Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:12:10 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhớ về bầu trời năm ấy  (Đọc 5013 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #30 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:17:22 pm »

Mùa Hè đi qua đồng nghĩa với mùa bay năm 1963 của chúng tôi cũng kết thúc và mùa nghỉ phép của giáo viên, học viên cũng đến. Thầy trò chúng tôi tạm chia tay nhau, hẹn mùa sau gặp lại!

11 giờ trưa ngày 25-9-1963, tất cả anh em chúng tôi lỉnh kỉnh tay thì xách va li, tay thì xách túi du lịch lên chiếc máy bay IL-14 của quân sự mang số hiệu 09, bay từ sân bay Cusốpscaia đến sân bay Krasnodar. Ở đó có ga tàu hỏa chạy thẳng về Thủ đô Mạc Tư Khoa.


Ở sân bay Krasnodar, có đoàn học kỹ thuật rất đông, có đủ các bộ môn kỹ thuật phục vụ cho nội trường, ngoại trường thuộc hệ MiG và máy bay ném bom IL-28. Đoàn kỹ thuật do anh Phạm Tâm và anh Mai Bá Quát phụ trách. Đoàn bay IL-28 do anh Võ Văn Xong phụ trách. Nhà trường cho cả ba đoàn cùng về nước nghỉ phép. Tối hôm đó, cả ba đoàn tổng cộng hơn trăm người cùng lên chuyến tàu hỏa chạy suốt từ Krasnodar về Mạc Tư Khoa.


Sáng 26-9, tàu về đến Mạc Tư Khoa thì đã có người của bộ phận đối ngoại Bộ Quốc phòng Liên Xô cùng với cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Mạc Tư Khoa ra ga đón chúng tôi, đưa đi làm thủ tục để lên tàu hỏa liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh - Hà Nội. Hồi ấy, khi cầm tấm vé đi tàu hỏa liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh - Hà Nội thấy cảm giác sao mà thân tình gần gũi nhau đến thế. Mặc dù chúng tôi đã được biết tình hình chính trị giữa Liên Xô và Trung Quốc đang ngày một gia tăng trong việc lên án nhau về cái gọi là Chủ nghĩa xét lại. Nhưng chúng tôi thầm mong quan hệ giữa hai nước đừng xấu đi hơn nữa để đường tàu liên vận vẫn thông suốt, để sự vận chuyển hàng hóa từ các nước Xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam trong đó có việc đi học của chúng tôi không bị gián đoạn. Nếu bị gián đoạn thì uổng phí lắm vì cơ hội trở thành phi công chiến đấu của chúng tôi không còn xa nữa.
Cả ngày chờ tàu hỏa, bạn tranh thủ đưa chúng tôi đi xem một số điểm ở thành phố như Lăng Lê-nin (chỉ xem phía bên ngoài, chưa được vào phía trong), Quảng trường Đỏ, Bách hóa tổng hợp (GUM), trường Đại học Lômônôxôp... cho đến khi đường phố lên đèn thì chúng tôi cũng lên tàu liên vận đi Bắc Kinh. Tàu hỏa bắt đầu lăn bánh, đêm tối ập đến, hai mi mắt cứ muốn dính lại với nhau nhưng chỉ chợp được một lát lại mở thao láo, người tỉnh như đang ngồi trong buồng lái MiG. Bao nhiêu chuyện hiện lên trong trí nhớ: chuyện ở nhà trường, chuyện bay, chuyện khi về Tổ quốc sẽ đi chơi ở đâu và thăm những ai. Rồi chuyện khi trở lại trường sẽ mua những quà kỷ niệm gì ở Việt Nam để tặng cho thầy giáo và các bà phục vụ ở văn thư (có công cho chúng tôi mượn sách bí mật), các bà phục vụ ở nhà ăn...


Hai năm sống xa Tổ quốc thiếu thông tin, khát khao tình cảm, nay được về, mọi người tràn đầy sung sướng. Ai ai cũng mua quà kỷ niệm từ đất nước Xô-viết về cho gia đình, cho bạn bè, vì vậy khi lên tàu lỉnh kỉnh "tay xách nách mang" đủ thứ.

Tàu chạy đến ga Zabaican (ga cửa khẩu của Liên Xô) làm thủ tục xuất cảnh sang ga Mãn Châu Lý (Trung Quốc). Đoàn trưởng vào cửa hàng rút số tiền gửi lại trước kia và chia cho anh em để khi đến Bắc Kinh sẽ mua quà kỷ niệm.

Ngày 03-10-1963, chúng tôi về đến Bắc Kinh. Xe của Đại sứ quán ra đón chúng tôi về nghỉ ở khách sạn Bắc Vĩ. Chúng tôi ở đây 3 ngày vì lí do chuyến tàu về Bằng Tường bị trễ. Đêm nhớ Hà Nội không ngủ được. Nửa đêm còn nghe tiếng rao của người bán kem trên đường phố: "I mảo lẻng cơ!" (một hào hai chiếc!) nghe mà buồn làm sao. Không ngủ được nên đành nằm chờ cho trời sáng để rủ nhau đi dạo Cố Cung và Bách hóa Đại lầu.


Sáng 6-10, chúng tôi lên tàu hỏa Bắc Kinh - Bằng Tường. Thời ấy tàu liên vận chưa chạy thông tới ga Hà Nội được vì đường ray của tàu hỏa Việt Nam hẹp hơn đường ray của tàu hỏa Trung Quốc. Tờ mờ sáng ngày 9-10, tàu liên vận đến ga Bằng Tường (Trung Quốc). Tàu hỏa Việt Nam đã chờ sẵn ở đường ray bên phải để nối chuyến về Hà Nội. Trời sáng hẳn, chúng tôi lễ mễ khuân vác đồ đạc từ tàu Trung Quốc sang tàu Việt Nam. Tàu hỏa của mình còn rất giản đơn, ghế cứng chỉ dùng cho chỗ ngồi. Các anh các chị nhân viên phục vụ rất niềm nở với khách. Chúng tôi rất có cảm tình. Cách đây 2 năm, cũng tai ga Hàng Cỏ, chúng tôi đi ra nước ngoài vào cuối tháng 9 (29-9-1961) nay về đầu tháng 10-1963. Ga Hàng Cỏ vào những ngày có tàu hỏa liên vận thì rất tấp nập, đông vui, kẻ tiễn người đón, tiếng khóc tiếng cười đều có đủ. Riêng tôi chỉ trơ trọi một thân một mình từ khi đi đến lúc về. Có anh em khuyên tôi vậy sao không ở lại Liên Xô, đi về vùng Xô Chi nghỉ ngơi cho sướng thân, về nước làm gì vì làm gì có người thân ở ngoài Bắc, nhưng tôi lại nghĩ khác: dù được nghỉ mấy ngày tôi cũng về Tổ quốc vì nhớ "miền Bắc yêu thương, miền Nam ruột thịt" lắm. Điều ấy đã thấm sâu trong tim tôi từ ngày tôi tập kết ra miền Bắc.


Tàu hỏa về đến ga Hàng Cỏ, chúng tôi xuống tàu, được các anh đại diện Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị đón và đưa về Trạm 93 (sau này đổi thành Trạm 66). Các anh hướng dẫn làm thủ tục đăng ký đi nghỉ phép với địa chỉ, quê quán, nơi nghỉ của từng người. Tôi đăng ký nghỉ tại Trạm 93. Các anh hơi ngạc nhiên.


Đêm xuống. Trời bắt đầu mưa. Những anh em có quê ở xa Hà Nội lục tục kéo nhau ra ga, còn những người ở xung quanh Hà Nội thì đi xích lô hoặc có người nhà đến đón bằng xe đạp. Sáng ngày, chỉ còn mỗi mình tôi. Tôi gọi xe xích lô xuống tiệm phở Bờ Hồ ăn liền hai bát tô. Sau hai năm mới được ăn phở Hà Nội thấy ngon tuyệt!


Tôi đi ra khu tập thể bờ sông thăm gia đình anh Ba Kỳ. Sau hai năm, bao nhiêu chuyện ở quê hương mà anh chị có được là do các anh từ trong quê ra kể lại. Anh Ba Kỳ là cán bộ lãnh đạo của huyện Hoài Nhơn từ thời tiền khởi nghĩa, rất được cán bộ tin cậy. Các anh bám cơ sở trong quê ra Trung ương báo cáo đều đến gặp anh Kỳ tâm sự hoặc các anh được cử về Nam công tác, trước khi đi cũng đến gặp trao đổi kinh nghiệm... Anh Ba Kỳ cho tôi biết một vài tin ngắn về gia đình tôi ở trong quê, những tin ấy đối với tôi thật quý hơn vàng! Đó là cha mẹ, các anh, chị và em đều mạnh khỏe. Bọn tình báo ngụy quỷ quyệt đã dò biết cha tôi có con đi tập kết ra Bắc và đã "xuất dương sang Nga Xô". Chúng đến nhà đe dọa ông già nhiều lần nhưng may sao, chúng chưa biết cụ thể là tôi đi "xuất dương" để làm gì, cho nên cũng đỡ bớt phần khủng bố ông già. Hồi đó, những cán bộ miền Nam đi ra Bắc hoặc từ miền Bắc được vào Nam thì chỉ cố gắng nhớ được bao nhiêu lời nhắn nhủ thì nhớ chứ không được mang theo thư từ gì để phòng trường hợp bị địch bắt mà không kịp thủ tiêu thư từ, chúng lấy được thì rất nguy hiểm cho gia đình.


Tôi nghỉ ở nhà anh Ba Kỳ gần một tuần lễ, tâm sự với anh chị đủ chuyện dưới đất trên trời. Sau đó, tôi đi Nghệ An thăm những anh em ở đơn vị cũ, thăm bà con ở các vùng đóng quân quen thân năm xưa. Cái thời mà đời sống của cà quân lân dân đều gặp nhiều khó khăn nhất, gian nan nhất mà cũng gắn bó với nhau bền chặt nhất nhớ lâu nhất. Nhưng vào đến Vinh thì mắc lũ. Con đường Vinh - Đô Lương - Diễn Châu - Đô Lương đều bị ngập trong nước lũ, cầu thì hỏng. Tôi thầm nghĩ: hay là ta đi bộ chăng? Bởi hai tuyến đường đó tôi đã tùng đi bộ nhiều lần hồi tôi ở Sư đoàn 324, đóng quân ở các vùng Chợ Ú, Minh Sơn, Đà Sơn, Đô Lương... Nhưng thời gian nghỉ phép đã hết, tôi phải ngược ra Hà Nội để tiếp tục sang Liên Xô học bay MiG năm thứ hai. Đấy là năm quyết định bước vào "chặng đường bầu trời" đầy oanh liệt của thời trai trẻ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:19:08 pm »

Đầu tháng 11-1963, chúng tôi có mặt đông đủ ở Trạm 93, đường Hoàng Diệu, Hà Nội để chuẩn bị lên chuyến tàu liên vận Hà Nội - Bắc Kinh - Mạc Tư Khoa. Đây là chuyến tàu liên vận thứ ba. Thật cũng hiếm có trong đời tôi!

Về đến trường, chúng tôi bước vào học lý thuyết bay năm cuối của khóa bay huấn luyện MiG-17. Sau khi nghỉ Đông, chúng tôi bắt tay vào công tác chuẩn bị mặt đất. Trên sân bay còn đầy tuyết trắng, trông xa lóa hết cả mắt. Bạn nắm bắt quy luật thời tiết rất chính xác, chuẩn bị mặt đất xong thì trời cũng ấm dần, tuyết tan hết nhưng đây cũng là thời điểm dễ bị bệnh cảm cúm nhất. Bởi vậy, mọi người phải phòng ngừa cho cẩn thận để không ảnh hưởng đến kế hoạch và tiến độ bay, vì năm nay hộ chiếu hết niên hạn rồi, mọi người phải về nước. Nếu không hoàn thành kế hoạch mà phải về nước thì buồn biết bao!


Bước vào bay năm cuối của khóa học (tháng 3-1964). Năm nay chủ yếu bay những khoa mục ứng dụng chiến đấu như không chiến, bắn, ném bom mặt đất. Chúng tôi rất thích khoa mục không chiến, song, bạn lại nghiêng về các khoa mục tiêm kích bom nhiều hơn. Sau này trải qua không chiến với Không quân Mỹ, nghĩ lại những tháng năm bay huấn luyện ở Liên Xô, chúng tôi rất tiếc là chưa khai thác được nhiều bài học không chiến của các phi công Liên Xô. Một thời họ đã đụng đầu với Không quân Mỹ ở Triều Tiên. Thời đó, phía Liên Xô sử dụng chủ yếu MiG-15, còn phía Mỹ sử dụng loại F-84. Đặc biệt, một bài học kinh nghiệm mà các thầy thường nói với chúng tôi là: "Nếu phi công Việt Nam sau này có đụng đầu với Không quân Mỹ thì phải lưu ý cài trò "cắn đuôi" của phi công Mỹ!". Chúng tôi ghi nhớ cái từ "cắn đuôi" ấy. Sau này, trên bầu trời miền Bắc, trong cuộc không chiến giữa chúng tôi với Không quân Mỹ thì cái trò "cắn đuôi" đó của Mỹ cũng thường diễn ra ở các sân bay. Ở sân bay Đa Phúc, máy bay tiêm kích của Mỹ lợi dụng dãy núi Tam Đảo, bay thật thấp để "che mắt ra-đa", đột nhập vào đầu Tây sân bay (phía đầu mà các máy baỵ MiG thường về hạ cánh) để "cắn đuôi" (cắn trộm ấy mà!), ở sân bay Hòa Lạc thì chúng lợi dụng núi Ba Vì, sân bay Kép thì chúng lợi dụng những đồi núi nhấp nhô vùng Chũ - Sơn Động... để đột nhập vào "cắn đuôi" máy bay MiG sau khi đi chiến đấu về trong tình trạng dầu cạn, đạn hết hoặc máy bay bị thương phải xuống hạ khẩn cấp...


Chúng tôi cũng thường nhận được những bản tin tổng hợp tình hình trong nước của Đại sứ quán gửi xuống. Đặc biệt tin về tình hình cách mạng miền Nam càng cổ vũ chúng tôi ra sức học tập. Anh em chúng tôi rất quan tâm những tin về đế quốc Mỹ đầu tư ồ ạt về quân sự cho chính quyền Sài Gòn, đặc biệt là xây dựng lực lượng Không quân ngụy. Đó là lực lượng sẽ đụng đầu trực tiếp với Không quân miền Bắc nếu có chiến tranh xảy ra. Chúng tôi chưa hề nghĩ đến việc đụng đầu đầu tiên lại là Không quân Mỹ. Vậy mà thực tế lại xảy ra giữa một Không quân rất nhỏ bé, non nớt (mới có mấy chục giờ bay tích lũy/một phi công, với một Không quân đồ sộ, già đời (có giờ bay tích lũy hàng ngàn giờ/một phi công). Và Mỹ đã hùng hổ tuyên bố "sẽ làm cỏ hết nhóm MiG của Bắc Việt!!!".


Lúc này, Đài phát thanh tiếng Việt của Liên Xô và Trung Quốc "đáp trả" lẫn nhau ngày một nặng nề, càng làm cho anh em chúng tôi vô cùng lo lắng. Biết rằng có lo cũng chẳng đi đến đâu, nhưng sao vẫn lo? Ở Trường thì có một số cán bộ chính trị hay đặt câu hỏi: "Việt Nam ủng hộ quan điểm nào?" (của đài Liên Xô hay đài Bắc Kinh). Thật phức tạp vì mình đang sống ở Liên Xô! Nếu trả lời theo quan điểm của Liên Xô thì hóa ra anh cơ hội và sai với quan điểm của Đảng ta. Chúng tôi đã có cách trả lời vừa không làm phật lòng bạn, vừa không sai quan điểm của Đảng. Quan điểm của Việt Nam đó là "chủ nghĩa Mác- Lênin"... "Việt Nam chúng tôi luôn mong muốn các nước Xã hội chủ nghĩa đoàn kết lại chống kẻ thù chung đó là chủ nghĩa đế quốc...".


Tháng 7-1964, ở sân bay Cusốpscaia rất nóng, gần giống như ở Hà Nội. Chúng tôi thực hiện các bài bay bắn và ném bom thật trên trường bắn. Về trưa, từ độ cao 2000 mét trở xuống, không khí nhiễu động rất dữ làm cho máy bay luôn bị bồng lên. Vì vậy, khi đặt điểm ngắm của máy ngắm lên mục tiêu (bắn súng loại 37 li thì mục tiêu là hình chiếu máy bay ném bom, còn khi ném bom thì mục tiêu vẽ hình chữ thập) điểm ngắm cứ chạy lòng vòng sang hết phải lại trái, hết phía trước lại phía sau, không ổn định theo quỹ đạo bổ nhào của máy bay. Các "ổ gà" trong không khí đã gây khó khăn trong việc ngắm bắn chính xác cho các phi công. Song, nhờ các thầy dày dạn kinh nghiệm truyền đạt kịp thời cho cách ngắm bắn nên kết quả khoa mục thực hành bắn và ném bom thật trong điều kiện không khí nhiễu động mạnh, chúng tôi đều đạt khá và giỏi.


Ngày 21-4-1964, tờ báo viết tay "START" ở ngoài tuyến bay (sân bay), trên trang đầu đã đăng dòng tít chữ to màu đỏ với nội dung "Hoan hô Nguyễn Hồng Nhị là học viên bắn giỏi nhất! (16 viên đạn trúng mục tiêu)".

Được nhà trường biểu dương, tôi sung sướng như mở cờ trong bụng! Tôi được các thầy giáo bay bắt tay khen ngợi, đặc biệt là thầy giáo bay Amôxôp của tôi nét mặt thật tươi vui rạng rỡ. Thầy tự hào với các thầy giáo khác vì đã có học viên bắn giỏi! Trong đời giáo viên của ông, ông đã dạy nhiều học viên bay nước ngoài như Hungari, Cuba... nhưng chưa có ai được lên báo "START" như tôi. Đối với tôi, đây là một kỷ niệm đẹp không bao giờ phai!


Tôi nghĩ, bây giờ cần nói lại tỉ mỉ cái bài bay ấy một chút. Đó là bài bay thực hiện chức năng phi công tiêm kích bom - đánh mục tiêu mặt đất của máy bay tiêm kích.

Bài bay bắn mục tiêu mặt đất với nội dung: súng 37 li lắp 4 viên đạn xuyên phá, hai khẩu súng 23 li lắp mỗi khẩu 6   viên đạn phá cháy. Độ cao bay đến mục tiêu là 1500 mét. Mục tiêu là một chiếc máy bay giả. Góc bổ nhào bắn không lớn hơn 40 độ. Tốc độ bắt đầu bổ nhào không lớn hơn 800 km/h. Độ cao thấp nhất (tối thiểu) không dưới 400 mét. Số lần bổ nhào không quá ba lần (ba loạt bắn). Thành tích: chỉ cần trúng 1 viên 23 li hoặc 37 li là đạt yêu cầu.

Tôi thực hiện bài bay với 2 lần bổ nhào, 2 loạt bắn, mỗi loạt là 8 viên đạn đều trúng mục tiêu. Kết quả thật hy hữu: 16 viên trúng mục tiêu!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:20:46 pm »

Tháng 7-1964 ở sân bay Cusốpscaia, chúng tôi có cảm giác ngày tháng sao qua đi rất nhanh, bởi khoa mục bay mà kết thúc thì cũng đồng nghĩa với việc chia tay với Cusốpscaia - nơi mà mồ hôi của anh em chúng tôi đã ngấm ướt quần áo bay qua hai mùa Hè đầy ắp kỷ niệm giữa thầy và trò, giữa tình Nga-Việt. Nó cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi đã trải qua hai mùa lý thuyết đầy tuyết rơi với cái lạnh thấu xương từ Bắc cực tràn về vây kín khu doanh trại của Trường chúng tôi ở.


Ngày kết thúc bay. Chuyến bay chót của một học viên Việt Nam đáp nhẹ nhàng xuống đường băng đất. Máy bay chạy xả đà để lại đằng sau một luồng bụi màu hồng bay lên. Đồng loạt các tiếng reo "Ura! Ura!..." vang lên từ các thợ máy phục vụ máy bay, từ các chiến sĩ thông tin phục vụ ở các đài trạm... Trong tiếng hoan hô đó có cả chúng tôi. Hoan hô mừng kết thúc ngày bay trọn vẹn! Hoan hô mừng kết thúc khóa bay đào tạo phi công MiG-17 đầu tiên cho Không quân nhân dân Việt Nam ở Liên Xô!


Từ trên Đài chỉ huy bay, một phát pháo hiệu xanh bay vút lên không trung cùng với khẩu lệnh phát trên làn sóng vô tuyến: "Kết thúc bay!". Đó là quy tắc bay ở sân bay Liên Xô thời bấy giờ, bao giờ khi bắt đầu ban bay cũng có khẩu lệnh báo bằng sóng vô tuyến: "Bắt đầu bay!" cùng với một phát hiệu màu đỏ được bắn lên, còn khi kết thúc ban bay thì báo: "Kết thúc bay!" và phát pháo hiệu màu xanh được bắn lên.


Trên sân đỗ máy bay, những chiếc MiG-17, MiG-15 sắp hàng thẳng tắp. Những chiếc MiG-17 thân tròn, đứng hướng về phía trước như thách thức lòng ham bay của chúng tôi: "Hãy bay nữa đi!".

Ông Trung đoàn trưởng (Hiệu trưởng trường bay) tập họp tất cả các phi công giáo viên bay, thợ máy, các "sếp" phục vụ mặt đất... và chúng tôi. Ông đứng trước máy bay, nói mấy lời rất ngắn gọn: vừa chúc mừng sự thành công của ngày bay cuối khóa, vừa cảm ơn tinh thần lao động tích cực của mọi người đã đóng góp cho thành công ấy. Ông cũng không quên nhắc nhở chúng tôi: "Khi các anh về bay ở trong nước, cũng đừng quên trường Cusốpscaia của chúng tôi...". Nói xong, ông đến cài lên ngực áo bay cho mỗi phi công Việt Nam một chiếc huy hiệu phi công của Liên Xô.


Thời đó, phi công Liên Xô được phân cấp như sau: phi công cấp 1 là đã tốt nghiệp bay thời tiết phức tạp ngày cũng như đêm (4 khí tượng), phi công cấp 2 là đã tốt nghiệp bay thời tiết phức tạp ban ngày và thời tiết giản đơn ban đêm (3 khí tượng), phi công cấp 3 là tốt nghiệp bay khí tượng giản đơn ban ngày. Còn loại huy hiệu chưa có cấp (không số) thì gắn cho phi công vừa tốt nghiệp như chúng tôi. Ông Trung đoàn trưởng làm thủ tục kết thúc ngày bay đồng thời cũng là kết thúc khóa bay rất đơn giản ngay tại sân đỗ máy bay rồi đi bắt tay từng người một và có lời tạm biệt. Anh em chúng tôj rất cảm ơn ông và luôn luôn nhớ một người chỉ huy Không quân Liên Xô mẫu mực, sâu sát giúp chúng tôi bay trong hai mùa bay (hai năm) thành công mỹ mãn.
Trước khi lên xe rời sân bay, chúng tôi tranh thủ uống một ca nước cơ-vát để lưu nhớ mãi vào ký ức vì loại nước giảị khát này chỉ có ở tuyến bay và vào mùa Hè mới có. Chỉ cần uống một ca nhỏ là hết khát ngay, đặc biệt không đổ mồ hôi rất phù hợp với người bay.


Bầu trời trong xanh, mặt trời đã nghiêng bóng chiều. Chúng tôi lên xe rời sân bay, về doanh trại. Anh em chúng tôi ngồi nhìn lại phía sau về hướng đường băng, đường lăn, sân đỗ máy bay có những dãy MiG đứng ở đó. Xin tạm biệt và cảm ơn MiG! Cảm ơn mọi người, mọi thành phần đã góp sức cho chúng tôi bay được an toàn và chất lượng! Xe chạy qua những vạt rừng non quen thuộc. Chúng tôi lại nhớ đến mùa Xuân vừa qua, sau khi chuẩn bị bay xong thì thầy trò rủ nhau vào rừng bới lá mục lên tìm nấm, lấy về xào với "côn-bá-xà"- một loại giò của Nga rồi đem nhắm với bia thấy ngon tuyệt trần! Nhưng hôm nay, thứ đó chỉ còn là ký ức...


Sân bay đã lùi xa về phía sau. Chúng tôi bắt đầu cất tiếng hát bài "Chuyến bay" bằng tiếng Nga - bài hát mà mọi người đều yêu thích. Đến tận hôm nay, tôi vẫn nhớ những lời bài hát ấy. Tôi xin tạm dịch như sau: '"Niềm vui của chuyên bay không gì so sánh bằng! Pháo hiệu đã bay vút lên bầu trời. Đó là nhiệm vụ của Tổ quốc yêu dấu giao cho chúng ta. Hãy bay cao và bay xa hơn nữa…”.


Những ngày đầu tháng 8-1964, chúng tôi tập trung ôn lý thuyết để bước vào kỳ sát hạch quốc gia. Các bài ôn thi rất dễ dàng, không có gì khó khăn lắm vì khâu thực hành tốt đã chứng minh kết quả của nhận thức. Chúng tôi đang tập trung ôn thi thì một cái tin ập đến làm mọi người bàng hoàng, sửng sốt. Đài phát thanh Mạc Tư Khoa và các báo của Liên Xô đưa tin: "Ngày 5-8-1964, Hoa Kỳ đã cho nhiều tốp máy bay tấn công đánh phá một số mục tiêu dọc bờ biển miền Bắc Việt Nam. Lực lượng Phòng không miền Bắc Việt Nam đã bắn hạ nhiều chiếc và bắt sống một phi công nhảy dù. Đó là tên Trung úy An-va-ret...". Chúng tôi nghe mà hết sức căm tức, ai cũng muốn về Tổ quốc ngay để được chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân!


Chúng tôi rất cảm động khi nhà trường đã tổ chức mít-tinh phản đối Hoa Kỳ, đòi chấm dứt ngay hành động ăn cướp đó của Hoa Kỳ. Nhiều giáo viên bay đến gặp chúng tôi, chia sẻ và động viên mọi người ra sức học tập...

Các thầy giáo dành cho nhiều thời gian tự ôn, bởi vậy kết quả sát hạch ai cũng được điểm cao. Tất cả chúng tôi dự thi đều đỗ tốt nghiệp quốc gia bằng lái MiG-17. Nhà trường tổ chức lễ phát bằng tốt nghiệp cho chúng tôi vào dịp lễ kỷ niệm lần thứ 19 ngày Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945 - 2-9-1964). Lễ phát bằng được tổ chức ở "Câu lạc bộ sỹ quan" của sân bay rất đông vui. Chúng tôi nhận bằng tốt nghiệp lái máy bay và huy hiệu rất đẹp, có khắc chữ "VU" (chữ viết tắt của Trường Không quân, cũng như chữ viết tắt của Liên Xô là CCCP ấy). Thật không gì vui sướng bằng!


Cuối buổi lễ có liên hoan văn nghệ "cây nhà lá vườn". Cấc bà vợ của các thầy giáo lên sân khấu hát những bài hát dân ca với chất giọng mượt mà. Các thầy giáo thì nhảy những điệu nhảy "Cô-dắc" mạnh mẽ. Anh em chúng tôi tham gia hát đồng ca bài "Vừng Đông đã hừng sáng" và đơn ca bài "Chiếc khăn Piêu". Kết thúc văn nghệ là điệu nhảy van-xơ. Nga - Việt cùng nhảy, rất vui!


Tạm biệt Trường. Tạm biệt đất Cusốpscaia, nhưng chúng tôi còn nán lại mấy ngày vì đăng kỷ tàu hỏa liên vận bị trễ. Vậy là có thời gian để anh em chúng tôi vét nốt những đồng cô-pếch (đồng xu) cuối cùng để mua quà tặng, cho dù có khi chỉ là một bao diêm. (Thời đó ở Liên Xô, rẻ nhất là bao diêm, giá chỉ 1 cô-pếch, còn Việt Nam thì rẻ nhất là tăm xỉa răng).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:22:22 pm »

Khi chúng tôi học đến năm thứ 3 thì phụ cấp tiêu vặt được tăng lên 15 rúp/tháng. Bởi vậy, lúc kết thúc khóa học là anh nào anh ấy cũng rủng rỉnh đủ mua quà cho người thân, bạn bè. Hấp dẫn nhất thời ấy là quạt "tai voi", sau là đài bán dẫn, đồng hồ để bàn nên ai cũng phải sắm mỗi thứ vài chiếc. Đặc biệt là bóng bán dẫn và mai-xo thì phải mua nhiều nhiều vì có bóng bán dẫn là có thể lắp được "đài bán dẫn" và mai-xo thì làm bếp điện. Xe đạp đua cũng chỉ có vài người mua thôi bởi nó khá đắt so với túi tiền của mình. Mua nó thì không mua được những thứ khác nên cũng phải tính toán...


Ngày rời đất nước Liên bang Xô-viết đã đến. Nhà trường cử một ông Đại úy đưa chúng tôi đến tận Mạc Tư Khoa để làm thủ tục chuyển tàu liên vận đi Bắc Kinh. Chúng tôi đi ô tô từ Cusốpscaia về Rôstôp. Từ Rôsstôp đi tàu hỏa đến Mạc Tư Khoa.

Khi về đến Mạc Tư Khoa, ông tranh thủ đưa chúng tôi đi xem một số phố nổi tiếng ở Thủ đô. Suốt ngày 23-9 đi xem Mạc Tư Khoa. Hấp dẫn nhất là được xem bức tranh pa-nô-ra-ma về trận đánh của Cutudôp đập tan quân đội hùng mạnh nhất thế giới của Napôlêông ngay tại khu vực ngoại ô Mạc Tư Khoa. Xem tranh mà cứ như thấy mình đang ở ngoài mặt trận thật: nào người chết, ngựa chết, lửa bốc cháy... Đúng là tác phẩm của những họa sĩ tài năng!


Ngày 24-9, chúng tôi dành trọn một ngày để viếng Lăng Lênin vì ngày 25 là ngày lên tàu liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh rồi.
Rất đông người đến viếng Lăng Lênin. Có người cònphải chờ xếp hàng nhiều ngày mới đến được lượt mình. 7 giờ sáng ngày 24, tất cả anh em đã sẵn sàng lên xe. 8 giờ, xe đưachúng tôi đến Hồng trường (Quảng trường Đỏ), sắp hàng và được ưu tiên đứng sau các cháu thiếu nhi nhưng cũng phải sau 10 giờ mới nhúc nhích từng bước một, qua hai tầng cửa trên mặt đất rồi đi xuống tầng chìm dưới đất. Càng xuống sâu, trong tầng càng im lặng, tôn nghiêm. Chân chỉ nhích từng tí một nên có cảm nghĩ như thi hài của Người đặt rất sâu trong lòng đất. Chúng tôi im lặng không dám thở mạnh,mắt nhìn chăm chăm về phía trước. Ánh sáng màu rất dịu mắt, nhìn rõ dần nơi lãnh tụ đang nằm. Kia rồi! Lênin đang"ngủ". Cảm giác lần đầu nhìn thấy Lênin nằm trong quan tài bằng kính hệt thế thật. Chúng tôi nhích dần, nhích dần, khicòn cách Người khoảng ba, bốn mét, thấy rất rõ từng sợi râu lúc Người ốm chưa kịp cạo, sắc mặt Người hồng hào. Hai tay đặt trên bụng, mặc chiếc áo mốc đen giản dị... Chúng tôi đi một vòng quanh quan tài kính, tưởng nhớ Người lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân, của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại.


Đúng 11 giờ 30 phút (giờ Mạc Tư Khoa) ngày 24-9-1964, chúng tôi ra khỏi Lăng. Thời khắc lịch sử ấy biết khi nào mới % lại. Đời tôi thật may mắn được nhìn thấy Lênin trong Lăng mà cứ tưởng Người đang đứng diễn thuyết trên Hồng trường cho giai cấp vô sản Nga làm Cách mạng Xã hội nghĩa và ngày 7-11-1917 đã giành thắng lợi vĩ đại!


Kể từ ngày đặt chân lên đất nước của Cách mạng tháng Mười vĩ đại, tất cả chúng tôi đều ao ước được trực tiếp thấy Lênin thì giờ đây đã được thỏa lòng mong ước.

Ngày 25-9, chúng tôi lên tàu liên vận trở về nước. Đây là lần thứ hai đi chuyến tàu liên vận nên quen, không có gì phải tả nữa.
Từ ga Đồng Đăng về đến Hà Nội, chúng tôi cảm nhận được khí thế sẵn sàng chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược hừng hực khắp nơi. Những khẩu hiệu, băng-rôn chăng ngang khắp các nẻo đường. Ngồi trên tàu hỏa, chúng tôi còn thấy cả dân quân đang tập ngắm bắn máy bay. Chúng tôi nghĩ mình vừa được đi đào tạo lái máy bay chiến đấu về, phải làm gì đây? Phải chuẩn bị chiến đấu ngay thôi!


Về đến Trạm 93, Tổng cục cho đi phép 15 ngày. Như vậy đủ biết tình hình căng thẳng rồi. Anh em tranh thủ lên đường ngay cho dù khi ấy trời đang mưa to. Tôi vẫn nghỉ ở Trạm 93, hàng ngày về nhà anh chị Ba Kỳ chơi, nghe anh kể chuyện ở quê hương. Tình hình cách mạng miền Nam phát triển rất lạc quan, nhưng Mỹ ngụy đàn áp đồng bào ta dã man lắm.


Ngày 16-10, anh Trương Huynh từ Tổng cục ra Trạm tìm gặp tôi và thông báo cho tôi một tin buồn thấu tim gan, đó là Phan Hữu Tân bị chết đuối ở quê! Tân quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An, đã có vợ. Tân học bay rất tốt. Tôi đã dìu dắt, kết nạp Tân vào Đảng giữa khóa học. Vậy mà số phận đã đẩy Tân đi với "Hà Bá". Anh em trong đoàn rất thương tiếc Tân, đòi vào Nghệ An thắp hương viếng Tân nhưng Tổng cục không cho đi vì trong khu Bốn trời vẫn còn mưa to.


Đơn vị mất một phi công MiG, quê hương Xô-viết mất một người con với tương lai đầy hứa hẹn! Thật tiếc thương biết chừng nào!
Tháng 11-1964, tất cả anh em phi công và thợ máy về đóng quân ở sân bay Gia Lâm để học chính trị - học Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về chống chủ nghĩa xét lại, nâng cao ý chí chiến đấu...


Ngày 16-12-1964, tất cả phi công và thợ máy học ở Liên Xô được biên chế về Trung đoàn Không quân 921 (gọi là Trung đoàn "Sao Đỏ"). Đây là Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ai cũng cảm thấy rất vinh dự và cũng thấy trách nhiệm rất nặng nề. Đó là phải chuẩn bị thật chu đáo về mọi mặt để đánh thắng trận đầu với Không quân Mỹ chứ không phải với Không quân ngụy Sài Gòn như chúng tôi nghĩ. Cuộc đụng đầu lịch sử ở mặt trận trên không ác liệt đang treo lơ lửng trên đầu mọi người! Câu hỏi nóng bỏng đặt ra lúc bấy giờ là "đánh thế nào" để giành thắng lợi, thực hiện bằng được mệnh lệnh của Bác Hồ giao: "... Ngày xưa, ông cha ta đã đánh thắng địch ở trên mặt đất, mặt nước, bây giờ Bác giao cho các chú phải đánh thắng địch ở trên trời...".


Quán triệt mệnh lệnh của Bác Hồ, toàn đơn vị đã dấy lên một phong trào thi đua lập công dâng lên Bác chưa từng có. Từng bộ phận đặt ra những mục tiêu hết sức cụ thể để phấn đấu. Với phi công là bắn trúng địch ngay từ loạt đạn đầu, bắn rơi tại chỗ. "Phải bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu" để nói lên yếu tố bí mật bất ngờ trong không chiến có tính quyết định thành công của trận đánh vì bao giờ ta cũng dùng lực lượng ít đánh với địch có số lượng đông hơn. Nếu loạt đạn đầu mà không trúng mục tiêu thì làm cho địch xem thường và dùng số đông bủa vây lại đánh ta... Bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu còn có khả năng tiết kiệm đạn để công kích địch được nhiều lần hơn... MiG-17 của ta có 1 khẩu pháo 37 li và 2 khẩu 23 li nhưng cơ số đạn chưa tới 300 viên. "Phải bắn rơi tại chỗ" nói lên phương châm tác chiến của ta là "tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu", luôn luôn gắn liền với nhau, không được xem nhẹ mặt nào. Không đánh xua, đánh đuổi để bảo vệ mục tiêu vì như thế thì địch càng lấn tới đánh phá mục tiêu.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:23:05 pm »

Đối với thợ máy thì mục tiêu là "Không để lỡ thời cơ cất cánh. Không để máy bay cố hỏng hóc lên không trung". Mục tiêu này nói lên là phải luôn luôn giữ máy bay tốt nhất, đảm bảo hệ số kỹ thuật cao nhất, vì máy bay của mình số lượng đã ít lại đã cũ, phụ tùng thay thế thì ở mãi tít bên Liên Xô. Muốn thay thế phụ kiện nào, phải chờ bạn gửi bằng tàu hỏa. Bởi vậy, trong quần chúng đã có phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Đấy là yếu tố sống còn để duy trì sức chiến đấu của Không quân ta. Các bộ phận khác như: sân đường, thông tin, khí tượng, nuôi quân, quân y... thì phụ thuộc vào nhiệm vụ cụ thể mà đề ra mục tiêu phấn đấu. Tựu trung lại là bảo đảm cho xuất kích giành chiến thắng ngay từ trận đầu, làm quà dâng lên mừng sinh nhật lần thứ 75 của Bác!


Chúng tôi đón cái Tết Bính Ngọ cổ truyền trên miền Bắc yêu thương tràn đầy tình nghĩa quân dân, tình đồng đội không sao kể xiết. Sân bay Đa Phúc-sân bay lớn nhất miền Bắc vừa xây dựng xong đã đón những máy bay MiG đầu tiên từ Trung Quốc về do anh Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng, anh Đỗ Long làm Chính ủy. Cuối năm 1964, đoàn học MiG-17 tốt nghiệp ở Liên Xô được bổ sung về Trung đoàn "Sao Đỏ". Đoàn của anh Đào Đình Luyện học ở Cao Mật Trung Quốc với gần chục năm bay đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, còn đoàn của tôi học ở Liên Xô mới gần bốn năm nên còn non nớt. Các anh "cựu" rất tích cực giúp đỡ, dìu dắt chúng tôi để chúng tôi nhanh chóng trưởng thành, cùng chung sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc Xã hội chủ nghĩa. Trung đoàn có hai lớp phi công học ở hai nước lớn, khi về nước hợp lại thành một thì tình đồng đội càng thêm gắn bó hơn bao giờ hết. Hai nước bạn lớn đều lên án đế quốc Mỹ và ủng hộ Việt Nam nhưng sự mâu thuẫn của hai nước ngày càng trầm trọng làm cho chúng tôi rất lo lắng vì máy bay rồi khí tài của các nước Đông Âu viện trợ cho ta đều phải chạy trên con đường sắt xuyên qua đất nước Trung Quốc.


Tết năm đó, các đơn vị Phòng không phải trực 100% quân số. Nhiệm vụ chiến đấu đặt lên trên sự nhớ nhà, nhớ quê... Mấy ngày Tết, đơn vị không lúc nào vắng khách. Nhân dân địa phương, các đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đều đến thăm, chúc Tết đơn vị Không quân chiến đấu đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, rồi đi thăm sân bay, xem máy bay... Đây là cái Tết cổ truyền chúng tôi được đón trong cảnh bầu trời miền Bắc còn thanh bình. Tôi nhớ mãi đoàn văn công Quân khu Tây Bắc về biểu diễn rồi cùng đón giao thừa với Đại đội 2 của chúng tôi. Các diễn viên nữ trẻ đẹp, mặc trang phục dân tộc Thái hát tặng các anh phi công bài "Xuân chiến khu" của nhạc sĩ Xuân Hồng: "... Xuân về mừng anh bộ đội thêm một tuổi đời, mừng anh thêm một tuổi quân, lập nhiều chiến công toàn dân đang mong...". Những lời hát qua chất giọng mượt mà của các cô gái Thái thấm đượm mãi trong tôi khi chúng tôi vừa đón Xuân vừasẵn sàng chiến đấu, quyết đánh thắng trận đầu, mở mặt trận trên không lịch sử.


Sau Tết, ngày nào đơn vị cũng có kế hoạch huấn luyện bay. Từ sáng sớm, chúng tôi đã xách mũ bay, đeo túi bay ra sân bay ngồi đợi, nhưng rồi lại phải trở về doanh trại vì trời xấu: mây thấp như sát đất, tầm nhìn chỉ vài trăm mét rồi có lúc còn mưa phùn... Cho dù rất sốt ruột nhưng không thể nôn nóng được, không chủ quan được. Phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho từng chuyến bay!
Tháng 3-1965, khí tượng dần tốt lên, có thể tổ chức bay huấn luyện được. Tôi cất cánh chuyến bay đầu tiên của tôi trên bầu trời miền Bắc thanh bình. Từ trên cao ngắm nhìn cảnh quê hương miền Bắc mới thấy tươi đẹp làm sao, hiền hòa làm sao! Tôi lướt nhìn về bầu trời phương Nam - nơi quê cha đất mẹ của tôi mà nhớ da diết thời thơ ấu. Ước gì chuyến bay này được bay thẳng vào trong đó thì còn gì vui sướng bằng! Tôi nghiêng cánh phải để nhìn Hà Nội cho rõ hơn. Nơi đó có Bác Hồ đang làm việc... Tôi lại nghiêng sang cánh trái quan sát sông Hồng mà lại nhớ đến dòng sông Đông-nơi lần đầu tiên tôi được cất cánh bay lên bầu trời...
Tuy là bay huấn luyện nhưng máy bay vẫn phải lắp đủ cơ số đạn cho 3 khẩu súng để đề phòng địch tập kích bất ngờ. Ngày nào địch cũng bay trinh sát từ Thanh Hóa trở vào đến Vĩnh Linh. Ai cũng biết rằng đấy là dấu hiệu địch sẽ đánh phá, gây tội ác đối với nhân dân ta.


Ở vùng trời biên giới Tây Nam Bắc Bộ, ngày nào cũng có những tốp máy bay lạ bay lảng vảng sát đến biên giới rồi quay lại. Ngoài biển vịnh Bắc Bộ thường xuyên có tàu sân bay và máy bay Mỹ hoạt động. Ngày nào đơn vị cũng cóvài ba lần báo động xuất kích và sơ tán. Thời gian để địch leo thang ra đánh phá miền Bắc chỉ còn tính ngày tính giờ mà thôi!


Chúng ta chuẩn bị cuộc đụng đầu lịch sử trên bầu trời miền Bắc với Không quân đế quốc Mỹ - một cường quốc về Không quân và Không quân của Hải quân chưa hề có địch thủ. Đế quốc Mỹ tuyên bố rất ngạo mạn, rằng sẽ làm cỏ nhóm Không quân MiG của Bắc Việt, sẽ đánh cho miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá.


Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), đứng đầu là Bác Hồ kính yêu, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng, thực hiện quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Các tầng lớp nhân dân, già trẻ gái trai đã bình tĩnh chuẩn bị cho trận chiến đấu ác liệt sắp tới. Và trận chiến đấu đó đã đến!


Ngày 3-4-1965, đế quốc Mỹ bất ngờ cho hàng trăm máy bay mang bom vào đánh phá dã man cầu Hàm Rồng và vùng phụ cận, gây nhiều tội ác. Cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân của đế quốc Mỹ gây ra trên miền Bắc Việt Nam từ ngày 3-4-1965 đến cuối năm 1972 đã để lại bao mất mát đau thương cho bao nhiêu gia đình. Mối thù này phải khắc cốt ghi xương mãi mãi không bao giờ phai!


Không quân nhân dân Việt Nam đã mở mặt trận trên trời thắng lợi. Hôm đó, biên đội 4 chiếc MiG-17 của các anh Lan, Túc, Quỳ, Phương đã xáp địch, bắn hạ 2 máy bay chiến đấu của giặc Mỹ. Khi biên đội quay về sân bay, máy bay của anh Phạm Ngục Lan hết dầu nên phải hạ cánh "bằng bụng" xuống bài cát ven bờ sông Đuống. Thật tuyệt vời! Trận đấu mở mặt trận trên không đã giành thắng lợi, đồng thời cũn để lại bài học quý giá cho tất cả các phi công, đó là: dũng cả bình tình, thông minh, quyết đoán, xử lý tình huống bất trắc thật ngoạn mục!


Ngày 4-4-1965, đế quốc Mỹ cho nhiều tốp máy bay của các Không đoàn Không quân đóng ở Thái Lan tiếp tục đánh phá cầu Hàm Rồng. Không quân nhân dân Việt Nam sử dụng biên đội 4 chiếc MiG-17 do anh Trần Hanh làm biên đội trưởng cất cánh từ sân bay Đa Phúc bay vào đánh chặn địch để bảo vệ mục tiêu. Biên đội MiG xáp địch, bắn rơi 2 chiếc F-105 của Không quân Mỹ. Trận đánh đã tiêu diệt được địch nhưng ta cũng chịu tổn thất nặng. Ba phi công Giấy, Huân, Năm hy sinh. Anh Trần Hanh máy bay hết dầu phải hạ cánh bắt buộc xuống bản Kẻ Tằm vùng Tây Nghệ An.


Trong lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam có viết hai ngày 3 và 4-4-1965 là ngày đánh thắng trận đầu. Tôi cho rằng hai ngày đánh thắng trận đầu đều là đúng, vì ngày 3-4-1965 ta đánh thắng trận đầu với lực lượng Không quân của Hải quân Mỹ (đó là lực lượng bá chủ thế giới trên biển), sang ngày 4-4-1965 ta lại đánh thắng Không quân của lực lượng Không quân Mỹ (đó là lực lượng bá chủ thế giới trên đất). Rồi đến năm 1972, Không quân ta cũng đánh thắng trận đầu với lực lượng Không quân chiến lược của Mỹ. Đó là phi công Phạm Tuân đã bắn hạ "pháo đài bay bất khả xâm phạm" B-52 vào đêm 27-12-1972 và sang đêm 28-12-1972, phi công Vũ Xuân Thiều đánh tiếp trận thứ 2, bắn hạ 1 B-52 và đã anh dung hy sinh, để lại những dòng sử sáng chói cho Không quân nhân dân Việt Nam.


Sau khi Không quân nhân dân Việt Nam đọ cánh với Không quân và Không quân của Hải quân Mỹ, đã đánh thắng trận đầu bằng máy bay MiG-17, gây tiếng vang lớn, nhiều nước ủng hộ Việt Nam, đặc biệt Chính phủ Liên Xô thông báo sẽ viện trợ cho Việt Nam 1 phi đội máy bay MiG-21 (máy bay tiêm kích vượt âm thanh). Tôi rất vinh dự được chọn trong đoàn sang Liên Xô để học chuyển loại từ MiG-17 lên MiG-21 và được giao nhiệm vụ làm trưởng đoàn. Đoàn gồm 16 phi công đã tốt nghiệp MiG-17 ở Trường Không quân Cusốpscaia.


Hồi ấy, các anh em đi học về đều được Tổng cục Chính trị phong quân hàm sĩ quan từ cấp Chuẩn úy đến cấp cao nhất là Thiếu úy. Tôi được phong hàm Thiếu úy.

Thời gian chuẩn bị rất gấp. Ngày 8-4 nhận lệnh thì ngày 10-4, anh em tôi đã va li, túi xách lên đường sang Liên Xô rồi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:25:15 pm »

Trường Không quân Krasnodar

2 giờ 30 phút sáng ngày 12-4-1965, tàu hỏa liên vận số hiệu M-1 khởi hành từ ga Hàng Cỏ, Hà Nội đi Bằng Tường, Trung Quốc. Đề phòng địch tập kích bất ngờ vào ban ngày nên tàu phải chạy vào ban đêm. Thời kỳ đó địch cũng chưa đánh phá vào ban đêm. Tuyến đường sắt nối liền ba nước Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô tôi đã may mắn được đi qua bốn lần và lần này là lần thứ năm.
Ngày 14-4-1965, chúng tôi đến Bắc Kinh. Chúng tôi phải nghỉ lại đây mất hai ngày, chờ tàu liên vận của Liên Xô sang.


Ngày 24-4-1965, chúng tôi tới Mạc Tư Khoa và nghỉ ở khách sạn Ôstankinô. Đấy là một trong những khách sạn hạng sang ở Thủ đô Mạc Tư Khoa. Chúng tôi nghỉ tại đây hai ngày chờ chuyến tàu hỏa chạy về phía Nam Liên Xô.

Tuy được nghỉ ở khách sạn sang trọng, có đầy đủ tiện nghi và được vui chơi thoải mái nhưng cũng chẳng thấy vui, ai cũng muốn mau chóng được đến trường để học bay.

23 giờ ngày 26-4 tàu hỏa đưa chúng tôi đến ga Krasnodar. Nhà trường đưa xe ra tận ga đón chúng tôi về doanh trại.

Ngày 27-4, nghỉ ngơi tắm rửa.

Đoàn tập trung lên Hiệu bộ gặp ban lãnh đạo của nhà trường. Ông Hiệu trưởng Rômanhencô và các Hiệu phó ân cần bắt tay từng người, hỏi thăm sức khỏe và động viên chúng tôi phải ra sức học vì chương trình thì không nhiều nhưng khó hơn hẳn MiG-17.

Để củng cố thêm kỹ thuật lái trước khi bay trên MiG-21, chúng tôi phải ôn lại lý thuyết và thực hành bay trên MiG-17. Cũng mất đến gần 3 tháng mới xong.

Tháng 8-1965, chúng tôi bắt đầu học lý thuyết bay trên máy bay vượt âm thanh, sau này quen gọi là vượt tiếng động hoặc "máy bay siêu âm". Đó là loại máy bay được thiết kế, chế tạo đặc biệt bảo đảm bay an toàn trên mọi độ cao, mọi tốc độ và có lực đẩy mạnh hơn nhiều lần so với lực cản của máy bay. Khi máy bay bay với tốc độ nhanh hơn tốc độ lan truyền của sóng âm thanh (vượt tiếng động) sẽ sinh ra những tiếng nổ liên tục sau lớp sóng âm thanh bị dồn nén. Người đứng ở dưới mặt đất trong phạm vi hình chóp nón của vệt bay cũng sẽ nghe thấy tiếng nổ ấy. Tiếng nổ ấy có thể ảnh hưởng đến việc gà không đẻ trứng, bò không cho sữa, thậm chí các cửa kính bị vỡ và ảnh hưởng đến cả thai phụ... Bởi vậy, luật pháp của Liên Xô đã cấm máy bay bay vượt âm thanh ở độ cao từ 10.000 mét trở xuống. Khi bay làm động tác nhào lộn kỹ thuật phức tạp, các thầy giáo bay đều dặn dò kỹ lưỡng để không xảy ra trường hợp vượt âm thanh dưới 10 km, không để phạm pháp luật của Liên Xô.


Tháng 9-1965, chúng tôi bắt đầu thực hành bay trên máy bay huấn luyện có hai chỗ ngồi, ký hiệu là E-6U. Thầy giáo dạy bay của tôi là ông Thiếu tá Zađerikhin. Thầy điềm đạm, ít nói nhưng rất tận tình chỉ bảo, nhờ vậy mà tôi tiếp thu nhanh, được bay đơn đầu tiên.


Ngày 15-9 bắt đầu bay chuyến đầu tiên. Sân bay Krasnôđar vào mùa này có rất nhiều quạ. Sáng sớm chúng bay ra đồng kiếm ăn, chiều tối chúng kéo về ngủ ở các vườn cây bạch dương trong trường. Chúng tôi phải bay vào buổi trưa để tránh va chạm phải quạ vì chúng bay hàng đàn đông nghịt trên bầu trời sân bay với những tiếng kêu chói tai.


Ngày 16-9, ông Phi đội phó - Thiếu tá Ghievôi bay kiểm tra. Ông rất hài lòng, đề nghị Trung đoàn bay kiểm tra tiếp.

Ngày 21-9, ông Trung đoàn trưởng - Trung tá Vaxiliep bay kiểm tra. Ông hài lòng và phê chuẩn cho tôi bay đơn trên loại máy bay chiến đấu MiG-21PFL.

Ngày 7-10, bài bay với tốc độ lớn nhất của máy bay (trị số Mach-M=2/0) và độ cao cao nhất 18.000 mét. Thực ra, máy bay có thể bay trên 20.000 mét nhưng chỉ có thể bay được với thời gian rất ngắn (không quá 2 phút). Càng bay lên cao thì khi nhìn xuống mặt đất càng thấy sáng còn nhìn lên cao thì ngược lại. Đó là kỷ niệm đẹp trong đời bay, có lẽ cũng chỉ một lần được bay cao thế mà thôi.


Ngày 20-10, đoàn kỹ thuật học chuyển loại MiG-21 do anh Phạm Tám phụ trách đã tốt nghiệp, lên tàu về nước trước.

Đoàn học bay của chúng tôi thì đến sân bay Axtrakhan để thực hành bắn tên lửa không đối không loại "hồng ngoại" và "điều khiển bằng sóng vô tuyến”. Đó là hai loại tên lửa được trang bị trên MiG-21 mà sau này chúng tôi sẽ dùng để chiến đấu, vì vậy cần phải được bắn thử để biết tính năng của nó.


Ngày 1-11, chiếc máy bay IL-14 số 09 chở chúng tôi đến sân bay Êyscơ. Thành phố Êyscơ là thành phố lâu đời nằm trên bờ biển Azôp. Sau đó máy bay cất cánh bay tiếp đến sân bay dân dụng ở Stalingrat (sau đổi tên thành Vongagrat). Cái tên Stalingrat đã lừng danh một thời, nay tôi có may mắn được đặt chân đến nhưng không có thời gian để tham quan thành phố. Chúng tôi đến nhà ăn của ga sân bay ăn cơm trưa. Khách khứa thấy có người Việt Nam đến liền dồn đến bắt tay hỏi thăm làm chúng tôi rất cảm động.


14 giờ, máy bay cất cánh bay đến sân bay Astrakhan.

Sân bay Astrakhan là sân bay sử dụng chung cho cả quân sự lẫn dân dụng, nằm cạnh thành phố Astrakhan. Đây là thành phô thực phẩm của Liên Xô, có những nhà máy cá hộp lớn được xây dựng ở đây. Những ngày chúng tôi thực hành bay bắn tên lửa ở đây là những ngày ăn chán cá, ngấy đến tận cổ. Bữa ăn có nhiều món nhưng hầu như chỉ cá là cá.


Ngày 16-11, hoàn thành nhiệm vụ bay bắn tập. Tôi bắn hai quả đều trúng mục tiêu trên không. Chuẩn bị về lại sân bay Krasnodar, chúng tôi ra phố mua ít cá ướp khô (vẫn gọi là cá Vôbla hay cá Astrakhan mà dân nhậu rất thích vì rất hợp với bia) về để biếu các thầy.


Ngày 18-11, thời tiết quá xấu, tuyết rơi dày đặc nên phải chờ đến tận 18 giờ, máy bay mới cất cánh, rời đất bay về Krasnodar.

Ngày 20-11, nhà trường làm lễ tốt nghiệp cho lớp phi công đầu tiên lái MiG-21 của Không quân nhân dân Việt Nam. Chúng tôi nhận bằng tốt nghiệp, nhận huy hiệu phi công. Tôi thay mặt đoàn cảm ơn nhà trường, cảm ơn các thầy, cảm ơn tất cả mọi người... Khi chúng tôi về Việt Nam sẽ bước vào cuộc chiến đấu đầy khó khăn, ác liệt với Không quân nhà nghề của đế quốc Mỹ, nhưng hình ảnh đất nước Xô-viết vĩ đại không bao giờ phai mờ trong tâm khảm chúng tôi! Chúng tôi có may mắn là đã được sống và học tập trở thành phi công. Chúng tôi đặc biệt nhớ các thầy dạy bay đã luôn gắn bó với chúng tôi dù mùa Đông gió tuyết lạnh thấu xương hay mùa Hè nắng như thiêu như đốt, các thầy luôn có mặt ngoài sân bay với học trò của mình, như các thầy Thiếu tá Rôpaep, Thiếu tá Amôcôp, Thiếu tá Zađerikhin/Trung đoàn phó- Trung tá Xambôrôp, Trung đoàn trưởng-Trung tá Vaxiliep, Phi đội trưởng-Trung tá Kôlômenski, Trung tá Ređin, Thiếu tá Đubrôp, Đại tá Trung đoàn trưởng (Hiệu trưởng) Voncôp, Đại tá Rômanhencô...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #36 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:26:15 pm »

Những dòng ký ức này tôi chép lại trong những trang nhật ký cuối cùng viết tại Krasnôđar. Theo thời gian học, đêm nay sắp hết và ngày mai lại sắp đến. Tôi chưa nêu hết được những người "Xô-viết của chúng ta" rất thẳng thắn và đầy nhiệt tình đáng kính ấy. Họ sống mãi trong kỷ ức của chúng tôi!


Ngày 23-11-1965, chúng tôi lên tàu về nước và không có hẹn ngày trờ lại vì trước mắt chúng tôi là cuộc đọ cánh sống còn với quân xâm lược Mỹ.

Đúng 8 giờ, chúng tôi lên máy bay An-10, số hiệu 11120 cát cánh rời sân bay Krasnôđar, qua Mạc Tư Khoa lấy hướng về vùng Uran, Xibéri.

Đúng 12 giờ, máy bay hạ cánh xuống sân bay Ômscơ để tiếp dầu và để mọi người tiếp "nhiên liệu (ăn trưa). Sau đó, cuộc hành trình tiếp tục đến sân bay Uxlorođa gần hồ Bai can. 16 giờ, máy bay hạ cánh xuống sân bay Ircutxcơ. Chúng tôi ngủ qua đêm và nghỉ một ngày ở đây. Chắc là máy bay quân sự chở người nên phía Trung Quốc gây rắc rối một chút. Chúng tôi thì vô cùng biết ơn thiện chí và nhiệt tình từ phía Liên Xô. Bạn đã thấu hiểu bầu trời của đất nước ta đang rất cần các phi công nên bạn muốn cho chúng tôi về nước càng nhanh càng tốt. Trong cuộc hành trình của chúng tôi, bạn chở luôn theo các vật dụng như quần áo bay, mũ bay trung không, mũ bay cao không... để khi về nước là có thể tham gia chiến đấu được ngay. Thời đó quần áo bay cao không, mũ bay cao không còn nằm trong danh mục bí mật.


Ngày 25-11, máy bay cất cánh từ sân bay Ircutxcơ bay qua Trung Quốc. Máy bay bay tới biên giới Xô-Trung đúng vào lúc rạng đông. Vào lúc 5 giờ theo giờ Bắc Kinh, máy bay hạ cánh xuống sân bay Bắc Kinh và đợi đến 9 giờ thì cất cánh bay về Việt Nam. Khi bay đến sân bay Trường Sa (Trung Quốc) thì tổ bay nhận được thông báo: "Có máy bay Mỹ đang hoạt động ở Bắc Việt Nam". Tổ bay đành phải hạ cánh xuống sân bay Trường Sa để chờ... Chúng tôi được ăn bữa cơm trưa ở đây sau đó máy bay cất cánh về sân bay Đa Phúc, hạ cánh lúc 16 giờ 30 phút (theo giờ Việt Nam), kết thúc ngoạn mục "hành trình tới bầu trời" của đoàn học viên Việt Nam đầu tiên học lái máy bay tiêm kích siêu âm ở Liên Xô.


Ngày 26-11-1965, một ngày thật đáng nhớ. Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, Đại tá Phùng Thế Tài đến thăm đoàn phi công vừa đi học về và giao nhiệm vụ chiến đấu ngay. Tư lệnh cho biết: "Tình hình rất khẩn trương, ngày nào địch cũng bay trinh sát các mục tiêu chuẩn bị đánh phá...".


Chúng tôi được bổ sung về Trung đoàn 921 và thành lập Đại đội 2 - Đại đội bay MiG-21 đầu tiên của Không quân ta. Tôi được Trung đoàn giao nhiệm vụ giữ chức Đại đội phó (tổ chức đơn vị cơ sở của Không quân ta thời đó gọi là Đại đội, Trung đội. Sau này mới đổi là Phi đội, Biên đội). Anh Nguyễn Duy Đài được giao giữ chức Chính trị viên Đại đội. Thời kỳ này, anh Trần Mạnh làm Trung đoàn trưởng thay anh Đào Đình Luyện lên giữ chức Tư lệnh Binh chủng Không quân, anh Chu Duy Kính làm Chính ủy thay cho anh Đỗ Long lên giữ chức Chính ủy Binh chủng Không quân.


Đảng ủy Trung đoàn ra Nghị quyết: "... Khẩn trương chuẩn bị để đưa MiG-21 ra trực ban chiến đấu vào đầu năm 1966".
Máy bay MiG-21 được tháo rời, đóng vào thùng gỗ, chở bằng tàu liên vận qua tuyến đường sắt Liên Xô - Trung Quốc - Việt Nam. Liên Xô cử một đoàn chuyên gia sang lắp ráp tại sân bay Đa Phúc, bay thử xong xuôi mới giao lại cho Việt Nam. Đầu tiên, bạn viện trợ một phi đội máy bay MiG-21PFL, không có máy bay huấn luyện UMiG-21. Vì vậy chúng tôi phục hồi kỹ thuật gặp nhiều khó khăn, nhưng không thể không thực hiện bởi chờ bạn đưa máy bay UMiG sang thì phải mất cả tháng trời. Lúc này là lúc phải có quyết định táo bạo. Chúng tôi đề nghị với Trung đoàn trưởng là cho bay kèm trên máy bay UMiG-15 sau đó sẽ bay đơn trên MiG-21. Đồng chí Trung đoàn trưởng đồng ý và thế là kế hoạch bay hồi phục chỉ mất có 5 ngày đã hoàn thành tốt đẹp. Bước chuẩn bị khó khăn nhất đã vượt qua! Bước tiếp theo là thảo luận phương án tác chiến và cách đánh chặn địch ở tầng cao. Thời kỳ này, địch thường cho các máy bay trinh sát bay ở tầng cao. Bọn này là tai mắt cho các máy bay cường kích đánh phá, chúng thường bay trinh sát trên độ cao 18-20 km. Ở trên độ cao đo, máy bay MiG-21 bị hạn chế rất nhiều về tính năng cơ động, do đó sĩ quan dẫn đường ở Sở chỉ huy và ở màn hình ra-đa với phi công phải tính toán, hiệp đồng sao cho thật ăn khớp với nhau, hiểu ý nhau từ động tác nhỏ nhất. Khi đưa máy bay ta tiếp cận vào phía sau máy bay trinh sát, độ sai lệch không được quá 10 độ. Nếu không dẫn được như vậy thì sẽ không công kích ngay từ lần đầu được và với tốc độ tiếp cận quá lớn, trên độ cao cũng quá lớn thì chẳng bao giờ có cơ hội vòng lại công kích lần hai.


Mọi công tác hiệp đồng, chuẩn bị của chúng tôi với dẫn đường vừa xong thì cũng là lúc Trung đoàn lệnh cho MiG-21 ra trực ban chiến đấu.

Tôi rất vinh dự được Trung đoàn chọn là người đầu tiên trực ban chiến đấu trên MiG-21 ở sân bay Đa Phúc từ ngày 25-1-1966.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #37 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:27:51 pm »

Những trận chiến đấu nhớ đời trên bầu trời miền Bắc yêu thương

Máy bay MiG-21 làm nhiệm vụ chiến đấu thời kỳ đầu của chiến tranh phá hoại trên miền Bắc chủ yếu là đánh máy bay trinh sát tầng cao của Mỹ gồm loại có người lái U-2 và loại không người lái BQM...

Máy bay trinh sát của Mỹ thường bay ở độ cao 18-20 km, cao trên tầm bắn của hỏa lực Phòng không của ta lúc bấy giờ. Khi ta có MiG-21 và tên lửa "Sam-2" thì máy bay U-2 chỉ dám bay đến khu biên giới Việt - Lào, còn loại BQM thì bay sâu vào nội địa, qua các mục tiêu cần chụp ảnh.

Tôi đã được cất cánh một số lần để đánh U-2 nhưng không tiếp cận được mục tiêu. Có đến mấy lần bay đến hết tầm hoạt động của MiG-21 nên phải quay về, tiếc ơi là tiếc!

Từ ngày 25-1-1966, tôi được phân công làm số 1 để đánh máy bay trinh sát tầng cao, các số sau là các anh Nguyễn Đăng Kính, Vũ Ngọc Đỉnh, Đồng Văn Song, Nguyễn Văn Thọ... luân phiên nhau đảm nhiệm. Thời kỳ này tình hình chiến đấu chưa căng lắm, chúng tôi vừa trực ban chiến đấu vừa tranh thủ bay huấn luyện. Trưa ngày 7-2, phi công Nguyễn Văn Thọ thực hiện chuyến bay huấn luyện xuyên mây, khi bay về đến Vĩnh Yên thì mất liên lạc... Máy bay rơi gần thị xã Vĩnh Yên và phi công hy sinh trong buồng lái. Cả đơn vị vô cùng thương tiếc, tổ chức lễ truy điệu cho Nguyễn Văn Thọ. Anh em biến đau thương thành hành động cách mạng cụ thể trong công tác sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, học tập... Trước mắt, tập trung vào ôn luyện xử lí thành thục các trường hợp bất trắc khi có hỏng hóc xảy ra.


Suốt tháng 2-1966, mây thấp giăng đầy sân bay, đáy mây chỉ 50-60 mét, tầm nhìn chưa đến 1000 mét, lại cộng thêm mưa phùn gió bấc nên chân tay rét cóng. Trực ban chiến đấu phải mặc bộ quần áo cao không bó sát lấy người mà vẫn rét.

Hôm phái đoàn Anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm đơn vị thì trời lại hửng lên. Đáy mây cao hơn 500 mét và tầm nhìn đến 4 km. Trên cử tôi tiếp đoàn và bay biểu diễn chào mừng đoàn. Kết thúc chuyến bay, các anh chị trong đoàn, trong đó có chị Tạ Thị Kiều đã đến bắt tay chúc mừng. Tôi được nghe các anh chị kể chuyện đánh Mỹ ở quê hương với cách "bám thắt lưng địch mà đánh" thật tuyệt vời. Xuất hiện ý nghĩ trong tôi là phải học tập Quân giải phóng miền Nam, bắn thật gần cho chắc ăn!


Những ngày cuối tháng 2, trời càng xấu hơn. Mây thấp tịt như đang bò trên mặt đường băng, nhưng đấy lại là dấu hiệu thời tiết sắp tốt lên. Thời tiết tốt đồng nghĩa với việc bọn địch sẽ bay vào miền Bắc trinh sát và sẽ tăng cường đánh phá. Đây chính là thời cơ để chúng tôi lập công trả thù cho đồng bào khu Bốn bị bom Mỹ sát hại trong những ngày gần đây.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #38 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:28:31 pm »

Trận đầu đánh thắng!

Ngày 4 tháng 3 năm 1966. Buổi sáng trời nhiều mây thấp, nhưng đến trưa chiều quang mây, thuận lợi cho máy bay chụp ảnh tầng cao hoạt động. Đồng chí Trung đoàn trưởng trực tiếp gọi điện gặp tôi và thông báo: "Hôm nay, tin tình báo cho biết sẽ có 1 U-2 và 1 không người lái trinh sát chụp ảnh bay ra miền Bắc (từ miền Nam bay ra) nhưng chưa biết cụ thể sẽ chụp mục tiêu nào. Vậy cậu phải chuẩn bị tất cả các phương án đánh địch nghe!". Đặt ống nghe vào máy, tôi giở bản đồ xem lại các phương án. Nếu U-2 vào thì chỉ có một phương án là biên giới Việt - Lào, còn nếu là máy bay không người lái thì nhiều phương án hơn. Đánh máy bay không người lái dễ thì ít mà khó thì nhiều. Dễ là máy bay không người lái bay theo chương trình lập sẵn, không có đối kháng gì. Cái khó nhất là thân hình nó nhỏ, khó phát hiện sớm. Khi phát hiện muộn, tốc độ tiếp cận lớn (hơn 1000 km/h) ta không kịp phóng tên lửa, dễ bị đâm vào hoặc xông lên trước nó. Bởi vậy, chiến thuật của MiG-21 lúc đó là từng chiếc một nối đuôi nhau công kích một mục tiêu. Nếu chiếc đi đầu công kích trượt thì chiếc thứ hai công kích tiếp...


Từ trong Sở chỉ huy, đồng chí Chính ủy Trung đoàn gọi điện gặp tôi, động viên: "Hôm nay gặp thời cơ, cậu bình tĩnh bắn cho chuẩn xác nghe!". Tôi xác định lúc nào cũng phải bình tĩnh, lại được đồng chí Chính ủy động viên làm cho tôi càng bình tĩnh hơn. Tôi nhớ lại bài học hôm đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Quân chủng xuống sân bay ra lệnh báo động diễn tập cất cánh. Tôi lăn máy bay từ sân đỗ ra đường băng bị trượt ra ngoài cỏ là do tôi hồi hộp, mất bình tĩnh. Đấy là bài học nhớ đời!


Đồng chí Mại - trực ban tác chiến thông báo: Sở chỉ huy nhắc phi công ăn cơm sớm vì hôm nay trời tối sớm. Sau bữa ăn trưa, tôi ra đứng trước thềm nhà trực ban nhìn bóng mặt trời quấn tròn dưới chân, thấy đó là thời gian chụp ảnh thuận lợi. Tôi đang nhẩm lại phương án thì nghe tiếng hô: "Cấp 1!" rất to của đồng chí Mại. Đồng chí nói giọng Nghệ An vừa to vừa dõng dạc, rất dễ nghe: "Một chiếc cao không cấp 1!". Từ "cao không" cốt để cho tổ "mũ cao không" và thợ máy biết là phương án đánh cao không, phải mặc quần áo và mũ cao không. Mọi người trong phiên trực hối hả, răm rắp làm nhiệm vụ của mình. Tôi ngồi im trên ghế để đồng chí Ngãi - tổ trưởng mũ cao không đội cho tôi. Đồng chí báo: "Xong!". Tôi chạy thật nhanh, trèo lên buồng lái, trước tiên gài khóa dù sau đó bật công tắc vô tuyến liên lạc với Sở chỉ huy. Mật danh thời đó sử dụng cho việc mở máy lăn ra đường băng là "Ấp Bắc!", còn cất cánh là "Cờ Hồng!". Trong tai nghe của mũ bay vang lên hai từ "Ấp Bắc!" của đồng chí sỹ quan dẫn đường. Tôi lập tức vừa trả lời: "Nghe rõ!" vừa ấn nút khỏi động động cơ. Tiếng động co kêu to dần, đồng thời vòng quay của rô-to cũng tăng lên từ 0 đến 60% trong thời gian chưa đến 45 giây. Tôi giơ tay trái lên ngang đầu làm dấu hiệu báo cho đồng chí Tổ trưởng thợ máy biết để rút chèn bánh cho máy bay lăn ra đường băng cất cánh.


Máy bay cất cánh lấy độ cao đến 300 mét thì chỉ huy cho tôi hướng bay 270 độ, độ cao 5.000 mét. Bay được 5 phút, Sở chỉ huy cho hướng bay 310 độ và độ cao 8.000 mét. Bay thêm 5 phút nữa, Sở chỉ huy cho hướng bay 90 độ và bật tăng lực lấy độ cao lên 16.000 mét. Lúc này, Sở chỉ huy cho hướng bay 150 độ rồi lại sửa lại là 130 độ. Tôi báo cáo đã phát hiện được mục tiêu, xin công kích. Sở chỉ huy trả lời: "Cho phép!". Lúc này, máu trong người tôi như chạy dồn hết về tim để tạo cho tôi một sức mạnh kỳ diệu là bình tĩnh, chính xác và nhanh chóng đưa mục tiêu vào tâm vòng ngắm chữ thập PKI, đồng thời ấn nút bám sát mục tiêu của ra-đa để xác định cự li bắn, còn động tác cuối cùng là ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa hồng ngoại R-3S (ta gọi là K-13) vọt ra khỏi cánh máy bay và bay về phía trước tới mục tiêu. Tôi nhớ lại, nó giống như cái lần tôi bắn bia ở trường bắn Astrakhan! Trong tai nghe của mũ bay vẫn còn nghe thấy tiếng kêu o...o... của quả tên lửa thứ hai bắt được mục tiêu. Tôi lập tức ấn nút phóng quả thứ hai để đảm bảo chắc chắn mục tiêu đã bị tiêu diệt. Tôi báo cáo về Sở chỉ huy: "Đã uống bia xong!" (mật danh của việc phóng tên lửa). Đồng thời, Sở chỉ huy cũng thông báo là trên màn hình mục tiêu đã mất và cho tôi hướng bay về sân bay hạ cánh.


Từ trên vùng trời cao Quảng Ninh, tôi bay về sân bay Đa Phúc với tâm trạng nhẹ nhõm khi đã hoàn thành được công việc mà cả tập thể Trung đoàn giao phó, thực hiện được nguyện vọng khát khao của bao người: từ chiến sĩ gác đường băng đến người chỉ huy lãnh đạo cao nhất của Trung đoàn, đó là: "Trận đầu, MiG-21 phải bắn rơi máy bay Mỹ!". Hôm nay, tôi đã thực hiện được trọn vẹn mong ước đó! Mọi người biết tin, ra tận sân đỗ máy bay đón và chúc mừng tôi. Tôi vô cùng cảm động. Đây là chiến công chung của Trung đoàn, tôi chỉ có công nhỏ bé, đó là ấn nút phóng quả đạn bay đến tiêu diệt mục tiêu, đem về trận đánh nhớ đời của tôi trên bầu trời miển Bắc yêu thương!


Sau trận đánh ngày 4-3-1966, Trung đoàn quyết định đưa MiG-21 vào chiến đấu đánh địch ở tất cả các độ cao khác nhau, không phân biệt "cao không" hay "trung không". Sử dụng lực lượng MiG-21 chủ yếu là đội hình 2 chiếc.

Anh em phi công MiG-21 bước sang giai đoạn mới trong cuộc đụng đầu lịch sử với Không quân và Không quân Hải quân Mỹ đầy khó khăn và ác liệt. Đó là một bọn giặc lái đẩy tham vọng, rất hống hách, ngạo mạn. Chúng bay vì tiền và vì danh vọng. Chúng có giờ bay tích lũy hàng ngàn giờ hơn chúng tôi, kỹ thuật bay lại không hề thua kém ai. Chúng luôn lấy số lượng đông để áp đảo chúng tôi. Khi xáp trận trên bầu trời, thấy bóng dáng MiG là chúng cuồng lên hệt như lũ thiêu thân lao vào tiêu diệt MiG cho bằng được vì đó là đô-la, là danh vọng và là mục tiêu cuối cùng của giặc lái Mỹ. Chúng tôi đối chọi với một kẻ địch đầy tham vọng, nhằm tiêu diệt bằng hết máy bay MiG của Bắc Việt như vậy thì việc gặp phải nhiều khó khăn và ác liệt là điều tất yêu. Song, mặc dù giờ bay của các phi công MiG-21 bấy giờ chưa đến 20 giờ bay trên máy bay chiến đấu, nhưng chúng tôi có mục tiêu, lý tưởng chiến đấu rất cao thượng, đó là vì độc lập tự do, lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào nồng nàn. Khi xáp trận, chúng tôi chỉ nghĩ "vì miền Bắc yêu thương, vì miền Nam một thịt". Việc sống chết coi nhẹ như lông hồng. Vì vậy mà chúng tôi đã vượt qua hết thảy những khó khăn ác liệt, dũng mãnh tấn công trong các trận không chiến, giành thắng lợi, góp phần bảo vệ mục tiêu quan trọng, đập tan mưu đồ của đế quốc Mỹ là muốn "xóa sổ nhóm MiG của Bắc Việt!".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #39 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:08:11 pm »

Trận đánh thua ngày 26-4-1966

Hồi đó xác định trận đánh thắng, thua đối với Không quân ta như sau: Trận đánh mà ta bắn rơi địch, ta an toàn gọi là trận đánh thắng. Còn nếu trận đánh mà ta không bắn rơi được địch, trái lại, bị địch bắn rơi thì gọi là trận đánh thua. Trận đánh mà cả hai bên đều bị bắn rơi thì tùy tính chất của trận đánh bảo vệ mục tiêu, mức độ ác liệt để xác định thắng hoặc thua.


Trận đánh ngày 26-4, mục tiêu là tiêu diệt máy bay EB- 66 (máy bay gây nhiễu ra-đa, tên lửa, cao xạ).

Hôm đó bầu trời trong xanh, không một gợn mây. Tôi tiếp thu và kiểm tra máy bay xong, đứng trên sân đỗ nhìn quanh bầu trời. Tôi nghĩ: "Phải chuẩn bị đánh nhau!". Đi vào nhà trực, tôi cùng Vũ Ngọc Đỉnh ngồi ăn sáng (hôm nay nhà ăn cho ăn bánh cuốn). Vừa ăn vừa hiệp đồng biên đội với nhau khi gặp địch. Ăn sáng xong thì Sở chỉ huy gọi điện gặp tôi và giao nhiệm vụ: "Hôm nay biên đội chuẩn bị đi đánh máy bay gây nhiễu EB-66 có máy bay tiêm kích F-4 bảo vệ!". Tôi nói lại cho Vũ Ngọc Đỉnh - số 2 của mình quán triệt nhiệm vụ trên giao và chuẩn bị có thể phải đối chọi với tiêm kích địch.


Sau khi ăn cơm trưa xong thì anh Đồng Văn Song ra thay trực cho Vũ Ngọc Đỉnh để anh Đỉnh đi bay huấn luyện. Tôi với Song từng trực ban chiến đấu với nhau nhiều lần rồi. Hai anh em đang trao đổi với nhau cách đánh E13-66 thì nhận được tín hiệu báo động: "Hai chiếc trung không cấp 1!". Chúng tôi chạy rất nhanh, leo lên máy bay. Đồng chí Tổ trưởng thợ máy đã cho "xe điện APA" khởi động, cung cấp đủ 27,5 vôn để khởi động động cơ. Tôi bật công tắc vô tuyến liên lạc với Sở chỉ huy và nhận được lệnh: "513 Ấp Bắc!". Đồng chí Tổ trưởng thợ máy giúp tôi ấn nút mở máy và bật tất cả công tắc cần thiết cho chuyến bay chiến đấu, đặc biệt là công tắc vũ khí để ở vị trí "tự động".


Tôi và Đồng Văn Song lăn ra đường băng cất cánh, bay về hướng Bắc theo sự dẫn dắt. Bay qua Tuyên Quang rồi về hướng Cao Bằng thì Sở chỉ huy thông báo địch phía trước 30 km, độ cao 6.000 mét. Đó là độ cao của EB-66 thường bay. Sở chỉ huy báo tăng cường quan sát. Tôi và Song cùng phát hiện địch bên trái. Tôi báo cáo về Sở chỉ huy: "513 phát hiện mục tiêu nhưng không phải EB!". Sở chỉ huy trả lời: "Cho công kích!". Lúc này địch cũng đã phát hiện có MiG và bắt đầu lượn "vòng thúng" nối đuôi nhau để chống lại MiG. Số 2 báo cáo không thấy số 1 ở đâu nên Sở chỉ huy cho số 2 quay về. Còn lại mình tôi rơi vào cái "vòng thúng" của tiêm kích địch. Tình thế trở nên khó khăn và ác liệt. Song cái tính cay cú của tôi (kiểu cố đấm ăn xôi) muốn tìm xem thằng EB ở đâu bởi hồi ấy mà bắn rơi được EB thì rất giá trị về cả tinh thần lẫn chiến thuật (cách đánh của MiG-21). Tôi đâu có ngờ khi EB phát hiện có MiG đuổi đánh thì bọn tiêm kích vây kín lại chống chọi với MiG để cho EB chạy trốn.


Máy bay của tôi bị thương, không thể điều khiển được. Hệ thống dầu đỏ của máy bay không còn giọt nào (kim đồng hồ chỉ số 0). Độ cao đồng hồ chỉ còn hơn 1.000 mét (nhưng độ cao thật tới mặt đất thì chỉ còn mấy trăm mét thôi vì tôi thấy cây và những hòn đá to rõ lắm rồi). Không thể chần chừ được nữa! Tôi quyết định nhảy dù! Ở đây là vùng đồi núi đá với những bụi cây lúp xúp, không có bãi đất nào bằng phẳng để có thể hạ cánh bắt buộc được. Thật vô cùng tiếc chiếc máy bay! Ruột tôi đau như đứt từng khúc trước khi đưa hai tay vào dây kéo để phóng ghế dù. Một tiếng nổ nhỏ đẩy tôi cùng với ghế ngồi rời khỏi máy bay, đồng thời nắp buồng lái cũng chụp vào ghế che kín người để không bị dòng không khí và lửa cháy của máy bay táp vào phi công. (MiG-21 được sản xuất đầu tiên cho trường hợp bắt buộc phải nhảy dù đã thiết kế nắp buồng lái úp vào khoang ghế rồi sau đó mới tách ra để dù mở. Đấy là khi nắp buồng lái không bị biến dạng, nhưng trong chiến đấu, đã có mấy trường hợp nắp buồng lái bị biến dạng, không tách khỏi ghế được, vậy là toàn bộ buồng lái cứ thế rơi xuống và phi công đành hy sinh trong đó. Bạn đã cử các chuyên gia sang nghiên cứu, cải tiến sửa đổi ngay thiết kế cũ).


Tôi chạm đất, người bị ngã làm cho lưng va vào đá, đau ê ẩm. Tôi không thể đi được, nhưng các ông, bà dân quân người dân tộc với vẻ mặt hầm hầm bước tới chỗ tôi nằm, tay cầm dao phát rẫy, lưỡi dao sáng loáng. Họ đang căm phẫn bởi vì bom của Mỹ vừa ném xuống bản xong. Họ xem chứng minh thư của tôi thấy ghi: quê Bình Định thì họ tưởng tôi là phi công của Mỹ ngụy bay từ miền Nam ra đánh phá miền Bắc. Tôi nhờ một anh dân quân dìu tôi đi nhưng anh cũng chỉ năm vào khuỷu tay tôi để tôi dựa vào mà đi còn tay kia vẫn lăm lăm khẩu súng kíp, sẵn sàng nhả đạn bất cứ lúc nào.


Hai tay tôi bị bẻ ra sau lưng kiểu trói cánh gà, còn hai chân thì trói riêng từng chân một nhưng chỉ có thể bước từng bước chứ không thể chạy được. Lê bước gần một giờ đồng hồ thì tới bản. Họ đưa tôi đến một cái nhà sàn to để nằm nghỉ và bắt đầu tra hỏi: "Khẩu súng giấu ở đâu?" (vì họ lục trong túi áo da bay của Liên Xô mà tôi mặc, thấy có cái móc dây đeo súng ngắn nhưng không thấy súng đâu). Hôm ấy thật xúi quẩy là tôi không mang súng. Cái bệnh chủ quan của tôi đã làm hại tôi, tôi đành chịu trận... Tôi khát nước tới mức cổ họng khô hết, không thể nói được nhưng tôi không dám xin nước vì sợ họ cho uống nước "lá ngón" (vì tôi nghe chuyện là khi người dân tộc thù ghét nhau hay dùng nước "lá ngón" để hãm hại nhau). Tôi nghĩ, bây giờ họ đang cơn căm thù giặc Mỹ, họ tưởng mình là Không quân của Mỹ ngụy nên mình phải đề phòng. Trời tối không nhìn rõ mặt người. Nhiều người bảo phải đốt đuốc lên cho sáng nhưng lắm người lại can ngăn vì sợ máy bay Mỹ đến. Vừa đói vừa khát, tôi thiếp đi với giấc mơ chập chờn tràn đến nhưng tới nay vẫn còn nhớ: "Đơn vị đã báo cho địa phương biết rồi và động viên tôi cố gắng chịu khát một chút nữa sẽ có nước uống!". Tôi mừng quá, tỉnh giấc ngay. Tôi mở mắt ra thấy có nhiều người ngồi quanh tôi: người thì quạt, người thì bóp chân bóp tay, rồi xoa lưng..., dây trói không còn nữa. Như vậy có nghĩa là bà con đã biết tôi là phi công của ta rồi! Tôi mừng quá! Cảm thấy lưng như hết đau, tôi muốn ngồi dậy nhưng ba con không cho, bắt phải nằm. Tôi nằm trên chiếc giường tre đau lưng quá liền xin xuống nằm dưới đất. Bà con đem nước và cháo đến nhưng tôi không tài nào ngồi được. Tôi vẫn phải nằm và bà con bón cho tôi từng thìa cháo một. Có ti nước cháo vào bụng, người tỉnh táo hẳn lên. Xe của Tỉnh về đưa tôi đến nghỉ ở nhà Giao tế của Tỉnh, chờ xe của đơn vị lên đón về bệnh viện 108, nhưng cũng phải mất mấỵ ngày sau xe mới lên được vì tắc đường. Nhưng ngày đó, địch tập trung đánh phá cầu Gia Bảy nên cầu bị hỏng. Tôi nằm bất động ở nhà Giao tế của Tỉnh, được các anh chị em chăm sóc tận tình, đặc biệt là anh y sĩ Lãnh Hải Toàn. Đêm đêm anh ngồi cạnh xoa bóp chỗ lưng đau cho tôi, nhờ vậy mà khong bị tụ máu. Ngày nào bà con trong bản cũng đem trứng, mật ong đến thăm tôi. Thật cảm động nhưng tôi không nói được tiếng Mường, còn bà con thì lại không nói được tiếng Kinh, chỉ nhìn nhau mà thương rơi nước mắt!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM