Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:43:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31283 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #90 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 08:31:34 pm »


I. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG.
TẤT CẢ CHO TIỀN TUYẾN ĐÁNH THẮNG

Trong Đông Xuân 1953-1954, đối với ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, địch ráo riết chuẩn bị cơ sở chính trị phản động ở nội địa, trắng trợn cấu kết với bọn địa chủ phản động, lợi dụng tôn giáo để hoạt động gián điệp, tình báo, tăng cường hoạt động phỉ, biệt kích, tập kích, kết hợp với dùng không quân đánh phá hậu phương với mức độ ác liệt hơn trước, nhất là đường giao thông chiến lược và hệ thống kho tàng của ta. Tất cả mọi hoạt động của địch đều nhằm thực hiện âm mưu cắt đứt mối liên lạc giữa hậu phương với tiền tuyến, tăng cường phá hoại mùa màng, triệt phá khả năng cung cấp cho các chiến trường. Trên cơ sở đó, phá vỡ kế hoạch tiến công chiến lược Đông Xuân và chuẩn bị đánh ba tỉnh bắc Liên khu là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh với quy mô lớn.

Sau bảy năm kháng chiến, lực lượng mọi mặt của quân và dân ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh phát triển vững chắc và trưởng thành toàn diện. Trình độ tổ chức tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích ngày càng tiến bộ. Bước vào Đông Xuân 1953 — 1954 công tác phát động quần chủng giảm tô và cải cách ruộng đất thu kết quả, bước đầu đánh đổ uy thế giai cấp địa chủ, đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân. Trên cơ sở đó nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho quân và dân, động viên mọi lực lượng hăng hái tham gia kháng chiến, tích cực bảo vệ hậu phương, phục vụ tiền tuyến và đẩy mạnh sản xuất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Ngay từ cuối năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chỉ thị: «Tích cực phá âm mưu địch đánh ra vùng tự do». Chỉ thị vạch rõ âm mưu của địch là cố gắng mở những cuộc tiến công ra vùng tự do của ta nhằm làm yếu hậu phương kháng chiến và phá hoại công cuộc phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất. Do đó ta phải tích cực phá âm mưu địch, bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, qua nghiên cứu cụ thể âm mưu và thủ đoạn của địch trên chiến trường liên khu mấy tháng cuối năm 1953, hội nghị Liên khu ủy mở rộng ngày 21 tháng 11 năm 1953 đề ra nhiệm vụ cho quân và dân ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh.

— Chấn chỉnh tổ chức lãnh đạo, song song với giải quyết thông suốt tư tưởng cho các cấp bộ Đảng và cán bộ các ngành, các cấp.

— Bảo đảm trang bị đủ vũ khí cho dân quân du kích đánh giặc, tối thiểu là vũ khí thô sơ tự tạo như bom, mìn, lựu đạn, hầm chông1.

— Động viên toàn dân tích cực tham gia bảo vệ hậu phương gắn liền với phục vụ tiền tuyến và đẩy mạnh sản xuất.

Nhằm thiết thực bồi dưỡng sức dân, đẩy mạnh kháng chiến, Liên khu ủy tiếp tục chỉ đạo phát động quần chúng giảm tô, giảm tức đợt 3, 4 và 5 cho 195 xã của ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, bao gồm cả vùng theo đạo Thiên chúa và đồng bào các dân tộc ít người, từ miền núi đến miền biển. Tổ chức cho hơn 575.600 nông dân đấu tranh trực diện với 473 địa chủ, truy thu trên 4.300 tấn lương thực chia cho nông dân. Quyền lợi thiết thực và ước mơ ngàn đời của nông dân được thực hiện. Thắng lợi đó một mặt động viên nông dân hăng hái tham gia kháng chiến, tích cực sản xuất và phục vụ tiền tuyến, mặt khác cổ vũ động viên lực lượng vũ trang ngoài mặt trận anh dũng chiến đấu tiêu diệt địch, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi.

Để bảo đảm đời sống nhân dân, đáp ứng nhu cầu cung cấp cho tiều tuyến, Liên khu ủy kịp thời lãnh đạo, tổ chức nhân dân khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất. Do sự lãnh đạo đúng đắn của Liên khu cùng với khí thế chiến thắng liên tiếp trên chiến trường chính và thắng lợi phát động quần chúng giảm tô, giảm tức ở địa phương nên mặc dù hạn hán kéo dài, nhân dân Thanh Nghệ — Tĩnh vẫn không quản ngày đêm, đem hết sức mình chống hạn cứu lúa. Với tinh thần «Mỗi bát nước là một bát cơm » hàng chục vạn nhân dân ngày đêm vật lộn với đất, với nước, đắp đập, khơi mương, tát nước, đào giếng và gánh nước tưới lúa2. Nhờ sự nỗ lực phi thường đó của nhân dân nên trong vụ chiêm 1954, diện tích sản xuất lúa vẫn tăng hơn 6.700 héc-ta so với năm 1953.

Cùng với sản xuất nông nghiệp, các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp vẫn phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cung cấp cho kháng chiến. Nhiều mặt hàng đạt năng suất cao, hạ giá thành như muối, giấy, nông cụ.

Trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất, chiến thắng thiên tai, ba tỉnh hậu phương của Liên khu đã ổn định được một phần đời sống hàng ngày của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương, đáp ứng kịp thời nhu cầu to lớn của kháng chiến.

Càng gần thắng lợi cuối cùng càng đòi hỏi phát triển lực lượng lớn. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương: đẩy mạnh xây dựng lực lượng, phát triển bộ đội chủ lực song song với củng cố, kiện toàn bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích.

Chấp hành chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh Liên khu đề ra nguyên tắc chung xây dựng lực lượng vũ trang toàn Liên khu.

— Liên khu lấy xây dựng đơn vị tiểu đoàn, tỉnh lấy xây dựng đại đội, huyện lấy xây dựng trung đội làm mục tiêu chủ yếu.

— Khu rút các đơn vị bộ đội địa phương các huyện và tỉnh lên bộ đội chủ lực phải để lại một đơn vị làm nòng cốt xây dựng đơn vị mới, kịp thời tuyển du kích và thanh niên bổ sung huấn luyện đầy đủ.

— Việc xây dựng lực lượng vũ trang phải được coi trọng cả số lượng và chất lượng.

Thực hiện chủ trương trên, trong Đông Xuân 1953 — 1954 Liên khu đã xây dựng được: bảy tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn (541) phòng không, một đại đội (98) đặc công liên khu và một trung đoàn 154 công binh của Bộ3 làm cơ sở để xây dựng các trung đoàn 270, 161 của liên khu. Cuối tháng 4 năm 1954, sau khi Bộ rút trung đoàn 53 chủ lực và tiểu đoàn 362 của Nghệ An lên Việt Bắc, lập tức hai đơn vị này được xây dựng lại.

Cùng với xây dựng bộ đội chủ lực, việc xây dựng bộ đội địa phương cũng được chú ý đúng mức, kịp thời bổ sung quân số, củng cố và kiện toàn tám tiểu đoàn của sáu tỉnh và đại đội huyện, đồng thời xây dựng thêm bộ đội địa phương cho bốn huyện Nam Đàn, Đô Lương (Nghệ An) và Như Xuân, Cẩm Thủy (Thanh Hóa), phát triển thêm một số trung đội ở các tỉnh trong liên khu.
______________________________________________
1. Lúc này Bộ tăng cường vũ khí mới cho Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đủ trang bị cho khoảng hai trung đoàn.
2. Trong chống hạn, Thanh Hóa đã huy động 418.531 người tham gia cứu lúa. Các chi đoàn thanh niên huyện Quỳnh Lưu năm ngày liền gánh nước tưới lúa.
3. Bảy tiểu đoàn bộ binh gồm: ba tiểu đoàn của trung đoàn 53 và bốn tiểu đoàn độc lập 266, 291, 310 và 195.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #91 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 09:08:43 pm »


Bên cạnh việc xây dựng bộ đội đủ số lượng, việc nâng cao chất lượng toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ cũng được coi trọng. Thông qua các đợt chỉnh huấn chính trị đã nâng cao nhận thức về bản chất giai cấp của quân đội, xác định mục tiêu lý tưởng của cán bộ, chiến sĩ chiến đấu vì lợi ích sống còn của Tổ quốc, của nhân dân lao động. Từ đó xây dựng cho bộ đội tinh thần sẵn sàng hy sinh chiến đấu, dũng cảm tiêu diệt quân thù. Việc bồi dưỡng kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội dưới mọi hình thức cũng được quan tâm. Huấn luyện tập trung cho bộ đội chủ lực, huấn luyện từng đợt ngắn cho bộ đội địa phương tỉnh và huyện. Sau mỗi đợt huấn luyện đều tổ chức diễn tập kết hợp với sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hậu phương trên địa bàn đã quy định cho từng đơn vị. Mở các lớp huấn luyện kỹ thuật đặc công cho các tiểu đoàn tỉnh và đại đoàn 325. Thông qua huấn luyện và diễn tập, trình độ chỉ huy tác chiến của cán bộ, bản lĩnh chiến đấu của bộ đội tiến bộ rõ rệt. Bộ đội chủ lực có đủ khả năng chiến đấu từ một đến hai đại đội trong đội hình tiểu đoàn, bộ đội địa phương chiến đấu được đại đội trong đội hình tiểu đoàn tỉnh, trung đội trong đội hình đại đội huyện trong phục kích và tập kích. Ngoài ra Liên khu và các tỉnh còn mở các lớp bồi dưỡng chiến thuật vận động chiến và công kiên chiến để vận dụng các cách đánh phục kích, tập kích và công đồn, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chiến đấu, nâng cao hiệu suất tiêu diệt địch.

Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang lớn mạnh có sức chiến đấu cao đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ chỉ huy giỏi vừa có kinh nghiệm chiến đấu, vừa có năng lực quản lý đơn vị. Liên khu chú trọng bồi dưỡng đề bạt cán bộ đã kinh qua rèn luyện trưởng thành trong chiến đấu và công tác. Chỉ riêng ba tháng đầu năm 1954, toàn liên khu đã đề bạt 2.066 cán bộ từ tiểu đội đến trung đội, trong đó có 12 cán bộ trung đoàn đáp ứng cả về số lượng và chất lượng cán bộ để phát triển các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương1.

Liên khu thường xuyên chỉ đạo việc chấn chỉnh xây dựng dân quân du kích, nhất là đối với vùng ven biển và các xã đang thực hiện phát động quần chúng giảm tô. Sự chỉ đạo của Liên khu sát với tình hình thực tế và đúng với quan điểm của Đảng, coi dân quân là lực lượng chiến lược trong chiến tranh giải phóng. Thông qua phát động quần chúng giảm tô, giảm tức để củng cố dân quân du kích, đưa những người không đủ tiêu chuẩn chính trị ra khỏi hàng ngũ, tăng cường quần chúng tích cực được thử thách vào làm đội ngũ dân quân du kích.

Các địa phương mở các lớp bồi dưỡng cán bộ xã, thôn, xóm, đội đủ năng lực chỉ huy dân quân du kích, xây dựng và chiến đấu bảo vệ hậu phương2. Đồng thời trang bị bom, mìn, lựu đạn và huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho dân quân du kích, nên chất lượng chiến đấu được nâng lên một bước mới. Bảo đảm được nhiệm vụ canh gác bố phòng, giữ gìn an ninh thôn xóm và cùng với bộ đội tác chiến bảo vệ hậu phương.

Công tác tuyển quân, huấn luyện tân binh giữ vai trò quan trọng và cấp bách trong việc phát triển lực lượng. Sau khi hoàn thành kế hoạch tuyển quân năm 1953, Liên khu chủ động tuyển 4.000 tân binh cho kế hoạch đầu năm 1954. Do yêu cầu cấp bách phải đáp ứng sự phát triển mới của chiến trường, Bộ Tổng tư lệnh đã giao chỉ tiêu tuyển quân cho Liên khu 4 tăng gấp ba lần so với kế hoạch đầu năm 19543.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển quân, đảng ủy các cấp tỏa xuống cơ sở tuyên truyền giáo dục nhân dân nhận rõ nhiệm vụ, động viên thanh niên sẵn sàng tòng quân giết giặc. Được thắng lợi của phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và chiến thắng trên các chiến trường cổ vũ, nhân dân càng phấn khởi động viên chồng, con, anh em lên đường nhập ngũ. Hầu hết thanh niên đều xung phong tòng quân đánh giặc cứu nước. Tinh thần đó được phản ánh sinh động trong phong trào tuyển quân của toàn liên khu, nhất là ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, điển hình là huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) chỉ tiêu tuyển quân 57 người mà có tới 639 người xung phong nhập ngũ; huyện Ngọc Lạc (Thanh Hóa) chỉ tiêu tuyển 100 người, đã có 676 người xung phong đi tuyển; tỉnh Quảng Bình chỉ lấy 250 người đã có 700 người xung phong. Hầu như cả liên khu đâu đâu cũng đều sôi động phong trào tòng quân như vậy.

Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1954, Liên khu cung cấp cho Bộ 14.553 tân binh, chưa kể quân số của trung đoàn 53 và tiểu đoàn 362 mà Bộ đã điều gọn toàn đơn vị lên Việt Bắc. Ngoài ra còn tuyển 1.833 tân binh để phát triển bộ đội chủ lực của liên khu.

Kết quả đạt được trên đây thể hiện sự nỗ lực rất lớn của nhân dân Liên khu 4, nhất là ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cho kháng chiến. Đồng thời thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn và ý chí kiên quyết của Liên khu ủy và đảng ủy các cấp. Do đó đã huy động được sức mạnh to lớn của toàn dân, cung cấp lực lượng cho các chiến trường với tinh thần «tất cả cho tiền tuyến đánh thắng».

Thắng lợi của phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và đẩy mạnh sản xuất cùng với chiến thắng liên tiếp ngoài mặt trận truyền về, tạo ra yếu tố tinh thần, vật chất to lớn để quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh thực hiện thắng lợi nhiệm vụ “Chuẩn bị đánh địch tấn công ra vùng tự do», bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến.

Ngay từ những ngày đầu Đông Xuân, chỉ thị Trung ương Đảng đã được Liên khu tổ chức học tập từ cơ quan liên khu xuống tỉnh, huyện và cơ sở, làm cho mọi người hiểu rõ âm mưu của địch, nhận thức đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ hậu phương. Không khí chuẩn bị sẵn sàng đánh địch, bảo vệ hậu phương trở thành phong trào sôi nổi trong các ngành, các cấp, trong cán bộ chiến sĩ và nhân dân.

Các cấp ủy Đảng xuống tận cơ sở tập trung lãnh đạo, tổ chức chuẩn bị mọi mặt cho dân, tổ chức tập dượt phòng tránh đánh địch, cất giấu của cải, sơ tán kho tàng và tập dượt sơ tán dân. Các địa phương chủ động tổ chức canh gác, bố phòng, phối hợp chặt chẽ với công an sẵn sàng đánh địch. Do đó khi bị địch đánh phá, nhân dân đỡ bị tổn thất.

Cùng với lãnh đạo, tổ chức phòng tránh, Liên khu kịp thời xác định nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang ba thứ quân kết hợp huấn luyện với sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bậu phương, đồng thời tiến hành điều chỉnh việc bố trí lực lượng sát với yêu cầu nhiệm vụ trên từng địa bàn ở Thanh — Nghệ — Tĩnh, nhất là miền núi và miền biển. Tăng cường vũ khí cho bộ đội và du kích, hướng dẫn cho du kích làm hầm chông bố trí ở các địa bàn xung yếu.

Do được chuẩn bị chu đáo, toàn diện, nên tất cả các cuộc biệt kích, tập kích, nhảy dù và hoạt động phỉ của địch vào hậu phương Khu 4 đều bị lực lượng vũ trang địa phương kịp thời đánh trả quyết liệt và giành thắng lợi. Các cuộc biệt kích của địch vào Nhượng Bạn, Nam Bình (Hà Tĩnh), biệt kích nhảy dù vào Nghĩa Môn, Đồng Lách, Phủ Quỳ (Nghệ An) và Quan Hóa, Bá Thước (Thanh Hóa) đều bị ta tiêu diệt gọn. Đặc biệt là hai trận biệt kích lớn của địch vào ven biển Thanh Hóa đã bị bộ đội địa phương và du kích chặn đánh quyết liệt.
_______________________________________________
1. Cả năm 1954, Liên khu đề bạt 3.704 cán bộ các cấp, trong đó 78,8% thuộc thành phần công nông. Cử 95 cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn ra học tại các trường của Bộ.
2. Sáu tháng đầu năm 1954, Liên khu bồi dưỡng được 651 cán bộ xã đội, 2.254 cán bộ thôn, xóm, đội.
3. Kế hoạch đầu năm 1954, Bộ giao cho Liên khu tuyển 4.200 tân binh cho Bộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #92 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 09:09:30 pm »


Ngày 19 tháng 5 năm 1954, địch cho 125 tên biệt kích với năm tàu chiến và ca-nô, có máy bay yểm hộ đổ bộ lên Cự Nham (huyện Quảng Xương). Vừa đặt chân lên bờ chúng đã bị bộ đội và du kích chặn đánh diệt 16 tên, buộc phải rút lui.

Ngày 22 tháng 5, 350 tên địch cùng tàu chiến và ca-nô có máy bay yểm hộ đổ bộ lên Du Xuyên (huyện Tĩnh Gia). Với tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, cấp ủy và chính quyền ở đây đã kịp thời hướng dẫn nhân dân sơ tán tránh địch và tổ chức dân quân du kích nhanh chóng triển khai tác chiến kìm chân địch. Tỉnh đội cho bộ đội nhanh chóng vận động đến phối hợp với du kích đánh trả quyết liệt, 121 tên địch bị chết, âm mưu biệt kích của địch bị đập tan, ta đã bảo vệ được nhân dân và địa bàn.

Phối hợp với đánh địch ở miền biển, bộ đội địa phương cùng lực lượng công an và đồng bào các dân tộc ít người, cùng du kích miền tây Thanh — Nghệ — Tĩnh tích cực phát hiện và tổ chức tiễu phỉ, khám phá, truy lùng, tiêu diệt và đánh tan nhiều ổ phỉ, bắt và tiêu diệt nhiều tên phỉ đầu sỏ như Lý Đoàn ở Nghệ An, Phạm Bá Thiện ở Thanh Hóa. Ngày 15 tháng 4 năm 1954, địch cho 49 tên phỉ nhảy dù xuống Hồi Xuân nhằm phá kho tàng, đường sá, cản trở sự chi viện từ hậu phương ra tiền tuyến của ta. Lập tức bộ đội địa phương và du kích tổ chức bao vây bắt gọn cả 49 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Ở nội địa, thông qua phát động quần chúng, công an ta đã khám phá nhiều ổ phản động tay sai địch, kịp thời trừng trị đích đáng. Do đó trật tự trị an ở nội địa bảo đảm tốt, cơ quan kho tàng và công xưởng được bảo vệ vững chắc.

Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, địch phải rút một số vị trí ở nam đồng bằng Bắc Bộ. Do đó, bọn địch ở Nga Sơn trở nên cô lập. Khi bị bộ đội địa phương tỉnh Thanh Hóa phối hợp với dân quân du kích Nga Sơn tiến công, chúng vội vàng rút khỏi Nga Sơn. Tháng 6 năm 1954 huyện Nga San được hoàn toàn giải phóng.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước vào giai đoạn giành thắng lợi quyết định, nên yêu cầu bảo đảm cung cấp cho bộ đội đánh thắng trên các hướng chiến dịch cũng trở nên cấp bách. Để giải quyết vấn đề cung cấp to lớn cho các chiến trường, Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho Liên khu 4 bảo đảm cung cấp hai hướng chiến lược quan trọng là Trung Lào và Điện Biên Phủ, trong đó tỉnh Thanh Hóa và một phần tỉnh Nghệ An cung cấp cho chiến dịch Điện Biên Phủ, tỉnh Hà Tĩnh và một phần tỉnh Nghệ An cung cấp cho chiến dịch Trung Lào. Nhiệm vụ đó phải hoàn thành vào cuối năm 1953 đầu năm 1954.

Nhận nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao cho trong điều kiện Liên khu đang gặp khó khăn rất lớn, vừa mới dốc sức hoàn thành cung cấp cho hai chiến địch Tây Bắc (cuối năm 1952) và Thượng Lào (giữa năm 1953), nên khả năng dự trữ của Liên khu lúc này đã cạn. Trong khi đó thiên tai, địch họa liên tiếp xảy ra, các hệ thống thủy lợi bị địch đánh phá làm cho vụ mùa năm 1953 thiệt hại nặng, vụ chiêm 1954 lại gặp rét và hạn hán trên cả ba tỉnh Thanh — Nghệ — Tĩnh, đời sống nhân dân và cán bộ khó khăn thiếu thốn. Tuy vậy, quyết tâm của Liên khu và ba tỉnh là gấp rút chuẩn bị gần 5.000 tấn lương thực, thực phẩm sẵn sàng ở các trạm tập kết để đi theo bộ đội sau khi chiến dịch bắt đầu và phát triển. Liên khu còn huy động dân công làm mới con đường Nam Đàn — Rú Chét, Linh Cảm — Khe Giao. Sửa chữa đường Khe Giao — Địa Lợi — Chu Lễ — Tân Ấp — Xóm Cục; Linh Cảm — Phố Châu — Na Pê. Công nghiệp đóng phà lúc này còn chậm, phải sáu tháng thi công mới xong một chiếc phà. Sau khi đã có gạo, thực phẩm và sửa chữa xong các tuyến đường giao thông, Liên khu đã huy động gần 53.000 người, 2.217 xe đạp thồ, 342 xe cút kít, 1.048 thuyền vận tải lớn, nhỏ vận chuyển số lương thực đã chuẩn bị vào các trạm, kho vừa mới làm đạt yêu cầu tiện lợi và bí mật.

Dân công được biên chế như một tổ chức quân sự từ tổ ba người trở lên, có các đồng chí đảng viên, quần chúng tích cực phụ trách chỉ huy trung đội, đại đội, tiểu đoàn. Các tổ chức Đảng được thành lập các địa phương cử các cấp ủy viên trực tiếp phụ trách. Các công an viên được cử đi theo các đoàn dân công để làm công tác bảo vệ nội bộ.

Các phương tiện bảo đảm cho dân công được chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, từ gạo ăn đường, thực phẩm, bao bì, bồ thúng, quang gánh, đến bông băng, nhân viên cứu thương, trạm cấp cứu, các trạm ăn, nghỉ dọc đường... Lực lượng dân công hỏa tuyến bảo đảm hai chức năng, vừa vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí cho bộ đội, vừa chuyển thương binh, liệt sĩ vô hậu tuyến. Dân công hỏa tuyến được chọn lựa trong số thanh niên, thanh nữ có tinh thần, đủ sức khỏe đuổi theo bước hành quân chiến đấu của bộ đội. Với tinh thần đó, Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh, nam Nghệ An đã bảo đảm tốt việc phục vụ cho chiến dịch Trung Lào, góp phần rất quan trọng đưa chiến dịch Trung Lào đến thắng lợi.

Thi đua với Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh và nam Nghệ An, Đảng bộ Thanh Hóa và bắc Nghệ An đã dốc hết nhân tài, vật lực phục vụ cho hướng chiến dịch Điện Biên Phủ: hơn 8.000 tấn lương thực, 2.000 tấn thực phẩm khô tập kết đầy đủ ở Vạn Mai, Mộc Châu, Yên Châu.

Để bảo đảm được một khối lượng lương thực, thực phẩm đến các vị trí trên, Liên khu đã huy động lực lượng công binh đánh mìn, phá thác, khai thông đường thủy ngược dòng sông Mã, đồng thời sửa chữa đường bộ cho ô tô, người đi bộ, xe thồ thông suốt và bí mật.

Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa, bắc Nghệ An đã phải huy động lượng lương thực dự trữ phân tán trong từng hộ gia đình nông dân, trong lúc lượng dự trữ của nông dân đã cạn. Khó khăn chồng chất khó khăn, đồng chí Bí thư Liên khu ủy cùng các đồng chí tỉnh ủy Thanh Hóa, Nghệ An đã trực tiếp xuống các địa phương giúp các cấp ủy địa phương tiến hành huy động đợt lương thực, thực phẩm cấp bách và quan trọng này.

Ở Nghệ An, tỉnh ủy phát lệnh tổng động viên vào sáng mồng một Tết Nguyên đán (1954). Hơn 30.000 dân công, 2.000 xe đạp thồ cùng hàng ngàn thanh niên xung phong rầm rập lên đường ra tiền tuyến.

Bước một của công tác huy động lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ đang được Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An triển khai thì ngày 15 tháng 4 năm 1954, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng thay mặt Tổng quân ủy vào sở chỉ huy tiền phương của Liên khu ở Cẩm Thủy (Thanh Hóa) trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Bí thư Liên khu ủy và đại diện Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa huy động thêm 2.000 tấn gạo, 147 tấn thực phẩm và muối để thực hiện cho được quyết tâm của Trung ương: «Tất cả cho chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng». Ngày 5 tháng 5 năm 1954 phải có đủ số lượng ở nơi quy định.

Đề có đủ số lương thực, thực phẩm trên, nhân dân lại «dốc bồ, thổ thúng» ăn ngô non, khoai non, dành gạo cho chiến sĩ chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

Tính chung, tại chiến dịch Điện Biên Phủ riêng Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã huy động 30 phần trăm số cử tri, trên 10.000 xe đạp thồ đi phục vụ chiến dịch. Nhiều kiện tướng vận chuyển xuất hiện trên đường vận tải, chiến sĩ Ma Văn Kháng đã thồ 352 ki-lô-gam một chuyến xe, chiến sĩ Cao Văn Tỵ 320 ki-lô-gam một chuyến.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đánh bại kế hoạch Na-va, giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đã từng bước giải quyết các mối quan hệ dân tộc và dân chủ, hậu phương với tiền tuyến. Thanh — Nghệ — Tĩnh sớm thực hiện giảm tô, giảm tức đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân, do đó thúc đẩy nhiệm vụ tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng và phục vụ tiền tuyến. Trên cơ sở đó, Liên khu đã tổ chức động viên được lực lượng to lớn, quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, nỗ lực phấn đấu cao độ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng chi viện và phục vụ tiền tuyến.

Sự nỗ lực phi thường của quân và dân Thanh — Nghệ — Tĩnh là một trong những nhân tố có tính chất quyết định cùng với cả nước giành thắng lợi to lớn cho cuộc tiến công chiến lược trong Đông — Xuân năm 1953 — 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #93 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 09:11:17 pm »


II. THAM GIA CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG —XUÂN 1953 — 1954

Chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng cũng như chủ trương cụ thể của Liên khu ủy đã và đang trở thành hành động cách mạng của quần chúng. Cả liên khu sôi nổi bước vào chuẩn bị mọi mặt để cùng quân và dân cả nước tiến hành cuộc tiến công chiến lược Đông — Xuân 1953— 1954.

Khẩn trương chuẩn bị lực lượng

Cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn cuối cùng. Mọi nhu cầu bảo đảm cho kháng chiến đòi hỏi rất lớn. Để đáp ứng yêu cầu đó, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh sớm giao cho Liên khu 4 nhiệm vụ nặng nề và rất quan trọng:

— Tham gia cùng quân và dân nước bạn mở chiến dịch Trung Lào.

— Tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng và bảo đảm cung cấp mọi nhu cầu phục vụ chiến dịch Trung Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ.

— Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở chiến trường Bình — Trị — Thiên, tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân địch, phối hợp với chiến trường chính.

Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đã phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt, lãnh đạo, tổ chức quân và dân toàn Liên khu gấp rút chuẩn bị lực lượng và thế trận.

Tháng 11 năm 1953, trung đoàn 53, trung đoàn chủ lực thứ nhất của Liên khu được thành lập. Cuối năm 1953 xây dựng trung đoàn 270 chuẩn bị vào hoạt động ở Bình — Trị — Thiên.

Từ đầu năm 1954 trở đi, các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng của Liên khu và của Bộ lần lượt ra đời trên chiến trường Liên khu 41. Bộ đội địa phương các tỉnh, huyện ngày càng phát triển với tám tiểu đoàn tỉnh và 60 đại đội huyện. Dân quân du kích ngày càng được củng cố vững chắc.

Sau khi hoàn thành kế hoạch tuyền quân năm 1953, Liên khu chủ động tuyển thêm 4.000 tân binh cho kế hoạch năm 1954. Trung đoàn 44 tích cực huấn luyện tân binh và bổ sung hàng ngàn quân cho các đơn vị, đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thường xuyên và đột xuất của Bộ.

Triển khai kế hoạch tác chiến Đông —Xuân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho Liên khu 4 phải bảo đảm đủ số lượng dân công, lương thực, thực phẩm, thuốc men theo chỉ tiêu đã được phân bổ. Ngoài ra, phải bảo đảm giao thông thông suốt cho các hướng chiến lược. Nhận rõ yêu cầu khẩn thiết của nhiệm vụ, mặc dù khó khăn rất lớn, Liên khu ủy vẫn quyết tâm lãnh đạo quân và dân toàn liên khu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Phần lớn cán bộ từ liên khu đến các tỉnh, huyện đều xuống cơ sở trực tiếp động viên, giáo dục nhân dân, bố trí lực lượng, huy động nhân lực và của cải để vừa bảo đảm cung cấp kịp thời mọi nhu cầu của chiến trường, lại vừa bảo đảm được sản xuất, ổn định đời sống và các hoạt động khác ở hậu phương. Nhờ sự lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ, chu đáo, nên đã động viên được tinh thần hăng hái của nhân dân đóng góp sức người và sức của phục vụ tiền tuyến. Liên khu đã huy động được hàng chục vạn tấn lương thực, thực phẩm và thuốc men, hàng chục vạn dân công dài hạn, ngắn hạn làm nhiệm vụ giao thông vận tải cho các hướng mở chiến dịch.

Liên khu ủy quyết định đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Liên khu ủy trực tiếp chỉ đạo Thanh Hóa phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ; thành lập Ban cung cấp mặt trận D (mặt trận Trung Lào) do đồng chí Nguyễn Văn Thân, khu ủy viên phụ trách.

Sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng vũ trang, về sức người và sức của phục vụ tiền tuyến đã tạo cơ sở vững chắc cho quân và dân Liên khu 4 cùng với cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong cuộc tiến công chiến lược Đông —Xuân mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
______________________________________________
1. Tháng 1 năm 1954, xây dựng trung đoàn 161 bộ binh, trung đoàn 154 công binh của Bộ, đại đội 98 đặc công, thông tin, tháng 4 năm 1954, xây dựng tiểu đoàn 541 phòng không của Liên khu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #94 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 09:13:46 pm »


Tham gia chiến dịch Trung Lào

Tháng 11 năm 1953, trước khi ta và bạn mở chiến dịch, lực lượng địch ở Trung Lào có năm tiểu đoàn, chủ yếu là quân ngụy Lào đóng rải rác trên các đường số 8, 12 và 9 là chính. Ngoài ra ở Sê Nô còn có hai đại đội. Tuyến phòng thủ của địch còn sơ sài.

Đầu tháng 12 năm 1953, phát hiện được lực lượng và hướng tiến công của ta, địch vội vàng điều đến Trung Lào sáu tiểu đoàn cơ động và một tiểu đoàn pháo để đối phó1. Chúng tổ chức phòng ngự thành nhiều tuyến trên đường số 8 và số 12, ra sức củng cố công sự, nhất là các vị trí then chốt như Ba Na Phào, Na Pê. Ngoài việc tăng cường phòng ngự, địch tổ chức các cuộc tiến công ra vùng căn cứ du kích của bạn và ta ở Trung Lào, thọc sâu ra vùng biên giới Việt— Lào để thăm dò lực lượng ta.

Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu khẩn trương lãnh đạo, chỉ huy công tác chuẩn bị chiến dịch. Củng cố trung đoàn 280 tình nguyện đủ ba tiểu đoàn, tổ chức các đại đội độc lập, tăng cường 200 cán bộ cho Ban cán sự Trung Lào. Đồng chí Võ Thúc Đồng, Chính ủy Liên khu được cử sang trực tiếp làm Bí thư Ban cán sự và Chính ủy quân tình nguyện. Đồng chí Trường Sinh, trung đoàn trưởng trung đoàn 280 và đồng chí Bí thư Ban cán sự cùng với đồng chí Khăm Tày, Tư lệnh khu Trung Lào họp bàn chuẩn bị lực lượng và thống nhất kế hoạch hoạt động phối hợp trên chiến trường; tổ chức các lớp đào tạo cán bộ tỉnh, huyện và xã ở Trung Lào để chuẩn bị thành lập chính quyền và tiếp thu vùng mới giải phóng. Đồng thời cán bộ ta phối hợp với bạn đi vào từng xã, bản vận động nhân dân, xây dựng cơ sở lực lượng vũ trang ở vùng Ma Ha Xây, Bou La Pha, Tà Ôi, Mường Noòng, ven đường số 9 và Căm Cớt, tổ chức được năm đại đội Pa-thét Lào, động viên nhân dân Lào đóng góp lương thực, thực phẩm để phục vụ chiến đấu. Thành lập các trạm vận tải từ Nghệ —Tĩnh sang Trung Lào, huy động hàng chục vạn dân công và nhiều phương tiện vận chuyển lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược cung cấp cho chiến dịch. Tổ chức 2.000 thanh niên xung phong ở Nghệ — Tĩnh đi cùng các mũi tiến công của đại đoàn 325 trong chiến dịch Trung Lào.

Mọi việc chuẩn bị đã hoàn thành, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công địch ở Trung Lào.

Đại đoàn 325 có nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai và một bộ phận nhân dân, mở rộng và củng cố vùng giải phóng Trung Lào, cắt đứt đường giao thông Bắc - Nam Đông Dương của địch, buộc chúng phải điều quân cơ động đến giữ Trung Lào và do đó phá thế tập trung quân của tướng Na-va ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ; đồng thời phá thế uy hiếp của địch đối với ba tỉnh Thanh —Nghệ — Tĩnh, bảo vệ hậu phương chiến dịch, phối hợp chặt chẽ với các đòn tiến công khác của ta trong Đông — Xuân 1953 - 1954.

Phương châm tác chiến là chủ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ, đánh chắc, diệt gọn.

Về sử dụng lực lượng:

— Trung đoàn 101, tiểu đoàn 274 của trung đoàn 18 thuộc đại đoàn 325, cùng với trung đoàn 66 thuộc đại đoàn 304 làm nhiệm vụ đánh địch, giải phóng một phần Trung Lào.

— Tiểu đoàn 436 thuộc trung đoàn 101 được tăng cường ĐKZ-75 ly, đặc công, trinh sát làm nhiệm vụ thọc sâu xuống Hạ Lào cùng với bộ đội tình nguyện và quân giải phóng Lào tiến công tiêu diệt địch, giải phóng một phần Hạ Lào. Các tỉnh ủy Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên phải bảo đảm dân công, lương thực, thực phẩm cho tiểu đoàn 436 hành quân trên địa phận tỉnh mình.

Trung đoàn 18 (thiếu một tiểu đoàn) giai đoạn đầu phối hợp với lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên đánh địch ở đường số 9 — Quảng Trị, cắt đứt đường tiếp viện Trung Lào của địch, tiếp đó theo đường số 9 phát triển đánh địch ở Sê Pôn, Mường Phìn.

— Trung đoàn 95 ở lại Hà Tĩnh làm lực lượng dự bị của Bộ. Trước mắt, đơn vị cùng với bộ đội địa phương và du kích Hà Tĩnh sẵn sàng đánh địch, giữ vững hậu phương chiến dịch.

Tham gia chiến dịch còn có lực lượng vũ trang Trung Lào, Ban cán sự, đoàn công tác cơ sở, trung đoàn 280 quân tình nguyện Liên khu 4 và tiểu đoàn 290 Hà Tĩnh đang hoạt động ở đây cùng phối hợp tác chiến. Liên khu tăng cường đại đội 124 huyện Thanh Chương lên hoạt động ở vùng Căm Cớt, một đại đội của huyện Con Cuông và tiểu đoàn 198 Nghệ An được tăng cường bộ đội trinh sát, đặc công hoạt động ở vùng Pắc Xan.

Cuối tháng 11 năm 1953, các đơn vị tiến quân vào các hưởng chiến dịch đã quy định.

Ngày 19 tháng 11 năm 1953, tại địa điểm tập kết, đồng chí Phùng Duy Phiên, tham mưu trưởng mặt trận phổ biến kế hoạch tác chiến cho cán bộ đại đoàn 325.

Ngày 12 tháng 12 năm 1953, trong lúc các đơn vị đang hành quân cài thế đánh địch ở Trung Lào thì ở chiến trường chính Bắc Bộ, đại đoàn 316 nổ súng tiến công giải phóng Lai Châu. Cuộc tiến công chiến lược Đông — Xuân 1953 - 1954 bắt đầu.

Ở mặt trận Trung Lào, ngày 21 tháng 12 năm 1953, trung đoàn 101 do đồng chí Trần Văn Bành làm trung đoàn trưởng và đồng chí Hoàng Văn Thái làm chính ủy chỉ huy đơn vị tiến quân vào Khăm He thì gặp địch, trung đoàn dùng hai tiểu đoàn 328 và 274 bất ngờ tập kích địch vào mờ sáng ngày 22 tháng 12, tiêu diệt một tiểu đoàn Âu —Phi và đại đội pháo 105 mi-li-mét, làm chủ trận địa. Trận Khăm He là trận mở màn chiến dịch thắng lợi giòn giã, đánh một đòn mạnh vào tinh thần binh lính địch ở Trung Lào.

Phát huy thắng lợi vừa giành được, rạng sáng ngày 23 tháng 12, toàn đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công địch ở Kha Ma. Sau năm giờ chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Bắc Phi, bắt 90 tên. Chiến thắng Kha Ma mở đường cho ta đập nát tuyến phòng ngự đường số 12 của địch.

Sau hơn một ngày chiến đấu, trung đoàn 101 và tiểu đoàn 274 đã tiêu diệt hai cứ điểm lớn, làm rung chuyển toàn bộ tuyến phòng thủ phía đông của địch ở Trung Lào, khiến cho tinh thần binh lính chúng suy sụp nhanh chóng. Địch vội vàng tháo chạy khỏi các vị trí còn lại ở đường số 8 và đường số 12 về Nhom Ma Rát và Thà Khẹt cố thủ để giữ con đường giao thông huyết mạch Bắc — Nam Đông Dương.
______________________________________________
1. Tám tiểu đoàn cơ động gồm ba tiểu đoàn thuộc binh đoàn cơ động số 2 (GM2) và ba tiểu đoàn lẻ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #95 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 09:14:47 pm »


Trước tình thế hỗn loạn của địch, Bộ chỉ huy mặt trận chỉ thị cho tất cả các đơn vị ở Trung Lào gấp rút đánh vào các mục tiêu đã quy định.

Trưa ngày 23 tháng 12 năm 1953, trung đoàn 66 tiến đến đông bắc Ba Na Phào thì được tin địch rút khỏi Mụ Giạ và Ba Na Phào về hướng Pà Cuội. Quyết không cho địch chạy thoát, tiểu đoàn 782 được cán bộ cơ sở của ta và du kích Lào dẫn đường đã chạy tắt rừng đuổi địch đang rút chạy bằng xe cơ giới. Quân ta nhanh chóng vượt sông Sê Băng Phai, tiến công tiêu diệt tiểu đoàn Bắc Phi số hai và bọn ngụy Lào ở Pà Cuội.

Cùng ngày, Trung đoàn 101 phối hợp với đơn vị bộ đội tình nguyện, liên tiếp tiến công quét sạch các cụm chốt chặn và các ổ kìm kẹp của địch dọc đường số 12 từ cầu Bi Lan đến Na Hang. Hai ngày sau, quân ta tiến vào Nhom Ma Rát thì địch đã rút hết.

Trong thời gian này, trên đường số 6, quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa-thét Lào đánh chiếm Pắc Xan, mở chốt quan trọng trên đường số 13, cắt đứt giao thông giữa Thượng Lào với Trung Lào. Tiểu đoàn 319 thuộc trung đoàn 101 và đại đội 12 quân tình nguyện về chậm, nên khi tới Lạc Xao, Na Pê, Căm Cớt thì địch đã rút hết bằng máy bay về Xà-vẳn-nạ-khệt ngày 25 tháng 12, bỏ lại 74 xe ô tô quân sự.

Trước sức tiến công mãnh liệt của Liên quân Việt — Lào, địch không đủ sức cố thủ Thà Khẹt, đã tháo chạy thục mạng về Sê Nô. Sáng ngày 26 tháng 12 năm 1953, trung đoàn 101 và bộ đội Pa-thét Lào tiến vào giải phóng thị xã Thà Khẹt.

Sau năm ngày liên tục chiến đấu, bộ đội Việt — Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.200 tên địch, hầu hết là lính Âu—Phi tinh nhuệ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Khăm Muộn và thị xã Thà Khẹt, cắt đứt Thượng Lào với Trung Lào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợt một của chiến dịch. Chiến thắng đó tạo thế cho Liên quân Việt — Lào phát triển tiến công xuống phía nam, bồi tiếp cho địch những đòn mạnh hơn nữa.

Mất toàn bộ tỉnh Khăm Muộn, làm cho địch ở Trung Lào trở nên nguy ngập. Để cứu vãn tình thế, cuối tháng 12 năm 1953, Na-va vội điều thêm binh đoàn cơ động số một (GM1) và binh đoàn dù số một ở Bắc Bộ đến Xà-vằn-nạ-khệt, đưa lực lượng địch ở Trung Lào lên 20 tiểu đoàn bộ binh, bốn tiểu đoàn pháo, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm Sê Nô.

Sau chiến thắng đợt một, bộ đội ta vẫn còn sung sức, ta đánh tiếp xuống phía nam. Tuy vậy, việc bảo đảm cung cấp gặp khó khăn lớn. Vùng giải phóng khá rộng, cơ sở còn yếu, nên dễ bị địch tập kích sau lưng.

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh mặt trận chủ trương:

— Bao vây quân cơ động của địch ở Sê Nô, tranh thủ củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng, kết hợp với truy quét tàn binh địch.

— Nhân lúc địch chưa kịp củng cố, tranh thủ mở tiếp đợt tiến công thứ hai phá vỡ tuyến phòng thủ đường số 9, giải phóng một bộ phận tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt, nối liền căn cứ Khăm Muộn với Mường Noòng.

Muốn bảo đảm thắng lợi, phải tập trung giải quyết việc cung cấp, đồng thời đưa một bộ phận xuống nắm địch ở đường số 9 và Sê Nô. Kế hoạch sử dụng lực lượng và chuẩn bị cung cấp như sau:

— Trung đoàn 101 hoạt động cắt đường số 13, uy hiếp Sê Nô, phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào mở rộng vùng giải phóng xuống Xà-vẳn-nạ-khệt, sẵn sàng đánh bại âm mưu của địch chiếm lại Thà Khẹt.

— Tiểu đoàn 274 hoạt động vùng đường số 12, xây dựng cơ sở bảo đảm an toàn hậu phương chiến dịch.

— Trung đoàn 66 tiến công tiêu diệt một số vị trí địch ở Hìn Xìu, Đồng Hến, sau đó chuyển sang đánh viện trên đường số 9, giữa Đồng Hến và Pha Lan, tạo điều kiện giải phóng phía đông tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt.

— Trung đoàn 18 cùng với bộ đội địa phương và du kích Hướng Hóa, Cam Lộ đẩy mạnh tác chiến ở đường số 9 và tây Quảng Trị, chuẩn bị phối hợp với trung đoàn 66 tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ đường số 9 của địch, nối liền Quảng Trị với Trung Lào.

— Tổ chức 21 trạm vận tải cho đường số 9, sử dụng tiểu đoàn 804 công binh thuộc đại đoàn 304 và 1.200 thanh niên xung phong của Nghệ — Tĩnh vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược, thuốc men phục vụ chiến đấu, sử dụng chiến lợi phẩm thu được của địch để đánh địch. Ngoài ra, đoàn cán bộ cơ sở của ta và bạn tỏa xuống các xã, bản vận động nhân dân Lào đóng góp lương thực, thực phẩm nuôi bộ đội hoạt động tác chiến trên đường số 9.

Nhờ sự kết hợp giữa khả năng cung cấp của hậu phương với tận dụng khai thác nguồn cung cấp tại chỗ, nên việc chuẩn bị bảo đảm cung cấp nhanh chóng hoàn thành. Ngày 1 tháng 1 năm 1954, trung đoàn 66 xuất quân. Ngày 6 trung đoàn 101 lên đường vào đợt hai của chiến dịch. Lợi dụng sơ hở của địch, các đơn vị mở một loạt cuộc tiến công mới.

Ngày 9 tháng 1, trung đoàn 66 tiến công tiêu diệt phần lớn quân địch ở Hìn Xìu.

Cùng thời gian này, trung đoàn 101 liên tiếp phục kích, tập kích quân địch hoạt động ở vùng Na Kham (thuộc bắc sông Sê Băng Phai), tiêu diệt một bộ phận quan trọng trung đoàn bộ binh thuộc địa số sáu (6è RIC) và tiểu đoàn một thuộc trung đoàn Bắc Phi số ba (1/3 RTM).

Không chịu nổi sức tiến công của Liên quân Việt — Lào ở Hìn Xìu và Na Kham, ba tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ của địch tháo chạy hỗn loạn, bị ta tiêu diệt gần hai tiểu đoàn.

Sau nhiều ngày liên tục chiến đấu, bộ đội Việt — Lào tuy tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng cũng bị tiêu hao, mệt mỏi. Thêm vào đó tình hình địch lại cơ động phức tạp, khó nắm chắc, nên ta đã lui về đông Sê Nô chấn chỉnh lực lượng, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp theo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 09:17:09 pm »


Mất Na Kham, Hìn Xìu, cứ điểm Sê Nô của chúng bị uy hiếp. Tướng Na-va phải tiếp tục điều thêm quân cơ động từ Bắc Bộ và Nam Bộ đến tăng viện, củng cố tuyến phòng ngự Sê Nô thành tập đoàn cứ điểm mạnh của địch1, thành nơi tập trung quân ngoài ý muốn và kế hoạch chiến lược của Na-va, nhưng lại nằm trong ý đồ chiến lược của ta.

Được tăng cường lực lượng, địch liền tung ra hoạt động ở bắc Sê Nô, tiến lên Ma-ha-xây, Hồng Mường, chuẩn bị chiếm lại Thà Khẹt, uy hiếp tuyến cung cấp và vùng mới giải phóng ở Trung Lào.

Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy mặt trận chủ trương: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu của địch, không cố thủ Thà Khẹt và Ma-ha-xây, mà tập trung lực lượng đánh địch ở đường số 9, phát triển xuống phía nam là nơi địch sơ hở để tiêu diệt địch.

Trung đoàn 66 được giao nhiệm vụ tiến công tuyến phòng ngự đường số 9 của địch. Ngày 24 tháng 1 năm 1954, ta đánh các vị trí Pha Lan, Sa Lai He, Sê Ta Mộc. Ngày 26 tháng 1 tiến công tiêu diệt vị trí Mường Phìn và phục kích tiêu diệt hai đại đội địch từ Đồng Hến đến tiếp viện.

Ở phía đông đường số 9, trung đoàn 18 và lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị cùng tiến công địch trên tuyến dài từ Cam Lộ đến Lao Bảo, buộc địch phải rút một loạt vị trí, ta giải phóng hoàn toàn huyện Hương Hóa và một phần huyện Cam Lộ.

Sự phối hợp ăn ý của trung đoàn 66 và trung đoàn 18 đã bẻ gẫy tuyến phòng ngự đường số 9 của địch, giải phóng miền đông tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Để cứu nguy cho bọn địch ở đường số 9, Bộ chỉ huy Pháp ở Trung Lào sử dụng binh đoàn cơ động số một và số hai tiến công nhằm chiếm lại Ma-ha-xây và Nhom Ma Rát (bắc tỉnh Xà-vẳn-nạ-khệt).

Bộ tư lệnh mặt trận kịp thời lệnh cho trung đoàn 101 đánh cánh quân địch từ Hồng Mường lên Nhom Ma Rát và phá hoại đường số 12. Nhưng trung đoàn 101 không chặn đánh được địch, vì thế ngày 15 tháng 2, chúng đã chiếm được Ma-ha-xây, lấy đó làm bàn đạp đánh chiếm Nhom Ma Rát.

Phối hợp với Mật trận đường số 9, tiểu đoàn 436 đã cùng bộ đội và du kích Hạ Lào liên tục tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Ngày 31 tháng 1, giải phóng thị xã A-tô-pơ. Ngày 1 tháng 2, giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven. Từ ngày 5 tháng 2 lần lượt tiêu diệt các cứ điểm Bung Kma, Lào Ngam, thị xã Thà Teng, giải phóng hoàn toàn phía nam tỉnh Xa-ra-van.

Sau 10 ngày liên tục chiến đấu, tiểu đoàn 436 và bộ đội Pa-thét Lào cùng lực lượng vũ trang địa phương đã giành thắng lợi giòn giã, loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 tên địch, giải phóng một vùng rộng trên 20.000 ki-lô-mét vuông, nối liền vùng giải phóng Hạ Lào với Trung Lào.

Nhờ có phương hướng chiến lược đúng đắn của Trung ương Đảng, sự lớn mạnh của lực luọng vũ trang bạn và tinh thần tham gia kháng chiến của nhân dân Lào, một tiểu đoàn tinh nhuệ của ta đã phát huy được sức tiến công mạnh, hiệu suất chiến đấu cao. Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương từ trước tới nay, đây là lần đầu tiên một lực lượng nhỏ chủ lực ta phối hợp tốt với thế trận chiến tranh du kích địa phương của bạn, đánh chiếm được cả một địa bàn chiến lược rộng lớn trong một thời gian rất ngắn.

Với một tinh thần tích cực, chủ động, kiên quyết và liên tục tiến công địch, với ý thức khắc phục khó khăn rất cao, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, với tốc độ vận động nhanh, hành động táo bạo, mãnh liệt, với cách đánh linh hoạt, triệt để khai thác yếu tố bí mật, bất ngờ, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 436 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch và lập chiến công vẻ vang, được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng huân chương Quân công hạng hai.

Suốt đợt ba của chiến dịch, trung đoàn 66 được sự phối hợp của trung đoàn 18, lực lượng vũ trang Lào và đơn vị quân tình nguyện đã tiêu diệt sáu vị trí, năm đại đội địch, chặt đứt tuyến phòng ngự đường số 9 dài gần 100 ki-lô-mét từ Đồng Hến đến Sê Pôn, khai thông đường liên lạc của ta giữa bắc và nam đường số 9.

Chiến thắng đường số 9 thể hiện nổi bật tinh thần khắc phục khó khăn, dũng cảm chiến đấu của bộ đội Việt-Lào và cũng là sự thể hiện ý thức tự nguyện, tự giác cảu nhân dân Lào nuôi bộ đội đánh giặc, chiến thắng đó chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo tác chiến linh hoạt, đúng đắn của Bộ chỉ huy mặt trận, biết khai thác và khoét sâu chỗ yếu của địch, chủ động phân tán lực lượng chúng để tiêu diệt.
_______________________________________________
1. Đến ngày 24 tháng 1 năm 1954, Na-va đã đưa thêm bốn tiểu đoàn cơ động, ba tiểu đoàn dù, ba tiểu đoàn pháo đến Trung Lào, đưa lực lượng ở đây lên 26 tiểu đoàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #97 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2024, 09:18:51 pm »


Trung tuần tháng 2 năm 1954, cuộc tiến công của ta và bạn ở Trung Lào bước vào gỉai đoạn cuối cùng. Ngày 15 tháng 2, địch cho hai binh đoàn cơ động số một và số hai chiếm lại Ma-ha-xây, sau đó chiếm Nhom Ma Rát, Bung Bao, Sang Phóc, Căm Cớt, nhằm đánh vào hậu phương chiến dịch của ta, ngăn chặn ta phát triển xuống phía nam.

Để phát huy thắng lợi liên tiếp trên các chiến trường, nhất là phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính và làm tròn nhiệm vụ quốc tế với Lào và Cam-pu-chia, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cho đại đoàn 325:

— Cùng lực lượng bạn Lào bao vây kìm chân quân cơ động của địch ở Sê Nô, bảo vệ vững chắc hậu phương chiến dịch.

— Phát triển xuống phía nam nhằm triệt để phân tán quân cơ động của địch và cùng bộ đội Ít-xa-rắc1 giải phóng đông-bắc Cam-pu-chia, bắt liên lạc với bộ đội miền Đông Nam Bộ.

Bộ Tổng tư lệnh quyết định điều trung đoàn 18 sang hoạt động ở Trung Lào và đưa tiểu đoàn 274 về trung đoàn 18, đưa trung đoàn 101 xuống Hạ Lào và đông-bắc Cam-pu-chia, chuyển trung đoàn 95 ra đồng bằng Bắc Bộ tham gia tác chiến ở Phủ Lý và Nam Định.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ chỉ huy mặt trận chuyển tiểu đoàn 274 (trung đoàn 18) làm nhiệm vụ đánh địch trên đường số 12, nhất là ở Nhom Ma Rát, Ma-ha-xây. Đồng thời giao cho tiểu đoàn 290, tiểu đoàn 198, đại đội 124, đại đội 12 quân tình nguyện hoạt động ở vùng Căm Cớt và Pắc Ka Đinh, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch cắt đứt đường số 13. Trung đoàn 66 cố tiến lên bắc Sê Nô hoạt động, chuẩn bị đánh ra đường số 13. Trung đoàn 101 bước đầu hoạt động ở vùng Ma-ha-xây, đồng thời chuẩn bị hành quân xuống Hạ Lào và đồng-bắc Cam-pu-chia tiến công địch.

Trong lúc ta triển khai thế trận đánh địch ở Trung — Hạ Lào và chuẩn bị phát triển chiến đấu xuống đông-bắc Cam-pu-chia thì từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1954 địch cho hai binh đoàn cơ động số một và số hai đánh chiếm Ga Va, Na Peng, Pà Cuội và Sang Phóc. Suốt thời gian đóng quân ở đây, địch thường xuyên bị hai trung đoàn 66 và 18 cùng đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam và du kích Lào vây hãm, đánh tỉa, làm cho lực lượng chúng bị tiêu hao, tinh thần sa sút.

Từ ngày 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1954, giữa lúc cả hai binh đoàn địch đang ở thung lũng Pà Cuội, thì một tiểu đoàn địch ở Ma-ha-xây tiến lên Nhom Ma Rát, vượt núi Phu Ác chiếm Bản Bo và lên bắc Khăm He.

Hoạt động mới của địch chứng tỏ chúng mạnh dạn thọc lên núi Phu Ác để thu hút lực lượng ta, nhằm cứu hai bình đoàn cơ động khỏi rơi vào thế bị bao vây. Nếu ta hoạt động yếu, địch có thể sử dụng cả hai binh đoàn cơ động đánh chiếm Ba Na Phào, uy hiếp phía sau lưng ta. Từ nhận định đó, ta chủ trương để một bộ phận nhỏ bám đánh địch ở thung lũng Pà Cuội, còn phần lớn sẵn sàng đánh địch khi chúng đánh chiếm Ba Na Phào hoặc rút lui theo đường số 12.

Tiểu đoàn 274 và tiểu đoàn 782 được Bộ chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ bám đánh địch ở cánh Phu Ác. Nhưng tiểu đoàn 274 không chặn được địch mà chỉ có tiểu đoàn 782, du kích Lào và quân tình nguyện chặn đánh địch từng chặng. Vì thế ngày 21 và 22 tháng 4, hai binh đoàn cơ động của địch đánh chiếm được Ba Na Phào, Mụ Giạ, Bản Bo và đánh phá tuyến cung cấp của ta.

Cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch đang diễn ra ở đường số 12, thì ở chiến trường chính Điện Biên Phủ (giữa tháng 4 năm 1954), bộ đội ta cũng đang tiến công dữ dội vào khu đông Mường Thanh, uy hiếp khu trung tâm, đẩy địch đến nguy cơ thất bại ở Điện Biên Phủ.

Trước tình hình nguy ngập đó, ngày 24 tháng 4, địch rút khỏi Mụ Giạ, Bản Bo và bắc Lằng Khằng. Rõ ràng địch bắt đầu rút theo đường số 12 để tăng viện cho Điện Biên Phủ. Nhưng do tầm quan trọng của Ba Na Phào, nên chúng để lại một bộ phận chiếm giữ.

Nhằm phá tan kế hoạch rút quân của địch, Bộ chỉ huy mặt trận bố trí tiểu đoàn 782 bao vây địch ở Ba Na Phào, hai tiểu đoàn 274 và 789 hoạt động tại Lằng Khằng, Pha Nốp sẵn sàng đánh địch, hai tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 18 chuẩn bị đánh địch trên đường số 12 khi chúng rút lui.

Ngày 25 tháng 4, binh đoàn cơ động số một của địch cùng ba tiểu đoàn lẻ và một tiểu đoàn pháo theo đường số 12 rút về thị xã Thà Khẹt. Chúng bị trung đoàn 18 chặn đánh từng chặng, tỉêu diệt một bộ phận sinh lực. Binh đoàn cơ động số hai, một tiểu đoàn cơ động và một tiểu đoàn ngụy ở lại Lằng Khằng, Pha Nốp, Ba Na Phào củng cố công sự, tăng cường hỏa lực và dự trữ lương thực chuẩn bị cho mùa mưa.

Ở bắc Căm-Cớt, tiểu đoàn 290 Hà Tĩnh, đại đội 124 huyện Thanh Chương và đại đội 12 quân tình nguyện liên tiếp đánh địch, làm cho chúng thiệt hại nặng, buộc phải rút chạy.

Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tổng tư lệnh giao cho, trung đoàn 101 tiến xuống phía nam, cùng với quân giải phóng Ít-xa-rắc (Cam-pu-chia) liên tục tiến công địch, giải phóng Vương Sai, Xiêm Pang, tiến xuống sát sông Mê-kông, giải phóng phần lớn tỉnh Công-pông-chàm. Căn cứ đông-bắc Cam-pu-chia được nối liền với Hạ Lào và Trung Lào, trung đoàn 101 đã bắt liên lạc với bộ đội miền Đông Nam Bộ.

Trước khi chiến địch Điện Biên Phủ toàn thắng thì đợt cuối của cuộc tiến công của ta và bạn ở Trung Lào kết thúc. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 quân tinh nhuệ, giam chân hai binh đoàn cơ động ứng chiến của địch, phối họp tốt với chiến địch Điện Biên Phủ. Tuy địch có chiếm được Ba Na Phào, nhưng không phá được tuyến cung cấp của ta.
______________________________________________
1. Quân đội nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #98 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:00:49 pm »


*

*        *

Trên chiến trường Trung — Hạ Lào và đông-bắc Cam-pu-chia trong Đông — Xuân 1953 — 1954, quân và dân Liên khu 4 phối hợp cùng quân và dân bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 6.100 tên địch, hầu hết là lính Âu — Phi tinh nhuệ, thu trên 1.200 súng các loại, nhiều quân trang quân dụng và phương tiện chiến tranh. Phá vỡ tuyến phòng ngự đường số 12, số 8 và số 9, giải phóng một vùng rộng lớn 400.000 ki-lô-mét vuông và 40.000 dân, cắt đứt liên lạc của địch giữa Thượng Lào với Trung Lào và uy hiếp Hạ Lào. Cùng với chiến thắng Hạ Lào và đông-bắc Cam-pu-chia, đường chiến lược Bắc-Nam Đông Dương cũng được khai thông, cơ sở quần chúng, lực lượng vũ trang và chính quyền cách mạng được xây dựng và củng cố, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Cam-pu-chia tiến lên một bước mới. Trên cơ sở đó, tình đoàn kết chiến đấu thủy chung của nhân dân ba nước Việt — Lào — Cam-pu-chia ngày càng phát triển và bền vững. Đặc biệt thắng lợi của Mặt trận Trung Lào đã góp phần bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược, tạo điều kiện cho Liên khu 4 hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ hậu phươrg và phục vụ tiền tuyến.

Chiến thắng Trung Lào đã góp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân của Na-va, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó với ta trên toàn Đông Dương, tạo điều kiện cho quân và dân ta tiêu diệt hoàn toàn quân địch trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Đẩy mạnh tác chiến phối hợp ở Bình—Trị—Thiên.

Bước vào Đông-Xuân 1953 — 1954, lực lượng địch ở Bình - Trị - Thiên có trên 30.000 tên, trong đó quân ngụy chiếm 91 phần trăm, lính Âu — Phi 9 phần trăm, được tổ chức thành 24 tiểu đoàn1. Với lực lượng đó, địch ra sức thực hiện âm mưu mới: Tích cực càn quét bình định vùng đồng bằng, dồn làng, tập trung dân, lập vành đai trắng, củng cố các tuyến phòng ngự, phá mùa màng và tăng cường bắt lính, phát triển quân ngụy.

Địch liên tiếp tổ chức các cuộc càn quét nhỏ và vừa, càn cả ban đêm để thực hiện bình định có trọng điểm vùng đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng, ven đường số 9 và nam Thừa Thiên. Bằng các thủ đoạn càn quét chà đi xát lại nhiều lần, chúng đã củng cố được vùng Cửa Việt, khu 3 Phú Lộc, dồn làng, lập vành đai trắng dọc quốc lộ số 1 nam Thừa Thiên và một số xã của tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình, lập khu trắng ở Nam Giao — Huế, tăng cường phòng ngự đường số 1, đường sắt và sửa chữa cửa bể Lăng Cô, đề phòng bị ta cắt đứt đường Đà Nẵng ra Huế.

Trong các cuộc càn quét, chúng ra sức bắt lính, bắt cả thanh niên, phụ nữ và trẻ em để xây dựng các loại quân ngụy. Với cố gắng đó, chúng đã xây dựng được bốn tiểu đoàn khinh quân, một tiểu đoàn pháo và một số đại đội, bổ sung đủ quân cho các đơn vị tổn thất trong chiến đấu. Trên cơ sở đó, địch đã rút năm tiểu đoàn cơ động đi chiến trường khác.

Cuối năm 1953, phong trào đấu tranh của quân và dân Bình —Trị — Thiên đã tiến lên một bước, cơ sở đảng, cơ sở nhân dân và du kích được phục hồi trong điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn. Một mặt địch tăng cường càn quét nhiều lần hòng đè bẹp sức chiến đấu của ta, trong lúc đó nạn bão lụt mất mùa đói kém dồn dập xảy ra, làm đời sống nhân dân và lực lượng vũ trang thiếu thốn nhiều. Mặt khác, trung đoàn 95 chuyển ra Hà Tĩnh, lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu chỉ có bộ đội địa phương và dân quân du kích, trang bị vũ khí tuy có được tăng cường nhưng vẫn thiếu, nhất là bom, mìn, bộc phá và lựu đạn.

Tuy khó khăn chồng chất, nhưng tinh thần quật khởi của bộ đội và nhân dân vẫn được giữ vững. Lực lượng vũ trang địa phương được tôi luyện, trưởng thành trong chiến đấu và xây dựng, có tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh, chiến đấu dũng cảm. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đối với các tỉnh ủy và tỉnh đội ngày càng chặt chẽ, trực tiếp về toàn diện. Kịp thời chấn chỉnh các ban chỉ huy tỉnh đội, bổ sung quân số, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho các tiểu đoàn tỉnh, các đại đội huyện, nên trình độ chỉ huy cũng như bản lĩnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ được nâng lên một bước mới. Thêm vào đó, được thắng lợi của chiến trường toàn quốc cổ vũ, tạo điều kiện cho Bình —Trị — Thiên vượt qua mọi khó khăn để chiến đấu và chiến thắng.

Trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng địch và ta, Liên khu ủy đề ra chủ trương hoạt động Đông-Xuân ở Bình— Trị — Thiên là: Đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, chống càn quét bình định, liên tục chiến đấu phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông — Xuân 1953— 1954 trên các chiến trường.

Tháng 11 năm 1953, Nghị quyết Hội nghị cán bộ địch hậu Bình — Trị — Thiên cũng chỉ rõ nhiệm vụ, phương châm công tác vùng tạm chiếm «Đẩy mạnh đấu tranh mọi mặt, nhất là đấu tranh vũ trang ở vùng sau lưng địch, phối hợp với chiến trường toàn quốc, phá âm mưu mới của địch ở Bình —Trị —Thiên. Trước mắt là đẩy mạnh đấu tranh, chống càn quét, tăng cường lực lượng, đoàn kết đông đảo nhân dân chống giặc, phát triển và bảo vệ sản xuất, tích cực củng cố và phát triển công tác vùng tạm chiếm, đẩy mạnh công tác địch, ngụy vận»2.

Phương châm hoạt động: lấy đấu tranh vũ trang làm chủ yếu kết hợp với đấu tranh chính trị và kinh tế nhằm phát triển chiến tranh du kích, tích cực đánh giao thông, chống càn quét, kết hợp chặt chẽ đấu tranh giữa ba vùng — vùng căn cứ du kích, vùng du kích và vùng địch tạm chiếm.

Tư tưởng chỉ đạo là tác chiến song song với xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trọng điểm tác chiến là đánh giao thông, phá cầu đường trên đường số 1 và số 9, chống càn, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở đồng bằng, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Liên khu ủy đã đưa phong trào đấu tranh mọi mặt ở Bình — Trị — Thiên có bước chuyển biến và tiến bộ rõ rệt.
______________________________________________
1. Năm tiểu đoàn cơ động, 16 tiểu đoàn chiếm đóng và ba tiểu đoàn pháo.
2. Lưu trữ tại Phòng Lịch sử quân sự Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #99 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:02:26 pm »


Ngày 22 tháng 12 năm 1953, khi ta nổ súng tiến công địch ở Trung Lào thì trung đoàn 18 cùng với lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt nổ súng tiến công địch ở Vĩnh Linh và Gio Linh. Với tinh thần kiên quyết tiến công, mưu trí dũng cảm chiến đấu, quân ta đã liên tiếp tiêu diệt năm vị trí địch ở Sen Hạ, Chợ Da, Hà Tây, Đằng Đằng và Dốc Miếu.

Bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tiếp đánh mạnh trên tuyến giao thông đường số 1 và số 9, chống càn, phục kích tiêu hao, tiêu diệt địch, cướp súng địch trang bị cho ta.

Ngày 28 tháng 12, du kích xã Vĩnh Liêm (Vĩnh Linh) đánh chìm bốn ca-nô địch. Từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 12, bộ đội địa phương và du kích Cửa Tùng, anh dũng chống phá trận càn quét lớn của địch vào Liêm Hóa và Quảng Hóa, thu thắng lợi lớn, diệt hơn 150 tên và phá bốn ca-nô địch.

Sự phối hợp tác chiến kịp thời của lực lượng vũ trang ba thứ quân ở Bình — Trị — Thiên với Trung Lào đã phá tan âm mưu của địch nối lại đường số 9, tạo điều kiện cho Liên quân Việt — Lào giành thắng lợi to lớn trong đợt mở đầu chiến dịch.

Hai tháng đầu năm 1954, phối hợp với đợt hai và ba của chiến dịch Trung Lào, quân và dân Bình — Trị — Thiên liên tiếp đánh mạnh trên đường số 1, số 9 và đường xe lửa. Bằng những đòn tập kích táo bạo, phối hợp chặt chẽ, bộ đội và du kích đã phá sập nhiều cầu cống, lật nhào nhiều đoàn tàu và xe quân sự, làm tắc nghẽn giao thông của địch hàng tháng1. Trên Mặt trận đường số 9 tỉnh Quảng Trị, chỉ tính từ ngày 1 đến ngày 20 tháng 1, ta đã phá sập 17 cầu từ Đông Hà đến Rào Quán. Ở Thừa Thiên, bộ đội địa phương và du kích phá sập nhiều cầu trên đường số 1 và đã lật nhào hai đoàn tàu quân sự 19 toa của địch ở Lăng Cô, làm chết và bị thương 400 tên.

Bộ chỉ huy Pháp vội vàng rải bốn tiểu đoàn cơ động ứng chiến, lập nhiều vị trí mới, cố bám lấy đường số 1, số 9 và đường xe lửa. Do đó ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng địch lại sơ hở, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đẩy mạnh chiến tranh du kích tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân chúng, kết hợp với xây dựng cơ sở vùng sau lưng địch.

Trung tuần tháng 1 năm 1954, trung đoàn 18 sau khi đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn cơ động của địch càn quét vào vùng Cùa, Mai Lĩnh đã chuyển sang phối hợp với bộ đội địa phương và du kích hai huyện Cam Lộ và Hướng Hóa bao vây tiến công bảy vị trí của địch trên đường số 9 gồm Đầu Mầu, Mai Lĩnh, Vụng Kho, Rào Quán, Khe Sanh, Tà Cơn, Lao Bảo, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, số địch còn lại bỏ chạy. Ngày 20 tháng 2, ta giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ. Sau đó trung đoàn 18 tiến lên Sê Pôn cùng quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Trung Lào phối hợp đợt tiến công thứ hai của chiến dịch, chiến đấu trong đội hình đại đoàn 325.

Bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện Hướng Hóa và tây Cam Lộ giữ vững vùng giải phóng cho đến lúc kết thúc chiến tranh.

Nhân lúc địch tập trung lực lượng đối phó với ta trên các đường giao thông, bộ đội và du kích tỉnh Quảng Trị đẩy mạnh tác chiến ở đồng bằng, luồn sâu vào lòng địch, đánh địch. Ngày 28 tháng 1, đại đội 245 mưu trí, dũng cảm bẻ gãy các cánh quân của hai tiểu đoàn địch có cơ giới yểm hộ càn quét xã Triệu Sơn (huyện Triệu Phong). Bằng các hình thức phục kích, tập kích, chống càn liên tiếp, lực lượng vũ trang Quảng Trị đã phá tan âm mưu bình định có trọng điểm của địch ở vùng Cửa Việt, Cửa Tùng và đồng bằng hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng.

Ngày 6 tháng 2, tiểu đoàn tỉnh Thừa Thiên bí mật luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm kết hợp với nhân mối tập kích vị trí Niêm Phò. Sau 15 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch tại đây. Hai ngày sau, hai trung đội bộ đội địa phương lại tập kích ngay vào hậu phương an toàn của địch tại vị trí Văn Thánh và hai lô cốt, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở Quảng Bình, hoạt động chiến tranh du kích có yếu hơn, chỉ đánh được hai trận ở Cầu Ngấn, Mỹ Trung tiêu diệt hai trung đội địch.

Phối hợp với tiến công quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng diễn ra sôi nổi. Nhân dân chủ động đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột, chống bắt lính, vận động binh lính đảo ngũ, đòi chồng con về. Các cuộc đấu tranh của binh sĩ địch không chịu đi chiến trường khác, tự động bỏ súng về nhà ngày càng nhiều. Tiểu đoàn tám ngụy chống lệnh đi Lào, 560 ngụy binh ở Thừa Thiên, 230 ngụy binh ở Quảng Trị, 80 ngụy binh ở Quảng Bình bỏ súng về nhà. Tuy ta có giành được một số thắng lợi, nhưng đấu tranh chính trị chưa trở thành phong trào rộng rãi của đông đảo quần chúng tham gia.
______________________________________________
1. Từ ngày 21 tháng 12 năm 1953 đến ngày 20 tháng 2 năm 1954, ta đã phá sập 35 cầu cống, trong đó có cầu Đuồi, cầu Đầu Mầu, cầu Hương Thủy, đánh đổ 12 đoàn tàu, trong đó có sáu đoàn tàu quân sự, phá hủy 18 xe cơ giới của địch.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM