Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:01:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đời và những trang nhật ký  (Đọc 6612 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #20 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:37:52 pm »

Trời sáng, hai bên tạm dừng bắn để quan sát, theo dõi các hành động của nhau.

Ra vị trí quan sát ngoài cùng trận địa, ở trên cao nhìn xuống, tôi thấy dọc theo bãi sông có nhiều công sự cá nhân ba lô, mũ sắt, trang bị chiến đấu của địch vứt ngổn ngang xác một số tên còn nằm phơi trên mặt đất...


7 giờ sáng, chỉ huy Đại đội phân công đồng chí Lê Công Chính - Trung sĩ, Đại đội phó ra tăng cường cho Trung đội 3. Tôi báo cáo tình hình địch ta, rồi dẫn Đại đội phó Chính ra quan sát thực địa. Xác định vị trí địch ẩn nấp, co cụm để chống trả, đồng chí Chính vác khẩu B40 trèo lên gốc tre đực ngắm bắn và bóp cò. Đạn nổ đinh tai, trúng mục tiêu, một số địch thương vong. Tôi kéo Chính nhao ngay xuống chiến hào tránh đạn địch. Phát hiện thêm một số mục tiêu gần trước mặt, Chính cầm quả lựu đạn mỏ vịt leo lên, ném thẳng vào. Lựu đạn nổ tung hầm ếch, diệt thêm mấy tên địch. Song một tên địch ở phía ngoài đã phát hiện ra vị trí của Chính, hắn ném một quả lựu đạn về phía anh. Lựu đạn nổ, toàn thân Chính đổ sập, hai tay dang rộng, mắt vẫn mở, anh hy sinh. Lúc đó khoảng 7 giờ 30 phút ngày 2 tháng 11 năm 1972. Tôi và hai chiến sĩ đưa Chính xuống hào, vuốt mắt cho anh. Đại đội phó Lê Công Chính quê ở Nho Quan - Ninh Bình.


Từ lúc nổ súng đến bấy giờ có hai đồng chí bị thương và Đại đội phó Chính hy sinh ngay tại trận địa. Tôi đi kiểm tra, động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu, bám trụ, quyết tâm giữ chốt. Được động viên, từng người hứa sẽ bám trụ chiến đấu đến cùng, quyết không rời trận địa.


Khi tôi quay lại thì có lực lượng phía sau đến tăng cường, chi viện. Bốn đồng chí mang theo cả máy thông tin vô tuyến, bộ phận đài quan sát P130 của mặt trận. Sau khi nắm và quan sát trực tiếp tại thực địa, đồng chí chỉ huy nói với tôi: Ta, địch quá gần nhau, lại xen kẽ, pháo chiến dịch không thể bắn chi viện trực tiếp, mà chỉ bắn chế áp bờ nam sông, phía Thành cổ. Lần lượt các đơn vị hỏa lực của cấp trên cũng đến hiệp đồng, chi viện cho đơn vị chiến đấu, giữ chốt và phản kích.


Từ 8 giờ đến 10 giờ, các loại hỏa lực pháo binh, súng cối của địch bắn phá ác liệt vào trận địa phòng ngự của ta. Chúng tổ chức ba đợt tiến công đánh chiếm trận địa nhưng không thành, đều bị tổn thất nặng. Lần thứ ba, lúc 10 giờ, ngoài tiến công chính diện, chúng còn tổ chức một mũi vu hồi theo khe cạn, bên phải trận địa, đánh tập hậu nhưng bị ta phát hiện, đánh bật ra. Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm, kiên cường, bằng tất cả các loại vũ khí có trong tay. Lựu đạn được mở hòm, tháo lắp, kể cả thủ pháo của đặc công, xếp dày đặc kín mép hào, hố chiến đấu, địch tiến gần trong tầm ném, ta bắn găm, bắn gần, bắn quét AK, trung liên, B40, ném lựu đạn vào đội hình quân địch.


Gần 10 giờ đồng hồ chiến đấu, địch tập trung tiến công nhiều đợt không thành, nếu để giằng co, kéo dài, rất không có lợi. Tiểu đoàn phân công đồng chí Trần Minh Thiệt - Tiểu đoàn phó ra sau lô cốt để hiệp đồng chí huy lực lượng Đai đội 7 và Đại đội 5 chiến đấu.


Lực lượng chiến đấu của ta ngoài bến vượt và lô cốt hao hụt, khả năng chiến đấu tiếp theo rất khó khăn. Tôi quyết định báo cáo Đại đội cho điều bốn đồng chí chốt phía trong ra tăng cường. Quân số được bổ sung, tất cả chỉ có chín người nhưng cũng tăng thêm sức mạnh chiến đấu.


Bên cánh trái, một trung đội của Đại đội 5 cũng được bổ sung quân số và tăng cường thêm Chính trị viên Đại đội ra chỉ huy.

Hướng đầu cầu Quảng Trị, khu vực nhà sắt, trận địa phía sau ta vẫn giữ được bí mật, sẵn sàng chi viện cho hướng Trung đội 3.

Hai khẩu đội cối 60mm của Đại đội do Khẩu đội trưởng Quý chỉ huy, chiến đấu dũng cảm, ngay từ đầu đã chi viện cho chúng tôi khá hiệu quả. Hai đại đội cối 82mm được Trung đoàn bố trí tại làng Nhan Biều 2 cũng chi viện cho chúng tôi suốt quá trình chiến đấu.


12 giờ sau khi hiệp đồng với tất cả các lực lượng, giữa bộ binh, pháo binh và các lực lượng khác, tất cả xuất kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch vượt sông.


Hỏa lực cấp trên chuyển làn chế áp phía nam sông, chúng tôi xuất kích ra khỏi công sự, nhưng pháo binh, hỏa lực địch lại bắn dồn đập, các mũi chiến đấu của ta không thể tiến lên được, Chính trị viên Đại đội 5 hy sinh. Ta buộc phải lùi lại.


Vừa nhảy xuống chiến hào, tôi nhận được điện: Phải nhanh chóng củng cố, hiệp đồng chặt chỗ, tiếp tục xuất kích, sẽ có chi viện của hỏa lực pháo binh, súng cối, cả đại đội xe tăng của Sư đoàn... Lệnh của trên, trước 15 giờ phải tiêu diệt toàn bộ quân địch, khôi phục lại trận địa phía bắc sông.


Từ đầu trận đánh, đây là đợt chi viện hỏa lực tập trung có hiệu quả nhất của ta. Khi hỏa lực vừa dứt, tất cả xuất kích, xung phong, dùng hỏa lực, bắn gần, lựu đạn đánh trực tiếp vào đội hình quân địch. Đoán được quyết tâm giành lại trận địa phía bắc sông của ta, địch dựa vào công sự bám trụ, chống trả ta quyết liệt. Nhưng cuối cùng chúng phải bật khỏi công sự, tháo chạy, vượt sông sang bờ nam Thành cổ.


Tôi cùng hai chiến sĩ Thúy, Quần sử dụng hết các loại vũ khí trang bị như trung liên, AK, B40, M79, M72... để chiến đấu, ngăn chặn, quyết không cho chúng vượt sông sang bờ nam.

Bắn nhiều, bắn liên tục nên gần hết đạn, tôi điều hai đồng chí tới mở hòm lấy đạn, lắp vào bắn tiếp. Pháo địch bắn trùm lên đội hình cả hai bên, đạn rít qua đầu, nổ sát, cách chúng tôi chừng 2m. Phản ứng tức thời, tôi nằm bẹp xuống, đè lên chiến sĩ đang lắp đạn. Cả một đoạn hào dài đổ sập, đè lên hai chúng tôi. Miệng, mũi đầy đất cát, khói đạn trùm kín cả chiến hào, chúng tôi bới đất, lôi nhau dậy, người đau nhừ. Tôi bị một mảnh đạn găm vào gần quai hàm má phải, máu chảy nhiều, đồng đội băng xong tôi lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu.


Tiểu đội trưởng Quý bị thương nặng, trên mình nhiều vết thương, vết thương nặng nhất vào thái dương, trên vành tai trái, đồng đội dìu qua, tôi nhanh chóng lấy cuốn băng cuối cùng ở dây lưng băng cho Quý. Máu vẫn chảy ròng ròng phải xé thêm chiếc màn băng cho anh và đưa anh vào hầm Sau trận chiến đấu, Quý hy sinh. Tôi xúc động đưa tay vuốt mắt cho anh và cử người đưa về tuyến sau. Quý quê ở Bình Xuyên - Vĩnh Phú, nhập ngũ ngày 19 tháng 8 năm 1971.


Địch đã qua một phần ba sông. Gần bờ nước cạn, rong rêu nhiều nên chúng chỉ đi khom, bơi chậm, đến nửa sông thì bị ta tiêu diệt hết. Những tên còn lại chưa qua sông hốt hoảng bỏ chạy quay vào, cụm lại ở mép sông, trước trận địa.


Xác địch nổi kín cả khúc sông, những ngày tiếp theo Trung đoàn phải dùng hai đại đội công binh và trinh sát ra chôn cất, bảo đảm vệ sinh toàn bộ khu vực trận địạ phòng ngự của đơn vị.

15 giờ ngày 2 tháng 11 năm 1972, trận phản kích của ta giành thắng lợi lớn, được cấp trên biểu dương, khen ngợi tất cả các lực lượng tham gia chiến đấu, trong đó có Trung đội 3 chúng tôi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #21 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:39:36 pm »

Quá trình chiến đấu, Trung đội 3 hy sinh hai, bị thương bốn, còn lại sáu người, không đủ sức để giữ trận địa và tập kích. Đại đội điều tăng cường sáu đồng chí của Trung đội 1 do đồng chí Thành - Trung đội trưởng chỉ huy. Qua trao đổi, chúng tôi đi đến thống nhất: Tạm thời biên chế thành hai bộ phận. Đến 22 giờ, chúng tôi chia làm hai mũi:

- Mũi 1 do tôi chỉ huy đánh thẳng vào đội hình quân địch.

- Mũi 2 do đồng chí Thành chỉ huy đánh thẳng xuống mép sông vòng trái.

Đại đội 5 cũng chia làm hai mũi, có bộ phận đánh chặn, không cho địch chạy về Xuân An.

Đúng giờ hiệp đồng, hỏa lực của ta chế áp 15 phút, tất cả xung phong nhưng bị hỏa lực địch từ phía nam sông và pháo binh địch đánh chặn. Trời tối, khẩu đội cối 60mm của ta thả ngược, đạn nổ vỡ nòng, cả khẩu đội hy sinh. Ta dừng tiến công, kết thúc một ngày chiến đấu ác liệt, kiên cường.


4 giờ sáng ngày 3 tháng 11 năm 1972, Tiểu đoàn phó Trần Minh Thiệt triệu tập tôi về lô cốt phía sau để bổ sung nhiệm vụ và hiệp đồng chiến đấu, cơ bản như tối hôm trước.

6 giờ sáng, tất cả các mũi xung phong đánh sớm, bất ngờ. Quân địch bị động, không kịp đối phó, phần lớn bị tiêu diệt, bộ phận còn lại chạy dọc theo bờ sông về Xuân An, bị chốt của Tiểu đoàn 9 chặn đánh, diệt gọn, không tên nào chạy thoát. Ta bắt được một tù binh ngay khi xuất kích. Tên tù binh mặt non choẹt, quê Sài Gòn, mới bị bắt lính, vào trận lần đầu, đang ẩn nấp dưới công sự cá nhân, cúi đầu, hạ súng, giơ hai tay lên xin hàng. Khai thác tại chỗ, hắn khai: Đêm qua không ngủ được vì sợ, toàn bộ quân địch vượt sông không tên nào chạy thoát. Đêm trước chúng vượt sông sang bờ bắc lúc 22 giờ bằng dây thừng cột vào hai gốc cây phi lao bờ bắc, khu vực bãi tha ma, hướng Đại đội 5. Chúng ngồi trên thuyền cao su, tay nắm vào kéo lần theo dây, vượt sông nhẹ nhàng bí mật, cứ thế quá nửa tiểu đoàn địch vượt sông trong một thời gian ngắn mà ta không phát hiện ra.


Trận tập kích diễn ra hơn một tiếng đồng hồ thì kết thúc. Toàn bộ quân địch co cụm, vượt sông sang bờ bắc bị loại khỏi vòng chiến đấu. Hơn 300 tên lính thủy quân lục chiến thuộc Tiểu đoàn 6 Lữ đoàn 369 được coi là đơn vị thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn, tham gia tái chiếm Quảng Trị là đơn vị cắm cờ đầu tiên ở Thành cổ ngày 16 tháng 9 năm 1972, được tổng thống chính quyền ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu gắn mề đay Anh dũng bội tinh... chúng đã bị Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 chặn đánh, tiêu diệt gọn.


Ngày 5 tháng 11 năm 1972, đồng chí Trần Minh Thiệt, tôi và đồng chí Điểm - Đại đội phó Đại đội 5 được triệu tập lên Sở Chỉ huy Trung đoàn 18, cách cầu Lai Phước 2km về phía thượng nguồn, bờ nam, gặp Trung đoàn trưởng - Thiếu tá Nguyễn Đức Huy, Chính ủy Trung đoàn - Thiếu tá Phạm Công Nhân, Tư lệnh Sư đoàn Chính úy Sư đoàn cùng cán bộ của bốn cơ quan Sư đoàn và Trung đoàn 1 Sở Chỉ huy nằm sát bờ sông, vách đứng trên bờ hầu hết là rặng tre và cây xanh bao phủ, rất kín đáo. Khu làm việc có hầm trú ẩn, khung lợp tăng, ngụy trang, hai đầu là hai chiếc hầm kèo, hào chạy ra hai phía để sơ tán và chiến đấu bảo vệ.


Sau khi ổn định và giới thiệu thành phần, Trung đoàn trưởng giới thiệu tôi và mời lên báo cáo diễn biến chiến đấu trận Nhan Biều.

Trung thực, khách quan, tôi báo cáo từ đầu đến cuối diễn biến trận đánh, tình hình địch, ta, các mốc thời gian... Sau đó đến đồng chí Điểm, đồng chí Thiệt báo cáo bổ sung sau cùng.

Hỏi nhiều về trận đánh là Thượng tá Duy Sơn - Tư lệnh Sư đoàn... Đồng chí biểu dương hai chốt tiền tiêu ngoài bến vượt và lô cốt đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, giữ vững trận địa. Phê bình cấp tiểu đoàn, trung đoàn nắm tình hình địch, ta thiếu chính xác, không kịp thời, báo cáo chậm, chỉ huy hiệp đồng có lúc chưa ăn khớp, kém hiệu quả khiến trận đánh kéo dài... Rồi đồng chí kết luận: Đây là một trận đánh xuất sắc, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch, thu được nhiều vũ khí, hiệu suất chiến đấu cao, cần tổng kết, đúc rút kinh nghiệm kịp thời và phổ biển nhanh đến các đơn vị toàn Sư đoàn...


Hội nghị kết thúc, tôi được Chính ủy Trung đoàn Phạm Công Nhân trực tiếp trao quyết định bổ nhiệm Đại đội phó Đại đội 7 và thông báo: Tôi cùng một số đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.


Về đơn vị, tôi bàn giao chức Trung đội trưởng cho đồng chí Phan Văn Phường và nhận vị trí chỉ huy mới. Anh em trong đơn vị đều chúc mừng, tôi rất vui, hứa trên cương vị mới sẽ cố gắng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.


Theo mệnh lệnh của trên, ngay tối hôm đó, tôi cùng ba đồng chí trung đội phó có mặt ở vị trí phía sau Sở Chỉ huy Tiểu đoàn để đón nhận tân binh. Nhận xong thì phân về các trung đội, rồi biên chế luôn về các tiểu đội ở ngoài chốt.


Toàn Đại đội được bổ sung 45 tân binh thuộc Trung đoàn 12 - Tỉnh đội Hà Tây, biên chế về mỗi tiểu đội bảy người, riêng tiểu đội cối 60mm và hai khẩu đội B41 đủ biên chế 11 người. Sức chiến đấu của Đại đội được nâng lên một bước mới sau chiến thắng Nhan Biều ngày 2 và 3 tháng 11 năm 1972.


Đại đội 7 nhận bàn giao toàn bộ bên trái lô cốt về giáp Tiểu đoàn 9 ở làng Xuân An, Đại đội 5 rút về phòng ngự phía sau.

Toàn bộ Trung đội 3 được đưa ra phòng ngự bên ngoài khu vực bến vượt và lô cốt, có tăng cường hỏa lực ĐKZ 82mm của Tiểu đoàn và một số hỏa lực khác gồm cả hai súng phun lửa, một phân đội đặc công nước của Đoàn 126 Hải quân để rải mìn, thủy lôi ở khu vực bến vượt.


Từ kinh nghiệm thực tiễn xương máu, lần này các trận địa từ cầu sắt, nhà sắt phía trong phải làm công sự kiên cố, vững chắc, hào cơ động liên hoàn.

Một chiến dịch xây dựng công sự, hầm hào kiên cố được phát động, với mục đích chủ động đánh địch, gây rối sát thương, khiến cho địch mất ăn, mất ngủ... Các trận địa phía ngoài, sát bờ sông cũng như nhà sắt, cầu sắt, đầu cầu, phía trong đường số 1 đều dùng các loại hỏa lực như cối 60mm, B41, đại liên, ĐKZ, 12,7mm, súng bắn tỉa... tích cực bắn sang sông, về phía Thành cổ và các lô cốt của địch. Địch sợ hãi, không dám đi lại chủ quan như lúc mới chiếm thanh.


Riêng ở trận địa phòng ngự của Trung đội 3 do tôi chỉ huy, các đường hào vươn ra tận bờ sông. Chạy ngang, dọc xen kẽ những bụi tre, cây dứa là những hầm hào kiên cố, đài quan sát kín đáo, từ đó có thể quan sát, nắm chắc mọi hành động của địch ở bờ nam sông, khu vực Thành cổ...


Các trận địa chính luôn được giữ bí mật, mà muốn hoạt động thì cần có nhiều trận địa giả. Mỗi lần cối, ĐKZ, B41... bắn ra, địch phản pháo rất nhanh, bộ đội ta có nhiều kinh nghiệm, nên cối chỉ thả ba đến năm viên là vác chạy theo giao thông hào. Địch lại phản pháo ác liệt, có khi đến cả tiếng đồng hồ mà cả người và vũ khí của ta vẫn an toàn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #22 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:41:12 pm »

Trung tuần tháng 11 cho đến cuối tháng 12 mưa nhiều, liên tục, nước sông Thạch Hãn dâng cao, chảy cuồn cuộn, đỏ ngầu... Nước dâng lên sát đường số 1 khiến các chốt đầu cầu, nhà sắt, lô cốt, bến vượt như ốc đảo, nước mênh mông làm cho tất cả hầm, hào công sự chiến đấu đều bị nhấn chìm. Chúng tôi tận dụng những nền nhà của dân và chiếc lô cốt đưa bộ đội lên, sẵn sàng chiến đấu. Được vài ngày nước rút rồi trời lại mưa, nước lại dâng cao. Hầm trú ẩn, hào cơ động toàn đât cát, nước bên trên ngấm xuống, bên ngoài tràn vào có lúc hai người hai đầu hầm vừa quỳ vừa tát nước, cứ 15 phút đến 30 phút lại thay ca, có lúc phải lấy tay, lấy xẻng đào, rồi người đứng trên xốc nách, lắc, lôi, kéo dậy, hai chân tê dại không cảm giác... Cứ như vậy, bộ đội thay ca gác và tát nước liên tục, ngày thay ca vài lần. Sức khỏe anh em có phần giảm sút...


Cuối tháng 12 cũng là cuối mùa mưa, đầu mùa khô, nước rút đến đâu, bộ đội ta đào hào lấn ra đến đó, cho đến sát bờ sông như trận địa ban đầu...

Trung tuần tháng 12 đến cuối tháng, trên bầu trời Quảng Trị bỗng vắng tiếng các loại máy bay, thi thoảng lắm mới có máy bay trinh sát OV-10, L-19 hoạt động.

Thời gian này, địch đang tập trung đánh phá miền Bắc, trọng tâm là Thủ đô Hà Nội. Phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai bị dội bom dữ dội. 12 ngày đêm trong Chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" ta thắng lớn làm nức lòng quân dân cả nước và bạn bè quốc tế.


Chiến trường Quảng Trị sục sôi, quyết trả thù cho đồng bào Thủ đô. Các loại pháo lớn, tầm xa, tầm chiến dịch của ta bắn về phía bờ nam sông Thạch Hãn, phía Thành cổ và một số các mục tiêu khác.


Tiểu đoàn 8 và Đại đội chúng tôi phòng ngự trực tiếp ở phía bắc sông cũng hưởng ứng, đánh trả với khả năng cao nhất. ĐKZ, B41, 12,7mm, cối các loại, M79, M72, B72 (tăng cường) diệt các mục tiêu lộ thiên phía trước, ngoài mép sông và của một số mục tiêu trong thành. Những ngày đó, ta áp đảo, làm chủ các trận địa ven sông, địch nằm im và hạn chế hoạt động.


Chiến dịch đánh phá Hà Nội bằng B-52 của địch thất bại, bị cả thế giới lên án. Đế quốc Mỹ buộc phải ngồi lại vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari. Về phía ta, cấp trên nhắc phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, không bị mắc lừa các thụ đoạn của địch.


Trung tuần tháng 1 năm 1973, chúng tôi được giao nhiệm vụ nắm chắc địch ở bờ nam sông và khu vực Thành cổ, sẵn sàng chớp thời cơ đánh chiếm và phát triển lực lượng.

Từ ngày 20 tháng 1, trên giao nhiệm vụ phải tiêu diệt hết các mục tiêu, hầm hào chiến đấu cũng như toàn bộ hỏa lực của địch ở phía mép sông. Đồng chí Thắng - Khẩu đội trưởng ĐKZ ngoài lô cốt và ĐKZ 75mm đầu cầu được tôi chỉ và giao nhiệm vụ từng mục tiêu, mỗi ngày phải bắn 40 quả đạn trở lên... Mờ sáng, trận địa dự bị ngoài mép sông bắn được ba quả đang lắp đạn thì địch phản pháo tới tấp, anh em vội kéo pháo chạy vào hầm trú ẩn. Giá pháo cách đó hơn 100m vừa bắn được một quả, lắp đạn xong thì lại bị pháo giàn bên sông của địch dội lại. Địch có nhiều đài quan sát, các phần tử bắn đo sẵn nên khi phát hiện vị trí của ta là chúng phản pháo rất nhanh và chính xác.


Trong hai ngày đêm 25 và 26 tháng 1 năm 1973, ta dùng hỏa lực pháo binh, cùng tất cả các lực lượng phòng ngự trực tiếp, chủ động tiến công địch. Đêm 26 tháng 1 là đêm căng thẳng, ác liệt nhất. Các trận địa pháo, hỏa tiễn từ căn cứ Ái Tử bắn rít qua đầu. Trong căn hầm nhỏ của tôi có năm người, gồm hai chiến sĩ, hai trinh sát, một đồng chí liên lạc thay nhau trực máy, trực gác hai đầu hầm. Ba lần pháo địch dội trúng nóc hầm mà chúng tôi đều may mắn không việc gì. Một số hầm hào phía ngoài của anh em bị trúng pháo nhưng cũng rất may không ai bị thương.


Sáng ra, toàn tuyến phòng ngự trực tiếp và hai bờ nam, bắc sông Thạch Hãn, nhất là khu vực Thành cổ diễn ra đấu súng, đấu pháo ác liệt giữa ta và địch. Tôi quan sát tất cả các mô đất cao, tường đổ, gốc cây cụt và nhiều chỗ khác, địch đông quá. Chúng tranh thủ trèo lên cắm cờ trước 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 (thời điểm Hiệp định Pari có hiệu lực là 7 giờ GMT, ở Việt Nam là 8 giờ sáng).


Đúng 8 giờ sáng, hai bên ngừng tiếng súng. Phía ngoài đầu cầu, lô cốt, binh lính địch còn cảnh giác, đề phòng, nhưng ở bờ nam, từng tốp lính địch lại đứng lên ôm nhau nhảy múa, miệng kêu hòa bình, hòa hợp dân tộc, các anh Giải phóng ơi, không đánh nhau nữa, người Việt Nam ta nói chuỵện với nhau... Mặc dù cảnh giác nhưng tôi cũng cho vài tốp anh em không mang súng ra ngoài trận địa dự bị để hưởng ứng, vẫy chào.


Ở phía đông, một số đơn vị của ta mất cảnh giác, địch thấy lực lượng ta ít, mỏng, khu vực bên ta lại là bãi cát, làng mạc, đồng bằng nên chúng bất chấp lệnh ngừng bắn, cho bộ binh, xe tăng tràn qua chốt, đánh chiếm một số vùng giải phóng. Ta phải huy động lực lượng tăng cường gồm xe tăng, pháo binh... phản công, đánh sâu vào cách trận địa cũ vài cây số.


Trận địa phía tây của Sư đoàn, gồm làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, các điểm cao 15, 59, 52... chỉ dừng bắn được vài giờ, sau đó liên tục diễn ra những trận giành giật, giằng co từng góc làng, quả đồi giữa ta và địch. Thiếu đạn hỏa lực, chúng tôi phải chuyển đạn ĐKZ, cối 12,7mm, B40, B41 lên chi viện cho Trung đoàn 95 chiến đấu cho đến hết tháng 2 mới dừng tiếng súng.


Đầu tháng 2 năm 1973, tôi được trên bổ nhiệm Đại đội trưởng để đồng chí Lưu Sỹ Hiệp ra Bắc đi học Trường Trung - cao.

Ban Chỉ huy Đại đội có ba người: Thiếu úy Phan Văn Bạn (quê Hải Dương) - Chính trị viên, Thượng sĩ Nguyễn Văn Lạc (quê Nghệ An) - Chính trị viên phó và tôi. Đến tháng 6 năm 1973, đồng chí Ánh - Trung đội trưởng Trung đội 2 được bổ nhiệm Đại đội phó.


Tranh thủ lúc ngừng bắn, chúng tôi điều chỉnh và bố trí lai các trận địa phòng ngự cho phù hợp, khẩn trương ngày đêm đào làm lại các hầm trú ẩn, hào cơ động, hào chiến đấu, làm đến đâu ngụy trang đến đó. Chỉ trong một thời gian ngắn đã làm được khá nhiều việc, tôi cũng cảm thấy yên tâm với cương vị chỉ huy mới.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #23 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:42:28 pm »

Ngừng bắn được vài ngày, trên trực tiếp giao cho Đại đội 7 làm cột cờ giới tuyến, ngay đầu cầu Quảng Trị. Chúng tôi đi tìm và lên căn cứ Ái Tử lấy được một cột cờ bằng sắt, cao, dựng lên, lấy bao cát vây xung quanh, xếp chân, giật ba cấp. Cấp trên đến kiểm tra đều khen. Lá cờ Giải phóng nửa đỏ, nửa xanh sừng sững hiên ngang tung bay bên đầu cầu bờ bắc. Tôi chọn một trung đội toàn người miền Trung, do Lê Ngọc Ánh làm Trung đội trưởng để canh gác và thay cờ hằng ngày.


Những ngày đầu ngừng bắn, rất nhiều đoàn cán bộ từ Hà Nội vào giới tuyến công tác, đoàn nào đến cũng xúc động, rơm rớm nước mắt khi nhìn thấy cảnh đổ nát, hoang tàn, cây cối trơ trụi, mặt đất chi chít những hố bom pháo; lá cờ Giải phóng vẫn hiên ngang phần phật tung bay cùng với đó là các chiến sĩ giải phóng còn rất trẻ, hồn nhiên, lạc quan yêu đời ra đón chào khách...


Tổng cục Chính trị và cấp trên điều động vào tăng cường cho đơn vị một tổ làm công tác tuyên truyền, hoạt động đối ngoại. Một dàn loa công suất lớn được bố trí đầu cầu, hàng ngày phát thanh với nội dung chủ yếu là tuyên truyền đấu tranh chính trị với quân đội Sài Gòn ở bờ nam, yêu cầu chấp hành nghiêm Hiệp định Pari, không bắn phá, lấn chiếm vùng giải phóng. Ngoài ra, ta còn phát cả một số chương trình ca nhạc, dân ca...


Địch ở khu vực đầu cầu bờ nam thấy vậy cũng bắt chước. Chúng mắc dàn sáu loa, sau tăng thành 12 loa, mở to hết cỡ, liên tục phát nội dung tuyên truyền xuyên tạc, hoặc nhạc vàng mở suốt ngày. Sau ta đấu tranh, chúng phải tuân theo việc mở to, nhỏ từng lúc...


Gần Tết cổ truyền, một đoàn cán bộ từ ngoài Bắc tăng cường đem vào cho đơn vị nhiều cờ, tranh ảnh, lịch hòa hợp dân tộc, thuốc lá, thịt hộp, lương khô...

Cấp trên chỉ đạo cho Quân giải phóng ở bờ bắc và quân đội Sài Gòn ở bờ nam gặp nhau tại đoạn giữa cầu sắt Quảng Trị bị đánh sập hồi đầu giải phóng, lấy khu vực giữa cầu làm ranh giới.

Tôi chọn ra một tổ để chuyên làm nhiệm vụ này. Việc gặp nhau hai bên mục đích là nói chuyện tình cảm, truyền thống dân tộc, tuyên truyền các bên nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản của Hiệp định Pari, ngừng bắn, không lấn chiếm vùng giải phóng..., sau đó tặng lịch hòa hợp dân tộc, tặng thuốc lá, thịt hộp, quà Tết nhân dịp Tết cổ truyền. Quân đội Sài Gòn lúc đầu còn e dè, lo sợ, nhưng dần cũng quen, muốn các lần gặp nhiều hơn nữa...


Tháng 3 năm 1973, sau khi hai bên ngừng tranh chấp, ở cánh Đông, Trung đoàn 101 cũng có một nhà hòa hợp, phía tây tại làng Tích Tường, Như Lệ, ta cũng tổ chức một nhà hòa hợp. Tết đến, cấp trên, hậu phương chuyển đến cho chúng tôi lợn, gạo nếp, kẹo, bánh, thuốc lá khá đầy đủ. Một cái tết đầu tiên vừa ngừng bắn, ở vùng giáp ranh sát nách địch mà lại có tiếng lớn kêu giữa trận địa phòng ngự đầu cầu... Cả bờ nam sông, lính Sài Gòn ra đứng rất đông, nói vọng sang: "Các anh Giải phóng ơi! Tết làm gì vui thế!" - "Đang thịt lợn!" - "Bên chúng em chẳng có gì cả!". Đúng thật bên ta hơn hẳn địch về vật chất... Trưa 30 Têt, cả Đại đội 7 chúng tôi tổ chức ăn Tết trên chốt, cụm chốt, các đơn vị đóng quân chạy dài từ đầu cầu Quảng Trị về đến Xuân An, các làng Nhan Biều 1, 2 đều có xôi thịt, kẹo, thuốc lá. Thêm một số nhân dân đi sơ tán về dự, không khí thật là ấm áp tình quân dân...


Trung tuần tháng 2 năm 1973, để chuẩn bị cho kế hoạch trao trả tù binh hai bên bị bắt trong chiến tranh, có hai khu vực được xác định:

- Sân bay Lộc Linh tỉnh Tây Ninh;

- Sông Thạch Hãn khu vực Thành cổ Quảng Trị.

Đoạn giữa trận địa phòng ngự của Đại đội 7 từ đầu cầu đến lô cốt bến vượt là nơi Ủy ban quốc tế và Ủy ban liên hợp quân sự sẽ chứng kiến việc trao trả tù binh. Đó là một khoảng trống có nhiều mìn, công binh của ta và Đại đội 7 phải dò gỡ và dựng hơn 20 chiếc nhà bạt để chuẩn bị cho Lễ trao trả tù binh.


Một buổi sáng cuối tháng 2 năm 1973, trên đường số 1 từ Đông Hà vào Nhan Biều có một đoàn xe Hải Âu rất mới, xe cách xe khoảng 40 - 50m, chở những người ngồi trên áo trắng, quần kaki vàng. Khi xuống xe, tất cả đi lần lượt thành một hàng dài, tay xách túi da... Bộ đội cứ đoán già, đoán non là tù binh. Sao khỏe mạnh, ăn mặc lịch sự như đi nước ngoài thế (?) Thật khó có thể tin rằng đó là tù binh của phía bên kia được ta trao trả.


Rồi đến phía bên kia trao trả tù binh cho ta, chủ yếu là những cán bộ, chiến sĩ bị địch giam giữ ở Côn Đảo, Phủ Quốc và các nhà tù trong đất liền. Tù binh được chở bằng xe tải từ Huế ra, mặc áo tù màu gụ, gầy còm, ốm yếu, nhiều đồng chí bị thương, đặc biệt có đồng chí bị cụt cả hai chân, hai tay phải có người dìu từ trên bờ xuống xuồng máy sang bờ bắc. Đến khu nhà bạt, tất cả phải dừng lại để Ủy ban quốc tế, Ủy ban liên hiệp quân sự kiểm tra, đối chiếu danh sách, sau đó bàn giao cho từng bên. Phía ta, đoàn người ra đón rất đông, ai cũng sung sướng, xúc động rơi nước mắt ôm chầm lấy những người đồng đội và đưa họ lên xe về Đông Hà.


Tốc độ trao trả tù binh về sau tăng dần, do lượng tù binh của hai bên quá đông. Tù binh của ta, phía giải phóng, không biết ai thống nhất và thống nhất từ bao giờ, nhưng xuống xe, xuống xuồng sang bờ bắc, vào nhà bạt tập họp đều rất có kỷ luật, trật tự, leo xuồng máy ra sông là cởi hết áo tù vứt xuống sông, trên người chỉ có chiếc quàn xà lỏn. Về sau, phía địch cũng học phía giải phóng, các "thiên nga" (nữ quân nhân) đi đón cũng bắt tù nhân cởi quần áo, túi xách, mũ quăng bỏ. Mặt sông nổi đầy túi xách, quần áo, trang phục của tù binh...


Có những toán tù binh được ta giáo dục, cải tạo, cảm hóa, khi trao trả họ lại không muốn về. Xuống xuồng trả về phía bên kia, họ bị bắt cởi bỏ trang phục nhưng không chịu, xuồng tự trôi xuôi 200m thì dính thủy lôi, nổ tan tành, tất cả chìm xuống đáy sông.


Việc trao trả tù binh theo kế hoạch diễn ra từ cuối tháng 2 đến trung tuần tháng 6 năm 1973, mỗi ngày cứ đều đặn bên ta người chiến thắng trở về thì tù binh phía bên kia cũng lại lần lượt qua sông sang bờ nam.


Đơn vị chúng tôi đảm nhiệm canh gác, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Ủy ban liên hiệp quân sự, Ủy ban quốc tế, đảm bảo an toàn cho khu vực trao trả tù binh nên cũng khá vất vả. Sáng sớm tập trung quân mở cửa rào bến, kiểm tra an toàn, thu dọn vệ sinh, bàn giao cho Ban Tổ chức. 18 giờ lại khóa cổng canh gác toàn bộ trận địa và khu vực trao trả tuyệt đối an toàn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #24 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:44:08 pm »

Trung tuần tháng 6 năm 1973, sau khi việc trao trả tù binh kết thúc, toàn bộ Tiểu đoàn 8 bàn giao cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95 vào thay phiên. Đơn vị tôi rút về dãy đồi Linh Phong sau làng Nhan Biều 3, làm lực lượng dự bị cơ động cho Trung đoàn.


Đến tháng 6 năm 1973, đội hình chiến đấu - phòng ngự của Sư đoàn 325 bố trí như sau:

Trung đoàn 101 phòng ngự cánh Đông từ nam Cửa Việt, Bích La Đông, ngã ba chợ Sải.

Trung đoàn 95 phòng ngự bắc sông Thạch Hãn từ An Đôn đến đầu cầu Quảng Trị, bến vượt Xuân An, sân bay Ái Tử, các điểm cao 10-20-29 (toàn bộ căn cứ Ải Tử).

Trung đoàn 18 được tăng cường Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn 21 (thành năm tiểu đoàn), phòng ngự làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, điểm cao 15, 52, 59, nam sông Nhùng, bắc sông làng Thượng Phước, đồi Linh Phong.


Trung đoàn Pháo binh 84 nằm trong đội hình Sư đoàn bố trí phía sau, chi viện cho các trung đoàn phòng ngự phía trước.

Tiểu đoàn Đặc công 19 giải thể; thành lập Tiểu đoàn 16 pháo cao xạ 37mm.

Tiểu đoàn 8 phòng ngự phía sau, là lực lượng cơ động trên các hướng phòng ngự nam sông của Trung đoàn, từ làng Tích Tường, Như Lệ lên điểm cao 52, 59.

Từ ngày vào chiến trường, tháng 8 năm 1972, cho đến lúc bấy giờ, chúng tôi liên tục chiến đấu và phòng ngự trực tiếp, chưa có lúc nào ăn ở tập trung, củng cố đơn vị.

Về nhận nhiệm vụ đứng chặn đồi Linh Phong, từng đại đội bố trí cách nhau trên dưới 1km. Xung quanh Tiểu đoàn là hầm âm có nắp; từng tiểu đội, trung đội gần đại đội, có hào cơ động, sân bãi tập trung và huấn luyện chính quy. Tuy chỉ có một thời gian ngắn nhưng cũng huấn luyện nâng cao về trình độ kỹ, chiến thuật cho bộ đội sát với nhiệm vụ chiến đấu. Ngày tám tiếng trên thao trường toàn đồi trọc, với cái nắng gay gắt vùng Quảng Trị, việc rèn luyện khá vất vả, nhưng rất thiết thực nên tất cả cán bộ và chiến sĩ đều cố gắng. Các đơn vị phòng ngự phía trước cũng giữ được tình hình ổn định.


Ở phía sau, các đơn vị chuyển quân, hậu cần, kỹ thuật, vận chuyển lương thực vào các chiến trường phía trong hoạt động khá thuận lợi, bảo đảm đầy đủ cho nhiệm vụ trước măt cũng như lâu dài...


Đầu năm 1974, trên điều Tiểu đoàn 8 vào phòng ngự từ động Chiêng Rồng, điểm cao 367, sông Mỹ Chánh, đến điểm cao 165 (sông Ô Lâu). Đại đội 7 chúng tôi đảm nhiệm phòng ngự dưới chân điểm cao 367 gồm các khu: Y1, Y2, Y3. Trung đội 1, Trung đội trưởng Trần Đương, quê Lục Nam - Hà Bắc, đảm nhiệm khu vực: Đồi Không tên, 9a, 9b, sát sông Mỹ Chánh (M1+M2); Trung đội 2, Trung đội trưởng Nguyễn Văn Ninh, quê Phù Ninh - Vĩnh Phú, đảm nhiệm toàn bộ dãy Sâu Róm - điểm cao 165 (sông Ô Lâu); Trung đội 3, Trung đội trưởng Phan Văn Phường, quê Lâm Thao - Vĩnh Phú. Chỉ huy Đại đội ở chân điểm cao 367 trong đội hình phòng ngự Trung đội 2.


Thời gian thay phiên vào phòng ngự rất ngăn, phải bảo đảm bí mật, an toàn. Một tin vui, lan truyền đến tất cả cán bộ, chiến sĩ đơn vị: Theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 2 được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974, Sư đoàn 325 vinh dự được nằm trong đội hình Quân đoàn. Tất cả các đơn vị của Quân đoàn 2 đều có bề dày truyền thống, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều đứng chân trực tiếp ở chiến trường Trị - Thiên...


Bộ Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn gồm: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Linh - Chính ủy; Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh; Đại tá Bùi Công Ái - Tham mưu trưởng; Đại tá Nguyễn Công Trang - Phó Chính ủy.


Các đơn vị gồm có các sư đoàn 304, 325, 324, Sư đoàn Phòng không 673, Lữ đoàn Xe tăng 203, Lữ đoàn Pháo binh 164, Lữ đoàn Công binh 219 và một số đơn vị trực thuộc.

Thành lập được một thời gian ngắn, Quân đoàn 2 cùng Quân khu 5 mở Chiến dịch Thượng Đức. Lực lượng tham gia gồm Sư đoàn 304 (thiếu một trung đoàn), một trung đoàn của Sư đoàn 324, lực lượng vũ trang địa phương Quân khu 5 có tăng cường hỏa lực pháo binh chi viện, do Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn chỉ huy.


Trong chiến dịch này, ta tổ chức tiến công đợt một không thành công, thương vong lớn do chuẩn bị chưa kỹ. Tiến công đợt hai thành công, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, bắt tù binh, thu vũ khí và tổ chức phòng ngự giữ Thượng Đức. Địch tổ chức phản kích, đánh chiếm lại Thượng Đức, ta và địch giằng co quyết liệt, cuối cùng địch phải rút quân, ta giữ được Thượng Đức để sau đó, đến đầu năm 1975, tạo bàn đạp tiến công Đà Nẵng...


Để phối hợp và chia lửa với các lực lượng trong Chiến dịch Thượng Đức, trên chỉ đạo cho Trung đoàn 18 và toàn bộ Sư đoàn 325 tích cực hoạt động quân sự, nghiên cứu cải tạo thế phòng ngự trên toàn tuyến (mang mật danh K18).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #25 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:45:14 pm »

Trung tuần tháng 7 năm 1974, cấp trên có chủ trương cho cán bộ từ cấp đại đội trở lên lần lượt đi phép, tôi được đi đợt đầu. Nghe thông báo, tôi bàn giao công việc cho Đại đội phó Thìn rồi cùng liên lạc ra ngay Sở Chỉ huy Trung đoàn ở sông Nhùng. Tiểu đoàn 8 có bốn đồng chí đi phép thì ba đồng chí là chính trị viên đại đội, tôi được cấp trên chỉ định chỉ huy nhóm này. Trung đoàn đi phép gồm hơn 30 đồng chí do Chính ủy Hồ Sỹ Nguyên chỉ huy, đi trên chiếc xe Gát 63. Xuất phát từ điểm cao 30 (bắc sông Nhùng) ra đến Đông Hà khoảng hơn 20km mà xe bị hỏng nhiều lần, xe lại khá chật chội. Đến thị xã Đông Hà, Chính ủy lấy tinh thần xung phong, bốn đồng chí Tiểu đoàn 8 giơ tay xin đi xe ngoài, được Chính ủy cho thêm bốn ngày phép. Chúng tôi mừng quá, bắt xe khách đi luôn ra Hồ Xá - Vĩnh Linh. Xe chạy liên tục đến gần 21 giờ đêm thì ra đến ga Vinh. Ngồi trên xe mà lòng cứ bồi hồi, lâng lâng khó lả. Gần đến ga đã nghe tiếng còi tàu, bác tài xế bảo cứ bình tĩnh, may ra còn kịp. Chúng tôi xuống xe, mua vé kịp ngồi gọn vào thì tàu chạy. Chúng tôi lần lượt chia tay tại các ga Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, rồi chỉ còn mình tôi ra tiếp Hà Nội. Chiều hôm sau, tàu vào ga Hàng Cỏ. Tôi đeo ba lô, túi xách xuống tàu vào mua vé, cứ ngơ ngác, đường đi lối lại, bến tàu, sân ga... tất cả đều mới biết. Mua được vé lên tàu, tàu chạy đến ga nào tôi cũng phải hỏi, đến Việt Trì thì tàu mới dừng. Tôi xuống ga, mọi người tỏa đi các hướng, chỉ còn lại một mình, tôi loay hoay không biết đi đâu thì gặp hai cô nhân viên nhà ga. Thấy tôi mặc quân phục, đeo xà cột, súng ngắn, ba lô, các cô cười: Hình như anh bộ đội ngủ quên! Tôi nói muốn xuống ga Hướng Lại nhưng tàu không dừng. Một cô bảo, anh bộ đội ơi, đây là tàu nhanh nên không dừng nhé. Các cô chỉ tôi vào phòng bảo vệ chờ chuyến tàu xuôi lúc 4 giờ sáng. Lên tàu rồi xuống ga Hướng Lại, trời còn tối, tôi ra đường số 2 về Vĩnh Tường. Từ huyện qua Thượng Trưng về nhà đã hơn 7 giờ sáng. Thấy chú bộ đội đeo ba lô đi trên đường ai cũng quay lại nhìn. Thời đó cả nước lên đường ra trận, nhiều người có người thân đi lâu không có tin tức, ai cũng mong mỏi người thân trở về.


Về đến đầu làng, nhiều người nhận ra tôi, tay bắt mặt mừng ríu rít hỏi chuyện, vào sân vừa đặt ba lô xuống thì bố mẹ, các em đi làm đồng cũng về tới nhà. Mẹ tôi bảo, thấy người ta nói con về, thế là mừng quá mẹ bỏ lại tất cả, chạy về luôn. Ngoảnh trước, ngó sau chỉ một khoảnh khắc mà người đến thăm đã chật ních trong nhà ngoài sân, ai cũng mừng cho tôi mạnh khỏe, tiến bộ và may mắn được trở về... Ăn cơm trưa xong, việc đầu tiên là tôi cùng mẹ đến thắp hương bà ngoại, bà đã về với tổ tiên ngày 25 tháng 12 năm 1971 (âm lịch). Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, bà vẫn thường nhắc đến tôi, thương tôi còn nhỏ tuổi đã ra đi gánh vác việc nước nhà.


Gần một tháng đi phép, ngoài anh em mời bữa cơm thân mật ra, còn lại tôi vẫn ăn cơm với bố mẹ, các em. Hai, ba ngày đầu, ngày cuối có thịt gà, các bữa còn lại vẫn đạm bạc như xưa, trên mâm vẫn với đĩa rau muống luộc, dưa, cá, canh cua, cơm độn sắn, khoai nhưng thật ấm cúng, hạnh phúc. Các em tôi đều đi học, chỉ có cô em gái Sến đi lấy chồng đã có con, thêm cô em út Tuyết sinh cuối năm 1968 còn nhỏ, được bố mẹ nuông chiều nhất nhà.


Lần này về phép, bố mẹ tôi ướm thử chuyện lấy vợ, nhưng tôi không nói gì, toàn đánh trống lảng. Một buổi tối, sau khi khách ra về chỉ còn lại bố mẹ và các em, vẻ nghiêm trang, mẹ tôi nói: "Con cũng lớn rồi, lần này về cưới vợ để bố mẹ có cháu bế, cháu bồng". Ngồi im một lúc, tôi bình tĩnh trả lời: Về phép xong con còn đi lâu dài, chiến đấu gian khổ, ác liệt. Lần này về, con chưa nghĩ tới chuyện đó. Nhưng bố mẹ tôi chưa chịu, cứ giới thiệu một, hai cô gái trong làng mà gia đình cân nhắc kỹ càng từ trước.


Vẫn trong dịp nghỉ phép đó, vào một buổi chiều đâu tháng 8, Thiều Chí Vũ đến chơi. Hai anh em ngồi vui chuyện, rồi Vũ rủ tôi sang nhà bạn học cùng lớp, đó là Lê Thị Huy. Chúng tôi vào cổng gặp Huy từ trong nhà cầm cái rổ đi ra ruộng hái rau. Đứng một lát, em mời chúng tôi vào nhà chơi. Pha trà mời nước, nói dăm ba câu chuyện xã giao, khoảng 30 phút thì chúng tôi xin phép ra về để em còn nấu cơm. Trên đường về nhà, Vũ hỏi tôi thế nào, có được không? Tôi ậm ừ trả lời cho qua chuyện.


Theo hẹn, sáng hôm sau hai chúng tôi lại đến chơi, vì chiều cô ấy lên trường. Huy đang học Trung cấp Y Phú Thọ. Chúng tôi hẹn thứ bảy tuần sau có dịp lại đến chơi. Gặp nhau được vài lần thì tôi chuẩn bị hết phép, mức độ hai bên mới chỉ quen biết nhau, chưa hứa hẹn gì. Lúc chia tay, tôi tặng Huy tấm ảnh thời học viên sĩ quan làm kỷ niệm.


Sau khi chia tay Huy, về nhà trằn trọc suốt đêm không ngủ, có điều gì đó cứ xao xuyến trong lòng. Sáng ra, bố mẹ tôi làm mâm cơm cúng tổ tiên, ông bà. Tôi ăn bữa cơm chia tay gia đình, rồi chú Hạc em rể đạp xe chở tôi xuống bến phà qua sông, sang Sơn Tây về Hà Nội, từ đó đi xe lửa đến Vinh rồi bắt xe đi Quảng Trị vào Đông Hà và về đơn vị.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #26 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:46:11 pm »

Tháng 9 năm 1974, trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 đánh chiếm điểm chốt H1C. Đêm 2 tháng 9 ta nổ súng, do chuẩn bị chưa kỹ, hiệp đồng thiếu chặt chẽ, chỉ huy thiếu kiên quyết, dẫn tới trận đánh không thành công... Đầu tháng 11 năm 1974, Trung đoàn lại giao nhiệm vụ đánh điểm cao 325 (đồi Xanh). Đại đội 6 khi đi trinh sát vấp mìn, địch trong trận địa bắn ra, ta buộc phải rút lui. Ta tổ chức vượt sông Mỹ Chánh, nước thượng nguồn đột ngột dâng cao, trời lại tối, ba đồng chí bị lũ cuốn trôi, trong đó có cả Đại đội phó.


Trung đoàn vẫn quyết tâm đánh điểm cao 325 (đồi Xanh) nhưng giao cho trinh sát Đại đội 20 chuẩn bị, nếu thời cơ thuận lợi thì đánh, sau đó bàn giao cho Đại đội 6.

Đại đội 20 do Đại đội phó dẫn đầu chia làm hai mũi đi trước. Trời mưa to, sấm chớp liên tục, hai mũi tiếp cận sát trận địa địch rồi bất ngờ nổ súng tiêu diệt địch, đánh chiếm được điểm cao 325, thu nhiều vũ khí, sau đó bàn giao lại cho Đại đội 6.


Cả đêm và sáng hôm sau trời mưa to, liên tục, ta không có điều kiện củng cố công sự, hầm hào chiến đấu. Đến 8 giờ sáng, trời đột ngột hết mưa, hửng nắng, ba mặt từ chân đồi, bộ binh địch vây kín, tiến công lên, hàng chục khẩu cối bắn dồn dập vào đỉnh đồi. Ta chỉ có hào cơ động và hố chiến đấu cá nhân không có nắp. Chiến sĩ ta thương vong khá nhiều, ta buộc phải rút lui theo hướng phòng ngự, địch tái chiếm lại điểm cao 325 vào trưa hôm đó.


Cả ngày và đêm hôm sau ta tổ chức tìm kiếm được một số thương binh và các đồng chí bị lạc. Đến chiều, tại trận địa phía sau của Đại đội 7 (khu vực tăng gia sát sông Mỹ Chánh), Trung đoàn tổ chức cho Đại đội 15 ĐKB, Đại đội 14 cối 120mm đánh vào căn cứ Lương Điền, cầu Mỹ Chánh, điểm cao 367. Đài quan sát của Đại đội 15 do Đại đội trưởng Đĩnh chỉ huy đặt cách trận địa phòng ngự 9a, 9b của Đại đội 7 khoảng 1,5km (đồi Không tên).


Lệnh nổ súng lúc 14 giờ, Đại đội 15 ĐKB bắn vào căn cứ Lương Điền, khu vực cầu Mỹ Chánh, sau khi bắn hiệu chỉnh xong thì bắn cấp tập ngay. Mới bắn được vài loạt thì bị lộ, ba mặt chân đồi bộ binh địch vây kín, súng nổ giòn một thời gian ngắn, sau đó im hẳn. Khoảng gần một giờ sau năm đồng chí đeo máy 2W, súng AK chạy về trận địa phòng ngự M1, M2 của Trung đội 2 Đại đội 7 báo cáo: Đài bị lộ địch quá đông, Đại đội trưởng và chiến sĩ liên lạc vừa chiến đấu, vừa chặn địch cho bộ phận đài rút về sau... Súng hết đạn Đại đội trưởng và liên lạc hy sinh, địch dùng xăng đốt xác các anh ngay tại trận địa (Đại đội trưởng Đĩnh quê Lâm Thao - Vĩnh Phú, sinh viên nhập ngũ ngày 6 tháng 9 I năm 1971).


Đại đội 7 được trên giao nhiệm vụ luồn sâu phía sau điểm cao 367, các trục đường cơ động phục kích bắt tù binh. Chấp hành mệnh lệnh của trên, tôi tổ chức đi phục kích hai lần nhưng không thành công. Lần thứ ba tôi giao nhiệm vụ, quán triệt kỹ cho bộ phận luồn sâu do đồng chí Hòa - Trung đội phó Trung đội 1 chỉ huy bảy đồng chí. Tôi bắt tay từng đồng chí, nêu quyết tâm ra đi phải chiến thắng, phải diệt được địch, bắt được tù binh, thu vũ khí... Tất cả anh em đều phấn khởi hứa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Sáng hôm sau, trên các chốt của Đại đội, nghe rộ lên mấy loạt súng, sau đó im bặt không thấy động tĩnh gì, gần trưa đồng chí Hòa cùng anh em dẫn về một tên tù binh, ba khẩu súng AR15, súng ngắn chiến lợi phẩm bàn giao cho Đại đội. Anh em báo cáo: Ta phục kích hai bên khe suối, đường mòn địch hay qua, ba tên địch ở trên chốt xuống bị ta phục kích diệt hai tên, bắt được một tên. Đây là tên thiếu úy, trung đội trưởng, quê Sài Gòn, học Trường Sĩ quan Thủ Đức ra... Tôi điện báo cáo ngay cấp trên, được Trung đoàn, Sư đoàn gửi điện khen và cử người xuống giải tù binh về để khai thác tin, lúc này Chiến dịch K18 rất cần mà chưa đơn vị nào bắt được tù binh.


Cuối tháng 12 năm 1974, bộ đội địa phương Quảng Trị vào thay, toàn bộ lực lượng phòng ngự của Sư đoàn rút ra củng cố tổ chức, biên chế, trang bị, chuẩn bị cho nhiệm vụ năm 1975.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #27 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:48:27 pm »

VII. THAM GIA CÁC CHIẾN DỊCH XUÂN 1975

A. Chiến dịch Trị Thiên - Huế

Cuối tháng 1 năm 1975, Trung đoàn 18 hành quân về doanh trại của Trung đoàn 95 vừa được trên điều động, hành quân bàng cơ giới đi theo đường số 9, Đường Hồ Chí Minh vào tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên.


Tiểu đoàn 8 vào thay doanh trại của Tiểu đoàn 5. Chúng tôi nhận và đựa đơn vị vào vị trí, nhanh chóng củng cố và vui đón Tết cổ truyền. Tết đó có đủ tiết canh, lòng lợn, bánh chưng, rượu, không khí thật chan hòa, ấm cúng.


Để chuẩn bị cho nhiệm vụ sắp tới, trên điều động đồng chí Phan Văn Bạn về Trường Hạ sĩ quan Quân đoàn, đồng chí Đậu Văn Bạch - Chính trị Viên phó làm Chính trị viên, Thiếu úy Giản - cán bộ thực tế của Học viện Chính trị giữ chức Đại đội phó, đồng chí Hiếu - Chính trị viên phó. Các đồng chí lớn tuổi, sức khỏe yếu đều được điều về tuyến sau.


Đầu tháng 3 năm 1975, đơn vị được lệnh hành quân. Trung đoàn 18 đi đầu, từ Tân Vĩnh đến làng Núp, chân dốc 365, theo đường mòn cắt ra đường số 14 tập kết. Cac đoàn xe quân sự nằm chờ sẵn. Mới ra đến đầu đường đã gặp không khí vui như trẩy hội, các đơn vị thanh niên xung phong, công binh làm đường, dân công phục vụ chiến dịch, bộ đội ra vào tấp nập. Có một tiểu đoàn thanh niên xung phong toàn nữ quê Yên Lạc - Phúc Yên - Kim Anh (Vĩnh Phú), nhiều anh em đơn vị được gặp người thân, quen...


Sáng sớm ngày hôm sau, chia tay với các đơn vị vừa làm quen, chúng tôi lên xe, ngụy trang kín, lần lượt lăn bánh theo đường số 14 vào chân đèo Bạch Mã, nghỉ lại chân đèo một đêm. Đây là khu du lịch thời Pháp đô hộ, vì ở trên cao nên đêm xuống trời rất lạnh. Khuya, tất cả không ngủ được, dậy đốt lửa sưởi, sáng ra hành quân, nhìn đường số 1 và phá Tam Giang gần ngay dưới chân núi.


Theo phương án tác chiến ban đầu, Trung đoàn 18 tiến công trên hướng chủ yếu của Sư đoàn, gồm các mục tiêu điểm cao 494, 520, 560, sau đó phát triển chia cắt, đánh chiếm đường số 1 đoạn từ Gián Bó đến cầu Bạch Thạch (quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên).


Trung đoàn 101 đảm nhiệm tiến công hướng thứ yếu của Sư đoàn (bên cánh trái) bao gồm dãy Côn Sắc, các điểm cao 320, 312...

Trung đoàn 18 sử dụng Tiểu đoàn 9 tiến công hướng chủ yếu gồm điểm cao 494 và 560. Cụ thể: Đại đội 11 luồn về sau, bí mật triển khai đội hình đánh chiếm điểm cao 494, chia cắt 560 với phía sau; Đại đội 10 tiến công hướng chủ yếu vào điểm cào 560; Đại đội 9 tiến công hướng thứ yếu vào bên phải đội hình Đại đội 10.


Khi đơn vị hành quân vào vị trí tập kết, tất cả bắt tay vào nhiệm vụ: Cán bộ từ trung đội trưởng đến trung đoàn trưởng đi chuẩn bị chiến trường, cấp phó và chính trị viên chỉ huy bộ đội vận chuyển gạo, đạn. Toàn Tiểu đoàn được phân công đi kéo pháo 122, P85, PCX 37 vào trận địa. Lúc đầu tưởng đơn giản nhưng sau khá phức tạp, phải chuẩn bị hết sức chu đáo, chỉ huy chặt chẽ mới đưa được các khẩu pháo nặng hàng tấn vượt dốc cao vào trận địa ở điểm cao 789 (toàn bộ dãy núi đối diện với các mục tiêu 560 - 520)... để bắn thẳng chi viện cho bộ binh.


Đi trinh sát thực địa và thông qua quyết tâm, cấp trên thấy không chắc chắn, quyết định điều Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 vào tăng cường cho Tiểu đoàn Bộ binh 9 trên hướng chủ yếu. Cán bộ trung đội, đại đội đang đi trinh sát theo nhiệm vụ của Tiểu đoàn 8 thì có lệnh trên gọi về gấp, triệu tập sang Tiểu đoàn 9 để nghe giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng đánh điểm cao 560. Vì quá gấp, không có sự chuẩn bị, tôi chỉ biết nghe và chấp hành... về họp chi bộ, thông qua cấp ủy chúng tôi chỉ quán triệt cho đơn vị là tăng cường cho Tiểu đoàn 9 làm lực lượng dự bị trên hướng chủ yếu khi cần.


Chiều 20 tháng 3 năm 1975, đơn vị hành quân vào vị trí tạm dừng ở chân điểm cao 366 sát Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 9. Đồng chí Triển - Tiểu đoàn trưởng cho gọi tôi lên và nói về nhiệm vụ cấp trên điều tăng cường gấp, cán bộ Đại đội 7 chưa đi trinh sát, Tiểu đoàn cử hai đồng chí trinh sát Tiểu đoàn dân cán bộ Đại đội 7 đi để biết đường và vị trí triển khai. Đại đội 10 đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh điểm cao 560.


Tôi, ba trung đội trưởng và liên lạc theo trinh sát đi đường mòn, vừa đi vừa phát đường ống, luồn chui lên vị trí dự kiến Đại đội 10 sẽ triển khai. Tuy nhiên, từ đây nhìn sang điểm cao, các hướng đều không rõ, chúng tôi lui về vị trí đơn vị tạm dừng.


Suốt đêm 20 rạng sáng ngày 21 tháng 3 năm 1975, toàn Sư đoàn hành quân tiếp cận và triển khai chiến đấu. Một đêm căng thẳng trôi qua, tất cả các đơn vị đã vào vị trí triển khai đúng kế hoạch, bí mật, an toàn.


5 giờ 30 phút, giờ "G" - giờ súng nổ đã đến. Do sương mù dày đặc, pháo binh, hỏa lực mạnh chi viện đều không nhìn thấy mục tiêu. Các đơn vị đều xin cho lui lại giờ nổ súng. Trung đoàn, Sư đoàn báo cáo lên cấp trên và được phép lui lại 10 phút! 10 phút lặng lẽ trôi nhanh, tất cả trận địa đều hồi hộp đợi lệnh.


Đúng giờ, tất cả các loại hỏa lực nổ inh tai, nhức óc vào các mục tiêu đã có sẵn phần tử. Tôi cùng chiến sĩ liên lạc Mốt thức suốt đêm ngồi trực bên Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 9 sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Hỏa lực chuyển làn, tất cả các hướng mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu.

Hướng chủ yếu, Đại đội 10 mở cửa đánh chiếm mục tiêu đầu cầu không thành, tổ chức tiến công tiếp nhưng cũng chỉ đánh chiếm được đồi Yên Ngựa, do 1 tiểu đội địch chốt giữ bên ngoài. Địch dùng hỏa lực ngăn chặn, ta bị thương vong, tổn thất ngoài cửa mở đồi Yên Ngựa mà vẫn không thể tiến lên được. Đại đội trưởng Nhường, Chính trị viên Bông, nhiều lần điện xin chi viện nhưng trên chưa trả lời, lệnh tiếp tục tiến công.


Hướng Đại đội 11, sau gần một giờ nổ súng mà không có pháo binh chi viện (tiến công độc lập), đã xung phong đánh chiếm được điểm cao 494, khóa chặt phía sau, bên sườn điểm cao 560.

Hướng Đại đội 9, từ đêm vào triển khai đã bị lộ, đội hình triển khai ở vị trí quá dốc, nhiều đá nên bị thương vong lớn, Đại đội trưởng Quỳ cũng bị thương vào bụng. Đại đội 9 không phát triển được.

Sau gần hai giờ tiến công, Tiểu đoàn 7 đánh chiếm được toàn bộ điểm cao 520 và các dãy núi xung quanh được phân công.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #28 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:50:07 pm »

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 21 tháng 3 năm 1975, được trên đồng ý, Đại đội 7 lực lượng dự bị của Tiểu đoàn bước vào chiến đấu. Tôi tập hợp đơn vị tại Sở Chỉ huy Tiểu đoàn Bộ binh 9 ở chân điểm cao 366 phổ biến nhanh nhiệm vụ và chỉ huy hành quân. Đường mòn, dốc cao, đường ống, cây dây nhiều, bộ đội mang vác nặng vướng khó đi. Dẫn đầu là Tiểu đội phó Uông Đình Quý, tiếp theo đến một chiến sĩ, sau đó là đồng chí Trần Đương (Thượng sĩ, Trung đội trưởng Trung đội 1), tôi đi thứ tư, liên lạc. Mốt đi thứ năm. Đến cách cửa mở của Đại đội 10 khoảng 100m, ngoái lại không thấy ai, tôi cho Quý quay lại tìm. Toàn bộ đội hình sau tôi bị pháo binh bắn chặn, thương vong quá nhiều, tôi báo cáo về Tiểu đoàn cho tạm dừng để giải quyết hậu quả, củng cố đội hình và kiểm tra quân số, trang bị, 24 đồng chí hy sinh và bị thương trên tổng số 61 đồng chí vào trận. 37 đồng chí còn lại đã lên hết và triển khai xung quanh đồi Yên Ngựa mà ta vừa chiếm được, lúc đó khoảng gần 9 giờ.


Đại đội 10 bị thương vong quá lớn, khi chúng tôi lên thay, chỉ có thương binh được đưa về sau, số hy sinh vẫn còn nguyên trên trận địa...

Qua hệ thống thông tin chỉ huy, Tiểu đoàn liên tục lệnh cho Đại đội 7 nhanh chóng củng cố đơn vị và tổ chức tiến công đánh chiếm điểm cao 560. Tôi báo cáo Tiểu đoàn là không thể tiến công được, vì hướng tiến công đã bị lộ, từ đồi Yên Ngựa vào điểm cao 560 quá xa, chỉ có con đường mòn, hai bên dày đặc mìn, không có hỏa lực khống chế. Xin được chọn hướng tiến công khác.


Tôi cho cấp phó chỉ huy bộ đội hành quân theo sau, còn Đại đội trưởng, Chính trị viên, ba trung đội trưởng và Tiểu đội trưởng Tiểu đội 10 vòng bên trái đi trước chuẩn bị.

Tất cả luồn, bò theo rừng cây rậm rạp, ra đến khu vực phát quang thì trời quang mây, rất gần cứ điểm 560, chỉ cách một bãi trống và một khe cạn, vách dựng đứng, toàn đá mồ côi và cả một bãi mìn dày đặc.


Đơn vị tạm dừng để hội ý và phân công:

Trung đội 3 và Trung đội 2 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu, do Đại đội trưởng và Chính trị viên chỉ huy.

Trung đội 1 đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu bên phải đội hình, do đồng chí Giản - Đại đội phó chỉ huy.

Dừng lại một lát tôi lấy tinh thần xung phong dò, gỡ mìn và mở cửa hướng chủ yếu. Vừa dứt lời thì Thượng sĩ Lương Xuân Toán - Trung đội phó Trung đội 2 xung phong, tôi đồng ý và giao cho Toán cùng hai chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ.


Trời sáng, địch gần, bộ phận dò gỡ mìn làm chậm, tôi lệnh cho bộ phận khác vào thay. Bộ phận dò mìn đi trước, bộ đội bám sát theo sau. Đến hàng rào, tôi cho Cự, Thinh, Phướng bò vào chống, gỡ rào, ba đồng chí chui lọt vào trong. Trung liên bố trí yểm hộ phía sau. Có dấu hiệu bị lộ, ngay lập tức, tôi quan sát và vẫy tay ra lệnh cho B40, B41, trung liên bắn vào lô cốt đầu cầu, áp đảo địch. Tất cả dùng lựu đạn đánh vào chiến hào, cửa mở, tôi ra lệnh xung phong... Toàn đơn vị bật dậy đạp rào, bắn găm, bắn gần, nhanh chóng đánh chiếm chiến hào ngoài cùng. Diễn biến trận đánh rất nhanh. Chúng tôi bắt được bốn tên tù binh, khai thác tại trận địa vị trí sở chỉ huy tiểu đoàn địch, chúng chỉ lên đỉnh cao trước mặt. Tôi triển khai yểm trợ, đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Đi đầu là Tiểu đội trưởng Cự và Hùng, Thinh, cánh phải là Trung đội 1 cũng kịp tiến đánh vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, bắt sống tên 3 tá tiểu đoàn trưởng, làm chủ khu vực sở chỉ huy.


Tôi ra lệnh Trung đội 1 giữ chắc mỏm 1, dùng hỏa lực chi viện cho Trung đội 2, do đồng chí Thinh phụ trách, theo đội hình cuốn chiếu đánh sang mỏm 2 và 3, đi sau là Trung đội 3 lần lượt đánh chiếm nốt các mỏm còn lại. Ở phía ngoài, Đại đội 10 và Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 cũng phối hợp đánh chiếm toan bộ điểm cao 560 lúc 15 giờ ngày 21 tháng 3.


Sau khi làm chủ điểm cao 560, Đại đội 7 bàn giao toàn bộ trận địa cho Tiểu đoàn 9 phòng ngự chốt giữ. Trên lệnh thu quân kiểm tra quân số, vũ khí, trang bị và rời khỏi trận địa ngay để tránh pháo binh trút đạn xuống hủy diệt.


Mùa Đông trời tối rất nhanh, chúng tôi lần theo lối mòn cũ để đi, khó khăn vất vả lắm mới xác định được đường, vì cây cối đổ, gãy ngang lấp lối. Về đến vị trí buổi sáng mà bom, pháo đánh trúng đội hình, trừ số bị thương được chuyển đi, còn lại là tử sĩ vẫn còn nguyên vị trí chưa kịp chuyển. Tôi cho đơn vị dừng lại, qua ánh trăng lần tìm hết các đồng đội hy sinh để chuyển về tuyến sau. Loay hoay tìm rộng ra xung quanh thấy hố cá nhân sâu khoảng hơn một mét có một chiến sĩ ngồi, khẩu AK dựa vai, mặt ngửa lên trời, tôi kịp nhận ra chiến sĩ Diện có hàm răng cạp vàng, nhập ngũ ngày 1 tháng 10 năm 1974, quê Tứ Kỳ - Hải Hưng, vừa được bổ sung về đơn vị, tiếp theo là Trung đội trưởng Ninh, quê ở Lâm Thao - Vĩnh Phú.


Cả một ngày chiến đấu liên tục, đói, khát, mệt nhưng với tinh thần cố gắng chúng tôi đưa sáu liệt sĩ của Đại đội về tuyến sau. Toàn đơn vị về đến hầm, khu tập kết ở chân đồi 366, lúc đó khoảng 2 giờ sáng ngày 22 tháng 3 năm 1975.


Tôi vừa chợp mắt thì có lệnh lên Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ. Trên phổ biến tình hình, tất cả các đơn vị đang thừa thắng xốc tới, hành quân thâu đêm, xuyên rừng, lội suối để chuẩn bị đánh địch ngày hôm sau. Đồng chí Triển - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 giao nhiệm vụ cho Đại đội 7 khẩn trương hành quân về tây bắc điểm cao 560 phục kích, sẵn sàng đánh quân địch phản kích từ điểm cao 494, đường số 1 - Gián Bó.


Về đơn vị tôi nhanh chóng đánh thức bộ đội dậy và tổ chức hành quân thực hiện nhiệm vụ. Đơn vị hành quân theo đường mòn. Pháo binh địch ở Mũi Né bắn chặn theo tọa độ khá chính xác. Đội hình đi thưa, vừa đi vừa chạy, đến địa điểm thì trời sáng, tôi đưa các bộ phận vào vị trí phục kích đánh địch ngay, ngụy trang kín đáo. Khoảng 10 giờ, chỉ huy Tiểu đoàn 9 gọi tôi lên điểm cao 560 nhận nhiệm vụ. Trời quang mây, máy bay các loại của địch gầm rú, ném bom bắn chặn, từng đoàn trực thăng bốn đến tám chiếc quần lượn bắn rốc két xuống đường số 1 dọc theo làng Bạch Thạch đến Gián Bó...


Theo lệnh trên, Đại đội 7 nhanh chóng hành quân về Tiểu đoàn đang chiến đấu chia cắt đường số 1 khu vực làng Bạch Thạch...

Thu quân và hành quân ngay theo các điểm cao 560, 494 xuống Gián Bó. Trên đường đi, Đại đội liên tục bị pháo binh, máy bay địch ném bom, bắn chặn... Đại đội 7 được Trung đoàn tăng cường 1 khẩu ĐKZ 75mm, qua điểm cao 494 xuống Gián Bó, từ trên cao nhìn xuống đường số 1 ngay dưới chân, thấy bảy chiếc xe tăng cùng bộ binh địch đang chậm chạp tiến đến khu vực Gián Bó, tôi ra lệnh triển khai đội hình chiến đấu, giá ĐKZ 75mm sẵn sàng bắn thẳng. Địch dừng ít phút, sau đó tất cả quay đầu chạy về Huế.


Đại đội 7 được Tiểu đoàn 8 giao nhiệm vụ phòng ngự từ cầu Bạch Thạch theo làng vào chân điểm cao 200, rộng khoảng 700m, sâu hết làng về sau. Tôi triển khai các trung đội vào các vị trí thì trời cũng gần sáng ngày 23 tháng 3 năm 1975.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #29 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2026, 09:51:27 pm »

Dựa lưng vào thành công sự chợp mắt được ít phút thì trời sáng hẳn, nhìn qua cánh đồng lúa khoảng 300m, dải đồi trước mặt toàn lính địch.

12 giờ ngày 23 tháng 3, trên giao cho Tiểu đoàn 8 nổ súng tiến công đồi Bảo An, cây đa Đá Bạc, toàn bộ dãy đồi phía nam, tiến công phát triển đánh chiếm Mũi Né. Tiểu đoàn 7 phát triển theo đường số 1 ra Huế.


Đúng thời gian hiệp đồng, Đại đội 7 vượt qua cánh đồng trống trải, đánh chiếm dãy đồi phía nam. Đại đội chia làm 2 mũi, mũi chủ yếu là Trung đội 3 do tôi chỉ huy vượt qua cánh đồng đánh vào dãy đồi trước mặt, mũi bên phải là Trung đội 1, đồng chí Dương chỉ huy, Trung đội 2 dự bị trên bờ cùng hỏa lực bắn kiềm chế. Đại đội 5 vượt qua cầu đánh đồn Bảo An, cây đa Đá Bạc. Đại đội 6 dự bị.


Tất cả chúng tôi bí mật vượt qua cánh đồng lúa đang thì con gái, bùn ngập ngang ống chân, đi khom ra giữa cánh đồng vẫn giữ được bí mật. Tôi cho anh em vận động nhanh, bám bờ và xung phong đánh chiếm mục tiêu. Quân địch bỏ chạy, cối 60mm của ta bắn theo.


Hai mũi tiến công song song theo đường sắt, tiến đánh điểm cao Mũi Né, Đại đội 5 theo mép nước và đường số 1 từ trận địa pháo phía tây bắc đánh lên, Đại đội 7 từ đường số 1 tiến công sang. Địch bỏ chạy, ta tiêu diệt một số, bắt sống một tù binh, làm chủ chiến trường. Sau đó, địch tập trung pháo binh ở đèo Phước Tượng bắn vào điểm cao Mũi Né. Đại đội 7 chia làm hai mũi, một mũi theo đường sắt, một mũi theo đường số 1 đang tiến công dọc đường giải phóng các mục tiêu tiếp theo thì nhận được lệnh tạm dừng, giữ các mục tiêu đã chiếm.


19 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1975, toàn bộ Tiểu đoàn 8 và một bộ phận chỉ huy cơ quan Trung đoàn 18 theo đường số 1 tiến công các mục còn lại và giải phóng quận lỵ Phú Lộc. Đại đội 7 đi đầu, chia làm hai mũi theo sườn đường số 1, đi sau là các đơn vị của Tiểu đoàn, sau cùng là Sở Chỉ huy Trung đoàn 18. Tât cả đi nhanh, im lìm trong đêm tối, súng đạn sẵn sàng, vừa đi vừa hỏi đường.


Quận lỵ Phú Lộc nằm bên trái đường, cách cầu khoảng 200m, do trời tối không nhìn rõ nên đơn vị vượt qua cổng mới phát hiện ra, phải lùi lại triển khai chiến đấu. Địch khóa cổng, chúng tôi phá cổng vào. Chi khu Phú Lộc có năm lớp rào xung quanh, lô cốt, ụ súng kiên cố, tôi cho triển khai hai mũi tiến công, địch thấy ta áp sát không dám chống cự, lui vào hầm, hào theo cửa sau tháo chạy, ta vây ép bắt được một số tù binh, thu toàn bộ vũ khí trang bị, làm chủ chi khu quận lỵ Phú Lộc.


21 giờ, ta thu hai khẩu 81mm còn bố trí ở nguyên trận địa và hai khẩu 12,7mm. Ta sử dụng để bắn cầm canh trong đêm về phía nam.

Sau khi làm chủ quận lỵ Phú Lộc, Đại đội 7 có nhiệm vụ chốt giữ chi khu, tôi đưa Trung đội 1 ra chốt giữ đầu cầu, gài mìn đề phòng địch ở Đà Nẵng tiến công ra. Đại đội 5, Đại đội 6 chốt giữ phía sau.


Sáng sớm hôm sau, cấp trên điều Đại đội 7 đi làm nhiệm vụ mới. Đại đội được tăng cường một ĐKZ 82mm, một khẩu 12,7mm, 37 tay súng lên một xe Reo, có đồng chí Chính - Tiểu đoàn phó đi cùng. Quá nửa đường chúng tôi xuống xe đi bộ vào Sở Chỉ huy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên nằm trong núi để hiệp đồng tác chiến. Các anh cho người đơn vị ra cửa Tư Hiền, ở đó có một đại đội địa phương đang chiến đấu từ ngày 23 tháng 3, quân số thương vong lớn, đạn không đủ đánh, đang chờ chi viện.


Đơn vị chúng tôi đến vừa đúng lúc, thay vào và chiến đấu luôn. Trên đồi cao, bố trí quân, hỏa lực khóa chặt cửa Tư Hiền. Địch đông, tháo chạy từ Huế theo ven biển, phá Tam Giang mở đường máu chạy về Đà Nẵng. Các loại súng, hỏa lực ĐKZ cối 60mm, 12,7mm bắn chặn, khóa chặt, địch chết nhiều nhưng khi ta dừng bắn chúng lại liều mạng vượt qua. Bắn nhiều đạn nên cũng hết, qua máy 2W tôi báo cáo về, cấp trên ra lệnh phải bịt bằng được cửa Tư Hiền không để cho địch rút về Đà Nẵng. Chính ủy Sư đoàn Lê Văn Dương điện vượt cấp xuống thằng Đại đội giao nhiệm vụ: "Đại đội 7 phải kiên quyết chặn, cắt không cho địch vượt qua cửa Tư Hiền... Chúng lui về Đà Nẵng là khó cho ta về sau".


Chấp hành lệnh của Chính ủy, tôi ra lệnh hỏa lực bắn chặn, cắt và chi viện, tổ chức hai mũi đánh thẳng từ trên núi xuống mép biển, căt đôi đội hình địch, tù binh bắt được tới vài trăm tên. Tôi điện báo về xin chỉ thị, trên trả lời chỉ bắt tù binh là sĩ quan còn binh lính tha bổng.


Chiều về tối, Đại đội 7 chốt giữ cửa Tư Hiền và áp giải hơn 100 tù binh toàn là cấp úy, cấp tá gom vào một khu vực và tổ chức canh gác... Khoảng 20 giờ thì chúng tôi được Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 101 do Trung đoàn phó Đắc chỉ huy ra tăng cường phối hợp. Cả đêm 24 tháng 3, với quân số hơn 40 đồng chí, chúng tôi phải chốt chặt cửa Tư Hiền không cho địch từ Huế chạy vào Đà Nẵng và canh giữ tù binh, không ai được ngủ, mệt, đói, khát. Rất may lúc đó có trung đội địa phương phối hợp, tặng cho anh em tôi mấy bánh lương khô, gạo sấy. Nước suối toàn mùi phân trâu nhưng chúng tôi vẫn phải uống, cả Đại đội bị "Tào Tháo đuổi" mất vài ngày.


Sáng hôm sau, máy bay, pháo hạm địch tập trung đánh phá, hủy diệt cửa Tư Hiền. 12 giờ ngày 25 tháng 3, trên thông báo thành phố Huế được giải phóng.

Chiều 25 tháng 3, Đại đội 7 được lệnh bàn giao toàn bộ khu vực cửa Tư Hiền cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên chốt giữ và hơn 100 tên tù binh sĩ quan cho địa phương, hành quân về đội hình Tiểu đoàn làm lực lượng dự bị phía sau.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM