộ, chiến sĩ có tinh thần kỷ luật tự giác, tích cực chiến đấu bảo vệ quê hương và khi cần sẵn sàng lên đường ra mặt trận.

Trường quân chính Liên khu, trường quân sự các tỉnh chú trọng cải tiến nội dung và phương pháp huấn luyện, gắn liền nội dung giảng dạy với thực tế chiến đấu, đào tạo được hơn 2.000 cán bộ sơ cấp.

Đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang, chính quyền nhân dân các cấp được kiện toàn củng cố.

Quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh cùng một lúc vừa xây dựng hậu phương vừa phải đối phó với nhiều âm mưu, hành động đánh phá của địch từ mọi phía.

Tại Nga Sơn, địch thường xuyên duy trì khoảng một tiểu đoàn để bảo vệ sào huyệt phản động của chúng ở Phát Diệm, đồng thời xây dựng bàn đạp tiến công Thanh Hóa khi có điều kiện.

Tàu chiến địch khống chế uy hiếp dọc vùng ven biển Liên khu, tổ chức các cuộc tập kích bất ngờ, quấy phá hậu phương ta. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1951, địch đã đổ bộ tập kích 20 lần, nhiều nhất là vùng ven biển huyện Kỳ Anh.

Ngày 26 tháng 3, một đại đội địch tập kích lên ba xã Hoàng Hanh, Vĩnh Áng, Cấp Thắng. Ngày 3 tháng 6, gần hai đại đội địch đánh lên xã Đậu Khống. Ngày 23 tháng 7, một đại đội tiến công xã Vĩnh Khang.

Chúng đốt phá ghe thuyền, vơ vét của cải, hãm hiếp phụ nữ, bắt cóc cán bộ và tung gián điệp trà trộn vào nội địa rồi rút.

Bộ đội địa phương và dân quân du kích dựa vào thế trận làng xã đánh trả quân địch, buộc chúng phải rút nhanh ra biển.

Dân quân xã Vĩnh Áng thực sự trở thành nòng cốt trong chiến đấu, sản xuất ở địa phương. Xã đội trưởng Chu Nai kéo cờ lên đỉnh núi cao làm tín hiệu thông báo mỗi lần có tàu địch vào để nhân dân kịp thời sơ tán và lực lượng vũ trang sẵn sàng đón đánh địch.

Hai huyện Nghi Lộc —Quỳnh Lưu trong ba tháng vụ cá hè thu năm 1951 bị địch đánh đắm 69 thuyền, bắt 606 người đưa đi làm lính đánh thuê.

Để hạn chế thiệt hại do địch gây ra, tháng 4 năm 1951, các tỉnh chủ trương tổ chức ngư dân thành các tập đoàn đánh cá, có cán bộ và dân quân làm nòng cốt, đấu tranh đòi địch không được bắt người và cản trở công việc làm ăn của ngư dân trên biển.

Do địch khủng bố gắt gao, nghề biển phải chuyển đánh bắt từ ngoài khơi vào trong lộng và hoạt động ban đêm. Sự chuyển hướng sản xuất đó vừa duy trì ngư nghề, vừa tránh được sự đánh phá của máy bay, tàu chiến, vừa tạo nên nếp làm ăn mới phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh.

Phối hợp với hoạt động đánh phá ở vùng biển, địch tăng cường hoạt động ở khu vực biên giới phía tây.

Sáu tháng đầu năm 1951, địch đã tung phân đội nhỏ thọc xuống huyện Tương Dương (Nghệ An) 12 lần. Từ tháng 7 trở đi, chúng liên tiếp đánh xuống các vùng Mỹ Lý, Hà Ngòi, Hữu Kiểm, cướp cửa hàng mậu dịch, phá kho muối, phục kích dân công, bắt cóc cán bộ.

Địch củng cố các vị trí Sầm Tớ, Mường Ngát, Noọng Hét, Mường Pao... tung quân vào các làng bản cướp lương thực, trâu, bò, lôi kéo thanh niên hư hỏng đi làm phỉ, lập dân vệ ở những vùng cơ sở của ta còn yếu, kích động chia rẽ dân tộc, gây không ít khó khăn cho ta.

Các tỉnh cử cán bộ công an và mặt trận có năng lực, nắm vững chính sách dân tộc của Đảng, chịu đựng gian khổ, kiên trì đi sâu vào từng bản làng tuyên truyền vận động quần chúng, làm cho nhân dân biết được bọn cầm đầu chủ mưu với những người bị ép buộc đi theo giặc, giết hại đồng bào, thức tỉnh tinh thần yêu nước và truyền thống đoàn kết dân tộc trong quần chúng. Được sự hỗ trợ đắc lực của nhân dân, các đơn vị bộ đội địa phương kết hợp với lực lượng trinh sát, công an đã truy quét được các nhóm phỉ lén lút trong rừng, nhen nhóm lại phong trào, đồng thời xây dựng các đoàn thể, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:16:21 pm »


Song song với các hoạt động đánh phá phía tây và ven biển, không quân địch liên tiếp đánh phá ác liệt hậu phương ta, nhất là các khu vực đông dân. Chỉ riêng Nghệ An, trong năm tháng địch đã ném bom 174 lần làm chết 2.680 người, đốt cháy 3.700 nóc nhà, giết trên 1.000 trâu, bò. Ngày 18 tháng 6 chúng ném bom xuống chợ Đồn xã Thịnh Đức làm chết 150 người. Đầu tháng 7 ném bom Chợ Tru (Hưng Nguyên) làm chết 88 người, chợ Nổi (Đô Lương) làm chết 136 người. Tháng 8, chúng đánh chìm đoàn thuyền vận tải 34 chiếc trên kênh đào Ma Da.

Các cấp ủy Đảng và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp thường xuyên chỉ đạo tổ chức nhân dân phòng tránh máy bay địch. Các công xưởng được sơ tán và ngụy trang kín đáo. Trường học, chợ búa chuyển sang họp đêm, giờ giấc sản xuất ngoài đồng ruộng cũng thay đổi bảo đảm an toàn. Dân quân du kích làm nòng cốt trong việc đào hầm hào phòng tránh ở những nơi công cộng. Hệ thống hào giao thông xuyên dọc ngang từng thôn xóm. Nhân dân đào hầm trong nhà, ngoài đồng để tránh bom đạn giặc.

Lực lượng công an, trinh sát tăng cường hoạt động, quản lý, theo dõi chặt chẽ bọn có nghi vấn, trừng trị kịp thời những tên chỉ điểm, góp phần giữ gìn an ninh trật tự xã hội.

Các tổ chức phản động gián điệp hoạt động trên địa bàn Thanh — Nghệ —Tĩnh như: phòng nhì hải quân, cơ quan do thám an ninh bắc Trung Bộ, mật thám liên bang, mặt trận liên tôn chống cộng... đều đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của tổ chức phòng nhì quân đội viễn chinh Pháp.

Trong năm 1951, chúng thả biệt kích ven biển, cài cắm gián điệp sâu vào nội địa ta. Tháng 4 năm 1951 tập kích vào Hữu Lộc (Quỳnh Lưu), tháng 5 đột nhập Quảng Xương, tháng 9 đột nhập Đông Hải (Cửa Lò), tháng 10 vào Cửa Nhượng (Thạch Hà) để trấn áp bọn nằm vùng, xúi dục bọn phản động trong liên đoàn công giáo phục hồi “Đảng dân chủ liên hiệp» của Lê Hữu Từ, chuẩn bị nội ứng đón quân Pháp đổ bộ vào khi có thời cơ.

Tháng 7 năm 1951, cơ quan phòng nhì hải quân Pháp ở Hải Phòng thành lập căn cứ gián điệp Hòn Mê (Thanh Hóa). Chúng tổ chức mạng lưới liên lạc dọc bờ biển Thanh - Nghệ - Tĩnh, móc nối với bọn phản động xuyên tạc chủ trương chính sách của Chính phủ, kích động gây bạo loạn, lôi kéo thanh niên trốn vào vùng địch.

Bọn phản động đội lốt tôn giáo trong các giáo xứ như Trần Đăng Khoa. Nguyễn Tần, Trần Di, Bùi Quang Nga trắng trợn hoạt động. Một mặt chúng cấm giáo dân đi bộ đội, dân công, tham gia kháng chiến. Chúng ngang nhiên lập các đội tự vệ công giáo, quyên tiền mua sắm vũ khí, lợi dụng giáo đường để tuyên truyền gây ảnh hưởng chính trị phản động. Nhằm vào thời vụ cấy cày hoặc thu hoạch, chúng tập trung giáo dân khảo kinh, bổn, kéo dài hàng tháng trời làm ảnh hưởng đến sản xuất. Một số nơi chúng còn đốt nhà cán bộ, cắt dây điện thoại, phá công cụ sản xuất. Bộ tư lệnh Liên khu chủ trương dựa vào quần chúng phát động một cuộc đấu tranh không khoan nhượng, kiên quyết triệt phá các tổ chức phản động, trừng trị đích đáng bọn đầu sỏ. Bằng những biện pháp trinh sát bí mật, dựa vào tai mắt phát hiện của nhân dân, kết hợp với kiểm soát hành chính công khai, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang và công an, bám sát các đối tượng, khống chế bọn cầm đầu, cảm hóa giáo dục bọn tay sai, cô lập bọn chủ mưu, tổ chức quần chúng đấu tranh vạch trần tội ác của chúng, đồng thời trừng trị đích đáng những tên chống phá hiện hành.

Sau một thời gian truy quét, bọn gián điệp đường dây do cơ quan phòng nhì cài cắm lần lượt bị sa lưới. Các tổ chức phản động bị giải tán. Uy tín của chính quyền các cấp được nâng cao, pháp luật Nhà nước nghiêm minh hơn.

Nền tảng vững chắc của chính quyền kháng chiến và sự lớn mạnh của chế độ xã hội đã bảo đảm cho hậu phương vững vàng đi lên trong lao động sản xuất, xây dựng tiềm lực kinh tế và chi viện đắc lực cho chiến trường đánh thắng.

Tăng gia sản xuất, nhất là sản xuất lương thực, trở thành mặt trận hàng đầu của nền kinh tế tự cung, tự cấp. Với khẩu hiệu «Tất cả để chiến thắng, sản xuất là hàng đầu», khắp nông thôn dấy lên cao trào thi đua sản xuất và tiết kiệm. Nông dân suốt ngày đêm lăn lộn trên đồng ruộng, làm thay phần việc cho người đi bộ đội, đi dân công phục vụ hỏa tuyến. Phụ nữ sản xuất thay chồng con đi chiến đấu. Phong trào thi đua sản xuất tiết kiệm thấm sâu vào trong quần chúng. Cuộc vận động chống hạn ở Nghệ Tĩnh có hàng chục vạn người ra đồng «thay trời làm mưa», cuộc «vận động tiết kiệm lớn» ở Thanh Hóa thu kết quả tốt. Phong trào học tập Anh hùng nông nghiệp Hoàng Hanh và chiến sĩ thi đua nông nghiệp Trịnh Xuân Bái trở thành cao trào thi đua sản xuất sôi động ở các địa phương. Những biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp như nước, phân, cần, giống được áp dụng rộng rãi.

Các địa phương phát triển hình thức đổi công, vần công1 tương trợ nhân lực, sức kéo để đẩy mạnh thâm canh, mở rộng diện tích gieo trồng. Hơn 110.000 héc-ta vùng có hệ thống nông giang bị ném bom, đã kịp thời chuyển từ trồng lúa sang trồng màu.

Nhờ có sự chuyển hướng kịp thời trong chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, điều kiện nhân lực, thời tiết đất đai, nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, liên tiếp giành những vụ mùa thắng lợi.

Diện tích lúa năm 1951 toàn liên khu đạt 615.000 héc-ta. Sản lượng lương thực hàng năm tăng 10 phần trăm. Năng suất lúa bình quân đạt 1.376 ki-lô-gam trên một héc-ta.

Sản lượng cây công nghiệp cũng đạt kết quả tốt: 10.000 tấn bông xơ, 2.000 tấn đậu, 2.400 tấn lạc, 2.000 tấn đường, 500 tấn đay.

Chỉ tính năm tháng kể từ khi Chính phủ phát hành phiếu công trái quốc gia, nhân dân các địa phương toàn liên khu đã mua hết số phiếu được phân phối là 500 triệu đồng.

Trong vụ thuế nông nghiệp (1951) đầu tiên, nông dân liên khu 4 đã nhập kho nhà nước 21.694 tấn thóc và bảy triệu đồng quy thóc.

Sau khi bổ sung đủ quân cho hai đại đoàn 304 và 325 trong số sáu sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, Liên khu tiếp tục tuyển quân bổ sung cho các đơn vị bộ binh và binh chủng theo chỉ tiêu của Bộ.

Trong công tác tuyển quân hàng năm, liên khu hết sức chú trọng chất lượng. Mỗi tân binh được bổ sung phải là một chiến sĩ có phẩm chất, đạo đức tốt, được huấn luyện cơ bản để có thể chiến đấu được ngay.

Các cấp ủy Đảng và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp đặc biệt chăm lo tốt đời sống tinh thần và vật chất của thương bệnh binh, thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng đi đôi với bồi dưỡng sức khỏe để anh em trở lại đơn vị chiến đấu hoặc về địa phương công tác. Các đơn vị bộ đội địa phương được củng cố về biên chế tổ chức hoàn chỉnh, có thể sẵn sàng bổ sung chủ lực thay hình thức bổ sung bằng tân binh như trước đây. Dân quân được huấn luyện chu đáo để bổ sung cho bộ đội địa phương, huyện, tỉnh.
____________________________________________
1. Năm 1951: Thanh Hóa có 1.575 tập đoàn sản xuất, 9.500 tổ vần công, đổi công. Nghệ An có 20.000 gia đình lập kế hoạch sản xuất và phục vụ tiền tuyến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:19:24 pm »


Tháng 5 năn 1951, Bộ tư lệnh Liên khu giải thể các trại huấn luyện tân binh, thành lập đoàn 33 thu dung ở Thanh Hóa, củng cố trung đoàn 44 trở thành trung tâm huấn luyện quân bổ sung cho chủ lực.

Tháng 6 năm 1951, Liên khu bàn giao trung đoàn 51 (thành lập tháng 1 năm 1951) cho đại đoàn 351 pháo binh, chuyển tiểu đoàn 198 và 11 đại đội địa phương Thanh Hóa cho đại đoàn 320.

Cùng thời gian này, tiểu đoàn 195 và sáu đại đội của Nghệ An đi Việt Bắc chuyển vũ khí vào Bình — Trị — Thiên. Tiểu đoàn 275 và 11 đại đội của Thanh Hóa lên đường tham gia chiến dịch Quang Trung (Hà — Nam — Ninh), ba đại đội địa phương Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê (Hà Tĩnh) bổ sung cho trung đoàn 120 chiến đấu ở Trung Lào.

Năm 1951, Thanh — Nghệ — Tĩnh đã bổ sung cho chủ lực bốn tiểu đoàn, 16 đại đội và 23.300 cán bộ, chiến sĩ. Huy động 210.000 dân công phục vụ các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, vận chuyển 12.600 tấn gạo, 20 tấn đường, 30 tấn lương khô, năm vạn quả trứng vịt muối, 300 con bò cho các chiến trường.

Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương ra chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tiến công của địch ra Hòa Bình, giao cho các liên khu vừa phải bảo đảm chi viện cho chiến trường vừa đẩy mạnh hoạt động vũ trang, phối hợp với chiến dịch Hòa Bình.

Ngày 3 tháng 12, Bộ tư lệnh Liên khu đề ra kế hoạch cho các địa phương và đơn vị tác chiến phối hợp và chi viện chiến dịch Hòa Bình.

Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu chủ trương: vừa phải bảo đảm lực lượng sản xuất, vừa phải có đủ lực lượng chi viện tiền tuyến, điều 500 cán bộ từ cấp xã đến Liên khu trực tiếp lãnh đạo tổ chức lực lượng dân công phục vụ chiến dịch Hòa Bình.

Dân công tổ chức biên chế thống nhất như quân đội, có tổ chức đảng, đoàn thanh niên, hội phụ nữ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền thi đua, bảo đảm vật chất, chăm sóc sức khỏe được tiến hành chặt chẽ, góp phần nâng cao năng suất, khối lượng vận chuyển.

Phong trào xung phong đi dân công phát triển rầm rộ trong các ngành và đoàn thể quần chúng. Thanh niên rèn luyện sức khỏe để được đi dân công, hoãn cưới hỏi để kịp đi chiến dịch. Cả làng, cả xã giúp đỡ chăm sóc những gia đình có người đi hỏa tuyến, đảm nhiệm phần việc sản xuất để người ra đi yên tâm.

Cả hậu phương hướng về tiền tuyến. Hàng chục vạn dân công cùng với 12 ca nô, 516 thuyền đã được huy động để vận chuyển 12.000 tấn gạo, 300 tấn thực phẩm và hàng nghìn tấn vũ khí đạn dược ra phía trước. Ngoài ra ba tỉnh còn huy động 1.300 dân công mở con đường chiến lược Phủ Quỳ — Như Xuân. Ngoài số dân công dài hạn, riêng Thanh Hóa còn huy động thêm 65.000 dân công ngắn hạn chuyển gạo đến các trạm trung chuyển. Bộ tư lệnh Liên khu điều động 7.500 quân đã qua huấn luyện và 2.500 bộ đội địa phương bổ sung kịp thời cho các đơn vị chủ lực của Bộ đang tham gia chiến dịch.

Xung phong tòng quân đi chiến đấu đã trở thành niềm ước mơ mong đợi của tuổi trẻ hậu phương. Chỉ tính đến tháng 10 năm 1952 Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có 13.770 thanh niên lên đường nhập ngũ. Các tỉnh còn chuyển du kích lên xây dựng bộ đội địa phương 5.000 người.

Để nhanh chóng khắc phục hậu quả nghiêm trọng do địch gây ra, tiếp tục xây dựng thực lực hậu phương lớn mạnh về mọi mặt, đáp ứng nhu cầu chi viện ngày càng lớn cho các chiến trường, khẩu hiệu hành động của Đảng bộ và nhân dân ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh lúc này là: «Tất cả cho sản xuất, tất cả để chiến thắng». Nhờ vậy sản lượng lương thực năm 1952 đạt 852.000 tấn, lương thực dự trữ trong kho đạt 49.400 tấn.

Cùng với sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp cũng được đẩy mạnh.

Năm 1952 sản xuất thiếc tăng 29 phần trăm, khai thác than tăng 82 phần trăm, dệt 2 triệu 80 vạn mét vải. Các loại sản phẩm công nghiệp như dầu lạc, đường mía, muối, nước mắm, diêm, da, phốt phát, thuộc da, tăng từ 15 đến 20 phần trăm so với năm trước.

Để làm suy yếu hậu phương ta, thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu tập trung phá hoại hậu phương ta một cách toàn diện. Âm mưu đó thể hiện rõ trong bức thư của Đu-lây, khâm mạng tòa thánh La Mã gửi các tín đồ giáo hữu ở Thanh — Nghệ — Tĩnh tháng 7 năm 1952.

«Cuộc chiến ở Việt Nam có nguy cơ chuyển sang một giai đoạn mới. Họ lớn mạnh rất nhanh. Người Pháp muốn giữ thế ổn định trên chiến trường thì phải đánh một đòn tạt sườn, thọc sâu vào các hậu phương an toàn của Việt Minh, nhất là vùng Thanh — Nghệ — Tĩnh»1.

Hà Tôn Đông, chỉ huy cơ quan phòng nhì «Giải phóng Liên khu 4» từ đảo Hòn Mê (Thanh Hóa) gửi cho bọn phản động đang bí mật hoạt động ở Thanh — Nghệ — Tĩnh nêu rõ:

“Muốn làm suy yếu các chiến trường, người Pháp quyết tâm phải đánh vào Thanh — Nghệ — Tĩnh và cắm cho được vài chỗ đứng chân để làm rối loạn hậu phương của Việt Minh”2.

Tháng 2 năm 1952, hàng trăm lính Pháp và thổ phỉ chia thành nhiều toán xâm nhập vào đất ta cướp phá vùng Quan Hóa (Thanh Hóa) và Tương Dương (Nghệ An). Tháng 3 năm 1953, chúng thành lập tại đây các tổ chức «Ủy ban liên châu Thái» và «Đảng quốc dân địa chủ châu Phà», thu hút vào tổ chức này những thanh niên lạc hậu và cả một số cán bộ đã thoái hóa biến chất, những phần tử phản động trong bọn thổ ty, lang đạo. Chỉ vài tháng sau, chúng đã tập hợp được trên 300 tên, lực lượng này được máy bay Pháp thả dù tiếp tế vũ khí và lương thực. Chúng cướp phá tài sản của nhân dân, kích động gây rối, uy hiếp chính quyền cơ sở, dồn dân ở Mường Mìn, Chiên Lưu, Mường Xịa vào khu tập trung để kiểm soát.

Tháng 6 năm 1952, Thanh Hóa điều đại đội 140 lên Quan Hóa, đại đội 188 lên Bá Thước, đại đội 128 lên Lang Chánh để cùng bộ đội huyện, lực lượng công an và du kích truy quét thổ phỉ, tiến hành võ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở.

Do thiếu kinh nghiệm về tác chiến và dân vận, không biết kết hợp chặt chẽ giữa tiễu phỉ với trừ gian, nên các đơn vị trên hoạt động ít kết quả. Đại đội 140 sau hai lần bị phỉ tập kích phải rút về tỉnh củng cố. Bọn phỉ được đà càng luồn sâu vào nội địa hoạt động trắng trợn hơn.

Ở Thanh Hóa chúng lập bốn cụm phỉ, Nghệ An bốn cụm, mỗi cụm có trên 100 tên.

Bộ tư lệnh Liên khu cùng Sở công an Liên khu 4 và các tỉnh cử cán bộ về hướng dẫn các địa phương, dựa hẳn vào nhân dân và dân quân du kích củng cố lực lượng. Phong trào dần dần khá lên. Bộ đội huyện Quỳ Châu đã diệt được một đại đội «Quốc dân địa chủ châu Phà» ở Mường Típ, Tà Cạ. Công an huyện Lang Chánh diệt một số tên phản động trong tổ chức «Liên châu Thái».

Hè thu năm 1952, bộ đội địa phương kết hợp với một bộ phận Trung đoàn 9 (sư đoàn 304) truy quét bọn phỉ chạy tản sang đất Lào.
________________________________________________
1, 2. Tài liệu lưu trữ tại Sở công an Nghệ Tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:21:48 pm »


Trong lúc bọn phỉ tăng cường hoạt động ở vùng biên giới thì ở vùng biển, hải quân Pháp cũng đánh phá gắt gao, khống chế giao thông đường thủy, triệt phá nghề đánh cá và nghề muối của đồng bào ta. Địch đổ bộ tập kích vào Hữu Lộc (Quỳnh Lưu), Du Xuyên (Tĩnh Gia), vơ vét của cải, bắt cóc cán bộ và thăm dò tình hình hậu phương ta.

Không quân địch tập trung đánh phá ác liệt hơn. Mỗi lần có từ tám đến 12 máy bay đánh phá các công trình thủy lợi, kho tàng, cơ quan, xí nghiệp, cầu, phà, chợ búa, trường học của ta.

Các đập nước Bến Thủy, Đô Lương, Nam Đàn, cống Trung Lương, Mụ Bà, Rú Cóc, Bàn Thạch, Bái Thượng, Phong Lại, kênh Ma Đa, bị phá hỏng nặng. Hơn 120.000 héc-ta lúa bị hạn hán, gây khó khăn lớn cho ta về lương thực.

Chỉ tính riêng tháng 10 năm 1952, không quân của địch đã làm chết 1.800 người, bị thương 1.300 người, đốt phá hơn 3.000 ngôi nhà, giết hại 500 trâu bò, đánh hỏng, đánh đắm 185 thuyền.

Để hạn chế thiệt hại do không quân và hải quân địch gây ra, các địa phương kịp thời chỉ đạo, tổ chức nhân dân phòng tránh, đánh địch tốt hơn. Dân quân du kích ven biển giữ nghiêm chế độ bố phòng tuần tra, canh gác, báo động kịp thời cho nhân dân phòng tránh. Bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh địch đổ bộ đường biển, các lần tập kích của chúng đều bị lực lượng vũ trang tại chỗ của ta đánh bại.

Lực lượng sủng máy phòng không của ta còn ít ỏi, song đã tích cực đánh máy bay, bảo vệ mục tiêu, hạn chế một phần hoạt động của không quân địch. Đại đội 160 phòng không Thanh Hóa trong năm 1952 bắn bị thương bảy máy bay địch.

Cùng với toàn dân đánh trả cuộc chiến tranh bằng hải quân và không quân của địch, bộ đội địa phương và dân quân du kích còn là lực lượng quan trọng trong nhiệm vụ trấn áp bọn phản động, gián điệp gây rối hậu phương.

Tháng 4 năm 1952, lợi dụng việc rào làng chống địch đổ bộ, Vũ Viết Hiền linh mục xứ Tràng Nứa cùng các tên Mạnh Trọng Niêm tổng thư ký đảng dân chủ liên hiệp, Nguyễn Hữu Tạo chủ tịch liên đoàn công giáo xứ Tràng Nứa âm mưu dọn đường đón quân Pháp vào đánh Thanh — Nghệ — Tĩnh. Chúng lôi kéo thanh niên thiên chúa giáo vào «Hội thanh niên nghĩa binh», luyện tập quân sự, bắt giáo dân bỏ sản xuất, rào làng canh gác, gây ra nạn đói nghiêm trọng. Chúng trắng trợn lập «Hội đồng liên hương» ở một số hạt thuộc Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu (Nghệ An), Thạch Hà, Hương Khê (Hà Tĩnh), tuyên truyền chống đối kháng chiến. Tòa giám mục Xã Đoài lập «Ban cán sự» chỉ đạo các tổ chức trên.

Cấp ủy chính quyền và các tổ chức quần chúng đã cử nhiều cán bộ kiên trì giải thích chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, nhưng bọn phản động vẫn một mực ngoan cố chống lại.

Ngày 16 tháng 4 năm 1952, Ty công an Nghệ An bắt giữ một số tên đầu sỏ.

Lấy cớ này, ngày 24 tháng 4, Tòa giám mục Xã Đoài rung chuông báo động. Chúng bao vây dân quân, giết cán bộ, hành hung công an, dùng vô tuyến điện gọi Pháp nhảy dù tiếp ứng.

Tiểu đoàn 195 Nghệ An và tiểu đoàn 230 (Hà Tĩnh) được nhân dân ủng hộ, tiến vào Tràng Nứa giải tỏa giáo dân bị kìm kẹp, bắt gọn toàn bộ bọn cầm đầu, 30 tên phản động đầu sỏ bị bắt. Vụ phản động Tràng Nứa (Hưng Nguyên) bị dập tắt. Giáo dân vui mừng được làm ăn, hành lễ và tham gia kháng chiến.

Ngày 13 tháng 10 năm 1952, chấp hành chủ trương của Sở công an Liên khu 4 và tỉnh ủy Thanh Hóa, Ty công an Thanh Hóa tiến hành lập hồ sơ chuyên án vụ gián điệp Hòn Mê — Ba Làng. Ban chỉ đạo chuyên án vụ gián điệp gồm các đồng chí Lê Công Oánh, trưởng ty công an; Hoàng Đạo, đại diện Sở công an Liên khu 4. Nhiệm vụ của ta là phá cho sạch, phá kịp thời, sớm ngày nào hay ngày ấy, với phương châm: «Bới tận gốc, đào tận rễ, quét cho sạch, nếu không quét sạch thì địch vẫn tiếp tục đổ bộ lên Tĩnh Gia»1.

Được sự giúp đỡ của nhân dân, bộ phận công tác chính trị đã đi sâu vào từng hộ giáo dân tuyên truyền vận động quần chúng đoàn kết đấu tranh, vạch mặt bọn chủ mưu cầm đầu. Bộ phận trinh sát tiến hành bí mật theo dõi, điều tra, bắt giữ và khai thác kịp thời âm mưu và tổ chức của chúng ở Hòn Mê — Ba Làng và trong nội địa để quét hết cơ sở của chúng, bắt giữ 55 tên phản động, gián điệp.

Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa công khai xét xử bọn gián điệp trong «vụ án gián điệp Hòn Mê — Ba Làng », nghiêm trị bọn cầm đầu, nguy hiểm. Phiên tòa có tác dụng lớn, đánh mạnh vào âm mưu, thủ đoạn của địch, trấn áp bọn gián điệp, phản động trong nội địa, hỗ trợ cho công tác phát động quần chúng, xây dựng cơ sở, nhất là ở những vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa như Ba Làng (Tĩnh Gia, Thanh Hóa).

Đường dây liên lạc của tổ chức «Phòng nhì giải phóng Liên khu 4»2 do Trần Đình Phúc làm chủ tịch, ổ gián điệp ở Quỳnh Lưu và toán gián điệp Sầm Tớ — Noọng Hét do Lang Văn Thanh, Lang Văn Dinh cầm đầu đều bị bắt.

Âm mưu và hành động của thực dân Pháp đánh phá hậu phương chiến lược, nhằm làm suy yếu ta, liên tiếp bị thất bại, sức mạnh của hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh ngày càng được phát huy mạnh mẽ, góp phần đáng kể vào thắng lợi chung trên các chiến trường.

Trong chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, Thanh Hóa đã huy động vận chuyển 2.000 tấn gạo phục vụ tiền tuyến, với thành tích này, Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng hai cho Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa.

Với chiến thắng Tây Bắc, một địa bàn chiến lược quan trọng rộng lớn hơn 28.000 ki-lô-mét vuông với 250.000 dân đã được giải phóng, nối liền căn cứ địa Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4, hình thành thế chiến lược uy hiếp địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Trước sự phát triển mới của chiến tranh, hậu phương càng phải được bảo vệ vững chắc.
_____________________________________________
1. Thư của giám đốc Sở công an Liên khu 4 gửi Trưởng ty công an Thanh Hóa (tài liệu lưu trữ Sở công an Thanh Hóa).
2. Trong năm 1951 — 1952 tổ chức này đã lôi kéo 800 thanh niên trốn ra Phát Diệm đi lính cho Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:23:29 pm »


Ngày 14 và 15 tháng 2 năm 1953, Liên khu ủy họp bàn về nhiệm vụ bảo vệ hậu phương trong tình hình mới và thi hành điện của Ban bí thư Trung ương Đảng về cung cấp cho chiến dịch Thượng Lào. Tại hội nghị, đồng chí tư lệnh Liên khu trình bày về âm mưu mới của địch đối với vùng tự do và kế hoạch bảo vệ Thanh — Nghệ — Tĩnh. Liên khu ủy nhận định: «Trước mắt quân Pháp chưa đủ lực lượng đánh chiếm cả vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, song ta cần có kế hoạch tác chiến hoàn chỉnh để đối phó với âm mưu cơ bản lâu dài của địch. Phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, đánh bại các thủ đoạn đánh phá bằng không quân, hải quân và biệt kích đường biển, đường không của địch, đồng thời kiên quyết trấn áp bọn phản động tay sai nội địa»1.

Ngày 17 tháng 3, Bộ tư lệnh Liên khu giao cho ban chỉ huy các tỉnh đội và các trung đoàn nhiệm vụ tác chiến bảo vệ trên từng khu vực.

Trung đoàn 52 đứng chân ở phía bắc sông Mã, đảm nhiệm tác chiến vùng Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung. Đại đội 57 tăng cường cho huyện Nga Sơn. Tiểu đoàn 275 đảm nhiệm khu vực Quảng Xương, Đông Sơn và thị xã Thanh Hóa. Tiểu đoàn 355 phụ trách khu vực Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành. Tiểu đoàn 136 và trung đoàn 44 phụ trách đường số 7. Tiểu đoàn 290 đảm nhiệm vùng Nghi Lộc. Trung đoàn 101 đứng chân ở Nghi Lộc, Hưng Nguyên làm lực lượng cơ động. Tiểu đoàn 888 và các đơn vị trực thuộc đại đoàn 325 ở Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ. Các kho tàng chuyển lên phía tây đường số 1.

Để thống nhất chỉ huy các lực lượng vũ trang trên địa bàn, mỗi tỉnh thành lập một ban chỉ đạo chung do đồng chí bí thư tỉnh ủy làm chính ủy, trung đoàn trưởng làm chỉ huy trưởng, tỉnh đội trưởng làm phó chỉ huy. Ba trung đoàn 52, 101 và 44 do Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ huy. Đại đội 10 và 11 súng máy phòng không 12,7 mi-li-mét được thành lập để trực tiếp bảo vệ các công trình thủy lợi. Các huyện Hưng Nguyên, Can Lộc, Hương Khê, Hương Sơn, Hà Trung, Thạch Thành đều có một đại đội bộ đội địa phương.

Các tỉnh cử thêm cán bộ lên miền núi làm công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở. Các xã Thông Thụ (Quỳ Châu), Nà Ngòi (Tương Dương), Thiệm Phú (Quan Hóa) chọn làm thí điểm để rút kinh nghiệm chỉ đạo các địa phương trong sản xuất và chiến đấu, tiễu phỉ trừ gian.

Trên từng vùng, nhiệm vụ và phạm vi chiến đấu được xác định cụ thể. Khắp nơi nhân dân hăng hái rào làng chiến đấu, sơ tán kho tàng, đào hầm hào phòng tránh, dựng chòi canh gác. Bộ đội địa phương và dân quân du kích luyện tập theo phương án tác chiến đã được quy định.

Ở Nga Sơn (Thanh Hóa), ngày 26 tháng 3 binh đoàn cơ động số 4 và tiểu đoàn 15 ngụy từ Kim Sơn mở cuộc càn lớn vào ba xã Kiên Giáp, Diên Trường, Chính Đại. Dân quân ở đây bám trụ chống trả quyết liệt, trung đội dân quân xã Kiên Giáp do xã đội trưởng Mai Xuân Thắng chỉ huy đã bám làng chiến đấu, suốt ba ngày địch vẫn không vào được làng.

Ngày 6 tháng 4, được đại đội 57 về tăng cường, các lực lượng ở Nga Sơn đã đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Ngày 8 tháng 4, địch phải rút khỏi ba xã trên.

Ở miền tây, bọn thổ ty, lang đạo phản động lập ra tổ chức «Liên châu Thái Bắc Việt». «Quốc dân địa chủ», tập hợp gần 500 tên phỉ lén lút hoạt động trong vùng Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh (Thanh Hóa).

Địch lợi dụng chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng, ngầm đưa một số tên chui vào các tổ chức cơ sở Đảng và các tổ chức chính quyền của ta để chống phá kháng chiến, chia rẽ dân tộc. Chúng lỉên lạc với Pháp ở đồn Sầm Tớ, cấu kết với bọn phản động trong đạo Thiên chúa liên kết gây bạo loạn.

Ngày 2 tháng 5, chúng cho 300 tên tập kích một số kho tàng ở cửa hàng mậu dịch dọc đường số 7. Ngày 7 tháng 5 phục kích đơn vị dân công ở Nậm Cắn (gần Noọng Hét) giết tám bộ đội, sáu dân công và cướp gạo muối. Ngày 8 tháng 5, chúng tập kích hậu cứ đại đoàn 304. Những hoạt động này của địch đều nhằm phá hậu phương ta, đỡ đòn cho Thượng Lào đang bị quân ta tiến công.

Ngày 10 tháng 5 năm 1953, Bộ tư lệnh Liên khu lệnh cho các địa phương tổ chức một đợt truy quét thổ phỉ, phối hợp với chiến dịch Thượng Lào.

Thanh Hóa đưa đại đội 25 (tiểu đoàn 275) cùng lực lượng vũ trang huyện Quan Hóa bao vây cụm phỉ ở khu vực Văn Phố, diệt trên 100 tên, số còn lại chạy vào núi Pu Luông. Đại đội 128 và bộ đội địa phương Lang Chánh, Như Xuân đánh diệt cụm phỉ ở vùng Lê Lai, Sơn Thủy. Đại đội 119 đánh tan phỉ ở vùng Sơn Thủy, diệt 38 tên, thu 17 súng. Trung đội dân quân Nà Ngòi, Mường Típ (Quỳ Châu) Nghệ An diệt 35 tên phỉ trên đường chúng đi cướp lúa. Tiểu đoàn 265 truy quét cụm phỉ ở dọc đường số 7, diệt 34 tên, bắt sống 46 tên.

Tiểu đoàn 195 hoạt động ở Mường Tân, Sầm Nhung, Mường Ngan, vừa xây dựng cơ sở, vừa truy quét phỉ, diệt 77 tên, bắt 100 tên. Tên Lò Khăm Thi chủ tịch «Liên châu Thái Bắc Việt» và tên Phạm Bá Chính trùm tổ chức phòng nhì «Giải phóng Liên khu 4» ở miền tây cũng bị tóm cổ.

Ở vùng biển, địch tăng cường hoạt động tập kích, lực lượng thường là một đại đội trở lên. Với tổng số 22 lần tập kích ven biển, trong sáu tháng đầu năm 1953 có 13 lần đánh vào Thanh Hóa, sáu lần đánh vào Nghệ An, ba lần đánh vào Hà Tĩnh.

Ngày 10 tháng 1, địch cho 112 tên tập kích vào vùng biển Tĩnh Gia (Thanh Hón), phá sập cầu Hang trên đường số 1. Ngày 20 tháng 2 chúng cho 350 tên tập kích xã Nam Bình (Thạch Hà — Hà Tĩnh).

Ngoài những hoạt động ném bom, bắn phá thông thường, địch còn dã man cho máy bay thả chất độc hóa học phá hoại hoa màu, giết hại gia súc, hòng triệt nguồn sinh sống của nhân dân ta. Chỉ trong vòng tháng 4 năm 1953, địch đã liên tiếp thả hóa chất độc xuống các khu vực làng Vạn Hà (Thiệu Hóa, Thanh Hóa), các xã Hữu Lộc, Quỳnh Phú, Vạn Phương (Quỳnh Lưu, Nghệ An).

Những âm mưu và hành động phá hoại của địch về quân sự, chính trị và kinh tế có gây cho ta một số khó khăn, nhưng chúng không thể ngăn chặn được sự lớn mạnh không ngừng của hậu phương ta. Nhờ sự chỉ đạo tập trung thống nhất, chuẩn bị kế hoạch tác chiến cụ thể, chu đáo, cùng với tinh thần sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, công an, dân quân và nhân dân các địa phương, nên các cuộc tập kích của địch đều bị đánh lui, các vùng bị hóa chất độc đã được xử lý. Âm mưu phá hoại của địch không thực hiện được. Hậu phương của ta vẫn được bảo vệ vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi để chi viện tiền tuyến.
______________________________________________
1. Biên bản hội nghị Liên khu ủy họp ngày 15 tháng 2 năm 1952, lưu trữ ở Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:24:23 pm »


Từ tháng 4 năm 1953, bạn và ta phối hợp mở chiến dịch Thượng Lào trên địa bàn Sầm Nưa —Xiêng Khoảng. Liên khu 4 được giao nhiệm vụ bảo đảm cung cấp cho chiến trường này, Liên khu ủy thành lập Hội đồng cung cấp Liên khu do đồng chí Lê Lộc làm chủ tịch. Tỉnh ủy Nghệ An thành lập «Ban cung cấp chiến dịch» lấy mật danh là: «Ban lâm thổ sản» do đồng chí Dương Văn Dật đại diện tỉnh ủy làm chủ nhiệm, đồng chí Phạm Thành Vinh đại diện ủy ban, hai đồng chí trưởng ty lao động và trưởng kho thóc làm ủy viên.

Ba tháng trước khi mở chiến dịch, Trung ương đã giao cho Liên khu làm hai tuyến đường chiến lược quan trọng với tổng kinh phí 3.900 tấn gạo và một triệu 10 vạn ngày công.

Nghệ An và Thanh Hóa huy động 73.000 dân công làm đường chiến lược Đô Lương — Nghi Xuân — Vạn Mai, dài 320 ki-lô-mét. Nghệ An còn huy động 6.600 dân công làm đường Đô Lương — Mường Xén dài 170 ki-lô-mét và nạo vét kênh đào Ma Đa. Hà Tĩnh huy động 9.000 dân công làm con đường số 28 Truông Mèn (Hương Sơn) và sửa chữa tuyến đường Linh Cảm — Na Pê — Ba Na Phào.

Cuối tháng 3 năm 1953, Ban cung cấp chiến dịch Nghệ An huy động 25.000 dân công, 1.486 xe đạp thồ, 1.066 chiếc thuyền vận chuyển 1.380 tấn gạo, 53 tấn muối, 73 tấn thực phẩm, 60 tấn vũ khí và 1.250 nông cụ từ huyện Anh Sơn lên tỉnh Xiêng Khoảng, đường dài 300 ki-lô-mét.

Thanh Hóa tổ chức 35.000 dân công, 4.500 xe đạp thồ, vận chuyển 1.565 tấn gạo, hàng trăm tấn vũ khí lên Sầm Nưa.

Dân công được tổ chức chỉ huy chặt chẽ. Phong trào thi đua (tăng cân, tăng chuyến, tăng tốc độ) sôi nổi. Cán bộ, bộ đội, dân công không quản gian khổ, hy sinh, trèo đèo lội suối, vượt qua hàng trăm ki-lô-mét đường rừng, sang phối hợp cùng quân và dân Lào chiến đấu, tất cả vì thắng lợi chung của hai dân tộc. Đại đội 3 dân công huyện Hậu Lộc và đại đội xe thồ thị xã Thanh Hóa đã vinh dự được Bác Hồ tặng cờ danh dự. Cả tỉnh Thanh Hóa được Bác Hồ tặng cờ «Phục vụ tiền tuyến khá nhất».

Ngày 18 tháng 5, chiến dịch Thượng Lào kết thúc thắng lợi. Liên quân Việt — Lào giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ. Chiến thắng Thượng Lào là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam — Lào — Cam-pu-chia, có ảnh hưởng trực tiếp tới địa bàn Liên khu 4. Vùng giải phóng được mở rộng liên hoàn, nối liền một dải suốt từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Thượng Lào, Trung Lào, Liên khu 4, phá vỡ thế bao vây chia cắt chiến lược của địch từ phía tây, tạo ra một cục diện mới có lợi cho ta để tiến lên giành thắng lợi quyết định trong Đông Xuân 1953— 1954. Chiến thắng Thượng Lào đã phá vỡ vành đai của địch phong tỏa phía tây Thanh — Nghệ — Tĩnh, tạo điều kiện thuận lợi bảo vệ và xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh. Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào càng cổ vũ quân và dân Liên khu 4 đẩy mạnh tác chiến, đánh bại các cuộc hành quân càn quét, bình định của địch trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, đồng thời cảnh giác đập tan mọi âm mưu và hành động của địch, hòng làm suy yếu hậu phương ta, xây dựng Thanh — Nghệ — Tĩnh vững vàng đi lên trong thế trận mới.

Tháng 8 năm 1953, các tổ chức phản động và các cụm phỉ ở miền tây Thanh — Nghệ —Tĩnh hoàn toàn tan rã, Lực lượng công an và bộ đội địa phương bắt gọn tổ chức gián điệp ở Ba Làng gồm 80 tên, bọn phản động đầu sỏ đội lốt tôn giáo như Mai Bá Nhạc, Nguyễn Thái Bá, Phạm Tấn đều bị bắt.

Chỉ trong vòng chín tháng, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh đã đánh 65 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 1.738 tên địch.

Đi đôi với chiến đấu bảo vệ vững chắc hậu phương và chi viện tiền tuyến, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh bước vào cuộc đấu tranh mới kết hợp phản đế với phản phong, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, thực hiện người cày có ruộng.

Qua đợt 1 và đợt 2 giảm tô và cải cách ruộng đất trong năm 1953, hơn 1.170.000 nông dân lao động được chia ruộng đất. Cuộc đổi đời này của nông dân lao động đã tạo nên sức mạnh mới cả về vật chất và tinh thần cho hậu phương. Sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, người nông dân làm chủ ruộng đất của mình, càng hăng hái đẩy mạnh sản xuất để cải thiện đời sống và cung ứng nhu cầu tiền tuyến.

Mặc dù phần lớn lực lượng lao động trẻ khỏe đã lên đường phục vụ kháng chiến, song sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và thủ công nghiệp ở hậu phương vẫn phát triển. Sản lượng lương thực tăng 12 phần trăm so với năm 1952. Năng suất lúa bình quân đạt 14 tạ một héc-ta. Ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng đều tăng. Tỉnh Thanh Hóa cấy thêm 10.000 héc-ta lúa, Nghệ An trồng thêm 2.290 héc-ta màu. Các tỉnh Bình — Trị — Thiên trồng thêm 9.000 héc-ta sắn, vụ chiêm năm 1953 toàn liên khu được mùa lớn. Sản phẩm công nghiệp, khai thác khoáng sản, lâm sản, chế biến thực phẩm sản xuất hàng tiêu dùng đều tăng từ 10 đến 40 phần trăm.

Ngành quân giới mạnh dạn nghiên cứu cải tiến kỹ thuật. Từ sản xuất các loại vũ khí thông thường như súng kíp, lựu đạn, mìn, bom, đã tiến lên sản xuất được các loại vũ khí mới như súng cối 51 mi-li-mét, 60 mi-li-mét, ĐKZ, ba-zô-ka. Xưởng quân giới Vũ Tiến Tới đạt năng suất hơn bảy lần về sản xuất thuốc đạn. Đồng chí Trần Viết Sới sáng chế một dụng cụ nghiền thuốc đạn, đưa năng suất lên gấp ba lần. Nữ công nhân Trương Thị Xin ở xưởng Nguyễn Khoa Cát đã phấn đấu đưa năng suất tiện lên hơn ba lần.

Bằng sự nỗ lực của mình, đảng bộ và nhân dân toàn liên khu đã thực hiện thắng lợi các cuộc vận động lớn về sản xuất, tiết kiệm do Trung ương phát động.

Để thi hành tốt chính sách thuế nông nghiệp, các tỉnh đã điều động hơn 500 cán bộ huyện ủy viên, gần 1.000 chi ủy viên đi về thôn xã hướng dẫn nhân dân học tập chính sách thuế nông nghiệp, làm cho nhân dân nhận rõ nghĩa vụ của mình về kháng chiến và tính chất công bằng của thuế nông nghiệp.

Phong trào thi đua «Đóng nhanh, thóc tốt, quạt sạch, phơi khô» dấy lên khắp các địa phương.

Chỉ sau hơn một tháng vận động, toàn liên khu đã nhập kho được 194.000 tấn (ba tỉnh Bình - Trị - Thiên nộp 8.435 tấn) và 3.030 triệu đồng thuế công thương nghiệp trị giá bằng 28.606 tấn thóc. Nhiều địa phương vượt mức trên giao như: Lang Chánh (Thanh Hóa) vượt 13 phần trăm, xã Mai Châu (huyện Quan Hóa) Thanh Hóa vượt 21 phần trăm. Huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa) trong 10 ngày nộp đủ 2.763 tấn. Tỉnh Hà Tĩnh đạt 89 phần trăm, tỉnh Nghệ An đạt 98 phần trăm.

Thuế nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu để chi viện cho các chiến trường, cung ứng cho các cơ quan Trung ương, các đại đoàn chủ lực đóng trên địa bàn Thanh-Nghệ-Tĩnh và hơn 120.000 đồng bào tản cư, học sinh các trường cao đẳng và dự bị đại học, thương bệnh binh từ các chiến trường gửi về, và là nguồn đầu tư tái sản xuất nông nghiệp.

Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, việc chi viện sức người cho chiến trường ngày càng khẩn trương cấp bách. Công tác tuyển quân đòi hỏi đạt cả số lượng và chất lượng cao.

Công tác động viên giáo dục tư tưởng, chuẩn bị cho thanh niên lên đường nhập ngũ được các địa phương đặc biệt quan tâm. Các tỉnh đội phối hợp với các ngành, các cơ quan tổ chức đăng ký và khám tuyển, bảo đảm chất lượng và số lượng. Trung đoàn 44 hiệp đồng với các tỉnh nhận quân và luyện quân theo chỉ tiêu và bàn giao kịp thời cho các đơn vị chủ lực.

Được giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống của dân tộc và của quê hương, lại được chính quyền, đoàn thể địa phương chăm sóc, hậu phương, gia đình, lớp lớp thanh niên nhận rõ nghĩa vụ vinh quang và vinh dự của mình lên đường tòng quân chiến đấu.

Hàng nghìn gia đình có hai đến ba con tòng quân. Thanh — Nghệ — Tĩnh bổ sung quân cho các đại đoàn 304, 325, 320, 316 trên 15.600 tân binh và 1.580 chiến sĩ ở các đoàn thu dung an dưỡng. Cũng trong năm 1953, Trung ương đã điều động 4.309 cán bộ của Liên khu 4 gồm sáu khu ủy viên, 92 tỉnh ủy viên, 803 huyện ủy viên, 2.209 chi ủy viên và hơn 1.000 đảng viên bổ sung cho các cơ quan Trung ương và cho quân đội.

1951 — 1953 là thời kỳ địch họa, thiên tai gây ra không ít khó khăn cho quân và dân Liên khu 4, song được sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, được chiến thắng liên tiếp của các chiến trường cổ vũ, biết kết hợp chặt chẽ phương châm chiến đấu đi đôi với xây dựng, nhân dân và các lực lượng vũ trang liên khu đã vượt qua mọi thử thách, xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh, chi viện sức người, sức của ngày càng lớn cho các chiến trường. Hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh đã trực tiếp chi viện chiến trường Bình — Trị — Thiên và Trung Lào, chi viện sáu chiến dịch: Trung Du, Đường 18, Hà — Nam — Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, góp phần xứng đáng cùng cả nước đưa cuộc chiến tranh chuyển sang thời kỳ mới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:39:06 pm »


*

*        *

Đông Dương là một chiến trường, đoàn kết các dân tộc trên bán đảo Đông Dương chống kẻ thù chung là lẽ sống còn của mỗi nước. Những kết quả về mở rộng cơ sở chính trị, vũ trang, xây dựng căn cứ kháng chiến ở Trung Lào trong những năm 1945 — 1950 mà quân và dân Liên khu 4 góp phần tích cực đã tạo tiền đề thuận lợi cho cuộc kháng chiến của quân và dân Trung Lào bước vào thời kỳ mới.

Ngày 16 tháng 3 năm 1951, Liên khu ủy 4 ra nghị quyết về nhiệm vụ và phương thức hoạt động của bộ đội tình nguyện và cán bộ cơ sở của Liên khu tại chiến trường Lào. Nghị quyết chỉ rõ: «Các lực lượng của ta cùng với bạn kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đưa chiến tranh du kích tiến sâu vào lòng địch, giúp bạn và cùng với bạn bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, củng cố và phát triển mặt trận It-xa-la, xây dựng và bảo vệ căn cứ kháng chiến ở Trung Lào, xây dựng căn cứ du kích ở vùng giáp ranh, tổ chức rộng rãi lực lượng dân quân du kích ở cơ sở, tiến tới xây dựng các đội vũ trang tuyên truyền ở Trung Lào»1.

Tháng 4 năm 1951, tại một địa điểm gần biên giới Việt-Lào thuộc địa phương huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), quân và dân Trung Lào mở đại hội đại biểu chào mừng kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 Đảng Cộng sản Đông Dương, đón nhận sự kiện trọng đại thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đại hội biểu thị quyết tâm đoàn kết chiến đấu và hợp tác toàn diện với quân và dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Nhờ có sự nỗ lực của bạn và ta, tình hình cách mạng ở Trung Lào chuyển biến một bước đáng kể. Các tổ chức cơ sở mặt trận It-xa-la lần lượt ra đời, cơ sở chính trị vũ trang ở hai tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà-khẹt được củng cố và phát triển: Đồng chí Nu-hắc, chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu lên công tác ở Trung ương, đồng chí Khăm Tày giữ chức chủ tịch Ủy ban kháng chiến Trung Lào. Đồng chí Thao Ô trực tiếp chỉ đạo xây dựng cơ sở chính trị vũ trang. Đồng chí Xi-phon tổ chức chỉ đạo cơ sở bí mật ở Thà-khẹt.

Nhân dân Lào tham gia kháng chiến bằng mọi hình thức từ thấp lên cao, như sản xuất tự cung, tự cấp để chiến đấu, đấu tranh chống áp bức bóc lột, không đóng thuế, không đi lính cho Pháp, tiến lên đấu tranh vũ trang chống địch càn quét, bảo vệ bản làng. Vai trò và uy tín của mặt trận It-xa-la lan rộng trong nhân dân.

Trước sự phát triển của phong trào kháng chiến ở Trung Lào, quân Pháp phải thay đổi thủ đoạn đối phó. Chúng tăng cường phòng thủ hai tiểu khu Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà-khẹt, điều chỉnh lại đội hình chiếm đóng, xây dựng hệ thống tháp canh bao bọc các vị trí chính, lập các đội biệt kích lưu động kết hợp với gián điệp, kiểm soát khống chế nhân dân, càn quét, đánh phá cơ sở, bắt lính và vơ vét tài sản của nhân dân. Chúng ra sức tuyên truyền, đề cao bọn bù nhìn, gây mâu thuẫn nội bộ dân tộc, chia rẽ tình đoàn kết Việt — Lào, phát chẩn gạo muối để mua chuộc lòng dân, trụy lạc hóa thanh niên để dễ bắt lính. Độc ác hơn, chúng còn trao giải thưởng cho những ai lấy được đầu cán bộ và bộ đội Việt Nam.

Các đội cơ sở của ta đã cùng với cán bộ của bạn bám sát nhân dân, cùng ăn, cùng ở, cùng sản xuất với nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị và phát triển lực lượng dân quân du kích. Ban cán sự Trung Lào của ta và Ủy ban kháng chiến Trung Lào của bạn thường xuyên bàn bạc thống nhất chỉ đạo, chỉ huy, phối hợp giải quyết mọi vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế trong khu vực.

Tiểu đoàn 1 bộ đội tình nguyện hoạt động ở vùng địch hậu Phu-xăng-he. Tiểu đoàn 364 phụ trách đường số 9 và vùng địch hậu Nước Nầm, Na-ha-nậm. Đội 14 công tác ở vùng Pha-băng. Đội 13 công tác ở vùng địch hậu đường số 13. Đội 93 ở Huội Mườn (nam đường số 9).

Bộ đội tình nguyện Việt Nam «chấp hành nghiêm chỉnh chính sách dân vận và kỷ luật chiến trường, nêu cao tinh thần quốc tế chân chính, đoàn kết chặt chẽ với cán bộ, bộ đội, nhân dân Lào, sát cánh cùng nhau diệt kẻ thù chung, góp phần đưa lại độc lập, tự do cho hai nước Việt-Lào»2.

Các đội công tác bám sát cơ sở, giúp dân sản xuất chữa bệnh, học chữ, hướng dẫn dân quân du kích luyện tập quân sự, học tập chính trị, cùng lực lượng địa phương canh gác bảo vệ làng xóm. Nhân dân tin yêu, coi bộ đội, cán bộ tình nguyện như con em của mình.

Đầu năm 1951, Ủy ban kháng chiến Trung Lào kết hợp với Ban cán sự của ta mở hai khóa huấn luyện, đào tạo được 140 cán bộ. Những cán bộ đầu tiên này là vốn quý, làm nòng cốt xây dựng cơ sở Đảng và các đoàn thể quần chúng, các lực lượng vũ trang ở khắp các địa phương Trung Lào.

Đêm 19 tháng 2, đội du kích Ba Na Phào phối hợp với một trung đội thuộc tiểu đoàn 2 quân tình nguyện tập kích đồn Nậm Pha Năng, diệt năm tên, bắt hai tên, số còn lại phải bỏ đồn chạy. Ta thu hai súng trung liên, 600 viên đạn. Sau trận này, quân Pháp đã phải cho máy bay chở dây thép gai đến giăng hàng rào bao bọc và phát quang đồn, đề phòng ta tập kích. Để đẩy lực lượng vũ trang ta ra xa, chúng liên tiếp mở các cuộc càn quét, nhưng chúng đi đến đâu cũng bị du kích giật mìn, bắn tỉa. Địch phải cho xe cơ giới đi yểm hộ nhưng không vào sâu được bản làng vì địa hình hiểm trở.

Đầu tháng 4, một đại đội Âu — Phi ở Thà Khẹt càn vào xã Con-tăn (Ma Ha Xây). Được đồng bào địa phương báo tin, đội du kích Con-tăn phối hợp cùng đại đội 1 (tiểu đoàn 1) bố trí phục kích diệt tại trận 16 tên, thu 16 súng các loại. Tại khu vực La Ha Nậm — Pắc Xế — Xa-ra-van: tiểu đoàn 364 và du kích địa phương phục kích bốn trận trên đường số 13 diệt 12 xe cơ giới. Địch càn vào Ba Na Phào, Đồng Hến, Nhom Ma Rát, Ma Ha Xây đều bị bộ đội bạn và ta, cùng du kích địa phương chặn đánh. Địch đã không thực hiện được âm mưu thu hẹp vùng căn cứ kháng chiến. Vùng căn cứ của bạn ngày càng được củng có và mở rộng. Nhiều bản làng có phong trào toàn diện và vững chắc như bản Mường Chăn (do cụ Xiêng Chăn cán bộ mặt trận huyện tăng cường và cụ Xiêng Mua, chủ tịch bản phụ trách), Mường Ang Khăm (do cụ Thao Dua làm chủ tịch) là những vùng có tổ chức mặt trận It-xa-la vững và đội du kích mạnh.
_______________________________________________
1. Biên bản hội nghị Liên khu ủy 16 tháng 3 năm 1951. Phần tư liệu Trung Lào 1951, lưu ở Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4.
2. Ý mười điều kỷ luật của bộ đội tình nguyện Khu 4 tại Lào. Hồ sơ lưu trữ 1950 —K.4 Bộ Quốc phòng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #88 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2024, 09:42:50 pm »


Ngày 25 tháng 11, Ủy ban kháng chiến Trung Lào và Ban cán sự Trung Lào họp kiểm điểm tình hình năm 1951. Đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít chỉ đạo hội nghị, hội nghị nhận định «do nắm vững phương châm hoạt động với ý thức trách nhiệm đầy đủ của mình, các lực lượng vũ trang Trung Lào và bộ đội tình nguyện Việt Nam đạt một số thắng lợi quan trọng, Ủy ban kháng chiến và mặt trận It-xa-la được kiện toàn, nhiều thôn bản thành lập được chính quyền và các tổ chức quần chúng. Cơ sở cách mạng được củng cố ở một số vùng dọc Trường Sơn như Căm-cốt, Bou La Pha, Tà Ôi, Mường Noòng, Ma Ha Xây, Keng Koọc, Nhom Ma Rát. Hội nghị chỉ rõ những -mặt còn hạn chế trong việc xây dựng chính quyền và mặt trận, chưa thật chú trọng chất lượng chính trị»1.

Hội nghị nhấn mạnh tâm quan trọng có tính chất quyết định của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng cơ sở.

Tháng 1 năm 1952, ta cùng bạn tổ chức liên tiếp bốn lớp đào tạo cho hơn 300 cán bộ sơ cấp quân sự, chính trị. Đội ngũ cán bộ này đã góp phần quan trọng đưa phong trào kháng chiến toàn khu phát triển. Mặt trận Ít-xa-la đã có 419 tổ chức cơ sở. Lực lượng vũ trang địa phương phát triển mạnh: vùng Ma Ha Xây có hơn 100 du kích, vùng Mường Noòng có 600 du kích và một trung đội bộ đội địa phương, vùng Bou La Pha có 200 du kích và một trung đội bộ đội địa phương, vùng Tha Phay Ban có 1.000 du kích và hai trung đội bộ đội địa phương. Chỉ huy các đơn vị là những cán bộ trung kiên trưởng thành lên từ phong trào kháng chiến.

Cuối năm 1952, trung Lào đã có 120 tiểu đội du kích, bốn trung đội, hai đại đội bộ đội địa phương và hai đại đội chủ lực khu.

Địch tổ chức liên tiếp nhiều trận còn nhằm đánh phá cơ sở kháng chiến, tiêu diệt lực lượng vũ trang non trẻ của bạn và bộ đội tình nguyện Việt Nam. Ngày 18 tháng 7 hai cánh quân gồm 600 tên từ Xà-vẳn-nạ-khệt và Thà Khẹt càn vào Bou-la-pha, Ăng-khăm. Đại đội 72 và trung đội địa phương cùng dân quân du kích được đồng bào địa phương báo tin, liền bố trí các tổ bắn tỉa, đánh mìn, chông, phục kích nơi hiểm yếu. Ông chủ tịch bản Hom chỉ huy đội du kích đặt sẵn mìn giữa hai phiến đá, nơi địch thường ùn lại trước khi qua suối. Mìn nổ, 14 tên bị diệt, nhiều tên bị thương, cánh quân phía bản Tha Phay Chen cũng vấp mìn và bị bắn tỉa. Cuộc càn của địch bị thất bại.

Đội du kích Pha Băng và đội cơ sở 14 phục kích diệt một trung đội địch, tên đồn trưởng Xiêng Tai phải đền tội! Đội du kích Na Khôm và đại đội 6 phục kích diệt hai tiểu đội, bắn chết tên đồn trưởng Sép Tin.

Các cách đánh sáng tạo, linh hoạt của du kích và bộ đội ta đã nhằm trúng điểm yếu của địch, làm cho thế mạnh của chúng là quân đông, vũ khí tốt mà không phát huy được. Địch bị tiêu hao mà lực lượng ta được bảo toàn, căn cứ kháng chiến vẫn được giữ vững.

Tuy vậy, phong trào đấu tranh trong địch hậu vẫn còn rất nhiều khó khăn. Đi đôi với việc tăng cường khủng bố, bắn giết, địch còn sử dụng các thủ đoạn kinh tế mị dân, như phát tiền truy lĩnh cho những người đi phu năm trước, cho vợ con binh lính được hưởng lương, miễn trừ các thứ thuế và phu phen tạp dịch; người nào ly khai cách mạng về với địch được ưu đãi vật chất, trụy lạc hóa thanh niên, biến họ thành thổ phỉ. Những thủ đoạn thâm độc ấy đã lôi kéo được một số quần chúng lạc hậu và những cán bộ cầu an, hưởng lạc. Một số nơi, cán bộ cơ sở phải bật ra khỏi địa bàn, du kích phải hoạt động bí mật. Đầu năm 1953, Ban cán sự Trung Lào và Ủy ban kháng chiến Trung Lào về cơ sở tuyên truyền vận động, hướng dẫn nhân dân đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch và đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, củng cố lại phong trào.

Đầu năm 1953, cùng với các biện pháp trên, bạn và ta đã tiếp tế đều đặn những công cụ sản xuất thô sơ như: dao, rựa và hàng tiêu dùng như nồi, chảo, vải, gạo, muối cho đồng bào các địa phương, kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh.

Được sự thỏa thuận giữa Ủy ban kháng chiến Trung Lào và Bộ tư lệnh Liên khu 4, trung đoàn 120 (đổi thành trung đoàn tình nguyện 280) phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ hoạt động trên các địa bàn giáp ranh đồng bằng.

Tháng 4 năm 1953, Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào và Trung ương Đảng ta chủ trương mở chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, mở rộng vùng giải phóng, phát triển ảnh hưởng của chính phủ kháng chiến Lào.

Phối hợp với chiến dịch Thượng Lào, quân và dân Trung Lào cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, buộc chúng phải bỏ 15 vị trí dọc đường số 8, 12, 13, co về phòng thủ trong các đô thị.

Trong chiến dịch lịch sử này, quân dân các dân tộc Trung Lào đã đóng góp 1.500 dân công, vận chuyển 80 tấn gạo cung cấp cho tiền tuyến. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, liên quân hai tỉnh Nghệ An — Xiêng Khoảng đã tiến hành đợt truy quét bọn phỉ ẩn náu dọc biên giới làm sạch địa bàn vùng giải phóng.

Ngày 15 tháng 5 răm 1953, chiến dịch Thượng Lào kết thúc thắng lợi, gần 40.000 ki-lô-mét vuông với 300.000 dân đã được giải phóng. Căn cứ địa kháng chiến của hai nước nối liền một dải.


*

*       *

Cùng với các chiến truờng cả nước, Liên khu 4 đã vượt tiếp một chặng đường nữa đầy gian khổ thử thách của cuộc kháng chiến (1951 —1953). Bình—trị—Thiên đã chiến thắng oanh liệt cả địch họa và thiên tai, đánh thắng cả giặc xâm lược và giặc lũ lụt, tiếp tục xây dựng cả lực lượng và thế trận ngày càng vững mạnh. Thanh - Nghệ— Tĩnh đã có bước phát triển mới cả trong xây dựng và bảo vệ hậu phương, xây dựng toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là đã phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất, chiến đấu thắng lợi cả ở vùng ven biển phía đông, vùng biên giới phía tây và các vùng xung yếu trong nội địa.

Mặt trận Trung Lào có bước phát triển mới cả của bạn và ta. Đó là những thành quả quý báu và cũng là những mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh nhân dân trên địa bàn bắc Trung Bộ, đẩy mạnh toàn diện và kết hợp chặt chẽ quân sự và chính trị, phản đế và phản phong, dân tộc và dân chủ, chiến đấu và xây dựng, chiến tranh du kích, chiến đấu tập trung, lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội chủ lực, nổi bật là xây dựng đại đoàn chủ lực. Tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cả ở tiền tuyến và hậu phương, dân tộc và quốc tế.

Đó cũng là những điều kiện cơ bản, quan trọng để quân và dân liên khu tiến lên giành thắng lợi toàn diện, to lớn hơn nữa trong thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
_____________________________________________

1. Biên bản hội nghị của Ủy ban kháng chiến Trung Lào và Ban cán sự Trung Lào kiểm điểm năm 1952. Hồ sơ 45 — K4 Bộ Quốc phòng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #89 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 08:27:26 pm »


CHƯƠNG V
CÙNG CẢ NƯỚC TIẾN HÀNH CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953 -1954, KẾT THÚC VẺ VANG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP


Sau chiến thắng Tây Bắc và Thượng Lào, hình thái chung của cuộc chiến tranh và chiều hướng so sánh lực lượng hai bên phát triển ngày càng có lợi cho ta, không lợi cho thực dân Pháp xâm lược. Càng đánh, lực lượng vũ trang ta càng mạnh, liên tiếp giành thắng lợi và ngày càng phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường toàn quốc. Thực dân Pháp bị thua đau, hao người tốn của, càng thêm bị động lúng túng. Ngay trong nước Pháp phong trào đấu tranh của nhân dân đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam lên cao. gay cho giới căm quyền nhiều khó khăn, bế tâc. Nguy cơ thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam càng đến gần.

Trước tình hình đó, chính phủ Pháp một mặt tích cực tranh thủ viện trợ tối đa của Mỹ, mặt khác cố gắng tập trung tiềm lực của nước Pháp nhằm chuyển tình thế bằng một thắng lợi quân sự để kết thúc chiến tranh «trong danh dự”. Được Mỹ viện trợ, thực dân Pháp ráo riết thực hiện kế hoạch Na-va mà trọng tâm là tổ chức khối chủ lực tác chiến mạnh1. Trên cơ sở đó, quân Pháp sẽ chuyển sang thực hành tiến công trên chiến trường Đông Dương.

Đến lúc này, ta đã có nhiều biện pháp tích cực tiến hành kết hợp tác chiến với xây dựng ba thứ quân lớn mạnh. Về khối chủ lực cơ động ta đã xây dựng được sáu đại đoàn bộ binh, thêm hai tiểu đoàn pháo 105 mi-li-mét, sáu tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mi-li-mét. Các trung đoàn chủ lực của các liên khu, các trung đoàn tình nguyện ở Lào và Cam-pu-chia được củng cố vững mạnh. Bộ đội địa phương với hàng chục tiểu đoàn tỉnh, hàng trăm đại đội huyện được xây dựng đủ sức đánh địch, làm lực lượng nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích tại chỗ và sẵn sàng bổ sung cho bộ đội chủ lực. Dân quân du kích ngày càng phát triển đông đảo và củng cố vững chắc.

Sau khi phân tích kỹ tình hình địch và ta, hiểu rõ âm mưu chiến lược mới của địch, nắm chắc hình thái chiến trường, tháng 9 năm 1953 Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953— 1954 nhằm phá vỡ âm mưu chiến lược mới của địch, giành một thắng lợi quyết định làm chuyển biến cục diện cuộc kháng chiến. Nội dung chiến lược của cuộc tiến công lần này là: Giữ vững quyền chủ động, đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng, phối hợp trên phạm vi cả nước và trên toàn Đông Dương.

Ở Liên khu 4 vào cuối năm 1953, cục diện chiến trường có nhiều thay đổi.

Ngày 15 tháng 10 năm 1953, địch mở cuộc hành quân lớn mang tên Hải Âu (Mouette), đánh ra tây nam Ninh Bình, uy hiếp Thanh Hóa, kết hợp với hành động tập kích ven biển, kích động bọn phản động nội địa quấy rối đánh phá hậu phương, đẩy mạnh hoạt động ở miền tây và ném bom bắn phá các đường giao thông quan trọng, đánh cơ sở kinh tế đông dân ở Thanh — Nghệ —Tĩnh, nhằm ngăn chặn tiếp tế của ta từ hậu phương ra các chiến trường.

Trong vùng tạm bị chiếm Bình — Trị — Thiên, địch thực hiện càn quét ác liệt và ra sức bắt lính. Chúng càn quét có trọng điểm vùng đồng bằng đông dân, nhiều của, vùng xung yếu về chính trị và địa bàn quan trọng về quân sự, dồn làng tập trung dân, lập vành đai trắng ven đường số 1 và đường xe lửa. Cuối năm 1953 ở Bình —Trị — Thiên địch đã xây dựng thêm sáu tiểu đoàn, đưa tổng số quân lên trên 30.000 tên, gấp ba lần số quân năm 1949, được tổ chức thành năm tiểu đoàn cơ động, 16 tiểu đoàn chiếm đóng và ba tiểu đoàn pháo.

Ở Trung Lào, địch tăng cường hai trung đoàn cơ động đóng giữ các vị trí quan trọng trên các đường số 8, 12, 9 và các thị xã để đối phó với các hoạt động của bộ đội tình nguyện và lực lượng vũ trang cách mạng Lào, đồng thời ngăn chặn các cuộc tiến công của ta từ phía đông sang.

Bước vào Đông Xuân 1953 - 1954, trên chiến trường Bình —Trị —Thiên lực lượng tác chiến của ta chỉ có bộ đội địa phương và dân quân du kích2. Tuy vậy được chiến thắng liên tiếp trên chiến trường chính cổ vũ cùng với sự nỗ lực cao độ của quân và dân địa phương, phong trào chiến tranh du kích ở Bình - Trị - Thiên vẫn giữ vững và phát triển. Các cơ sở Đảng, du kích và nhân dân dần dần được phục hồi và mở rộng. Các cơ quan tỉnh ủy, tỉnh đội được kiện toàn, làm cho năng lực lãnh đạo và chỉ huy tác chiến được nâng cao.

Ở Thanh—Nghệ —Tĩnh, các đơn vị chủ lực của khu (kể cả đại đoàn 325) và bộ đội địa phương các tỉnh, huyện trưởng thành, kết hợp xây dựng huấn luyện với tác chiến bảo vệ hậu phương, đồng thời sẵn sàng cơ động bổ sung đi các hướng. Cùng với hoạt động của lực lượng vũ trang, không khí gấp rút huy động sức người, sức của phục vụ tiền tuyến, đẩy mạnh sản xuất trở thành phong trào sôi động trong quần chúng.

Lực lượng kháng chiến ở Trung Lào cũng phát triển, đang cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam tích cực đánh địch, xây dựng cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho Liên quân Việt-Lào thực hiện thành công kế hoạch tác chiến Đông Xuân.

Trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng hai bên tại chiến trường liên khu, quán triệt sâu sắc chủ trương chiến lược mới của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, hiểu rõ nhiệm vụ nặng nề của mình, Liên khu ủy đề ra chủ trương hoạt động cho quân và dân toàn liên khu là:

« - Xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Tích cực củng cố căn cứ du kích và phát triển khu du kích, đẩy mạnh hoạt động vùng địch tạm chiếm. Đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở đồng bằng và đánh mạnh trên các tuyến giao thông đường số 9, số 1 và đường xe lửa, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính.

- Tăng cường xây dựng và phát triển các đơn vị tình nguyện phối hợp giúp đỡ bạn về mọi mặt ở Trung Lào, xây dựng các đơn vị quân giải phóng và phát triển du kích, xây dựng căn cứ kháng chiến và cơ sở nhân dân, chuẩn bị cùng lực lượng của Bộ mở chiến dịch Trung Lào.

- Ra sức phục vụ tiền tuyến, tích cực xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; có kế hoạch bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược và đưa lực lượng đi phối hợp chiến đấu ở các chiến trường. Tranh thủ thời gian tiến hành phát động quần chúng giảm tô, cải cách ruộng đất và đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp»3.

Tình hình mọi mặt của cuộc kháng chiến có nhiều thuận lợi cho quân và dân liên khu hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị và tham gia tác chiến, phối hợp cùng toàn quân, toàn dân đưa cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 đến thắng lợi.
_____________________________________________
1. Theo kế hoạch này thì đến năm 1954, khối chủ lực tác chiến sẽ có 27 sư đoàn cơ động, gấp ba lần số binh đoàn hiện có.
2. Gồm ba tiểu đoàn tỉnh, 17 đại đội huyện, bảy đến tám nghìn dân quân du kích.
3. Nghị quyết hội nghị Liên khu ủy lần thứ 4 (15 đến 21 tháng 12 năm 1953). Tài liệu lưu trữ Phòng lịch sử quân sự Quân khu 4.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM