Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhớ về bầu trời năm ấy  (Đọc 4973 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #50 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:07:26 pm »

4 giờ sáng ngày 2-8, các đồng chí dân quân đánh thức tôi dậy để còn kịp vượt qua khu vực địch hay đánh phá để về nơi sơ tán của huyện Thanh Chương, nơi đó mới có đường dây liên lạc, mới gọi điện báo cho Quân chủng biết tình hình được. Sở chỉ huy tiền phương đã cho chiếc xe "đít vuông" vào Thanh Chương đưa tôi ra Giang Sơn, Yên Thành - nơi đặt Sở chỉ huy tiền phương của Trung đoàn. Tôi trình bày diễn biến trận đánh ngày 1-8 để cùng nhau rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới. Đối với chiến trường khu Bốn, được ví như chiếc "cán xoong", ta chỉ nên sử dụng biên đội 2 chiếc "đột kích" nhanh và rút nhanh là thượng sách.


Tính từ tháng 3-1966 đến tháng 8-1968, tôi đã đánh được 8 trận, bắn hạ 8 máy bay của giặc Mỹ trên bầu trời miền Bắc yêu thương. Nhưng có lẽ, trận ngày 1-8-1968 là trận tạo ra sự trùng hợp với nhiều con số 8 trong đời tôi nhất (tháng 8 năm 1968, đánh trận thứ 8, bắn hạ chiếc thứ 8 là máy bay F-8). Năm 1968 tôi cũng tròn 32 tuổi (32:4=8). Thật hy hữu!


Trong 8 trận đánh, trừ mỗi trận đánh không người lái, còn lại 7 trận là 7 lần cái sống cận kề với cái chết chỉ trong gang tấc. Song, trận đánh ngày 1-8 là trận đánh bi hùng hiếm có chắc không bao giờ lặp lại.

Tết Mậu Thân 1968, quân và dân miền Nam đồng loạt tấn công vào các thành phố lớn của miền Nam, gây nhiều thiệt hại cho địch, buộc Mỹ phải xuống thang ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán bốn bên ở Hội nghị Paris (Việt Nam dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn). Đây là thắng lợi rất to lớn của cách mạng miền Nam, thời cơ rất thuận lợi để chúng ta xốc tới thực hiện lời chúc đầu năm mới của Bác Hồ: "... Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ, đồng bào. Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!". Con đường đi tới giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc ngày càng sáng sủa, càng sắp thành hiện thực, nhưng trên đầu mọi người vẫn lơ lửng những trận đánh lớn, những trận ác liệt, tàn bạo của đế quốc Mỹ xảy ra trên bầu trời miền Bắc. Chúng tôi luôn nhớ lời dạy của Bác: "... đế quốc Mỹ có thua sẽ chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội..."


Năm 1969, từ các nơi sơ tán chúng tôi được về lại khu doanh trại cũ. Mặc dù đã bị đánh phá hư hỏng nhiều nhưng sửa chữa lại vẫn tốt, vẫn ở tạm để tạo điều kiện tập trung huấn luyện nâng cao trình độ bay cho phi công trẻ, nhất là huấn luyện chiến thuật đánh máy bay chiến lược B-52 của Mỹ.


Trước ngày 2-9-1969, có tin kín truyền tai nhau là Bác Hồ bị mệt, ai nấy đều lo lắng cho Bác, mong sao Bác chóng qua khỏi. Sau ngày 2-9, tin về sức khỏe của Bác càng nặng thêm và đêm khuya ngày 3-9 thì tin Bác Hồ đã qua đời! Chúng tôi khóc thương Bác, đồng bào cả nước khóc thương Bác! Chúng tôi lập phòng thờ tại phòng Câu lạc bộ Đại đội để thắp hương tưởng nhớ Bác.


Trung đoàn lập một Phi đội MiG-21 để bay vĩnh biệt Bác. Tôi được Trung đoàn giao nhiệm vụ dẫn đầu đội hình 12 chiếc MiG-21 bay qua Quảng trường Ba Đình trong giờ tang lễ vĩnh biệt Bác. Đây là một nhiệm vụ khó khăn nhất, nặng nề nhất và cũng quan trọng nhất trong đời tôi. Tôi dẫn đầu đội hình nên nhất cử nhất động tất cả anh em đều làm theo tôi. Chuyến bay này không cho phép có một sai sót nào dù là nhỏ nhất vì nếu để xảy ra thì hậu quả khôn lường.


Những ngày quân và dân ta chuẩn bị làm tang lễ truy điệu Bác, chúng tôi tranh thủ bay tập luyện đội hình ba tốp MiG-21 với đội hình 12 chiếc MiG-17 của Trung đoàn Không quân 923. Như vậy là vào ngày cử hành lễ tang của Bác có 24 chiếc MiG bay qua Quảng trường Ba Đình. Đội hình khi bay qua Quảng trường phải nghiêm chỉnh, đúng giờ quy định và tuyệt đối an toàn. Chúng tôi đã thực hiện xuất sắc yêu cầu đó.


Sáng ngày 9-9-1969, lễ truy điệu vĩnh biệt Bác Hồ được cử hành tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thay mặt đồng bào và chiến sĩ cả nước đọc điếu văn và lời thề trước anh linh của Người. Bài điếu văn vừa dứt thì Phi đội máy bay MiG-21 và Phi đội máy bay MiG-17 xuất hiện bay qua khán đài vĩnh biệt Bác. Khi bay qua lễ đài, lòng xúc động thương nhớ Bác trào dâng, tôi cắn răng chịu đựng cái giây phút đau thương nhất, không để rơi nước mắt, giữ vững trạng thái máy bay không để nghiêng/trượt dù một phần nghìn độ. Hai mươi bốn anh em MiG (12 MiG-21, 12 MiG-17) tề chỉnh bay qua lễ đài Quảng trường Ba Đình vĩnh biệt Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Tôi dẫn đầu đội hình MiG-21, anh Nguyễn Văn Bảy dẫn đầu đội hình MiG- 17. Hai người con của đồng bào miền Nam, hai người Anh hùng đều được Bác Hồ ký quyết định phong tặng với lời dặn dò: "Mong các chú cố gắng hơn nữa, luôn xứng đáng là chiến sĩ thành đồng Tổ quốc!". Tôi ghi lòng tạc dạ lời dặn của Bác. Hôm nay chúng con bay tiễn Bác đi xa... Chúng con đã thực hiện được lời dặn của Bác nhưng chưa kịp báo cáo với Bác thì Bác đã đi xa! Anh Nguyễn Văn Bảy đã hạ được 7 máy bay Mỹ, còn tôi thì hạ được 8 chiếc, thực hiện lời dặn của Bác "luôn xứng đáng là chiến sĩ thành đồng của Tổ quốc". Hôm nay chúng con bay tiễn Bác đi xa nhưng bầu trời miền Bắc vẫn chưa thật sự bình yên, hàng ngày giặc Mỹ vẫn bay vào trinh sát mục tiêu Hà Nội, chuẩn bị cho một trận đánh lớn, dã man hơn, ác liệt hơn. Đó là bản chất của đế quốc Mỹ.


Bước sang năm 1970, chủ trương của trên đem hết số máy bay MiG-21 F13 và một số máy bay MiG-21 mới cùng MiG-19 đang gửi ở sân bay Tường Vân, Trung Quốc về để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tới. Tôi được Trung đoàn cử làm phụ trách đoàn gồm có thợ máy và các phi công bay thử bay sang sân bay Tường Vân ở đó gần 5 tháng. Trong thời gian ấy đã tổ chức chuẩn bị máy bay, bay thử máy bay và chuyển sân về nước hom 30 máy bay MiG-21, hơn 10 máy bay MiG-19 đảm bảo an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sân bay Tường Vân là sân bay ở độ cao hơn mặt nước biển gần 2.000 mét. Ở độ cao đó, không khí loãng nên cất cánh, hạ cánh có khó khăn hơn so với các sân bay ở miền Bắc mà chúng tôi đã bay quen. Sân bay Tường Vân còn có khu vực nước nóng thiên nhiên tắm rất tuyệt vời, có khu chợ Tiền Sở bán nhiều thứ đặc sản của cao nguyên Tường Vân. Những ngày Chủ nhật, anh em Việt Nam thường rủ nhau đi tắm nước nóng và không quên ghé qua chợ Tiền Sở. Khi đi chợ Tiền Sở thì phải đề phòng lợn cắn chân vì lợn nuôi thả rông nhiều lắm, khi có phiên chợ thì lợn cũng vào đó để kiếm thức ăn rơi vãi... Gần 5 tháng ở trên sân bay cao nguyên đầy nắng và gió táp làm cho da chúng tôi đổi màu, khi về Đa Phúc, ai cũng kêu là: "Sao đen thế!".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #51 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:08:58 pm »

Về đến Trung đoàn, nhiệm vụ mới đang đợi tôi, đó là vào khu Bốn. Nhưng trước khi vào khu Bốn, tôi được về Tam Đảo mấy ngày thăm con gái. Cô con gái Hồng Tâm của tôi chưa đầy một tuổi, dễ thương lắm. Quà quý nhất cho con lúc bấy giờ là có mấy lọ mì chính để nấu canh và một cái áo len cho mùa Đông tới. Sau khi nghỉ mấy hôm, tôi cùng anh em của cơ quan Tham, mưu hành quân vào sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa tổ chức Sở chỉ huy tiền phương để trực tiếp chỉ huy máy bay hoạt động trong vùng "cán xoong". Chủ trương của trên là đưa máy bay MiG-21 và máy bay MiG-17 vào trực ban chiến đấu ở sân bay Sao Vàng và sân bay Vinh để mai phục đánh máy bay trinh sát của địch thường bay dọc theo đường số 1, đồng thời cũng rèn luyện cho số phi công mới dần dần dày dạn với chiến trường "cán xoong". Tôi được Trung đoàn giao nhiệm vụ trực chỉ huy ở Sở chỉ huy tiền phương để rèn luyện bản lĩnh chỉ huy ở Sở chỉ huy cấp Trung đoàn, sẵn sàng đảm đương chức vụ Trung đoàn trưởng một Trung đoàn mới sắp thành lập.


Như vậy là lực lượng chiến đấu của Quân chủng sẽ phát triển lớn mạnh chưa từng có. Tôi rất mừng. Mọi người rất mừng trước sự trưởng thành lớn mạnh của Không quân chiến đấu. Đó cũng là sự trả lời đích đáng cho Mỹ khi chúng đòi "quét sạch Không quân Bắc Việt" nhưng thực tế "Không quân Bắc Việt" lại ngày càng lớn mạnh.


Mùa mưa đến cũng là mùa mưa bão ở vùng trời "cán xoong". Trời xấu, sân đất ướt làm hạn chế rất lớn đến việc hoạt động của máy bay tiêm kích, do đó, đơn vị thu quân chuyển ra Bắc để tranh thủ huấn luyện nâng cao kỹ thuật chuẩn bị cho mùa Xuân 1971 sẽ trở lại chiến trường "cán xoong".


Tình hình chiến trường ngày càng sôi động, những trận đánh lớn diễn ra ngày càng dồn dập từ cả hai phía. Phía ta nỗ lực đánh quỵ "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, còn phía Mỹ nỗ lực hoàn thành kế hoạch "Việt Nam hóa" để rút quân Mỹ ra khỏi bãi lầy thất bại. Mỹ sử dụng lực lượng Không quân tối đa để đánh phá giao thông hành lang để ngăn chặn vận chuyển của ta vào chiến trường, đặc biệt sử dụng B-52 ném bom rải thảm đã gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất.


Ở ngoài miền Bắc, chúng phong tỏa tất cả các cảng, ngăn chặn không cho tàu chở hàng của nước ngoài vào cảng bốc dỡ hàng nên có những tàu hàng phải neo đậu ngoài phao số 0 hàng tháng trời, đợi Hải quân của ta rà phá thủy lôi đảm bảo an toàn cho tàu vào cảng.


Bước sang năm 1971, sau khi ăn Tết cổ truyền, đơn vị có sự thay đổi lớn về bố trí lực lượng ra tuyến trước và đơn vị ở tuyến sau. Trung đoàn Không quân 921 được bố trí ở tuyến đầu để bảo vệ vận chuyển hàng cho mặt trận, đồng thời sẵn sàng tiến vào phía Nam vùng "cán xoong". Đại bản doanh của Trung đoàn đặt tại sân bay Sao Vàng. Trung đoàn Không quân 925 trang bị máy bay MiG-19 đóng ở sân bay Yên Bái bảo vệ phía Tây Hà Nội. Trung đoàn Không quân 923 trang bị máy bay MiG-17 đóng quân ở sân bay Kép, bảo vệ vùng trời Đông Bắc. Trung đoàn Không quân 927 trang bị máy bay MiG-21 mới thành lập đóng quân ở sân bay Đa Phúc bảo vệ Hà Nội và sẵn sàng thay thế cho Trung đoàn Không quân 921 vào vùng "cán xoong" chiến đấu, đồng thời Trung đoàn cũng phải chuẩn bị cơ sở vật chất để sẵn sàng đón Trung đoàn Không quân 921 quay ra cùng đóng quân ở Đa Phúc để bảo vệ Hà Nội. Tình hình sau đó (vào năm 1972) diễn ra đúng như dự kiến. Tôi được trên bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927. Tôi nhận nhiệm vụ mới vào thời điểm cực kỳ khó khăn: đơn vị mới thành lập, nhiệm vụ nhiều, nặng nề, lại phải lo chuẩn bị cơ sở cho "anh cả Đỏ" (tên gọi của Trung đoàn Không quân 921 - Trung đoàn Sao Đỏ) đến bất cứ lúc nào.


Cứ mỗi lần gặp khó khăn trên con đường binh nghiệp, tôi lại nhớ đến lời động viên, dặn dò của Bác Hồ hôm Bác ký sắc lệnh tuyên dương Anh hùng quân đội cho tôi: "Mong chú Nhị cố gắng hơn nữa, luôn xứng đáng là chiến sĩ thành đồng Tổ quốc!". Nhớ lời Bác, tôi vượt qua hết thảy khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao trong bước ngoặt mới...


Năm 1972 của Thế kỷ 20, dù thời gian đã qua đi, nhưng ở Hà Nội năm đó, những trận Mỹ dùng máy bay chiến lược B-52 bay vào ném bom rải thảm trong 12 đêm của tháng 12 xuống thành phố Hà Nội, giết hại dân thường vô tội là một tội ác đời đời khắc ghi, còn đối với nước Mỹ, dân tộc Mỹ thì mang thêm một tội ác ghê tởm thứ hai muôn đời không rửa sạch. Trong một Thế kỷ (Thế kỷ 20), đế quốc Mỹ đã gây ra hai tội ác giống nhau có chủ đích tàn sát dân thường đang sinh sống làm ăn, họ đâu có phải là người cầm súng. Năm 1945, Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hy-ro-si-ma và Na-ka-za-ki của Nhật Bản. Chưa đầy 30 năm sau (1972), chúng dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm xuống thủ đô Hà Nội, Việt Nam.


Trên thế giới còn rất nhiều thành phố lớn, nhiều thủ đô rất đông đúc dân cư sinh sống, không biết đế quốc Mỹ sẽ chọn nơi nào nữa để ném bom như kiểu Na-ka-za-ki, Hy-rô-si-ma hay rải thảm như kiểu thủ đô Hà Nội. Hãy luôn luôn nhắc nhở mọi người phải cảnh giác vì bản chất đế quốc Mỹ xâm lược là cha truyền con nối không bao giờ thay đổi.


Suốt năm 1972, đường đời binh nghiệp của tôi có bước ngoặt mới, tôi không được tham gia những trận không chiến nảy lửa trên bầu trời miền Bắc mà ngồi ở Sở chỉ huy của Trung đoàn chỉ huy chiến đấu. Những trận chiến đấu nhớ đời của tôi bây giờ không phải ở trên bầu trời mà là ở trên bàn Sở chỉ huy của Trung đoàn Không quân 927. Suốt những tháng năm chỉ huy Trung đoàn chiến đấu, tôi đúc kết thành một bài học nhớ đời: sự thành bại của công tác chỉ huy chiến đấu đó là thời cơ cho máy bay cất cánh! Cho máy bay cất cánh đúng thời cơ là trận đánh chắc thắng, cho cất cánh muộn là tự chuốc lấy thất bại! Bởi vậy, người chỉ huy đừng bao giờ ngại đầu căng lưng mỏi, phải luôn luôn rèn luyện chí can trường, lòng nhẫn nại, ngồi đó (ở bàn tiêu đồ) mà hồn bay vào chiến trận, phải luôn tỉnh táo, sáng suốt, tinh tường... Nếu ai không giữ được điều đó thì dễ mắc phải sai lầm và thất bại!


Dịp tháng 12-1971, tôi nhận nhiệm vụ cùng với các anh em phi công và thợ máy cơ động lên sân bay Yên Bái để vừa huấn luyện vừa trực ban chiến đấu, bảo vệ phía Tây Bắc Hà Nội. Sân bay Yên Bái vừa đưa vào hoạt động nhưng còn thiếu thốn nhiều, đặc biệt là nơi ăn ở còn tạm thời, nhà lá vách nứa, gió Bắc về rét thấu xương, ban đêm phải đốt củi sưởi, đấy cũng là dịp tốt để lùi sắn (nướng sắn), sáng sớm dậy ăn mấy củ, uống với nước chè tươi thì ngon tuyệt. Tôi ngồi ở Sở chỉ huy theo dõi tình hình địch bay ở bên kia biên giới, cảnh giới cho bộ đội bay huấn luyện đến tận trưa vẫn chưa thấy đói. Ban đêm thì rủ nhau đi bắn cầy (chồn) vì rừng Yên Bái rất nhiều cầy, dúi, trăn...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #52 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:10:00 pm »

Sang tháng 1-1972, tình hình mỗi ngày một căng, triệu chứng địch chuẩn bị đánh phá miền Bắc trở lại ngày càng rõ. Theo tin tình báo ta nắm được, địch đã bắt đầu điều một lực lượng lớn các loại tàu chở máy bay, tàu ra-đa dẫn đường, tàu tên lửa Phòng không, tàu chở trực thăng tìm cứu... đến vùng biển Vịnh Bắc Bộ chuẩn bị mở chiến dịch đánh phá miền Bắc lần thứ 2.


Từ ngày mồng 1 đến mồng 8 tháng 1 năm 1972, trực ban chiến đấu ở sân bay Yên Bái gồm các phi công MiG-21: Ngô Văn Phú số 1, Nguyễn Văn Nghĩa số 2, Nguyễn Tiến Sâm số 3, Hạ Vĩnh Thành số 4. Trực ở Đài chỉ huy cất hạ cánh ngoài sân bay (K5) là Nguyễn Văn Lung. Tôi trực trong Sở chỉ huy. Đó là những ngày đáng nhớ nhất ở miền Tây Bắc, phải chịu đựng trong gió rét lạnh buốt và bầu ười u ám suốt ngày.


Ngày 9-1-1972, tôi đi xe ô tô từ Yên Bái về sân bay Đa Phúc trên con đường lầy lội, có những đoạn bị "pa-ti-nê" - bánh xe cứ quay tròn một chỗ và mấy lần suýt rơi xuống vực.

Ngày 10-1-1972, họp Đảng ủy Trung đoàn bàn công tác lãnh đạo chiến đấu cơ động lực lượng vào khu Bốn.

Phân công lực lượng trực ban chiến đấu ở các B (các sân bay) như sau: B4 (sân bay Vinh) gồm Nguyễn Đăng Kính, Lương Thế Phúc, Nguyễn Văn Nghĩa; B1 (sân bay Thọ Xuân) gồm Đinh Tôn, Trần Thông Hào, Trần Cung, Bùi Đức Nhu, Nguyễn Công Huy, Đỗ Văn Lanh, Trần Việt, Cao Sơn Khảo; Sân bay Đa Phúc gồm Hoàng Biểu, Phạm Văn Mạo, Nguyễn Ngọc Thiên, Vũ Xuân Thiều, Phạm Tuân, Bùi Doãn Độ, Mai Văn Cương, Phạm Phú Thái, Võ Sỹ Giáp, Bùi Văn Long, Lê Thanh Đạo, Hoàng Quốc Dũng, Lê Minh Dương, Trần Sang, Mai Văn Tuế, Nguyễn Hồng Mỹ, Đặng Ngọc Ngự, Ngô Văn Phú, Nguyễn Văn Lung, Hạ Vĩnh Thành, Ngô Duy Thư, Nguyễn Ngọc Hưng... Tôi trực ở Sở chỉ huy.


Giữa tháng 1-1972, lực lượng các tàu của Mỹ phục vụ cho chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2 đã tập kết đông đủ ở vùng vịnh Bắc Bộ, cụ thể như sau:

- Tàu chở máy bay Conteslation đậu cách Nghi Xuân 143 km (ngoài biển), Corasia cách Nghi Xuân 178 km, Kittihawk cách đảo Nghi Sơn 140 km, Hankocwk cách Đà Nẵng 97 km.

- Tàu tên lửa đối không-Long Bách ở phía Đông Tĩnh Gia 60 km, Oklahoma City phía Đông Bỉm Sơn 67 km, tàu ĐĐG ở phía Đông Diễn Châu 80 km, DDG đậu ở phía Đông Lạch Ghép 75 km.

- Tàu dẫn đường thông báo có MiG hoạt động DAPA phía Đông Tĩnh Gia 60 km, Oska phía Đông Quỳnh Lưu 84 km, Sharar ở phía Đông Hoằng Hóa 130 km.

- Tàu chở trực thăng tìm cứu và đổ bộ LPH-10 ở phía Đông Sầm Sơn 140 km.

- Tàu chống ngầm ở phía Đông Hoằng Hóa 130 km.

- 8 khu trục hạm đậu cách bờ từ 55 đến 140 km suốt từ Hòn Mê đến cửa Sót.

Ngày 15-1-1972, Trung đoàn tổ chức bay huấn luyện. Mọi người tận dụng từng giờ khi bầu trời còn yên ả để nâng cao trình độ bay. Tôi được phân công bay kèm bài số 20 (không vực độ cao thấp) cho phi công Nguyễn Thắng Được và bài bay 113 (không chiến ở độ cao thấp) cho Lê Minh Dương và Bùi Thanh Liêm.


Ngày 16-1-1972, kế hoạch huấn luyện 31 lần chiếc hoàn thành sớm, về nhà kéo nhau ra sân bóng thi đấu đến tối mịt mới tan cuộc.

Những ngày chờ đợt đánh phá lần thứ 2 trên miền Bắc là những ngày rất căng thẳng. Và ngày đó đã đến!

Ngày 17-1-1972, Không quân Mỹ cho một số tốp tiêm kích bay vào khiêu chiến ở vùng Ninh Bình - Hồi Xuân - Lang Chánh - Mộc Châu... Biên đội Nguyễn Hồng Mỹ, Lê Minh Dương xuất kích gặp địch bắn hết cả tên lửa nhưng không trúng mục tiêu.

Ngày 18 và 19-1-1972, tôi đi họp ở Bộ Tư lệnh Quân chủng rút kinh nghiệm trận đánh ngày 17 và bàn kế hoạch huấn luyện chuyển sang thời chiến.

Ngày 19-1-1972, địch đánh phá sân bay Anh Sơn, phá hỏng đường băng và 1 cánh cửa hầm làm cho 2 chiếc MiG-21 bị kẹt trong hầm không kéo ra được. Ngoài Bắc, địch tiến hành trinh sát Mộc Châu - Nà Sản - Hồi Xuân - Mường Xén.

Sự cố ngày 19-1: biên đội trực ban chiến đấu ở B1 mở máy không thành công lần thứ nhất nên đã cất cánh chậm mất 7 phút. Nguyễn Hồng Mỹ và Trần Sang gặp địch, Nguyên Hồng Mỹ bắn 2 quả tên lửa, bị tắt máy trên không và mở máy lại thành công. Trần Sang xông lên trước mục tiêu, bị cướp cò bay mất 1 quả tên lửa vào không trung.


Biên đội Nguyễn Đức Soát, Hạ Vĩnh Thành cất cánh từ sân bay Đa Phúc lên tiếp địch ở hướng Mộc Châu vào Yên Bái đã bắn nhầm biên đội MiG-19 từ Yên Bái lên. Phi công Nguyễn Tử Dung của MiG-19 đã nhảy dù an toàn.

Những ngày cuối tháng 1-1972 (từ 20-1 đến 31-1) lại xảy ra sự cố hỏng hóc không đáng có: ngày 21-1 máy bay số 030 khi cất cánh thu càng chậm do rơi mất 1 chiếc lò xo ở nắp buồng càng bên phải, đến ngày 31-1 thì Lê Văn Kiền khi về hạ cánh đã kéo bồng máy bay để đuôi máy bay quệt xuống đường băng, mòn vẹt dao ổn định dòng, tiếp đến lại là bộ phận chăn bò của Phòng Hậu cần Trung đoàn bắt nhầm bò của dân ở xóm Nam Hà về thịt. Trung đoàn phải đi giải quyết đền tiền cho dân nhưng bà con thương tình tha cho, không lấy tiền...


Những ngày đầu tháng 2-1972, đơn vị học chính trị về tài liệu "Đạo đức cách mạng" và sơ kết công tác "nâng cao chất lượng đảng viên" theo 7 yêu cầu của Trung ương đã đề ra, đó là: nâng cao ý chí chiến đấu, nhiệt tình cách mạng, phẩm chất đạo đức, gương mẫu học tập, vận động quần chúng... Mức bình chọn đảng viên đạt 4 mức là: phấn đấu tốt, chưa tốt, đạt yêu cầu, chưa phấn đấu tiến bộ.


Đợt sinh hoạt kết thúc tốt đẹp. Anh em ai cũng phấn khởi, đầy lòng tin chuẩn bị bước vào hiệp 2 của cuộc chiến (cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc Việt Nam) sẽ giành thắng lợi ròn rã hơn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #53 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:12:08 pm »

Ngày 13-2-1972, Thanh Dậu, người vợ yêu quý của tôi đi công tác lên Ty y tế Tỉnh để nhận thuốc nhưng cũng tranh thủ ghé qua sân bay để thăm tôi. Nhân dịp này, tôi xin đơn vị nghỉ 2 ngày để đưa vợ về Tam Đảo, để thăm con gái Hồng Tâm mới được 3 tuổi. Tôi nhớ con lắm! Vợ tôi xuống sân bay thăm tôi đi bằng xe đạp nên khi trở về, chúng tôi đeo nhau Tôi đèo vợ tôi từ sân bay đến suối ở chân núi Tam Đảo. Từ suối lên khu 2 Tam Đảo là đường dốc, vợ tôi dắt xe đạp leo dốc, tôi leo bộ chân mỏi rã rời, tôi liền cởi đôi giày da đeo vào cổ (leo dốc bằng chân không cho nhẹ). Lúc này chỉ cần thêm một cái cúc áo thôi là cũng có cảm giác nặng lắm. Sau này tôi kể lại cho anh em nghe, anh Nguyễn Ngọc Độ là người đầu tiên đặt cho tôi cái tên húy: "Ông Tư leo!". Xuất xứ cái tên là vậy chứ không có nghĩa gì khác.


Trước khi Mỹ mở chiến dịch không kích lớn trở lại miền Bắc, chúng đã tiến hành trận tập kích vào Sơn Tây hòng cướp số giặc lái bị ta bắt sống trong mấy năm đánh phá miền Bắc đang giam tập trung ở trại giam giữa cánh đồng Thạch Thất, Sơn Tây. Chúng ta giữ bí mật tuyệt đối, đề phòng biệt kích Mỹ hoặc có thể chúng ném bom để phi tang nhân chứng đã sát hại dân thường mà cả thế giới đang kịch liệt lên án. Không có bệnh viện, nhà trẻ, trường học... nào trên miền Bắc Việt Nam mà không có bom đạn của Mỹ từ trên trời ném xuống...


Đến thời điểm đó có hơn 500 giặc lái bị ta bắt sống, nhưng giam giữ ở trại giam Sơn Tây chỉ hơn 300 tên. Hàng ngày chúng cho máy bay không người lái, rồi SR-71 bay qua trại giam chụp ảnh rất chi tiết, chúng nắm được cả thời gian sinh hoạt của tù nhân như giờ ăn, giờ nghỉ, giờ ra sân chơi, giờ làm vệ sinh... Bọn tù nhân đã vẽ những dấu hiệu trên sân chơi, đứng ở sân làm hiệu bằng tay... khi máy bay không người lái bay qua chụp ảnh. Bởi vậy chúng nắm rất chắc các chi tiết khi thả bọn biệt kích xuống trại giam. Gần đến ngày thực hiện kế hoạch đột kích, chúng cho máy bay không người lái bay thấp qua trại giam ngày đến 2-3 lần để chụp ảnh chi tiết. Thế nhưng chúng không hay biết gì chuyện bọn "tù giặc lái" ta đã chuyển đi nơi khác cách đó ít lâu rồi. Những bức ảnh không người lái chụp được có dấu lốp xe vận tải chạy vào trại giam, chúng không nghĩ đó là xe vào chở tù nhân đi mà cho rằng đó là xe tiếp tế hậu cần cho trại giam. Các đầu tham mưu của Mỹ ngày càng măc sai lầm. Đến giờ bay tập kích, chúng vẫn chắc mẩm còn 100% giặc lái đang tù ở trại giam. Phen này khi trở về Mỹ sẽ nhận được rất nhiều đô la tiền thưởng và Huân chương Bội tinh chiến thắng! Nhưng thất bại đã dành cho cả hai phía: phía Mỹ thì đã đổ quân xuống cái trại giam trống không rồi phải tự thiêu một chiếc trực thăng và rút quân, còn phía Việt Nam thì đã phóng lên không trung một số tên lửa "Sam-2" không trúng một máy bay thật nào của Mỹ cả, toàn những mục tiêu giả thôi. Nhưng cũng nhờ bài học đó mà tháng 12-1972, ta không tốn một quả tên lửa nào vào mục tiêu giả nữa.


Hôm đó, tuy MiG-21 chưa triển khai trực ban chiến đấu ban đêm vì vậy không có chiếc MiG nào xuất kích, nhưng ở Sở chỉ huy Trung đoàn vẫn triển khai kíp trực đủ. Tôi ngồi ở Sở chỉ huy Trung đoàn trong khu E, nhìn về vùng trời Sơn Tây thấy rõ những vệt lửa của "Sam-2" bay vút lên không trung, nổ vào những mục tiêu giả, trong khi đó những mục tiêu thật là những máy bay C-130, AD-6, trực thăng... đang bay rất thấp đột nhập vào trại giam đổ quân biệt kích xuống để cứu tù giặc lái. Tôi cùng với anh em trực ở Sở chỉ huy nhìn thấy mà ruột gan nóng như thiêu đốt.


Sau cái đêm thất bại cay đắng đó, đơn vị triển khai sẵn sàng chiến đấu toàn diện cả trên không lẫn mặt đất. Từ Sở chỉ huy đến bộ đội rồi khí tài dự bị, hậu cần... đều sơ tán về các hầm trong núi như hồi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, đơn vị thực hiện kế hoạch gia cố lại tất cả các hầm ụ để máy bay, các hầm cho người... để chống các loại bom xuyên, bom phá rồi các loại bom bi "quả dứa", "quả ổi"... Phải có mũ rơm mang theo người để khi cần phải đội.


Địch đánh phá ra miền Bắc lần thứ 2 sớm hơn ta dự kiến. Vừa ăn Tết cổ truyền vào ngày 15-2-1972 xong thì ngày 16-2-1972 địch bắt đầu đánh phá ồ ạt xuống vùng Vĩnh Linh, bị ta trừng trị, bắn rơi 2 chiếc. Sang ngày 17-2-1972, địch đánh phá ác liệt vùng Quảng Bình, bị ta bắn hạ 6 chiếc. Mỹ thực hiện đánh phá kiểu "vết dầu loang" bắt đầu từ Vĩnh Linh, Quảng Bình lan dần ra Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Phủ Lý, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, đường số 1 Bắc, Việt Trì... nhưng lần này "loang" nhanh hơn. Còn cái rốn là thủ đô Hà Nội gọi đó là "chảo lửa của bom B-52" thì chưa biết ngày nào. Bọn Mỹ gọi nơi đó là "thung lũng MiG" nên còn gờm MiG, chứ nghe chừng chúng xem thường "tên lửa Sam" lắm. Chúng đã đánh Hải Phòng, các B-52 bay thong dong vào rải bom rồi lại ung dung bay ra, có "quả Sam" nào đụng được vào đuôi chúng đâu! Từ Lầu năm góc đến Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ đều chắc mẩm lần này sẽ hủy diệt Hà Nội như hủy diệt Bình Nhưỡng hoặc Hy-rô-si-ma mà không tốn một B-52 nào! B-52 sẽ vẫn giữ được uy danh lừng lẫy và khắp thế giới vẫn run sợ.


Đánh phá miền Bắc lần thứ 2 này, Mỹ dùng nhiều loại vũ khí mới chưa từng sử dụng bao giờ và ở đâu như bom từ trường, bom la-de, bom thông minh, bom phát quang có sức công phá lớn, bom khoan bê tông, ngòi nổ chậm, hẹn giờ, nổ theo tiếng động...

Lực lượng phi công tham gia trực ban chiến đấu tháng 2 năm 1972 của hai Trung đoàn Không quân 921 và 927 như sau: Trung đoàn Không quân 921 hoãn kế hoạch di chuyển vào sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa và triển khai trực ban chiến đấu ở sân bay Đa Phúc, vì vậy lực lượng trực ở sân bay Đa Phúc rất dồi dào. Biên đội 4 chiếc được sắp xếp như sau:

- Lê Thanh Đao - Lê Khương - Lê Minh Dương - Mai Văn Tuế.

- Phạm Phú Thái - Võ Sỹ Giáp - Bùi Văn Long - Hoàng Quốc Dũng.

- Đặng Ngọc Ngự - Cao Sơn Khảo - Ngô Văn Phú - Nguyễn Hồng Mỹ.

- Nguyễn Văn Lung - Ngô Duy Thư - Nguyễn Đức Soát - Dương Đình Nghi.

- Nguyễn Tiến Sâm - Nguyễn Thanh Xuân - Trần Cung - Nguyễn Đức Chiến.

- Đặng Xây - Trần Văn Năm - Mai Văn Cương - Trần Sang...

Đêm 21-2-1972, phi công Đặng Vân Đình xuất kích ban đêm, gặp địch, địch phóng 2 quả tên lửa đối đầu. Như vậy, địch đã giở trò bắn đối đầu ban đêm, phi công ta cần cảnh giác đề phòng.

Cuối tháng 2-1972, tình hình các cửa hàng bán thịt ở Đa Phúc có gặp khó khăn. Bếp bay thiếu thịt nạc cho nên phải mổ lợn tăng gia của đơn vị mới đủ cho 2 bếp bay có thức ăn hàng ngày.

Tình hình bệnh cúm phát triển đã ảnh hưởng đến lực lượng phi công trực chiến.

Các bữa ăn phụ ngoài sân bay có bị giảm sút, cần phải khắc phục ngay.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #54 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:13:24 pm »

Mặc dù lúc này tôi thường xuyên túc trực ở Sở chỉ huy, bận bịu lo cho chiến đấu, tuy vậy, "thượng vàng hạ cám" công việc cho đến hậu cần bếp núc đều dồn về thủ trưởng trực Sở chỉ huy. Phải có quyết sách để các cấp dưới lo giải quyết kịp thời.

Công việc tối quan trọng của thời chiến đó là nhanh chóng, kịp thời.

Tháng 2 trời u ám đã qua. Bước sang tháng 3 trời tốt dần lên. Đơn vị chuẩn bị lực lượng cơ động vào khu Bốn đánh B-52 thì nhiều sự việc không may xảy ra, đầy ắp trong đầu người chỉ huy lãnh đạo toàn những chuyện buồn tiếc thương. Đó là vào ngày 1-3-1972, phi công Đặng Vân Đình xuất kích ban đêm đến khu vực Mộc Châu thì bị địch bắn rơi. Ta mất cảnh giác vì địch đã cho một số tốp F-4 phục kích sẵn ở đó. Sau này ta bắt được giặc lái, bọn chúng khai rằng mưu đồ của chúng lúc đó là phải diệt hết phi công MiG bay đêm để dễ dàng đưa B-52 vào đánh Hà Nội. Chúng rất gờm MiG-21 đánh đêm. Trận B-52 gặp MiG-21 đêm 10-11-1971, bị MiG-21 bắn bị thương là trận nhớ đời của giặc lái B-52.


Đêm 1-3-1972, phi công Phạm Tuân làm mũi chủ công dẫn đường chính vào trận thì lại không gặp địch.

Ngày 3-3-1972, phi công Bùi Văn Long bay huấn luyện trên loại máy bay MiG-21F-96 (loại MiG cải tiến mang 4 tên lửa), lúc về thả càng hạ cánh thì càng không ra hết. Khi máy bay tiếp đất bị nghiêng lệch ra ngoài đường băng, chạy được 1.000 mét thì vấp phải rãnh thoát nước, hỏng hoàn toàn máy bay. Do va đập mạnh nên phi công đã bị hy sinh.


Chiều ngày 3-3-1972 lại tiếp tục xảy ra một vụ tai nạn đau xót khôn lường nữa. Đó là chiếc máy bay vận tải Li-2 chở bộ phận cơ động của Trung đoàn Không quân 921 từ sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân bay vào sân bay Vinh. Trên máy bay có hơn 30 thợ máy ưu tú được lựa chọn đi cơ động cùng với tổ chỉ huy 3 người là Trung đoàn phó Lê Trọng Huyên-Thiếu tá phi công MiG-21 đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ, Phó chính ủy Trung đoàn - Thiếu tá Nguyễn Văn Tho và phi công chỉ huy cất hạ cánh Phạm Văn Mạo, cộng với tổ bay Li-2 gồm 5 người. Khi máy bay bay vào đến sân bay Vinh, giảm độ cao vào vòng lượn để hạ cánh thì trận địa "Sam-2" ở Vinh đã bắn nhầm. Máy bay cháy và rơi. Tất cả số người trên máy bay đều hy sinh. Đó là một tai nạn vô cùng đau xót do sự hiệp đồng thông báo thiếu chính xác. Nó là bài học nhớ đời của đơn vị "tên lửa Sam".


Ngày 4-3-1972, toàn Quân chủng kiểm tra về an toàn bay.

Ngày 5-3-1972, họp Đảng ủy cả ngày.

Các phi công đánh đêm Đinh Tôn, Hoàng Biểu cơ động vào B2 và B5 (Vinh và Đồng Hới).

Ngày 12-3-1972, Trung đoàn Không quân 921 tổ chức băn thử tên lửa trên loại máy bay MiG-21F-96.

Ngày 14-3-1972, Tiểu đoàn máy bay ném bom IL-28 huấn luyện bay đêm. Máy bay bị rơi xuống đầu Nam sân bay Hòa Lạc. Tổ bay hy sinh, chưa rõ nguyên nhân.

Ngày 19-3-1972, Tư lệnh xuống kiểm tra sở chỉ huy và giao nhiệm vụ chiến đấu tới:

- Lực lượng trực ban chiến đấu ở sân bay Đa Phúc ban ngày gồm 8-12 chiếc MiG-21.

- Phương án đánh: 1 hướng chính, 1 hướng phụ.

- Sở chỉ huy Trung đoàn phải đảm nhận dẫn cho được 2 tốp (8 chiếc).

- Triển khai Sở chỉ huy hỗ trợ ở Mộc Châu. Trung đoàn cử Trung đoàn phó Nguyễn Nhật Chiêu lên đường ngay ngày hôm đó.

- Tất cả các sân bay trên miền Bắc phải tổ chức chỉ huy hỗ trợ khi đánh quần với địch tại sân bay.

- Bố trí lại các tuyến trực ban tại sân bay 1, 2, 3...

- Phòng tránh và sơ tán phải làm triệt để, chống bệnh chủ quan không xuống hầm khi báo động có B-52, nhất là vào ban đêm khuya khoắt, trời lạnh...

- Sẵn sàng di chuyển Sở chỉ huy. Khi có lệnh, trong một đêm phải hoàn thành.

- Sơ tán phi công vào ở làng Thụy Hương, Hương Gia.

Tư lệnh kết luận công tác phòng, chống bom rải thảm của B-52, đơn vị làm tích cực và kiên quyết nhưng cũng còn bộc lộ một số khuyết điểm yếu kém cần phải sâu sát chấn chỉnh cho kịp thời. Công tác Đảng, công tác chính trị cần nhạy bén nắm tư tưởng bộ đội, động viên kịp thời nhất là ý chí quyết thắng B-52 ngay từ đầu, trận đầu khi địch đánh vào Hà Nội. Nhắc lại lời tiên đoán của Bác Hồ "... sớm hay muộn gì thì đế quốc Mỹ cũng đem B-52 đánh phá Hà Nội...".


Tháng 4-1972, Mỹ đánh phá hầu hết các tỉnh ở miền Bắc. Tuyến đường sắt lưu thông sang Trung Quốc gần như tê liệt hoàn toàn. Tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng cũng bị gián đoạn. Mỹ tiến hành chiến dịch phong tỏa tất cả các cảng biển, các cửa sông miền Bắc Việt Nam thông ra biển Đông- Tất cả đều bị rải thủy lôi, rải mìn không còn một khe hở nào để tàu bè có thể qua lại được. Các tàu thủy của Liên Xô, Trung Quốc... chở hàng viện trợ cho ta gồm đường, sữa, bột mì, thuốc cấp cứu, bông băng sát trùng, thuốc kháng sinh... phục vụ cho các bệnh viện, nhà trẻ, mẫu giáo, cho người già, cho thương binh... đều phải nằm chết dí ngoài phao số 0.


Việt Nam lên án Mỹ. Thế giới phản đối Mỹ gây ra một kiểu chiến tranh đầy tội ác không thể dung thứ.

Ở vùng biển khu Bốn, tàu Trung Quốc có sáng kiến là dùng bao tải bằng ni-lông rồi cho các mặt hàng đường, sữa, bột mì... vào, buộc chặt lại và thả xuống biển để sóng đánh vào bờ cho dân quân ven bờ biển Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh bơi ra vớt về giao cho các bệnh viện, nhà trẻ. Nhưng Mỹ lại cho máy bay trực thăng bay dọc bờ biển, dùng súng 20 li bắn theo các bao đó làm rách và chìm. Bao nào còn nổi, vớt được về thì cũng không sử dụng được vì ngấm nước mặn. Còn một tội ác nữa mà Mỹ gây ra nhằm hủy diệt mầm sống ở Việt Nam mà trên thế giới chưa từng có bao giờ. Đó là những bọn máy bay "con ma" F-4 bay vượt âm thanh ở độ cao cực thấp trên vùng đồng bằng Bắc Bộ đông đúc dân cư. Sóng âm thanh dồn nén khối không khí, gây ra tiếng nổ chấn động làm biến dạng (dị dạng) mầm sinh chưa hình thành sinh linh. Thời đó, trên bầu trời đất nước Xô-viết, luật pháp quy định chỉ cho phép máy bay bay vượt âm thanh phải ở độ cao từ 10 km trở lên.


Hôm nay, ở Việt Nam, tuy rằng những lần bay vượt âm thanh của bọn F-4, F-105 ở độ cao cực thấp chưa có hồ sơ tài liệu của các nhà khoa học chứng minh sự thiệt hại do tội ác này gây ra cho đồng bào ta trên miền Bắc, nhưng lịch sử sẽ lời, bắt đế quốc Mỹ phải bồi thường cho đồng bào ta.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #55 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:16:33 pm »

Ngày 10-5-1972, Trung đoàn Không quân 927 (Trung đoàn MiG-21 thứ hai) đánh thắng trận đầu ròn rã do biên đội 2 chiếc MiG-21 của Lê Thanh Đạo, Vũ Văn Hợp bắn hạ 2 chiếc F-4 của Không quân Hải quân Mỹ trên vùng trời Hải Dương, mở ra trang sử vinh quang đầu tiên của Trung đoàn.


Trung đoàn mới thành lập chưa đầy ba tháng, lực lượng chiến đấu tuyệt đại đa số là phi công trẻ, mới tốt nghiệp bay MiG-21 ỏ Liên Xô về, chỉ có cán bộ Trung đoàn và Phi đội là đã qua trận mạc từ Trung đoàn Không quân 921 chuyển sang làm nòng cốt. Trung đoàn gặp muôn vàn khó khăn về quản lý một sân bay lớn (sân bay Đa Phúc) vừa lo đảm bảo cho mình xây dựng và chiến đấu, vừa đảm bảo phục vụ cho các Trung đoàn bạn cơ động tới làm nhiệm vụ (các Trung đoàn 921, 923, 925, 929...).


Trung đoàn Không quân 927 bước vào trực ban chiến đấu đúng 1 tháng (từ 9-4 đến 10-5-1972) thì đánh thắng trận đầu. Thời gian một tháng đó là VÀNG của Trung đoàn. Tôi đã cố gắng truyền lại cho anh em những kinh nghiệm mình đã kinh qua trong các trận không chiến rồi đề đạt với Quân chủng tích cực cho anh em bay xuất kích chiến đấu. Có trận gặp địch nhưng chưa đánh được thì về rút kinh nghiệm. Có lần cho xuất kích giả là có địch đến gần, biên đội ở thế bất lợi. Cứ thông báo cho đội hình vòng trái gấp, vòng phải gấp..., rồi thông báo đằng sau có địch... để cho biên đội chỉ huy xử lý như có địch thật... để nghe anh em báo cáo về Sở chỉ huy với giọng nói bình tĩnh, đĩnh đạc hay là lập cập, hồi hộp. Ngồi ở Sở chỉ huy, người chỉ huy có thể hiểu được trạng thái tinh thần của phi công trên bầu trời (bình tĩnh, hồi hộp, lo lắng, mất tinh thần, sợ sệt...). Tùy từng trạng thái mà người chỉ huy sẽ ra khẩu lệnh hỗ trợ tinh thần cho phi công vượt qua giây phút mất bình tĩnh đó...


Phát huy chiến thắng trận đầu, Trung đoàn liên tiếp giành thắng lợi từ ngày 10-5 đến ngày 31-12-1972. Toàn Trung đoàn đã bắn hạ được 41 máy bay của giặc Mỹ, trong đó 1 "pháo đài bay" rơi tại chỗ, bắt sống được 18 giặc lai từ cấp Trung úy đến Trung tá của Không quân Mỹ. Trong chiến công hiển hách đó phải nói đến những đôi bay, những phi công tài trí, dũng cảm của Trung đoàn như các đôi bay Lê Thanh Đạo-Vũ Văn Hợp, Nguyễn Đức Soát-Ngô Duy Thư, Nguyễn Văn Nghĩa-Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Tiến Sâm-Hạ Vĩnh Thành, Ngô Văn Phú-Ngô Duy Thư, Đỗ Văn Lanh-Dương Bá Kháng, Nguyễn Ngọc Hưng-Mai Văn Tuế, Lê Thanh Đạo-Trần Văn Năm, Lê Kiền-Hoàng Tam Hùng, Bùi Đức Nhu-Nguyễn Tiến Sâm... và một chọi một với nhiều chiếc như phi công Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Ngọc Thiên...


Phi công của Trung đoàn được Đảng, Quốc hội tuyên dương danh hiệu Anh hùng là: Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Tiến Sâm, Nguyễn Văn Nghĩa, Vũ Xuân Thiều, sau này là Bùi Đức Nhu. Theo tôi, tất cả phi công của Trung đoàn họ chiến đấu rất dũng cảm, ngoan cường, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc thân yêu. Họ "lặn lội" trong đám vũ khí hiện đại của Không quân Mỹ để bắn hạ được một chiếc máy bay Mỹ là xứng đáng Anh hùng rồi!


Cuộc chiến giữa Không quân Việt Nam và Không quân Mỹ là một cuộc chiến không cân sức. Mỹ đã gây cho Không quân ta có nhiều tổn thất nói chung, trong đó có Trung đoàn Không quân 927 nói riêng. Chỉ qua hơn 6 tháng chiến đấu, Trung đoàn đã bị rơi 16 máy bay MiG-21 và 8 phi công hy Sinh. Đó là các phi công vô cùng yêu quý của chúng ta, của đồng đội, của gia đình, của Trung đoàn Không quân 927. Họ đã anh dũng chiến đấu quên thân vì dân, vì nước. Hình ảnh của họ còn đọng mãi mãi trên bầu trời và đêm đêm bay theo ánh sao về thăm Đất Mẹ!


8 phi công của Trung đoàn đã hy sinh trên bầu trời miền Bắc đó là:

- Nguyễn Văn Lung.

- Nguyễn Ngọc Hưng.

- Vũ Văn Hợp.

- Mai Văn Tuế.

- Nguyễn Thắng Được.

- Nguyễn Thế Đức.

- Vũ Xuân Thiều.

- Nguyễn Ngọc Thiên.

Trong chiến công hiển hách của Trung đoàn, mỗi khi nhắc đến không thể nào không nhớ đến những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lớp đầu tiên của Trung đoàn. Họ đã khắc phục biết bao khó khăn, thiếu thốn, chung lưng xây dựng Trung đoàn vượt qua hết thảy gian nan vất vả. Tất cả vì chiến đấu thắng lợi! Cũng không thể không nói đến công sức to lớn, chí khí dũng cảm, kiên cường của cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn từ phi công đến chiến sĩ thông tin, tiêu đồ, đến những chiến sĩ binh nhì gác đường băng... Tất cả họ đều dũng cảm ngoan cường, hiên ngang trước bom đạn địch để hoàn thành nhiệm vụ của Trung đoàn.


Lớp cán bộ đầu tiên đó là:

- Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị.

- Trung đoàn phó Nguyễn Nhật Chiêu.

- Trung đoàn phó Nguyễn Đăng Kính.

- Trung đoàn phó Nguyễn Văn Nhiên.

- Chính ủy Trung đoàn Trần Ưng.

- Phó Chính ủy Đinh Văn Dây.

- Phó Chính ủy Lê Tự Do.

- Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Trọng Yêng.

- Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Tỉnh.

- Tham mưu phó Lương.

- Chủ nhiệm kỹ thuật máy bay Mai Bá Quát.

- Chủ nhiệm hậu cần kiêm Tiểu đoàn trưởng sân bay Đa Phúc Nguyễn Bá Thi.

- Các Trưởng tiểu ban: Tác chiến Nguyên, Quân báo Tính, Dẫn đường Bình, Thông tin Giáo, Khí tượng Tài, Hành chính Tòng...

Bằng một vài dòng ký ức ngắn, tôi xin bày tỏ lòng tri ân đối với tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Không quân 927 thân yêu của tôi!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #56 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:18:01 pm »

Ở miền Bắc Việt Nam, độ từ tháng 6 cho đến tháng 10 hàng năm là mùa mưa to, giông bão... rất nguy hiểm cho hệ thống đê điều. Các tỉnh thuộc vựa lúa của Bắc Bộ có rất nhiều đê của các con sông lớn như sông Hồng, sông Luộc, sông Đuống... Nếu đê bị vỡ thì mùa màng mất trắng, người chết, bệnh tật truyền nhiễm phát triển... Đế quốc Mỹ đã lợi dụng vào mùa nước lên cao tràn ngập đê để tăng cường ném bom xuống hệ thống đê nhằm tiêu hủy nguồn lương thực sống của nhân dân miền Bắc và là nguồn lương thực chủ yếu chi viện cho chiến trường. Nông dân miền Bắc Việt Nam làm ra được một hạt gạo là chia làm 4 phần: 3 phần dành cho 3 chiến trường là miền Nam Việt Nam, Lào và Đông Bắc Căm-pu-chia, chỉ còn lại phần nhỏ dành cho cái nồi của mình. Mùa mưa lụt thì đế quốc Mỹ ném bom phá hoại hệ thống đê điều nhằm triệt phá nguồn lương thực, còn mùa khô, mùa lúa đang chín vàng rực rỡ trên các cánh đồng thì đế quốc Mỹ triệt phá bằng cách cho máy bay ném bom na-pan đốt cháy thành tro những đồng lúa đang chín. Người nông dân đứng chống cuốc nhìn cánh đồng lúa cháy mà ruột đau như cắt. Họ nghĩ đến các chiến sĩ con em của mình đang ở chiến trường phải ăn rau rừng để chiến đấu!


Cuộc chiến tranh đế quốc Mỹ gây ra ở Việt Nam là cuộc chiến tranh hủy diệt hết thảy sự sống ở Việt Nam. Ở miền Bắc Việt Nam thì Mỹ dùng máy bay, tàu chiến mang đầy bom đạn trút xuống bất kể đâu, từ làng quê đến phố phường, đồng ruộng, đê điều, bệnh viện, nhà trẻ, nhà hộ sinh... Còn ở miền Nam, ngoài bom đạn, Mỹ còn dùng chất độc đi-ô-xin rải xuống hầu khắp chỗ nào mà Mỹ cho là có Việt cộng ở để sát hại không chỉ một kiếp người mà hậu quả còn để lại di chứng dai dẳng cho nhiều kiếp sau nữa.


Quân đội Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam cũng là một đội quân tàn ác dã man chưa từng có ở Việt Nam. Viết đến đây, tôi phải nói trường hợp lính Mỹ sát hại dã man đối với gia đình và người mẹ vô cùng yêu quý của tôi. Năm đó (năm 1968) cụ đã 60-70 tuổi, già yếu không làm gì nổi nữa. Cụ ở nhà mỏi mắt chờ người con trai đi tập kết ngoài Bắc về. Một hôm, lính Mỹ đi lùng sục, bắt được cụ. Chúng tra khảo cụ bằng cách thả cụ xuống giếng. Cụ bị chết ngạt thì chúng lại kéo cụ lên, rồi lại thả cụ xuống cứ nhiều lần như thế. Rồi chúng bỏ đi. Bà con hàng xóm đã đến cứu cụ sống lại. Lính Mỹ dã man hành hạ mẹ tôi chỉ vì chúng ghép cho cụ cái tội là đã báo cho Việt cộng biết tin lính Mỹ đi lùng sục qua làng... Tội trạng của cụ, chúng nó mới nghi ngờ vậy thôi mà đã hành hạ cụ cho đến chết! Cái thuyết dã man của lính Mỹ là "thà giết nhầm người không có tội còn hơn là bỏ sót!".


Bà con trong làng đã tôn vinh cụ là Liệt sỹ thời chống Mỹ. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cấp bằng liệt sỹ cho cụ và đề nghị truy phong vinh danh là Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Chì, hy sinh ngày 18- 3-1968 tại làng Hy Văn, xã Hoài Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định.


Cha tôi là cụ Nguyễn Luật cũng độ tuổi như mẹ tôi. Ông cụ mắt bị mờ không còn thấy rõ, tai bị điếc không còn nghe được gì, vậy mà chúng cũng gán cho cái tội là Việt cộng. Bọn lính Mỹ bắt giam cụ ở nhà giam Quy Nhơn để tra tấn. Người con trai cả của hai cụ là Nguyễn Văn Tuần bị lính Mỹ giết hồi tháng 2 năm 1967 tại quê. Anh Nguyễn Văn Tuần được phong tặng là Liệt sỹ chống Mỹ. Người con trai út của hai cụ là Nguyễn Văn Nhơn thì bị tai nạn ở Cam Ranh do đi trốn địch truy bắt lính.


Quân đội Mỹ, quân đội các nước chư hầu của Mỹ đóng quân ở miền Nam Việt Nam lập ra rất nhiều nhà tù để giam cầm những người chúng gọi là Việt cộng (cộng sản). Bất cứ người già, người trẻ, trai hay gái mà chúng cho là cộng sản hoặc nuôi cộng sản thì hết thảy đều bị bắt giam và tra tấn băng các kiểu tàn bạo dã man nhất trên đời, làm cho họ chết dần chết mòn. Có ai may mắn còn sống sót thì cũng trở thành thân tàn ma dại, không còn làm được gì nữa. Trong tất cả các trại tù mà quân Mỹ lập ra, rùng rợn nhất là trại tù ở đảo Phú Quốc, còn có tên gọi là "Nhà lao cây dừa". Nhà lao ấy năm ở phần phía Nam đảo Phú Quốc. Đảo Phú Quốc là một hòn đảo giàu đẹp của Việt Nam đã trở thành nơi giết những người lính "Bắc Việt" ghê rợn nhất của quân sát nhân Mỹ. Anh em bộ đội quê ở ngoài Bắc tình nguyện vào miền Nam chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược Mỹ, nếu có ai không may sa vào tay giặc thì quân Mỹ tập trung họ hết thảy ra "nhà lao cây dừa" do quân Mỹ trực tiếp quản lý và tra tấn với những đòn tàn bạo nhất trên đời đối với con người. Bọn cai tù là người Mỹ, chúng đã giết hại hàng vạn anh em bộ đội của ta bằng nhiều hình thức dã man tàn bạo nhất, ghê rợn nhất mà không ở đâu có. Sau ngày hòa bình, nhà văn Chu Lai đã tìm gặp một số người tù còn may mắn sống sót kể lại tội ác của giặc Mỹ ở "nhà lao cây dừa". Ai chưa được đọc thì nên tìm đọc để mà ghi nhớ có một thời tội ác của giặc Mỹ là như vậy đối với những người mà Mỹ gọi là "Việt cộng Bắc Việt".


Theo tôi, nhà văn Chu Lai cố gắng lắm cũng chỉ mới ghi lại được một phần ngàn, phần vạn tội ác mà quân xâm lược Mỹ đã gây ra cho đồng bào, đồng đội của chúng ta ở miền Nam mà thôi. Còn hàng vạn tội ác dã man nữa kẻ thù đã gây ra cho những người tù mà Mỹ đã dìm chết dưới đáy biển Phú Quốc hoặc trong rừng già Phú Quốc hay ở ngay tại mảnh đất "nhà lao cây dừa" thì họ không còn kể lại được bằng tiếng nói, nhưng tâm linh của họ vẫn còn sống mãi ở đất nước này. Chúng ta, con cháu chúng ta muốn đời tri ân họ. Họ đã hy sinh oanh liệt trong cuộc chiến tranh vì sự thống nhất đất nước, vì cuộc sống hạnh phúc cho chúng ta hôm nay.


Tháng 9 đi qua, tháng 10 tới cũng là chấm dứt mùa bão lụt ở miền Bắc, có nghĩa là bớt đi một kẻ thù hung hãn, đó là lụt, là đê vỡ phá hoại mùa màng. Không lo nạn Mỹ thả bom phá hoại đê điều thì Mỹ lại tăng cường thả mìn, thả thủy lôi xuống các cảng ven biển ngày càng dày đặc hơn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #57 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:20:30 pm »

Hội nghị Paris có nguy cơ tan vỡ. Phía Mỹ lại kêu rên rằng "hòa bình cho Đông Dương đã ở trong tầm tay". Luận điệu lừa bịp quốc tế của Nich-xơn thật điêu luyện! Những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì thở phào nhẹ nhõm mừng cho Việt Nam sắp có hòa bình! Trong khi đó ở bàn Hội nghị Paris, phía Mỹ đòi sửa lại tất cả các điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận chuẩn bị ký kết vào cuối tháng 10-1972. Thật là một sự tráo trở, lừa dối mua chuộc cử tri Mỹ bỏ phiếu cho Nich-xơn trúng Tổng thống Mỹ và lừa dối nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Còn nhân dân Việt Nam thì thừa biết trò lừa bịp của Mỹ cho nên những ngày này càng nâng cao cảnh giác hơn lúc nào hết. Suốt thời gian này, tôi luôn trực ở Sở chỉ huy của Trung đoàn Không quân 927 tại sân bay Đa Phúc, theo dõi tình hình một cách toàn diện giữa hai phía. Mỹ đã điều thêm máy bay B-52 đến căn cứ Utapao, Thái Lan đồng thời điều thêm 2 tàu chở máy bay đến vịnh Bắc Bộ, tăng lên là 4 chiếc và tăng thêm một tàu chở trực thăng cấp cứu giặc lái. Rõ ràng Mỹ tăng cường lực lượng máy bay chiến thuật và máy bay chiến lược để mở những trận đánh lớn xuống miền Bắc nhằm hủy diệt tất cả tiềm lực kinh tế, quốc phòng ở miền Bắc bằng Không quân là chính chứ chưa có dấu hiệu chúng dùng bộ binh tấn công miền Bắc để bắt Việt Nam phải chấp nhận những điều Mỹ đã đặt sẵn trên bàn Hội nghị Paris hoàn toàn có lợi cho Mỹ, giống như buộc Việt Nam phải đầu hàng vô điều kiện. Nếu Việt Nam không chấp nhận thì chiến dịch "cứu bóng trước khung thành lần 2" (chiến dịch Linebacker-2) sẽ bắt đầu. Và thực sự, chiến dịch Mỹ dùng vũ khí thông thường để hủy diệt Hà Nội và Hải Phòng đã bắt đầu! Theo các nhà tham mưu chiến lược thông thái của "Lầu năm góc" làm tham mưu cho Nich- Xơn là hiện nay vũ khí thông thường của Mỹ đã được cải tiến mới, có hiệu lực và độ chính xác cao, chỉ cần dùng "siêu pháo đài bay" rải thảm từ 3 ngày đến 1 tuần lễ thì Hà Nội sẽ thành đống gạch vụn! Như vậy, chúng ta (Mỹ) đủ sức bắt Hà Nội phải quỳ gối ký Hiệp định theo ý của Mỹ mà thôi! Mặt khác, bọn uống máu người không tanh của "Lầu năm góc" còn thuyết trình cho Nich-xơn rằng hiện tại Nga Xô cũng có vũ khí nguyên tử ngang bằng với Mỹ, khác với khi mà Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật. Hồi ấy, trên thế giới chỉ có mỗi mình Mỹ có bom nguyên tử nên không lo gì đến an ninh của nước Mỹ, còn ngày nay, nếu Mỹ hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng giống như Hi-rô-si-ma, Na-ka-za-ki, nhưng bằng vũ khí thông thường thì sẽ không ngại gì sự phản ứng của Nga Xô và Trung Cộng. Vậy là Nich-xơn quyết định hủy diệt Hà Nội bằng vũ khí thông thường trước Lễ Giáng sinh 1972.


Nich-xơn đe dọa hỗn xược rằng: nếu Hà Nội không chấp nhận những nội dung mà phía Mỹ áp đặt phải kỹ tại Hội nghị Paris thì Hà Nội sẽ không còn để đón Giáng sinh. Như vậy là Mỹ sẽ đánh hủy diệt Hà Nội trước ngày 24-12-1972. Đó là lý do tại sao Mỹ lại chọn ngày 18-12 để bắt đầu trận đánh hủy diệt Hà Nội, đồng thời ngày ấy cũng trùng với ngày mà cố vấn của đoàn Việt Nam - ông Lê Đức Thọ từ Paris về tới Hà Nội. Mỹ quyết định đánh nát tất cả các sân bay miền Bắc trước 20 giờ ngày 18-12 để chiếc máy bay chuyên cơ BH-195 chở ông Lê Đức Thọ về Hà Nội không còn chỗ đáp thì chỉ còn cách bay sang sân bay Trung Quốc đậu nhờ. Nich-xơn và Kitsinggơ chơi thâm hiểm như vậy đối với một nhà chính trị lừng danh của Việt Nam tại Hội nghị Paris cả thế giới đều nể phục ông. Khi trở lại Paris để ký kết chính thức Hiệp định, các nhà báo hỏi ông Lê Đức Thọ: "Khi về Việt Nam, bị Mỹ dùng B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, ông nghĩ sao?" thì ông đã trả lời Mỹ đón tiếp ông ở Hà Nội rất "lịch sự". Mỹ định triệt đường về Hà Nội của ông Lê Đức Thọ, nhưng bị hụt... Sự việc ấy đã để lại tiếng xấu cho lịch sử ngoại giao Mỹ.


Ngày 17-12-1972, tôi lên Quân y viện 9 ở Vĩnh Yên (nơi sơ tán) để thăm đồng chí Lê Thanh Đạo, phi công MiG- 21 của Trung đoàn bị thương đang điều trị ở đó (do trận chiến đấu hồi tháng 11 giành chiếc máy bay thứ 4000 nhưng không thành công). Quân chủng chỉ cho tôi đi trong ngày vì ngày 18-12 có chuyên cơ cho nên phải có mặt ở Sở chỉ huy Trung đoàn.


Sáng ngày 18-12, tôi nhận ca trực thường trực ở Sở chỉ huy Trung đoàn. Trên thông báo khoảng 18 giờ sẽ có chuyên cơ đưa đồng chí Lê Đức Thọ từ Paris về Hà Nội. Trung đoàn sẵn sàng 2 chiếc MiG-21 trực để bảo vệ chuyên cơ. Cho đến 16 giờ, tình hình bầu trời vẫn im ắng, địch không đánh vào đâu cả. Anh em sỹ quan trực ngồi ở bàn tiêu đồ vẫn rất nghiêm túc theo dõi địch, bàn tán với nhau: "Chắc Mỹ sợ nhà chính trị lừng danh của Việt Nam bay về cho nên không dám xâm phạm. Máy bay chuyên cơ đã về sớm hơn trước giờ dự báo 1 giờ. Lúc 16 giờ 45 phút ngày 18-12, máy bay chuyên cơ đã hạ cánh an toàn. Dự báo 20 giờ sẽ gửi máy bay chuyên cơ sang sân bay Nam Ninh của bạn đậu nhờ. Nhưng chưa kịp cất cánh bay đi thì F-111 đã vào ném bom phá hỏng chiếc máy bay IL-18 BH-195 đậu ở sân bay Gia Lâm. Đó là chiếc máy bay chuyên cơ IL-18 mang kỹ hiệu và số BH-195 có nghĩa là "Bác Hồ -19-5 của Liên Xô tặng Bác".


Tôi đang tranh thủ phút thư giãn sau khi chuyên cơ hạ canh an toàn, trao đổi với đồng chí Trần Ưng, Chính ủy Trung đòan về công tác động viên bộ đội đi cơ động trực chiến ở sân bay Cẩm Thủy thì điện thoại từ Sở chỉ huy Quân chủng gọi xuống trực tiếp cho tôi phải gặp ngay Tư lệnh Quân chủng. Tư lệnh hỏi: "Đồng chí Nhị nghe có rõ không?". Tôi trả lời: "Dạ, rõ lắm!". "Có tin tối nay Mỹ dùng B-52 đánh Hà Nội và sân bay Đa Phúc. Thế nên, ngoài lực lượng trực chiến, còn lại triệt để sơ tán ngay. Đồng chí rõ chưa?". "Dạ, rõ rồi ạ!". Mệnh lệnh của Tư lệnh ngắn gọn chỉ có thế. Chúng tôi chuẩn bị đánh B-52 vào Hà Nội đã từ lâu và nhất là mấy tuần lễ gần đây chuẩn bị rất ráo riết, nhưng khi nghe nói đêm nay B-52 đánh vào Hà Nội, tôi cũng bị những giây phút hẫng hụt, bàng hoàng. Ở đây không phải tôi sợ B-52 mà tôi nghĩ đến sự tàn phá dã man ghê gớm của giặc Mỹ đối với đồng bào Thủ đô. Ở đây không phải là căn cứ quân sự mà là tổ ấm của trẻ con, của các cụ già, bệnh viện, trường học, là di tích, công trình văn hóa lâu đời của dân tộc, của Thủ đô ngàn năm văn hiến, là trái tim của Tổ quốc. Kiểu đánh của B-52 là rải bom kiểu trải chiếu trên một diện rộng chứ đâu phải kiểu bổ nhào vào một điểm như F-105, F-4...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #58 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:22:04 pm »

Tôi gọi điện thoại lên Sở chỉ huy phía trước của Trung đoàn đóng ở Mộc Châu, gặp đồng chí Nguyễn Nhật Chiêu - Trung đoàn phó bay được phân công trực chỉ huy vòng ngoài tại Trạm ra-đa Mộc Châu. Đồng chí báo cáo là đã có nhiễu của B-52 bay qua Đà Nẵng và đang bay dọc theo sông Mê Công lên phía Bắc. Đồng chí Nguyễn Đăng Kính - Trung đoàn phó bay được phân công trực ở Sở chỉ huy Đại đội ra-đa C-43 đóng ở chợ Núi, Yên Phong cũng báo cáo đã có dấu hiệu B-52 bay ra miền Bắc. Tôi lại gọi điện xuống đơn vị công binh - sân đường gặp đồng chí Nguyễn Văn Nhiên, Trung đoàn phó mặt đất đang kiểm tra xe máy sẵn sàng cấp cứu khi bị sập hầm, kể cả cho nhân dân xung quanh sân bay, nhưng đặc biệt là công tác sửa chữa gấp sân bay.


18 giờ 30 phút, các đài trạm ra-đa báo cáo nhiễu trắng màn hình, không còn nhìn thấy gì. Cũng đúng 18 giờ 30 phút, máy bay cường kích F-111 bay ở độ cao cực thấp vào đánh khu trực ở đầu Tây sân bay Đa Phúc nhưng không trúng máy bay và đường băng.


19 giờ 30 phút ngày 18-12, Quân chủng lệnh cho Trung đoàn cho 2 chiếc MiG-21 trực đêm cất cánh bay ra ngoài vùng hỏa lực tên lửa để chặn đánh B-52. Nhưng các màn hình IKO của các đài trạm ra-đa đều bị nhiễu trắng không thể dẫn máy bay tiếp cận địch được. Tốp đầu tiên B-52 đã bay đến sân bay Đa Phúc, cắt một loạt bom rải thảm cắt đôi đường băng về phía Đông. Cả sân bay đỏ rực như một biển lửa, nguồn điện bị mất...


Vào lúc 20 giờ 13 phút, chiếc B-52G mang 30 tấn bom bay vào rải thảm xuống Hà Nội đã bị Tiểu đoàn tên lửa Phòng không số 59 Trung đoàn tên lửa Phòng không 261 bắn, hạ gục xuống cánh đồng Chuôn, Phủ Lỗ, Đông Anh, Hà Nội nay là huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đó là quê hương của truyền thuyết Thánh Gióng sau khi đánh tan giặc Ân đưa quê hương trở lại bình yên, Thánh Gióng đã cưỡi ngựa sắt bay về trời. Cũng mảnh đất đó, thời nay là nơi đầu tiên phơi xác "thần tượng" Hoa Kỳ mang bom vào định hủy diệt Hà Nội, nhưng Hà Nội không bị hủy diệt mà ngược lại là nơi đầu tiên chôn vùi uy danh nước Mỹ.


Hai chiếc MiG-21 bay đã đến lúc cạn hết dầu phải về hạ cánh chỉ còn có một nửa đường băng và nhờ vào ánh sáng cháy của B-52 trên bầu trời Phủ Lỗ soi sáng đường băng. Hai chiếc MiG-21 do Trần Cung và Phạm Tuân điều khiển đã hạ cánh, phi công thì an toàn còn máy bay thì hỏng do bị gãy càng.


Đêm đầu tiên B-52 đánh vào Hà Nội, Không quân ta chưa có dịp nổ súng. Từ phi công đến chỉ huy đều tức tối, bức xúc. Công sức chuẩn bị nhiều mà nhiệm vụ chưa hoàn thành. Phi công, chỉ huy, dẫn đường, ra-đa dẫn đường phải hiệp đồng chặt chẽ tìm cách dẫn máy bay ta áp sát bằng được B-52, phải bắn hạ gục nó để trả thù cho Hà Nội, cho đồng bào cả nước!


Cả đêm ngày 18-12-1972, khu vực sân bay Đa Phúc tưởng như đêm hoa đăng, trên bầu trời đầy ắp ánh chớp của đạn cao xạ và tên lửa "Sam" nổ, dưới mặt đất thì ánh chớp lửa của bom B-52 và tiếng động cơ gầm rợn người, nhưng mọi người đều phớt lờ hết, ra ngoài hầm trú ẩn, lớp thì đi đào bới đất để cứu dân, cứu thương binh, liệt sĩ bị bom B-52 vùi lấp, lớp thì đi lùng bắt giặc lái B-52, lớp thì đi nhặt xác B-52 thu thập tài liệu xem loại B-52 gì (B-52G hay B-52H)...


Đêm ngày 18-12-1972 trở thành mốc son lịch sử của dân tộc ta trong trang sử chống đế quốc Mỹ xâm lược. Ta đã hạ gục 1 trong 3 thần tượng của Mỹ răn đe thế giới, đó là "tên lửa hạt nhân, tàu ngầm nguyên tử và máy bay chiến lược B-52".

4 giờ 39 phút ngày 19-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa Phòng không số 77 thuộc Trung đoàn 257 tên lửa Phòng không đã hạ gục tại chỗ 1 B-52 ở Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Nội.

Sáng sớm tinh mơ ngày 19-12, Sở chỉ huy Trung đoàn đã nhộn nhịp tiếp các mẹ, các chị, những người vợ bộ đội và các em thiếu nhi đến thăm, mang theo đường sữa, trứng gà cho thương binh. Các mẹ nói: "Đêm qua lửa đạn bom nổ ở sân bay, các mẹ chưa từng thấy bao giờ, sáng sớm nay không nghe thấy tiếng nổ thử máy của máy bay mình như lâu nay. Các mẹ tưởng các con chết hết rồi, nhưng... thôi, các con còn sống vậy là các mẹ mừng lắm rồi!". Cô Dậu (vợ tôi) ở trên núi cao Tam Đảo cũng cấp tốc đạp xe đạp xuống sân bay xem chồng mình (tôi) có bị sao không. Cô Dậu nói: "Đêm qua em thức trắng, ngồi trên đỉnh núi nhìn xuống sân bay nhìn thấy bom nổ, lửa cháy khắp sân bay không còn sót một chỗ nào, em cứ lo cho anh... Thôi, còn được gặp anh đây là em yên tâm rồi. Vậy em phải về kẻo con nó khóc nhớ mẹ, tội nghiệp lắm!"...


20 giờ 10 phút ngày 20-12, Tiểu đoàn tên lửa số 93, Trung đoàn 261 đã bắn rơi 1 B-52 tại Yên Thường, Yên Viên, Hà Nội

20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 77, Trung đoàn 257 đã bắn rơi 1 B-52 tại Vạn Thắng, Ba Vì, Hà Nội.

5 giờ 9 phút ngày 21-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 77, Trung đoàn 257 đã bắn rơi 1 B-52 tại Phúc Yên, Vĩnh Phúc.

5 giờ 11 phút ngày 21-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 57, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại chợ Thá, Núi Đôi, Đa Phúc, Vĩnh Phúc.

5 giờ 14 phút ngày 21-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 79, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Phả Lại, Chí Linh, Hải Dương.

3 giờ 40 phút ngày 22-12-1972, kỷ niệm 28 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Tiểu đoàn tên lửa số 93, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình.

3 giờ 41 phút ngày 22-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 57, trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Chợ Bến, Mỹ Đức, Hà lây (nay là Hà Nội).

3 giờ 42 phút ngày 23-12-1972, Tiểu đoàn tên lửa số 78, trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Thanh Miện, Hải Dương.

Đêm ngày 24-12-1972, Lễ Giáng sinh, Nich-xơn dắt tay phu nhân đi nhà thờ cầu Chúa và ra lệnh cho Không quân chiến lược ngừng ném bom Hà Nội để nghỉ lễ Nô-en. Nich-xơn mang theo một chuỗi những hồn ma thần tượng của 10 B-52 bị tên lửa Phòng không Việt Nam hạ gục tại chỗ. Xác phơi trắng ở các cánh đồng quanh Hà Nội còn hồn thì bay về Mỹ. Hà Nội vẫn đón Nô-en tưng bừng. Hà Nội chưa bị hủy diệt... Nich-xơn cùng phu nhân đứng dự Lễ Chúa Giáng sinh mà lòng tức uất đến tận cổ, lẩm bẩm cầu khẩn Chúa ban phước lành cho những trận đánh tới không có chiếc B-52 nào rơi tại chỗ nữa. Cầu Chúa che chở cho các thần tượng được an toàn hoặc nếu có vướng đạn tên lửa hay đạn của MiG thì cũng cố bay về đất Thái Lan hay ra biển mới nhảy dù, ở đó sẽ có trực thăng cấp cứu.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #59 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 07:55:41 pm »

Đêm ngày 26-12-1972, Nich-xơn chỉ thị cho tướng Mỹ chỉ huy Chiến dịch Linebacker-2 còn bao nhiêu máy bay B-52 phải dốc hết lực đánh Hà Nội một trận hủy diệt để các nhà lãnh đạo Việt Nam nhớ đời và phải chấp nhận điều kiện của Mỹ đưa ra tại Hội nghị Paris. Song tướng Mỹ cũng chỉ huy động được tối đa số phi công của 105 chiếc B-52 chịu đi đánh, số còn lại hơn 20 tổ bay đều cáo ốm không bay được, thực chất là mất tinh thần. Chúng từng nói với nhau là "mở cửa buồng lái B-52, bước vào máy bay như bước vào nhà mồ khi bay vào Hà Nội. Thật khủng khiếp!".


Trận đánh đêm ngày 26-12-1972 đó là trận đánh lớn nhất từ trước tới giờ với 3.150 tấn bom phá trút xuống thành phố Hà Nội trong một đêm.

Mở màn cho trận thua mang tầm lịch sử của Không quân chiến lược Mỹ đêm ngày 26-12-1972 đó là:

- 22 giờ 29 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 78, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Định Công, Hà Nội.

- 22 giờ 30 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 76, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Tương Mai, Hà Nội.

- 22 giờ 33 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 93, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Đèo Kế, Thái Nguyên.

- 22 giờ 47 phút, Tiểu đoàn tên lửa số 79, Trung đoàn 257 đã hạ gục 1 B-52 tại Sơn La.

Như vậy là cái đêm mà Nich-xơn cầu Chúa ban phước lành cho B-52 để không có chiếc nào rơi tại chỗ thì ngược lại chúng bị rơi tại chỗ càng nhiều, bởi Chúa cứu dân lành chứ đâu cứu bọn giết người.

Ngày 27-12-1972, vào lúc 23 giờ, Tiểu đoàn tên lửa số 94, Trung đoàn 261 đã hạ gục 1 B-52 tại Quế Võ, Bắc Ninh và cũng lúc 23 giờ, Tiểu đoàn tên lửa số 72 của Trung đoàn 285 đã hạ gục 1 chiếc B-52 tại hồ Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Hà Nội.

Đợt 1 (từ 18 đến 23-12-1972), tên lửa Phòng không đã bắn rơi tại chỗ 10 chiếc B-52. Không quân vẫn chưa bắn được chiếc nào. Sang đợt 2, trên chủ trương đưa MiG-21 ra các sân bay vòng ngoài để tạo điều kiện tiếp cận đánh B-52. Phi công Phạm Tuân cơ động lên sân bay Yên Bái tối ngày 27-12 và đã xuất kích gặp địch, bắn hạ 1 B-52. Phi công Vũ Xuân Thiều cơ động vào sân bay dã chiến cẩm Thủy, Thanh Hóa và tối ngày 28-12 đã xuất kích gặp B-52, anh đã bắn hạ gục 1 B-52. Vũ Xuân Thiều đã trở thành Anh hùng bất tử của Không quân nhân dân Việt Nam.


Trận đêm ngày 26-12-1972, Mỹ thua quá đau, không còn phương kế gì để gượng nổi nữa, phải chấp nhận trở lại Hội nghị Paris vô điều kiện, có nghĩa là không đòi Việt Nam nhượng bộ một điều khoản nào theo văn bản đã thỏa thuận hồi tháng 10-1972. Mỹ cam kết rút hết quân và bọn chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, phá hủy hết tất cả thủy lôi và mìn đã rải trên các cảng biển Việt Nam, bảo đảm cho tàu biển ra vào Việt Nam không gặp trở ngại gì...


Khắp thế giới hân hoan chào mừng thắng lợi của Việt Nam như thắng lợi của chính mình vậy!

Suốt 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, tôi có vinh dự thường trực tại Sở chỉ huy Trung đoàn Không quân 927, nơi cập nhật chứng kiến mọi diễn biến, mọi chi tiết của 12 ngày đêm lịch sử chiến đấu của bộ đội Phòng không Không quân nhân dân Việt Nam, trong đó có Trung đoàn Không quân 927 thân yêu của tôi (khi ấy tôi là Trung đoàn trưởng).


Cái tên "Chiến dịch không kích Linebacker-2" thất bại kéo theo sự chôn vùi uy danh của máy bay chiến lược Mỹ trên miền Bắc Việt Nam. Tổng số có 34 B-52 bị bắn rơi, trong đó có đến 16 chiếc rơi tại chỗ, phơi xác trên các cánh đồng của đồng bằng Bắc Bộ. Có những chiếc còn phơi xác trên đường phố, hồ ao ở ngay trong lòng Hà Nội. Thật hy hữu, từ cổ tới kim chưa có cuộc chiến tranh nào mà nhân dân, quân đội nhân dân Việt Nam làm rạng danh cho non sông, đất nước, tổ tiên dân tộc ta lên đỉnh cao khắp thế giới như thế, buộc tên đế quốc xâm lược hung hăng nhất thế giới phải chịu thua, chấp nhận ký Hiệp định rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc vô điều kiện! Hiệp định được các bên ký chính thức ngày 17-1-1973 tại Paris.


Hôm nay, con cháu của Bác Hồ rất vui mừng kính thưa với Bác: chúng con đã thực hiện trọn vẹn lời Bác dặn trước lúc đi xa: "Đánh cho Mỹ cút!...".

Chúng tôi vô cùng mừng vui và vô cùng nhớ Bác! Nước mắt tôi lại chảy tràn trên má!...

Đến đây, những trận chiến đấu nhớ đời trên bầu trời miền Bắc yêu thương được khép lại, nhưng bầu trời miền Nam ruột thịt chưa bình yên. Tôi sẽ còn đi tiếp chặng đường còn lại theo lời Bác Hồ dặn trước lúc Người đi xa: "đánh cho ngụy nhào!...".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM