Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:27:45 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020  (Đọc 3444 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #10 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:16:30 pm »

2. Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh (1945 - 1947)

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng mới được thành lập đã phải đương đầu với vô vàn khó khăn, thử thách, nạn "giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm" hoành hành, đặt tình thế cách mạng như "ngàn cân treo sợi tóc". Nhiệm vụ cấp bách, trước mắt của cách mạng Việt Nam là phải đưa đất nước vượt qua tình thế hiểm nghèo, không chỉ cứu đói cho nhân dân, vượt qua tình trạng kiệt quệ của nền kinh tế do chính sách áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân đế quốc gây ra và xóa bỏ nạn "giặc dốt" làm cho 95% nhân dân không biết chữ, mà nguy hiểm hơn là phải chống "thù trong, giặc ngoài" đang điên cuồng chống phá chính quyền non trẻ, xóa bỏ thành quả Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.


Đầu tháng 9 năm 1945, ở Hà Nội, trong đó có địa bàn Ba Đình, quân đội Trung Hoa dân quốc với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân Nhật đã kéo vào đóng ở nhiều vị trí quan trọng. Theo chân chúng là bè lũ tay sai, phản động như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh cầm đầu, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần cầm đầu với âm mưu chống lại cách mạng và xóa bỏ chính quyền nhân dân, trước hết là cơ quan đầu não của Chính phủ ta ở Hà Nội. Chúng không ngừng xuyên tạc chủ trương, đường lối của Việt Minh, kích động nhân dân chống chính quyền. Bọn thực dân Pháp ở Hà Nội cũng tìm cách ngóc đầu dậy chống phá cách mạng. Tất cà bọn chúng cấu kết với nhau tìm mọi thủ đoạn nhằm bóp chết chính quyền non trẻ của nhân dân. Trong khi nhân dân đó Ba Đình còn đang khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh và chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp - phát xít Nhật để lại, như nạn đói, nạn dốt, tài chính kiệt quệ. Vì vậy, nhiện vụ cấp bách của toàn thể nhân dân Ba Đình cũng như cả nước là phải ra sức thực hiện những nhiệm vụ cấp bách, trước mắt mà bản Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc (25.11.1945) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định, trong đó tập trung trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường lực lượng để sẵn sàng đối phó với chiến tranh xâm lược.


Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, chính quyền cách mạng ở Ba Đình đã chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh, mở rộng các tổ chức cứu quốc làm cơ sở để xây dựng các lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân.


Để tạo thêm sức mạnh và chỗ dựa cho chính quyền địa phương mới thành lập, các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, Phụ lão, Nhi đồng cứu quốc ở Ba Đình được phát triển rộng khắp, từ ngoại thành đến các phố phường và công sở. Hoạt động của các tổ chức cứu quốc đã lôi cuốn được đông đảo đồng bào tham gia, trong đó có cả các sư sãi, linh mục. Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc ngày càng rộng rãi, các tổ chức tự vệ lần lượt được xây dựng và phát triển nhanh chóng.


Đảng bộ Ba Đình đã lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng, phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang, như tổ chức xây dựng, phát triển các đội tự vệ của các khu phố, nhà máy, các đội dân quân du kích ở vùng ven nội. Thành phần tổ chức của các đội Tự vệ chiến đấu, các đội dân quân du kích là những nam nữ thanh niên hăng hái được lựa chọn từ trong các tổ chức cứu quốc và trở thành lực lượng trung kiên để bảo vệ chính quyền, giữ gìn trật tự xã hội mới. Từ lực lượng Tự vệ chiến đấu, dân quân du kích đã hình thành nên những đơn vị tự vệ tập trung trong các nhà máy, xí nghiệp, như tự vệ Nhà máy nước, tự vệ Nhà máy điện Yên Phụ... tự vệ trong các công sở, khu phố, các đội dân quân du kích trong các làng mạc vùng ven nội. Các đại đội Tự vệ chiến đấu tập trung ra đời, như Đại đội Lam Sơn của khu Ngọc Hà, Đại đội Phan Tống của khu Phan Tống, Đại đội Ngô Quyền khu Trúc Bạch, v.v..


Các khu Trúc Bạch, Thăng Long, ta đều xây dựng được lực lượng Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu để chốt giữ ở các vị trí quan trọng, làm nòng cốt bảo vệ Đảng, chính quyền, đồng thời huấn luyện cho tự vệ ở các khu phố. Ban Chỉ huy Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu cử Trung đội Tô Hiệu, do đồng chí Vị Hải làm Trung đội trưởng, lên trấn giữ vùng Tây Bắc thành phố (tương ứng với địa bàn Phúc Xá, Trúc Bạch, Quán Thánh, Yên Phụ ngày nay). Ở khu Đại La, đồng chí Công Nhân - Ủy viên Ủy ban hành chính trực tiếp tổ chức huấn luyện cho các trung đội tự vệ ở Cầu Giấy, Thủ Lệ, Cống Vị, Vạn Phúc... về trang bị đa số các đội viên tự vệ tự trang bị, mua sắm vũ khí cho mình, vừa bảo vệ trật tự trị an khu phố, làng xã, vừa chuẩn bị kháng chiến.


Đến cuối năm 1946, trên địa bàn Ba Đình có các lực lượng vũ trang của Ba Đình, của Chiến khu XI, của Mặt trận Hà Nội, như các tiểu đoàn, đại đội của Trung đoàn Thủ đô, các lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ thành Hoàng Diệu, các đội cảm tử, các tổ du kích đặc biệt. Đây là lực lượng vũ trang nòng cốt để nhân dân Ba Đình xây dựng và đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ thành quả cách mạng và chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Sau khi giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiệm vụ cấp bách của Đảng, chính quyền, đoàn thể cứu quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân là động viên nhân dân thực hiện thắng lợi ba cuộc vận động lớn: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" đem lại kết quả thiết thực, nâng cao uy tín của chính quyền nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng, gắn bó cách mạng, làm chỗ dựa cho chính quyền chống lại thù trong, giặc ngoài.


Trên địa bàn Ba Đình, quân Nhật bại trận vẫn đóng tại các vị trí chờ quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí. Bộ Chỉ huy quân Nhật vẫn đứng ở Phủ Toàn quyền, sau lại bàn giao cho quân Tưởng và tướng Lư Hán đóng ở đây. Quân Tưởng còn đóng ở nhiều nơi, lập các trại gác, điếm canh ở các ngả đường Hàng Đậu, bờ sông. Trong thành có khoảng 5.000 lính Pháp bị quân Nhật giam giữ đang tìm cách liên lạc với bên ngoài, gặp gỡ đám kiều dân Pháp vốn là chủ tư bản, viên chức còn cư trú ở các phố Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, chuẩn bị kế hoạch đánh ta. Theo chân bọn lính Tưởng là bọn tay sai mang danh "Cách mạng đồng minh", "Quốc dân Đảng", chúng chiếm nhà, lập trụ sở ở 80 Quán Thánh, tự đặt ra cái gọi là "khu tự trị" ở Ngũ Xã. Chúng ra báo Việt Nam, bắc loa phát thanh tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Chính phủ, kích động nhân dân chống lại cách mạng.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Ba Đình đã hiểu rõ chủ trương của ta về tạm hòa hoãn có nguyên tắc với Tưởng để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp, giữ vững chính quyền cách mạng. Nhân dân và lực lượng vũ trang Ba Đình đã bình tĩnh, khôn khéo đấu tranh, không mắc mưu khiêu khích của bọn tay sai, tránh xung đột vũ trang, để bọn Tưởng không có cớ đánh ta. Các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình cũng kiên quyết đối phó với các hoạt động chống phá cách mạng của bọn Tường và tay sai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #11 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:23:09 pm »

Tháng 9 năm 1945, các tầng lớp nhân dân Ba Đình đã hăng hái cùng đồng bào Thủ đô đóng góp vào "Quỹ độc lập", "Tuần lễ vàng", "Quỹ đảm phụ quốc phòng" góp phần giải quyết khó khăn tài chính quốc gia. Tiêu biểu cho tầng lớp trên là bà Vương Thị Lai, một thương gia ở Ba Đình đã hiến 109 lạng vàng, đứng đầu toàn miền Bắc, đến những đồng bào nghèo, từ lâu dành dụm được chút ít vàng làm vốn liếng cũng đem hiến dâng cho Nhà nước.


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ. Chính quyền nhân dân các cấp ở Ba Đình đã phát động nhân dân chuẩn bị kháng chiến, ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Phong trào này đã lan tỏa khắp các nhà máy, công sở, đường phố và khu ven nội. Công nhân Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ đã góp tiền mua sắm vũ khí chuyển vào mặt trận Nam Bộ được 676.000 đồng. Chị em phụ nữ Ngọc Hà đan áo gửi tặng chiến sĩ, làm ca dao cổ động chồng con hăng hái gia nhập đội quân Nam tiến, lên đường giết giặc. Hội Công nhân cứu quốc đã động viên hàng trăm người gia nhập đội quân Nam tiến, vận chuyển súng đạn cho chiến trường. Nhiều gia đình ở Ba Đình có tới ba con tòng quân trong dịp này.


Đến cuối tháng 10 năm 1945, ta đã thành lập được Ban Đại diện các phố, Ban Đại diện các công sở, nhà máy ở nội thành và Ủy ban nhân dân ở các làng như Giảng Võ, Trích Sài, Thủ Lệ, Cầu Giấy, Cống Vị... Ở một số khu vực có khó khăn rất lớn là có quân đội ngước ngoài và bọn tay sai chiếm giữ, như trong thành, Phủ Toàn quyền, Ngũ Xã, Quán Thánh... nhưng hệ thống tổ chức chính quyền ở các nơi đó vẫn được xây dựng và phát huy được hiệu lực. Thành phần trong Ủy ban nhân dân, trong Ban Đại diện khu phố, nhà máy, công sở là những đại biểu tiêu biểu của công nhân, trí thức, tiểu tư sản, thể hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta. Lực lượng nòng cốt bảo vệ hệ thống chính quyền và các đoàn thể cứu quốc là các lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang, dân quân du kích ở các cơ sở.


Ngày 12 tháng 11 năm 1945, bọn Nguyễn Hải Thần định tổ chức mít tinh lớn ở vườn Bách Thảo (phía dốc Ngọc Hà) nhằm công kích Mặt trận Việt Minh và kích động quàn chúng. Thành ủy đã chỉ đạo phá cuộc mít tinh này. Bọn lưu manh, phản động bắn chết 1 đồng chí của ta, lập tức đồng bào khu Ngọc Hà và vùng lân cận đã kéo đến, có đội tự vệ vũ trang cải trang dân thường làm lực lượng nòng cốt, mọi người ào ào xông đến đấu tranh. Trước sức mạnh của đông đảo quần chúng, bọn tay sai Tưởng đã vội vã vút cờ, biểu ngữ chạy tháo thân.


Với niềm tin vững chắc vào chế độ mới, ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân Ba Đình đã nhiệt liệt tham gia Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Những ngày chuẩn bị và ngày Tổng tuyển cử, cả Ba Đình nào nức như ngày hội lớn. Băng, cờ, biểu ngữ được căng, dán khắp các ngả đường. Những cổng chào treo đèn kết hoa, những cột cờ cao đẹp được dựng lên. Tiếng loa, tiếng trống ếch cổ động cho ngày bầu cử vang lên khắp nơi. Nhân dân các vùng Bưởi, Trích Sài, Giảng Võ, bờ sông Hồng đã tổ chức liên tiếp những đêm rước đèn có hàng nghìn người tham gia, làm sôi động cả một vùng quê, xóm chợ vốn lặng lẽ. Các đoàn thể cứu quốc, các lực lượng tự vệ, đã ngày đêm tuần tra, canh gác, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ thành công cho các đơn vị bầu cử trong địa bàn Ba Đình.


Trong không khí sôi nổi ngày hội bầu cử, bọn phản động Quốc dân Đảng đã tìm mọi cách phá hoại cuộc Tổng tuyển cử. Ở Ngũ Xã, nơi chúng tự tiện lập ra "khu tự trị", chúng dùng vũ khí đe dọa không cho đồng bào đi bầu cử, nhưng nhân dân đã sang phố Nguyễn Thái Học (nay là phố Phó Đức Chính) bỏ phiếu. Bất chấp mọi mưu toan phá hoại của bọn phản động, nhân dân và các lực lượng vũ trang Ba Đình đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử thành công tốt đẹp. Nhân dân và các lực lượng vũ trang Ba Đình đã đóng góp sức người, sức của chống thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ, củng cố, giữ vững chính quyền cách mạng.


Sáng ngày 20 tháng 2 năm 1946, bọn Quốc dân Đảng tập hợp một nhóm côn đồ lưu manh và một số người do chúng thuê ở đường Quán Thánh kéo nhau đi biểu tình. Chúng hò hét những khẩu hiệu sặc mùi phản động và bịp bợm. Khi bọn này kéo về phía Bờ Hồ thì quần chúng ở hai bên đường phố đã dồn lại biến thành một cuộc biểu tình phản đối bọn chúng; biểu thị sự ủng hộ Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lại một lần nữa, bọn tay sai của Tưởng phải chạy trốn, bỏ lại cờ và biểu ngữ.


Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định Sơ bộ được ký kết giữa Chính phủ ta và Pháp. Nhân dân Ba Đình đã tích cực thực hiện nhiệm vụ mới mà các cấp chính quyền đề ra. Đó là đấu tranh đòi Pháp phải nghiêm chỉnh thi hành các điều khoản đã ký kết, làm hậu thuẫn cho đấu tranh ngoại giao của Chính phủ, đồng thời cảnh giác đấu tranh chống lại các thủ đoạn lấn dần của thực dân Pháp; khẩn trương và thiết thực chuẩn bị lực lượng và thế trận cho kháng chiến lâu dài. Cuộc đấu tranh chính trị đã được đẩy mạnh với nhiều hình thức linh hoạt, thích hợp để chống thực dân Pháp, bảo vệ thành quả cách mạng, chủ quyền đất nước.


Theo Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp (6.3.1946), ngày 18 tháng 3 năm 1946, quân đội Pháp được phép vào Hà Nội. Trên những con đường, tuyến phố chúng đi qua, đồng bào đã đóng cửa kín để tỏ rõ sự bất hợp tác. Ngày 29 tháng 3, nhân dân Ba Đình cùng cả Hà Nội bãi thị, bãi công, bãi khóa phản đối quân Pháp chiếm đóng Phủ Toàn quyền cũ và chiếm đóng trái phép một số nơi khác. Ngày 31 tháng 5, nhân dân Hà Nội tham gia cuộc mít tinh lớn, trọng thể tại Việt Nam học xá (nay là Đại học Bách Khoa) tiễn đoàn Chính phủ ta sang Pháp để tiếp tục đàm phán.


Cũng theo Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp, thực dân Pháp chỉ được đưa 15.000 quân ra Bắc vĩ tuyến 16 (trong đó có 5.000 quân đóng ở Hà Nội), song chúng đã không thực hiện nghiêm chỉnh. Đến trước tháng 12 năm 1946, số quân Pháp ở Bắc vĩ tuyến 16 đã lên đến 30.000 tên. Riêng Hà Nội số quân Pháp lên tới 6.500 tên, gồm các đơn vị: Trung đoàn bộ binh thuộc địa 6 (6e RIC) thiếu 1 tiểu đoàn, Binh đoàn Mátxuy thuộc Sư đoàn thiết giáp 2 (2DB), 1 tiểu đoàn của Trung đoàn pháo binh thuộc địa Marốc số 4 (4e RACM), 1 phân đội biệt kích, 1 phân đội dù, 1 đơn vị không quân, 1 đơn vị thủy quân. Ngoài ra, Bộ Tư lệnh Sư đoàn bộ binh thuộc địa 9 (9 DIC) với tất cả các đơn vị trực thuộc, được đổi tên thành Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương, do Trung tướng Moóclie đứng đầu cũng đóng ở Hà Nội. Vũ khí quân Pháp có 5.000 súng trường, 600 tiểu liên, 150 trung liên và đại liên, 42 khẩu pháo, 22 xe tăng, 40 thiết giáp, 30 máy bay và một số tàu chiến trên sông. Đó đều là những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất đã được sử dụng trong đại chiến thế giới lần thứ hai.


Như vậy, so với các nơi khác, ở Hà Nội, quân Pháp bố trí lực lượng đông nhất, ở Hải Phòng, quân Pháp cũng có 1 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn chiến xa, 1 bộ phận không quân, 1 bộ phận hải quân, nhưng phạm vi địch đóng khá rộng, ở Hải Dương, Nam Định, Huế, mỗi nơi quân Pháp chỉ có 1 tiểu đoàn. Ở Bắc Giang và Bắc Ninh quân Pháp có 1 tiểu đoàn. Ở Đà Nẵng quân Pháp có 2 tiểu đoàn và ở Vinh quân Pháp có 1 trung đội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #12 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:24:13 pm »

Với lực lượng ở Hà Nội, quân Pháp rải đóng thành 54 vị trí xen kẽ với ta trong thành phố, trong đó có 6 nơi chúng tập trung lực lượng khá lớn: Thành 1.200 tên, Phủ Toàn quyền 500 tên, Trường Bưởi 250 tên, khu Đồn Thủy 800 tên, sân bay Gia Lâm 1.800 tên. Trường Anbe Xarô và sân bay Gia Lâm, địch bố trí 2 trận địa pháo có thể bắn vào mục tiêu trong thành phố. Xe tăng, xe thiết giáp tập trung chủ yếu ở trong thành. Bộ Chỉ huy quân viễn chinh miền Bắc cũng đóng ở trong thành.


Do làm nhiệm vụ tiếp phòng thay quân Tưởng, quân Pháp đã chiếm được những vị trí quân sự có lợi nhất, đặc biệt là khu vực Tây Bắc, Đồn Thủy, Gia Lâm. Ở những vị trí khác, địch có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội, trong đó có một số nơi chúng gác chung với ta như nhà Ngân hàng, nhà ga, Sở liên kiểm Việt Pháp, Nhà máy điện, Nhà máy nước, Nhà đèn Bờ Hồ, cầu Long Biên, Nhà in Viễn Đông, Nhà Thương chính. Đáng chú ý là khách sạn Mêtơrôpôn (cách Bắc Bộ Phủ và Bộ Nội vụ một con đường) địch đưa khoảng 200 tên có vũ khí hóa trang thành thường dân đến ém sẵn. Ở rạp Magiéttíc trước trại Vệ quốc đoàn Trung ương, địch cũng có khoảng 1 tiểu đội hỏa trang ém sẵn.


Nhiều gia đình trong số 7.000 Pháp kiều cũng được trang bị vũ khí và được tổ chức thành hàng trăm ổ chiến đấu độc lập rải ra các khu phố Tây và ở cả khu phố ta. Mỗi ổ thường có một vài sĩ quan Pháp, một vài tên commăngđô mũ đỏ trang bị đầy đủ súng máy, tiểu liên, súng ngắn, nhiều đạn dược và đầy đủ lương thực, thực phẩm để đánh nhiều ngày.


Ngoài ra, địch còn dùng nhiều ổ người Hoa, ngoài cửa treo quốc kỳ Trung Hoa dân quốc nhưng cũng được trang bị vũ khí để chống lại quân ta. Lực lượng chống phá còn có bọn Việt gian, tay sai, gián điệp khá đông đảo.

Từ đầu tháng 12 năm 1946, Đácgiăngliơ - Cao ủy Pháp ở Đông Dương tuyên bố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Năng là lãnh thổ của nước Pháp. Ngày 16 tháng 12 năm 1946, Valuy - Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương họp cùng Moóclie - Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương để thông qua kế hoạch đánh chiếm Hà Nội.


Quân Pháp vào Hà Nội, chúng tìm cách móc nối với bọn tay sai cũ và những tên tay sai còn lại của quân Tưởng, như bọn Việt Quốc, Việt Cách... chống phá ta. Chúng dự định tổ chức 1 cuộc biểu tình, khiêu khích ta vào ngày 14 tháng 7 nhằm tạo cớ cho quân Pháp đánh ta. Được nhân dân giúp đỡ, các lực lượng tự vệ, công an đã phát hiện được âm mưu đen tối và cực kỳ nguy hiểm của chúng, do đó, khi quân Pháp chưa kịp hành động thì ngày 12 tháng 7, lực lượng tự vệ, công an đã tấn công vào trụ sở của bọn Việt Quốc, Việt Cách ở đường Quán Thánh và các nơi khác, bắt toàn bộ bọn đầu sỏ, tay sai của Pháp. Những địa điểm của chúng ở Cửa Bắc, Hàng Than, Hàng Bún, Đội Cấn cũng lần lượt bị khám xét. Với cuộc tiến công vào hang ổ của bọn phản quốc này, bộ mặt phản dân hại nước của chúng bị phơi bày trước nhân dân, chúng bị pháp luật trừng trị đích đáng.


Trong tình hình thành phố đang ngày càng căng thẳng. Tháng 5 năm 1946, Đảng chỉ đạo thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) nhằm mở rộng tập hợp các tầng lớp, nhân sĩ có tinh thần dân tộc còn đứng ngoài Mặt trận Việt Minh vào Hội Liên Việt để tăng cường lực lượng khối đại đoàn két toàn dân. Do đó càng làm cho các đoàn thể quần chúng được củng cố, phát triển rộng rãi, tăng cường lực lượng và nền tảng cho xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang.


Từ tháng 5 năm 1946, chính quyền thành phố Hà Nội quyết định chia khu phố của nội thành (theo địa giới hành chính cũ trước Cách mạng Tháng Tám) thành 17 khu phố1 (17 khu phố gồm: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bẩy Mầu, Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái, Bạch Mai. Ngoại thành chia thành 5 khu: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh), trong đó địa bàn Ba Đình ngày nay tương đương với với khu phố Trúc Bạch, Văn Miếu, Hồng Hà của nội thành và một phần khu Đại La và Lãng Bạc của ngoại thành. Ngày 30 tháng 6 năm 1946, nhân dân các khu phố và các làng xã nô nức đi bầu Ủy ban hành chính.


Được biết thực dân Pháp ngày càng tỏ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam, ngày 23 tháng 6 năm 1946 nông dân vùng Yên Phụ, bờ sông Hồng đã gửi quyết nghị lên Chính phủ, tỏ rõ quyết tâm "Ủng hộ kháng chiến do Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo", "Chờ lệnh Chính phủ để xông ra giết giặc, hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ đất nước".


Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc nhận định, không sớm thì muộn thực dân Pháp sẽ chiếm toàn bộ đất nước ta, chúng ta nhất định phải tiến hành kháng chiến. Hội nghị đề ra nhiệm vụ, kế hoạch cho cả nước gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Ngay sau đó, Trung ương Đảng chia cả nước thành 12 chiến khu. Hà Nội là Chiến khu 11 đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng. Đồng chí Nguyễn Văn Trân được chỉ định làm Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Khu 11, đồng chí Lê Quang Đạo làm Phó Bí thư, đồng chí Vương Thừa Vũ được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận Khu 11. Mục tiêu của cuộc kháng chiến ở Hà Nội được Bộ Tổng chỉ huy xác định: Hà Nội cần giam chân quân địch ít nhất 1 tháng, tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh.


Để thực hiện mục tiêu của cuộc kháng chiến ở Hà Nội, Ban Chỉ huy Mặt trận Khu 11 đề ra kế hoạch tác chiến "trong đánh ra, ngoài đánh vào", giam chân và tiêu hao sinh lực địch trong thành phố. Nội thành chia thành 3 liên khu. Căn cứ vào địa hình, mỗi liên khu có nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến cụ thể, nhưng vẫn phối hợp chặt chẽ với nhau dưới sự chỉ đạo thống nhất của Khu ủy và Ban Chỉ huy Mặt trận Khu 11. Theo sự phân chia đó, trên địa bàn Ba Đình do một phần Liên khu 1 đàm nhiệm (Hồng Hà, Trúc Bạch); một phần do Liên khu 3 đảm nhiệm (Văn Miếu). Khu ven nội vẫn giữ nguyên như trước (trong đó có Cầu Giấy, Thủ Lệ, Cống Vị, Vạn Phúc). Mỗi Liên khu có Đảng ủy Liên khu, Ủy ban Bảo vệ, Ban Tác chiến trực thuộc thẳng Khu 11. Ở Liên khu 1, đồng chí Nguyễn Hữu Mai làm Bí thư, đồng chí Lê Trung Toàn làm Phó Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ. Ở Liên khu 3, đồng chí Đỗ Trình làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ. Như vậy, địa bàn kháng chiến ở Ba Đình do một phần do Liên khu I và Liên khu 3 đảm nhiệm, cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình chiến đấu dưới sự lãnh đạo, điều hành trực tiếp của Thành ủy Hà Nội, Đảng ủy Khu 11, Mặt trận Hà Nội và Liên khu 1, Liên khu 3.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #13 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:25:16 pm »

Nhân dân Ba Đình đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đối phó với chiến tranh bùng nổ do thực dân Pháp gây ra. Các đội tự vệ của khu phố, nhà máy, xí nghiệp, các đội dân quân du kích ở vùng ven nội được tăng cường về số lượng và trang bị thêm vũ khí, sắp xếp lại tổ chức. Nhân dân Ba Đình đã góp phần cùng nhân dân Thủ đô thực hiện cuộc "Tổng di chuyển" các cơ quan, xí nghiệp và kho tàng của Nhà nước ra khỏi Hà Nội. Lực lượng vũ trang trên địa bàn Ba Đình, các nhà máy, xí nghiệp, khu phố, làng xã làm nhiệm vụ giữa gìn an ninh trật tự, bảo vệ an toàn cho cuộc "Tổng di chuyển". Công nhân các nhà máy như Nhà máy điện, Nhà máy nước, Nhà máy in... đã tham gia vận chuyển máy móc lên chiến khu để xây dựng cơ sở thiết yếu phục vụ quốc phòng và đời sống nhân dân trong kháng chiến. Các cụ già, em nhỏ được đưa đi tản cư về các vùng cách xa Hà Nội. Phụ nữ cứu quốc xung phong vào các đội cứu thương, bảo vệ, tiếp tế. Khắp các phố, những con đường bí mật xuyên qua các bức tường trong nhà để bộ đội, tự vệ di chuyển khi chiến đấu đã được hình thành. Các làng ở ven nội đã chuẩn bị kế hoạch làm "vườn không nhà trống", sẵn sàng "tiêu thổ kháng chiến". Nhân dân cùng các lực lượng vũ trang đào thêm hầm hố, đắp thêm chiến lũy chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.


Trong thời kỳ chuẩn bị kháng chiến, đi đôi với việc làm kế hoạch tác chiến, Hà Nội nói chung và Ba Đình nói riêng đã sớm triển khai nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kháng chiến.

Trước khi kháng chiến bùng nổ, toàn bộ các cơ quan Đảng, quân, dân, chính của Trung ương và của Hà Nội đóng trên địa bàn Ba Đình đã đều bí mật đi chuyển đến các ATK (An toàn khu). Những cơ quan không liên quan đến chỉ đạo kháng chiến ở Hà Nội thì chuyển lên Bắc Kạn, Tuyên Quang.


Quân địch đã tìm mọi cách phát hiện cơ quan đầu não của ta để oanh tạc hoặc đem quân tiến công. Nhưng dựa vào dân, ta đã bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não, nên duy trì được sự lãnh đạo, chỉ huy liên tục, kịp thời.

Các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình đã cùng Hà Nội góp phần quan trọng bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, tuy việc này chủ yếu do Bộ và Trung ương đảm nhiệm.

Nhiệm vụ động viên các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình sẵn sàng tham gia kháng chiến được Thành ủy Hà Nội, Đảng ủy Liên khu 1, Liên khu 3, Khu Đại La và cấp ủy các chi bộ lãnh đạo chặt chẽ. Ta đã rất coi trọng động viên tinh thần yêu nước, vạch mặt âm mưu và hành động xâm lược của kẻ thù, giáo dục ý thức quốc phòng, tinh thần cách mạng cho các lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình.


Trước những hành động khiêu khích ngày càng trắng trợn của thực dân Pháp, quân và dân Ba Đình sục sôi căm thù. Nhưng để kéo dài thời gian hòa hoãn, tránh manh động để có thêm thời gian chuẩn bị được tốt hơn, Thành ủy đã chỉ đạo nhân dân phải bình tĩnh, phải nín nhịn chờ lệnh Chính phủ.


Để kháng chiến được lâu dài ở Hà Nội, ta phải chuẩn bị thực lực mọi mặt cho kháng chiến, từ kế hoạch tác chiến đến xây dựng và bố trí lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang.

Lực lượng vũ trang bảo vệ Thủ đô gồm cả bộ đội chủ lực, Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ thành, Công an xung phong, các đội cảm tử đánh tăng, các tổ du kích đặc biệt, dặt dưới sự lãnh đạo của Khu ủy 11, làm nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài.


Lực lượng chủ lực bao gồm 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn bộ binh (các tiểu đoàn 101, 77, 212, 145, 523), 1 đại đội cảnh vệ, 4 trung đội pháo cao xạ ở các pháo đài Láng, Xuân Canh, Thổ Khối, Xuân Tảo. Tổng quân số là 2.516 người, được trang bị 1.516 súng trường, 3 trung liên, 1 đại liên, 1 badôca 60mm, 1.000 lựu đạn, 80 bom ba càng, 200 chai xăng cơrết, 7 khẩu pháo cao xạ, 1 khẩu sơn pháo 75mm, 2 khẩu cối 60mm. Như vậy, lực lượng Vệ quốc đoàn rất ít, trang bị lại rất kém so với nhiệm vụ nặng nề bảo vệ Hà Nội.


Lực lượng tư vệ cho đến ngày sắp nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc đều đã được củng cố về tổ chức và được nâng cao trình độ chính trị, quân sự. Khi được thống nhất thành một tổ chức chung lấy tên là Đoàn Thanh niên tự vệ Hà Nội, quân số Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu có khoảng 300 người, được trang bị khá đầy đủ bằng súng trường. Tự vệ thành Hoàng Diệu có khoảng 8.500 người.


Ở các xí nghiệp như Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà máy đèn Bờ Hồ, Xưởng sửa chữa xe lửa Gia Lâm, các xưởng Aviat, Boillot, Sở xe điện, ga Hàng Cỏ... mỗi nơi có khoảng 1 trung đội đến 1 đại đội tự vệ xí nghiệp.

Tự vệ chiến đấu ở ngoại thành có khoảng 2 vạn người. Toàn bộ vũ khí của các lực lượng tự vệ có khoảng 500 - 600 súng trường, 2 trung liên, một số súng ngắn, một số mìn, lựu đạn, còn lại toàn là giáo mác, kiếm, dao găm. Chiến khu 11 còn tổ chức 13 đội quyết tử đánh xe tăng và 36 tổ du kích đặc biệt. Khi kháng chiến bùng nổ, các đội này sẽ được phân công về các khu vực trong thành phố.


Từ tháng 11 năm 1946, khi Thường vụ Trung ương Đảng quyết định giao cho Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy nắm quyền chỉ huy cả Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ thì Bộ Chỉ huy Khu 11 cũng nắm quyền chỉ huy cả Vệ quốc quân và dân quân tự vệ tại Thủ đô. Trước khi nổ súng mấy ngày, theo chỉ thị của Bộ, Trung đoàn 13 Hà Đông đưa 2 đại đội của Tiểu đoàn 56 vào tăng cường cho Hà Nội. Bộ Chỉ huy Hà Nội đã xếp vào biên chế của Tiểu đoàn 77 và Tiểu đoàn 523, mỗi đơn vị 1 đại đội.


Về đào tạo cán bộ cho lực lượng vũ trang, Bộ Chỉ huy Khu tổ chức Trường Quân sự để huấn luyện cán bộ cho các đơn vị. Bộ Chỉ huy Khu còn ra báo Quân giải phóng, sau là báo Chiến thắng, để tuyên truyền giáo dục bộ đội, dân quân tự vệ và phát hành rộng rãi trong nhân dân.


Để quân dân Hà Nội hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, giam chân địch trong một thời gian, nhiệm vụ trước mắt và là công việc đầu tiên cấp bách đối với Khu ủy, Bộ Chỉ huy Chiến khu 111 (Chuẩn bị bước vào chiến tranh, do Khu 11 chỉ có thành phố Hà Nội nên nhiều lúc cũng được gọi là Mặt trận Hà Nội; Bộ Chỉ huy Khu 11 là Bộ Chỉ huy Mặt trận Hà Nội) là phải xây dựng một kế hoạch tác chiến phù hợp với địa lý quân sự, quy mô cuộc chiến tại địa bàn Hà Nội.


Kế hoạch tác chiến của Hà Nội trong những ngày đầu chiến tranh lại liên quan mật thiết đến kế hoạch tác chiến của Bộ Tông Tham mưu. Bộ Tổng chỉ huy xây dựng kế hoạch tác chiến trên quy mô cả nước, trong đó có Mặt trận Hà Nội được coi là chiến trường chính trong trận tổng giao chiến đầu tiên. Bộ Tổng chỉ huy hạ quyết tâm: "Chiến khu Hà Nội không để bị rơi vào thế bất ngờ, nếu địch đánh trước, ta có thể quật lại ngay. Trận đánh ở Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước. Hà Nội cần giam chân địch một thời gian càng lâu càng tốt tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #14 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:26:01 pm »

Qua nhiều lần thảo luận, điều chỉnh, ngày 14 tháng 12 năm 1946, kế hoạch tác chiến của Bộ Chỉ huy Chiến khu 11 được thông qua lần cuối. Trong kế hoạch, ta phán đoán địch sẽ đem quân từ Cửa Bắc của thành tiến theo đường Phan Đình Phùng, Hàng Đậu ra chiếm cầu Long Biên, đồng thời với quân từ Gia Lâm đánh sang nhằm làm chủ con đường huyết mạch này. Địch cũng từ Cửa Nam của Hà Nội theo đường Cột Cờ, Tràng Thi, Tràng Tiền và từ Đồn Thủy theo đường Lê Thánh Tông lên cùng với cánh quân Cửa Nam đánh ra, đánh chiếm khu Bắc Bộ phủ, Toà Thị chính. Địch cũng có thể từ Cửa Nam theo đường Hàng Lọng và từ Đồn Thủy theo đường Trần Hưng Đạo tiến ra nhằm nối thông với ga Hàng Cỏ và ngã tư Khâm Thiên. Địch ở Gia Lâm cũng có thể vượt sông sang tăng viện cho Hà Nội.


Trên cơ sở phán đoán khả năng tác chiến của địch, ta hình thành ý định tác chiến là nắm quyền chủ động, dùng lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, Tự vệ thành bất ngờ tiến công đồng loạt nhiều vị trí địch trước khi chúng tiến công ta, đặc biệt phải bất ngờ tiêu diệt ngay từ đầu các ổ chiến đấu độc lập của địch tại các khu phố, làm cho chúng bị động, đồng thời tích cực ngăn chặn và hạn chế sự tiến công ồ ạt, đánh nhanh, thắng nhanh của chúng.


Sau 3 ngày tác chiến thì cắm lại một lực lượng trong lòng thành phố ở Liên khu 1 chặn đánh dài ngày sau lưng địch. Các lực lượng của Liên khu 2 và Liên khu 3 kiên quyết đánh chặn địch từ trong tiến ra và lui dần, đêm luồn vào đánh du kích làm cho địch lâm vào thế trước sau đều bị chặn đánh, phải phân tán lực lượng không thể đánh chiếm nhanh chóng thành phố Hà Nội.


Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trên đất Ba Đình đầu tháng 12 năm 1946 có nhiều lực lượng tham gia chiến đấu giam chân địch trong thành phố, đó là các lực lượng được lãnh đạo và chỉ huy của Mặt trận Hà Nội, các liên khu, trực tiếp là Liên khu 1, Liên khu 2, Khu Đại La, các đơn vị chủ lực của Trung đoàn Thủ đô, tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, Hoàng thành Thăng Long, cơ quan, khu phố... trong nội đô, các lực lượng dân quân du kích các địa phương ven nội thuộc địa bàn Ba Đình. Căn cứ vào kế hoạch tác chiến của Mặt trận Hà Nội và các liên khu, về cơ bản các lực lượng vũ trang trên địa bàn Ba Đình được bố trí như sau:

Ở khu Trúc Bạch và Hồng Hà, Phúc Xá, Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu có Trung đội Tô Hiệu do đồng chí Vị Hải chỉ huy. Tự vệ thành có Đại đội Ngô Quyền của kim Trúc Bạch và 4 trung đội dưới khu Hồng Hà. Tất cả các lực lượng này do Liên khu 1 chỉ huy.

Ở khu Thăng Long có Đại đội 28 của Tiểu đoàn 523 đóng tại Nhà Tiền (nay là Công ty in Tiến bộ) và Tiểu đoàn bộ do Tiểu đoàn trường An Giao chỉ huy đóng ở Nhà máy tóc (nay là Xí nghiệp dược Hà Nội). Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu có Trung đội Hà Huy Tập do đồng chí Cát chỉ huy. Tự vệ thành có Đội Phan Tống do đồng chí Lộc (Toét) chỉ huy; Đội Thăng Long do đồng chí Quách Ngọc Hải chỉ huy; đội của thợ thủy tinh Cầu Giấy do đồng chí Nguyễn Văn Sựu chỉ huy.


Trong nội thành, các lực lượng tự vệ chiến đấu trong các nhà máy, xí nghiệp, v.v.. được tổ chức biên chế và thống nhất lãnh đạo, chỉ huy của Mặt trận Hà Nội và các liên khu. Ở khu Đại La có Đại đội 1 (thuộc Tiểu đoàn 56) và Tiểu đoàn 145 đóng ở khu vực Quần Ngựa, Liễu Giai, Cống Vị. Ở các làng, xã Vạn Phúc, Thủ Lệ, Cầu Giấy... có các trung đội tự vệ được củng cố sẵn sàng đánh địch. Tất cả các lực lượng vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Thành ủy, Đảng ủy Liên khu, Đảng ủy Khu, các tổ chức đảng ở cơ sở.


Nhằm ý đồ trở lại xâm lược nước ta lần nữa, thực dân Pháp đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9-1946. Chúng ngày càng lấn tới, ráo riết triển khai kế hoạch gây tội ác ở Hà Nội. Trên địa bàn Ba Đình, quân Pháp đã đóng chiếm Thành Hà Nội, Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An), Trường Anbe Xarô (số 2 Hoàng Văn Thụ), Phủ Toàn quyền cũ, Trường Sư phạm Đồ Hữu Vị (nay là phố Cửa Bắc). Số kiều dân Pháp sống ở phố Hoàng Diệu, Trần Phú, Phan Đình Phùng sẵn sàng hỗ trợ chúng. Trước giã tâm và hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, trong hai ngày 18 và ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ở Vạn Phúc, Hà Đông, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở phân tích tình hình, Hội nghị nhận định thực dân Pháp đã chuyển sang giai đoạn thực hiện hành động chiến tranh, khả năng đàm phán không còn nữa, thời kỳ hòa hoãn đã qua, chúng ta càng nhân nhượng, kẻ thù sẽ càng lấn tới. Hội nghị phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Đây là một quyết định đúng đắn, kịp thời, chủ động của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trưa ngày 19 tháng 12, Thường vụ Trung ương Đảng điện gửi các khu ủy, tỉnh ủy với nội dung quân Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước vũ khí của quân đội, tự vệ, công an. Chính phủ đã bác bỏ tối hậu thư ấy. Đứng trước sự tồn vong của dân tộc, tối 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.


Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ nổ mìn phá máy phát điện. Đèn điện toàn thành phố phụt tắt. Đó là hiệu lệnh tiến công. Ngay lập tức pháo binh ta ở các pháo đài Láng, Xuân Canh, Thủ Khối... bắn vào khu thành, nơi có quân Pháp đóng, mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc lâu dài, gian khổ nhưng với niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Các trận địa tiến công của ta khắp thành phố đồng loạt nổ súng đảnh địch theo kế hoạch đã xác định. Lực lượng vũ trang Ba Đình đã phối hợp rất chặt chẽ với toàn dân Thủ đô anh dũng chống quân Pháp. Tự vệ giật mìn làm đổ hàng loạt cột đèn, cây to hai bên đường. Công nhân xe điện lật đổ toa tàu, đánh bật đường ray làm chướng ngại vật. Đồng bào hai bên phố ném cả tủ chè, sập gụ, bàn ghế, giường phản ra đường để cản bước tiến của giặc. Tại tuyến phố Phan Đình Phùng, địch tung lực lượng cơ động đóng trong thành, có xe tăng, xe bọc thép, pháo binh yểm trợ, chia làm 4 hướng tiến công các vị trí quan trọng của ta ở Bắc Bộ phủ, Đấu Xảo, đầu cầu Long Biên, Hàng Đậu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #15 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 07:54:31 pm »

Để đánh chiếm cầu Long Biên, quân Pháp hành quân theo thế gọng kìm. Một bộ phận từ trong thành theo đường Cổ Ngư, Nhà máy điện, Nhà máy nước đánh thốc xuống đầu cầu. Một bộ phận khác theo đường Phan Đình Phùng xuống vườn hoa Hàng Đậu lên Hàng Than, đầu cầu. Đêm 19 tháng 12 năm 1946, Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu Tô Hiệu, Tự vệ thành của Trúc Bạch, tự vệ các nhà máy tham gia đánh giặc ở bốt Hàng Đậu, Hàng Than, đầu cầu Long Biên, Nhà in Viễn Đông, Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ. Địch từ trong thành cho xe bọc thép theo đường Cửa Bắc lên Nhà máy điện, bị tự vệ ném lựu đạn tới tấp phải rút về thành. Tự vệ Cửa Bắc, Quán Thánh đồng loạt hô xung phong đuổi theo địch đến tận cổng thành nhưng bị chúng bắn ra làm 2 chiến sĩ ta bị thương, ở ô Yên Phụ, tự vệ phối hợp với Vệ quốc đoàn và Công an diệt gọn một toán lính Pháp. Ở phía đường đê La Thành (nay là đường Hoàng Hoa Thám) các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, Đại đội 1 Tiểu đoàn 56 do Đại đội trưởng Nguyễn Thế Môn chỉ huy phối hợp với tự vệ (Đại đội Lam Sơn) đánh chiếm Nhà máy bia Hommel, diệt 11 tên địch, thu được một số vũ khí trang bị cho tự vệ Đại đội Lam Sơn. Phát huy thắng lợi, các chiến sĩ tự vệ tiến công địch ở vườn hoa Lapho (nay là Công ty ươm giống, cây cảnh), diệt 4 tên địch. Ở dốc Ngọc Hà, 1 tổ chiến đấu và tự vệ tiêu diệt ổ đề kháng bí mật ở trong dinh thự chị vợ Bảo Đại. Ở đường Nguyễn Thái Học, quả bom chôn ngầm trước cửa nữ tu viện Gianđa (nay là Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) không nổ. Đây là một điểm cao khống chế của địch, ở đây chúng đặt tiểu liên và khẩu cối 82mm, khống chế cả khu vực Văn Miếu - Hàng Bột - Nguyễn Thái Học. Do đó, ta quyết tâm tiêu diệt địch ở vị trí này.


Ở Trường Bưởi, đêm 19 tháng 12 năm 1946 diễn ra trận tập kích địch của Vệ quốc quân và tự vệ Ba Đình. Trường Bưởi vốn là một trường trung học bảo hộ thời Pháp đô hộ (nay là trường Chu Văn An). Sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, ta buộc phải để cho địch đóng ở đây 250 tên. Trường có một dãy 3 ngôi nhà tầng kiên cố, phía Bắc giáp với Hồ Tây, phía Nam có sân rộng và tường cao giáp đường Thủ Khoa Huân (nay là đường Thụy Khuê, cách Phủ Toàn quyền khoảng 500m. Ở cổng có một vọng gác. Ta sử dụng 2 đại đội của Tiểu đoàn 145 và một bộ phận tự vệ tiến công tiêu diệt địch. Tất cả 2 đại đội chỉ có 214 người nhưng còn phân ra 1 phân đội đánh Nhà máy bia Hommel, một bộ phận đánh một số vị trí nhỏ của địch ở Ngọc Hà. Trực tiếp đánh Trường Bưởi, ta chỉ có hơn một đại đội và một bộ phận tự vệ, trong đó có một bộ phận chặn địch từ Phủ Toàn quyền lên. Theo kế hoạch, ta tiến công hướng chủ yếu từ phía Thủ Khoa Huân đánh vào cổng chính. Hướng thứ yếu dùng thuyền bơi vòng ra Hồ Tây quật vào từ phía Bắc sau trường. Hướng chính ta ném lựu đạn, bắn súng diệt 2 tên lính gác rồi xông vào sân. Hướng thứ yếu ta cũng đổ bộ bất ngờ vào sân trường. Nhưng 2 bộ phận ở cách xa nhau, không liên lạc được với nhau. Tất cả địch co cụm lên gác hai, gác ba, dùng lựu đạn và bắn xuống. Ta không tiến lên được. Ta định đốt kho đạn, kho xăng nhưng địch đã chuyển đi nơi khác. Ta bắn lên gác, tìm bom để nổ nhưng không có. Ta đánh giằng co với địch khoảng 1 giờ rồi rút. Trận đánh tuy không giành được thắng lợi, nhưng cho ta bài học kinh nghiệm quý về cách đánh địch trong nhà kiên cố ở thành phố.


Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, chỉ rõ kẻ thù dân tộc là thực dân phản động Pháp xâm lược, xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng là nguồn cổ vũ lớn lao, là ánh sáng soi đường cho quân dân Ba Đình tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến.


Lực lượng vũ trang ở Ba Đình tiếp tục được bổ sung. Các đội tự vệ Ba Đình tiếp nhận thêm nhiều công nhân, nông dân, thương gia, thanh niên, học sinh, dân nghèo và được khẩn trương luyện tập. Nhiều hầm hào, ụ súng chiến đấu được mọc lên ở các ngả đường Kim Mã, Thụy Khuê; các đường giao thông qua các tường nhà trong phố nối dài thêm để đánh quân Pháp. Nhân dân Cầu Giấy, Thủ Lệ, Vạn Phúc tự tay dỡ nhà, phá cửa để thực hiện "vườn không nhà trống", "tiêu thổ kháng chiến", và ngày đêm lo việc tiếp tế lương thực, đạn dược cho Mặt trận, về phía địch, sau một đêm bị bất ngờ, chúng củng cố lại lực lượng phản công ta. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Tại nhà Gianđa, đêm 20 tháng 12, ta bao vây bên ngoài nhưng không thể đột nhập vào trong vì hỏa lực địch mạnh hơn ta từ trên nóc nhà bắn xuống xối xả.


Sáng ngày 20 tháng 12, địch mở cuộc tiến công lớn lên Cổ Ngư - Ô Yên Phụ. Bộ binh có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ theo 3 mũi từ đê Yên Phụ, Cổ Ngư, Nguyễn Thái Học (nay là phố Phó Đức Chính) lên. Dọc đường từ Cửa Bắc lên Nguyễn Thái Học, địch bị các tổ tự vệ chốt giữ bắn tỉa. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt từ đường Cổ Ngư lên đầu Ô Yên Phụ. Ta có 1 trung đội Vệ quốc đoàn, 70 Tự vệ chiến đấu và Tự vệ thành ở các phố Quán Thánh, Cổ Ngư, Trúc Bạch, Nguyễn Thái Học... tham gia chiến đấu. Đến 11 giờ 30 phút, chúng tiến lên được Ô Yên Phụ. Ta tiêu diệt được 30 tên và 2 xe xích của địch.


Ở khu Hồng Hà, 4 trung đội của Phúc Xá, Tân Ấp, Nghĩa Dũng sát nhập lại, thành Đại đội Hồng Hà do đồng chí Tuấn Lâm làm Đại đội trưởng; đồng chí Phạm Văn Trương - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Hồng Hà kiêm Chính trị viên Đại đội. Đại đội được Ban Chỉ huy Mặt trận Khu 11 giao nhiệm vụ bảo vệ phía Đông Bắc thành phố và bảo vệ con đường giao thông liên lạc tiếp tế giữa Khu 11 với Liên khu 1, giữ vững mạch máu giao thông thông suốt.


Đêm 21 tháng 12, Vệ quốc đoàn từ Ô Chợ Dừa tập kích vào Cửa Bắc, phá 1 xe tăng, 11 xe Jeép, diệt 5 lính Pháp, thu 2 khẩu liên thanh rồi rút lui an toàn. Ở phía Nhà Tiền, địa điểm quan trọng trên ngã ba đường Sơn Tây và Hà Đông về Hà Nội đã diễn ra trận chiến đấu quyết liệt. Địch cho 2 đại đội bộ binh, 5 xe tăng, 1 xe thiết giáp có máy bay và súng lớn yểm trợ, chia làm 3 mũi theo đường Sơn Tây, Nguyễn Thái Học và Trịnh Hoài Đức cùng tiến vào định chiếm Nhà Tiền và Ô Kim Mã. Một trung đội Vệ quốc đoàn và Đại đội tự vệ Phan Tống đã bố trí sẵn ở khu vực này. Quân địch chủ quan, hùng hổ kéo tới liền lập tức bị các chiến sĩ ta tiến công. Tại đường Sơn Tây, tự vệ và Vệ quốc đoàn đã dùng mã tấu, chai cháy tiêu diệt địch. Tại rạp Tam Kỳ và chợ Kim Mã, quân ta lợi dụng những ngõ phố chật hẹp, những góc tường nhà, bức tường đánh địch, không để chúng tiến sâu vào. Bị đánh trả bất ngờ, quân Pháp hoảng loạn phải rút chạy về đường Hùng Vương, chuẩn bị lại lực lượng phản công ta. Được xe tăng yểm trợ, chúng lại mở đợt tiến công Nhà Tiền. Đến 8 giờ tối, quân ta được pháo đài Láng yểm hộ, tiến đánh chiếm lại Nhà Tiền. Địch bỏ chạy, để lại 8 xác chết, 12 tên bị thương.


Ngày 22 và 23, quân Pháp không mở được một cuộc tấn công nào đáng kể. Chúng mở những cuộc hành quân nhỏ để thăm dò lực lượng của ta đều bị lực lượng vũ trang ta chặn đánh ngay từ khi chúng vừa xuất phát.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #16 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 07:55:46 pm »

Từ cuối tháng 12 năm 1946, quân Pháp tập trung quân đánh rộng ra vùng xung quanh. Chiến sự lại diễn ra quyết liệt. Đêm 25 tháng 12, các đơn vị tự vệ Ba Đình đã đánh thúc sau lưng quân Pháp ở phía Cửa Bắc và bờ sông Hồng. Tiếng súng tự vệ nổ liên tiếp khắp nơi làm cho chúng không thể đem quân ứng cứu cho nhau được. Ngày 16, ba em thiếu nhi Ngọc Hà đã mưu trí, gan dạ dùng lựu đạn, chai xăng phá hủy 2 xe thiết giáp của Pháp khi chúng vừa kéo vào định phá các ụ đất ở ngã ba đường.


Chiều 28 tháng 12, xe GMC chở lính Pháp từ đường Hùng Vương - Nguyễn Thái Học vào đổ quân tại bãi Septo (nay là sân vận động Hàng Đẫy). Trung đội 57 (thuộc Đại đội 29 Tiểu đoàn 523) cùng tự vệ làng An Trạch bố trí tại nhà cao tầng phố Bích Câu nổ súng bất ngờ, diệt và làm bị thương 10 tên. Địch rút khỏi sân vận động chạy về thành. Sáng 30 tháng 12, địch mở trận tiến công lớn ra ô Chợ Dừa. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ở các hướng Khâm Thiên, Hàng Bột. Địch từ bãi Septo đánh vào phố Bích Câu, Hàng Bột, Trung đội 57 và tự vệ An Trạch chặn đánh địch quyết liệt. Đồng chí Nguyễn Xuân Khánh - Tiểu đội trưởng hy sinh khi đánh địch ở Nhà Tế bần phố Đoàn Thị Điểm - Bích Câu.


Dự đoán được quân Pháp chuẩn bị cuộc tiến công lớn ra hướng Tây Bắc, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội chỉ thị cho Tiểu đoàn 145 sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đoàn đã điều 8 trung đội chuẩn bị trận địa phòng ngự liên hoàn ở khu vực đường Thụy Khuê, Quần Ngựa, Đội Cấn. Hai trung đội dự bị cơ động cùng cơ quan chỉ huy Tiểu đoàn đứng chân tại làng Đại Yên.


Ngày 3 tháng 1 năm 1947, quân Pháp mở một đạt tiến công mới vào khu vực Ba Đình. Chúng huy động 700 quân, 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, 70 vận tải, xe Jeép, 3 máy bay chi viện hỏa lực, chia làm 3 cánh tiến vào. Cánh thứ nhất, theo đường Thụy Khuê đánh vào khu vực Nhà máy điện. Cánh thứ hai theo đường Hoàng Hoa Thám tiến lên phía Bắc Ba Đình. Cánh thứ ba, chúng sử dụng 2 đại đội, 4 xe tăng, 2 xe bọc thép, theo đường Đội Cấn đánh lên phía Bắc. 5 giờ ngày 3 tháng 1 năm 1947, địch bắt đầu tiến công ra phía Tây thành phố theo các đường: Thụy Khuê, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn. Trên đường Đội Cấn, giặc Pháp cho máy bay oanh tạc suốt dãy phổ, phá hủy nhiều nhà cửa. Xe tăng, xe bọc thép dẫn bộ binh tiến vào. Hai trung đội của Tiểu đoàn 145 thực hiện nhiệm vụ đã giữ từng khu vực, dựa vào trận địa, kiến trúc nhà cửa chặn đánh địch rất quyết liệt. Một chiến sĩ quyết tử ôm bom ba càng đâm vào xe tăng địch. Bom không nổ, đồng chí anh dũng hy sinh. Một đồng chí khác tiếp tục ôm bom xông lên phá được xe tăng địch, bộ binh địch chùn bước không giám sục sạo. Ta trụ bám nhà, dựa vào chiến lũy, công sự, tầng gác cao ném lựu đạn xuống, kết hợp với lực lượng phục sẵn ờ tầng dưới xung phong tiêu diệt địch. Địch thương vong khoảng 1 trung đội, không tiến được. Đến 13 giờ chúng cho một mũi từ phố Sơn Tây, tiến qua làng Vạn Phúc, đánh vào nhà thờ Liễu Giai, vu hồi phía giữa phố, kết hợp với bọn trên đường Đội Cấn bắn rất mạnh vào hai bên phố để uy hiếp quân ta. Tại làng Vạn Phúc, ta dựa vào làng mạc, hồ ao chiến đấu chặn địch, diệt nhiều tên. Do tương quan lực lượng chênh lệch, 14 giờ 30 phút ta phải rút khỏi Vạn Phúc và nhà thờ Liễu Giai về phòng ngự tại nhà Brigade Mobile.


Phía đường Thụy Khuê, Hoàng Hoa Thám địch chiếm sở xe điện, nhà máy giặt, Nhà máy bia Hommel. Do bị thiệt hại nên cả 3 cánh quân của chúng đều ngừng tiến công để củng cố lực lượng, triển khai giữ khu vực mới chiếm, chuẩn bị cho cuộc tiến công mới. Kết quả trên 3 đường, chủ yếu là trên đường Đội Cấn ta diệt 116 tên, phá hủy 1 xe tăng, 2 xe vận tải, phá hỏng 1 xe thiết giáp, thu 1 súng ngắn, 7 súng trường. Ta hy sinh 30 đồng chí, bị thương 25 đồng chí, mất 3 súng khai hậu. Sau trận này, Ban Chỉ huy Mặt trận điều Tiểu đoàn 145 và Đại đội 134 của Tiểu đoàn 56 tới Giảng Võ, chủ động bố trí quân để chống trả đợt tiến công mới của quân địch.


Ngày 6 tháng 1 năm 1947, Pháp huy động 1.000 quân, 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, xe ủi đất, có pháo binh, máy bay yểm trợ, tiến theo hai hướng Giảng Võ - Đê La Thành và Hàng Bột - Ô Chợ Dừa. Tại Giảng Võ, địch chia làm hai cánh quân: Cánh thứ nhất, theo đường Hàng Bột - Đê La Thành, có xe tăng dẫn đầu tiến vào trận địa. Trên dốc làng Hoàng Cầu đã diễn ra trận đánh giáp lá cà quyết liệt. Trong trận chiến đấu ngày 6 tháng 1 năm 1947, Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai đã anh dũng ôm bom ba càng lao vào tiêu diệt xe tăng địch và anh dũng hy sinh; năm 1996, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cánh quân thứ hai, từ Nhà Tiền, Nhà máy gạch Năm Diệm tiến dọc đường Giảng Võ, có xe tăng yểm trợ, chia làm hai mũi, một mũi tấn công vào làng Giảng Võ, một mũi tiến thẳng xuống ngã tư, hợp vây với cánh quân thứ nhất. Tại làng Giảng Võ, Vệ quốc đoàn, Trung đội quyết tử, Trung đội cựu binh sĩ cứu quốc Giảng Võ và Tiểu đội nữ tự vệ đã đánh bật ba đợt tấn công của địch; không cho chúng chiếm làng. Số sống sót bỏ chạy về phía Nhà Tiền.


Ở mũi tấn công xuống ngã tư Giảng Võ, Đại đội trưởng Vũ Công Định trực tiếp chỉ huy Trung đội 3 và lực lượng còn lại của Đại đội 134 chiến đấu kiên cường bám trụ trận địa, đến gần trưa mới rút về phía Tây Nam để bảo toàn lực lượng. Đại đội trưởng Vũ Công Định bị thương vẫn ở lại chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Chính trị viên Lê Chí Thực đi cuối cùng yểm hộ cho đồng đội rút lui, anh đã anh dũng hy sinh không để lọt vào tay địch. Địch không chiếm được Giảng Võ, bị tiêu diệt 30 tên. Ta 40 đồng chí anh dũng hy sinh, 10 đồng chí bị thương. Cả Tiểu đội nữ tự vệ đã hy sinh trên mảnh đất quê hương. Gương chiến đấu kiên cường, hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 134 đã được truy tặng Huân chương Chiến sĩ.


Cuộc chiến đấu chống quân Pháp xâm lược ngày 6 tháng 1 năm 1947 của lực lượng vũ trang nhân dân Ba Đình là một trong những sự kiện lịch sử tiêu biểu cho tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", truyền thống anh dũng, kiên cường chiến đấu chống giặc ngoại xâm của lực lượng vũ trang và nhân dân quận Ba Đình. Năm 2003, tại ngã tư Giảng Võ, thành phố Hà Nội đã gắn biển "Di tích cách mạng và kháng chiến" để các thế hệ mai sau mãi mãi ghi nhớ sự kiện lịch sử hào hùng này.


Sau khi mở chiến dịch tấn công ra Giảng Võ và các cửa ô của thành phố bị thất bại, địch mỏi mệt, lúng túng giữa phân tán và tập trung, tạm dừng lại để củng cố lực lượng, chờ tăng viện. Ta tranh thủ thời gian, rút kinh nghiệm chiến đấu, bổ sung lực lượng, sửa sang và đào thêm hàm hào chiến đấu. Ngày 15 tháng 1 năm 1947, ta bố trí một số cán bộ, chiến sĩ Liên khu 3, đi cùng đồng bào tản cư ra hậu phương. Lực lượng ờ lại tiếp tục củng cố để bước vào trận chiến đấu mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #17 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 07:56:54 pm »

Ngày 20 tháng 1 năm 1947 (tức 29 Tết Đinh Hợi), Pháp huy động lực lượng lớn từ các vị trí Nhà dầu Tam Đa, Nhà máy da Thụy Khuê, Nhà thờ Liễu Giai và làng Giảng Võ đánh ra Ô Cầu Giấy. Địch bị quân ta chặn đánh quyết liệt ở làng Ngọc Khánh, Vạn Phúc, Thủ Lệ, Cầu Giấy, Chợ Bưởi. Tại trận địa Giảng Võ, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Các chiến sĩ tự vệ Giảng Võ cùng bộ đội đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm chống trả các đợt tiến công của quân địch. Do quân địch đông, hỏa lực mạnh nên chúng tiến được vào làng, chiếm được một số điểm, một số chiến sĩ tự vệ đã anh dũng hy sinh. Trên các hướng khác, đồng chí Nguyễn Duy Phồng hy sinh tại cống Chênh, đồng chí Trương Văn Vẹo hy sinh tại đường tàu điện Ngọc Khánh, đồng chí Trương Văn Thủy hy sinh tại xóm 2 Giảng Võ.


Ngày 23 tháng 1 năm 1947, quân Pháp huy động 2 tiểu đoàn bộ binh, 7 xe tăng, 27 xe thiết giáp chia làm ba mũi tiến công ta ở khu vực Nhà Tiền. 10 giờ 45 phút, quân địch từ ba ngã Đội Cấn, Nguyễn Thái Học, Cát Linh nổ súng, khép vòng vây khu vực Nhà Tiền. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt. Đại đội Phan Tống cùng 1 trung đội Vệ quốc đoàn, có sự phối hợp chiến đấu của tự vệ, dân quân du kích và nhân dân địa phương quần nhau với địch khắp các ngả. Toán xe tăng địch từ đường Sơn Tây vừa chạm đến ụ đất trước rạp Tam Kỳ vấp phải mìn, chiếc đi đầu nổ tung. Những chiếc sau bị ùn lại không sao tiến lên được. Cánh quân bộ bị chặn lại giữa rạp Tam Kỳ và chợ Kim Mã. Quân ta lợi dụng địa hình đường phố và ngõ chợ ngóc ngách xông ra đánh giáp lá cà với địch. Quân địch bị hoảng loạn. Kết quả là lực lượng vũ trang ta đã phá tan được cuộc tiến công quy mô lớn này của địch, diệt 20 tên, làm bị thương 2 tiểu đội khác, phá hủy 1 xe tăng. Trận đánh địch ở khu Kim Mã - Nhà Tiền ngày 23 tháng 1 năm 1947 chứng minh sự phối hợp chặt chẽ giữa Vệ quốc đoàn, tự vệ và nhân dân đã tạo ra một sức mạnh có thể đương đầu với các cuộc tiến công của giặc Pháp dù cho chúng đông quân và nhiều súng đạn.


Ngày 16 tháng 2 năm 1947, các chiến sĩ Đại đội Hồng Hà dũng cảm chiến đấu chặn đánh địch khi chúng càn quét vào khu Hồng Hà nhằm chặn đường tiếp tế của ta; đến gần trưa quân địch phải lui quân. Đêm ngày 17 tháng 2 năm 1947, Đại đội Hồng Hà theo lệnh của chỉ huy Mặt trận Hà Nội rút ra hậu phương và tập kết ở Yên Nội (Từ Liêm).


Đêm 17 tháng 2 năm 1947, khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu 1 để bảo toàn lực lượng, Đại đội Nguyễn Ngọc Nại đã dẫn đường cho Trung đoàn vượt gầm cầu Long Biên, lên Phúc Xá - Tứ Tổng - Tầm Xá để vượt sông Hồng sang Đông Anh. Sáng 19 tháng 2 năm 1947, lực lượng của Đại đội đã chiến đấu chống quân địch tại Tầm Xá bảo vệ Trung đoàn Thủ đô rút ra hậu phương an toàn.


Như vậy, trong suốt 60 ngày đêm liên tục chiến đấu giam chân địch trong thành phố Hà Nội, các lực lượng vũ trang Ba Đình đã sát cánh cùng các lực vũ trang và nhân dân Hà Nội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Thành ủy và Mặt trận Hà Nội giao cho. Lực lượng vũ trang Ba Đình đã mưu trí, dũng cảm giam chân địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trong lòng thành phố, cùng quân dân Hà Nội tạo điều kiện cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến lâu dài. Lực lượng tự vệ, dân quân du kích Ba Đình đã mưu trí, dũng cảm thực hiện nhiệm vụ nghi binh và chiến đấu bảo vệ an toàn cho nhân dân Ba Đình sơ tán ra vùng tự do, Trung đoàn Thủ đô rút an toàn khỏi Hà Nội bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Lực lượng vũ trang Ba Đình đã chiến đấu với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh"; gương anh dũng hy sinh của các chiến sĩ tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, các khu phố, dân quân du kích các làng xã sáng mãi trong lòng nhân dân Ba Đình, nhân dân Thủ đô Hà Nội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #18 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 07:59:08 pm »

3. Tiến hành chiến tranh du kích, tham gia tiếp quản giải phóng Thủ đô (1947-1954)

Từ cuối tháng 2 năm 1947, Hà Nội rơi vào ách chiếm đóng của quân Pháp. Bọn chúng ra sức biến Hà Nội thành trung tâm quân sự, chính trị, kinh tế để mở rộng chiến tranh trên toàn cõi Đông Dương. Chúng xây dựng nhiều đồn bốt, tháp canh, lập ra các phòng tuyến quanh thành phố; lập ra "Hội đồng bảo trợ đồng bào hồi cư" để lôi kéo nhân dân ta quay về Hà Nội. Để mị dân, tháng 5 năm 1947, thực dân Pháp dựng lên "Hội đồng an dân Bắc Việt" trong thành phố Hà Nội và những "Hội đồng quản trị xã" ở ngoại thành. Trên địa bàn Ba Đình, địch tăng cường quân lính, vũ khí ở các bốt Cầu Giấy, Bưởi.


Từ tháng 5 năm 1947, để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến lâu dài, một số cán bộ của Hà Nội, trong đó có Ba Đình, được cử theo đồng bào hồi cư, quay về thành phố nắm dân, chuẩn bị gây dựng cơ sở kháng chiến. Tới tháng 9 năm 1947, Thành ủy Hà Nội được thành lập lại, hoạt động kháng chiến trong lòng địch được đẩy mạnh hơn.


Sau Chiến thắng Việt Bắc (10.1947) của quân và dân ta, buộc thực dân Pháp phải chuyển sang thế cầm cự. Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương của Đảng "biến vùng sau lưng địch thành tiền phương của ta", các cơ sở kháng chiến, lực lượng vũ trang trên địa bàn Ba Đình được củng cố. Ở vùng ven nội, lực lượng vũ trang và nhân dân đào hầm bí mật, che giấu nuôi dưỡng cán bộ, chôn chông mìn, phục kích tiêu hao sinh lực địch.


Ngày 25 tháng 8 năm 1948, du kích Tây Hồ đánh chìm 1 ca nô địch; du kích Yên Phụ tiêu diệt 1 tốp lính Pháp.

Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1948, lực lượng tự vệ Ba Đình đã 2 lần tham gia đánh địch ở thành Hà Nội, Nhà Tiền, Nhà máy nước, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ngày 23 tháng 12 năm 1948, tự vệ Ba Đình phối hợp với công nhân Sở xe điện Thụy Khê phá hỏng 2 toa xe điện của địch.


Đặc biệt, tháng 12 năm 1948, lực lượng vũ trang Ba Đình và nhân dân ven nội tiến hành đợt "Tổng phá tề". Đợt "Tổng phá tề" làm cho bộ máy ngụy quyền của địch hầu như tê liệt; chính quyền nhân dân được lập lại ở nhiều nơi, cổ vũ mạnh mẽ phong trào chống địch trong nội thành, nhân dân thêm tin tưởng vào lực lượng kháng chiến.


Năm 1949, thực hiện chủ trương "Biến Thủ đô, hậu phương địch, thành chiến trường quan trọng của ta" chuẩn bị tổng phản công, cùng nhân dân cả nước, lực lượng vũ trang Ba Đình đẩy mạnh hoạt động kháng chiến, đánh địch ở nhiều nơi. Những cơ sở kháng chiến bị vỡ, bị tổn thất trong các cuộc càn quét của địch được phục hồi, tổ chức lại. Riêng ở Đại Yên trung bình 10 gia đình đã có 9 gia đình cảm tình kháng chiến. Hai tổ tuyên truyền được thành lập ở đây năm 1947, từ hoạt động bí mật, rải truyền đơn, treo cờ, biểu ngữ đã chuyển sang hoạt động vũ trang tuyên truyền; nhiều lần phối hợp với công nhân Sở xe điện Thụy Khuê phá toa xe, đường tàu. Ở các đường phố, cơ sở quần chúng kháng chiến được sắp xếp lại theo những hệ thống tổ chức chặt chẽ để tiện liên lạc, hoạt động, tránh sự lùng bắt của thực dân Pháp. Vì vậy, mặc dù bọn gián điệp, bọn phản động đầu hàng có gây cho Ba Đình những vụ vỡ cơ sở lớn như vụ Văn Miếu cuối năm 1949 đầu năm 1950, nhưng cơ sở kháng chiến Ba Đình vẫn được phát triển và tiếp tục hoạt động. Đồng bào nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ hoạt động bí mật. Đồng chí Trần Sâm đã có một thời gian dài ở tại nhà số 19 phố Quán Thánh để chỉ đạo phong trào.


Từ tháng 1 năm 1949, các đội tự vệ Ba Đình tổ chức những hoạt động vũ trang, gây thanh thế kháng chiến, mở rộng địa bàn hoạt động. Sáng 29 tháng 1 năm 1949, lực lượng ta tổ chức cuộc tuyên truyền táo bạo ở đình Kim Mã và bến tàu điện Ngọc Khánh.

Ngày 1 tháng 5 năm 1949, kỷ niệm Ngày Quốc tế lao động, công nhân Nhà máy bia đã dùng xe nhà máy rải truyền đơn. Công nhân Nhà máy điện đánh lại tên cai gian ác, vạch mặt bọn chỉ điểm, phá hủy 3 mô tơ của lò máy.

Tháng 7 năm 1949, khi thực dân Pháp đưa Vĩnh Thụy - Quốc trưởng bù nhìn ra Hà Nội, tự vệ Ba Đình tham gia tập kích Phủ Toàn quyền cũ, trừng trị 8 tên Việt gian ở Láng, Yên Thái.

Ngày 2 tháng 9 năm 1949, du kích xã Vạn Liễu cưa đổ cột điện trên đường từ Kim Mã đến Cầu Giấy để chặn xe địch, chôn mìn phục kích địch ở ngã ba Thủ Lệ làm đổ 1 xe jeép từ bốt Cầu Giấy qua.

Ngày 25 tháng 11 năm 1949, học sinh Trường Chu Văn An bãi khóa chống lại bọn mật thám Pháp bắt học sinh của trường.

Ngày 20 tháng 1 năm 1950, học sinh các trường ở Ba Đình cùng học sinh, sinh viên toàn thành phố tổ chức Lễ truy điệu Trần Văn Ơn, một học sinh Sài Gòn bị giặc Pháp bắn chết trong cuộc biểu tình ngày 9 tháng 1 năm 1950. Đây là cuộc biểu dương lực lượng chống thực dân Pháp của thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội, tạo tiếng vang lớn trong cả nước.


Phong trào chống thực dân Pháp của lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình suốt từ năm 1947 đến đầu năm 1950 gây uy hiếp thường xuyên đối với quân địch, có tác dụng kiềm chế một lực lượng lớn quân địch trong thành phố, góp phần tạo nên bước tiến mới trong cuộc kháng chiến ở Hà Nội.


Từ năm 1950, quân Pháp bố trí lại việc phòng thủ và bảo vệ Hà Nội, xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc, đóng quân chốt giữ liên hoàn, có tới 112 vị trí và hệ thống "boong ke". Trong nội thành Hà Nội, quân Pháp ra sức củng cố bộ máy ngụy quyền các cấp; mua chuộc, lôi kéo những phần tử bạc nhược, thoái hóa làm tay sai; dùng bọn chỉ điểm và những tên phản bội đánh phá các cơ sở kháng chiến. Nhà Tiền, nhà thờ Liễu Giai trở thành nơi tra tấn, giam giữ, giết hại cán bộ và đồng bào yêu nước. Nóc Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ địch đều bố trí súng 12,7mm để kiểm soát. Thời kỳ này, nhiều cơ sở của ta bị tổn thất, bị vỡ, như ở Thụy Khuê, Xitađen, Trường Anbe Xarô, v.v... Nhiều đảng viên và quần chúng trung kiên bị địch bắt. Nhiều địa phương, cơ sở không còn đủ đảng viên để lập lại chi bộ Đảng. Nhìn chung, phong trào ở Ba Đình cũng như thành phố Hà Nội vào cuối năm 1950 gặp nhiều khó khăn, các hoạt động kháng chiến không còn điều kiện để phát triển rộng rãi như cũ.


Trước tình hình trên, ngày 25 tháng 12 năm 1950 Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội tiến hành Hội nghị bất thường. Hội nghị đã chủ trương: "Trọng tâm công tác là vận động quần chúng". Theo chủ trương ấy, phong trào kháng chiến ở Ba Đình đã chuyển sang thời kỳ đấu tranh chính trị và kinh tế là chính, kết hợp với đấu tranh vũ trang để hỗ trợ, vận động quần chúng duy trì cơ sở kháng chiến chống lại âm mưu mới của địch.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2026, 08:09:45 pm gửi bởi vnmilitaryhistory » Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #19 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 08:00:27 pm »

Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng, về công tác ở vùng địch tạm chiếm, Đại hội xác định chủ trương: Tranh thủ nhân dân, bồi dưỡng và tích trữ lực lượng ta, tạo thời cơ tốt để quật đổ quân địch, sử dụng các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và bí mật.


Quán triệt và thực hiện chủ trương Đại hội lần thứ II của Đảng, tháng 4 năm 1951, Thành ủy Hà Nội họp kiểm điểm bổ sung các biện pháp duy trì và phát triển phong trào trong tình hình mới, quyết định đình chỉ mọi hoạt động rầm rộ, bộc lộ lực lượng để bảo vệ và giữ vững phong trào, trọng tâm hoạt động là đi vào công tác vận động quần chúng, giữ vững cơ sở, lợi dụng thế công khai, hợp pháp để che giấu lực lượng.


Về công tác quân sự và lực lượng vũ trang, Thành ủy Hà Nội chủ trương ở các khu phố không tổ chức khu phố đội bộ mà chỉ để một cán bộ phụ trách, bỏ danh từ đội quân ngầm hay đội vũ trang chủ lực mà chỉ gọi là dân quân du kích như cũ. Đến tháng 7 năm 1951, Ban chấp hành Đảng bộ và Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội quyết định giải thể Đại đội 290 và Đại đội 310, chọn một số đã qua thử thách, có triển vọng, tổ chức thành Đại đội 8 để huấn luyện đào tạo thành cán bộ. Khi có điều kiện sẽ tung vào vùng địch kiểm soát để xây dựng phong trào. Đại đội huấn luyện chủ yếu về chính trị và công tác vận động quần chúng, số còn lại của các đại đội 290 và 310 được chuyển sang các đơn vị chủ lực.


Đến năm 1951, đồng chí Phùng Thế Tài được cấp trên cử đi nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Trần Vĩ - Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội.

Tuy đã có nghị quyết của Thành ủy về chuyển hướng công tác, hoạt động kháng chiến ở Hà Nội, nhưng thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng do chưa có một chủ trương toàn diện về tư tưởng và tổ chức. Từ chỗ nặng về đấu tranh quân sự và chính trị, chuyển sang vận động quần chúng đấu tranh toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa; gắn nhiệm vụ kháng chiến với đòi quyền lợi thiết thực hằng ngày của quần chúng; từ chỗ hoạt động bí mật là chính, nay phải lợi dụng thế hợp pháp, kết hợp nửa hợp pháp với bí mật để hoạt động, cán bộ, đảng viên chưa có kinh nghiệm nên gặp nhiều khó khăn.


Cán bộ quân sự và các cơ sở dân quân du kích lại càng lúng túng. Do đó nhiều nơi cán bộ quân sự không biết làm gì. Cơ sở tự vệ, dân quân du kích chưa nắm được phương thức hoạt động mới, hoạt động lúng túng, không khác gì cơ sở các ngành, các giới khác, ở vùng ven nội thành, địch tăng cường khủng bố và cơ bản chúng "bình định" được ngoại thành, làm cho phong trào bị tổn thất, trong khi ta chưa có được chủ trương, biện pháp chuyển hướng hoạt động thích hợp. Trong khi phong trào kháng chiến trên địa bàn thành phố và riêng Ba Đình bị đàn áp, thì ở Sơn Tây, Hà Đông ta đẩy mạnh hoạt động quân sự, mở rộng chiến tranh du kích, phối hợp với Chiến dịch Trần Hưng Đạo (15.12.1950 - 17.1.1951) và Chiến dịch Quang Trung (28.5 - 20.6.1951).


Tháng 8 năm 1951, sau khi làm việc với lãnh đạo Thành ủy, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận xét: "Hà Nội thực hiện chủ trương chuyển hướng còn chuệch choạc. Sở dĩ như vậy vì cán bộ chưa thấm nhuần quan điểm trường kỳ kháng chiến của Đảng, chưa nắm được mục đích, phương châm công tác trong vùng bị tạm chiếm là tranh thủ quần chúng với địch, lợi dụng khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp vận dụng quần chúng đấu tranh"1 (Tài liệu Phòng Lưu trữ Thành ủy Hà Nội).


Tháng 10 năm 1951, Trung ương Đảng ra nghị quyết về nhiệm vụ và phương châm công tác vùng sau lưng địch. Nghị quyết khẳng định: Công tác vùng sau lưng địch là công tác rất quan trọng của Đảng, nhằm mục đích phá tan chính sách của địch "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Nghị quyết chi rõ: "Trong vùng bị tạm chiếm là nơi địch kiểm soát tương đối chặt chẽ thì phương châm, nhiệm vụ là "xây dựng và phát triển cơ sở là chính", "đấu tranh chính trị, kinh tế là chính"; "lợi dụng mọi tổ chức của địch, khả năng hợp pháp để giác ngộ quần chúng, tập hợp lãnh đạo quần chúng đấu tranh, chống manh động, tránh trừ gian bừa bãi"1 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ II, tháng 10 năm 1951).


Quán triệt chỉ đạo của đồng chí Trường Chinh và chủ trương của Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1951, tháng 1 năm 1952, Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội họp đề ra chủ trương toàn diện về chuyển hướng hoạt động ở Hà Nội. Hội nghị chủ trương về lực lượng vũ trang, ở nội thành tổ chức tự vệ bí mật, còn ở ngoại thành tổ chức dân quân, du kích bí mật. Các tổ chức vũ trang này nằm trong các tổ chức quần chúng mà không hoạt động độc lập như trước, trực tiếp bảo vệ quần chúng đấu tranh. Hội nghị cũng đề ra hai phương châm công tác:

- Bồi dưỡng giữ gìn lực lượng, tranh thủ mọi cơ hội để đấu tranh.

- Lợi dụng khả năng hợp pháp, nửa hợp pháp, phối hợp hai khả năng đó với hoạt động bất hợp pháp để phát triển phong trào.

Hội nghị tháng 1 năm 1952 là bước trưởng thành trong chỉ đạo kháng chiến của Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội, mở ra cục diện mới trong phong trào kháng chiến ở Ba Đình.

Tuy nhiên, về đấu tranh vũ trang trong tình hình mới, Hội nghị vẫn chưa có quyết nghị cụ thể về cả phương hướng và phương thức hoạt động ở nội thành và ngoại thành, ta chưa có chủ trương và biện pháp thích hợp nhằm phục hồi và phát triển phong trào chống lại những âm mưu và thủ đoạn mới của địch.


Tháng 10 năm 1952, các cơ sở dân quân du kích, tự vệ ở Ba Đình được thống nhất vào các ngành như công đoàn, thanh niên, phụ nữ. Các cán bộ quân sự nội thành cũng được chuyển sang các ngành theo tổ chức quần chúng để cùng các ngành vận động quần chúng đấu tranh. Như vậy, đến cuối năm 1952, lực lượng vũ trang trong vùng địch kiểm soát ở nội thành gần như không còn. Nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc Mặt trận Hà Nội và thuộc dân quân, tự vệ đi sâu vào khôi phục và xây dựng cơ sở của ta ở các nhà máy, xí nghiệp quan trọng, như ở Nhà máy điện, Nhà máy nuớc Yên Phụ, Nhà máy rượu bia, Nhà máy thuốc lá Trúc Bạch, Nhà máy in Viễn Đông, quân giới, quân nhu,... đồng thời phát triển cơ sở trong công nhân thủ công và tầng lớp lao động khác.
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM