Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhớ về bầu trời năm ấy  (Đọc 4970 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:40:15 am »

- Tên sách: Nhớ về bầu trời năm ấy
- Tác giả: Nguyễn Hồng Nhị
- Nhà xuất bản: Lao động
- Năm xuất bản: 2022
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


PHẦN MỘT
Quê hương và tuổi thơ

Bình Định là quê hương tôi nằm trên dải đất miền Trung của đất nước - dải đất được ví như chiếc đòn gánh, gánh hai miền Bắc Bộ và Nam Bộ. Người dân sống trên "dải đất đòn gánh" này rất chịu thương chịu khó, cần cù lao động, quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho giời" vậy mà vẫn chịu cảnh nghèo đói đến cùng cực, trong đó có làng quê tôi và gia đình tôi.


Gia đình tôi có 6 anh em. Cha mẹ tôi chỉ riêng chuyện lo cho 6 miệng ăn hàng ngày đã chẳng đủ no thì còn lấy đâu ra hơi sức để lo cho việc mặc và học hành của chúng tôi. Anh chị em chúng tôi, mỗi người chỉ có độc một bộ quần áo vá chằng vá đụp. Với các chị và đứa em gái thì cha mẹ ưu tiên sắm cho mỗi người được thêm một chiếc quần lành lặn, nhưng phải để dành, chỉ mặc vào những ngày Tết, ngày lễ hoặc hội hè mà thôi.


Tuổi thơ tôi thời sống ở quê chất chứa đầy ắp những kỷ niệm không bao giờ quên. Sau này, khi tôi lớn lên, dù có đi mọi chân trời góc biển hay chao liệng giữa những khoảng không bao la của bầu trời, có ác liệt hiểm nguy đến mấy, giữa cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, thì tôi lại nhớ về những kỷ niệm sâu nặng ấy để mà tăng thêm nghị lực và tôi đã vượt qua hết thảy...


Xứ Vũ Sơn - Bình Đê nằm ở cực Bắc tỉnh Bình Định, nay gọi là thôn Hy Văn, xã Hoài Sơn, Hoài Nhơn từng nổi tiếng một thời, được ví như xứ Đồng Nai ở Nam Bộ vậy. Xứ có đường giao thông thuận lợi: có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy song song với đường quốc lộ số 1 xuyên qua, có 2 nhà ga và 1 bến ô-tô liên tỉnh. Giao thông đường thủy có cửa biển Tam Quan đón tàu thuyền ra vào nhộn nhịp. Án ngữ ở phía Tây xứ có dãy Núi Chúa, dưới chân núi có con suối gọi là Suối Vàng. Núi Chúa và Suối Vàng là hai địa linh của xứ Vũ Sơn - Bình Đê. Trên đỉnh Núi Chúa còn có một hòn đá rất to, cao, đứng sừng sững, từ xa đã thấy. Dáng nó trông như con gà trống đang vỗ cánh gáy nên có tên là hòn Gà Cồ (gà trống). Dãy núi án ngữ ở phía Đông xứ cũng có một hòn đá to cao đứng trên đỉnh núi được gọi là hòn Bò Cạp (khi bị loài bò cạp cắn thì vừa đau vừa buốt nên thấy nó là phải tránh). Hai hòn đá to cao đứng trên hai đỉnh núi là hai vị thần linh bảo vệ cho xứ Vũ Sơn - Bình Đê làm ăn yên ổn từ bao đời. Nhưng đến năm 1965, Ngô Đình Diệm đã "rước voi về giày mả tổ" - rước đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam giày xéo quê hương, trong đó có xứ Vũ Sơn - Bình Đê. Khi đến nơi này, chúng biết đây là vùng địa linh nên chúng rất lo sợ và đã đưa hàng tấn thuốc nổ cho phá tan hai hòn đá "Gà Cồ" và "Bò Cạp" là hai vị thần của xứ này. Bây giờ, những người dân từng sống ở đây không còn được thấy những vị thần ấy nữa. Tất cả chỉ còn trong ký ức mà thôi.


Quê tôi được khai khẩn, mở mang phát triển kể từ thời Quận công Nguyễn Hoàng được nhà Lê giao vào trấn giữ đất phía Nam. Nguyễn Hoàng đưa người từ đàng ngoài vào định cư lập nghiệp, khai hoang và mở mang kinh tế, trở thành vùng đất hội tụ, có đủ cả "Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa", song, trái lại, đời sống của nhân dân lại rất khổ cực, nghèo đói. Các triều đại phong kiến rồi thực dân, đế quốc đã bóc lột dân đến tận xương tận tủy. Đè nặng trên đầu họ là hàng trăm thứ thuế, chồng chất quanh năm suốt tháng.


Khi tôi lớn (chừng 7-8 tuổi) được cha giao nhiệm vụ cùng với các chị làm đủ mọi việc để cho người con trưởng của gia đình là anh Nguyễn Văn Tuần rảnh tay đi học. Anh Tuần ban ngày đi học, tối về thì dạy lại các em. Tôi biết chữ chính là nhờ anh dạy. Ngày ngày, khi các chị đi làm bất cứ việc gì cũng đều dẫn tôi đi theo để các chị hướng dẫn cho cách làm. Nhờ sự chỉ bảo của các chị mà tôi nhanh chóng thành thạo mọi việc, chẳng mấy chốc mà tôi đã tự đi làm được một mình. Bốn mùa đều có việc để làm. Mùa Xuân, tôi đi ra đồng bắt cua. Quê tôi có cánh đồng Trang, ruộng đất màu mỡ và lắm cua đồng. Mùa Hè, tôi lên núi dũ (hái) quả chà là chín đem về cho vào cối giã nhỏ rồi phơi khô, rây lấy bột để dành đến mùa Đông ăn. Mùa Thu thì đi hái ổi, hái sim đem ra chợ bán. Mùa Đông, tôi theo cha ra đồng đơm cá, bắt cua bắt ốc... Bốn mùa tuy công việc có những đặc điểm riêng, song tôi càng lớn lên thì càng làm được nhiều việc hơn, càng giỏi giang hơn. Tôi cũng càng ham, càng yêu thích hơn. Nhưng hoài bão của tôi chỉ thích đi học, thích làm những việc to tát như người lớn đang làm. Tôi nhớ mãi lời nói của cha tôi: "Các con lớn lên, đời các con phải khác, đừng lặp lại như đời cha mẹ, vừa khổ vừa bị người ta ức hiếp. Cha tôi rất ghét chính quyền phong kiến - thực dân, bởi vậy, họ ghép cho ông cái tội bất hợp tác với chính quyền. Cha tôi được ông nội tôi cho ăn học, có bằng cấp, giỏi chữ nho. Hồi đó, tất cả các đơn từ đều phải viết bằng chữ nho nên dân làng ai có vấn đề gì cần kiện tụng đều đến nhờ cha tôi viết hộ. Chính quyền phong kiến vời chatôi ra làm việc cho họ nhưng cha tôi kiên quyết từ chối, do đó họ tìm cách hãm hại cha tôi. Họ vu cáo cha tôi khai man thuế để trốn thuế. Họ đến nhà trói gô cha tôi rồi dẫn lên xã và bắt phạt 1,2 đồng bạc "gánh dưa". Mẹ tôi và anh chị em tôi ngồi khóc hết nước mắt. Thương cha quá nhưng không làm thế nào để giải oan cho cha được. Trong nhà, hễ có cái gì bán được thì mẹ tôi đem đi bán hết cố cho đủ 1,2 đồng để đem đi chuộc cha. Ngay đến con chó rất khôn, tôi rất qúy mà cũng không giữ lại được, phải đem đi bán nốt. Sau khi nộp phạt xong, họ trả cha tôi về làng thì làng lại phạt một tháng đi canh ban đêm. Làng tôi có cái điếm canh (trạm canh gác) ở đầu làng. Ban đêm, họ cắt cử một số người "bất hảo" ra nằm ở điếm canh, nếu thấy có người lạ vào làng thì phải đánh mõ báo động. Có những ngày cha tôi đi làm đến tối mới về nhà, vừa mệt lại vừa đói, tôi thương quá liền xin cha tôi cho tôi đi gác thay cha. Cha tôi đồng ý và dặn: "Con ra ngủ với các bác nhưng đừng tham gia đánh mõ báo động". Lúc này, ở quê tôi có nhiều tin đồn là tù cộng sản ở nhà tù Kon Tum vượt ngục về đây trú ngụ để tìm đường đi ra Quảng Ngãi lên chiến khu Ba Tơ nhập vào du kích. Do đó, họ tăng người gác ở các điếm canh đánh mõ báo động. Có đêm tiếng mõ kêu "chát, chát" ngay bên tai nhưng tôi nghe theo lời dạy của cha, cứ giả vờ ngủ say, không đánh mõ theo họ.


Tình hình kinh tế ở quê tôi gặp nhiều khó khăn do thiên tai: bão lụt, hạn hán... Mùa màng mất trắng lại cộng thêm sưu cao thuế nặng, một cổ hai tròng (của Pháp và Nhật), nạn đói ngày càng trầm trọng, không có lối thoát. Cha tôi đành bỏ quê đi vào Đồng Nai phát rẫy trồng cao su cho chủ đồn điền người Tây vì nghe nói tiền công cao, sẽ có tiền gửi về cho mấy mẹ con mua gạo sống qua ngày. Mẹ và anh chị em tôi trông chờ tiền cha gửi về mỏi mắt mà chẳng thấy đâu. Cuối cùng thấy cha trở về với bộ quần áo rách trước rách sau nhưng cha con gặp nhau lại mừng khôn xiết. Cha tôi kể lại: không thể nào chịu đựng được cái cảnh công nhân đi làm bị cai đồn điền đánh đập dã man, lại còn ức hiếp ăn quỵt tiền công nữa... Mẹ tôi nói với các con: "Cha bọn bay còn dẫn xác về được đến đây, mẹ quý hơn được bạc được vàng! Không bị bỏ xác ở gốc cao su là may lắm rồi!". Anh chị em chúng tôi thấy cha gầy và yếu thì thương lắm, liền bàn với nhau tích cực đi làm, gánh hết phần khổ cho cha.


Phía ngoại rất thương hoàn cảnh của cha mẹ tôi và các cháu ngoại, nhưng gia đình ngoại cũng nghèo, chỉ có thể giúp cho cha mẹ tôi nuôi được một đứa. Cha tôi chọn tôi gửi cho ông bà ngoại nuôi là có ý đồ tôi ở bên ngoại để theo các cậu học nghề thợ mộc (nghề chính bên gia đình ngoại). Ông ngoại và các cậu Năm, Bảy, Chín đều rất giỏi nghề mộc. Tồi ở với ngoại, suốt ngày theo các cậu tập làm thợ mộc. Đầu tiên là phụ việc cưa, dần dần đến việc đục rồi bào..., tất cả đều làm thành thạo, được các cậu tin nên ngày càng giao cho nhiều việc hơn, tôi rất phấn khởi. Đi làm với các cậu, được tiếp xúc với nhiều người, tôi được nghe nhiều điều rất mới lạ, rất thú vị... Các cậu và đám thợ thảo luận sôi nổi, đặc biệt nhất là các từ "cách mạng, khởi nghĩa độc lập, bình đẳng"... Các cậu tôi thích nhất là từ "cách mạng". Tôi ủng hộ theo các cậu vì có cách mạng thì các cậu sẽ được chia ruộng đất và lúc bấy giờ sẽ bỏ cái nghề mộc để đi làm ruộng, đỡ vất vả hơn, chứ cái nghề mộc này suốt ngày còng lưng, chai đít mà cũng chẳng đủ ăn. Hơn nữa, tình hình chiến tranh giữa phe Đồng Minh với Nhật sắp nổ ra rồi, không ai dại gì đi làm nhà mới, đóng mới bàn ghế, giường, tủ để làm gì. Họ có tiền, có lúa thìhọ sẽ tích trữ lại đề phòng chiến tranh. Nghề thợ mộc đang ngày càng khốn đốn. Ban ngày, tôi cùng các cậu đi làm, còn ban đêm, các cậu đi đâu, làm gì thì cả nhà không ai biết. Tôi xin đi theo, các cậu cũng không đồng ỷ. Sau này tôi mới biết là các cậu đi họp đoàn thể để chuẩn bị tham gia khởi nghĩa. Tôi xin ông bà ngoại cho tôi về thăm bà nội vì tôi nhận được tin nhắn của các chị tôi là bà nội bị bệnh. Nhớ bà nội lắm. Tôi chạy một mạch về đến nhà thì trời vừa tối. Các chị bảo vào thăm bà rồi cùng đi với các chị đến trụ sở đăng tên vào đội viên Đội thiếu nhi để tham gia biểu tình.


Tôi nghe các chị nói thì mừng quá: như thế là cách mạng sắp về, sắp khởi nghĩa rồi!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:42:29 am »

Cách mạng về!

Cách mạng tháng 8 năm 1945 về trên quê hương tôi giống như dòng lũ quét từ trên núi cao đổ xuống dòng sông. Nó quét đi tất cả những bùn đất, rác rưởi bẩn thỉu, đem lại dòng sông trong mát cho quê hương.

Sự kiện lịch sử khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra trên quê tôi từ đêm hôm trước đến sáng ngày hôm sau (19-8-1945) đã cơ bản đập tan chính quyền phong kiến-thực dân đã từng cai trị hàng ngàn năm ở xứ Vũ Sơn - Bình Đê.

Cách mạng đã thành lập chính quyền mới - chính quyền của dân và tiếp tục xóa bỏ những thể chế của chế độ thực dân - phong kiến áp bức, bóc lột, đàn áp nhân dân ta từ bao đời. Sau cái đêm khởi nghĩa cướp chính quyền và liên tiếp mấy ngày sau đó, nhân dân vẫn tiếp tục đi biểu tình, tuần hành, mít-tinh, đánh trống, đánh mõ và hô khẩu hiệu vang ười. Tôi còn nhớ khẩu hiệu chủ yếu lúc đó là: "Đả đảo thực dân Pháp, phát xít Nhật. Việt Nam vạn vạn tuế!". Những ngày cuối tháng 8-1945, cờ đỏ sao vàng bay rợp trời, khắp thôn xóm. Nhân dân nô nức chuẩn bị làm lễ ăn mừng Độc Lập. Ngày 2-9-1945, từ tờ mờ sáng, mọi người phải mặc quần áo cho dù có rách cũng sạch sẽ, gọn gàng để đi tập trung làm lễ chào cờ Tổ quốc. Lần đầu tiên tôi được nghe tiếng chào cờ Tổ quốc với cờ đỏ sao vàng năm cánh. Nhiều khẩu hiệu, băng rôn được căng lên cao cắt ngang qua các con đường lớn, nhu khẩu hiệu "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập Tự do Hạnh phúc" chẳng hạn. Nhìn thấy khẩu hiệu ấy thật sướng mắt và đọc lên nghe thật sướng bụng. Sau khi mít-tinh xong, các đoàn thể tiếp tục đi tuần hành biểu dương lực lượng cho đến tối mịt mới kết thúc. Những ngày đầu Cách mạng tháng 8, cả nhà tôi: cha mẹ, anh, các chị đều đi theo đoàn thể phục vụ cho Cách mạng mặc dù trong nhà không còn hạt gạo nào. Suốt ngày tôi chạy lon ton theo Đội thiếu nhi, quên cả đói mệt. Ban ngày đi biểu tình, ban đêm đi cổ động mọi người phải đi học. Cả làng Hy Văn chưa bao giờ vui và nhộn nhịp như những ngày Cách mạng về! Tất cả ruộng đất đều tịch thu sung công và được chia đều cho các công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam hay nữ. Những gia đình có người đi bộ đội thì được ưu tiên tự chọn một suất ruộng tốt nhất. Số hộ công dân còn lại thì bốc thăm để nhận phần ruộng của mình, thực hiện quyền bình đẳng của mọi người. Sưu thuế, phu phen của chế độ cũ đều bị bãi bỏ hết thảy. Gia đĩnh tôi trước Cách mạng không có một tấc ruộng nào, nay nhận được hơn 5 sào ruộng để cấy lúa. Cả nhà mừng không sao kể hết. Gia đình tôi cho rằng đây là tài sản vô giá mà Cách mạng đã đem lại cho gia đình mình. Từ nay, gia đình tôi có ruộng để làm ra hạt gạo nuôi sống gia đình và đóng góp cho Cách mạng. Gia đình ngoại biết gia đình con gái mình có ruộng đã tìm cách giúp đỡ phương tiện làm ruộng để đỡ bớt phần vất vả cho anh chị em chúng tôi. Ông ngoại khi đi làm thợ mộc có dành dụm được ít tiền liền lấy ra mua cho mẹ tôi một con bò giống để tạo dần thành đôi bò cày. Những cái cày, cái bừa thì ông ngoại đóng cho vì ông là thợ mộc. Gia đình tôi từ đây có ruộng, có phương tiện làm ruộng, bớt được sức lao động, không phải kéo cày kéo bừa, có nhiều thời gian để cho anh chị em tôi đi làm cho Cách mạng. Anh thứ 3 thì làm Chính trị viên xã đội dân quân, chị thứ 5 thì đi làm giao thông, chị thứ 6 làm thư ký Hội phụ nữ xã, tôi làm phân đoàn trưởng Thiếu nhi. Tất cả anh chị em đều được đi học hoặc vừa học vừa tham gia công tác.
"Vạn sự khởi đầu nan". Công việc của đoàn thể Cách mạng mới khai sinh ở quê tôi rất nhiều việc phải vừa làm vừa học, rất bận rộn. Cả nhà tôi chạy đôn chạy đáo lo việc cho đoàn thể khắp nơi nhưng ai cũng vui, lúc nào cũng có tiếng hát vang lên trong nhà với những bài hát cách mạng: "Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc…", "Anh em ta trong đoàn quân du kích...", "Bao chiến sĩ anh hùng...".


Cách mạng về trên quê hương tôi mới hơn một năm vậy mà đã đem đến bao nhiêu đổi thay mới mẻ chung cho làng quê và riêng cho gia đình tôi, đặc biệt là kinh tế, văn hóa xã hội giống như quàng một chiếc áo mới lên quê hương tôi. Cha mẹ sắm cho anh chị em chúng tôi mỗi người một bộ quần áo mới để đón Tết cổ truyền đầu tiên sau ngày thoát khỏi ách thực dân-phong kiến. Không còn cảnh những ngày giáp Tết, tiếng trống dồn thuế thúc inh tai nhức óc như những năm trước, khi chính quyền thực dân-phong kiến bắt dân phải đi nộp thuế. Nếu hộ tịch nào không nộp đủ thuế thì đừng mong gì được ở nhà đốn Tết mà sẽ bị bắt giam và bị phạt nặng gấp mấy lần thuế phải nộp. Bây giờ thì những rác bẩn ấy đã được quét sạch. Ngày Tết cổ truyền của dân tộc mới thực sự là ngày vui đoàn tụ của mọi gia đình. Những ngày Tết ở quê, tôi thích nhất là được đốt pháo, được đi đánh bi với các bạn. Con bò nhốt ở nhà, không cho ra đồng nên tôi được tự do chơi mấy ngày Tết thỏa thích. Thời kỳ này, gia đình tôi có 4 con bò: một đôi bò cày và hai con bê cho nên không có lúc nào rảnh tay cả. Vì bò là phương tiện sản xuất để biến thành tiền, thành gạo nuôi sống cả nhà và đóng góp cho Cách mạng đều dựa vào đó. Cha mẹ tôi thường nhắc: "Các con đi làm cho Cách mạng giỏi và cũng phải cố gắng làm giỏi việc nhà". Cả nhà tuy đông anh chị em nhưng mỗi người một việc phân công nhau làm đâu vào đó nhanh chóng, chính xác, cha mẹ rất hài lòng, các con chưa bao giờ có tiếng cãi cọ, nói to với nhau. Cha tôi là người trụ cột trong gia đình. Ông rất nghiêm túc dạy bảo các con. Ông nói ra, mọi người răm rắp làm theo. Nề nếp gia giáo nhà tôi thuộc loại nhất nhì trong xứ, bên nội cũng như bên ngoại, đều được mọi người trong làng nể trọng. Mẹ tôi là người phụ nữ trung hậu đảm đang, thương yêu chồng con hết lòng. Tôi chưa hề thấy mẹ rầy la đứa nào bao giờ. Có một lần, người chị thứ 5 của tôi bị ngã bệnh rất nặng (bệnh kiết lỵ). Người gầy chỉ còn da bọc xương, nằm thoi thóp. Cả nhà ai cũng lo, sợ mất chị. Tí rủi nết của chị giống hệt tính của mẹ tôi: hiền lành, đôn hậu. Ai cũng quý mến chị. Cha tôi lùng khắp các hiệu thuốc dù xa mấy cũng đi, ai mách ở đâu có thuốc hay, cha cũng lẩn tìm đến bằng được để mua thuốc về chữa chạy cho chị. Cuối cùng, ơn Trời đà cho chị sống! Cha tôi đã tìm mua được loại thuốc đúng bệnh của chị, chị uống hết một gói thuốc bột là căn bệnh của chị đã hết. Thế là chị tôi được sống lại. Cả nhà mừng hơn được vàng. Cách mạng về đã cứu sống chị tôi vì nhờ có Cách mạng cha mẹ tôi mới có lúa, có tiền để mua thuốc cho chị uống. Thời đó ở quê tôi, mùa Đông hay bị mắc bệnh "ngã nước" (bệnh sốt rét). Mùa Hè thì hay bị bệnh "đau mắt" (đau mắt đỏ). Tôi thường bị mắc hai căn bệnh này. Mỗi lần bệnh phát thì khổ lắm. Ban đầu thì rét run cầm cập, khi hết rét thì lại nóng ghê gớm, cởi bỏ hết quần áo cũng không chịu được. Nhưng thuốc chữa đon giản chỉ là những lá cây thuốc ở trên rừng. Mẹ tôi lên rừng, nhờ mấy người dân tộc đi hái lá về sao vàng lên sắc uống là khỏi ngay. Còn khi bị đau mắt đỏ thì chữa bằng một loại củ có tên là củ "huỳnh liên", mài lấy nước đem nhỏ vào mắt vài lần là khỏi bệnh.


Cách mạng về không chỉ đem lại cho quê tôi thoát khỏi cảnh đói rách, khổ cực mà còn mang lại cuộc sống văn minh cho mọi nhà. Mọi người đều được đi học, đều biết chữ, biết giữ vệ sinh, giữ gìn sức khỏe như nước uống phải đun sôi để nguội, ăn cơm dùng đũa hai đầu khi gắp thức ăn để đề phòng bệnh truyền nhiễm...


Mùa Hè ở quê tôi thường bị những đợt gió nóng từ phía Tây dãy Trường Sơn tràn sang, ta thường gọi là "gió Lào". Gió quất vào người hệt như bị lửa đốt vậy. Những cây dừa, cây cau có nhiều rễ ăn sâu như thế nhưng cũng bị héo lá. Các dòng suối, các hồ ao đều cạn hết nước, khô kiệt. Dân phải đổ ra đồng đào những giếng, những ao để tìm lấy nước mạch, cứu lúa. Mùa Hè ở quê tôi, mọi người làm vụ lúa ngắn ngày - đấy là giống lúa tứ quý. Giống lúa này từ khi sạ đến khi trổ bông chưa đầy hai tháng là đã được gặt. Hạt lúa có vỏ ngoài màu đen rất đẹp nhưng hạt gạo thì màu lại đỏ. Món cháo vôi (gọi như vậy vì khi nấu cháo sắp chín thì đổ vào nồi cháo một ít nước vôi) có màu đỏ tươi và có mùi thơm, ngon tuyệt vời. Mẹ tôi thường nấu một nồi cháo vôi như vậy rồi để sẵn đấy cho anh chị em tôi khi đi họp hành về khuya có cái ăn lót dạ trước khi ngủ.


Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Đức, Ý, Nhật đầu hàng phe đồng minh. Quân Nhật ở Đông Dương chuẩn bị rút về nước. Thực dân Pháp quay lại chiếm nước ta lần thứ hai. Quê tôi nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: "... Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ!". Phong trào tập luyện quân sự dấy lên chưa từng có ở quê tôi. Già trẻ, trai gái đều phải đi tập quân sự, lăn lê bò toài, đâm lê bắn súng, ném lựu đạn... ai ai cũng phải biết. Phong trào đuổi giặc Nhật, trừ Việt gian nổi lên khắp nơi. Trong cao trào ấy có xảy ra sai lầm thật đáng tiếc, đó là đã bắt và hành quyết những người theo đạo Cao Đài vì cho rằng họ là tay sai của phát xít Nhật, khi quân Nhật rút đi đã cài đạo Cao Đài lại để phá cách mạng. Cảnh bắt bớ, hành quyết điễn ra tạo nên sự bất an trong xóm làng mất một thời gian. Sau đó, cấp trên đã nhận thấy sự sai lầm và đưa người về sửa sai kịp thời, đảm bảo được sự đoàn kết giữa đạo và đời, cùng nhau đuổi giặc Nhật cút khỏi quê hương. Chẳng bao lâu, giặc Pháp bắt đầu gây hấn ở trong Nam và ngoài Bắc hòng bắt dân ta làm nô lệ cho chúng lần thứ hai. Quê tôi lại sôi sục chuẩn bị chiến đấu. Trên các cánh đồng, nhân dân được huy động cắm những cọc vót nhọn cao 2-3 mét, từng cụm ba chiếc một cách nhau vài chục mét để chống quân nhảy dù. Nhân dân lênrào làng chiến đấu. Mỗi làng chỉ để chừa mấy cửa ra vào làng và bố trí những ụ chiến đấu, có dân quân canh gác sẵn sàng chiến đấu. Khu vực miền Trung, Pháp đã đổ bộ vào chiếm các thành phố lớn như Đà Nẵng, Nha Trang... Ở Bình Định chúng muốn chiếm Quy Nhơn nhưng bị dân quân Bình Định đánh bại. Ở cửa biển Tam Quan, quân Pháp chiếm được các làng ven biển và phá phách tất cả những gì chúng cho là gây trở ngại đối với chúng. Đặc biệt, chúng đã đốt cháy chiếc đầu máy xe lửa được cất giấu trong đường hầm ở đèo Bình Đê trước khi rút chạy ra biển. Tiếng bom cảm tử của Ngô Mây đánh chặn địch trên đường 19 đã thổi bùng lên khí thế sục sôi tình nguyện xung phong ra trận của tuổi trẻ Bình Định nói chung và quê tôi nói riêng. Tôi xin gia đình và đoàn thể cho tôi gia nhập Vệ quốc đoàn để chiến đấu trả thù cho anh Ngô Mây. Nhưng gia đình và đoàn thể Thiếu nhi chưa đồng ý cho đi vì tôi còn trẻ quá, chưa đến tuổi tòng quân. Tôi đành phải nán lại mơ ước ấy mất mấy năm trời, nhưng trong tôi, hình ảnh anh Vệ quốc đoàn trong bộ quần áo xi-ta màu xám tro, sau lưng giắt lá ngụy trang, hành quân ra trận, thật oai phong lẫm liệt. Hình ảnh ấy luôn giục giã, thôi thúc tôi phải nhập ngũ bằng được.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:43:42 am »

Bước ngoặt cuộc đời

Ngày 25 tháng 5 năm 1952, tôi tạm biệt quê hương yêu dấu, lên đường nhập ngũ, đánh dấu bước ngoặt cuộc đời từ đấy. Cái tin có đoàn tuyển quân về làng lan đi rất nhanh chóng. Thanh niên nam nữ trong làng như bị một cơn gió lốc kéo đến nơi đăng ký tình nguyện đi bộ đội. Đội Thiếu niên của tôi chọn được 10 bạn có chiều cao, cân nặng khá hơn cả, trong số đó có tôi để giới thiệu đi dự tuyển quân. Để tăng độ tin cậy, tôi mượn đôi dép lốp của dượng Hai Điều đi vào để tăng thêm chút chiều cao. Khi vào phòng cân đo, tôi lẳng lặng cho vào túi quần 4 cục đá để cân được nặng hơn, nhưng không qua được mắt các anh khám tuyển. Song, cũng chính vì vậy mà tôi được các anh ghi ngay vào danh sách trúng tuyển vì các anh đánh giá cao tinh thần tình nguyện tòng quân của tôi. Tôi chỉ kịp viết mấy dòng thư gửi cho cha mẹ, anh chị và nhờ các bạn không trúng tuyển mang về đưa cho anh Ba và báo cho đoàn thể biết tin tôi đã trúng tuyển đi bộ đội. Những người trúng tuyển được đưa về khu vực tập trung, được biên chế vào các Tiểu đội, Trung đội, Đại đội và nhận bộ quần áo xi-ta màu xám tro. Mỗi người tự làm lấy bát ăn cơm cho mình bằng sọ dừa già (sọ dừa xin trong dân), một đôi đũa tre và một ống tre để đựng nước uống. Hành trang đầu tiên của bước ngoặt cuộc đời là những thứ thiết yếu như vậy để đảm bảo hành quân. Cán bộ phụ trách từ Tiểu đội trở lên đều là cựu binh để vừa chỉ huy quản lí, vừa là giáo viên dạy quân sự, chính trị. Bài học đầu tiên đó là 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội nhân dân.


Điều 1 của 10 lời thề in sâu vào tâm trí tôi không bao giờ quên, đó là: "Hy sinh tất cả vì Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa… sau này đổi lại là: "Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa...". Người lính có tinh thần dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo hay không, trước hết phải sẵn sàng hy sinh tất cả... Đã là người lính cách mạng thì đừng bao giờ sợ chết. Ý nghĩa của lời thề thứ nhất nó sâu sắc như vậy đó! Các anh cựu binh còn nói kinh nghiệm của các anh cho các em tân binh biết rằng: khi ra trận, trước giờ nổ súng mà ai tháy run sợ thì hãy nhớ ngay tới lời thề thứ nhất của quân đội thì sẽ hết run sợ ngay. Các anh còn dặn đò nhiều lần rằng phải luôn luôn nhớ lấy lời thề thứ nhất. Bước chân vào quân đội, khi tôi học xong 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội là tôi đã thấy mình trưởng thành lên rất nhiều.


Chặng đường đầu đi hành quân của đời bộ đội bắt đầu. Từ Hoài Nhơn vào Phù Mỹ chặng đường đi chưa dài nhưng cũng đầy thử thách. Đó là tôi chưa từng đi chân đất (không giày dép) đường xa như vậy bao giờ. Đêm đi, ngày nghỉ. Mỗi người mang theo một ống nước đầy để khi khát thì uống. Mới hành quân được hai đêm mà chân đã mỏi rời, không muốn bước. Hành quân đêm thứ ba thì đến địa điểm đóng quân gần cửa Châu Trúc, huyện Phù Mỹ. Chúng tôi ở nhờ nhà dân gần chợ Châu Trúc. Chợ không lớn nhưng đúng vào mùa được cá biển, do đó người bán cá hầu như đông hơn người mua. Giá cá mực rẻ gần như vừa bán vừa cho. Tôi được Tiểu đội trưởng phân công đi chợ mua mực về nấu ăn. Khi tôi trả tiền mua hai chục con mực xong thì bà bán mực lại cho thêm mười con nữa. Thời đó, bếp ăn của bộ đội mình không tập trung quá 1 Tiểu đội vì hậu cần quân đội chưa có trang bị gì cho chuyện bếp núc, mà đúng ra thì chăng có gì để trang bị cả. Bộ đội đóng quân ở nhà dân, tất cả dụng cụ hậu cần, bếp núc đều dựa vào dân hết. Hàng ngày, Tiểu đội cắt cử một người nấu cơm, luân phiên thay nhau, ai cũng phải trải qua làm đầu bếp. Một hôm, Tiểu đội trưởng phân công cho tôi nấu cơm cho Tiểu đội. Công việc này rất mới mẻ trong đời người chiến sĩ, lo nhất là không được để cơm khê hoặc sống. Thức ăn thì nấu một nồi canh rau muống với mực và mỗi người được một con cá nục kho. Bà chủ nhà theo dõi tôi làm, thấy tôi loay hoay, lóng ngóng, ngay từ khi đãi gạo cũng không sạch sạn. Bà bảo: "Con để đấy, má giúp cho!". Tôi mừng quá. Bà chủ nhà chỉ làm một loáng là xong hết. Cơm canh đã sẵn sàng. Cũng vừa lúc tan học, Tiểu đội về nhà ăn cơm. Cơm dẻo, không vướng một hạt sạn nào, canh lại ngọt... Cả Tiểu đội ai cũng khen ngon. Vậy là tôi được nổi tiếng về nấu ăn! Tất nhiên, tôi cũng được tốt nghiệp đầu bếp mà thầy giáo là bà chủ nhà - má Khương ở Châu Trúc.


Châu Trúc thuộc vùng nghèo nhất huyện Phù Mỹ thời bấy giờ. Ruộng đất pha cát bạc màu, thiếu nước nên lúa rất xấu, mùa Hè cát khô trắng, nóng bỏng chân. Ngọn núi Chóp Vung cao vút, đứng sừng sững ở phía Tây, nhưng trên núi chỉ có các loại cây gai lúp xúp, không hề có rừng nên không tích được nước, trời mưa bao nhiêu thì nước chảy trôi tuột ra biển bấy nhiêu. Phía Đông có đầm Châu Trúc nước lợ nối với biển. Ở đây, cá nhiều vô kể, có cả loại cá nước lợ lẫn cá nước mặn. Không nơi nào có cá, mực, tôm, cua... nhiều và rẻ bằng ở đây.


Những ngày mới nhập ngũ, trong lòng tôi tràn đầy sự háo hức làm anh lính Vệ quốc đoàn bao nhiêu thì đến giờ sự háo hức ấy cứ cạn dần đi bấy nhiêu... Bắt đầu những ngày nhớ nhà, nhớ quê, nhớ cha mẹ, anh chị thật ghê gớm. Cứ sau bữa cơm chiều là năm, ba người lại rủ nhau ra ngồi dưới gốc dừa để tâm sự cho vợi nỗi nhớ. Tôi nhớ từng chi tiết nhỏ ở quê hương, chỗ nào có vạt cỏ tốt nhất thường cho bò đến đó ăn, khúc mương nào sau nhà có nhiều cá, lươn, ốc, ếch...mà tôi hay ra đó câu, rồi ruộng lúa nhà nào thường có nhiều chim rẽ để đến đó đặt bẫy. Nhớ nhất là tiếng chim Tu hú kêu báo hiệu mùa chà là chín. Trong dân gian có câu: "Tu hú kêu là chà làchín, Tu hú núi là chà là xanh". Nhớ mùa chà là chín, mùa ổi mùa sim chín thì cứ khoảng gà gáy canh ba là dậy nấu cơm chỉ ăn một phần, còn phần kia thì gói vào mo cau đem theo để ăn bữa trưa. Gà gáy canh ba thì đã có nhiều tiếng hú ngoài đường để báo hiệu những ai đi hái chà là thì cùng đi cho vui. Từng tốp 5 đến 7 người đi lên đến chân núi thì dừng nghỉ chờ cho trời sáng hẳn mới lên núi vì mùa chà là, ổi, sim chín thì hổ hay về phục vồ người, nếu đi vào lúc trời nhập nhoạng, chưa sáng rõ thì khó phát hiện được hổ. Kinh nghiệm của những người đi rừng là phát hiện hổ bằng mùi thối của nước dãi nó chứ không phải bằng mắt. Hổ thường nằm trong bụi cây rậm mai phục con mồi, nước dãi chảy ra vừa thối vừa tanh. Mùi ấy lan tỏa ra cả vùng rừng. Ai đã nhận biết một lần rồi thì lần sau dễ phát hiện ra khu rừng có hổ phục và đi tránh sang khu rừng khác ngay. Tôi lại nhớ ngày nào mà chiều tối có mưa giông thì sáng hôm sau chà là chín rộ lắm. Những ngày ấy, tôi cứ mải mê hái chà là đầy gánh lúc nào không hay biết, gánh nặng không thể xuống núi được đành phải đổ bớt đi, tiếc đứt ruột mà chẳng biết làm thế nào... Mọi người cứ ngồi kể cho nhau nghe những chuyện ở quê nhà thời thơ ấu của mình như thế. Đồng chí Tiểu đội trưởng đã qua thời tân binh nên rất hiểu chúng tôi. Đồng chí đã động viên và bày ra nhiều trò chơi giải trí trong những giờ rảnh rỗi, đặc biệt là tổ chức hát thi bài "Đoàn vệ quốc quân". Ai cũng phải hát đơn ca trước Tiểu đội để mọi người chấm điểm. "Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi. Là có mong chi đâu ngày trở về. Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi. Ra đi, ra đi thà chết chớ lui!...". Bài hát có tác dụng giáo dục rất lớn đối với những người lính nơi xa nhà như chúng tôi. Từ đó không còn thấy cảnh chiều chiều có người buồn nữa. Phong trào ca hát, biểu diễn văn nghệ gọi là "cây nhà lá vườn" trong Đại đội rất sôi nổi. Sau mỗi bữa cơm tối, chúng tôi tập trung để tập văn nghệ, không còn thời giờ rảnh rỗi ngồi dưới gốc dừa ngóng về quê nhà nữa.


Phong trào ca hát, tập văn nghệ của bộ đội đã thu hút thanh thiếu niên trong thôn tham gia hào hứng. Đêm đêm, các cô phụ trách Thiếu nhi mời chúng tôi đến dạy cho các em ca hát, tập múa và các em tham gia chương trình biểu diễn cùng với chúng tôi ở các buổi liên hoan văn nghệ toàn Tiểu đoàn. Đơn vị chúng tôi đứng nhất toàn Tiểu đoàn với tiết mục "Quân với dân như cá với nước". Nhân dân Phù Mỹ nói chung, bà con vùng Châu Trúc nói riêng, đời sống kinh tế rất nghèo nàn, hầu như quanh năm ăn khoai độn với tí cơm nhưng đời sống văn hóa thì rất phong phú, vui tươi, lành mạnh, chan hòa tình cảm quân dân. Chúng tôi không muốn rời xa, nhưng vì có nhiệm vụ mới, chúng tôi đành phải chia tay với bà con để lên đường.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:45:09 am »

Các cán bộ đi nhận quân của các Trung đoàn chủ lực 108, 803... đã về ở đơn vị chờ sẵn. Anh em chúng tôi xôn xao bàn tán, người thì thích về Trung đoàn 108 để ra mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng, người thì thích về Trung đoàn 803 để vào mặt trận Khánh Hòa... Tôi lúc này được điều về làm liên lạc cho Ban chỉ huy Đại đội. Đồng chí Trần Bát, quê ở Huế là Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên rất thương tôi, muốn tôi ở lại đơn vị khung này lâu dài với anh, nhưng tôi một mực nằng nặc xin anh về đơn vị chiến đấu. Anh thường gọi tôi bằng em và hỏi: "Em không sợ chết sao?". Tôi trả lời anh bằng cách hát bài "Đoàn Vệ quốc quân" cho anh nghe. Anh ngồi nghe tôi hát, lấy khăn lau nước mắt. Tôi thương anh quá. Hồi đó, trong chiến tranh ác liệt, gian khổ, tình thương yêu giữa cán, binh thật là cao đẹp. Trước khi đi bổ sung cho đơn vị chiến đấu, anh cho tôi về thăm nhà 5 ngày, thực ra ở nhà chỉ được 3 ngày. Anh cho tôi mượn đôi dép lốp cao su để đi đường cho đỡ rộp da bàn chân. Tôi cầm tờ giấy phép có chữ ký "Trần Bát - Chính trị viên Đại đội", mừng quá, quốc bộ một mạch về đến nhà thì trời chạng vạng tối. Cả nhà có mặt đông đủ, đang ăn cơm tối - gọi là ăn khoai cõng cơm thì đúng hơn. Mẹ tôi thương con trai ở bộ đội mới về, trong nhà còn ít gạo, định nấu riêng cho tôi một niêu cơm không độn khoai nhưng tôi ngăn lại và thưa với mẹ rằng: "Ở bộ đội, con cũng ăn cơm độn khoai quen rồi!". Cả nhà mừng vui và khen tôi đã lớn lên rất nhiều.


Ba ngày trôi qua rất nhanh, tôi lại cuốc bộ một lèo về đơn vị. Gặp lại Chính trị viên, tôi báo cáo đã nghỉ phép xong, rất cảm ơn Chính trị viên đã cho tôi mượn đôi dép lốp đỡ rộp da bàn chân. Chính trị viên khen tôi chấp hành kỷ luật tốt và anh cho biết, tôi đã có quyết định bổ sung về đơn vị mới.


Tạm biệt đất Châu Trúc, mảnh đất thấm đượm tình quân dân cá nước. Tôi không bao giờ quên được những ngày đầu ở bộ đội, đặc biệt là bà mẹ Châu Trúc đã chỉ bảo cho tôi cách nấu cơm dẻo canh ngọt cho Tiểu đội ăn trong thời gian huấn luyện tân binh ở đây. Các cán bộ khung huấn luyện như Chính trị viên Trần Bát, Tiểu đội trưởng Kính đã tận tình chỉ bảo cho tôi những bước đi đầu tiên của anh bộ đội Vệ quốc đoàn.


Bước ngoặt của cuộc đời tôi có thể nói từ đây đã mãi mãi in sâu trong ký ức.

Gần hai chục anh em tân binh bổ sung cho Đại đội 104 thuộc Phòng tham mưu Liên khu 5 (hồi đó, cơ quan Tham mưu Liên khu gọi là Phòng tham mưu). Đơn vị đóng quân ở huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Từ Châu Trúc, chúng tôi hành quân đến ga Phù Mỹ và lên chuyến tàu hỏa liên tỉnh Bình Định-Quảng Ngãi. Tàu chạy đến ga Nghĩa Hành thì chúng tôi xuống tàu. Lần đầu tiên đi hành quân bằng tàu hỏa thật là thích. Tàu chạy bằng than củi. Những đoạn đường dốc, nó ráng sức, chầm chậm bò lên, thở "xinh xịch, xinh xịch", ống khói khạc ra tàn lửa than như pháo hoa, trông rõ đẹp. Tàu vào ga vừa dừng bánh, trưởng tàu đã giục mọi người phải xuống nhanh để còn đưa tàu đi sơ tán, cất giấu đầu tàu vào vào tận trong hầm tàu Bình Đê. Trời sắp sáng, phải đề phòng máy bay địch đến oanh tạc. Ngành đường sắt Liên khu 5 chỉ còn được mấy đầu tàu hỏa, tuy đã cũ nhưng rất quý giá, phải cố gắng giữ.


Chúng tôi xuống tàu, đi bộ chừng một giờ đồng hồ thì đến vị trí đóng quân. Cán bộ đã chờ sẵn đón chúng tôi và phân công về từng Tiểu đội. Chúng tôi được nghỉ 1 ngày để tắm giặt và ngủ bù. Ngày hôm sau, mới tờ mờ sáng, chúng tôi đã phải dậy để đi chống hạn giúp dân cứu lúa. Năm đó, ở Nghĩa Hành, trời nắng mấy tháng liền không có lấy một giọt mưa. Dòng sông Lệ nước cạn tới mức lội bộ qua được, các cánh đồng khô trắng. Lúa mới lên được dăm, bảy lá đã héo quắt. Chúng tôi cùng nhân dân đi múc nước ở các ao, các giếng lên đem tưới cho lúa. Kiểu múc nước từ giếng lên bằng gàu với cần vọt, tôi không quen nên chân tay nhanh mỏi rã rời, nhưng thấy lúa héo, ai cũng xót ruột, đều phải cố gắng làm mọi cách để cứu lúa, quên hết mệt và đói.
Cuối mùa Thu, trời bắt đầu có mưa. Chúng tôi được ngừng đi tưới nước cho lúa. Cả mùa Hè nắng nóng, công sức của bộ đội bỏ ra, nay được đáp lại bằng một cánh đồng màu xanh như báo hiệu sắp có một mùa lúa tốt cho bà con Nghĩa Hành. Mùa huấn luyện lập công của bộ đội cũng bắt đầu. Để chuẩn bị cho Chiến dịch Đông Xuân 1952-1953, ở Nghĩa Hành, chúng tôi tập lăn lê bò toài, bắn súng rồi hành quân về Mộ Đức học chính trị, hành quân lên Nghĩa Thắng- Tư Nghĩa tập đánh công đồn, đánh vận động chiến... Chúng tôi đắp đồn giả để tập đánh bộc phá, phá rào mở cửa mở cho xung kích. Trong lúc tập, chúng tôi bị máy bay đến oanh kích nhưng không ai việc gì.


Chúng tôi chuẩn bị hành trang để đi chiến dịch Bắc Tây Nguyên 52-53. Mỗi người được cấp phát 3 tháng lương khô, ngoài súng đạn ra còn thêm một chiếc cuốc chim, một con dao, ruột tượng gạo, ống tre đựng nước uống, ống tre lương khô, muối, rau, gạo...
Rừng Bắc Tây Nguyên rộng mênh mông, rậm rạp nên phải đề phòng khi bị lạc đơn vị thì có thể tự túc được vài tuần lễ cho đến khi tìm được đơn vị.


Xuất phát đi Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, Đại đội chúng tôi rời Nghĩa Thắng trong một đêm cuối tháng 12 năm 1952. Trời tối đen như mực. Chúng tôi bám lưng nhau vượt qua Truông Ổi, hành quân qua Mộ Đức-Đức Phổ, băng núi vào Hoài Nhơn, Bình Định, tạm nghỉ mấy ngày. Đóng quân ở Hoài Châu, tôi được Đại đội cho ghé về thăm nhà ở Hoài Sơn trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Tôi về, được nhìn thấy mặt cha mẹ, anh, các chị và hai em là mừng vô kể. Tôi thấy sức khỏe của cha giảm sút đi nhiều so với hồi tôi mới nhập ngũ. Thương cha, lo cho sức khỏe của cha, nhưng tôi đành nuốt thương mà ra đi.


Từ Hoài Nhơn, đơn vị hành quân vào Phù Cát, qua đèo Bồ Bồ lên Bình Khê. Để giữ bí mật cho các đơn vị chủ lực chiếm lĩnh trận địa tấn công, chúng tôi được lệnh gom một số người nghi làm tay sai cho giặc quanh các đồn Tứ Thủy, Cửu An đưa xuống xuôi để giáo dục. Chiến dịch được giữ bí mật tuyệt đối cho đến giờ khai hỏa. Trung đoàn 108 đánh đồn Cửu An được nổ súng trước. Trung đoàn 308 đánh đồn Tứ Thủy phát hỏa sau. Chiến dịch mở màn thắng lợi ròn rã, hai đồn bị tiêu diệt. Phát huy thắng lợi, hai Trung đoàn tiếp tục tấn công địch, tiêu diệt đồn Thượng An, thu được khẩu pháo 155 mm, chiếm lô cốt Eo Gió, khai thông đường 19 đi An Khê, đánh viện đường Hoàng Hoa Thám, đèo Măng Giang làm cho địch lo sợ, không dám tổ chức đánh chiếm lại các đồn Tứ Thủy, Cửu An nữa.


Kết thúc chiến dịch, ta rút quân về Quảng Ngãi, mở Hội nghị thi đua mừng công. Đại hội được tổ chức ở núi Dầu Rái, Đức Phổ. Đại đội chúng tôi cùng với các đơn vị bạn được điều về đây chặt cây, cắt tranh (cỏ gianh) làm nhà để đón người về dự Đại hội. Rừng cây gỗ dầu lâu năm không khai thác, rất kín đáo, bảo đảm an toàn cho Đại hội, nhưng các khe suối rừng gỗ dầu quanh năm có nước làm cho lá gỗ dầu mục, sinh lắm muỗi, gây bệnh sốt rét. Tôi đã bị bệnh sốt rét hoành hành. Ngày nào cũng sốt nên phải nằm ở lán một mình còn anh em đi làm hết. Có hôm, hổ mò đến rình ở đầu lán, để lại một đống nước dãi to rồi bỏ đi, không dám vào lán. Rút lành nghiệm, hôm sau khi anh em đi làm thì đốt một đống lửa to ở đầu lán.


Buổi sáng, khi cơn sốt dứt, tôi cố dậy, tự đi nấu một xoong cháo bí ngô để ăn cả ngày. Bệnh sốt dứt, Đại hội mừng công cũng kết thúc. Được lệnh trên, đơn vị hành quân về đồng bằng. Tôi gày yếu nhiều do bệnh sốt rét nhưng cố gắng hành quân theo anh em về đóng quân ở Phổ Phong. Ở đây xảy ra sự kiện long trời, đó là tin báo Đại nguyên soái Xtalin qua đời. Nhận được tin, ai cũng bàng hoàng thương tiếc. Đơn vị tổ chức lễ truy điệu cho Đại nguyên soái Xtalin ở Phổ Phong, Đức Phổ. Lễ truy điệu được tổ chức rất trang nghiêm. Bức ảnh chân dung Đại nguyên soái, khung được làm bằng màng chiếu phim treo phía trên, lư trầm khói thơm cả một vùng đặt ở phía dưới. Phút mặc niệm có bắn 5 phát súng SKZ.


Kết thúc Chiến dịch Đông Xuân, đơn vị được nghi vài tuần lễ bồi dưỡng sức khỏe. Số anh em bị sốt rét, ghẻ ngứa hắc lào nặng được đưa về điều trị, an dưỡng ở Tiểu đoàn 45 đóng ở Phù Mỹ. Tôi cũng nằm trong diện đưa về đơn vị an dưỡng, về sau, khi đã dứt bệnh sốt rét, người tôi gầy xanh xao lại bị ghẻ khắp người nên không thể theo đơn vị vào hoạt động trong vùng địch được. Đơn vị chuẩn bị đi Chiến dịch Thu Đông trong vùng địch, tôi phải chia tay về đơn vị an dưỡng ở hậu phương. Thật là buồn!
Hơn chục anh em sức khỏe òi ọp giống nhau cùng túc tắc hành quân từ Đức Phổ vào Phù Mỹ, nơi Tiểu đoàn 45 là đơn vị thu dung an dưỡng của Liên khu 5.


Không hẹn mà gặp. Chúng tôi lại về đóng quân ở cửa biển Châu Trúc, gặp lại các má năm xưa đã từng giúp anh em chúng tôi khi mặc bộ đồ Vệ quốc đoàn bước vào đời bộ đội, gặp lại các cháu năm xưa chúng tôi dạy hát nay đã vụt lớn thành các cô thiếu nữ xinh tươi. Các cô gặp lại những anh bộ đội năm xưa bỗng má đỏ hồng lên, e lệ. Ở đâu cũng vậy, thiên thời địa lợi hầu như đều phú cho bên đàn bà con gái nhiều hơn. Cho dù cuộc sống nghèo khó, cực nhọc từ tấm bé, nhưng khi các cô gái lớn lên đến tuổi dậy thì, thì thân hình cũng trở nên gợi cảm và đôi mắt long lanh gợi bao nỗi nhớ thương, ao ước cho bên đằng trai. Cửa Châu Trúc, nơi dành cho bộ đội về an dưỡng là nơi có nhiều thuận lợi: độ an toàn cao, máy bay lẫn tàu chiến của địch ít chú ý tới; thực phẩm lại tươi ngon, có quanh năm; núi Chóp Vung có nhiều loại cây thuốc chữa bệnh ngoài da, nhất là căn bệnh ghẻ ngứa, hắc lào, sâu quảng... rất hiệu nghiệm.


Tôi an dưỡng ở đây mới được một thời gian ngắn mà da dẻ đã hồng hào, các căn bệnh ngoài da cũng biến mất. Những anh em sức khỏe hồi phục tốt được biên chế về một Đại đội để sẵn sàng bổ sung cho các Trung đoàn chủ lực trong Liên khu. Không gì vui mừng hơn, tôi cũng được nằm trong diện đó. Tôi được bổ sung về Tiểu đoàn 365, Trung đoàn 803 chủ lực của Liên khu 5, tiếp tục chặng đường bước ngoặt cuộc đời ở Binh đoàn chủ lực Liên khu.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:48:58 am »

Theo bước chân Tiểu đoàn 365 (Tiểu đoàn lá mít) Anh hùng

Tiểu đoàn 365 là một trong những Tiểu đoàn chủ lực mạnh của bộ đội Liên khu 5. Sở trường chiến đấu của Tiểu đoàn giỏi đánh công kiên, giỏi đánh vận động chiến, giỏi đánh bao vây, giỏi thực hiện chiến thuật chặt đầu khóa đuôi, thọc sườn tiêu diệt gọn từng đơn vị địch, bắt tù binh, thu vũ khí...


Tiểu đoàn 365 được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1949 tại xã Hòa Đa, Tuy Hòa, Phú Yên.

Tôi về Tiểu đoàn 365 đúng vào dịp đơn vị đang gấp rút hoàn thành các bài tập đánh công đồn để kịp lên đường đi chiến dịch, về đơn vị, tôi chưa thuộc hết tên anh em trong cùng tiểu đội thì ngày hôm sau đã cùng anh em ra bãi tập.Đồng chí Tiểu đội trưởng phân công tôi ở tổ xung kích và giao cho tôi khẩu súng trường MAS có lê.


Bài tập đầu tiên vượt chiến hào địch bằng cầu "giả thiết" ("giả thiết" được làm bằng tấm tre đan bắc ngang qua chiến hào). Chiến hào sâu độ vài mét, rộng chừng 4-5 mét, đáy hào có cắm chông cộng với dây thép gai. Động tác vượt cầu "giả thiết" phải chạy thật nhanh để chiếm giữ đầu cầu bên kia, hạn chế thương vong. Đã là lính xung kích thì bắt buộc phải thật giỏi vượt cầu "giả thiết" và chiếm đầu cầu. Nếu không giỏi thì dễ bị rơi xuống hào hoặc bị dính đạn địch. Sau khi chiếm đầu cầu, phát triển đánh vào trận nội. Trận nội gồm có tập đánh hầm ngầm bằng thủ pháo, lựu đạn, đánh địch phản xung phong, đánh địch giáp lá cà. Động tác cuối cùng của bài tập là dùng lưỡi lê đâm một "thằng bù nhìn rơm" được dựng sẵn ở trận nội.


Ban ngày ra sức luyện tập các bài chiến thuật đánh công đồn. Ban đêm gấp rút hoàn thành các bài kỹ thuật bắn đêm. Đêm đêm, anh em kéo nhau đi bắt đom đóm, lấy dạ quang của nó để dán lên đầu ruồi và du tiêu của súng làm điểm ngắm bắn. Phương châm huấn luyện là một người phải thành thạo bắn được tất cả các loại súng được trang bị trong Tiểu đội, như súng trường, tiểu liên, trung liên, phóng lựu... để khi ra trận sẵn sàng thay thế cho nhau. Tôi mới về Tiểu đội, có vất vả hơn anh em cũ, nhưng cuối cùng cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện. Tổng kết huấn luyện, tôi được tặng giấy khen.


Ngày lên đường đi chiến dịch đã cận kề. Công tác chuẩn bị rất bận rộn. Mọi người rất háo hức, vừa làm vừa hát, vui lắm. Những bài hát hào hùng nói về người lính, như "Bao chiến sĩ anh hùng", "Đoàn vệ quốc quân"... chúng tôi hát mãi mà vẫn thấy như mới. Những ngày chúng tôi chuẩn bị ra trận - giữa cái sống và cái chết mà trong lòng nhẹ tựa lông hồng. Anh em hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết gắn bó như anh em một nhà.


Những ngày cuối tháng 12 năm 1953, trời se lạnh, đêm tối đen như mực. Bộ đội đang ngon giấc thì được đánh thức dậy đi hành quân. Sau mấy chục phút, đơn vị đã tập hợp đầy đủ, đội hình chỉnh tề lên đường. Chúng tôi vừa rời khỏi nơi đóng quân (xã Mỹ Tài, Phù Mỹ) thì cùng tối đó có đơn vị khác đến thế chân, đóng quân ngay và hàng ngày luyện tập cho bộc phá nổ, hô xung phong vang trời. Tiếng kèn đồng quen thuộc (hồi đó, mỗi Tiểu đoàn chủ lực được biên chế một tổ kèn đồng, mỗi Đại đội một kèn đồng. Kèn đồng của nhà binh Pháp, ta thu được) vẫn dõng dạc kêu vang để đánh thức bộ đội, ăn cơm, đi ngủ... đã làm cho bọn tình báo của địch lầm tưởng Tiểu đoàn 365 vẫn còn đóng quân ở xã Mỹ Tài. Đến ngày chiến dịch mở màn, địch mới biết bộ đội chủ lực của Liên khu đã lên mặt trận Tây Nguyên. Một mưu lược nghi binh đánh lừa địch thật tuyệt vời của Bộ tư lệnh Liên khu 5.


Chúng tôi đi từ Mỹ Tài vào huyện Phù Cát rồi lật cánh lên phía Tây đường quốc lộ số 1 rồi vòng lại, đi ra Hoài Nhơn. Hành quân đêm, trời tối đen như mực, người đi sau nhìn theo ánh sáng dạ quang đom đóm gắn trên lưng áo của người đi trước, cứ thế mà đi, không được nói chuyện, không được gọi nhau. Đi đến địa phận xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn thì trời vừa sáng. Đơn vị tạm nghỉ để đến tối hành quân tiếp.


Hoài Sơn là quê tôi. Ngày xưa gọi là xứ Vũ Sơn - Bình Đê. Tôi được sinh ra và lớn lên ở đây cho đến ngày đi bộ đội. Gia đình nghèo, đông anh chị em, quanh năm ăn độn khoai. Làng Hy Văn gần làng Cản Hội là nơi đơn vị tạm trú quân. Tôi định xin Tiểu đội trưởng cho chạy về thăm nhà để thấy mặt cha mẹ, các anh chị em một chút cho đỡ nhớ. Lần này đi chiến dịch dài ngày, cha mẹ sẽ lo và nhớ mình lắm! Mấy lần tôi định đi gặp Tiểu đội trưởng, nhưng lại thôi, đành gác lại vì để giữ bí mật cuộc hành quân như lời dặn dò của cán bộ. Tôi thầm hứa với cha mẹ, sau khi hoàn thành con sẽ về thăm đền ơn cha mẹ, còn bây giờ, cha mẹ tha lỗi cho con.


Trời tối hẳn, người đi trên đường không nhìn rõ mặt nhau. Đơn vị tiếp tục hành quân. Chúng tôi vượt qua đèo An Đổ sang đất Đức Phổ, Quảng Ngãi và đi về hướng Ba Tơ. Rừng núi Ba Tơ trùng trùng điệp điệp, nơi đây có căn cứ của Đội du kích Ba Tơ, là nơi cội nguồn của lực lượng vũ trang Liên khu 5. Ở đó, Đội du kích đã từng "ngày đêm mài sắt thành gươm súng, ngày đêm rèn chí lớn vang vang chiến khu...". Bài hát "Du kích Ba Tơ" còn đọng mãi trong lòng mọi người. Nó như tiếng kèn giục giã đoàn quân ra trận hôm nay phải giành chiến thắng. Đơn vị trú quân trong rừng Ba Tơ, học tập quán triệt nhiệm vụ và Nghị quyết của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu về nhiệm vụ, mục tiêu của chiến dịch. "... Tập trung bộ đội chủ lực cho nhiệm vụ tấn công lên Tây Nguyên. Phải chiến thắng và thắng ngay từ trận đầu, kiên quyết đạt cho được mục tiêu đã đề ra…", đông thời cũng học và thảo luận, quán triệt phương châm tác chiến của Tổng quân ủy "Tích cực chủ động, cơ động linh hoạt...". Những nội dung sinh hoạt chính trị nâng cao nhận thức cho bộ đội rất cơ bản trước khi mở màn chiến dịch. Quyết tâm chiến đấu của bộ đội được nâng cao.


Từ Ba Tơ đến Mang Đen, chúng tôi hành quân ban ngày. Bộ đội đi trong rừng già, bóng cây to che phủ kín mặt đất. Trời mới xế chiều mà như đã tối từ lâu. Cảnh rừng âm u. Hành quân đi qua các buôn của đồng bào Ê Đê khi hoàng hôn buông xuống, những tiếng cồng, chiêng vang lên nghe buồn làm sao! Ở trong vùng địch, đồng bào Ba Na, Ê Đê bỏ buôn vào ở sâu trong rừng, bất hợp tác với địch. Đời sống của đồng bào vô cùng khổ cực. Bà con phải lấy vỏ cây che thân vì không có vải, đốt cỏ tranh lấy than ăn thay muối, nhưng khi nghe tin bộ đội hành quân qua thì bà con lập tức bắt gà, hái trái bí đem cho bộ đội ăn để còn "mạnh cái chân mà đi đánh giặc Pha lăng (giặc Pháp)". Tấm lòng của đồng bào Tây Nguyên với cách mạng, với Bác Hồ thật thủy chung son sắt.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:50:41 am »

Để giữ bí mật tiếp cận đồn quân địch, đơn vị phải lập đường hành quân trên đường núi cao dốc đứng, khó đi lắm. Nhưng tất cả anh em chúng tôi đều đến được nơi tập kết an toàn và bí mật.


Chúng tôi chuẩn bị đánh đồn Mang Đen - tiền đồn của tuyến phòng thủ của địch ở hướng Đông Bắc thành phố Kon Tum. Đồn có lô cốt bê tông, hầm ngầm, giao thông hào và hàng rào dây thép gai nhiều lớp rào bao quanh và dày đặc chông. Hỏa lực bố trí thành nhiều tầng đạn đan chéo hỗ trợ cho nhau. Trong đồn có 1 khẩu cối 120 mm đủ sức ngăn chặn ta tấn công mở đột phá khẩu.
Trong khu rừng Mang Đen, anh em chúng tôi ngồi quây quần nghe thông báo: ngày 20 tháng 01 năm 1954, địch đổ bộ lên Tuy Hòa, Phú Yên, đánh phá ác liệt vùng tự do của ta. Nghe tin, ai ai cũng sục sôi căm thù, quyết tâm tiêu diệt đồn để trả thù cho đồng bào Phú Yên.


Tiểu đoàn 365 được giao làm nhiệm vụ dự bị cho trận tiêu diệt đồn Mang Đen. Trận đánh mở màn cho chiến dịch phải đảm bảo chắc thắng.

Đêm ngày 27 tháng 1 năm 1954, chúng tôi đã hành quân đến vị trí tập kết cuối cùng, triển khai đào công sự, chờ lệnh nổ súng.
Đúng 23 giờ 30 phút, đơn vị chủ công khai hỏa, tấn công đồn. Các loại hỏa lực nổ dồn dập trút bão lửa xuống đồn. Đơn vị bộc phá ống đánh phá rào kết thúc. Tổ bộc phá 29 kg đánh phá lô cốt đầu cầu tạo tiếng nổ vang trời, rung đất. Bước mở đột phá khẩu thuận lợi, nhưng bước phát triển đánh trận nội gặp hỏa lực dày đặc, ác liệt. Anh em ta bị thương vong, trận đánh bị kéo dài. Chúng tôi rất sốt ruột, muốn xông lên hỗ trợ cho đơn vị bạn giải quyết dứt điểm trận nội. Trời rạng sáng. Được lệnh xuất kích. Chúng tôi vượt cửa mở, chiếm đầu cầu thì địch ở trong trận nội đầu hàng. Đơn vị bạn đang bắt tù binh, thu vũ khí chiến lợi phẩm.
Trận đánh mở màn chiến dịch đã giành thắng lợi ròn rã, thực hiện được quyết tâm của trên.


Tiểu đoàn 365 được lệnh hành quân cấp tốc lên Kon Tum. Trên đường đi đã bắt được tên quan Một của Pháp. Tên này chỉ huy một Trung đội lính người Thượng, phục kích ta bên ngoài đồn Mang Đen. Khi ta tấn công đồn, bọn lính người Thượng chạy hết vào rừng, tên Pháp không chạy kịp theo lính, bị ta bắt làm tù binh.


Chiều ngày 28 tháng 1, trên đường hành quân đi Kon Rẫy, đơn vị bị một trận oanh tạc dữ dội của 4 máy bay khu trục Hen-cát. Nó thả bom na-pan và bắn pháo xuống giữa đội hình hành quân của Tiểu đoàn. Nguyên do lộ bí mật là gánh nồi xoong nấu cơm của tổ "anh nuôi" đi bên cạnh đường, ngụy trang không kín. Chiếc L-19 tinh quái bay trinh sát phát hiện, bắn pháo khói chỉ điểm cho khu trục oanh tạc. Đơn vị chưa xáp địch mà đã có anh em hy sinh, thật đáng tiếc.


Tối 28 tháng 1, chúng tôi vượt sông Đác, qua cầu Kon Rẫy, tiến về hướng thành phố Kon Tum. Đến cách Kon Tum chừng 10 km, triển khai đội hình phục kích trên đường 24, đoạn Kon Tum - Kon Rẫy. Chúng tôi nằm phục kích đã mấy ngày nhưng địch vẫn chưa dám hành quân chiếm lại Kon Rẫy - Mang Đen. Dân công không gánh gạo theo kịp bộ đội. Chúng tôi bắt đầu thiếu gạo. Hàng ngày, suất ăn của một người chí được một vắt cơm bằng nắm tay, chia làm hai bữa sáng và tối. Mùa khô ở Tây Nguyên bắt đầu. Ban ngày rừng khô khốc, nóng toát mồ hôi nhưng đêm xuống thì rất lạnh, bụng đói cồn cào, không sao ngủ được.


Đêm 30 Tết Giáp Ngọ (3-2-1954), một kỷ niệm khó quên của đời bộ đội đối với tôi: quà đón giao thừa, mỗi người được nhận một miếng kẹo sô-cô-la (kẹo chiến lợi phẩm) to bằng ngón tay để đến giờ giao thừa chuyền cho nhau biết và bắt đầu ăn kẹo. Gọi là ăn nhưng chỉ ngậm để nó tan dần ở đầu lưỡi càng lâu cảm giác càng ngon. Tất cả chúng tôi ngủ dưới hầm, đề phòng pháo 105 mm của địch. Lúc này dậy lên nỗi nôn nao nhớ quê, nhớ nhà, nhớ cha mẹ, anh chị em da diết! Không biết năm nay Tết mẹ mình có mua được pháo Tết hay không? Tập quán đón Tết cổ truyền ở quê tôi, dù nhà nghèo đến mấy cũng phải có pháo Tết vì pháo đối với mấy ngày Tết có nhiều ý nghĩa lắm. Từ đời xa xưa truyền lại rằng, tiếng pháo Tết sẽ đuổi ma tà đi khỏi nhà, đuổi cái nghèo khổ, buồn phiền của năm cũ đi và đón lộc, đón niềm vui của năm mới tới. Bởi vậy, nhà nào cũng cố phải có pháo Tết. Cha tôi thường dặn mẹ tôi phải mua cho được 5 trái pháo tít (còn gọi là pháo tống). Cúng tất niên xong, đốt 1 trái vào tối 30 để đuổi ma tà ra khỏi nhà và đón tổ tiên về nhà ăn Tết. Sáng mồng một, đốt một trái để rước lộc năm mới về nhà và tối hôm đó đốt một trái nữa.


Mồng hai Tết, con cháu về chúc Tết phía nội, ngoại. Tối mồng ba Tết, đốt nốt số pháo còn lại và cũng đưa tiễn tổ tiên. Ở quê tôi, tập quán đốt pháo Tết như thế, nhưng những nhà khá giả thì họ đốt nhiều trái hom. Đến cuối thế kỷ 20 thì phổ biến là đốt pháo dây. Một dây có thể có đến 50-60 trái pháo. Nhiều nhà có điều kiện thì không chỉ đốt một dây mà đốt đến 3-4 dây. Ở các thành phố, đến giờ, pháo nổ đinh tai nhức óc. Khói pháo bay mù mịt đường phố. Tình trạng này kéo dài sang đầu thế kỷ 21 thì chấm dứt do lệnh cấm đốt pháo của Chính phủ.


Sau Tết có nhiều gạo do dân công gánh từ dưới đồng bằng lên, nhưng lại xảy ra thiếu lương khô vì trong thời gian thiếu cơm, anh em đã sử dụng hết đám lương khô dự trữ rồi. Cứ ăn lương khô và uống nhiều nước vào là no. Bộ đội đi đánh giặc, cần nhất phải có 5 cái "có" là: "có cơm", "có đường", "có muối", "có nước" và "có đạn". Nếu chỉ thiếu một "có" là sức chiến đấu giảm sút ngay, huống chi lúc này, chúng tôi thiếu đến 4 "có" (cơm, muối, đường, nước), nhưng ý chí chiến đấu, khí thế tiến công của đơn vị không hề bị giảm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:52:07 am »

Sáng ngày 7 tháng 2 năm 1954, tức ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, đúng ngày mà cách đây hơn 1 thế kỷ, vua Quang Trung đã cưỡi voi chiến, dẫn đầu đội quân tiến vào thành Thăng Long. Đơn vị nhận được tin địch bỏ thành phố Kon Tum, tháo chạy về Plây Cu.


Chúng tôi được lệnh hành quân đuổi theo. Bất chấp máy bay khu trục của địch bắn phá chặn đường, bất chấp đói và khát, chúng tôi vừa đi vừa chạy. Chúng tôi đến thị xã Kon Tum thì trời vừa tối, phố phường đã lên đèn, khung cảnh thật yên bình, không một tiếng súng. Chúng tôi tiếp tục hành quân qua cầu Kon Tum, rẽ trái đi đường 19 bis (Kon Tum - An Khê). Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Đắc Đoa. Đồn Đắc Đoa nằm trên đường 19 bis, là một trong những vị trí quan trọng bậc nhất, án ngữ bảo vệ hướng Đông Bắc thành phố Plây Cu và trục đường chiến lược số 19 Bình Định - Tây Nguyên. Đồn Đắc Đoa do 2 Đại đội lính Âu Phi của Tiểu đoàn 2, Binh đoàn cơ động số 100 chốt giữ. Đồn có lô-cốt, hầm ngầm vững chắc, có nhiều lớp hàng rào kẽm gai bao quanh. Phạm vi rào rộng, hình ngôi sao, gây nhiều khó khăn khi đánh bộc phá mở cửa khẩu. Đặc biệt, đồn được 1 Tiểu đoàn pháo 105 mm ở Biển Hồ (buôn Plâycó) yểm trợ. Ở sân bay Plây Cu, có một đội máy bay sẵn sàng cất cánh chi viện. Ta đánh đồn Đắc Đoa không còn yếu tố bí mật, bất ngờ vì địch đã biết quân ta đang vây hãm đồn. Đêm đêm, chúng gọi pháo ở buôn Plâycó bắn cản phá, gây cho ta gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận hàng rào đồn. Khi tiến đánh, ta đã có sáng kiến dùng bộc phá ống dài gấp đôi bộc phá ống bình thường để mở đột phá khẩu cho nhanh, hạn chế thương vong.


Trên giao cho Đại đội 242 tổ chức một Tiểu đội trinh sát thọc sâu lên phía Bắc Biển Hồ (buôn Plâycó) để xác định vị trí trận địa pháo 105 mm, nhằm dẫn đường cho đơn vị tập kích trận địa pháo. Tiểu đội trinh sát do anh Thiện Tích chỉ huy.Tôi được anh giao nhiệm vụ đi sau cùng đội hình để cảnh giới phía sau. Tiểu đội luồn rừng, nhằm hướng đề-pa của súng ca-nông đi tới. Qua hai ngày luồn rừng, vẫn chưa tìm được buôn Plâycần, nơi địch đặt trận địa pháo. Tiểu đội nhận được tin đơn vị bạn cùng đi tìm trận địa pháo đã phát hiện được và sẵn sàng đánh tập kích chi viện cho Tiểu đoàn 365 đánh đồn Đắc Đoa. Tiểu đội tôi nhận lệnh về lại đội hình của Đại đội 212 chuẩn bị đánh đồn Đắc Đoa vì "ngày N" (ngày khai hỏa) đã đến.


Đêm ngày 17 tháng 2 năm 1954, đúng vào đêm Rằm tháng Giêng, trăng sáng vằng vặc. Chúng tôi chiếm lĩnh trận địa, đào công sự vừa xong thì trận đánh khai hỏa. Trận đánh diễn ra tương đối thuận lợi ban đầu. Các chiến sĩ bộc phá đánh phá hàng rào kẽm gai nổ dồn dập. Hàng rào kẽm gai sắp bị phá tan. 12 khẩu pháo 105 mm ở buôn Plâycó không bắn được phát nào vì cũng bị đơn vị bạn tập kích. Chúng tôi nghĩ, trận đánh chắc chỉ độ một giờ nữa là kết thúc, ta chiếm xong đồn và thương vong sẽ không đáng kể. Song chỉ kéo dài được mấy phút thì pháo 105 mm ở buôn Plâycó bắt đầu bắn cấp tập, trút bão lửa xuống cửa đột phá khẩu. Trận đánh trở nên rất gay go, ác liệt. Bộ đội bị thương vong rất nhiều. Chỉ huy trận đánh lệnh cho Đại đội 211 từ hướng phụ chuyển thành hướng chính, thay cho Đại đội 213 vì Đại đội 213 bị thương vong nhiều, sức đột kích giảm. Đại đội trưởng Đại đội 211 là Lê Công Khai mặc dù bị thương nát cả hai chân, anh cắn răng nhịn đau, lết bằng hai tay theo đội hình để chỉ huy. Bộ đội mở cửa đột phá khẩu xong, anh tiếp tục động viên bộ đội xông lên chiếm đầu cầu. Vì bị thương quá nặng, anh Lê Công Khai đã hy sinh tại Trạm quân y dã chiến ở Đắc Đoa. Sau này, anh được tuyên dương Anh hùng quân đội.


Đánh vào trận nội lại càng quyết liệt. Đại đội 212 vào trận nội ở hướng chính. Tôi cầm súng và xách một giỏ thủ pháo theo Tiểu đội xông vào trận nội, mặc cho đạn pháo 105 mm nổ dồn dập xung quanh mình. Trong đồn, khói lửa ngút trời, đạn vạch đường của địch bay chíu chíu trên đầu. Nhờ có ánh sáng trăng nên tôi nhìn rõ các lỗ châu mai của lô-cốt. Nó giống như miệng con cá sấu khổng lồ đã nhai nát bao nhiêu đồng đội của mình, uất ức quá! Tôi rút chốt an toàn quả thủ pháo, chuẩn bị tống vào lỗ châu mai thì thấy lá cờ trắng tung ra. Tôi dừng tay và báo cáo với Tiểu đội trưởng: "Địch đầu hang!". Toàn bộ địch trong lô-cốt, trong hầm ngầm lúc nhúc kéo ra, giơ hai tay lên trời, đầu hàng. Tiểu đội trưởng giao cho chúng tôi bắt tù binh, thu vũ khí. Chúng tôi đã bắt gọn gần 200 tu binh và thu nhiều vũ khí.


Trời sáng dần, tôi nhìn cảnh đồn Đắc Đoa bị súng vòng cầu, bộc phá của ta bắn nát giống như cái xác của thằng Tây chết nằm giữa đồn. Thật đáng đời quân thực dân giết người. Mới cách đây mấy chục phút thôi, đồn Đắc Đoa giống như một con thú dữ. Đồn được pháo 105 mm cùng với các loại hỏa lực trong đồn đã làm cho ta bị thương vong hơn 100 (trong đó hy sinh 30, có 6 cán bộ Đại đội). Chúng tôi vô cùng thương tiếc các anh! Đơn vị tổ chức lễ truy điệu và mai táng chu đáo. Anh em đã nằm lại mảnh đất Đắc Đoa này mãi mãi. Đơn vị tiếp tục hành quân vào phía Nam chiến đấu trả thù cho các anh. Tiểu đội tôi được trên giao nhiệm vụ chốt giữ đồn cho tới chiều tối hôm đó mới được rút. Sáng ngày 18 tháng 2 năm 1954, địch cho 4 máy bay khu trục "Hen-cát" bay tới thả bom na-pan xuống quanh đồn. Bom na-pan đốt cháy kho chè và giết chết nhiều bò.


Sở chè Đắc Đoa có nuôi đàn bò rất đông. Khi máy bay oanh tạc, chúng chạy tán loạn vào rừng. Trên cho phép đơn vị tìm bắt về cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Tiểu đội tôi đi lùng trong rừng tìm bò suốt đêm ngày 19-2, gần sáng mới bắt được 1 con, đem về giao cho tổ "anh nuôi" thịt. Chúng tôi được ăn một bữa thịt bò ngon tuyệt, như được thêm sức mạnh để hành quân vào Nam Tây Nguyên.


Sau khi mất đồn Đắc Đoa, Bộ chỉ huy quân Pháp ở Tây Nguyên hoang mang, dao động mạnh. Nếu ta dân tới uy hiếp Plây Cu, địch có thể bỏ Plây Cu chạy về Buôn Mê Thuột. Nếu để xảy ra tình huống đó, sẽ giống như vuốt đuôi hổ, ta không thực hiện được mục tiêu là phải đánh lớn, diệt được nhiều sinh lực địch, đập tan chiến dịch Át-lăng của tướng Nava. Trên chủ trương đưa Trung đoàn chủ lực 803 bí mật vào Nam Tây Nguyên và đưa Tiểu đoàn 365 xuống đồng bằng Phú Yên một Tiểu đoàn chủ lực mạnh. Một chủ trương thượng sách, dùng quân của Bộ tư lệnh Liên khu là một đòn trời giáng xuống Bộ tham mưu Pháp ở Tây Nguyên.


Tiểu đoàn 365 trong đội hình của Trung đoàn 803 chuẩn bị vượt đường 19, bí mật vào Nam Tây Nguyên. Bất ngờ, trên lệnh xuống: Tiểu đoàn tách khỏi đội hình của Trung đoàn, bí mật hành quân xuống Bình Định, vào Phú Yên tác chiến. Không được cùng đi với đội hình của Trung đoàn, anh em rất buồn, song bù lại cũng rất vui vì được về đồng bằng, đặc biệt lại được về Phú Yên, nơi cội nguồn của Tiểu đoàn để chiến đấu giải phóng quê hương.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:52:59 am »

Từ Đắc Đoa, đơn vị hành quân đi liên tục 5 ngày 5 đêm, xuyên rừng lội suối vất vả, gian khổ. Về tới Bình Khê (Bình Định), đơn vị dừng chân làm lương khô, bổ sung gạo, đạn... Nhân dân Bình Khê mang đỗ đen, đường... đến ủng hộ bộ đội nấu chè bồi dưỡng vì bà con biết bộ đội ở trên rừng lâu ngày thiếu chất ngọt. Đơn vị tiếp tục hành quân vượt qua sông Côn (Bình Định) vào Đồng Xuân (Phú Yên). Tiểu đoàn dừng chân qua đêm tại xã Xuân Phước - Suối Cối. Từ tờ mờ sáng ngày 22 tháng 3 năm 1954, cán bộ tập trung đi nghiên cứu trận địa. Trinh sát Tiểu đoàn bất ngờ chạy về đơn vị báo cáo: "Có một Tiểu đoàn địch đang tiến đến hướng Xuân Quang-Suối Cối!". Thời cơ diệt địch đã đến! Anh em rất nóng lòng chiến đấu. Khi được tin trận đánh mở màn Đại chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi ròn rã (tiêu diệt đồn Him Lam tối ngày 13 tháng 3 năm 1954) càng cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội. Tiểu đoàn đang đi tìm địch để đánh thì chúng nó lại dẫn xác đến nộp. Cán bộ đi tìm trận địa đã về kịp triển khai ngay đội hình chiến đấu. Tiểu đoàn phân công cho Đại đội 211 đánh chặn đầu Đại đội 213 đánh khóa đuôi, Đại đội 212 đánh tạt sườn. Địch lọt vào trận địa, đơn vị chặn đầu, khóa đuôi khai hỏa, súng nổ dồn dập. Đại đội 212 xuất kích đánh tạt sườn. Tiểu đội tôi vượt qua mấy đám mì, cỏ cao lút đầu người, chưa thấy địch thì vấp phải con suối (suối Cối), đội hình bị khựng lại. Địch phát hiện bộ đội ta, chúng lập tức bám vào bờ suối làm công sự chống trả quyết liệt. Chúng gọi pháo 105 mm ở La Hai bắn lên chi viện. Đơn vị bị thương vong. Anh Nhạ Đại đội trưởng, anh Bé Chính trị viên Đại đội hy sinh. Đồng chí Xuân, tổ trưởng tổ "tam tam" của tôi cũng hy sinh. Tôi khóc, vô cùng thương tiếc các anh, đặc biệt thương anh Bé. Những ngày hành quân gian khổ, Chính trị viên Bé luôn đi sâu đi sát động viên chiến sĩ, trong đó có bản thân tôi. Sau này, tôi được biết ý định của Chính trị viên-Bí thư Chi bộ sẽ kết nạp tôi vào Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Sau trận đánh, các đồng chí trong Chi bộ kể lại như vậy. Nay anh Bé không còn nữa, cả đơn vị vô cùng tiếc thương, quyết xông lên tiêu diệt địch trả thù cho các anh. Bất chấp địch bắn như rải đạn trên đầu, anh Thiện Tích và tôi khiêng anh Bé đặt nằm trong bóng cây mát. Trên bầu trời, chiếc máy bay "bà già" bay quần đao chỉ điểm cho pháo 105 mm ở La Hai bắn chi viện. Máy bay thả xuống một lá cờ đuôi nheo động viên bọn "Hổ xám" (Tiểu đoàn 2 ngụy lâm quân) cố thủ chờ viện binh. Bọn địch ở La Hai không dám đưa quân lên suối Cối cứu viện. Ta nhiều lần gọi địch cố thủ ra đầu hàng sẽ được khoan hồng, song chúng rất ngoan cố chống lại. Trời sắp tối, không thể để trận đánh kéo dài thêm. Tiểu đoàn ra lệnh dùng đạn "phóng bom" nã vào khu vực cố thủ của địch. Công sự bị phá banh, ta tổ chức xung phong đánh giáp lá cà. Toàn bộ bọn địch còn sống sót giơ cờ trắng đầu hàng. Ta bắt sống hơn 100 tên. Số địch chết gần 200 tên. Trận đánh kết thúc thì trời cũng vừa tối. Ta đã tiêu diệt và xóa sổ Tiểu đoàn 2 ngụy lâm quân tại con suối Cối, Xuân Phước, La Hai, Phú Yên. Về phía ta, tổn thất tuy không lớn nhưng rất đau là hy sinh mất 4 cán bộ Đại đội, 8 cán bộ Trung đội và Tiểu đội, hầu hết là đảng viên ưu tú.


Tôi cùng với anh em trong Tiểu đội tìm đến chỗ mà tôi và anh Tích đã đặt anh Bé, Chính trị viên nằm, nhưng bà con Xuân Phước đã đưa anh về nghĩa trang của xã. Chúng tôi đứng nghiêm trước nơi đã đặt anh nằm, ngả mũ vĩnh biệt người Chính trị viên yêu quí cùng tất cả anh em đồng chí của mình đã anh dũng hy sinh, nằm lại mảnh đất Suối Cối này. Cũng tới lúc này, tôi mới có thời gian sờ lên cái chỏm "mũ phớt" của mình, mới thấy đạn đã xuyên thủng 5 lỗ, may mà không vào đầu!


Chiến thắng Suối Cối có ý nghĩa rất lớn. Trước hết, nó cổ vũ quân và dân Phú Yên, Bình Định tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích, tìm diệt tiêu hao sinh lực địch, kìm chân địch ở Phú Yên, Bình Định, làm cho chiến dịch Át-lăng lâm vào thế sa lầy. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho chiến ưường Tây Nguyên phát triển tiêu diệt các Binh đoàn thiện chiến của Pháp, tạo thành 2 gọng kìm (đồng bằng và Tây Nguyên)/ địch không còn lực lượng để đưa ra chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ.


Sau trận Suối Cối, có tin Binh đoàn 42 của địch chuẩn bị cơ động lên Tây Nguyên theo tuyến đường La Hai-Củng Sơn. Chúng tôi hành quân cấp tốc, nhằm phục kích, đánh chặn địch trên đoạn đường từ La Hai đi Củng Sơn. Cùng với đơn vị bạn, chúng tôi nằm phục kích gần 1 tuần lễ, nhưng không thấy động tĩnh gì. Với phương châm đi tìm địch mà đánh, Tiểu đoàn hành quân vào Nam Phú Yên. Mục tiêu là căn cứ Bàn Nham-Bàn Thạch do 1 Tiểu đoàn khinh quân số 506 của ngụy chốt giữ. Cứ điểm này nằm án ngữ bảo vệ phía Nam thị xã Tuy Hòa và con đường số 1 chiến lược, đoạn Nha Trang-Tuy Hòa. Cứ điểm được chia thành 2 khu (A và B). Khu A giao cho 2 Đại đội 211 và 212 đánh. Khu B giao cho Đại đội 213 hiệp đồng với đơn vị bạn đánh.


Đúng 1 giờ ngày 20 tháng 4 năm 1954, ta bắt đầu khai hỏa. Hỏa lực vòng cầu dồn dập chế áp địch. Bộc phá ống phá mở rào đột phá khẩu rất thuận lợi, không có thương vong. Tôi ở Tiểu đội xung kích của Đại đội 212 được lệnh tiến vào đánh trận nội. Trong trận nội, địch chống trả yếu ớt. Một số địch bị ta diệt, một số đầu hàng, còn số đông địch chạy trốn. Chúng tôi đang lùng bắt tù binh thì được lệnh cơ động sang khu B chi viện cho đơn vị bạn. Đại đội vận động sang đến khu B, đang tìm hướng đột kích thì lại nhận được lệnh thu hết liệt sĩ, thương binh và rút lui vì trời sắp sáng, trận đánh kéo dài không lợi. Kết quả trận đánh: có 200 tên địch bị diệt, chưa kể số bị thương và bị bắt làm tù binh. 60 đồng bào bị giam trong đồn được giải phóng. Ta hy sinh 30 đồng chí. Đây là trận đánh thắng nhưng không diệt gọn được địch. Nguyên nhân chính là do chủ quan, chưa dự kiến hết các tình huống gặp khó khăn, như hiệp đồng với đơn vị bạn khi đánh khu B...


Lúc này tình thế chiến trường rất thuận lợi cho chúng ta. Chiến dịch Điện Biên Phủ ta giành được đại thắng lợi. Địch đã bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh hơn 16.000 tên, ta thu rất nhiều vũ khí trang bị, có nhiều pháo lớn... Chiến dịch Át-lăng bị sa lầy, dẫm chân tại chỗ ở Phú Yên và Quy Nhơn-Bình Định. Hội nghị về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương đang tiến hành họp ở Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ). Thế trận nhìn chung, địch đang bị động đối phó trên khắp các chiến trường. Đây là thời cơ lớn, ta cần dấn tới để tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn nữa, nhanh chóng thu hồi lại các vùng đất tự do của Liên khu 5 vừa bị địch chiếm trong chiến dịch Át-lăng. Tiểu đoàn được lệnh hành quân cấp tốc lên phía Tây Phú Yên, chuẩn bị đánh cứ điểm Tuy Bình.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:54:37 am »

Cứ điểm Tuy Bình nằm phía Tây tỉnh Phú Yên, án ngữ giữa ngã 3 đường số 7 và đường số 21 (Củng Sơn-Cheo Reo) và giữa 2 con sông (sông Ba và sông Hinh). Vị trí rất hiểm yếu. Địch chiếm giữ địa lợi. Vì vậy, chúng rất chủ quan đề phòng ta tấn công. Công sự thì tạm bợ, chỉ có 1 lớp hàng rào kẽm gai. Lực lượng của địch gồm 1 Tiểu đoàn khinh quân số 504 và 1 Trung đội xe bọc thép.
Tiểu đoàn hiệp đồng với đơn vị bạn cùng đánh cứ điểm, khai hỏa vào lúc 1 giờ ngày 2 tháng 6 năm 1954.


Tiểu đoàn 365 hành quân tập kết phía Đông sông Ba (cứ điểm nằm ở phía Tây sông Ba), chờ cho trời tối thì bắc cầu phao vượt sông, tiếp cận áp sát cứ điểm. Đêm đã khuya nhưng địch trong cứ điểm vẫn còn thức để chơi bài, không hề hay biết gì. Đúng 1 giờ sáng ngày 2 tháng 6, hai đơn vị đồng loạt khai hỏa, tấn công cứ điểm. Các loại súng vòng cầu của ta bắn chính xác vào trận nội. Đơn vị mở đột phá khẩu đã hoàn thành. Tôi ở Tiểu đội xung kích của Đại đội 212 xung phong vào trận nội, chiếm giao thông hào, đánh địch chạy ra phía bờ sông Ba. Địch một số chết, một số đầu hàng, còn lại phần đông vứt súng chạy vào rừng trốn. Trận đánh kết thúc thì trời cũng vừa rạng sáng. Đơn vị tôi được phân công ở lại cứ điểm lùng bắt bọn tàn quân, thu vũ khí. Trưa ngày 2 tháng 6, địch cho 4 chiếc "Hen-cát" đến ném bom na-pan đốt cháy toàn bộ số xe chiến lợi phẩm mà ta cất giấu trong lùm cây cạnh bờ sông Ba. Máy bay ném bom trúng xe là nhờ bọn tàn quân khi chạy trốn có mang theo máy vô tuyến điện để chỉ điểm. Chiều hôm ấy, địch cho 1 chiếc "Đa-cô-ta" đến ném bom phá hủy một số phà đang đậu tại bến (bến phà Củng Sơn-Tuy Bình). Tối hôm đó, trời tối đen như mực nhưng anh em đã đốt đuốc để sửa chữa được một số phà và đưa toàn bộ số xe bọc thép sang phía Đông sông Ba rồi chạy về căn cứ của ta an toàn. Chúng tôi được lệnh hành quân tiếp tục lên phía Tây Phú Yên để đánh đồn Buôn A-ê-riêng. Đêm tối, trời nổi sấm chớp và mưa xối xả. Đến chừng nửa đêm, ta nhận được tin là địch đã bỏ đồn, chạy lên Cheo Reo. Đơn vị lại nhận lệnh quay về đồng bằng Phú Yên hoạt động.


Lúc này, tại bàn Hội nghị ở Giơ-ne-vơ, hai bên (ta và Pháp) đang đấu tranh giằng co về việc đặt giới tuyến quân sự tạm thời ở vĩ tuyến nào? Phía Pháp khăng khăng đòi đặt ở vĩ tuyến 20. Phía phái đoàn của ta kiên quyết đòi đặt ở vĩ tuyến 13. Nghe tin đó, với sự nhạy bén về chính trị của các cấp chỉ huy, muốn tranh thủ tấn công mạnh hơn nữa, đẩy quân địch xuống dưới vĩ tuyến 13. Như vậy, ta vừa hỗ trợ đắc lực cho phái đoàn của ta ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, vừa làm cho chiến dịch Át-lăng của Nava chóng phá sản, đồng thời thu hồi nhanh các vùng tự do của ta ở Phú Yên đang bị địch chiếm đóng. Sau này, được biết là sở dĩ vĩ tuyến quân sự tạm thời được đặt tại vĩ tuyến 17 chính do đề xuất của Chu Ân Lai, trưởng phái đoàn Trung Quốc. Phía Pháp như kẻ sắp chết đuối gặp được phao cứu sinh liền "chấp nhận ngay". Đơn vị hành quân về đến Tây Tuy Hòa lập tức chuẩn bị đánh tập kích thị xã Tuy Hòa và tiêu diệt cứ điểm Núi Sầm.


Núi Sầm là một ngọn núi nhỏ, đứng độc lập ở cánh đồng Hòa Trị, án ngữ bảo vệ phía Tây thị xã Tuy Hòa. Đại đội 211 có nhiệm vụ tập kích địch đóng trong thị xã Tuy Hòa. Đại đội 212 có nhiệm vụ hiệp đồng với đơn vị bạn đánh tập kích địch đóng ở Núi Sầm. Đại đội 213 làm dự bị.


Giờ "G" đêm ngày 20 tháng 6 năm 1954 phát hỏa. Ưu tiên cho đơn vị tập kích thị xã được nổ súng trước, sau đó, đơn vị đánh Núi Sầm mới được nổ súng. Đại đội 211 tấn công địch ở thị xã giành thắng lợi ròn rã: đốt cháy 2 kho xăng, 1 kho đạn và hon 200 xe các loại, tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên địch. Thị xã Tuy Hòa náo động, địch hoang mang chống cự yếu ớt, một số chạy trốn trong nhà dân.


Sau khi Tuy Hòa nổ súng ít phút thì Đại đội 212 khai hỏa đánh Núi Sầm. Ta ở thế bất lợi, lại không còn yếu tố bất ngờ nữa. Bộ đội nằm phơi trên cánh đồng dưới ánh trăng sáng trưng. Địch ở trên sườn núi bắn găm xuống, đạn vãi như mưa. Ta không thể áp sát mở đột phá khẩu, phải dùng cường tập đánh bộc phá. Tiểu đội xung kích của tôi nằm chờ cửa mở. Anh Phú, Tiểu đội trưởng bị thương, anh Bổn, tổ trưởng tổ "tam tam" bị thương. Tôi nghe rất rõ tiếng anh Bổn hô: "Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!". Mặc cho tiếng nổ của lựu đạn, tiếng kêu chíu chíu của đạn địch nổ xung quanh mình, anh vẫn gọi Bác Hồ hai lần. Sau này, nghe anh Bổn kể lại: "Mình phải gọi Bác Hồ vì thấy trận đánh ác liệt, khó "thoát" quá!". Chúng tôi băng bó cho hai anh và cõng các anh chạy ra ngoài vòng hỏa lực. Bàn tay của tôi bị trúng mảnh lựu đạn địch, máu ra nhiều. Anh Toàn trong tổ "tam tam" nằm cạnh, lấy băng ra băng cho tôi. Hai anh em kiên quyết nằm chờ cửa mở. Cửa mở chưa xong thì trời đã gần sáng, nếu càng kéo dài trận đánh thì càng bất lợi. Trên hạ lệnh rút quân. Trận đánh không chiếm được trận nội lại bị thương vong nặng là do chủ quan trong công tác chuẩn bị cho trận đánh, lại thiếu đạn vòng cầu, hai đơn vị hiệp đồng cũng chưa chặt chẽ...


Sau trận đánh, anh Phú Tiểu đội trưởng, anh Bổn tổ trưởng tổ "tam tam" và tôi được nằm điều trị vết thương ở trạm xá dã chiến của đơn vị. Trạm xá dã chiến đóng ở xã Hòa Phong (Tuy Hòa). Chúng tôi rất nóng lòng, mong từng ngày cho vết thương chóng kéo da non để được trở về đơn vị chiến đấu.


Tình hình chiến trường lúc này thay đổi từng ngày có lợi cho ta. Ngày 24 tháng 6, đơn vị bạn đại thắng trận Đắc Pơ (Tây An Khê): đánh tan Binh đoàn cơ động 100 của Pháp, bắt sống nhiều tù binh Âu Phi, thu gần 400 chiếc xe các loại và hàng chục khẩu pháo 105 mm.


Chiến thắng Đắc Pơ càng cổ vũ quân và dân Khu 5 xốc tới giành thắng lợi lớn hơn nữa để cùng quân dân cả nước tăng thêm thế mạnh cho phái đoàn đàm phán của ta ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, buộc Pháp phải mau chóng ký Hiệp định đình chiến sớm ngày nào thì xương máu của đồng bào, của chiến sĩ ta đỡ đổ ngày đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2025, 07:56:12 am »

Bác sĩ xem vết thương của ba anh em chúng tôi, thấy vết thương đã kéo da non, đồng ý cho ra viện, nhưng căn dặn: về đơn vị phải giữ băng thêm vài ngày nữa. Ba anh em chúng tôi về Trạm đón tiếp của Trung đoàn nhập cùng với số anh em đang còn ở Trạm, cùng nhau hành quân đuổi theo đơn vị lên Cheo Reo, chuẩn bị đánh đồn Bà Lá. Anh em đi tới Củng Sơn thì dừng lại làm lương khô bổ sung. Đồng bào Củng Sơn không còn một con vật nuôi nào trong nhà (như gà, lợn, bò...) vì bọn địch đóng ở Tuy Bình hàng ngày đi săn lùng, cướp bóc hết. Chúng tôi đành làm lương khô bằng thịt chó. Thịt chó đem rang khô với riềng, sả, mắm ruốc thật thơn ngon tuyệt vời...


Chúng tôi chuẩn bị hành quân để tiếp tục đuổi theo đơn vị thì có lệnh dừng lại nhận nhiệm vụ mới. Cán bộ chính trị của Trung đoàn xuống truyền đạt chỉ thị của đồng chí Nguyễn Chánh-Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu. Nguyên văn chỉ thị là: "... Đình chiến đến nơi rồi, lúc này không để đổ thêm một giọt máu nào của chiến sĩ nữa...". Chúng tôi nghe xong mà vừa mừng vui, vừa nuối tiếc. Ai cũng muốn đánh tiếp để đuổi địch ra khỏi đất Phú Yên. Đồng chí cán bộ chính trị giải thích có lý có tình nên mọi người mới thông suốt. Đúng ngày 20 tháng 7 năm 1954, ngày đánh dấu mốc son lịch sử của cuộc chiến tranh Đồng Dương: Hiệp định đình chiến giữa Việt Nam và Pháp đã được ký kết. Nó cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt sự đổ máu của đồng bào và chiến sĩ ta trên toàn chiến trường.


Sau ngày 20 tháng 7, chúng tôi được lệnh hành quân về trú quân tại La Hai. Sau đó mấy ngày, toàn bộ Tiểu đoàn từ Cheo Reo cũng hội ngộ về đây. Anh em gặp nhau mừng vui không sao tả nổi. Sau 7 tháng trời ròng rã hành quân chiến đấu trên khắp các chiến trường Bắc Tây Nguyên, Nam Tây Nguyên, rồi đồng bằng Phú Yên..., những bước chân chiến sĩ đã vượt qua bao đèo cao, dốc đứng, đá dựng, khe sâu..., đã chịu đựng bao nỗi đói khát và đã vượt qua bao bom đạn ác liệt... Hôm nay gặp lại nhau, ngồi điểm lại xem ai còn ai mất, ai đã nằm lại ở chiến trường nào, trong trận đánh nào... Nhìn nhau, mọi người lại ngậm ngùi thương nhớ các đồng chí, đồng đội đã từng bên nhau trong chiến đấu mà giờ không còn nữa. Họ đã nằm lại vĩnh viễn trên khắp các chiến trường từ Tây Nguyên đến vùng đồng bằng của Liên khu 5.


Cuối tháng 7 năm 1954, trên bãi cát cạnh bờ sông La Hai, quân và dân tổ chức cuộc mít-tinh mừng chiến thắng, đồng thời đây cũng là buổi chia tay với đồng bào Phú Yên vì cũng chẳng còn cơ hội nào gặp nhau đông vui như thế này nữa.

Hòa Đa-Tuy An là nơi thành lập Tiểu đoàn 365 (tháng 5 năm 1949). Tiểu đoàn đã được bà con đùm bọc, nuôi dưỡng từ những ngày đầu trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nhiều lúc tưởng chừng như không thể vượt qua, đến nay, Tiểu đoàn đã trưởng thành, lớn mạnh, vững vàng... vậy mà chúng tôi cũng không thể về thăm bà con trước khi chúng tôi đi tập kết được, bởi Hòa Đa vẫn còn nằm trong vùng địch tạm chiếm của chiến dịch Át-lăng. Chúng tôi đành chịu lỗi với nhân dân Hòa Đa, với đồng bào Phú Yên. Hẹn có ngày nhất định sẽ gặp lại bà con Hòa Đa, Phú Yên!


Hiệp định Giơ-ne-vơ ký ngày 20 tháng 7 quy định: lực lượng vũ trang của ta phải tập kết hết ra Bắc vĩ tuyến 17 (còn gọi là giới tuyến quân sự tạm thời). Lực lượng vũ trang Liên khu 5 sẽ tập kết ra Bắc vĩ tuyến 17 trong thời hạn không quá 300 ngày (kể từ ngày ký Hiệp định).


Chiến dịch Đông-Xuân-Hè 1953-1954, quân và dân Liên khu 5 nói chung, Trung đoàn 803 chủ lực nói riêng, trong đó có Tiểu đoàn 365 đang trên đà chiến thắng dồn dập, khí thế như chẻ tre trên khắp chiến trường Liên khu, nay lại phải ngừng chiến đấu rồi lại phải tập kết ra Bắc. Mọi người lại phải sống xa gia đình, xa cha mẹ, vợ con, anh em, xa bạn bè, xa những người thân yêu, xa đồng bào và mảnh đất Liên khu 5 yêu thương mà quân và dân đã phải đổ bao máu xương mới giành và giữ được! Nhiều người suy nghĩ mung lung, không sao cầm được nước mắt. Chân tay bải hoải, rã rời...Nhưng sau khi được học tập lời kêu gọi của Bác Hồ gửi đồng bào miền Nam: "Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định sẽ được giải phóng! Tôi chắc rằng, đồng bào sẽ đặt lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt...". Học xong lời kêu gọi của Bác, anh em không những tự giải quyết tốt tư tưởng cho mình mà lúc này còn là người vận động, tuyên truyền, giác ngộ cho nhân dân tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng.


Tiểu đoàn hành quân từ Phú Yên ra Bình Định. Chúng tôi về Phú Tài-Phù Mỹ để chia tay tạm biệt đồng bào nơi đóng quân, nơi tình quân dân cá nước trước khi đi tập kết. Chúng tôi lại về đóng quân tại Cát Chánh-Phù Cát để tập luyện chuẩn bị tham gia diễu hành nhân dịp kỷ niệm ngày 2 tháng 9 tại sân vận động Phù Cát. Tại đây sẽ mừng Tết Độc Lập và mừng Đại thắng chiến dịch Đông-Xuân-Hè năm 1953-1954 ở Liên khu 5. Đây cũng là ngày hội lớn nhất sau 9 năm kháng chiến oanh liệt của quân và dân Liên khu 5. Cuộc diễu hành ngày 2 tháng 9 năm 1954 ở sân vận động Phù Cát là một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết quân dân như cá với nước ở Liên khu 5. Nó xuyên suốt trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, giành thắng lợi. Giờ đây chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới với bất kỳ kẻ thù nào, chúng ta càng cần phải biểu dương và giữ vững sức mạnh đoàn kết, đại đoàn kết, khi ấy không có thế lực nào có thể thắng nổi.


Tiểu đoàn 365 nằm trong đội hình của Trung đoàn 803 có vinh dự được ở lại khu tập kết 300 ngày tại Liên khu 5, đảm bảo an toàn cho nhân dân và lực lượng vũ trang lần lượt xuống tàu đi tập kết. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn rất nặng nề: vừa phải ra sức giúp nhân dân khắc phục hậu quả của chiến tranh, ổn định đời sống, vừa phải tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại mọi luận điệu của địch nói xấu cách mạng, xuyên tạc phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, chia rẽ tình đoàn kết quân dân... đồng thời luôn phải sẵn sàng chiến đấu, đề phòng địch tập kích bất ngờ phá hoại cuộc chuyển quân của ta xuống tàu đi tập kết.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM