vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 08:01:45 pm » |
|
Tháng 4 năm 1953, trước yêu cầu kịp thời mở rộng phong trào kháng chiến, làm thất bại âm mưu thủ đoạn của địch trong tình hình mới, Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội họp đi đến quyết định tích cực xây dựng và phát triển lực lượng, đẩy mạnh hơn nữa phong trào đấu tranh chống bắt lính, chống thuế, chống thất nghiệp. Đồng thời, rút kinh nghiệm đấu tranh trong hai năm 1951 - 1952, Hội nghị nhận thấy do không có các hoạt động quân sự làm hậu thuẫn, các phong trào đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa không có điều kiện phát triển mạnh. Hội nghị quyết định, bên cạnh các công tác khác, phải chú ý đẩy mạnh các hoạt động phá hoại địch về quân sự.
Đông - Xuân năm 1953 - 1954, phối hợp với chiến trường cả nước, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, nhất là các cơ quan tuyên giáo, địch vận, quân báo, tranh thủ các cơ sở hợp pháp trong thành phố cùng nhân dân Thủ đô đấu tranh với địch.
Năm 1954, trong khi chiến sự ở Điện Biên Phủ và đồng bằng Bắc Bộ diễn ra ác liệt, địch thất bại liên tiếp, tại Hà Nội ta tập trung lực lượng đẩy mạnh công tác địch vận, tuyên truyền tin chiến thắng của ta. Ta tán phát hàng vạn giấy thông hành, truyền đơn kêu gọi binh lính địch. Ta tập trung vào giải thích chính sách của cách mạng đối với sĩ quan, binh sĩ địch. Các đội viên của tà tìm cách gây cơ sở trong các cơ quan quân sự, doanh trại, công xưởng của địch. Ngay trong các cơ quan đầu não, cơ mật của địch như Sở mật thám, Bộ Tham mưu ngụy, ta cũng tạo được nhân mối. Có sĩ quan trong cơ quan tham mưu chuyên cung cấp tình hình tác chiến của địch cho ta. Có cảnh binh biết trước các đợt bắt lính của địch đã chủ động báo cho lực lượng kháng chiến biết để đối phó kịp thời.
Trên các địa bàn Sơn Tây, Hà Đông, sân bay Gia Lâm, ta mở rộng đấu tranh vũ trang, mở rộng chiến tranh du kích, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề.
Trên đà thắng lợi, ngày 2 tháng 6 năm 1954, Thành ủy Hà Nội ra chỉ thị "tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội, gắn liền phong trào đòi hòa bình với phong trào bảo vệ quyền lợi thiết thân của quần chúng: Chống bắt lính, chống thu thuế, đòi tăng lương, đòi công việc làm...".
Thực hiện chỉ thị của Thành ủy Hà Nội, các cơ quan của Mặt trận Hà Nội cùng với các cơ sở, các đoàn thể cách mạng trong các nhà máy, xí nghiệp, địa phương tích cực vận động nhân dân đấu tranh với địch. Phong trào chống bắt lính, vận động binh lính địch đảo ngũ phát triển với một khí thế mới.
Với thắng lợi quyết định của quân và dân ta trên chiến trường Điện Biên Phủ, ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết. Thực dân Pháp phải cam kêt tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Pháp phải rút quân khỏi miền Bẳc Việt Nam. Một nửa nước ta từ vĩ tuyến 17 trở ra được hoàn toàn giải phóng. Cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi.
Ngày 25 tháng 7 năm 1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi, vạch rõ: Cuộc đấu tranh ái quốc của nhân dân ta đã chuyển sang một giai đoạn mới. Hình thức đấu tranh vũ trang đã chuyển qua hình thức đấu tranh chính trị. Nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta lúc này là đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà. Thực hiện nhiệm vụ đó, việc tiếp quản các thành thị lớn ở miền Bắc là một công tác rất quan trọng và nặng nề. Đặc biệt việc tiếp quản Hà Nội, giải phóng hoàn toàn Thủ đô có một ý nghĩa hết sức trọng đại đối với sự nghiệp kháng chiến.
Theo Hiệp định Giơnevơ, Hà Nội còn nằm trong vùng tập kết của quân đội Pháp 80 ngày trước khi bàn giao. Từ chỗ ra sức củng cố, xây dựng Hà Nội thành đầu não chỉ huy chiến tranh, thực dân Pháp và ngụy quyền chuyển sang thực hiện âm mưu phá hoại thành phố về mọi mặt trước khi chúng chuyển giao. Chúng muốn ta tiếp quản một thành phố trống rỗng về kinh tế, căng thẳng về chính trị, rối loạn về trật tự, trị an. Chúng tìm cách di chuyển kho tàng, máy móc, vật liệu, trang thiết bị, thuốc men, tài liệu quý ra khỏi thành phố. Đặc biệt, chúng ngừng cung cấp than cho nhà máy sản xuất điện, nước, hòng làm cho sinh hoạt của nhân dân thành phố khó khăn, sản xuất tê liệt, đình đồn, giao thông gián đoạn, ngừng trệ.
Bộ máy chiến tranh tâm lý của địch không ngớt tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với công chức, trí thức, học sinh, sinh viên, tư sản, tiểu thương và nhất là đồng bào Công giáo. Bằng mọi cách chúng dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào, binh lính, công chức, nhất là công nhân kỹ thuật ở Hà Nội di cư vào Nam.
Với ta, tiếp quản thành phố Hà Nội, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, nơi đặt cơ quan đầu não chỉ đạo chiến tranh xâm lược Đông Dương, nơi tập trung xây dựng bộ máy kìm kẹp hòng đè bẹp phong trào đấu tranh cách mạng kháng chiến yêu nước của nhân dân ta, đó là nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ, vô cùng phức tạp, trong khi lực lượng của ta ở thành phố lại không nhiều, không đồng đều. Mặt khác, hệ thống chính quyền cơ sở chưa được thiết lập đều khắp. Các đoàn thể quần chúng phát triển không đều. Lực lượng cán bộ có hạn, lại chưa có kinh nghiệm quản lý, công việc thì dồn dập, khẩn trương, chỉ có 80 ngày để chuẩn bị mọi mặt. Tuy hòa bình, nhưng Ba Đình và toàn thành phố Hà Nội, cả nội và ngoại thành, vẫn là vùng kiểm soát của địch, ta không thể dễ dàng từ vùng tự do vào thành phố hoạt động. Lực lượng vũ trang Hà Nội thời gian này được thu gọn, cơ quan đoàn bộ của Mặt trận Hà Nội chỉ có 30 cán bộ và nhân viên. Ở cơ sở, không còn tổ chức lực lượng tự vệ. Vấn đề nổi lên là rất thiếu cán bộ chỉ đạo xây dựng phong trào, kể cả cán bộ thoát ly và cơ sở. Trước tình hình đó, đầu tháng 8 năm 1954, Thành ủy Hà Nội họp bàn, quyết định những chủ trương công tác lớn về nhiệm vụ tiếp quản, về công tác quân sự, Thành ủy nhấn mạnh: Phải khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng tự vệ mạnh mẽ và rộng khắp, cùng với công an giữ gìn trật tự, an ninh địa phương, bảo vệ nhà máy, xí nghiệp, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, phối hợp chặt chẽ với lực lượng bên ngoài tiến vào tiếp quản Thủ đô, làm nòng cốt trong đấu tranh chống lại mọi hành động phá hoại của địch. Tiếp tục đẩy mạnh công tác vận động binh lính địch, đồng thời tập trung điều tra nắm chắc tình hình địch, phục vụ kịp thời cho lãnh đạo, chỉ huy. Thành ủy quyết định đưa cán bộ quân sự trước đây chuyển sang các ngành khác trở lại Mặt trận Hà Nội, giải thể Đại đội 8 - đại đội chủ lực cơ động của Hà Nội, đưa cán bộ, chiến sĩ tăng cường cho cơ sở. Tích cực đào tạo cán bộ quân sự ngay tại địa phương, xin thêm cán bộ Liên khu 3, đồng thời đề nghị Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường cán bộ quân đội cho Mặt trận Hà Nội. Thực hiện chủ trương của Thành ủy, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội triển khai nhiều mặt công tác, trước mắt tập trung chấn chỉnh tổ chức và tăng cường cán bộ cho cơ sở.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 08:05:52 pm » |
|
Cũng trong đầu tháng 8 năm 1945, Ban Chỉ huy Mặt trận điều động 30 cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm xây dựng phong trào, am hiểu tình hình địa phương đưa vào nội thành xây dựng lực lượng tự vệ trong các nhà máy, xí nghiệp, công sở, xóm lao động, các thôn xóm ngoại thành.
Hướng trọng tâm xây dựng lực lượng tự vệ nhằm vào các nhà máy, xí nghiệp quan trọng trực tiếp đảm bảo cho hoạt động của thành phố như Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà máy đèn Bờ Hồ, Nhà Bưu điện, Sở hỏa xa. Dựa trên cơ sở tổ chức công đoàn, đoàn công tác xây dựng tự vệ có trách nhiệm chọn những quần chúng tốt để phát triển vào lổ chức tự vệ.
Sau hơn một tháng tuyên truyền giáo dục quần chúng, nhiều nhà máy đã bí mật phát triển được hàng chục đội viên, biên chế thành trung đội bao gồm nhiều tiểu đội ngành nghề để làm nòng cốt bảo vệ nhà máy, xí nghiệp, bảo vệ sản xuất. Từ trung tuần tháng 8 đến cuối tháng 9 năm 1954, ở nội thành tổ chức được 20 đơn vị tự vệ với 934 đội viên ở 5 nhà máy, xí nghiệp, 3 công sở, 2 bến cảng, 2 bệnh viện và 8 khu xóm lao động. Nhà máy điện Yên Phụ, đến cuối tháng 9 năm 1954, ta tổ chức được 1 trung đội tự vệ gồm 36 đội viên. Mỗi bộ phận quan trọng như vận lò, cơ khí, tua bin, bảng điện, than, biên chế... một tiểu đội để phù hợp với sản xuất, chỉ huy và bảo vệ sản xuất.
Ở ngoại thành, cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1954, cơ sở của ta chỉ có 26 thôn với một số quần chúng trung kiên. Đến ngày tiếp quản, nhiều nơi thành lập "Ban ủy nhiệm thôn" để điều hành công việc chung, phó thôn phụ trách quân sự. Lực lượng tự vệ được tổ chức ở 110 trong tổng số 136 thôn với 1.976 đội viên. Thành phần tự vệ đa số là nam, nữ thanh niên trẻ, khỏe, được giác ngộ, có ý chí quyết tâm, hầu hết là con em lao động. Đây là lực lượng nòng cốt cùng nhân dân làm chủ nông thôn, chuẩn bị địa bàn vững chắc để quân đội tiến vào tiếp quản thành phố.
Song song với công tác chuẩn bị lực lượng tiếp quản, cuộc đấu tranh chống địch phá hoại cơ sở hạ tầng, di chuyển máy móc vào Nam, chống cưỡng ép dân di cư vào Nam cũng diễn ra quyết liệt. Lực lượng vũ trang Ba Đình cùng lực lượng vũ trang Thủ đô phát huy tốt vai trò của mình trong đấu tranh với địch phá hoại, nhất là tự vệ ở cơ sở.
Ở Nhà máy điện Yên Phụ, ngày 12 tháng 9 năm 1954 quân Pháp đã mang đi 2 máy phát điện và viện đủ lý do để trì hoãn việc sửa chữa những máy móc bị hư hỏng, bắt công nhân tháo gỡ hàng chục máy biến thế điện lớn cùng nhiều máy móc quan trọng khác đưa vào Nam. Ban Cán sự Đảng nội thành đã trực tiếp chỉ đạo tự vệ chiến đấu và công nhân đấu tranh vạch trần âm mưu của chúng, nêu cao khẩu hiệu "Không rời máy móc một bước, bám sát nhà máy đấu tranh". Phối hợp với cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy điện, nhân dân các khu phố đã ký tên vào kiến nghị gửi cho chủ Nhà máy điện đòi phải cung cấp đủ than sản xuất, gửi cho Ủy ban liên hiệp đình chiến tố cáo và phản đối Pháp vi phạm Hiệp định Giơnevơ. Sau 2 tháng bền bỉ đấu tranh, lực lượng Đội tự vệ chiến đấu và công nhân Nhà máy điện Yên Phụ đã giành được thắng lợi. Bọn chủ Pháp phải bảo đảm chuyên chở đủ 4.000 tấn than dự trữ cho máy chạy đến sau ngày tiếp quản thành phố. Chủ nhà máy phải để nguyên vẹn thiết bị, máy móc, tài liệu thiết kế chờ tiếp quản.
Ở Nhà máy nước, trước khi rút khỏi Hà Nội, viên chủ cho tháo dỡ máy móc, thiết bị, cho đóng hòm chuyển đi Hải Phòng. Ban Cán sự Đảng nội thành trực tiếp chỉ đạo công nhân đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú, linh hoạt: Công nhân không khuân vác, lái xe không chở hàng, làm kiến nghị, kéo lên chất vấn chủ, đóng máy nghỉ tại chỗ, giằng giữ không cho chúng tháo máy. Chủ ra lệnh đuổi ngay một số công nhân và đưa lính Lê dương đến để khuân vác, cảnh sát, mật thám cũng đến để hăm dọa. Có lực lượng Tự vệ chiến đấu làm nòng cốt, công nhân đã tổ chức đấu tranh kiên quyết để bảo vệ nhà máy, giữ nguyên vẹn được thiết bị, máy móc, đặc biệt giữ được đội ngũ công nhân kỹ thuật, tài liệu thiết kế của nhà máy, đảm bảo cung cấp nước bình thường cho thành phố.
Ở Xí nghiệp thiết bị bưu điện, công nhân đã "nằm lỳ" ở xưởng giữ gìn máy móc, tài liệu, không cho địch tháo dỡ di chuyển vào Nam và đã đưa 2 xe vận tải chở máy móc ra vùng tự do. Ở Nhà máy bia Hommel, từ ngày 27 tháng 8 đến ngày 9 tháng 8, công nhân đấu tranh phản đối chủ sa thải thợ vô lý, đòi trở lại việc làm. Tiếp đó ngày 20 và ngày 21 tháng 9, lực lượng tự vệ làm nòng cốt, công nhân đấu tranh không cho địch tháo dỡ máy móc.
Cuộc đấu tranh của Tự vệ chiến đấu và công nhân các nhà máy diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức phong phú trong khuôn khổ trật tự, bình tĩnh với thái độ kiên quyết đúng mức có lý lẽ chính đáng, có sự chứng kiến của Ủy ban kiểm soát quốc tế, ngăn chặn có hiệu quả sự phá hoại của địch.
Trong lúc phong trào đấu tranh của tự vệ và nhân dân ở nội thành diễn ra sôi động thì ở ngoại thành, dân quân tự vệ cùng nhân dân tích cực đấu tranh chống địch cướp phá mùa màng, thôn xóm, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Các lực lượng tự vệ đã giám sát chặt chẽ các đồn bốt của địch đề phòng chúng tráo trở. Đến đầu tháng 10 năm 1954, khắp vùng ngoại thành đều thành lập được các cơ sở của ta, đông đảo nhân dân đã hăng hái gia nhập dân quân, tự vệ. Một số nơi đã lập được "Ban ủy nhiệm thôn" để điều hành công việc. Bộ máy ngụy quyền ở những nơi này đã bị vô hiệu hóa. Tự vệ còn giáo dục, thuyết phục hội tề, lính bảo an quay về với nhân dân, giám sát cường hào, đảng phái phản động, bắt chúng phải kê khai sổ sách, giấy tờ, tiền nong để chuẩn bị bàn giao cho cán bộ ta khi vào tiếp quản.
Thời gian này, thực dân Pháp và tay sai còn âm mưu dụ dỗ và cưỡng ép đồng bào, nhất là đồng bào Công giáo di cư vào Nam. Hằng ngày có rất nhiều đồng bào các nơi kéo về Hà Nội, đi tàu xuống Hải Phòng, tìm đường di cư vào Nam. Giáo dân Liễu Giai, nhà thờ Cửa Bắc cũng hoang mang, lo lắng trước luận điệu của chúng hô hào "Chúa đã vào Nam".
Để chống lại âm mưu, thủ đoạn dụ dỗ, cưỡng bức đồng bào di cư của địch, Thành ủy Hà Nội ra chỉ thị, nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng lúc này là vận động nhân dân, công nhân, công chức, trí thức ờ lại làm việc với Chính phủ ta, không để địch lôi kéo vào Nam, nhất là những người có kỹ thuật, có tên tuổi.
Thực hiện sự chỉ đạo của Thành ủy, các lực lượng vũ trang Ba Đình đã tích cực tham gia vận động, giải thích cho đồng bào về đường lối, chính sách của ta, chính sách tôn giáo của Chính phủ kháng chiến, vạch trần luận điệu "Chúa đã vào Nam" phi lý, lừa bịp của địch để đồng bào không mắc mưu chúng, yên tâm ở lại với phố phường, làng xã quê hương. Đại bộ phận bà con Công giáo đã ở lại chờ ngày giải phóng Thủ đô. Nhiều nhà máy, xí nghiệp, tự vệ tổ chức đưa công nhân kỹ thuật ra vùng tự do. Tự vệ Nhà máy nước vận động được 30 công nhân gia đình chuẩn bị đi Nam ở lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 08:07:00 pm » |
|
Theo Hiệp định Giơnevơ, ngày 19 tháng 10 năm 1954 quân Pháp rút khỏi Hà Nội. Từ các địa phương phía Bắc, hàng vạn lính dồn về Hà Nội để chuẩn bị vào Nam, bao gồm đủ các quân, binh chủng, các sắc lính. Chúng chiếm nhiều trường, sở làm nơi trú quân. Các loại vũ khí, đạn dược, khí tài chiến tranh và nhiều phương tiện chiến tranh khác chất đầy ắp, ngổn ngang trong các bãi, kho tàng, bến cảng. Tinh thần binh lính hoang mang cao độ.
Tận dụng cơ hội này, ta chủ trương đẩy mạnh công tác địch vận làm tan rã hàng ngũ địch. Thành ủy xác định công tác binh vận lúc này có tầm quan trọng đặc biệt, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Thủ đô, là mũi tiến công chính trị quan trọng góp phần vào thắng lợi tiếp thu, tiếp quản thành phố và góp phần làm suy yếu lực lượng địch sau này. Thành ủy chủ trương mở "chiến dịch địch vận" động viên đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia.
Trong công tác địch vận, Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội chủ trương tập trung vào đối tượng ngụy binh địch, dùng mọi phương pháp, hình thức để tuyên truyền sâu rộng chính sách của Chính phủ, vận động họ bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc.
Thực hiện chủ trương công tác địch vận của Ban Chỉ huy Mặt trận, ta tổ chức lực lượng dân quân du kích, cán bộ các đoàn thể và cơ sở cách mạng công khai tung truyền đơn vào thành, Trường Bưởi nơi địch đóng quân và các đồn bốt ở Cầu Giấy, Cống Vị, Quần Ngựa... làm tan rã hàng ngũ địch. Nhiều ngụy binh đã giác ngộ đem theo súng đạn xin ra vùng tự do.
Công tác binh vận đã góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của nhiệm vụ tiếp quản, giải phóng Thủ đô. Kết quả đó là thành tích trực tiếp của các cán bộ làm công tác địch vận tại Mặt trận Hà Nội. Trong đó có sự đóng góp của hơn 300 cơ sở quần chúng không quản hy sinh, gian khổ, tuy sống trong lòng địch vẫn bí mật hoạt động cách mạng, nuôi dưỡng, che chở cán bộ Mặt trận hoạt động.
Từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 10 năm 1954, Đội Hành chính, Đội Trật tự của ta vào trước để chuẩn bị nhận bàn giao các cơ quan, công sở, các vị trí quân sự. Ngày 8 tháng 10 hai bên ký xong các biên bản bàn giao. 18 giờ chiều ngày 8 tháng 10 tại Thành Hà Nội, tướng Mátxông làm lễ cuốn cờ về nước. Sáng mùng 9 tháng 10 các tiểu đoàn của Đại đoàn 308 từ các vị trí tập kết quanh đê La Thành vào nội thành tiếp thu các vị trí quân sự. Ở phía Tây Bắc, ta tiếp quản Cầu Giấy, Bưởi, Thụy Khuê, Kim Mã, Thành Hoàng Diệu, Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy nước và Phù Toàn quyền lúc 9 giờ 25 phút. 16 giờ chiều mùng 9 tháng 10, những tên lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên, Hà Nội hoàn toàn giải phóng, tưng bừng trong rừng cờ, hoa, biểu ngữ, niềm xúc động, hân hoan.
Sáng ngày 10 tháng 10 năm 1954, đoàn quân chiến thắng từ 5 cửa ô tiến vào thành phố. Đúng 15 giờ ngày 10 tháng 10, quân và nhân dân Ba Đình cùng 20 vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội quần áo chỉnh tề, cờ hoa rực rỡ sung sướng phấn khởi đến dự lễ mừng chiến thắng tại sân vận động Cột Cờ. Lá cờ đỏ sao vàng kéo lên đỉnh cột, phấp phới bay trong gió, đánh dấu một ngày lịch sử vẻ vang: Thủ đô Hà Nội đã hoàn toàn được giải phóng, Hà Nội từ nay sạch bóng quân thù.
Như vậy, sau một thời gian đấu trí, đấu lực quyết liệt với địch, ta tiếp quản tuyệt đối an toàn, nhanh gọn toàn thành phố Hà Nội, bao gồm hàng loạt các căn cứ quân sự, các công sở, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện được nguyên vẹn. Lực lượng tự vệ, dân quân du kích Ba Đình cùng lực lượng vũ trang Thủ đô đã góp phần tích cực trong quá trình tiếp quản.
Sinh hoạt của nhân dân nhanh chóng được ổn định, các ngành phục vụ công cộng như điện, nước vẫn hoạt động đều. Giao thông liên lạc giữa Hà Nội với các nơi được giữ vững, trật tự an toàn được đảm bảo. Các tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể và lực lượng vũ trang Ba Đình cũng như của các địa phương trong toàn thành phố có điều kiện để nhanh chóng củng cố, phát triển, phát huy vai trò trong quản lý địa bàn, phục hồi và phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta thắng lợi hoàn toàn. Một nửa đất nước được giải phóng. Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ba Đình được Đảng, Nhà nước chọn làm nơi bố trí trụ sở làm việc các cơ quan đầu não của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ Bộ Quốc phòng và các đầu mối quan trọng khác. Trong thắng lợi chung của nhân dân cả nước, nhân dân Thủ đô Hà Nội, lực lượng vũ trang Ba Đình đã góp phần quan trọng, hoàn thành sứ mệnh vẻ vang mà Đảng, Thành ủy Hà Nội, Mặt trận Hà Nội và nhân dân giao cho.
Trải qua hơn 10 năm, từ đầu năm 1945 đến khi tiếp quản giải phóng Thủ đô (10.10.1954), lực lượng vũ trang Ba Đình đã có sự phát triển lớn mạnh. Ra đời do nhu cầu bảo vệ các đoàn thể cách mạng đấu tranh với địch trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với các lực lượng tự vệ cứu quốc rộng rãi tại các cơ sở xí nghiệp, khu phố, như Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, Đội Công nhân xung phong, Đội Danh dự Việt Minh để tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp đến ngày tiếp quản Thủ đô, lực lượng vũ trang Ba Đình được chăm lo xây dựng, các lực lượng của Mặt trận Hà Nội xây dựng nên các đơn vị chủ lực, như các trung đoàn, các tiểu đoàn, đại đội, xây dựng Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, các đại đội, trung đội, tiểu đội dân quân tự vệ khắp các cơ sở (Tự vệ thành, tự vệ nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, đường phố trong nội thành và dân quân tự vệ ven nội thành), với hàng nghìn người khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (12.1946).
Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, các tổ chức vũ trang Ba Đình đã tham gia đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho quần chúng, trấn áp những tên Việt gian nguy hiểm, góp phần phát triển nhanh chóng lực lượng cách mạng cả về chính trị và quân sự. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang Ba Đình đã góp phần quan trọng vào thành công của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hưởng ứng ''Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, mệnh lệnh của Ủy ban quân sự Hà Nội, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng quân dân Thủ đô đã nổ súng mở đầu toàn quốc kháng chiến, kiên cường chiến đấu, với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng bộ và nhân dân Ba Đình và Thủ đô Hà Nội.
Sau khi Hà Nội trở thành vùng địch tạm chiếm, thực dân Pháp ra sức bình định thành phố Hà Nội, trong đó trọng tâm là Ba Đình, thành đầu não quân sự, chính trị của chúng ở miền Bắc Đông Dương (như Phủ Toàn quyền Đông Dương, thành Hà Nội...). Cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Ba Đình tuy gặp nhiều khó khăn, song các lực lượng vũ trang vẫn kiên cường bám đất, bám dân, bám nhà máy, xí nghiệp, công sở, trường học, gây dựng cơ sở kháng chiến, tổ chức quần chúng đấu tranh, tiến hành chiến tranh du kích ở khắp nơi, từ trong đường phố đến các làng xã ven nội thành, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề, góp phần cùng Hà Nội và chiến trường giành thắng lợi quyết định. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết lực lượng vũ trang Ba Đình đã nhanh chóng phát triển các lực lượng tự vệ, cùng nhân dân tích cực đấu tranh với địch, bảo vệ từng nhà máy, xí nghiệp, trường học, công sở, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân, cùng nhân dân Thủ đô Hà Nội đấu tranh khôn khéo, kiên quyết với địch, tiếp quản Thủ đô Hà Nội trọn vẹn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 08:09:13 pm » |
|
Chương 2 LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 -1975) 1. Xây dựng lực lượng và tham gia khôi phục, phát triển kinh tế sau khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng (1954 - 1960)Sau khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng (10.10.1954), hòa bình lập lại, song tình hình an ninh ở thành phố nói chung, Ba Đình nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và các thế lực phản động, phản cách mạng tiến hành hoạt động chống phá gây ra cho ta rất nhiều khó khăn. Theo Hiệp định Giơnevơ, quân Pháp phải rút hết quân ra khỏi miền Bắc, Hà Nội là một điểm tập kết của quân Pháp, nhưng do bản chất ngoan cố, hiếu chiến, thâm độc không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, chúng tìm mọi cách để chống phá. Chúng muốn rằng khi chúng rút đi rồi thì Hà Nội sẽ trở thành một thành phố chết, không có điện, không nước, giao thông trì trệ, trật tự an toàn không bảo đảm, các nhà máy phải đóng cửa. Do đó, ngay sau ngày tiếp quản, cuộc đấu tranh kiên quyết của lực lượng tự vệ và nhân dân Ba Đình chống những hành động chống phá của kẻ thù không kém phần quyết liệt, phức tạp. Kinh tế của Ba Đình do hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh xâm lược và sự phá hoại của kẻ thù trước khi rút chạy nên khó khăn chồng chất, nền kinh tế của quận rất lạc hậu, chủ yếu là thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ. Các cơ sở sản xuất như nhà máy, công xưởng, xí nghiệp nhỏ bé, hầu hết sửa chữa lại, thủ công, năng suất, hiệu quả thấp; nông nghiệp ven nội đình đốn, công nhân thiếu việc làm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Hàng nghìn người tàn tật, cơ nhỡ, trẻ em mồ côi, bệnh tật cao, nhiều tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại hết sức nặng nề. Để nhanh chóng ổn định tình hình, tháng 10 năm 1954 cơ quan quân chính Ba Đình đã đề ra và triển khai thực hiện nhiều biện pháp cấp bách như phát động nhân dân giúp đỡ nhau trong sản xuất; xây dựng bổ sung cán bộ cho bộ máy chính quyền, các đoàn thể từ quận xuống cơ sở; củng cố xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang; củng cố phát triển các đội tự vệ ở khu phố, nhà máy, công xưởng làm nòng cốt trong khôi phục phát triển kinh tế, ổn định chính trị và trật tự an ninh. Ngày 4 tháng 11 năm 1954, Ủy ban hành chính Hà Nội được thành lập, nội thành chia thành 4 quận, Ba Đình lúc này là quận 3 và một phần quận 5 và quận 6. Ngày 15 tháng 11 năm 1954, Ban Cán sự Đảng quận được thành lập, đồng chí Lê Kim Định là Trưởng ban Cán sự quận, đầu năm 1955 đồng chí Đặng Đức Lộc thay đồng chí Định chuyển công tác khác. Ban Cán sự quận gồm 23 cán bộ có trách nhiệm lãnh đạo, điều hành cả công tác đảng và chính quyền. Dưới cấp quận là khu phố, dưới khu phố có Ban Đại biểu và Ban Bảo vệ dân phố do nhân dân cử ra. Thực hiện chủ trương của thành phố, lúc đầu vẫn sử dụng các khu trưởng cũ, đồng thời tăng cường cán bộ, lập các đội công tác hành chính khu phố để nắm tình hình, dựa vào nhân dân để quản lý xã hội, chống lại âm mưu chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Là quận trung tâm của Thủ đô, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân Ba Đình là giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, bởi chế độ thuộc địa thực dân đã bị sụp đổ, nhưng những tàn dư, độc hại của nó để lại còn hết sức nặng nề, gây ra nhiều khó khăn, trở ngại lớn trong xây dựng và củng cố chế độ mới ở miền Bắc và quận Ba Đình. Hơn nữa, sau khi buộc rút khỏi miền Bắc, đế quốc Mỹ, thực dân Pháp đã bí mật tuyển chọn, cài cắm bọn tay sai tình báo, gián điệp nhằm thực hiện âm mưu phá hoại nước ta mà các quận của Hà Nội là trọng điểm. Ở Hà Nội vẫn còn 23 đảng phái phản động lén lút hoạt động chống phá, hàng vạn binh lính, sĩ quan, công chức của chế độ cũ. Để tăng cường công tác quản lý xã hội và thực hiện chủ trương của thành phố Hà Nội về việc đăng ký nhân, hộ khẩu, cuối năm 1955, Ba Đình đã thành lập Ban Chỉ đạo do đồng chí Trưởng Công an quận làm Trưởng ban. Cán bộ hộ tịch được cử về cùng chính quyền thôn xóm đi sát dân, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân và hướng dẫn mọi người chấp hành tốt việc kê khai, đăng ký nhân, hộ khẩu. Qua công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu đã nắm bắt được các thành phần dân cư sống trên địa bàn quận, đồng thời qua đó phát hiện, bắt giữ một số tổ chức phản động và gián điệp cài cắm lại, tạo môi trường chính trị - xã hội ổn định để khắc phục hậu quả và phát triển kinh tế - xã hội. Ở miền Nam, sau khi gạt Pháp ra khỏi guồng máy cai trị, đế quốc Mỹ tiến hành độc chiếm miền Nam, một nội các bù nhìn tay sai đã được thành lập do Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng. Diệm tuyên bố không có hiệp thương tổng tuyển cử nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta. Mỹ - ngụy tập trung mũi nhọn đàn áp phong trào cách mạng. Phong trào đấu tranh đòi lập lại quan hệ Bắc - Nam, đòi tự do dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước dâng lên mạnh mẽ. Hưởng ứng phong trào đó, đầu năm 1955 và năm 1956, Ban Cán sự Đảng quận Ba Đình đã chỉ đạo các đoàn thể, các khu phố vận động tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị quy mô lớn. Điển hình là các cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, mít tinh phản đối chính quyền miền Nam khủng bố tàn sát đồng bào ở Duy Xuyên, Hương Điền, chống trò hề "trưng cầu dân ý" của Mỹ - Diệm, mỗi cuộc mít tinh thu hút khoảng 4.000 người tham gia. Ngoài ra, các gia đình có người thân trong Nam, cán bộ tập kết ra Bắc hằng năm gửi hàng nghìn bưu thiếp, thư, kiến nghị, tin nhắn,... thể hiện nguyện vọng đòi tự do, dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất đất nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2026, 08:11:37 pm » |
|
Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, điều hành, quản lý xã hội, hệ thống chính trị của quận từng bước được củng cố, tăng cường. Tháng 3 năm 1956, quận 3 (trong đó có địa bàn Ba Đình) đã tổ chức hội nghị cán bộ chủ trì toàn quận thông qua quy định về lề lối làm việc và phối hợp công tác giữa các cấp, các ngành trong quận. Hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp của quận dần dần đi vào nền nếp và hiệu quả, 8 ban đại diện hành chính khu phố cũng được kiện toàn, mỗi ban từ 3 đến 5 cán bộ, 78 ban đại biểu và ban bảo vệ dân phố gồm 741 người tham gia. Đội ngũ cán bộ tuy chưa được đào tạo, bồi dưỡng về quản lý xã hội, đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng rất hăng hái nhiệt tình và có tín nhiệm cao với nhân dân.
Tổ chức đảng trong quận phát triển nhanh chóng, năm 1956 có 5 chi bộ, 121 đảng viên, đến năm 1957 tăng lên 12 chi bộ với 251 đảng viên, gồm 7 chi bộ đường phố 3 chi bộ cơ quan, 1 chi bộ xí nghiệp, 1 chi bộ công trường. Sinh hoạt chi bộ, tổ Đảng duy trì đều đặn, tập trung quán triệt chủ trương, nghị quyết của Đảng, giáo dục, rèn luyện đảng viên, đẩy mạnh công tác quần chúng, công tác phát triển đảng viên được quan tâm.
Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và mở rộng vai trò của Mặt trận Tổ quốc ngày càng nâng cao, thu hút hàng ngàn hội viên tham gia, đóng góp tích cực vào xây dựng, bảo vệ khu dân cư. Tổ chức công đoàn từ quận đến cơ sở được tăng cường, phát huy được vai trò của giai cấp công nhân trong lao động sản xuất, tích cực tham gia quản lý xã hội, thực hiện ký kết hợp đồng lao động, chống giới chủ sa thải công nhân, nạn khai man trốn thuế. Hội Phụ nữ phát triển thu hút hơn 11.400 hội viên, chia thành 554 nhóm theo ngành nghề lao động và khu dân cư. Chị em được giáo dục giác ngộ tích cực tham gia vào các tổ dân phòng, dân quân tự vệ; hơn 400 chị cùng nam giới tham gia công tác trong các ban đại diện hành chính khu phố, ban đại biểu, bảo vệ, tổ trưởng, tổ phó dân phố. Đoàn Thanh niên quận được tổ chức thành 28 chi đoàn ở các cơ quan, xí nghiệp, khu phố với tổng số 410 đoàn viên cũng tích cực tham gia vào các đội bảo vệ an ninh khối phố. Bước đầu tổ chức đoàn đã phát huy được vai trò thanh niên trong các mặt công tác, tham gia bảo vệ kỷ niệm Quốc khánh 2-9, kỷ niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Mười Nga... tích cực tham gia các đợt công tác đắp đê Mai Lâm, bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố.
Thời kỳ này, Ban Cán sự Đảng Ba Đình chú trọng chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng vũ trang, nhiều đồng chí bộ đội tình nguyện trong kháng chiến chống thực dân Pháp được phục viên trở lại khu phố hăng hái tham gia lao động sản xuất, tham gia lực lượng tự vệ, tổ dân phòng. Các đội tự vệ, các tổ dân phòng ở các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, khối phố được thành lập và phong trào phát triển mạnh, chất lượng từng bước được củng cố, nâng cao, như các tổ dân phòng ở Quán Thánh, Kim Mã, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Thành Công, Cống Vị.... Lực lượng dân quân tự vệ ở các khối phố tăng cường công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đề cao cảnh giác chống mọi âm mưu của địch, trấn áp tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự ở các khu phố. Đối với những người trước đây lầm đường lạc lối do địch ép buộc đi lính hay làm tay sai chỉ điểm cho địch, lực lượng dân quân tự vệ phối hợp cùng với các bộ phận khác tổ chức học tập chính sách của Đảng, Nhà nước, giao việc làm cho họ để xóa đi mặc cảm, hòa nhập với cộng đồng. Dưới sự chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng, các cấp ủy, các đội tự vệ khu phố, nhà máy, công xưởng, xí nghiệp không ngừng củng cố trở thành lực lượng nòng cốt, không ngại khó khăn trước nhiệm vụ mới, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tiền phong, gương mẫu, tích cực giữ gìn bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần cùng nhân dân quân Ba Đình khắc phục hậu quả chiến tranh, giữ vững niềm tin trong nhân dân.
Trước năm 1954, trên địa bàn Ba Đình có nhiều nhà máy quan trọng, nhiều ngành sản xuất thủ công nghiệp, nhưng sau khi rút khỏi Hà Nội, với chính sách "đốt sạch, phá sạch, giết sạch" của thực dân Pháp, nên đã để lại hậu quả rất nặng nề, các nhà máy trên địa bàn Ba Đình sau khi ta tiếp quản đều bị hư hỏng nặng, thiếu nguyên liệu để sản xuất, công nhân thiếu việc làm. Tình hình đó không những đặt ra cho Đảng bộ, nhân dân, mà còn đặt ra cho lực lượng vũ trang Ba Đình nhiệm vụ rất nặng nề là phải tích cực góp phần vào khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế ổn định đời sống cho nhân dân. Nhiệm vụ trước mắt chỉ đạo các tổ đội dân phòng, các tổ, đội dân quân tự vệ tích cực tham gia khôi phục các cơ sở công nghiệp do Nhà nước quản lý sau ngày giải phóng, các cơ sở sản xuất công nghiệp tư nhân để nhanh chóng ổn định, phát triển sản xuất góp phần đáp ứng nhu cầu thiết yếu cũng như giải quyết việc làm cho người lao động. Dưới sự chỉ đạo của Ban Cán sự quận, lực lượng vũ trang cùng các lực lượng khác phát huy truyền thống yêu nước, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn khôi phục và mở rộng các nhà máy xí nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Tại Nhà máy điện Yên Phụ, lực lượng tự vệ cùng công nhân phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm. Nhà máy bia, nơi có nhiều bộ phận máy móc bị hư hại, tự vệ, công nhân nhanh chóng sửa chữa lắp đặt lại hệ thống thiết bị dưới sự hướng dẫn của chuyên gia bạn và lực lượng bảo vệ nhà máy, nên đã trở lại hoạt động bình thường và bảo đảm chất lượng sản phẩm.
Nhà máy da Thụy Khuê, một cơ sở công nghiệp tư nhân, sau khi được bảo vệ và giúp đỡ, năm 1955 đã đưa mức sản xuất tăng lên 350 con da trong một tháng, lương công nhân tăng lên 2 lần so với năm 1954. Ngoài ra, lực lượng tự vệ cùng với nhân dân Ba Đình tích cực xây dựng một số cơ sở mới như xưởng ngói, xi măng, gạch, hóa chất. Ngành thủ công như may mặc, dệt vải, làm giấy, đan tre mây như ở các làng Vạn Phúc, Ngọc Hà, các cơ sở sửa chữa ô tô Sao Đỏ, Cờ Đỏ... được hồi phục, phát triển, thu hút một số người vào làm việc. Các cơ sở thương nghiệp trước đây phục vụ cho nhu cầu của chiến tranh được chuyển thành những cơ sở phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân. Các cơ sở mậu dịch quốc doanh được mở rộng dân, bảo đảm ổn định giá cả thị trường.
Trên địa bàn Ba Đình, diện tích canh tác vùng ven nội không nhiều, số người lao động ít nhưng lại có vị trí quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân dân và thúc đẩy các mặt khác. Do đó, Đảng bộ Ba Đình đã tập trung chỉ đạo việc phục hồi sản xuất nông nghiệp vùng ven nội. Quán triệt chủ trương đó, lực lượng dân quân tự vệ với vai trò nòng cốt cùng sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đã giúp đỡ nhân dân về phương tiện, vốn, cử cán bộ tăng cường về hướng dẫn nhân dân sản xuất. Đến năm 1957, hầu hết ruộng đất ở ven nội không còn bỏ hoang, trở thành đất trồng trọt, kể cả ruộng vườn của đồng bào bị cưỡng ép di cư vào Nam. Trong 3 năm, từ 1955 đến 1957, sản xuất nông nghiệp của quận cơ bản được phục hồi, đời sống nhân dân được ổn định, sản xuất nông nghiệp vùng ven nội được tăng lên rõ rệt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|