Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:07:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đời và những trang nhật ký  (Đọc 6615 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:01:13 pm »

- Tên sách: Cuộc đời và những trang nhật ký
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2021
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


Lời nói đầu

Đầu năm 1965, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bước sang một giai đoạn mới, chiến tranh đã lan rộng ra phạm vi cả nước. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và của Bác, lớp lớp thanh niên nô nức lên đường tòng quân ra mặt trận. Khí thế hừng hực, sục sôi trong các tầng lớp nhân dân, công nhân và trí thức.


Tôi là lớp thanh niên vừa mới lớn lên, còn đang ngồi trên ghế nhà trường mà cũng xao xuyến, rạo rực muốn nhập ngũ. Học lên lớp Sáu, lớp Bảy, một số bạn đến tuổi xếp bút nghiên lên đường. Chúng tôi chia tay bạn mà cứ mong đến lượt mình. Trong thời điểm đó, mỗi năm có đến hai, ba đợt tuyển quân, năm 1967 có đến bốn, năm đợt tuyển quân, có những đợt chỉ cách nhau trên dưới một tháng. Tôi được tuyển trong năm đó, toại nguyện mơ ước lên đường ra mặt trận... Lý tưởng, hoài bão trong tôi cũng như bao anh em bạn bè cùng trang lứa bây giờ là được lên đường tiếp bước thế hệ đi trước thực hiện sự nghiệp vẻ vang của Đảng là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc... Và điều đó đã trở thành hiện thực.


Sinh ra đã biết chiến tranh, lớn lên được nuôi ăn học hết lớp Bảy phổ thông, cũng vừa lúc đến tuổi trưởng thành, nhập ngũ vào Quân đội, tôi đi khắp các chiến trường đánh giặc Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế và bảo vệ biên giới quốc gia. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, ngoảnh lại cuộc đời đã hơn 40 năm trong Quân đội, tôi rất tự hào về những điều mà mình đã phấn đấu và làm được. Vào Quân đội khi tuổi đời còn rất trẻ, lúc trở về mái tóc đã hoa râm, quê hương có quá nhiều đổi thay. Ngày nhập ngũ, bố mẹ, họ hàng, bà con làng xóm luôn mong chờ và gửi gắm niềm hy vọng vào tôi, nay thì tất cả đã trở thành người thiên cổ, một thế hệ đã đi xa... Âu đó cũng là quy luật!


Có nhiều lúc tôi cứ bần thần nghĩ về quá khứ nhưng rồi thấy con cháu "tre già măng mọc" kế tiếp đang khôn lớn, trưởng thành luôn bên cạnh, tôi lại ấm lòng, mãn nguyên và thấy mình may mắn hơn bao người, nhất là so với những đồng đội đã hy sinh hay đế lại một phần xương máu trên chiến trường. Đây cũng là lúc tôi có thời gian hồi tưởng lại chặng đường mình đã đi, từ trai trẻ đến giờ, nhất là khoảng thời gian song, chiến đấu, cống hiến hết mình cho Quân đội, và ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc sống, để lại đôi dòng tâm sự cùng con cháu và đồng đội về "Cuộc đời và những trang nhật ký".


Thời gian đã lùi xa, bao đồng chí, đồng đội từng kề vai sát cánh, cùng với bao sự kiện diễn ra mà khả năng thể hiện của tôi có hạn không thể diễn tả đầy đủ, chi tiết được. Và cũng có thể còn có những hạn chế, thiếu sót dưới góc nhìn của cá nhân. Do đó, rất mong nhận được sự đóng góp xây dựng và cảm thông, lượng thứ của các đồng chí cùng bạn đọc.

TÁC GIẢ
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:02:50 pm »

I. THỜI THƠ ẤU

Theo bố mẹ, tôi sinh đầu năm 1950 tại thôn Trung, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Thế hệ các cụ ngày trước, khi sinh con, bố mẹ có khi chỉ nhớ mang máng sinh cùng năm với con nhà nào trong xóm và khoảng tháng mấy chứ ít gia đình có thể nhớ được con cái sinh cụ thể vào ngày, tháng, năm nào, nhưng sau này, bố mẹ tôi lấy ngày sinh của tôi là ngày 20 tháng 4 năm 1950. Đây là thời điểm gay go, quyết liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.


Bố mẹ tôi kể lại, vừa sinh tôi được vài ngày thì một đơn vị lính Pháp và tay sai mở trận càn lớn vào ba thôn Đông, Trung, Thượng. Tất cả các cụ già, trẻ nhỏ, đàn bà chân yếu, tay mềm đều phải chạy ra các làng Bích Chu, Thủ Độ thuộc xã An Tường và các làng tề để lánh nạn. Mẹ tôi vội lót giẻ rách, quần áo cũ và một số đồ đạc vào đôi mủng, đặt tôi nằm gọn một bên theo mẹ đi tản cư... Gia đình tôi ở nhờ nhà người dân địa phương, có lúc phải ra lánh nạn ngoài cánh đồng mía, ngô đợi vài hôm tình hình yên ắng mới dám trở về.


Dân tản cư hết, ở trong làng chỉ còn lại lực lượng du kích, bộ đội địa phương, dân quân chiến đấu. Nhưng thường thì do lực lượng ta mỏng, vũ khí thô sơ, chủ yếu là giáo mác, gậy tầm vông, dựa vào địa hình làng xóm để quần lộn với địch nên cuối cùng vẫn phải xuống hầm bí mật. Lính Pháp và tay sai mặc dù đông và vũ khí hiện đại đấy nhưng cũng chỉ dám càn quét làng xóm ban ngày, đến tối là vội vã rút quân về bốt Quảng, bốt Thùng chứ không dám ở lại làng qua đêm. Cứ như vậy cuộc chiến đấu liên tục diễn ra: Địch càn, ta chống càn rồi luồn càn hay rút xuống hầm bí mật; địch rút quân thì cán bộ, nhân dân lại trở về làng, du kích bật hầm hoạt động trở lại. Càng về sau, do địch thất bại trên khắp các chiến trường, trong khi lực lượng ta càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành nên địch cũng huy động lực lượng lớn hơn mở các trận càn lớn, quy mô, ác liệt hơn và cũng dài ngày hơn nhằm làm chủ tình hình. Sau này, mỗi khi có động (địch càn), ông nội tôi lại vội dắt hai cháu (tôi và anh trai) theo đoàn người tản cư ra làng Phù Chính (vùng tề) cùng xã. Hết càn, ba ông cháu lại dắt díu nhau trở về.


Đầu năm 1953, trận thôn Táo, một trận đánh lớn, lịch sử của quê hương tôi đã diễn ra giữa một đại đội bộ đội địa phương của ta với một đại đội xe tăng, thiết giáp của địch. Một buổi sáng đầu năm 1953, cơ sở của ta báo tin một đại đội xe tăng, thiết giáp có bộ binh ngồi trên của địch xuất phát từ Việt Trì đi theo đê sông Hồng qua xã Lũng Hòa, Cao Đại, An Tường về xã Tuân Chính để phối hợp với các bốt Thùng, bốt Quảng Cư... mở một trận càn lớn, hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực, du kích địa phương và cơ sở cách mạng của ta. Đại đội bộ đội địa phương Vĩnh Tường nhanh chóng trinh sát chuẩn bị chiến trường và triển khai chiến đấu. Địa điểm chọn trận địa phục kích: Đầu làng thôn Táo - xã Tuân Chính là trận địa chặn đầu quân địch. Trận địa khóa đuôi là thôn Thùng Mạch - xã An Tường, đoạn đê cao giữa hai xã, hai bên là ngô, mía rậm rạp, tiện cho việc ém và giấu quân...


Đúng như tin báo và dự kiến, khoảng 8 giờ sáng một ngày đầu tháng 2 năm 1953, bộ phận quan sát của ta báo về nghe thấy nhiều tiếng động, xe tăng và khói bụi theo đê từ xã Cao Đại tiến gần đến trận địa... Tất cả đã sẵn sàng... Khi địch tiến vào đúng trận địa phục kích, bộ phận chặn đầu được lệnh nổ súng. Bị chặn đứng, đoàn xe dừng lại, bộ phận khóa đuôi được lệnh chia cắt phía sau. Đoạn giữa, chủ lực ta được lệnh nổ súng, xung phong, tiêu diệt một số tên địch trên và ngoài xe. Lúc đầu do bất ngờ lọt vào đúng ổ phục kích của ta, quân địch bị hoảng loạn, chống đỡ yếu ớt. Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm, xung phong đánh gần, giáp lá cà, đâm lê, có nhiều đồng chí trèo lên xe, bám chặt quyết dùng lựu đạn tiêu diệt xe tăng. Bộ đội ta vũ khí chủ yếu là súng trường, lựu đạn, giáo mác trong khi lực lượng địch đông, hỏa lực mạnh nên dần dần chúng co cụm lùi xa trận địa chính, dùng hỏa lực súng máy trên xe chi viện cho nhau, xe sau chi viện cho xe trước nên thế trận giằng co rất quyết liệt. Đến gần trưa, trận đánh kết thúc, quân ta bị thiệt hại lớn. 34 cán bộ, chiến sĩ hy sinh được nhân dân địa phương đưa về mai táng, hiện đang yên nghỉ trong nghĩa trang của xã trước cổng trường cấp Hai và Ủy ban nhân dân xã Tuân Chính.


Đây là trận đánh điển hình, xuất sắc, mưu trí, dũng cảm phát huy các loại vũ khí, trang bị hiện có trong biên chế như súng trường, lựu đạn, giáo mác... để đánh lại quân địch có trang bị hiện đại. Tuy trận đánh chưa giành thắng lợi nhưng đã để lại những bài học kinh nghiệm được phổ biến đến các chiến trường học tập rút kinh nghiệm.


Hồi còn là học sinh, cứ mỗi khi đến ngày 22 tháng 12. Ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Ban Giám hiệu nhà trường lại mời các nhân chứng lịch sử kể chuyện truyền thống quê hương cho toàn trường nghe... Tôi còn nhớ mãi truyền thống cách mạng của quê hương trong đó có trận thôn Táo lịch sử. Và tôi thật sự tự hào vì trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã Tuân Chính - huyện Vĩnh Tường có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc, được Đảng, Nhà nước, Quốc hội phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Xã có hàng chục Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có sáu sĩ quan Quân đội và Công an được phong quân hàm cấp tướng, một trong những xã có sĩ quan cấp tướng đứng đầu tỉnh Vĩnh Phúc.


Ngày 18 tháng 9 (âm lịch) năm 1953, một trận đánh lớn nổ ra giữa dân quân, du kích, bộ đội địa phương với lực lượng đi càn của quân Pháp vào các thôn Đông, Trung, Thượng. Lực lượng bên ta mỏng, yếu hơn nên phải rút xuống hầm bí mật. Quân Pháp chiếm được làng, dồn dân tập trung một chỗ, đánh đập, tra khảo rất dã man. Những ai chúng nghi ngờ là bắn chết tại chỗ để uy hiếp tinh thần nhân dân. Một số nông dân đi làm đồng, chúng nghi là du kích nên bắn chết tại cánh đồng.


Trước cảnh giặc càn, ông nội tôi và anh trai cùng một số gia đình khác vội dắt nhau ra làng Phù Chính tránh càn. Chủ nhà là bà Sơn, có nhà, có vườn rộng, chuồng trâu đào âm xuống lót rơm, vệ sinh sạch ở xung quanh nhà, rất tiện cho việc trông nom nhưng nếu dính bom thì thiệt hại cũng sẽ rất lớn. Mà quả thế, một loạt pháo 105mm từ bốt Tây Đằng (Ba Vì - Sơn Tây) bắn vào giữa làng, trúng chỗ ông cháu tôi trú, làm chết tại chỗ bốn người toàn trai trẻ dưới 20 tuổi, trong đó có anh trai tôi, hai người gia đình ông Cục, một người nhà bà Sơn, còn gần chục người nữa bị thương, trong đó có ông cháu tôi. Hai ông cháu tôi được mọi người nhanh chóng cấp cứu và đưa sang bệnh viện Sơn Tây chạy chữa. Rất may có bà Lợi thôn Đông, gái họ Thiều, thường xuyên đi chợ Sơn Tây, mang quần áo, đồ ăn thức uống cho hai ông cháu, vết thương không nặng lắm. Ông tôi bị nhiều mảnh pháo vào người, một mảnh sượt qua trán, còn tôi bị trúng ba mảnh đạn, trong đó mảnh vào đùi là nặng nhất. Nằm viện khoảng ba tuần thì ông cháu tôi được xuất viện.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:03:58 pm »

Trong lúc ông cháu tôi sơ tán lên Phù Chính và dính phải đạn pháo thì ở nhà, bố mẹ tôi cũng đi sơ tán nơi khác, biết tin anh tôi mất, ông cháu tôi bị thương, cả gia đình bàng hoàng vì mất, mát quá lớn và đột ngột. Gia đình tôi lên Phù Chính cùng gia đình chủ nhà lo mai táng cho những người đã mất, anh trai tôi được đưa về cánh đồng Vua (giữa làng Phù Chính - thôn Đông, bờ sông ngoài) để mai láng. Sau này khi cải táng, hài cốt anh tôi được đưa về đồng Mỏm (ruộng của gia đình). Anh trai tôi sinh năm 1941, khi mất mới 13 tuổi xuân. Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh. Dù lúc đó tôi còn rất bé nhưng vẫn mơ hồ cảm nhận về nỗi đau mất người thân của những người trong gia đình.


Chiến tranh diễn ra ngày càng khốc liệt, quê tôi là vùng địch tạm chiếm, bốt địch dày đặc, các trận đánh diễn ra liên tiếp, nhất là khi phối hợp với các chiến dịch và chiến trường chính. Bom đạn cày xới làng xóm, nhà cháy cây héo khô, khắp đồng quê nồng hơi súng, xác xơ. Chết chóc đau thương bao trùm một miền quê vốn trù phú và giàu truyền thống cách mạng.


Nhưng rồi chiến tranh cũng qua, ngày đó còn bé quá tôi chưa cảm nhận hết về niềm vui chiến thắng nhưng vẫn nhớ những ngày thực hiện cải cách ruộng đất làm thay đổi cuộc sống gia đình tôi. Những năm 1955 - 1960, gia đình tôi đươc chia gần một mẫu mộng. Có ruộng rồi, các gia đình đổi công cho nhau, làm như vậy rất thuận lợi, nhanh, bảo đảm thời vụ. Bố tôi hay tậu nghé về để vực, thuộc cày rồi lại đem bán mua con khác. Tôi biết làm nông từ rất sớm. Với cái nón mê, quần cộc, dưới sự chỉ bảo của bố, tôi đi trước cầm thừng dắt trâu, bố đi sau cầm cày, bừa, thế là chín, mười tuổi tôi đã trở thành lao động phụ trong gia đình. Mẹ tôi phát góc, bờ, đi cấy, thường đi sau, nấu cơm, xôi, bánh, hoa quả mang cho hai bố con tôi đi làm thật sớm cho mát và cũng để kịp có ruộng cấy.


Lúc tôi đã bảy, tám tuổi rồi mà không có lớp, có trường, cả lũ trẻ chúng tôi đều không được đi học. Năm 1958, ông Đạo là người trong dòng họ, biết chữ, tập trung bọn trẻ, lấy nhà ở mọ Ngư (Ngư Để) làm lớp học. Lớp học chỉ có ba gian nhà ngoài, không bàn ghế. Hơn 20 học sinh phải kê bảng, sách lên phản, giường, cánh cửa để học. Sang năm sau thì bà giáo An dạy thay cho ông Đạo.


Ngày 5 tháng 9 năm 1960, khi mười tuổi, tôi mới chính thức vào học lớp Một. Lớp học ở chùa Hoa Dương, ngách bên trái nhìn vào gọi là sảnh chùa, giữa không gian là năm cây cau thành hàng tốt, quả xum xuê, ngày mồng Một ngày Rằm, Tết là các vãi thường hái vào thờ. Trong những ngày đó, khói hương nghi ngút, sư cụ ra làm lễ, bọn trẻ chúng tôi tò mò dõi theo, có đứa bắt chước sư cụ bái lạy Phật.


Thầy giáo của chúng tôi tên là Hồ, khoảng hơn 50 tuổi, quê xã Thái Học. Tính thầy điềm đạm, hiền hậu. Thầy nhiều năm dạy học nên có rất nhiều kinh nghiệm. Buổi học đầu tiên gieo vào lòng tôi ân tượng sâu đậm. Cả lớp im phăng phắc nghe thầy giảng, niềm khát khao con chữ bấy lâu nay của chúng tôi giờ đây mới được thỏa.


Năm học lớp Hai và lớp Ba, chúng tôi được chuyển ra học tại miếu thôn Thượng, rộng và thoáng hơn ở chùa. Thầy giáo tên Vận, quê ở xã Đại Đồng. Thầy trẻ, đẹp trai, khoảng trên dưới 30 tuổi. Hai năm học, thấy rất tình cảm, gần gũi với học sinh. Vào lớp Hai, buổi đầu tổ chức lớp, thầy chỉ định tôi làm lớp trưởng rồi xin ý kiến cả lớp, tất cả lớp đồng thanh nhất trí, thế là tôi thành lớp trưởng trong hai năm học do thầy phụ trách.


Giữa năm học lớp Hai, thầy phát động đóng góp quỹ lớp, mọi người đóng theo quy định, tất cả quỹ đều giao cho lớp trưởng giữ. Có mấy đồng bạc của lớp mà tôi lo mất ăn, mất ngủ vì tôi chưa có tiền và chưa giữ một số tiền lớn như thế bao giờ.

Năm học lớp Ba, thầy tổ chức lớp đi lao động công ích một tuần tại Nhà máy đóng tàu Việt Trì. Do phương tiện khó khăn nên thời gian đi và về đã mất đứt hai ngày, chỉ còn năm ngày để lao động, khiêng sỏi ở bãi lên xà lan. Học sinh nhỏ tuổi, chưa lao động nặng bao giờ nên chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, đi xa, mỏi chân, nhiều bạn bị tụt lại phải nhờ giúp đỡ... Tuần lao động công ích đó đã để lại rất nhiều kỷ niệm mà sau này bạn bè thỉnh thoảng có dịp gặp lại nhau vẫn hào hứng nhắc lại.


Hai năm học thầy Vận, được làm lớp trưởng, tôi học tốt, ngoan, được nhà trường tặng giấy khen và thầy có phần thưởng... Bố mẹ tôi rất yên tâm, phấn khởi và tự hào về tôi.

Năm tôi học lớp Bốn, do học sinh đông, trường chật chội nên lớp học tạm ở miếu, chùa và đình thôn Trung chỉ dành cho học sinh cấp Hai, còn tất cả các lớp khác sang học tại đình Phù Chính. Thế là sau ba năm học, đã quen thầy, quen bạn giờ đành phải xa nhau, biết bao lưu luyến.


Lớp Bốn có khoảng trên 40 học sinh, toàn người thôn Đông, Phù Chính, Quảng Cư, riêng xóm Xuôi có gần chục người đều là anh em trong họ. Lớp học cách nhà hơi xa nên chúng tôi phải đi sớm, về muộn.

Thầy giáo của chúng tôi tên là Soạn, quê ở Thượng Trưng (giáp đầu làng thôn Thượng). Thầy rất nghiêm và khó gần. Đi học muộn, nói chuyện, không thuộc bài, hay mắc khuyết điểm gì là thầy gọi lên bảng phạt, bắt đứng hàng giờ. Một lần, cả lớp tập trung lắng nghe thầy chữa bài tập cũ, bài tập làm văn của tôi được thầy chấm cho điểm cao và lấy làm mẫu để chữa, nhưng cần sửa một số câu. Thầy chữa xong và cầm bài đọc cho cả lớp chép. Cả lớp chép bài ngồi im phăng phắc, tôi ngồi không chép mà còn quay sang nói chuyện riêng. Thầy dừng lại, nghiêm sắc mặt, để bài lên bàn, gằn giọng:

- Thiều Chí Đinh?

- Có! - Tôi vội đáp lời.

- Đứng dậy, lên bảng... Tại sao thầy đọc em không chép bài?

Tôi ấp úng nói không thành lời. Thầy nói:

- Em đứng gần lại đây... ngửa hai bàn tay, để lên bàn.

Tôi ngoan ngoãn làm theo... Thầy cầm cây thước kẻ bảng dài khoảng 60cm giơ thẳng, đánh hai cái vào hai bàn tay tôi. Trời mùa đông rét lạnh, quá đau làm tôi không còn cảm giác gì nữa. Đó là một bài học để đời!

Thi hết cấp, cả lớp đều đạt điểm đỗ trở lên và chuyển về trường cấp Hai tại Tuân Chính. Ngày 5 tháng 9 năm 1964, lần đầu tiên chúng tôi được học trường chính quy, nhà cửa khang trang, bàn ghế sạch sẽ. Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo đều trên dưới 30 tuổi. Thầy Chi là Hiệu trưởng, quê ở Thượng Trưng, cao tuổi hơn cả. Các thầy cô đều tốt nghiệp trường sư phạm chính quy của những năm đầu đất nước hòa bình.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:04:55 pm »

Tôi học lớp thầy giáo Hòa làm chủ nhiệm, quê thầy ở Nam Hà. Thầy rất nghiện thuốc, chuyên môn giỏi, gần gũi, yêu thương học trò nên cánh học sinh chúng tôi rất quý mến thầy. Có những đêm thầy còn lặn lội tới thăm hỏi hoàn cảnh gia đình, phụ đạo thêm cho học sinh. Thầy là tấm gương mẫu mực về đức độ, tình cảm của người thầy đối với học sinh. Sau này, khi có cơ duyên với nghề quản lý giáo dục ở ngôi trường lớn nhất của Quân đội, mỗi lần nhìn các thầy cô trong trường, tôi lại như thấy có bóng dáng thầy Hòa chủ nhiệm của tôi thuở nào.


Khi tôi đang học lớp Năm thì cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ngày càng căng thẳng, ác liệt, lan ra toàn miền Bắc. Mỗi người chúng tôi phải đan một chiếc mũ rơm đội lên đầu khi đi học, vào lớp thì treo vào sau ghế ngồi, có báo động là nhanh chóng đội vào chạy ra hầm trú ẩn. Cứ thế, mỗi buổi học có khi diễn ra báo động liên tục vài lần. Trên trời, máy bay phản lực gầm rú. Mặt đất, pháo phòng không, tên lửa của bộ đội ở khắp các trận địa nổ ran mảnh đạn rơi lõm bõm ngoài đồng, trong làng. Đầu làng Phù Chính, ngoài bãi cát, giữa cánh đồng có một trận địa tên lửa Sam 2, tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 14,5mm và một số pháo khác bảo vệ. Mỗi khi có máy bay, ra đa cảnh giới rú còi báo động, chúng tôi lại chạy ra hầm trú ẩn. Không có ngày nào địch không đánh phá Hà Nội, Sơn Tây, Việt Trì, ga Hương Canh (thị xã Vĩnh Yên - Phúc Yên)... Dân quân tự vệ vừa sản xuất vừa chiến đấu, súng bộ binh K44, CKC lúc nào cũng đeo bên người, khi chưa có máy bay Mỹ thì giá ngoài bờ ruộng sẵn sàng chiến đấu.


Học hết lớp Năm ở trường chính quy, đến năm học lớp Sáu, lớp Bảy, chúng tôi phải sơ tán toàn bộ khỏi trường. Lớp chúng tôi được sơ tán về đầu làng ở xóm trại trong vườn nhà ông Tình Hiếu. Nhà trường, xã thuê vườn lâu dài, đào hào sâu, đắp bờ xung quanh, có hào cơ động ra các hầm. Lớp làm bằng khung tre, lợp lá cọ, mát và đủ sáng cho thầy và trò dạy và học. Lớp học tách xa khu dân cư, kín đáo, bất ngờ nên không sợ máy bay địch đánh phá.


Hai năm học cuối khóa, trong điều kiện chiến tranh, biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà thầy và trò chúng tôi đều vượt qua và học tập tốt. Tất cả các sinh hoạt thời chiến vẫn diễn ra đan xen với sinh hoạt đời thường. Chúng tôi học tập, lao động và vui chơi dưới sự đe dọa của máy bay Mỹ có thể bất ngờ kéo đến bất cứ lúc nào. Khó khăn, nguy hiểm rất nhiều nhưng không vì thế mà mọi hoạt động bị đình lại, âu cũng là nét đặc biệt của chiến tranh nhân dân Việt Nam.


Đầu năm 1960, thực hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng và Nhà nước đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, làm ăn tập trung, đưa cơ giới, máy móc kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất và nâng cao đời sống. Nông dân quê tôi và toàn miền Bắc phấn khởi, tin tưởng đem hết ruộng, vườn vào hợp tác xã. Thế là từ đó, cứ theo tiếng kẻng, các đội rủ nhau ra làm đồng, kẻ cày, người bừa, cấy, nhổ mạ... đông vui nhộn nhịp.


Hợp tác xã thôn Trung có trại nuôi lợn, trâu tập trung, nhiều đàn lợn chất lượng kém, kém kỹ thuật chăn nuôi, thiếu ăn nên lợn gầy, lâu lớn, có lúc chết nhiều. Mấy đứa bọn tôi được bố mẹ giao đi lấy rau lợn cho hợp tác xã nên sáng đi học, trưa về ăn vội phần cơm được ủ chiếu, chăn chiên cho nóng, xong là mang đôi quang, cái liềm ra đầm Vùng, đầm Khoang, đầm Bún, cởi quần áo, ngụp xuống, nhô lên khoảng hơn tiếng đồng hồ là có rong xếp vào quang gánh về sân kho, cân cho ông đội trưởng phụ trách chăn nuôi được 50 - 60kg là đạt hơn chục điểm, về nhà đưa cho bố mẹ chiếc phiếu điểm là được đi chơi, coi như đã hoàn Thành công việc trong ngày. Vừa học, vừa làm, cứ như thế suốt ba năm học cấp Hai, tôi cũng giúp bố mẹ có thêm chút thu nhập, ổn định cuộc sống gia đình.


Quê tôi đầm nhiều, ruộng sâu nên hợp tác xã trồng sen và thả cá. Mỗi mùa mưa đến, cá cứ ngược theo dòng nước lên khắp các cánh đồng, dân làng đổ ra như trẩy hội để bắt cá rô rạch, các loại cá chép, mè, trôi, trăm... Mặc dù đầm do hợp tác xã quản lý nhưng mùa mưa cá lên nhiều, các ông trông đầm cũng không sao quản lý nổi, tôi và mấy thằng bạn cùng xóm có ngày bắt được cả tạ cá, không dùng hết còn đem bán. Cá trên sông đào cũng nhiều, nước to thì kéo lưới, cất vó, nước cạn thì rủ nhau đem nơm úp cũng được vài chục cân. Cá, tôm, cua, ốc, ếch thời đó quê tôi rất sẵn, đã đi là có thứ ăn, có khi còn được rất nhiều. Đầu mùa mưa, ếch, nhái, ễnh ương kêu râm ran nhức óc, có đêm ba, bốn thằng chúng tôi đem về hàng trăm con, con nào cũng to, vàng ươm, nhốt nồi, nhốt chum không hết còn đem nhốt tăngxê (hầm tránh máy bay) ở bụi tre đầu nhà để đem bán dần lấy tiền ăn học. Mấy thằng choai choai chúng tôi: Đinh, Đỏ, Nhi, Vũ, Tý, Đun, Cần, Lan, Thám... chơi với nhau rất thân, đi đâu, làm gì cũng có nhau, nhất là công việc mò cua, bắt cá đã trở thành một thú vui, niềm ham mê nên có bữa say sưa chúng tôi đi hết dộc Khoang, dộc Đánh, đầm Chối, chổ Rô, xuống đầm Quảng Cư để đánh bắt cá, đi suốt đêm, sáng về lại cắp sách đi học...


Ban ngày chúng tôi học tập, lao động giúp gia đình, tối về lại miệt mài tự học. Nhà chúng tôi đều nghèo, đất nước thì đang khó khăn, dầu hỏa thắp sáng được Nhà nước, hợp tác xã phân phối cho mỗi khâu quá ít nên phải rất tiết kiệm mới dù cho các tối học, vậy là phải hai, ba anh em, thậm chí bốn anh em chung một cây đèn dầu. Ấy thế mà chúng tôi đứa nào cũng, say mê học, không coi đó là trở ngại. Có đêm đang học thì nghe kẻng báo động, phải vội tắt đèn chạy ra hầm phòng tránh máy bay.


Lúc bấy giờ, việc học tập chưa quy củ như hiện nay nên trong một lớp học có nhiều độ tuổi khác nhau. Vì thế, đang học mà lớp chúng tôi đã có một số bạn đủ tuổi nhập ngũ. Nhiều bạn nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, của Bác háo hức đăng ký nhập ngũ nên lớp học cứ thế vơi dần đi sau mỗi đợt khám tuyển quân sự... Trong không khí "cả nước ra trận", nhìn bạn bè lớn tuổi hơn lên đường mà lòng tôi ao ước. Ba năm cấp Hai đầy biến động, khó khăn, gian khổ và thiếu thốn rồi cũng xong. Tháng 5 năm 1967, chúng tôi thi hết cấp.


Sau khi thi đỗ tốt nghiệp cấp Hai, đa số chúng tôi 17, 18 tuổi, một số ít theo học cấp Ba, một số làm đơn thi trung cấp sư phạm, ngành y, cơ khí, còn lại xin đi bộ đội... Riêng tôi không định thi trường nào mà chỉ quyết đi bộ đội để được vào chiến trường chiến đấu. Mặc dù bố mẹ, gia đình, bạn bè khuyên bảo nhung tôi vẫn một mực theo ý tưởng của mình, không thay đổi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:06:38 pm »

II. NHẬP NGŨ

Bảy năm học phổ thông và một mùa thi để lại những dấu ấn, kỷ niệm khó phai của một thuở học trò. Bọn con gái rất sôi nổi, nhộn nhịp làm đơn xin đi học trung cấp. Cánh con trai một số ít cũng thi, còn lại hầu hết là đi bộ đội. Bấy giờ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của chúng ta đang chuẩn bị cho một bước ngoặt rất lớn mà sau này mới biết: Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam. Nhưng bấy giờ thì ở miền Bắc, việc động viên thanh niên lên đường ra trận được tuyên truyền sâu rộng và trở thành lý tưởng của cả một thế hệ. Là học sinh, từ khi ngồi ghế nhà trường đến khi tốt nghiệp, mục tiêu của đa số bạn bè, trong đó có tôi là chiến trường miền Nam. Trong tâm khảm tôi, lúc nào hình ảnh của chiến trường miền Nam cũng như đang vẫy gọi!


Một sáng mùa Thu, tôi nhớ không nhầm thì đó là khoảng 7 giờ ngày 11 tháng 9 năm 1967, như thường lệ, tôi và mấy thằng bạn thân vẫn đến nhà nhau chơi. Nguyễn Văn Lan đến nhà tôi trước, ngồi chơi một lúc, không thấy ai đến nữa, hai thằng rủ nhau đi chăn trâu. Lan về nhà dắt trâu, tôi dắt trâu nhà lên bờ sông thì phía sau có người gọi với. Ông Lê Sinh Lũ - phụ trách dân quân trực chiến vừa đi vừa chạy phía sau, báo cho biết vừa nhận giấy gọi nhập ngũ của tôi, rồi đưa quyển sổ cho tôi ký nhận... ông nhắc về chuẩn bị mọi thứ, cứ theo giấy mà đi. Tôi và Lan gặp nhau ở cầu sông, giáp thôn Trung và thôn Thượng rồi xem giấy gọi và dắt trâu về nhà.


Buổi trưa, chú ruột tôi, ông Thiều Chí Sử, một người có học, chữ rất đẹp, làm kế toán hợp tác xã xem giấy gọi của tôi, ông bảo đó là giấy gọi tổng động viên, không phải giấy gọi nhập ngũ, có đi thì sáng đi, trưa về. Từ khi nhận giấy gọi đến khi tập trung chỉ có ba ngày, họ hàng, làng xóm, bạn bè đến thăm rất đông, có người bảo thời chiến biết thế nào được, giấy gọi vậy có khi tập trung là đi luôn.


Quả đúng vậy, chỉ ba hôm sau, ngày 14 tháng 9 năm 1967, tôi lên đường nhập ngũ. Quê tôi có tục lệ lâu đời là hằng năm, ngoài Tết cổ truyền dân tộc, còn tổ chức tết Trung thu (rằm tháng 8 âm lịch) rất to, cũng gói bánh chưng, thịt lợn, không khí nhộn nhịp vui như Tết Nguyên đán, cũng cúng ông bà, tổ tiên vào đúng rằm và trẻ em cũng được mua sắm những bộ quần áo đẹp, đi chơi, thăm nhau, tối đến rước đèn ông sao, văn nghệ, ca hát, ngắm trăng... Chưa đến rằm Trung thu nhưng bố mẹ tôi bảo cứ ăn cỗ trước để ngộ nhỡ tôi nhập ngũ. Thế là gia đình thịt gà, làm mấy đấu gạo bánh, cúng ông bà, tổ tiên phù hộ cho tôi lên đường bình an, mạnh khỏe, tai qua, nạn khỏi, tránh được hòn tên mũi đạn, gặp nhiều may mắn và phấn đấu, rèn luyện, tiến bộ bằng anh, bằng em...


Các ngày còn lại, làng xóm, anh em, bạn bè đến thăm và động viên tôi yên tâm lên đường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao. Các anh chị, bạn công nhân Nhà máy mỳ chính Việt Trì sơ tán ở tại nhà tôi cũng đến chơi và động viên.

Tối 13 tháng 9 năm 1967, tại đình thôn Trung, chi bộ họp, mời cá nhân tôi ngày mai lên đường nhập ngũ ra gặp mặt, động viên. Chi bộ có hơn mười người. Ông Thiều Đức Tuế là Bí thư, chủ trì cuộc họp và giới thiệu tôi phát biểu. Tôi phát biểu ngắn gọn, hứa quyết tâm, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao, gia đình thì nhờ địa phương giúp đỡ để tôi yên tâm chiến đấu... Ông Tuế thay mặt đáp lời, căn dặn... sau đó mời mọi người ăn kẹo, uống nước.


12 giờ trưa ngày hôm sau, ngày 14 tháng 9 năm 1967, tôi được Lê Sinh Tung là em con bà cô đèo đến nhà chị Hoa - Xã đội phó để lên tập trung trên huyện. Lúc đó tôi mới biết là xã có một mình tôi nhập ngũ đợt này. Chúng tôi men theo đê lên thôn Bàn Mạch thuộc xã An Tường, ở đó tập trung thanh niên một số xã lân cận nhập ngũ đợt này để cùng nhau lên huyện tập trung. Trên đường đi, máy bay Mỹ ném bom, pháo cao xạ, tên lửa của ta nổ ầm ầm trên đầu.


14 giờ, Huyện đội tập trung số nhập ngũ, chúng tôi nghe tiếng còi đầu tiên trong đời quân ngũ, rồi nghe khẩu lệnh "Tập hợp". Một đồng chí mang quân hàm trung úy, đeo kính cận, tuổi ngoài 40, dáng nhỏ bé, gầy gò, giọng to, vang, sau này chúng tôi mới biết đồng chí đó là Huyện đội phó Vĩnh Tường, chủ trì giao quân. Ngó trước, nhìn sau, ba hàng ngang ước chừng khoảng một trung đội 30 người... Quân nhập ngũ thì ít nhưng số người thân đi theo thì đông gấp mấy lần. Riêng tôi chỉ có Lê Sinh Tung và chị Hoa đưa đi!


Chúng tôi được biên chế thành một trung đội với ba tiểu đội. Chuẩn úy Phạm Minh Vũ - Trợ lý Tham mưu Tiểu đoàn 15 Sư đoàn 312 làm Trưởng đoàn, cùng ba đồng chị phụ trách quân nhu, quân y, quân khí trong đoàn tuyển quân.

Giao và nhận quân xong, chúng tôi gặp gỡ làm quen trong tiểu đội, phân công ba đồng chí một tổ để tiện sinh hoạt, chỉ huy. Tôi, Báu (xã Vĩnh Thịnh), Tiến (xã Đại Đồng) quen thân nhau từ đấy.

Mọi công việc bàn giao xong xuôi, huyện tổ chức mời bữa cơm, cả người đi, kẻ ở xuống sân kho hợp tác xã ăn uống vui vẻ. Mâm cơm có thịt lợn, gà, canh xương, miến, một bữa ăn ngon và no đầu tiên trong ngày nhập ngũ.

Chia tay Lê Sinh Tung, chị Hoa về mà lòng tôi bùi ngùi, xúc động, bâng khuâng khó tả... Trên đê, hai bóng người thân xa dần và lẫn trong bóng tối. Tôi nhìn theo mãi, đến khi bóng hai người khuất hẳn tôi mới theo tiểu đội về nhà dân để ngủ. Tối đầu tiên xa nhà, tôi ngủ chập chờn không say giấc.


4 giờ sáng ngày 15 tháng 9 năm 1967, đơn vị tuýt còi báo thức, hiệu lệnh tập trung. Tại sân kho, trung đội xếp thành ba hàng dọc, đồng chí phụ trách kiểm quân và hạ đạt mệnh lệnh hành quân.

Trời mới mờ sáng, chúng tôi hành quân theo đội hình hàng dọc, đi theo bờ đầm xóm Lâm, dọc xã Thượng Trưng, qua cầu làng Bèo (Phú Thứ) về Vực Xanh, làng Yên Cát (Vũ Di) thì dừng lại. Đồng chí Trợ lý Hậu cần của đoàn cấp mỗi người một bao đựng gạo (bao tượng), tập trung vào kho đong đầy bao rồi hành quân về làng Vân Ô, Vân Xuân đóng quân nghỉ đêm.


Ăn cơm chiều xong, do ở gần nhà nên Lê Xuân Dậu rủ tôi về nhà chơi. Nhà ngói cổ, có cây thị to đầu nhà và một bể nước rất cổ kính (tháng 8 năm 1970, Dậu hy sinh trên đường về thị xã Xiêng Khoảng nước bạn Lào).

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi từ Vân Xuân qua Yên Lạc, rừng nhãn, về xã Thạch Đà (Yên Lãng) thì dừng chân và bổ sung vào đoàn 10 đồng chí giáo viên của huyện Lập Thạch. Quân số đoàn chúng tôi lên 40 đồng chí nhập ngũ đợt 14 tháng 9 năm 1967 quê hương Vĩnh Phúc.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:07:50 pm »

Từ Thạch Đà - Yên Lãng, chúng tôi phải hành quân đêm vì ban ngày máy bay địch đánh ác liệt các mục tiêu: Hà Nội - Sơn Tây, Việt Trì - thị xã Vĩnh Yên, ga Phúc Yên! Đến gần thị xã Phúc Yên, cầu Xuân Phương, chúng tôi phải dừng lại, củng cố đội hình rồi mới tiếp tục hành quân. Người cách người 10 - 20m nhưng vẫn nhìn thấy nhau vì trăng tháng 8 rất sáng. Chúng tôi phải chạy nhanh vượt qua trọng điểm để vào làng Tân Dân - Kim Anh nghỉ.


Cả ngày hôm sau chúng tôi được nghỉ. Cứ tổ ba người một nhóm ra rừng bạch đàn quan sát không quân ta và địch quần nhau trên bầu trời xung quanh sân bay Đa Phúc và dãy núi Tam Đảo. Năm 1966 - 1967, không quân ta chỉ có MIG-17 nhưng chiến đấu rất dũng cảm, dám chọi lại với không quân hiện đại của Mỹ với những F-4, F-105... Dưới mặt đất, các loại pháo phòng không, tên lửa, ra đa chiến đấu hiệp đồng rất chặt chẽ, nhịp nhàng.


Đêm cuối cùng, chúng tôi hành quân từ Tân Dân qua dốc Dây Diều, cầu Đa Phúc... bị địch chặn đánh ác liệt nhưng chúng tôi vượt qua an toàn. Khoảng hơn 20 giờ ngày 18 tháng 9 năm 1967, chúng tôi hành quân đến đơn vị, thuộc Tiểu đoàn 15 Sư đoàn 312 - sư đoàn mũ sắt cơ động trực thuộc Bộ, đóng quân ở Phổ Yên - Bắc Thái.


Ban Chỉ huy có Tiểu đoàn trưởng là Đại úy Nguyễn Khang, nhập ngũ năm 1946, quê Tam Nông - Phú Thọ; Chính trị viên là Đại úy Nguyễn Văn Hễ, nhập ngũ năm 1953, quê Nam Định.

Sau khi kiểm quân và nắm tình hình, Tiểu đoàn trưởng động viên và mời chúng tôi ăn cơm tối. Một bữa cơm đầy ấn tượng bởi qua mấy ngày hành quân, bụng lúc nào cũng bị đói cồn cào trong khi mâm cơm lại khá thịnh soạn với thịt lợn, canh xương, miến. Chúng tôi vào bữa ăn như vào trận chiến đấu. Một loáng đã ăn gọn, hết sạch mâm. Các thủ trưởng Tiểu đoàn cùng ăn và động viên chúng tôi. Buổi đầu được tiếp xúc với các anh, chúng tôi cảm nhận được sự thân tình, gần gũi, ấm cúng như trong gia đình.


Khoảng 21 giờ hôm đó, chúng tôi hành quân vào xóm Đồi, cách Tiểu đoàn khoảng 2km để nghỉ. Đồng chí Vũ - Trưởng đoàn lấy quân nhắc nhờ một số quy định về kỷ luật, dân vận và nhất là phòng không vì nơi đây gần ga Phổ Yên và một số mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ.


Hai ngày tiếp theo, chúng tôi được sắp xếp tổ chức biên chế và nghỉ ngơi. Trung đội tôi được biên chế thành bốn tiểu đội tân binh, trang bị súng CKC, cuốc, xẻng và một số trang bị hậu cần. Sang ngày thứ sáu tuổi quân, tôi được cấp phát quân trang với hai bộ quân phục (một bộ cũ vải Triều Tiên các đơn vị đi B để lại, một bộ Tô Châu quá cỡ, quần phải gấp lên ba gấu nhưng không được phép tự sửa), ba mũ (mũ mềm, mũ sắt, mũ cối) và các loại quân trang khác.


Nước ở các nhà dân đều hiếm, chỉ đủ sinh hoạt ăn uống, còn tắm phải ra sông Công cách đó khoảng 3km. Đúng một tuần xa nhà chỉ có một bộ quần áo, chân đi đất, đầu trần, hành quân liên tục, hôm nay tôi mới được xuống sông tắm. Dòng nước trong xanh, chúng tôi ngụp lặn, bơi thỏa thích, giặt và phơi quần áo để sau này khi có điều kiện thì gửi về nhà.


Lên bờ, tôi lấy bộ Tô Châu mới ra mặc. Nó quá dài và rộng. Mọi người ngắm cho nhau, cười ồ.

Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ được huấn luyện tân binh một tháng với các môn tập bắn súng, ném lựu đạn, đào công sự, bảy tư thế vận động trên chiến trường...

Các tiểu đội đều được biên chế 11 người, gồm 10 tân binh một tiểu đội trưởng. Tiểu đội tôi, Tiểu đội trưởng tên là Đối, Thượng sĩ, quê ở Hiệp Hòa - Hà Bắc, nhập ngũ năm 1959 phục viên năm 1963, tái ngũ năm 1965. Người anh cân đối nước da đen, khỏe, giọng nói to, vang, các động tác điều lệnh, chiến thuật, kỹ thuật của anh rất chuẩn, tính anh nghiêm khắc nên một tháng huấn luyện chúng tôi học được ở anh rất nhiều. Nhờ anh kèm cặp, rèn giũa mà các nội dung học, kiểm tra, hội thi cá nhân, tập thể, Tiểu đội tôi luôn dẫn đầu khóa huấn luyện tân binh.


Gần kết thúc khóa huấn luyện, chúng tôi được thực hành kiểm tra bắn đạn thật bài 1 súng CKC và ném lựu đạn. Khi vào chuẩn bị bắn sao mà hồi hộp thế, ngực tôi nổi trống, cảm giác lâng lâng khó tả. Đến khi nghe gọi đến tên vào nhận đạn, tôi nhanh chóng cơ động đến quân khí Tiểu đoàn nhận ba viên đạn vàng chóe rồi mà tay vẫn run run.


Khi vào tuyến bắn, tôi hít một hơi thật sâu, lòng tự nhủ phải thật bình bĩnh, thật tự tin. Tôi làm động tác nằm bắn, thử súng và lắp đạn, thong thả nhằm vào bia rồi xiết cò đúng như lời Tiểu đội trưởng và Trung đội trưởng căn dặn... Kết quả, tôi được một điểm 10, hai điểm 9, tổng là 28 điểm, đạt loại giỏi. Trong đợt kiểm tra có tôi và ba đồng chí nữa bắn giỏi, được chỉ huy tập hợp trước hàng quân, gắn hoa lên ngực, tặng khăn mùi xoa và một bánh xà phòng thơm. Đây là kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi những ngày đầu tiên trong đời binh nghiệp. Sau này, dù ở đơn vị, ở trường sĩ quan, dù là cán bộ cấp nào, các loại súng trong biên chế tôi đều bắn giỏi...


Ngày cuối cùng huấn luyện là kiểm tra chắp nối và đánh thuốc nổ 50g. Tuy có run nhưng tôi vẫn đạt giỏi, ở nội dung ném lựu đạn xa, trúng mục tiêu 47m, tôi cũng đạt giỏi. Thế là một tháng huấn luyện tân binh, các môn tôi đều đạt điểm cao, được biểu dương và nhận tặng phẩm.


Một buổi sáng cuối tháng 10 năm 1967, chúng tôi được lệnh đem toàn bộ ba lô, trang bị cá nhân ra sân kho tập hợp. Trung đội tôi được biên chế về Tiểu đoàn 15 trực thuộc Sư đoàn 312. Tiểu đoàn có ba đại đội: Đại đội 28, Đại đội 30 là đại đội công binh, công trình, chuyên làm sở chỉ huy sư đoàn, làm đường cơ động chiến đấu. Đại đội 29 là đại đội cầu phà. Tôi được biên chế về Đại đội 30.


Đứng chờ, đón chúng tôi tại sân kho hợp tác xã là Thiếu úy, Đại đội phó Xuyền, anh nhập ngũ năm 1959, quê Bắc Ninh, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Công binh. Anh đeo xà cột, súng ngắn nhìn rất oai vệ. Sau khi kiểm tra quân, anh chỉ huy chúng tôi hành quân về đơn vị.


Chiến tranh đánh phá bằng không quân của đế quốc Mỹ ngày càng ác liệt. Tất cả các mục tiêu chúng đều tập trung đánh phá cả ngày lẫn đêm như cầu Đa Phúc, ga Phổ Yên, thành phố Thái Nguyên, sân bay Đa Phúc... Toàn Tiểu đoàn và các đơn vị của Sư đoàn đều sơ tán trong dân hay ở đồi cây rậm rạp, mỗi đại đội cách nhau 1 - 2km. Mặc dù đóng quân phân tán, dã ngoại nhưng các chế độ, nền nếp, nội dung huấn luyện, duy trì kỷ luật rất nghiêm.


Đại đội tôi đóng quân ở xóm Đồi, gần chợ Vạn, huyện Phổ Yên. Đại đội trưởng là Trung úy Đông, nhập ngũ năm 1946, quê Đông Anh. Người anh thấp, nhỏ, tác phong nhanh nhẹn, đi bắt tay hết lượt chúng tôi. Chính trị viên là Trung úy Nguyễn Văn Giáp, quê Ý Yên - Nam Hà, anh là Việt kiều từ Thái Lan qua Lào về nước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:09:07 pm »

Tôi được biên chế về Tiểu đội 9 Trung đội 3. Tiểu đội trưởng là Trung sĩ Nguyễn Văn Chúc, nhập ngũ năm 1963 quê Tam Nông - Phú Thọ. Tiểu đội phó là Hạ sĩ, đảng viên Đường Xuân Thực, nhập ngũ tháng 3 năm 1965, quê Lũng Hòa - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc. Trung đội trưởng là Chuẩn úy, đảng viên Nguyên Kim Trọng, nhập ngũ năm 1962, quê Sông Lô - Việt Trì - Phú Thọ. Biên chế về đơn vị chiến đấu nên tất cả đều phải nhanh chóng hòa nhịp để kịp đáp ứng cho chiến trường.


Lúc bấy giờ, toàn quân, toàn dân đều hướng ra chiến trường, mọi công tác của chúng tôi, từ việc rèn luyện học tập đến ăn, ở, ngủ, nghỉ... cũng đều hướng tới mục đích đó.

Việc đầu tiên là chúng tôi phải kiếm đủ gạch, nâng dần từ 15kg lên 30kg, nếu không có gạch phải kiếm đất đóng thành khối đủ trọng lượng. Trừ hai đến ba tối học tập sinh hoạt khác, còn lại các tối chúng tôi đều phải tập hành quân đường dài, mang vác nặng. Ban ngày, giờ nào việc nấy, từ sáng cho đến tối, tất cả chúng tôi như một cỗ máy, ăn cơm trưa xong không ngủ cũng phải nằm yên hoặc viết thư về nhà, không làm ảnh hưởng giấc ngủ đồng đội. Mỗi ngày ba buổi sáng, chiều, đêm đều tập trung huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật binh chủng: Thiết kế và đào sở chỉ huy sư đoàn, đào hầm, hào trú ẩn, hầm chữ T, chữ A, chữ Y trong chiến đấu.


Một buổi, toàn Đại đội học tháo, phá bom nổ chậm, bằng lối học trực quan, Tiểu đoàn cho trinh sát xuống cầu Đa Phúc tháo một quả bom Mỹ đánh cầu chưa nổ. Chúng tôi khiêng bom trên xe ô tô xuống, để ở vị trí huấn luyện, bom mới toanh, các ngòi nổ được tháo rời... Lần đầu mới lạ, chúng tôi ai cũng run... Giáo viên là một đồng chí mang quân hàm trung úy. Đồng chí giới thiệu cách quan sát, đánh dấu, trinh sát và gỡ bom, sau đó phân công từng bộ phận ôn luyện lý thuyết, thực hành... Tất cả chúng tôi đều chăm chú lắng nghe và luyện tập vì nó rất sát thực sau này.


Không chỉ các phong trào luyện quân, rèn luyện kỷ luật mà công tác tư tưởng, động viên tinh thần cũng được các cấp quan tâm đặc biệt. Khẩu hiệu "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu", "Miền Nam gọi chúng ta lên đường", phong trào viết quyết tâm thư gửi lên cấp trên xin được đi chiến đấu khiến toàn đơn vị hừng hực khí thế, ai cũng muốn nhanh được đi chiến trường...


Sư đoàn 312 (trong kháng chiến chống thực dân Pháp là Đại đoàn) nơi tôi đang học tập và công tác là một đơn vị có bề dày truyền thống, thành lập tháng 12 năm 1950 tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú. Ngày truyền thống của Sư đoàn cũng là ngày ta giành chiến thắng lớn trong phá chiến dịch "Chim rẽ giun" của quân Pháp tiến công vào chiến khu ta. Sư đoàn có ba trung đoàn, đều là những đơn vị có truyền thống vẻ vang gắn liền với tên làng, tên đất, tên sông nơi ghi dấu các chiến công của trung đoàn:

- Trung đoàn 165 mang biệt danh Trung đoàn Thành Đồng biên giới.

- Trung đoàn 209 mang biệt danh Trung đoàn Sông Lô.

- Trung đoàn 141 mang biệt danh Trung đoàn Ba Vì.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Sư đoàn vinh dự được Bác đặt tên Đại đoàn Chiến Thắng.

Những ngày đầu về công tác tại Sư đoàn, ngoài 12 bài hát quy định của Quân đội, chúng tôi được dạy bài hát truyền thống Sư đoàn. Các buổi tối sinh hoạt, dã ngoại, ngày nào chúng tôi cùng hát, hát một cách say sưa từ trái tim, từ lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ: "Mùa Thu Đông năm xưa tiếng súng phản công vang vang, đất nước reo vui mừng đoàn quân anh dũng ra đời...". Cho đến bây giờ, qua mấy mươi năm quân ngũ qua bao đơn vị, bao chiến trường mà tôi vẫn thuộc nằm long bài hát truyền thống ấy.


Hai tuần bổ sung về đơn vị mà chúng tôi thấy mình trưởng thành lên rất nhiều, không còn cách biệt với "lính cựu" của đơn vị nữa. Các nội dung huấn luyện binh chủng, các buổi tập tổng hợp đã nâng dần trình độ của chúng tôi. Những buổi diễn tập của đại đội, tiểu đoàn, các nội dung dùng thuốc nổ, đào công sự, phá đá... đều đạt kết quả tốt, được các cấp đánh giá cao. Đó là thành quả từ tâm huyết của cán bộ huấn luyện, mồ hôi của những chiến sĩ chúng tôi đổ xuống thao trường không kể ngày hay đêm, với một mục tiêu duy nhất luôn nung nấu trong trái tim những chàng trai của lứa tuổi mười tám, đôi mươi: Ra chiến trường trực tiếp chiến đấu với quân thù. Miền Nam đang vẫy gọi chúng tôi, và chúng tôi đang hừng hực khí thế của bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, của lý tưởng cao cả hiến dâng cuộc đời cho cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Khoảng đầu tháng 11 năm 1967, lính tráng chúng tôi được cấp thêm tăng, võng, bi đông, túi cơm, bao gạo và một số thứ khác để tập hành quân dã ngoại. Trong lòng chúng tôi đều linh cảm sắp có sự kiện lớn diễn ra nên thì thào bàn tán, thấp thỏm ngóng trông. Nhưng đây là bí mật quân sự nên các cấp đều kín như bưng, anh em chúng tôi chẳng thăm dò được gì cả, chỉ nhìn nhau đầy ý nhị và giục nhau cố gắng học tập, rèn luyện cho tốt để chờ "sự kiện lớn".


Một buổi chiều mùa Đông trung tuần tháng 11 năm 1967, toàn Tiểu đoàn báo động, tập trung tại sân kho hợp tác xã kiểm tra quân số, trang bị. Tiểu đoàn trưởng, Đại úy Khang ra mệnh lệnh hành quân.

Chúng tôi hành quân theo sườn bắc, dọc dãy núi Tam Đảo, sát Nông trường Quân Chu (Đại Từ - Thái Nguyên). Trời tối, đường rừng, mang vác nặng 30kg, trên 30kg nên quả là khó khăn. Chúng tôi động viên nhau phải cố gắng bám sát, không để lạc, đứt quãng. Đoàn quân cứ thế bám nhau mà đi. Cán bộ tiểu đội phó, trung đội phó, đại đội phó, tiểu đoàn phó, chính trị viên phó đại đội, tiểu đoàn và quân y đi sau thu dung, cứ như thế đến 4 giờ sáng bộ phận đi đầu đến nơi, còn bộ phận yếu thì 7 giờ mới đến. Quãng đường đêm qua chúng tôi hành quân dài 35km. Trung đội tôi đến sau bộ phận đi đầu của Đại đội. Sau khi nhận vị trí, tôi tìm được cây mắc võng, nhưng không biết buộc, cứ buộc xong ngồi lên là võng lại tuột, loay hoay mãi Tiểu đội phó Thực phải buộc giúp. Ba lô để dưới chân, súng để dọc theo người, lên võng ngủ, vừa thiu thiu thì Tiểu đội trưởng Chúc vỗ vỗ vào người hỏi:

- Ai! Dậy mắc tăng màn không muỗi.

Tôi ngủ say không dậy, Tiểu đội trưởng quay lại, nói như quát:

- Đồng chí nào đây! Dậy!

Thế nhưng loay hoay mãi không mắc được tăng, màn vì không có dây buộc, tôi cho chăn, màn phủ kéo từ chân lên đầu, sau đó trùm tăng lên mà ngủ. Sáng hôm sau dậy ướt hết vì sương núi và mưa nhỏ.

Chúng tôi được ngủ hết giờ thể thao. Sau khi ăn sáng cán bộ tiểu đội đi nhận nhiệm vụ về gọi từng tổ ra phân công công tác. Tiểu đội trưởng cho biết đây là buôi diễn tập tình huống sát với chiến đấu...

Mỗi tổ ba người đào một hầm chữ Y hoặc chữ T có nắp tránh được bom pháo thông thường, ngụy trang kín đáo, có hai cửa chính, phụ lên xuống. Tiểu đội phó Thực phân công một đồng chí đào, hai đồng chí chặt gỗ đem về làm hầm. Chỉ hơn một ngày đêm, tổ ba người của chúng tôi đã có một hầm chữ Y đẹp, sạch sẽ, đúng quy định, của trên. Mắc võng nằm trong hầm, Tổ trưởng nằm dọc thân, hai chúng tôi mắc chữ Y, đầu chụm vào nhau, ba lô để dưới chân cột giữa, súng để trên võng dọc theo người, phủ chăn kín... Những ngày tiếp theo, chúng tôi đi huấn luyện dã ngoại mới biết tất cả các đơn vị trong Sư đoàn đều hành quân dã ngoại, diễn tập.


Sau 10 ngày hành quân dã ngoại, diễn tập, toàn đơn vị được lệnh hành quân về vị trí đóng quân cũ.

Về xóm Đồi gần chợ Vạn - Phổ Yên, đơn vị tiếp tục huấn luyện, sau đó trả kho những dụng cụ cồng kềnh và nhận bổ sung quân tư trang. Mỗi tiểu đội được bổ sung một hòm đạn, một hòm khí tài gây nổ của Nga, xà beng, thuốn mìn và một số trang bị chiến đấu. Chúng tôi chuẩn bị rất khẩn trương, nhộn nhịp với tâm trạng đầy háo hức và thì thầm to nhỏ với nhau: Chắc lần này là "thật" rồi!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:10:45 pm »

III. HƯỚNG RA TIỀN TUYẾN

15 giờ ngày 30 tháng 11 năm 1967, toàn Tiểu đoàn tập trung tại đồi bạch đàn gần nơi Tiểu đoàn đóng quân để kiểm tra quân số, vũ khí, trang bị. Tiểu đoàn thành một hàng dọc, hành quân theo đường mòn, dọc theo đường làng, khe suối cạn..., vượt qua đèo Bụt sang Vĩnh Phú, về Nông trường Tam Đảo (gần hồ Đại Lải), chặng đầu khoảng 35km, cứ 45 đến 50 phút lại nghỉ 10 phút. Lên đến chân đèo Bụt thì trời đổ giông to, mưa lớn, cả đoàn quân phải dừng lại cởi ba lô lấy nilông khoác vào để hành quân tiếp. Trong đơn vị ai cũng vác nặng trên dưới 30kg. Ngoài ba lô, trang bị, súng, bao gạo bảy ngày ăn, tôi còn vác một bộ quân cụ gồm: Xà beng, cưa cá mập, thuốn và một hòm đạn 700 viên, súng thì Tiểu đội phó vác thay. Đi hết ba chặng thấy mệt, đau vai, nhưng không lúc nào vắng Tiểu đội phó Thực đi kèm, động viên cố gắng nên tôi vẫn khắc phục bám theo đơn vị. Lên đỉnh đèo, sang bên Vĩnh Phú do mưa to, đường trơn, tôi bị trượt dài, cả người lẫn trang bị đổ ập, văng ra, hòm đạn 700 viên ở đầu xà beng và chiếc cưa cá mập tụt ra, lăn xuống dốc chừng 20 - 30m. Cả tổ phải dừng lại đỡ ba lô, trang bị và kéo tôi dậy, sau đó Tiểu đội phó Thực cùng tôi làn xuống tìm, lấy hòm đạn mang lên và cứ thế hành quân đuổi theo đơn vị...


Khoảng 4 giờ sáng hôm sau, ngày 1 tháng 12, chúng tôi đến đoạn dừng chân đầu tiên - Nông trường Tam Đảo. Hạ ba lô xuống là chúng tôi nhận ngay vị trí đào hầm trú ẩn, hai người chung một hầm chữ L, ngụy trang chu đáo, cán bộ kiểm tra đạt yêu cầu mới được nghỉ. Vì gần sân bay, là nơi không quân ta và không quân địch liên tục hoạt động, địch đánh phá suốt cả ngày nên cả nông trường và người dân xung quanh đều phải đi sơ tán. 10 giờ sáng, chúng tôi ăn cơm lấy nước uống rồi về hầm ngủ. Cuối năm, trời nắng, nóng nhưng cánh lính trẻ chúng tôi cứ nằm xuống là ngủ đươc ngủ rất say.


15 giờ chúng tôi thức dậy, lấy nước vào bi đông và một nắm cơm gạo đỏ, đem về bỏ vào túi cơm để chuẩn bị hành quân... Từng tiểu đội, trung đội sinh hoạt, sau đó tập trung đại đội, tiểu đoàn để rút kinh nghiệm hành quân bầu cá nhân và tập thể điển hình. Mỗi chặng hành quân đại đội, tiểu đoàn đều có họp rút kinh nghiệm như vậy nên có tác dụng động viên rất kịp thời. Trong tổ chức hành quân đường dài, mang vác nặng, ít có đồng chí tụt lại sau hoặc lạc, trừ người bị ốm nặng hoặc tai nạn.


Chặng thứ hai từ Nông trường Tam Đảo, qua hồ Đại Lải - Phúc Yên về xã Hồng Châu - Yên Lạc là hành quân địa hình đồng bằng. Qua các làng mạc, nhân dân thấy bộ đội hành quân thì gọi nhau ra xem và mang theo ấm rót nước uống cho bộ đội, chuyện trò vui vẻ nên chúng tôi cũng đỡ mệt.


Đến Hồng Châu - Yên Lạc - Vĩnh Phúc, sáng hôm sau Tiểu đoàn bắt tay vào san bến, lắp phà, làm mọi công tác chuẩn bị cho cả Sư đoàn vượt sông.

Làm hai ngày một đêm thì xong, Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37mm kéo đến xây dựng trận địa ngay trên bến để bảo vệ đội hình Sư đoàn vượt sông... Các đêm tiếp theo, lần lượt theo kế hoạch, ba trung đoàn bộ binh, các tiểu đoàn trực thuộc, trung đoàn pháo binh, Sư đoàn bộ, cuối cùng là Tiểu đoàn 15 thu dọn và hành quân theo Sư đoàn. Cả đơn vị lặng lẽ, lần lượt lên phà qua sông rất có kỷ luật, an toàn.


Qua sông Hồng, sang bờ nam là Phúc Thọ - Hà Tây, đơn vị theo đường số 21 về tập kết tại Lương Sơn - Hòa Bình. Sư đoàn dừng lại nghỉ và xem đội xung kích văn công Tổng cục Chính trị cổ vũ, động viên rất kịp thời.

Hành quân gần nhà, tôi xin phép Đại đội và cấp trên cho tôi và anh Dư (Bồ Sao) về tranh thủ một ngày một đêm. Cắp gói quần áo cũ, hai anh em lên đường ngay. Trời tối lạc đường, loanh quanh mãi ngoài đầm và cánh đồng đến khuya chúng tôi mới về đến nhà, gia đình ai cũng mừng. Sáng ra, dân làng, bạn bè kéo đến thăm hỏi chuyện trò tíu tít.


Chiều hôm sau, hai cô em gái mượn xe đạp đưa chúng tôi xuống địa điểm đóng quân hôm trước song đơn vị đã hành quân từ sáng. Chúng tôi đuổi gấp gáp theo đơn vị đến bến phà Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường. Sáng hôm sau ra bến sông, loay hoay công việc thì gặp Nguyễn Văn Lan đi xe đạp tới... Hỏi chuyện mới biết Lan đi công nhân Nhà máy đường Việt Trì. Tôi mua vội gói quà cho gia đình gửi Lan đem về giúp.


Hai đêm ở bến phà Vĩnh Thịnh, chúng tôi tổ chức cho trung đoàn pháo binh, tiểu đoàn pháo cao xạ, Sở Chỉ huy Su đoàn qua sông.

Tiểu đoàn Công binh chúng tôi ngoài nhiệm vụ chính làm Sở Chỉ huy Sư đoàn, đường cơ động... còn tham gia chốt giữ mục tiêu, đánh cắt giao thông (phóng bôc phá, nổ mìn...).

Tháng 1 năm 1968, chúng tôi đóng ở nhà dân, đồng bào dân tộc Mường, ở hai ven quốc lộ, sâu trong núi. Đồng bào vốn đã tiếp xúc nhiều với bộ đội từ kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến sau này nên rất có cảm tình với bộ đội Nhân dân thường xuyên cho bộ đội khoai, sắn và cả gạo nếp nương, đồ xôi ăn rất ngon.


Thực hiện phương châm "đi dân nhớ, ở dân thương", bộ đội luôn được giáo dục, nhắc nhở và duy trì nghiêm ngặt kỷ luật Quân đội nên ở một thời gian dài mà không ai vi phạm, được nhân dân rất tin yêu. Ngoài công tác huấn luyện theo nhiệm vụ, đơn vị còn tổ chức giúp dân gặt lúa, thu hoạch ngô, khoai, sắn, làm đường qua bản, kết nghĩa, tổ chức văn nghệ quân - dân thật tình cảm và ấm cúng.


Tết cổ truyền năm 1968, chúng tôi được ăn Tết cùng nhân dân, suốt từ ngày 23 cho đến mùng 4 Tết. Bà con mỗi nhà mổ một con lợn, ngoài Tết còn để dành ăn dần cho đến ba, bốn tháng sau. Bộ đội cùng gia đình bắt lợn, khiêng ra bờ suối làm thịt thật vui vẻ.

Chúng tôi được ăn cải Tết đầu tiên trong quân ngũ ở bản Mường. Cỗ thật to, tiết canh đánh ra chậu, thịt luộc thái lót lá chuối, bày ra mẹt, lại có thêm bình rượu cần. Bác chủ nhà tên Khoản tuyên bố cả gia đình và bộ đội ăn Tết cho thật vui vẻ. Nước đổ ra chậu, mỗi thau có một cái sừng trâu, bác chủ giơ sừng trâu lên bảo: Tính đầu người, mỗi người uống hết một sừng mới nghỉ. Tất cả chúng tôi đều đưa mắt trầm trồ... Lá chuối bánh tẻ hơ qua, cuốn sâu kèn, gấp đầu nhỏ lại để ăn tiết canh. Lúc đầu chúng tôi thấy ngại, sau dần vui vẻ hòa đồng...


Tiêu chuẩn Tết mỗi quân nhân được hai chiếc bánh chưng, một khẩu phần thịt, kẹo. Cả Đại đội gói tập trung, chỉ huy chọn mỗi trung đội hai, ba người khéo tay để gói bánh. Dân bản nghe tin bộ đội khéo tay, gói bánh bằng khuôn vuông đều chằn chặn nên nhiều người đến xem và học theo vì bà con chỉ biết gói tay, chưa gói khuôn bao giờ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:11:43 pm »

Đến chiều 30 Tết, trong bản làng đường đi lối lại sạch sẽ, gọn gàng. Cả Đại đội tập trung, Chính trị viên phổ biến và phân công công việc cụ thể. Mỗi tổ, mỗi tiểu đội một nhiệm vụ, tất cả nhanh chóng triển khai.

Tôi và anh Cử nhanh nhẹn, quen biết nhiều nên được phân công đi xin một cành đào. Chả mấy chốc hai anh em đem về một cành đào to. Mọi người đứng xung quanh ngắm nghía. Ai cũng khen đẹp.

Nghe tin chúng tôi đem về cành đào rất đẹp, Chính trị viên Giáp chạy đến bắt tay biểu dương hai anh em, rồi anh cho gọi các đồng chí Nhã, Đạm, Thành có năng khiếu Vân nghệ, hát chèo rất hay, quê Hải Hậu - Nam Định. Các anh bưng ra một cái chum nhỏ, cắm cành đào đặt giữa sân chuẩn bị cho tiết mục "hái hoa dân chủ" (gắn lên cành hoa đào những mẩu giấy có nội dung hỏi đáp về thơ, ca, hò, vè.. ). Chuẩn bị xong, chúng tôi đưa "cây hoa dân chủ" lên nhà sàn gia đình bác trưởng bản. Nhà sàn cao, rộng, sạch sẽ, ước chừng cả đại đội ngồi vừa.


Tuy là Tết đầu tiên xa nhà nhưng không khí nhộn nhịp vui tươi ấm áp cũng làm vơi đi nỗi nhớ nhà của cánh lính trẻ chúng tôi. Ăn cơm chiều xong, các tiểu đội vệ sinh nhà ở và phân công việc trực, gác cùng các công tác khác, cấp trên nhắc nhở: Tất cả ba lô, trang bị chiến đấu đều phải gọn gàng sẵn sàng cơ động...


20 giờ đêm 30 Tết (đêm 31 tháng 1 năm 1968), cả đại đội (trừ bộ phận trực và công tác) cùng nam nữ thanh niên đơn vị kết nghĩa của địa phương có mặt. Chính trị viên kiểm tra quân số và phân công vị trí ngồi, sau đó quán triệt một số nội dung của buổi vui chơi đón giao thừa năm nay, rồi chỉ định đồng chí Tuấn Nhã lên "quản ca" hát một vài bài hát theo quy định như "Vì nhân dân quên mình", "Giải phóng miền Nam", "Tiến bước dưới quân kỳ". Tất cả cùng hòa vang cất cao tiếng hát. Hát xong ba bài hát mà tôi cứ hừng hực, rạo rực trong người.


Tiếp theo là tiết mục "hái hoa dân chủ". Ban đầu mọi người còn rụt rè, sau dần dà vui quá, ai cũng xung phong... Các tiết mục đều rất vui nhộn và đậm chất lính "cây nhà lá vườn"...

"Hoa dân chủ" trên cành vẫn còn nhiều, mọi người vẫn còn muốn chơi nhưng thời gian theo kế hoạch cũng gần hết, Chính trị viên đứng lên tạm dừng cuộc chơi, đề nghị mọi người ổn định trật tự chú ý lắng nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ.

Tất cả ngồi im, không một tiếng động, mắt chăm chú hướng lên bàn thờ Tổ quốc và chiếc đài bán dẫn để trên bàn. Chỉ còn mấy phút nữa là đến giao thừa thì nhạc hiệu nổi lên và sau đỏ, bằng giọng nói ấm áp, thân tình, Bác Hồ chúc Tết toàn thể đồng bào Nam - Bắc, bộ đội, kiều bào ta ở nước ngoài:

   "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
   Thẳng trận tin vui khắp nước nhà
   Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
   Tiến lên! Toàn thẳng ắt về ta!"


Nghe Bác chúc Tết ai cũng thấy khí thế hừng hực, muốn lên đường ngay ra chiến trường giết giặc lập công, để mau chóng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mọi người bình luận, trong câu "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua" chắc sẽ có đánh lớn, thắng to... Sau này chúng tôi mới biết các chiến trường thống nhất lấy thời điểm Bác đọc thơ chúc Tết làm hiệu lệnh nổ súng tổng tiến công và nổi dậy đánh vào hầu hết các mục tiêu chủ yếu của địch, từ thành phố, thị xã, đến thị trấn, nông thôn, từ đồng bằng đến vùng rừng núi đều nổi dậy...


Kết thúc đêm giao thừa, mọi người trở về nơi ở, quân tư trang cho cả vào ba lô, mỗi người nhận hai chiếc bánh chưng cho vào túi cóc buộc chặt, đi giày vải mới chờ sẵn. Cả ngày hôm sau và một số ngày tiếp theo cũng chưa có lệnh xuống cấp báo động... Cánh lính trẻ vẫn ba lô, súng đạn gọn gàng chờ lệnh. Ngoài đường số 15, từ dốc Cun - Tân Lạc - Lac Thủy - Hòa Bình, nhiều đoàn xe quân sự ba cầu, hai cầu mới toanh, ngụy trang kín mít, nằm chờ lệnh chở quân ra chiến trường...


Sang tháng 2 năm 1968, tình hình chiến trường miền Nam vẫn diễn tiến ác liệt. Các sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ "ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam" trước Tết cổ truyền hành quân vào ém sẵn, tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh gồm 304, 320, 325, 324... Sư đoàn 308 vào sau. Sư đoàn 312 cũng được bổ sung quân, huấn luyện như các sư đoàn trên mà vẫn nằm im, giấu kín ở Tân Lạc - Hòa Bình... Thế rồi đến đầu tháng 2 năm 1968, một đoàn dài xe quân sự đến chở quân hai trung đoàn 209 và 141 đi bổ sung cho chiến trường Đường 9 - Khe Sanh, sau đó tuyển nhận tân binh xây dựng hai trung đoàn mới.


Bổ sung tân binh, Sư đoàn lại hoàn chỉnh đủ quân. Đến cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1968, Sư đoàn hành quân về tham gia diễn tập hiệp đồng binh chủng đánh chiếm thành phố, lấy thị xã Hòa Bình làm mục tiêu giả định để diễn tập, Trung đoàn 165 là hướng chủ yếu, Trung đoàn 141 và Trung đoàn 209 là hướng phối hợp, có cả xe tăng T-34 tham gia. Kết thúc diễn tập đợt 1 ở thị xã Hòa Bình, Sư đoàn tiếp tục hành quân về Lương Sơn.


Diễn tập đợt 2 có tiểu đoàn xe tăng và pháo binh yểm trợ, kết thúc diễn tập vào tháng 5, trời nắng như đổ lửa trên đường số 6 mà Tiểu đoàn Công binh chúng tôi phải hành quân đi lại bốn lần từ Hòa Bình đến Xuân Mai và ngược lại để thi công Sở Chỉ huy Sư đoàn và phục vụ diễn tập.


Chúng tôi làm nhiệm vụ và diễn tập gần nông trường, do dân vận tốt, kỷ luật nghiêm nên nhân dân rất quý. Công nhân, nông dân hái cam, chè tươi mời bộ đội ăn uống rất thoải mái.

Gian khổ nhất là tham gia diễn tập cùng với tiểu đoàn xe tăng T-34, bộ đội phải vào trong rừng xa, núi sâu chặt cây bổi về lót xích để xe tăng vượt qua đồng lầy. Cứ như vậy, tình huống diễn ra không biết bao nhiêu lần trong những ngày diễn tập.

Sau đó, Tiểu đoàn 15 hành quân về một xóm nhỏ cạnh đường số 6, xã Tiên Trượng - Chương Mỹ. Kể từ cuộc diễn tập cuối năm đến khi đó đã tròn sáu tháng chúng tôi ăn ở với đồng bào dân tộc miền núi, giờ mới trở lại đồng bằng. Ở nhà dân ngủ nền đất, ăn cơm độn sắn, thỉnh thoảng cũng có bữa cải thiện ăn tươi tùy theo khả năng bảo đảm và cấp dưỡng của trên.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2026, 07:12:24 pm »

Tháng 8 năm 1968, đơn vị hành quân từ Xuân Mai theo đường số 21, Miếu Môn, Đồng Quan, ga Thường Tín về xã Tô Hiệu. Đường rất khó đi, hai chặng hành quân trời nắng như đổ lửa, mang vác nặng, đội mũ sắt. Còn cách ga Thường Tín khoảng 15km thì tất cả đều ngấm mệt. Nhiều chiến sĩ bị tụt lại phía sau, tranh thủ nhờ xe bò, xe ba gác của dân chở giúp ba lô, trang bị. Cán bộ phát hiện ra, bắt đeo ba lô và chạy đuổi theo hàng quân. May sao, gần trưa đói, khát, hai bên đường các bà, các chị tay cầm ấm, tay cầm ca chạy dọc hàng quân rót nước vối, nước suối cho bộ đội. Cả một hàng quân dài mà không ai bị thiếu nước... Thật cảm động biết bao tình cảm của đồng bào đã dành cho bộ đội.


Vào vị trí đơn vị đóng quân ở xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, cách ga xe lửa khoảng hơn 1km, đơn vị nhanh chóng tổ chức đi trinh sát để nắm tình hình và phân công nhiệm vụ. Tôi cùng 30 đồng chí đặc công nước trực thuộc Tiểu đoàn được phát thêm quần áo, mũ, vòi thở, kẹp mũi..., sau đó được cán bộ đặc công của trên về huấn luyện. Tiêu chuẩn ăn cho đặc công nước khá cao, tối đến lại được một y sĩ và một y tá chăm sóc sức khỏe, nhỏ thuốc mắt, vì cả ngày học mở mắt dưới độ sâu 20 - 30cm, nước bẩn nên ai cũng bị đau mắt.


Thao trường là sông Đồng Quan, cách nơi ở khoảng 7km, sáng hành quân đi, tối hành quân về. Trời nắng như đổ lửa, chúng tôi phải ngâm mình dưới nước cả ngày. Thời gian đầu nhiều anh em bị ốm, sau cũng quen dần. Ban đầu huấn luyện cá nhân, sau nâng lên hai rồi ba người đem một lượng nổ chừng 50 - 100kg đánh cầu. Chúng tôi tập thả trôi từ trên vùng thượng lưu, cách cầu trên dưới 1km, ngụy trang bí mật đưa lượng nổ áp sát mố cầu, bấm kíp hẹn giờ cho nổ... Cứ vậy huấn luyện mãi cho đến khi thành thạo, có sát hạch và tính thành tích. Những hôm mưa to, nước chảy xiết, việc tập luyện rất khó khăn. Đến cuối khóa huấn luyện, chúng tôi được đưa ra sông Hồng để kiểm tra, sát hạch, khi ấy nước sông đã lên to, đục ngầu, chảy xiết...


Khoảng tháng 9 năm 1968, chúng tôi hành quân về lại Xuân Mai để tiếp tục huấn luyện và học tập. Đầu tháng 10 năm 1968, một buổi tối chúng tồi vừa mắc màn đi ngủ được ít phút thì nghe còi báo động. Tất cả bật dậy mặc quần áo, đeo ba lô, trang bị ra sân kho tập trung rồi hành quân theo đường số 6 từ Xuân Mai đi Mai Lĩnh về Hà Đông - Hà Nội. Mọi người bàn tán tranh luận không biết đi đâu, làm gì (?). Mờ sáng hôm sau, chúng tôi được phổ biến: Đơn vị hành quân thực hiện nhiệm vụ mới không trở lại vị trí cũ nữa nên ai còn quên, để lại thứ gì thì báo cáo để đơn vị cử người về lấy. Thế là mỗi tiểu đội cử 1 - 2 đồng chí về lấy đồ, đơn vị hành quân tiếp, xuống khu vực bên trái đường số 6 gần Nhà máy thuốc lá Thăng Long đóng quân, học chiến thuật đánh thành phố, đánh nhà tầng, học chính trị.


Các ngày nghỉ, quân phục chỉnh tề, tôi cùng hai đồng chí khác ra đường số 6 nhảy tàu điện đi chơi Bờ Hô, tham quan Phủ Chủ tịch, khắp thành phố Hà Nội mà không phải mất tiền, cứ bộ đội lên tàu là được đi không phải vé.

Đang ở Hà Nội, tôi lại được triệu tập về Tiểu đoàn, vẫn 30 đồng chí huấn luyện đặc công, lên Hòa Bình huấn luyên nghiệp vụ trinh sát. Tất cả lên xe hành quân về hướng Lương Sơn - Hòa Bình. Chúng tôi được biên chế ba tiểu đội cấp phát súng AK báng gấp, dao găm, bút chì vẽ, tẩy, bảng, bản đồ... bắt đầu học.


Bài đầu là học cách xác định điểm đứng, vật chuẩn xác định góc phương vị, đi theo góc phương vị, cách xem và đọc bản đồ 1/25.000, 1/50.000, 1/100.000...

Buổi đầu học khó, chúng tôi tiếp thu lơ mơ, chưa hiểu bài lắm, sau cũng quen dần, vừa học lý thuyết vừa thực hành học cách vẽ sơ đồ... Đi quan sát núi, trèo lên, trèo xuống quan sát để vẽ, có khi cả ngày vẽ đi vẽ lại mà không được một, hai bình độ. Sau ba tháng, tất cả chúng tôi cũng đạt được yêu cầu đề ra của một chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn. Xong khóa học trinh sát, chúng tôi lại trở về đơn vị đóng quân ở Xuân Mai - Chương Mỹ - Hà Tây.


Thấm thoắt đã được hơn một tuổi quân, một cái tết cổ truyền nữa lại sắp đến, chúng tôi nhộn nhịp chuẩn bị đón Xuân Kỷ Dậu, lần này là ở đồng bằng.

Nhân dân khu vực đóng quân rất thương bộ đội trẻ, xa nhà nên thường xuyên có các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các phụ lão đến động viên, tặng quà bộ đội, có cả bánh chưng và gạo nếp... Các gia đình đều mời chúng tôi ăn chung trong những ngàỵ Tết. Đêm 30, cũng như thường lệ, hơn 20 giờ lại tập trung cấp đại đội để đón giao thừa và nghe Bác chúc Tết, cành đào năm nay kém hơn năm trước nhưng hoa, thơ ca, các trò chơi... vẫn không kém. Không khí rất vui nên chúng tôi cũng quên đi nỗi nhớ nhà... Và đến gần 12 giờ đêm, cả Đại đội lại im lặng thành kính nghe Bác chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước... Không ngờ rằng đó là lần chúc tết cuối cùng của Người.

   "Năm qua thắng lợi vẻ vang
   Năm nay tiền tuyến chắc càng thẳng to
   Vì độc lập, vì tự do
   Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
   Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
   Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn"


Bác thâu, gói gọn toàn bộ chủ trương, đường lối của Đảng trong bài thơ chúc Tết khiến toàn quân và toàn dân càng thêm tin tưởng vào Đảng và Bác kính yêu, phấn đấu khắc phục mọi khó khăn để đi đến thắng lợi cuối cùng. Và năm 1969, trên chiến trường đã giành được nhiều thắng lợi, Mỹ lần lượt rút quân, Hội nghị Pari về Việt Nám có nhiều tiến triển, ở hậu phương, thanh niên nô nức lên đường tòng quân đánh Mỹ, nông nghiệp phát triển, những cánh đồng "năm tấn" ngày càng nhiều, thực hiện đúng khẩu hiệu "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người".


Cuối tháng 2 năm 1969, một số cán bộ được điều động về các trung đoàn, sư đoàn. Một số được cấp trên điều xuống và bổ nhiệm tại chỗ: Thiếu úy Phạm Minh Vũ - Trợ lý Tham mưu Tiểu đoàn xuống thay đồng chí Trường giữ chức Đại đội trưởng; đồng chí Quý - Chủ nhiệm Công binh Trung đoàn 141 về giữ chức Tiểu đoàn trưởng thay đồng chí Khang đi 559; đồng chí Giang nhập ngũ năm 1953, quê Bình Định thay đồng chí Hễ. Đợt nhập ngũ chúng tôi tất cả đều được phong quân hàm hạ sĩ.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM