Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:03:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM  (Đọc 6131 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:58:28 pm »

Chương 2
HẬU CẦN QUÂN SỰ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG CAMPUCHIA,
GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC CHIẾN LƯỢC
"VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1969- 1971)


1. Tiếp tục củng cố, xây dựng và phát triển tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn trên chiến trường Campuchia

Sau khi nhậm chức Tổng thống Mỹ, Ních-Xơn cho ra đời "Học thuyết Ních-xơn" và thực hiện thí điểm chiến lược đó ở miền Nam Việt Nam với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" nhằm đẩy mạnh thực hiện bình định, kết hợp xây dựng quân ngụy hiện đại đủ khả năng làm chủ chiến trường để rút quân Mỹ khỏi miền Nam. Trong các biện pháp quân sự, Mỹ - ngụy đặc biệt nhấn mạnh đến việc ngăn chặn, đánh phá đường vận tải chiến lược Bắc - Nam và các căn cứ hậu cần của ta ở khu vực biên giới Campuchia - Việt Nam. Mặt khác, đế quốc Mỹ tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược Campuchia và Lào nhằm hỗ trợ cho cuộc chiến tranh Việt Nam; tiến hành các hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập cuộc đấu tranh của nhân dân ta, chặn đứng các nguồn viện trợ từ bên ngoài vào Việt Nam.


Đối với tuyến vận tải chi viện Bắc - Nam, địch tiến hành đánh phá dữ dội. Ở cực Nam Đường số 128 đến chiến trường Đông Nam Bộ và Campuchia, địch đổ quân xuống Phi Hà Sê Sụ, Lăm Phu, dốc 200, liên tục dùng máy bay B-52 cùng các loại máy bay khác ném bom suốt ngày đêm. Trên đoạn đường sông từ Sê-ca-mán (Đông Hạ Lào) đến Xiêm Pạng (Đông Bắc Campuchia), địch thường xuyên cho máy bay ném bom phá, bom từ trường, bắn đạn rốc-két, đạn 20mm vào các đoàn thuyền chở hàng nhằm ngăn chặn việc vận chuyển vật chất hậu cần, vũ khí trang bị vào chiến trường Nam Đông Dương.


Lợi dụng những tổn thất của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, với lực lượng được tăng cường, địch đã đẩy được phần lớn các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam lùi ra vùng rừng núi giáp biên giới Campuchia - Việt Nam. Khó khăn lớn nhất của chiến trường Nam Bộ lúc này là hầu hết tuyến hành lang từ biên giới vào nội địa đều bị địch đánh phá, phong tỏa. Các cửa khẩu ta mở để thu mua lương thực thực phẩm ở dọc Đường số 13 Đường số 20 và Phước Thái - Bà Rịa đều bị địch ngăn chặn. Bị địch phong tỏa chặn cắt các tuyến vận tải lương thực nên khẩu phần ăn của bộ đội từ tháng 8 năm 1969 giảm mạnh, riêng lực lượng phía sau tiêu chuẩn gạo mỗi người 1 tháng từ 27kg giảm xuống còn 20kg.


Không những tiến hành đánh phá các hành lang nội địa trên địa bàn Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, địch còn huy động lực lượng bộ binh, không quân đánh phá dữ dội vùng biên giới Campuchia - Việt Nam, đặc biệt là khu vực Móc Câu và Mỏ Vẹt bên kia biên giới Campuchia (địch gọi là Căn cứ 352), nơi chúng xác định là chỗ đứng chân của Trung ương Cục. Đế quốc Mỹ cho rằng tiến hành một cuộc chiến tranh bằng không quân và bộ binh vùng biên giới Campuchia - Việt Nam sẽ cắt đứt các đường tiếp tế của đối phương, phá hủy căn cứ của ta, làm tê liệt khả năng tiến công quy mô lớn vào Sài Gòn và làm gián đoạn các hoạt động của ta trên khắp miền Nam. Để nâng cao hiệu quả đánh phá, ngăn chặn, địch huy động thêm nhiều máy bay B-52 từ các căn cứ không quân của đế quốc Mỹ tại đảo Guam, Thái Lan thực hiện các phi vụ ném bom rải thảm khu vực "Đất thánh Việt cộng" ở Campuchia. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, đã có hơn 3.600 phi vụ B-52 bí mật đánh phá khu vực biên giới Campuchia - Việt Nam trong thời gian này.


Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền vẫn tăng cường chỉ đạo các đoàn hậu cần, các tuyến hành lang vận tải, nâng cao quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo vật chất hậu cần, vũ khí trang bị phục vụ các đơn vị phía trước chiến đấu. Tuyến đường vận tải chiến lược từ hậu phương miền Bắc theo các đường số 20,18 và 12 qua đất Lào xuống vùng biên giới ba nước Đông Dương để chi viện lương thực, vũ khí, vật chất cho chiến trường Nam Tây Nguyên, Nam Bộ bị máy bay Mỹ, quân ngụy Lào đánh phá, chặn cắt ác liệt.


Đầu năm 1969, Sư đoàn Bộ binh 1 và các trung đoàn 33, 174,10 và 20 là lực lượng chủ lực của Tây Nguyên và Khu 5 được điều vào miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho chiến trường này ngày càng cao nên Đoàn 559 đã chỉ đạo các binh trạm phía Nam lợi dụng sơ hở khi địch đang bám đánh các binh trạm phía Bắc, nhanh chóng tổ chức vận chuyển hàng tồn kho và trên 2.000 tấn hàng do bộ phận đồng chí Nguyễn Đức Phương thu mua được ở vùng Nam A-tô-pơ của Lào và Bắc Stung Treng của Campuchia, đảm bảo nhu cầu tối thiểu và cấp thiết cho bộ đội.


Suốt trục hành lang khu vực phụ trách, Binh trạm 37 triển khai Trung đoàn Công binh 98 làm nhiệm vụ xây dựng và sửa chữa đường. Với nhiệm vụ phòng không, ta bố trí Tiểu đoàn Cao xạ 30 ở đốc 200, Đường C4. Phương án bố trí là hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung, có tầng cao, tầng thấp, kết hợp chốt với cơ động bảo vệ đội hỉnh xe và đón lõng tiêu diệt máy bay địch bay thấp. Đồng thời, toàn tuyến phải xác định quyết tâm thực hiện nhiệm vụ được giao, cùng các tuyến thực hành vận chuyển thắng lợi, tranh thủ nguồn hàng tại chỗ ở phía Nam hướng Đường C4 trên đất Campuchia.


Phía Nam trục Đường số 128 thuộc Binh trạm 37, địch bố trí quân ở Phi Hà, Sê Sụ, khống chế, ngăn chặn vận chuyển của ta. Các đơn vị của Binh trạm là Tiểu đoàn Bộ binh 2 cùng một số đơn vị đã bao vây, tập kích ghìm chân địch, bảo đảm cho Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58 chở hàng ra phía trước. Cũng trên trục đường này, tại trọng điểm Lăm Phu, dốc 200 trên đất Campuchia, máy bay B-52 đánh phá liên tục ngăn chặn vận chuyển cho Nam Bộ. Tuyến đường sông từ Sê-ca-mán (Đông Hạ Lào) đến Xiêm Pạng (Đông Bắc Campuchia), các đoàn thuyền máy của hai đại đội 65 và 66 của ta bị máy bay địch thả pháo sáng, ném bom, bắn đạn rốc-két, đạn pháo 20mm dọc theo khu vực sông để chặn việc vận chuyển vũ khí vào Nam Bộ, nhưng địch bị bộ đội ta đánh trả quyết liệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:59:28 pm »

Cuối tháng 4 năm 1969, khi mùa mưa đã đến, địch tăng cường dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm, nhưng không ngăn chặn được đường vận chuyển của ta vì ta đã xây dựng nhiều đường vòng, đường tránh. Bộ đội Trường Sơn lợi dụng mây mù che khuất tầm nhìn của địch, tranh thủ lấn sáng lấn chiều, liên tục mở các đợt vận tải đột kích vào các hướng chiến trường. Đầu tháng 8 năm 1969, các trọng điểm thường tắc từ 2 - 3 ngày. Cán bộ, chiến sĩ hai tiểu đoàn công binh 1 và 2 (Binh trạm 37) ngày đêm vật lộn với bom đạn, mưa lũ, không ngại hy sinh gian khổ, thường xuyên có mặt trên mặt đường, khắc phục phá hoại, chống lầy, mờ thêm đường vòng, đường tránh, hộ tống xe qua trọng điểm. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Cao xạ 32 (Binh trạm 37) vượt qua nhiều khó khăn trong cơ động, anh dũng bám trụ trọng điểm, đánh nhiều trận, bắn cháy máy bay, có chiếc rơi tại chỗ. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58 được các lực lượng khác cùng phối hợp hoạt động đối phó với địch, hồ trợ ô tô qua đoạn đường lầy, qua dốc, gùi thồ, chuyển tải, lúc vận chuyển đường sông bảo đảm cho miền Đông Nam Bộ hàng chục tấn vũ khí.


Ngày 17 tháng 9 năm 1969, Bộ Tư lệnh 559 thông qua phương án sắp xếp lại lực lượng, bố trí đội hình trên toàn tuyến. Đội hình tuyến hoạt động trên đất Campuchia được bố trí như sau:

Binh trạm 37 do đồng chí Nguyễn Tuấn làm Binh trạm trưởng, đồng chí Vũ Quang Bình làm Chính ủy, phụ trách tuyến Đường số 128 từ Nam Sê-ca-mán đến S9 (Nam Phi Hà) và Đường số 49 từ Phi Hà đến Tà Ngâu. Sở Chỉ huy ở Nam Xê Sụ. Lực lượng gồm: hai tiểu đoàn công binh 1 và 2 Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58, Tiểu đoàn Cao xạ 30, Tiểu đoàn Bộ binh 2, Tiểu đoàn giao liên 16 và các phân đội (kho, dân vận, thông tin, thu mua, đội điều trị, đội phẫu thuật).


Binh trạm 50 do đồng chí Nguyễn Giang làm Binh trạm trưởng, đồng chí Nguyễn Đức Đệ làm Chính ủy, phụ trách tuyến đường số 49 kéo dài từ Tà Ngâu đi Xiêm Pạng và đường sông Sê Kông, cự ly trên 100km. Sở Chỉ huy ở Tà Ngâu. Lực lượng gồm: Tiểu đoàn Công binh 95, Tiểu đoàn Cao xạ 48, Tiểu đoàn Giao liên 19; Đại đội Ô tô, Đại đội Tàu thuyền và bốn phân đội khác (kho, thông tin, đội điều trị, đội phẫu thuật).


Binh trạm 51 do đồng chí Trần Thiện Can làm Binh trạm trưởng, đồng chí Đặng Văn Phiếm làm Chính ủy, phụ trách tuyến đường số 49 từ Xiêm Pạng đến Stung Treng. Cự ly trên 100km và đường sông Sê Kông, Mê Kông đi Stung Treng. Sở Chỉ huy ở Xiêm Pạng. Lực lượng gồm: Tiểu đoàn Công binh 91, Tiểu đoàn Cao xạ 46, Tiểu đoàn Giao liên, Đại đội Ô tô, Đại đội Tàu thuyền và năm phân đội khác (kho, thông tin, đội điều trị, đội phẫu thuật).


Cuối tháng 11 năm 1969, thế trận cầu đường được cải thiện quan trọng trên đất Campuchia. Mỗi trọng điểm đều có từ hai đến bốn đường vòng, tránh. Các trọng điểm vượt sông đều tổ chức điểm vượt chính, vượt dự bị, vượt nghi binh có khả năng loại trừ thủ đoạn đánh phá của địch. Bãi đỗ xe, khu kho, trạm xưởng, đội phẫu thuật và đội điều trị, sở chỉ huy cơ bản, sở chỉ huy tiền phương, trạm chỉ huy giao thông, điểm kích kéo cứu xe đều được các binh trạm xây dựng để nâng cao sức tiến công trong vận chuyển và xử lý các tình huống nhanh và kịp thời. Ngoài ra, lực lượng công binh còn xây dựng các hầm trú ẩn và hào giao thông để đảm bảo an toàn cho lái xe.


Quán triệt tư tưởng tiến công tiêu diệt địch bảo đảm đội hình xe vượt trọng điểm bằng sức mạnh, Bộ Tư lệnh 559 bố trí các cụm pháo trên các trọng điểm hiểm yếu. Trên Đường số 49 thuộc địa bàn Binh trạm 37 có Tiểu đoàn Cao xạ 30 bố trí tại trọng điểm dốc 200; tại địa bàn Binh trạm 50 có Tiểu đoàn Cao xạ 48 bố trí tại trọng điểm Xiêm Pạng và một số trọng điểm khác trên sông Sê Kông. Trên Đường số 49B (kéo dài) thuộc địa bàn Binh trạm 51 có Tiểu đoàn Cao xạ 46 bố trí tại Nam Xiêm Pạng và Bắc Stung Treng. Thế trận tác chiến phòng không được xây dựng theo tư tưởng chốt kiên cường ở trọng điểm kết hợp cơ động linh hoạt. Đánh tập trung kết hợp đánh rộng rãi của mọi lực lượng trên toàn tuyến, tạo thành lưới lửa liên hoàn hạ được máy bay, bảo vệ được đội hình vận chuyển. Các lực lượng cơ động phục kích cần lợi dụng địa hình, chiếm lĩnh điểm cao, nghiên cứu đường bay, đánh trúng đối tượng chủ yếu là máy bay trinh sát, máy bay bay thấp rải bom mìn hỗn hợp và săn đuổi đội hình xe.


Trước cục diện mới của chiến trường có những thuận lợi nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, từ năm 1970, Bộ Chính tri Trung ương Đảng đã họp và quyết nghị: Phải xây dựng tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn vươn sâu, vươn xa đến chiến trường cực Nam Trung Bộ, chiến trường Đông Nam Bộ và chiến trường vùng Đông Bắc Campuchia. Do đó, phải có những lực lượng thực hiện nhiệm vụ mở đường, đảm bảo vận hành và quản lý con người, quản lý vật chất trên cung đường từ vùng biên giới ba nước đến chiến trường Đông Nam Bộ. Tháng 4 năm 1970, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Sư đoàn khu vực 470 (Bộ Tư lệnh 470) thuộc Bộ Tư lệnh 559, với nhiệm vụ: Mở đường vận tải chiến lược, tổ chức kho, trạm tại vùng biên giới ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam; tiếp nhận người, hàng hóa, vũ khí từ miền Bắc vận chuyển vào cung cấp cho chiến trường Nam Tây Nguyên, Đông Bắc Campuchia và chiến trường Nam Bộ; đồng thời, tiếp nhận lương thực thực phẩm, hàng hóa thu mua từ Campuchia, cung cấp cho chiến trường Nam Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ; giúp hai nước Campuchia và Lào xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng chính quyền cơ sở tại địa bàn hoạt động. Phạm vi hoạt động của Sư đoàn từ khu vực ngã ba biên giới Campuchia - Lào - Việt Nam trở vào Plây Khốc và Đường số 49 từ Phi Hà đến Tà Ngâu; đường sông Sê Kông, Sê San, Mê Kông từ Sê-ca-mán đến Kra-chê trên đất Campuchia. Sư đoàn được giao trách nhiệm như Tiền phương Bộ Tư lệnh 559, trực tiếp quan hệ với chiến trường ba nước và bảo đảm kịp thời các yếu cầu chi viện của các chiến trường, đồng thời xử lý các tình huống cấp thiết.


Lực lượng của Sư đoàn khu vực 470 khi mới thành lập gồm có ba binh trạm 37, 50 và 51, Trung đoàn Công binh 4 và các tiểu đoàn phòng không, công binh, bộ binh. Bộ Tư lệnh Sư đoàn có các đồng chí: Lê Đình Sum - Tư lệnh, Bùi Đức Tạm - Chính ủy. Sau thành lập, Sư đoàn mới có lực lượng của Binh trạm 37 và bộ phận thu mua khai thác hàng ở Campuchia, Hạ Lào do đồng chí Nguyễn Đức Phương phụ trách, còn hai binh trạm (50, 51) vừa mới thành lập chưa đi vào hoạt động và Trung đoàn Công binh 4 đang hành quân từ La Hạp vào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 07:47:39 pm »

Bị thất bại trên chiến trường Gampuchia, ngày 30 tháng 6 năm 1970, Tổng thống Ních-Xơn buộc phải tuyên bố rút quân khỏi Campuchia. Vùng cao nguyên rộng lớn bằng phẳng ở khu vực biên giới ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam được giải phóng. Vùng Hạ Lào gồm các tỉnh Sa-ra-van, A-tô-pơ và một phần hai cao nguyên Bô-lô-ven nối tiếp với bốn tỉnh Đông Bắc Campuchia, gồm: Rát-ta-na-ki-ri, Stung Treng, Kra-chê, Môn-đôn-ki-ri theo Đường số 13 xuyên Đông Dương, dọc theo bờ sông Mê Kông kéo dài về Nam Bộ. Một căn cứ hậu cần chiến lược mới hình thành, có các trục đường cơ giới thủy, bộ ngang dọc tạo thế đứng và phát triển vững chắc cho tuyến 559.


Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tư lệnh 559 tập trung lực lượng vận chuyển mọi nhu cầu vật chất giao cho hai chiến trường Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; đồng thời, đưa 30.800 quân vào bổ sung cho chiến trường Nam Bộ, đưa 4.000 thương binh từ Nam Bộ ra hậu phương, tạo điều kiện cho chiến trường Nam Bộ phát triển thế chủ động tiến công. Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần chỉ đạo bảo đảm kịp thời cho Đoàn 559 phương tiện kỹ thuật, vật tư, xe, pháo, bảo đảm các ngầm, cầu, dốc, mặt đường trên đất Campuchia được cải thiện để nâng cao sức đột kích, nhanh chóng dứt điểm kế hoạch trên các hướng chiến trường.


Đầu năm 1970, toàn tuyến 559 đồng loạt xuất kích trên nhiều hướng vào các chiến trường. Phát hiện tuyến đường số 49 đi Xiêm Pạng ở Đông Bắc Campuchia đã khô ráo thuận lợi cho vận chuyển cơ giới, địch tăng cường trinh sát tìm những đoạn đường độc đạo để đánh phá. Sau 1 tháng chiến đấu quyết liệt ta mới phá được sự ngăn chặn của địch. Tiếp đó, các binh trạm phía Nam tổ chức đột kích mạnh vào các chiến trường Nam Bộ. Để đảm bảo, Bộ Tư lệnh 559 tăng cường lực lượng xây dựng đường dây thông tin tải ba tới ngã ba biên giới ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam; bảo đảm xăng dầu cho các lực lượng trên tuyến đường số 128B, phát triển đường giao liên tới Bù Gia Mập, cơ giới hóa vận chuyển đường sông từ A-tô-pơ (Hạ Lào) xuống Kra-chê (Đông Bắc Campuchia). Các binh trạm phía Nam tuy có nỗ lực rất cao, nhưng vì lực lượng ít nên khả năng dứt điểm mùa khô không cao. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh 559 lệnh cơ động toàn bộ lực lượng ô tô vận tải của Binh trạm 12 từ địa đầu tuyến chiến lược vào tăng viện cho Binh trạm 34. Đồng chí Binh trạm trưởng trực tiếp chỉ huy hai tiểu đoàn xe 101 và 770, vượt qua ba binh trạm trên chặng đường dài 350km vào Bạc vận chuyển hàng xuống Chà Vằn và tạo điều kiện cho hai binh trạm 50 và 51 dứt điểm kế hoạch chuyển hàng cho Đông Nam Bộ.


Đến giữa năm 1970, các chiến trường Đông Nam Bộ, Đông - Đông Bắc Campuchia và Nam Tây Nguyên, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Quân Giải phóng miền Nam đã củng cố, tổ chức lực lượng, có phương thức hoạt động phù hợp với yêu cầu phối hợp cùng bạn chiến đấu khi Mỹ, ngụy mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Tuyến đường chiến lược, vận chuyển vũ khí, vật chất cho chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ được tổ chức lại, trước hết là mở rộng hệ thống kho, trạm vùng biên giới ba nước, theo hướng chuyển hoạt động vận tải đường bộ, đường thủy vào sâu trong nội địa của Campuchia. Sau đó, mở các cung đường từ vùng biên giới ba nước theo Đường số 19 xuống Stung Treng; từ Stung Treng đi Kra-chê vào phía Nam hai tỉnh Gia Lai và Phước Long, chi viện cho các chiến trường.


Xác định nhiệm vụ mở rộng, vươn sâu tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn và tăng cường sự chi viện vào chiến trường Đông Bắc Campuchia, chiến trường Nam Bộ là nhiệm vụ khẩn thiết; tháng 6 năm 1970, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã triệu tập các đồng chí: Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh, Vũ Xuân Chiêm - Chính ủy Nguyễn Lang - Phó Tư lệnh và đồng chí Bùi Đức Tạm - Phó Chính ủy Đoàn 559 để giao nhiệm vụ trong mùa khô 1970 - 1971. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Đoàn 559 và căn dặn Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 559 nêu cao tinh thần đoàn kết thống nhất, mưu trí, sáng tạo, linh hoạt, khẩn trương mở rộng vươn xa hệ thống đường vận tải chiến lược đáp ứng yêu cầu chi viện của chiến trường ba nước Đông Dương trong tình hình mới, xây dựng hệ thống vận tải đường bộ, đường thủy từ vùng biên giới ba nước vào Stung Treng, tiếp nhận người vũ khí trang bị vật chất từ Binh trạm 36 chuyển vào, sau đó vận chuyển giao cho các chiến trường Nam Bộ, Đông Bắc Campuchia và Nam Tây Nguyên.


Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, tháng 8 năm 1970, Đoàn 559 đã kiện toàn tổ chức biên chế, phân chia địa bàn hoạt động và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn khu vực 470: Đảm nhiệm thi công, sửa chữa và mở rộng tuyến đường số 19A vận tải cơ giới từ vùng biên giới ba nước, mở các đường ngang, đường giao liên nối Đường số 19A với Đường số 13; tổ chức vận tải hàng hóa, đưa đón bộ đội từ vùng biên giới ba nước đến Stung Treng; tổ chức lực lượng bảo vệ đường, giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng và thu mua khai thác nguồn hàng lương thực thực phẩm của các tỉnh vùng Đông Bắc Campuchia cung cấp cho chiến trường Nam Tây Nguyên và Hạ Lào. Binh trạm 37 đảm nhiệm từ Sê Sụ đến Tà Ngâu; Binh trạm 50 đảm nhiệm từ Tà Ngâu đến Xiêm Pạng; Binh trạm 51 đảm nhiệm từ Xiêm Pạng đến Stung Treng. Hai binh trạm 50 và 51, mỗi binh trạm đều có từ một đến hai tiểu đoàn công binh, một đại đội đến một tiểu đoàn xe ô tô vận tải, một tiểu đoàn súng phòng không, một tiểu đoàn bộ binh, trạm giao liên và đội phẫu, đội điều trị thương bệnh binh; đặc biệt, có một đại đội vận tải thủy làm nhiệm vụ vận chuyển hàng trên sông Sê Kông, Mê Kông và Sê San. Tháng 10 năm 1970, Sở Chỉ huy Sư đoàn được xây dựng xong tại khu vực suối Nam Pa (A-tô-pơ). Cùng thời gian, Trung đoàn Công binh 4 của Sư đoàn, với 900 cán bộ, chiến sĩ (đạt 86% so với biên chế) từ cung đường phía Bắc vùng biên giới ba nước đã hành quân vào địa bàn được đảm nhiệm. Từ tháng 11 năm 1970, Sư đoàn bắt đầu tiến hành thực hiện nhiệm vụ mở đường, tổ chức tiếp nhận vận chuyển hàng hóa, vũ khí và bộ đội đến chiến trường Nam Tây Nguyên và Nam Bộ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 07:49:55 pm »

Tháng 12 năm 1970, Bộ Tư lệnh Trường Sơn1 (Giữa năm 1970, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Bộ Tư lệnh 559 thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn) điều Binh trạm 38 về trực thuộc Sư đoàn khu vực 470. Sư đoàn đã triển khai năm binh trạm hoạt động dọc sông Mê Kông, Đường số 49 từ Phi Hà xuống Stung Treng nối liền hệ thống hành lang vận tải Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ, gồm: Binh trạm 36 phụ trách trục Đường sổ 128 từ Chà Vằn đến phía Nam sông Sê-ca-mán, chiều dài khoảng 150km; Binh trạm 37 phụ trách đoạn Đường số 32 (Nam Sê-ca-mán), Đường số 49 từ Phi Hà đến Tà Ngâu và đường sông từ Tà Ngâu về Nậm Kông; Binh trạm 50 phụ trách khu vực Đường số 49 kéo dài từ Nam Tà Ngâu đến Nam Stung Treng, đường sông Sê Kông từ Tà Ngâu đến Xiêm Pạng; Binh trạm 51 đảm nhiệm khu vực Đường số 49 kéo dài, đoạn Xiêm Pạng - Bắc Đường số 19, đường sông Sê Kông, đoạn Xiêm Pạng - Bắc Măng Gió; Binh trạm 38 phụ trách vận chuyển đường sông Sê Kông (đoạn Sa Kha - A-tô-pơ). Sau đó, do không đủ hàng nên chuyển sang làm nhiệm vụ trên trục Đường số 128, đoạn Tăng Cát - Chà Vằn.


Nhận nhiệm vụ mùa khô 1970 - 1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định sửa chữa Đường số 19, phà Sê San bảo đảm cho chiến trường Nam Bộ và Đông Bắc Campuchia. Để kiểm tra, giúp đỡ các binh trạm phía Nam tiến kịp các binh trạm phía Bắc, giành thắng lợi đồng đều trên toàn tuyến; đồng thời, nắm chắc nhu cầu cụ thể của chiến trường Nam Bộ, ngày 15 tháng 1 năm 1971, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559 làm việc với các binh trạm và Sư đoàn khu vực 470, sau đó vượt Tà Ngâu đi Snuôl gặp Trung ương Cục. Tại Trung ương Cục, các đồng chí Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục; đồng chí Nguyễn Văn Linh - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Trung ương Cục; đồng chí Trần Văn Trà - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Miền; đồng chí Võ Văn Kiệt - Phó Chính ủy và đồng chí Trần Nam Trung (Trần Lương) - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nghe đồng chí Đồng Sỹ Nguyên thông báo tình hình hoạt động của Bộ đội Trường Sơn, các nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao bảo đảm cho các chiến trường và dự kiến cục diện chiến trường. Trung ương Cục cho rằng nếu ta không đánh lớn thì không thể làm chuyển biến được tình hình... Nam Bộ có thể lo một phần lương thực thực phẩm và thuốc men, nhưng về vũ khí, nhất là vũ khí hỏa lực mạnh là những nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa rất lớn thì Trung ương Cục yêu cầu tuyến vận tải Trường Sơn phải ưu tiên đẩy nhanh vận chuyển vào; đồng thời, đề nghị Bộ Tư lệnh Trường Sơn điều một trung đoàn công binh vào mở đường từ Tây Ninh đi Xa Mát. Đồng chí Đồng Sỹ Nguyên hứa sẽ ưu tiên thực hiện yêu cầu của Trung ương Cục.


Đầu mùa khô 1970 - 1971, cung đường của hai binh trạm 50 và 51 thuộc Sư đoàn khu vực 470 đảm nhiệm, máy bay F-4 và C-130 liên tục đánh phá. Trung đoàn công binh 4 thuộc Sư đoàn được giao nhiệm vụ bảo đảm thông suốt trục Đường số 49A, mở Đường số 49B và các tuyến đường ngang từ Sê Sụ đến Stung Treng. Để tránh sự khống chế của máy bay địch, đơn vị phải mở mới hơn 700km đường nhánh, đường vòng tránh các trọng điểm đánh phá. Tuy lực lượng, phương tiện thi công chủ yếu là cuốc, xẻng, cưa tay nhưng trong suốt 3 tháng cuối năm 1970, Trung đoàn Công binh 4 đã khôi phục, khai thông hai đường số 49A và 49B, hơn 200km đường nhánh, làm mới hàng chục bến sông đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa trong mùa khô.


Tại Đường số 49A, có một số đoạn đường nhánh cắt sang Đường số 13 tại Nhăng Sum đã được thông tuyến. Tuyến đường sông từ A-tô-pơ theo sông Sê Kông đến các trạm Tà Ngâu, StungTreng cũng được khai thông. Hoạt động vận chuyển trên tuyến đường bộ và đường thủy từ Binh trạm 37 đến hai binh trạm 50 và 51 được tổ chức vào ban đêm; các đội xe ô tô vận tải, các ghe máy thực hiện vận tải theo cung trạm. Khó khăn lớn nhất của các đơn vị trên tuyến vận tải chiến lược này ta chưa khống chế được hoạt động của không quân địch. Ban ngày, máy bay trinh sát L-19, OV-10, ban đêm máy bay C-130 có thiết bị trinh sát điện tử quan sát và thiết bị dò tìm mục tiêu bằng cảm ứng hồng ngoại, thường trực nhiều giờ liền trên không, phát hiện đánh phá phương tiện vận chuyển trên đường. Nhiều xe hàng, ghe máy của ta bị máy bay C-130 bắn cháy, bắn chìm. Mặc du trong mùa khô 1970 - 1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đề ra chủ trương chủ động đánh máy bay địch ở các trọng điểm trên toàn tuyến, nhưng hàng hóa vào đến hai binh trạm 50 và 51 vẫn rất hạn chế. Kế hoạch vận chuyển hàng của các đơn vị vào chiến trườg Đông Bắc Campuchia, chiến trường Nam Bộ cuối năm 1970 không đạt chỉ tiêu đề ra.


Phát hiện tuyến đường vận tải chiến lược và cụm kho chiến lược Trường Sơn ngày càng được mở rộng và vươn sâu vào chiến trường Nam Bộ, mùa khô 1970 - 1971 quân Mỹ và ngụy thực hiện đánh phá, chặn cắt quyết liệt đường Trường Sơn. Trọng điểm dốc 200 trên Đường số 49A nối với Đường số 128 đi về Tây Nguyên và Nam Bộ bị đánh phá ác liệt nhất. Có trọng điểm bị đánh phá tới 300 quả bom các loại trong 1 ngày. Một số sở chỉ huy binh trạm và Sở Chỉ huy Sư đoàn khu vực 470 bị đánh bom. Do các đơn vị chủ động tổ chức trận địa tương đối vững chắc, tác chiến hiệp đồng chặt chẽ, vừa đánh địch, vừa tránh địch, vừa nghi binh; đồng thời, tổ chức ứng cứu chống phá hoại kịp thời nên đã hạn chế nhiều tổn thất, bảo đảm cầu đường thông suốt. Các đoàn xe liên tục vượt qua trọng điểm đến đích với tỷ lệ cao. Đến cuối tháng 1 năm 1971 trên hướng chiến trường Đông Bắc Campuchia, ta thực hiện được từ 100 - 115% chỉ tiêu kế hoạch của 2 tháng đầu năm. Tuy nhiên, địch cũng gây cho ta một số tổn thất nhất định, nhiều xe bị đánh hỏng, cán bộ, chiến sĩ bị thương vong... Bộ Tư lệnh Trường Sơn chỉ đạo hai binh trạm 50 và 51 kéo dài tuyến vận tải cơ giới đường sông trên các sông Sê Kông, Sê San và Mê Kông đến Kra-chê xuống Snuôl; tổ chức đưa tiền cho hậu cần Nam Bộ và Sư đoàn khu vực 470 thu mua khoảng 4.000 tấn hàng tại chỗ tạo nguồn dự trữ cho Nam Bộ và Tây Nguyên.


Sư đoàn khu vực 470 quản lý khu vực các chiến trường Nam Bộ, Tây Nguyên, Campuchia, với tổng chiều dài tuyến đường bộ và đường sông là 1.765km. Thời gian này, Sở Chỉ huy của Sư đoàn ở Nam Sê-ca-mán. Sư đoàn được giao nhiệm vụ là cơ quan Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn, trực tiếp quan hệ với chiến trường, giải quyết những yêu cầu cấp bách phục vụ tác chiến và thực hiện nội dung chức năng Bộ Tư lệnh khu vực gồm tiếp nhận hàng của Sư đoàn khu vực 471, vận chuyển đảm bảo cho chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ, Campuchia và Hạ Lào rồi chuyển lương thực thực phẩm ngược lại phục vụ chiến trường Tây Nguyên và bảo đảm một phần phục vụ sinh hoạt nội bộ.


Để tăng thêm hiệu quả về chiều sâu của tuyến vận tải chiến lược, Sư đoàn khu vực 470 đã tăng cường truy quét biệt kích, thám báo và bộ binh địch trong khu vực quản lý giữ vững vận chuyển hai tuyến đường bộ số 49A, 49B và các tuyến đường sông Sê Kông, Mê Kông...


Tháng 7 năm 1971, Tiểu đoàn Công binh 278 được giao nhiệm vụ mở đường cơ giới quân sự dài 80km từ Sê Sụ nối vào Đường số 49B để tiếp nhận, vận chuyển hàng hỏa, vũ khí của lực lượng vận tải Sư đoàn khu vực 470 chuyển giao Hai tiểu đoàn công binh 739 và 276 được giao nhiệm vụ mở hai tuyến đường cơ giới: Tuyến A từ Nam sông Sê San đến Đường số 14K (Bắc Lộc Ninh) dài 216km; tuyến B từ Nam sông Sê San đến Đường số 13 đoạn Sơ Lông (Nam Kra-chê) dài 116km. Hai tuyến đường A và B chạy gần như song song với nhau, đoạn gần nhau nhất cách 10km. Cùng với việc làm đường trục, tại các khu vực trọng điểm địch đánh phá, lực lượng công binh đã mở thêm nhiều đường vòng, tránh, tạo điều kiện cho các xe cơ giới vận chuyển vượt trọng điểm được an toàn và nhanh hơn.


Cuối năm 1971, hệ thống đường trục từ Binh trạm 51 đến Đoàn hậu cần 770 và tuyến đường cơ giới về vùng biên giới hai tỉnh Phước Long, Tây Ninh đã được khai thông. Mặc dù, địch vẫn tập trung không quân đánh phá mạnh ở vùng biên giới ba nước và khu vực địa bàn do Sư đoàn khu vực 470 đảm nhiệm, nhưng dưới mặt đất tuyến hành lang vùng biên giới ba nước qua các tỉnh Đông Bắc Campuchia đến biên giới các tỉnh Phước Long, Bình Long, Tây Ninh đều do lực lượng Quân Giải phóng Việt Nam và các đơn vị vũ trang cách mạng Campuchia làm chủ. Trên các tuyến đường số 7, 13 và 14K, xe ô tô, xe kéo pháo có thể cơ động cả trong mùa khô và mùa mưa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 07:55:15 pm »

2. Đẩy mạnh hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia bảo đảm cho các chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ năm 1970

Nhằm biến Campuchia thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ; đồng thời, làm mất căn cứ và chặn nguồn tiếp tế hậu cần cho chiến trường miền Nam Việt Nam từ hướng Campuchia; tháng 2 năm 1970, dưới sự thúc ép của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Thủ tướng Campuchia Lon Non thuộc phái cực hữu đã ra lệnh đổi tiền Riel của Campuchia. Việc làm này gây tổn hại lớn đến lượng tiền của các đơn vị Hậu cần Miền, mang danh các công ty thu mua lương thực thực phẩm từ Campuchia đưa về miền Nam.


Ngày 12 tháng 3 năm 1970, Lon Non tuyên bố hủy bỏ hiệp định đã ký kết giữa Chính phủ Campuchia với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; cắt đứt đường chi viện chiến lược bằng đường biển cho miền Nam Việt Nam qua cảng Xi-ha-núc Vin. Tiếp đó, ngày 13 tháng 3 năm 1970, Lon Non gửi tối hậu thư buộc các đơn vị và Công ty Hiệp Lợi1 (Thực chất đây là Đoàn hậu cần 17, lấy danh nghĩa Công ty kinh doanh thương mại để tiếp nhận, vận chuyển hàng quá cảnh từ cảng Xi-ha-núc Vin chuyển về các chiến trường Nam Bộ và Nam Tây Nguyên) của ta phải rời khỏi đất Campuchia sau 48 giờ. Phía Campuchia đã thu giữ toàn bộ số vũ khí lương thực, hàng hóa của ta trên đường di chuyển về Việt Nam. Cùng ngày, Lon Non sử dụng một tiểu đoàn bộ binh tràn vào khu vực Sóc Chuốt, Chòm Tre, Rạch Lức, Rạch Rứa (quận Túc Mía), nơi đứng chân của Đoàn 195 ngang nhiên đào hầm vũ khí, đòi tịch thu và buộc lực lượng vũ trang ta phải rời ngay khỏi đất Campuchia. Chỉ huy Đoàn 195 vừa dùng lý lẽ buộc chúng phải trả lại vũ khí vừa liên hệ với hai tiểu đoàn của Sư đoàn Bộ binh 1 Quân Giải phóng đang hoạt động ở khu vực, hình thành hai mũi bao vây chặt tiểu đoàn địch, buộc chúng phải nằm im tại chỗ suốt 7 ngày đêm. Sau đó, được lệnh của Trung ương Cục và Quân khu 8, Đoàn 195 tập trung lực lượng phối hợp với các đơn vị chủ lực Miền và Quân khu mở đợt tiến công tiêu diệt các đồn và phương tiện chiến tranh của địch dọc bờ Nam và bờ Bắc kênh Vĩnh Tế sông Giang Thành, đánh sâu vào nội địa Campuchia 30km giải phóng một vùng tuyến hành lang trên đất bạn từ Ta-keo đến tỉnh Kam-pốt. 300 tấn vũ khí của ta còn kẹt lại ở Sóc Chuốt chưa kịp chuyển về nội địa được di dời ngược trở lại cất giấu trong các hang hầm núi Túc Mía do một đại đội kho và một đại đội thanh niên xung phong cất giữ và bảo vệ.


Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Lon Non tiến hành đảo chính lật đổ Quốc vương Xi-ha-núc, xóa bỏ nền trung lập, thành lập chính phủ mới do Lon Non làm Thủ tướng. Ngay sau đảo chính, Lon Non đã tuyên bố sẵn sàng cùng đế quốc Mỹ và đồng minh chống lại lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam.


Sau đảo chính ở Campuchia, ngày 27 tháng 3 năm 1970, quân ngụy Sài Gòn phối hợp với quân ngụy Lon Non mở cuộc tiến công, càn quét đánh phá ác liệt vào kho tàng dự trữ vật chất hậu cần của ta ở Tăng Lèo, Ta Lu, Ba Thu... Các bộ phận bảo vệ của đơn vị P100, Xưởng X5 A, Bệnh viện X12B đã dũng cảm chặn đánh địch tạo điều kiện cho các cơ quan, phân đội rút sâu vào nội địa Campuchia1 (Tháng 5 năm 1970, đơn vị P100 di chuyển sâu trong đất Campuchia, đứng chân ở vùng Crông Cra Xăng, tỉnh Prây Veng nhận hàng của Hậu cần tổ chức đưa về vùng Tà Lu, Tăng Lèo và Sở Thượng, tạo chân hàng cho lực lượng vận tải Quân khu 8 tiếp nhận về nội địa). Ngày 31 tháng 3 năm 1970, Sư đoàn 21 quân ngụy Sài Gòn vượt qua biên giới Campuchia - Việt Nam đánh vào các căn cứ Quân Giải phóng ở quận Túc Mía. Sau 7 ngày càn quét, chúng đã bị Sư đoàn Bộ binh 1 và các lực lượng vũ trang Quân khu 9 trên địa bàn đánh thiệt hại nặng buộc phải rút quân về Việt Nam. Ngày 8 tháng 4 năm 1970, địch tiếp tục tung lực lượng sư doàn 9 quân ngụy Sài Gòn đến càn quét hòng đánh bật Quân Giải phóng ra khỏi địa bàn nhưng đều bị đánh bại, đập tan ý đồ triệt phá căn cứ và hành lang vận tải của hậu cần quân sự Việt Nam trên đất Campuchia. Trong đợt chống càn này, Đại đội Kho và Đại đội Thanh niên xung phong của Đoàn 195 bảo vệ 300 tấn vũ khí ở núi Túc Mía đã kiên cường dông cảm đánh bật nhiều đợt tiến công chiếm núi của địch tiêu diệt nhiều tên. Địch dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm, đổ một tiểu đoàn công binh trên núi Túc Mía, Quân Giải phóng dựa vào các hang hầm, khe núi bình tĩnh kìm chế không cho chúng xuống chân núi, vừa đánh địch vừa tổ chức di chuyển 300 tấn vũ khí sang núi Văn an toàn. Sau 5 ngày không đánh được Quân Giải phóng ra khỏi núi, địch buộc phải thu quân kết thúc cuộc càn quét. Đoàn 195 tiếp tục xây dựng địa bàn căn cứ từ vùng sông Sở Thượng đến quận Túc Mía, củng cố kho tàng và đường hành lang vận tải trên đất Campuchia, tiếp tục làm nhiệm vụ tiếp nhận nguồn chi viện của Trung ương qua tuyến 559. Giữa tháng 4 năm 1970, quân ngụy Sài Gòn được sự yểm trợ của không quân Mỹ, tiến đánh vùng "Mỏ vẹt" thuộc địa bàn tỉnh Svây Riêng của Campuchia. Ngày 30 tháng 4 năm 1970, hơn 100.000 quân Mỹ và ngụy Sài Gòn, được sự yểm trợ tối đa của pháo binh, xe tăng, tiến đánh vào các tỉnh Svây Riêng, Prây Veng, Kra-chê, Kông-pông Chàm...


Những hoạt động đánh phá, mở rộng chiến tranh sang Campuchia của địch gây cho ta nhiều khó khăn. Chiến trường Nam Bộ và Nam Tây Nguyên bị cắt đứt nguồn tiếp tế của Trung ương. Hệ thống hậu cần cùng các tuyến hành lang vận tải của ta chịu nhiều tổn thất lớn. Nhiều kho hàng hóa, vũ khí của ta dọc biên giới Đông - Đông Bắc Campuchia bị địch đốt phá, hủy hoại. Các đoàn hậu cần 50, 70, 82 và 86 của Bộ Tư lệnh Miền bị thiệt hại nặng. Trong đợt đánh phá này, ta bị mất 3.500 tấn gạo, 120 tấn muối (chiếm 1/3 khối lượng dự trữ của Hậu cần Miền), 700 tấn vũ khí, đạn dược (chiếm 14% lượng dự trữ), 60 tấn thuốc và một số dụng cụ y tế (chiếm 1/3 lượng dự trữ), 80% phương tiện vận tải bị phả hủy (180 xe ô tô, 5.692 xe đạp).


Trước tình hình trên, ngay từ đầu năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ lãnh đạo quân dân cả nước đẩy mạnh tiến công toàn diện để đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và có chủ trương cụ thể khi đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục và Quân khu ủy Quân khu 5 kiên quyết phản công giữ các căn cứ chiến lược trên biên giới Campuchia - Việt Nam; phối hợp với lực lượng vũ trang của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia tiến công quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn, quân ngụy Lon Non, mở rộng vùng giải phóng Đông Bắc Campuchia, giúp Mặt trận Dân tộc cứu nước Campuchia thành lập chính quyền cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang. Tiếp đó, Bộ Chính trị điện chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Miền chuẩn bị lực lượng, khi Mặt trận Dân tộc cứu nước Campuchia yêu cầu, sẽ cùng bạn tiến công làm chủ 10 tỉnh phía Đông sông Mê Kông của Campuchia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 07:57:44 pm »

Sau khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào, các sư đoàn bộ binh 5,7,9 và các đơn vị binh chủng của quân đội ta đã kịp thời chuyển hướng sang hoạt động ở Campuchia, giúp đỡ và phối hợp với lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đế quốc Mỹ. Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương kêu gọi nhân dân các nước đoàn kết chống đế quốc Mỹ. Tiếp đó, Đại hội nhân dân Campuchia thành lập Mặt trận và Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia chống Mỹ, tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho lực lượng vũ trang ta phối hợp hoạt động và giúp đỡ cách mạng và nhân dân bạn đánh bại các cuộc tiến công chiến lược của quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn và quân ngụy Lon Non, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở Campuchia. Hậu cần quân sự đã bảo đảm cho lực lượng vũ trang ta phối hợp với lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia, chủ động tiến công địch mở rộng vùng giải phóng, giúp bạn xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng. Ta đã giúp lực lượng vũ trang bạn xây dựng được chín tiểu đoàn, 53 đại đội, 27 trung đội vũ trang tập trung với trên 10.000 quân (chưa kể lực lượng du kích các phum); đưa trên 1.000 cán bộ, đảng viên (tập kết ra miền Bắc từ năm 1953) đã được huấn luyện bồi dưỡng về chính trị, quân sự, chuyên môn nghiệp vụ trở về Campuchia tham gia chiến đấu và xây dựng đất nước.


Ngày 28 tháng 4 năm 1970, được sự yểm trợ của quân Mỹ, 40.000 quân ngụy Sài Gòn tiến công sang đất Campuchia, đánh phá mạnh vùng "mỏ vẹt" thuộc tỉnh Svây Riêng (Campuchia) tiếp giáp với Mộc Hóa thuộc tỉnh Long An (Việt Nam). Ngày 30 tháng 4 năm 1970, địch huy động trên 100.000 quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn được máy bay pháo binh yểm trợ tiến công vào vùng "lưỡi câu" thuộc tỉnh Kông-pông Chàm giáp với Tây Ninh nhằm tìm diệt cơ quan chỉ huy, khối chủ lực và phá hủy căn cứ hậu cần của ta. Các đoàn hậu cần 50, 70, 82, 86 và 100 của miền Đông Nam Bộ hoạt động trên đất Campuchia bị tổn thất nặng. Chiến trường Nam Bộ và Nam Tây Nguyên bị mất nguồn tiếp tế.


Để phá thế bao vây chiến lược mới của đế quốc Mỹ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã thống nhất với Đảng Cách mạng Campuchia mở đợt tiến công mới, mở rộng vùng giải phóng ở Đông Campuchia nối tiếp với Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, hình thành một căn cứ hậu phương chiến lược của các chiến trường Nam Đông Dương, đưa vận tải cơ giới lớn vào sâu, đáp ứng kịp thời nhu cầu cách mạng ba nước. Bộ Chính trị kịp thời chỉ thị cho bộ đội ta phối hợp với bạn chủ động đánh nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục tạo chuyển biến quan trọng về cục diện chiến lược có lợi cho ta và bạn trong thời gian ngắn.


Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, từ giữa tháng 4 năm 1970, các đơn vị vũ trang của Miền phối hợp cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở Chiến dịch Đông Bắc Campuchia (29.4 - 30.6.1970), nhằm đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn trên tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam và vùng Đông Bắc Campuchia; bảo vệ căn cứ, kho tàng; đồng thời, giúp nhân dàn Campuchia giành quyền làm chủ trên 10 tỉnh giáp biên giới với Việt Nam. Quân ủy Trung ương và Bộ Tư lệnh Miền sắp rút chuẩn bị kế hoạch tác chiến, chủ trương tích cực phản công bẻ gãy các mũi tiến quân của địch; đồng thời, chủ động tiến công tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy Lon Non, roở rộng vùng giải phóng, đánh bại cuộc hành quân Sumêcơ của 21 tiểu đoàn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, giải phóng khu vực Mi Mốt thuộc tỉnh Kông-pông Chàm, mở rộng vùng giải phóng đến bờ sông Mê Kông. Chặn đánh địch trên hai tuyến đường sổ 1 và 22, giải phóng nhiều vùng nông thôn thuộc hai tỉnh Prây Viêng và Svây Riêng; giải phóng nhanh các khu vực Tà Ni, Túc Mía, Kông-pông Trạch... ở khu vực Đường số 5; phát triển tiến công giải phóng các tỉnh Kra-chê, Môn-đôn-ki-ri, Stung Treng và Rát-ta-na-ki-ri. Lực lượng tham gia gồm các sư đoàn bộ binh 5,7 và 9 thuộc bộ đội chủ lực Miền, hai trung đoàn 44, 95 và một số tiểu đoàn độc lập thuộc Mặt trận Tây Nguyên; lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia cùng phối hợp chiến đấu có các tiểu đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch. Đồng chí Hoàng Văn Thái - Tư lệnh Miền là Tư lệnh Chiến dịch và đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục là Chính ủy Chiến dịch.


Khu vực tác chiến của chiến dịch có địa hình bằng phẳng, rừng cây xen kẽ rừng le. Ở đây, do nhiều năm địch tàn phá bằng bom, pháo và chất độc hóa học, nên có nhiều khu vực trống trải làm cho việc trú quân, cơ động lực lượng của ta bị hạn chế, còn với địch cơ động lực lượng được thuận tiện, phát huy được tác dụng của binh khí kỹ thuật. Khi quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tiến công vào đất Campuchia, khu vực chiến đấu mở rộng qua biên giới Campuchia thì địa hình ở đây cũng bằng phang, rừng kín đáo, có xen kẽ với các đồng ruộng, nương rẫy trống trải, có các đồn điền cao su lớn như Mi Mốt, Krếch. Đường cơ động khu vực chiến dịch rất thuận tiện: Đường số 13 Sài Gòn - Snuôl. Đường số 22 từ Sài Gòn - Tây Ninh - Kông-pông Chàm; Đường số 14 Suối Đá - Kà Tum - Bồ Túc; Đường Suối Đá - Bà Chiêm - Đường số 13- Đường đá Bình Phú - Bồ Túc; từ Đường số 7 sang Đường số 13 qua ngã ba Krếch - Mi Mốt - Snuôl. Các đường trên hình thành mạng đường ngang, dọc, xe cơ giới cơ động được. Khu vực tác chiến có nhiều sông suối như sông cần Lê, sông Chiêm, sông Sơ Lông; suối Ngô, suối Bà Chiêm... chiều rộng của sông về mùa mưa từ 30 - 60m. Hai bên bờ sông, suối phần lớn dốc đứng, có nhiều chỗ kín đáo, tiện cho ta tổ chức các bến vượt. Mùa mưa nước nhiều, người và xe cơ giới qua lại khó khăn, mùa khô đi lại dễ dàng. Chiến dịch diễn ra vào giữa mùa khô, có nhiều thuận lợi trong hành quân, trú quân và bảo đảm được sức khỏe bộ đội, nhưng đến giai đoạn mùa mưa sức khỏe bộ đội giảm sút, bệnh tật phát triển.


Nhân dân Khơme từ biên giới Campuchia - Việt Nam trở vào ở rải rác từng phum, càng vào sâu mật độ càng đông. Khu vực nhiều dân ở các thị trấn Snuôl, Mi Mốt, Sơ Lông, Krếch. Có một số đồng bào Việt kiều, Hoa kiều sinh sống bằng nghề nông, đánh cá, công nhân đồn điền cao su. Phần lớn nhân dân ở khu vực tác chiến chiến dịch chịu ảnh hưởng của cách mạng từ lâu, phân biệt được hành động tốt, xấu của ta và địch, sẵn sàng đóng góp sức người, vật chất, kể cả tham gia Quân Giải phóng. Chính quyền địa phương các phum, các quận, các đơn vị cách mạng Campuchia mới thành lập đã giúp đỡ ta làm dân công vận chuyển vật chất, dẫn đường...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 07:59:04 pm »

Trong chiến dịch, các đơn vị tham gia tác chiến nằm trong địa bàn bảo đảm của các đoàn hậu cần là 50, 82 và 70. Các cơ sở hậu cần khu vực hoạt động ở vùng biên giới Campuchia - Việt Nam. Lượng dự trữ vật chất và khả năng thu dung cứu chữa thương bệnh binh tuy có hạn nhưng vẫn đủ sức bảo đảm cho các đơn vị tác chiến. Giữa hậu cần sư đoàn, trung đoàn và hậu cần khu vực đã quen biết nên việc hiệp đồng có nhiều thuận lợi. Mặt khác, các đơn vị đã biết địa điểm cơ sở hậu cần khu vực như Đoàn hậu cần 50 (từ Tây Đường số 13 đến Tây Đường số 14): các bệnh viện K50, K51, K52, K53, K54 và Đội điều trị 70C; các kho quân giới B103, B105 và B107; các kho quân nhu C50, C51, C52; C53 và C54. Các cơ sở thuộc Đoàn hậu cần 82 (từ Tây Đường số 17 về phía sau khu vực Bồ Túc, Cà Tum) gồm: Bệnh viện K71C (K21), Đội chuyển thương DT124, Kho quân giới B21 và B25, các kho quân nhu ở khu vực Lệch.


Tuy vậy, Hậu cần Chiến dịch vẫn gặp nhiều khó khăn do các cơ sở ở vùng sâu trên đất Campuchia đã bị địch càn quét, đánh phá nên số lượng giảm đi nhiều, lượng dự trữ mỏng. Các đội điều trị phải tổ chức gọn nhẹ, dễ cơ động nên khả năng thu dung thương bệnh binh hạn chế. Mặt khác, lực lượng phản động ờ đây gây cho ta nhiều khó khăn như cho quân vào càn quét đánh phá các cơ sờ hậu cần của ta, ngăn cấm nhân dân Campuchia buôn bán với ta ở các cửa khẩu, đổi tiền... Do đó, tình trạng lương thực không ổn định, có khu vực hậu cần ngày trước nhập gạo được nhưng ngày sau không nhập được nên có lúc không thực hiện được hợp đồng cung cấp cho đơn vị. Các đơn vị chiến đấu thọc sâu phải tự tổ chức vận chuyển vật chất và chuyển thương binh về. Trước chiến dịch, Đoàn C4 đã tổ chức các tuyến vận chuyển vật chất nhưng địch đánh phá ngăn chặn, ta phải dùng bộ đội chủ lực tác chiến bảo vệ vận chuyển. Để bảo đảm đơn vị tác chiến thọc sâu phải kết hợp dùng lực lượng bộ đội vận chuyển thêm. Khi đơn vị thọc sâu, tác chiến xa biên giới, ta phải phá thế ngăn chặn của địch, tạo được tuyến vận chuyển vững chắc. Khả năng bảo đảm vật chất có hạn nên ảnh hưởng đến việc bảo đảm hậu cần cho chiến dịch.


Trong giai đoạn chuẩn bị của chiến dịch, tuyến vận tải phía Đông sông Sài Gòn đã nối liền nhưng chưa hoàn chỉnh. Máy bay địch trinh sát dọc tuyến vận tải và đánh một số nơi ở bến sông Cần Lé. Do bếp nấu ăn của bộ đội ta nhiều khói, một số đồng chí dùng thuốc nổ đánh cá ở bến sông nên địch phát hiện, sử dụng máy bay B-52 ném bom xuống tuyến Sa Tum đi K10, tung biệt kích đi lùng sục, phục kích một số đoạn đường, nên năng suất vận tải thấp, không bảo đảm chỉ tiêu, hàng vận chuyển bị hao hụt nhiều, số lượng ở đầu cung nhiều nhưng đến Sa Cam không đủ. Sự hiệp đồng giữa lực lượng công binh, trinh sát với bộ phận vận tải chưa chặt chẽ. Trước tình hình trên, chỉ huy tuyến tải quyết định phải tập trung cả bốn đại đội ở Cung 1 và Cung 2; tổ chức bộ phận bám địch chiến đấu và hiệp đồng với công binh, trinh sát đưa hàng xuống đơn vị và chuyển thương binh về ngay trong đêm. Đồng thời, đề nghị cấp trên chỉ đạo tuyến vận tải phía Tây sông Sài Gòn tranh thủ chuyển vật chất xuống, đề phòng tuyến bị tắc lâu ngày. Kết quả, ta đã vận chuyển được 18 tấn gạo; 1 tấn muối; 440 viên đạn K53; 7.200 viên đạn K56; 2.550 viên đạn 12,7mm; 110 quả đạn cối 60mm; 30 quả đạn B-40; 115 quả đạn B-41 và vận chuyển được 45 thương binh.


Trước và sau ngày nổ súng, tuyến vận tải phía Tây sông Sài Gòn đã nhiều lần tổ chức vượt qua Đường Đỏ nhưng bị địch ngăn chặn liên tục nên chưa vận chuyển được. Bộ phận Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 dự định bố trí ở Chà Và cùng với Kho 819 của Đoàn hậu cần 50 cũng chưa đến được. Mặt khác, ở Kho 810, Đoàn hậu cần 50 theo hiệp đồng đã có sẵn 12 tấn gạo ở Chà Và nhưng khi kiểm tra lại thì không còn (số gạo này đã cấp phát cho các đơn vị khác). Căn cứ vào tình hình địch và khó khăn thực tế, Bộ Tự lệnh Chiến dịch đã điều Tiểu đoàn 4 về Bắc Đường Đỏ để đánh địch. Vì vậy, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 quyết định tạm rút lực lượng của mình trên tuyến phía Tây sông Sài Gòn. Ở cuối giai đoạn chuẩn bị, phát hiện địch vừa đối phó với ta ở tuyến biên giới, vừa điều động lực lượng dù, kỵ binh không vận lên Đường Đỏ, Bà Chiêm, Cà Tum và liên tục vận chuyển vật chất bằng đường bộ, đường không lên Hớn Quản, Cà Tum, Thiện Ngôn.


Đêm 1 tháng 5 năm 1970, một bộ phận hậu cần chuyển lên Bắc Đường số 7 và tích cực liên hệ với hai đoàn hậu cần 50 và 82 để cung cấp đạn dược, lương thực, thuốc men. Trung đoàn Bộ binh 38 liên hệ với Đoàn hậu cần 82 tạm lĩnh được 24 tấn gạo. Sau đó, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 đã liên hệ và nhận thêm được 55 tấn. Ở Bắc Đường số 7, Đoàn hậu cần 50 có Đội điều trị 51, ở hướng Đoàn hậu cần 82 có Bệnh viện K71C ở khu vực Cô Ky; tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đã kết hợp với Hậu cần Sư đoàn Bộ binh và được Trung đoàn 38 chi viện lực lượng làm hầm và lực lượng bảo vệ nên đã nhận được thương binh cho hướng này. Ngoài ra, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 còn lên Đầm Be liên hệ với Đoàn hậu cần 82 nhận 9,6 tấn gạo, 500kg muối, 215 quả đạn cối 81 mm, 82mm và DKZ 75mm, 155 quả đạn cối 60mm, 13.480 viên đạn K56 và 3.960 viên đạn K53... Sau khi phát bổ sung, số còn lại được đưa về dự trữ ở khu vực Kan Tuốt. Hậu cần Sư đoàn liên hệ được với Cục Hậu cần và Đoàn hậu cần 82 để cung cấp gạo ở các khu vực Chông Chếch, Đầm Be, Tra-pê-ăng Phinh.


Sau trận đánh địch càn lên Đông Nam Mi Mốt, Trung đoàn Bộ binh 38 lui về Đông Bắc Mi Mốt tiếp tục đánh địch ơ khu vực Nhà máy Đường Mi Mốt, Đường số 7 và luôn cơ động bám đánh địch càn ở Đông Nam Kra-bao, đánh địch lên Tây Bắc Mi Mốt. Sau đó, được lệnh chuyển sang đứng chân ở khu vực Chăm Ky, Chăm To. Hậu phương Trung đoàn chuyển về ngã ba suối Ang Cam triển khai tuyến bảo đảm. Những ngày đầu gặp khó khăn về việc bảo đảm thương binh vì chưa liên hệ được với hậu cần khu vực và Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 nên Hậu cần Trung đoàn phải tự thu dung điều trị thương binh. Đến ngày 6 tháng 5 năm 1970 trung đoàn liên hệ được với Bệnh viện K71 C nên gửi được thương binh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 08:05:17 pm »

Thực hiện lệnh của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Hậu cần Sư đoàn Bộ binh 7 sử dụng lực lượng ở hậu cứ gồm Tiểu đoàn Huấn luyện tân binh làm lực lượng vận chuyển đến các kho ở hướng Sơ Lông, Đầm Be, Kan Tuốt, Kông-pông Pang, Kông-pông Đăng-rây về hai khu vực chính: Đạn đưa về kho ở Sở Chỉ huy phía trước khoảng 5 tấn (chủ yếu là đạn hỏa lực), vận chuyển bổ sung cho Trung đoàn Bộ binh 42, số còn lại tập trung về kho hậu phương Sư đoàn Bộ binh 7 ở Nam Sê-rê-căng-đan, kho thuốc và quân trang cũng dồn về kho hậu phương Sư đoàn. Trước tình hình thiếu lương thực, Sư đoàn phải liên hệ với chính quyền địa phương mua 5 tấn gạo bổ sung cho bộ đội đủ gạo cần thiết để bảo đảm chiến đấu theo kế hoạch quy định. Những ngày tiếp sau, Hậu cần Sư đoàn đã liên hệ với hậu cần khu vực cấp thêm 10 tấn ở cao điểm 177, sau đó cung cấp gạo ở Kô Ky, Chông Chếch đủ bảo đảm cả đợt được 40 tấn gạo.


Trong giai đoạn chuẩn bị, Hậu cần Chiến dịch khẩn trương tổ chức triển khai các tuyến hậu cần sư đoàn, trung đoàn, nên bảo đảm kịp thời cho bộ đội bước vào chiến đấu; cứu chữa vận chuyển thương binh được nhanh chóng. Tuy có khó khăn, nhưng đã cố gắng khắc phục bảo đảm đủ vật chất cho yêu cầu chiến đấu, nhất là đã tích cực tổ chức tiếp phẩm và nuôi dưỡng bộ đội ở cả phía trước và phía sau. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10.000 quân địch, bắn rơi và phá hủy 340 máy bay, phá hỏng 280 xe quân sự, 180 khẩu pháo và súng cối; bảo vệ an toàn căn cứ, kho tàng của ta; giải phóng năm tỉnh Đông Bắc - Bắc Campuchia, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Campuchia có bước phát triển nhảy vọt.


Sau chiến dịch, các đoàn hậu cần tập trung lực lượng di chuyển kho hàng, tổ chức thu gom xe, máy, tàu thuyền chiến lợi phẩm, ở Snuôl và Mi Mốt, ta thu được 20 xe ô tô và nhiều máy móc, bình điện, săm lốp. Tại Kra-chê, học viên lớp lái xe thu 15 xe ô tô và huy động thêm 15 xe dân (số xe này đã chở một trung đoàn bộ binh tiến công truy quét địch ra khỏi khu vực từ Kra-chê đến Stung Treng). Đội xe VZ1 của Đoàn hậu cần 70 thu được 15 xe. Sau đó, Đội xe VZ1 và Xưởng Z58 thu thêm sáu xe của quân ngụy Lon Non giấu trong rừng Tại Stung Treng, học viên lái xe thu 10 xe bàn giao cho lực lượng hậu cần. Một bộ phận của Đội xe 1 cùng thợ sửa chữa của Xưởng Z58 do đồng chí Lê Đình Điệp chỉ huy đã thu gom tại thị xã Môn-đôn-ki-ri được sáu xe ô tô cùng nhiều máy móc phụ tùng đưa đi cất giấu. Tại Sở Cao su Luông Chúp, hai đoàn hậu cần 50 và 82 thu 30 xe, 10 máy kéo. Trên đoạn đường từ Bến Kết đến Kông-pông Thơm, lực lượng hậu cần thu trên 50 xe, rồi tiến hành khôi phục lại, tổ chức Đại đội xe và lớp học lái xe H26. Tại Bến Két (trên sông Mê Kông), ta thu được ba tàu có trọng tải từ 50- 70 tấn, một đầu kéo xà lan 50 tấn, tổ chức thành Đội tàu Vận tải sông. Đội xe của Đoàn hậu cần 50 do đồng chí Nghĩa và đồng chí Sáu Koóng chỉ huy thu gom 15 xe và huy động xe dân cơ động Trung đoàn 2 (Sư đoàn Bộ binh 9) tiến công quân Mỹ, ngụy Sài Gòn tại thị xã Kông-pông Thơm. Trong 1 tháng, lực lượng vận tải ô tô của Cục Hậu cần Miền đã khôi phục lại được 150 xe thu gom được, sử dụng ngay 90 xe bảo đảm cho những nhiệm vụ lớn, khẩn trương lúc đó.


Cùng thời gian, do địch đánh phá nên Xưởng B109 phải chuyển về Đoàn hậu cần 500 ở phía đông Cà Đa thuộc Kông-pông Thơm. Xưởng lấy phiên hiệu mới là Xưởng P42. Khi di chuyển Xưởng phải bỏ lại toàn bộ máy móc. Để có phương tiện, nguyên liệu sản xuất, Xưởng tổ chức đi sưu tầm ở Bến Kết, Bạ Rài... thu nhiều máy móc, vật tư, trong đó có chiếc máy tiện băng dài 5m. Xưởng Z1 ở Suối Mông (Mê Mông), liên tục bị máy bay B-52 đánh phá, chưa sản xuất được gì lại bị xe tăng địch càn vào phải di chuyển sâu vào nội địa Campuchia. Xưởng đến phum Nâu, xây dựng căn cứ xong, chuẩn bị sản xuất thì có lệnh trên giao căn cứ lại cho Xưởng BX8, tổ chức di chuyển vượt sông Sơ Lông đến xây dựng căn cứ mới tại sóc Pơ Ma, huyện Sơ Lông, tỉnh Kông-pông Chàm. Xưởng Z26 (sau đổi tên là Xưởng BX21) trực thuộc Đoàn 100, chuyển đến căn cứ tại Tăng Cà Xăng. Như vậy có bốn xưởng Miền di chuyển sâu vào đất Campuchia được xây dựng lại lớn hơn, có điều kiện ổn định sản xuất phục vụ chiến trường. Kho B103, Kho B104 và Đội trang cụ (Đoàn hậu cần 50), Kho B28 (Đoàn 100), Kho B11 và Kho B8 (Đoàn hậu cần 86) tổ chức bố trí ở khu vực Bắc Ô Răng. Sê-rê-pốc để phân tán hàng. Cơ quan Cục Hậu cần di chuyển đến đầm Rây Phông.


Sau khi Chính phủ Campuchia ra lệnh đổi tiền Riel cũ, tỷ giá đổi 1 ăn 1 tại các ngân hàng, Ban Tài chính đặc (phiên hiệu N2683) có trách nhiệm đổi tiền của Ban Kinh tài Trung ương Cục và Hậu cần Miền nên khối lượng tiền rất lớn, đòi hỏi phải có nhiều thời gian để gom tiền cũ, đổi tiền mới cho các cơ quan, đơn vị đóng dọc theo biên giới hai nước Campuchia - Việt Nam. Đồng chí Tám Lai - phụ trách giao liên Trung ương Cục khẩn trương bảo đảm khâu thu tiền cũ, giao tiền mới tại biên giới. Công ty Tân Á của Ban Tài chính đặc biệt là nơi nhận tiền các nơi về. Thời gian này, Công ty đã phát triển lên quy mô lớn, có quan hệ mật thiết với hệ thống kinh tế, tài chính, ngân hàng địa phương, có đủ bao bì, kho chứa, xe vận chuyển và bộ máy nhân sự chuyên nghiệp khá thành thạo trong hoạt động ngân hàng nên giải quyết mọi việc rất thuận lợi. Chạy đua với thời gian, suốt ngày đêm, mọi người nhận tiền tới đâu, đổi ngay tới đó, không để ứ đọng. Phương châm đổi tiền là vừa đổi nhỏ lẻ, phân tán, vừa đổi tập trung vừa và lớn. Tiền đổi được nhiều nhưng chỉ giao được rất ít, chủ yếu cho những đơn vị ở gần. Vì vậy, khối lượng tiền lớn đổi được của Công ty còn ứ đọng lớn nên mọi người rất lo vì biết quân và dân ta ở vùng biến giới Campuchia - Việt Nam gặp khó khăn do không có tiền để hoạt động.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 08:06:32 pm »

Sau đảo chính, lực lượng phản động cực đoan kích động hận thù, chia rẽ hai dân tộc anh em Việt Nam và Campuchia. Địch bắt đầu sát hại Việt kiều, làm mọi hoạt động kinh tế, tiền tệ của ta đều ngừng lại. Tiệm không bán. Người không đi lại ngoài đường. Giá cả sinh hoạt tăng cao, nhất là lương thực thực phẩm. Hằng ngày, địch cho thiết quân luật từ 6 giờ tối hôm nay đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Mọi người đều lo địch phát hiện khối lượng tiền khổng lồ còn chưa giao được. Công ty Tân Á lại mới nhập về 100 xe ô tô, rất nhiều máy nổ, bóng đèn, vải vóc... chưa kịp bán ra để trả nợ vay Nhà nước Campuchia. Đồng chí Năm Tấn - người đứng đầu Công ty Tân Á lại bị địch đưa vào danh sách thủ tiêu nên phải rời khỏi thành phố Phnôm Pênh càng nhanh càng tốt. Cùng với các đồng chí Mười, đồng chí Ba Châu, đồng chí Năm Tấn chờ lệnh trên cho phép rời khỏi địa bàn hoạt động với lượng tiền lớn đang mắc kẹt. Nhiệm vụ chuyển số tiền này ra khỏi Công ty Tân Á đưa về căn cứ Khu 9 được Ban Tài chính đặc biệt cùng các đơn vị trên đất Campuchia tổ chức thực hiện: Sáng ngày 11 tháng 4 năm 1970, toàn bộ khối tiền được rời khỏi kho Công ty Tân Á. Đồng chí Tư Cam đã khôn khéo đưa tiền lên hai chiếc xe chở đầy mắm dậy mùi, đã xuyên thủng mạng lưới phong tỏa của địch mà không mất tiền lệ phí. Chiều ngày 11 tháng 4 năm 1970, xe tiền ra khỏi thành phố Phnôm Pênh về tới vị trí tập kết an toàn. Chuyển tiền an toàn, ai cũng nhớ tới công ơn của bà con Việt kiều, của những người Hoa kiều tốt bụng và người dân Campuchia chân thực, cả những người đang đứng trong hàng ngũ địch vẫn đưa đường, che giấu cán bộ ta...


Về chuyến vận chuyển tiền này, đồng chí Năm Tấn đã viết trong hồi ký của mình như sau:

"Khi xe vượt qua trạm gác thứ nhất tại sân bay Pôchentông là lúc trời nắng gắt. Bọn lính đang nghỉ ngơi sau khi ăn trưa. Sáu chiếc thùng phuy đặt dích dắc dọc theo đường. Bọn lính, đứa đứng đứa ngồi, súng dựng tựa bờ rào, không chú ý gì lắm. Tôi liếc nhìn kim đồng hồ tốc độ, thấy chỉ 60km/giờ. Đó là tốc độ khó lạng lách để tránh chướng ngại vật. Xe qua khỏi chiếc thùng phuy thứ hai, bọn lính mới ra hiệu cho xe dừng thì xe đã qua chiếc thùng phuy thứ tư rồi. Đồng hồ tốc độ lúc này đã nhích lên 70km/giờ. Xe qua khỏi sáu chiếc thùng phuy và vọt ra ngoài vùng lính gác. Tôi ngoái lại nhìn phía sau, thấy lính xách súng ra. Xe tăng nhanh tốc độ lên 80,90, rồi 100km/giờ. Bọn chúng bắn theo nhưng đã muộn. Tôi rất hồi hộp, chắc trên xe ai cũng vậy.


Chặng gác thứ hai nằm tại ngã ba Lộ Tẻ. Nếu rẽ tay phải, chạy tới Kam-pốt qua Kông-pông Trach ra bãi biển Kep. Rẽ trái thì đến huyện Tà Ni, Tuk Meas, cũng tới Kông-pông Trach được. Điểm gác thứ hai không có nhà cửa, địch đưa xe nhà binh tới đậu trên lề đường làm trạm. Đoạn đường ở trạm gác này cong nên từ phía xe nhà binh đậu nhìn ngược lại không thấy được xe chúng tôi. Khi xe tới, một tên lính cầm súng nhảy ra đường, định chặn xe lại, trong lúc tốc độ của anh Mười đã là 100km/giờ. Thằng lính phải nhảy lùi lên lề đường như bị xô mạnh. Không biết tụi nó có bắn chác gì không vì xe chạy nhanh quá, không nghe thấy gì hết.


Tới Tuk Meas, nhìn bên lề tay trái có một nhánh cây. Chúng tôi biết là điểm hẹn nên dừng xe lại. Lực lượng anh Sáu Đặc ra đón chúng tôi thật vui và hối thúc chúng tôi đi nhanh rời khỏi chỗ này. Chúng tôi xuống xe, theo anh em vào trong xóm, xa con lộ".

Ban Tài chính đặc biệt ở Tuk Meas, thuộc vùng Đông arn Campuchia. Ngày 3 tháng 5 năm 1970, Ban Kinh tài cử đồng chí Ba Dũng xuống nhận tiền, số tiền lớn, cả tiền Riel và đô la Mỹ được giấu trong một hang núi, ít ai từng bước tới. Giấu tiền xong trong đêm, cán bộ, chiến sĩ trong Ban Kinh tài ra ở nhờ nhà dân gần đó để canh phòng. Anh em lặng lẽ phân công nhau thức, ngăn không cho ai đến gần cửa hang. Để bảo đảm bí mật, che mắt mọi người anh em phải giả là người dân làm rẫy cạnh hang. Rạng sáng ngày hôm sau, lực lượng bảo vệ tiền được phân công: Bộ phận chuyên lo phòng không đề phòng máy bay địch phát hiện đánh phá; bộ phận theo sát hộ tống tiền; bộ phận bám bến sông Long Tiên, nơi có ghe thuyền chực sẵn để đón tiền và lực lượng áp tải. Sau khi xếp xong tiền, xe lập tức nổ máy, chạy ngay trên ruộng khô hãy còn chân rạ, vượt đồng trống giữa ban ngày, thẳng xuống bờ sông Long Tiên. Bộ phận hộ tống, chắc tay súng bám theo xe, quyết tử để bảo vệ tiền. Lực lượng vũ trang miền Tây Nam Bộ của đồng chí Sáu Đặc và đồng chí Bảy Lúa bố trí bảo đảm an toàn đưa tiền qua sông, chuyển tiếp về Ban Kinh tài Trung ương Cục. Chỉ 2 ngày sau, yểm trợ cho chính quyền Lon Non, quân ngụy Sài Gòn mở trận càn lớn, tiến sâu vào đất Campuchia, quét qua vùng Tuk Meas, nơi mà ta vừa giấu tiền.


Sau khi giao tiền xong cho đại diện Ban Kinh tài Trung ương Cục, đồng chí Mười phụ trách một đoàn theo Sư đoàn Bộ binh 1 hành quân ngược từ biên giới lên Đông Nam Campuchia, trong lúc quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn rnở rộng chiến tranh sang Campuchia. Quân ta đi tới đâu đều nhận được sự giúp đỡ của nhân dân Campuchia và cơ sở cách mạng của bạn. Từ Kông-pông Trach, Đoàn xuyên qua Kông-pông Spư, cuối cùng dừng lại phum Hòa Bình dưới chân dãy núi Sre-chen (Tây Nam Campuchia). Cùng thời gian, đồng chí Năm Tấn trở lại hoạt động ở khu vực sông Tiền. Đây là một địa bàn rất cơ động, giáp với Đường số 1, nối liền Gò Dầu (Tây Ninh) với Phnôm Pênh qua phà Niêc Lương và giáp với đường sông nổi Tân Châu (Châu Đốc) với cảng Phnôm Pênh, chảy ngang qua Niêc Lương, cách Phnôm Pênh 60km. Vùng này phần đông dân cư là Việt kiều và Hoa kiều. Nhiệm vụ đầu tiên của đồng chí Năm Tấn là tạo thế đứng công khai và xây dựng đơn vị tài chính mang phiên hiệu là 170.


Tháng 10 năm 1970, đơn vị 170 khôi phục chuyển tiền Sài Gòn và tiền Riel qua hai nước Việt Nam và Campuchia thông qua hệ thống thương nhân Hoa kiều ở Phnôm Pênh và Sài Gòn. Nguồn tiền Sài Gòn và tiền Riel được chế biến tại Phnôm Pênh phải vận chuyển ra khu giải phóng nên khâu đầu tiên là phải đổi thành tiền giấy có giá trị lớn. Sau đó số tiền lớn được ngụy trang, bảo đảm an toàn đưa đến Hố Lương (Campuchia) và Tân Châu (Việt Nam), rồi vận chuyển xuyên qua vùng địch kiểm soát, vùng xen kẽ, tới vùng giải phóng một cách linh hoạt tránh bị địch theo dõi phat hiện. Khi đi bằng đường bộ thì có thể giấu tiền vào hàng thông thường. Trường hợp đi đông người thì chia nhau mang như bạn hàng đi buôn chuyến. Để không bị xét hỏi dọc đường, nhiều lúc ta đi bằng xe quân sự của địch. Khi vào khu phóng, không có đường bộ thì sử dụng ghe, thuyền có ngăn bí mật. Lúc địch kiểm soát gắt gao thì sử dụng thùng đạn đại liên đựng tiền rồi treo dưới sườn ghe, thuyền. Để tránh trường hợp địch dùng đoạn dây kéo từ mũi ghe đến lái, ta đóng thêm miếng cao su dưới lườn ghe, thuyền bọc thùng đạn làm dây kiểm tra khi đi qua cũng không bị vướng, địch không phát hiện được. Nhưng dù thay đổi cách ngụy trang nào, biện pháp bảo đảm an toàn nhất vẫn là tổ chức mạng lưới canh gác báo tin: Phải bố trí người bán thuốc lá, bán cà phê ngồi gác tại các trạm, canh chừng và liên lạc với các ghe lên xuống để nắm chắc thời điểm nào nên chờ hay nên đi, lợi dụng sơ hở của lính gác dọc theo bờ sông để ngăn ngừa được tai nạn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 08:07:59 pm »

Giữa năm 1970, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập hai đoàn hậu cần 500 và 770 với chức năng, tổ chức như các đơn vị hậu cần chiến lược:

Đoàn hậu cần 500 hoạt động vùng Biển Hồ thuộc địa bàn các tỉnh Xiêm Riệp, Bát-tam-bang, Kông-pông Chnăng, Kông-pông Thơm. Ban Chủ nhiệm Đoàn có các đồng chí: Võ Phát (Tư Võ) - Đoàn trưởng, Tư cẩm - Chính ủy, Sáu Hương - Đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Quân số của Đoàn trên 3.000 người, được chia thành bốn cánh hậu cần C52, C54, C56 và C60 làm nhiệm vụ thu mua lương thực thực phẩm trên đất Campuchia cung cấp cho các hướng và các đơn vị chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ. Cơ quan Đoàn bộ đóng tại Bumg Dồn, Bến Kết.


Đoàn hậu cần 770, tổ chức tương đương cấp lữ đoàn, quân số 3.377 người. Đoàn đứng chân trên địa bàn tỉnh Stung Treng, có nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí chi viện của Trung ương chuyển ra chiến trường Tây Nguyên. Để tiếp nhận vũ khí, Đoàn có một tiểu đoàn tiếp nhận đường sông (đóng tại ô Long), một đại đội tiếp nhận đường bộ đóng gần cầu Stung Treng và một xưởng bao gói đạn. Đoàn đứng chân tại Stung Treng, là đầu cầu tiếp nhận sự chi viện của Trung ương cho chiến trường Nam Bộ qua tuyến 559, đồng thời cung cấp lương thực thực phẩm thu mua được ở Campuchia cho chiến trường Nam Tây Nguyên và Đoàn 559. Ban Chủ nhiệm của Đoàn gồm các đồng chí: Trần Minh - Đoàn trưởng, Ba Bao - Chính ủy, Nguyễn Văn Soái - Đoàn phó.


Ở miền Đông Nam Bộ, các đoàn hậu cần 81, 83 và 84 cùng một bộ phận Đoàn hậu cần 82 vẫn bám trụ phục vụ tác chiến. Hậu cần tỉnh Tây Ninh, tỉnh Long An và hai khu Y4, T10, có bộ phận lên biên giới Campuchia - Việt Nam để khai thác thêm lương thực thực phẩm và các mặt hàng khác.


Tuyến vận tải hoạt động dọc theo tuyến sông Mê Kông từ Kông-pông Chàm lên Stung Treng, khi đi trả hàng tại các bên Sơ Lông, Kra-chê, Xăm Bô, Stung Treng, khi về chở hàng chi viện của Trung ương trả tại bến Kra-chê, về sau hàng về nhiều có thêm bến Sơ Lông phục vụ tiếp nhận hàng.


Trước tình hình xe, máy, nguyên vật liệu bị tổn thất do địch đánh phá và lấy đi lên đến 26% (1.416 tấn), Cục Hậu cần Miền chỉ thị cho các đơn vị ngoài việc lấy hàng chôn giấu, phải tìm kiếm vật tư. Các đội xe K1, K2 và Xưởng Z58 sửa chữa được 15 xe, thu thêm ba xe, sáu tấn vật tư phụ tùng ở Nhà máy giấy Sơ Lông và sân bay Kra-chê. Đoàn hậu cần 500, vận động hai thợ Việt kiều và thuê thêm 10 thợ tổ chức đi tháo phụ tùng ở các xe hỏng, lấy phụ tùng xe ở các gara ô tô của sở cao su nên chỉ trong 7 ngày đã khôi phục được 10 xe và trong tháng 7 sửa chữa thêm 12 xe. Ở Mi Mốt, ta thu được 30 tấn vật tư nhưng bị bom đánh hỏng chỉ dùng được 10 tấn, thu ở Bến Kết được 31 tấn vật tư (trong đó, có hai máy kéo, một xe Zeep), Sư đoàn Bộ binh 9 bàn giao 24,9 tấn chiến lợi phẩm. Riêng Xưởng Z1 thu được 65 tấn nguyên liệu và máy móc, Xưởng P42 thu được 60 tấn vật tư. Quy ra tiền số lượng thu được của hai xưởng Z1 và P42 trị giá 9 triệu Riel, ở Đoàn hậu cần 200, chỉ huy Đoàn phải lo chạy gạo từng bữa, nhưng nhờ nhân dân Campuchia giúp đỡ nên không bị đói. Khi Đoàn cho người đi khảo sát quanh căn cứ, phát hiện có nhiều vật tư, máy móc, nhất là ở Trường Đại học Ta-keo - Kam-pốt, có rất nhiều vật tư, máy móc còn mới. Chỉ huy Đoàn đã nhanh chóng tổ chức thu gom đưa vào sử dụng.


Đoàn hậu cần 500 có lực lượng vận tải mạnh. Đội xe V92 của Đoàn hoạt động trên tuyến Kông-pông Thơm đi Bến Kết. Đội máy kéo chở hàng từ Xiêm Riệp ra sông Sên. Đội tàu V96 chờ hàng từ Bát-tam-bang ra Biển Hồ vào sông Chi Nít, rồi chở gạo, vũ khí từ Kông-pông Thơm qua Kông-pông Spư cho Đoàn 367. Đội tàu B97 chở gạo từ Biển Hồ vào sông Sên. Đội xe V94 vận chuyển hàng từ C52 và C54 đến binh trạm của Đoàn 559. Đơn vị xe của hai đoàn hậu cần 82 và 50 hoạt động trên địa bàn phía Đông sông Mê Kông, từ Chúp đi Tà Bao, Đầm Be, Mi Mốt, Sa Lang 3. Đại đội xe của Đoàn 100, hoạt động trên tuyến đường từ Chúp đi Ti-flơn, Svây Riêng làm nhiệm vụ bảo đảm cho các đơn vị hoạt động ở khu vực Prây Veng và Svây Riêng và chuyển hàng về miền Nam.


Từ đầu mùa mưa năm 1970, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ đạo rút một bộ phận lực lượng vũ trang trong chiến trường Nam Bộ sang Campuchia. Trong tình hình mới, Quân ủy Miền quyết định xây dựng các quân khu căn cứ để tạo thế bố trí mới, phù hợp cho lực lượng vũ trang. Hậu cần Miền đã nhanh chóng điều chỉnh tổ chức, bố trí lại các lực lượng hậu cần. Khi đại bộ phận lực lượng chủ lực Miền sang đứng chân chiến đấu ở Campuchia, phần lớn lực lượng hậu cần Miền cũng được chuyển sang hoạt động ở Campuchia; chỉ để lại một số căn cứ và bộ phận lực lượng hậu cần bám trụ ở các địa bàn trọng yếu ở miền Nam. Trên đất Campuchia, dựa vào lực lượng các đoàn hậu cần khu vực và các đơn vị biên phòng, đường dây, đoàn an dưỡng... Bộ Tư lệnh Miền tổ chức năm khu căn cứ hậu phương, gồm cả lực lượng chiến đấu và lực lượng hậu cần, được gọi là "Quân khu căn cứ".


Quân khu căn cứ C10 gồm hai đoàn hậu cần 86 và 70, đơn vị 90 đường dây đứng trên địa bàn hai tỉnh Kra-chê và Môn-đôn-ki-ri. Quân khu căn cứ C20 gồm hai đoàn hậu cần 82 và 50, bộ đội biên phòng, bộ đội đường dây trụ trên địa kàn phía đông tỉnh Kông-pông Chàm. Quân khu căn cứ 30 gồm Đoàn 100 cùng một bộ phận Đoàn hậu cần 82, bộ đội biên phòng, bộ đội đường dây đứng trên địa bàn phía đông hai tỉnh Svây Riêng và Prây Veng. Quân khu căn cứ C40 gồm các trung đoàn độc lập của Bộ Tư lệnh Miền cùng bộ phận hậu cần nằm trên địa bàn các tỉnh ven Biển Hồ. Quân khu Phước Long gồm Đoàn hậu cần 200, Sư đoàn Bộ binh 1 nằm trên địa bàn ba tỉnh Ta-keo, Kam-pốt, Kông-pông spư. Tháng 7 năm 1970, căn cứ các quân khu cơ bản bố trí xong. Các quân khu căn cứ và ba đoàn hậu cần khu vực 770, 340, 500 có nhiệm vụ cùng với Campuchia xây dựng và bảo vệ địa bàn, đồng thời làm chức năng của đoàn hậu cần khu vực. Các quân khu căn cứ và đoàn hậu cần khu vực triển khai trên khắp các vùng giải phóng Campuchia, liên hoàn với nhau bằng hệ thống các đường vận chuyển dọc và ngang, đường thủy (sông Mê Kông) và đường bộ, vươn ra nối liền với tuyến vận tải chiến lược 559 và phát triển về sát biên giới Campuchia - Việt Nam sẵn sàng vươn sâu về miền Nam Việt Nam.


Các quân khu căn cứ và đoàn hậu cần khu vực của Miền đều tổ chức khai thác thu mua lương thực thực phẩm trong nhân dân ở các vùng giải phóng của Campuchia, tập trung nhất ở khu vực xung quanh Biển Hồ, tạo ra lượng dự trữ lớn, đủ bảo đảm cho trước mắt và chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo của chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ; đồng thời, chi viện một phần cho chiến trường Tây Nguyên và tuyến 559. Với những biện pháp khôn khéo, táo bạo đã thu mua được từ vùng địch chiếm (chủ yếu từ Phnôm Pênh) xăng dầu, trang thiết bị, hàng công nghệ, hàng quân trang, quân dụng, thuốc quân y... để bảo đảm cho lực lượng tác chiến.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM