Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:34:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đời và những trang nhật ký  (Đọc 6575 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #50 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2026, 09:18:19 pm »

B. Chiến dịch Đà Nẵng

Mờ sáng 29 tháng 3, Đại tá Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn triệu tập cán bộ Tiểu đoàn 8 cùng các cán bộ đại đội lên nghe phổ biến tình hình, nhận nhiệm vụ. Phó Tư lệnh nói: Thời cơ đã đến, chúng ta phải tập trung tiến công đánh chiếm đèo Lăng Cô, đèo Hải Vân nhanh nhất để đưa lực lượng vào giải phóng thành phố Đà Nẵng...


Tiểu đoàn nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đại đội 6 ngồi trên bảy chiếc xe tăng đi đầu, Đại đội 7 chúng tôi cùng Đại đội 5, hỏa lực Sở Chỉ huy Trung đoàn 18 ngồi trên mấy xe ô tô kế sau.

Hỏa lực chế áp 30 phút đầu cầu đèo Lăng Cô chuyển làn lên đèo Hải Vân, lợi dụng thời cơ, cả Tiểu đoàn nhanh chóng vượt qua cầu, bám trụ và phát triển. Quân địch thấy bộ binh, xe tăng ta thì chống cự quyết liệt, nhưng sau đó tháo chạy. Ta vừa hành tiến vừa chiến đấu, giải quyết các mục tiêu còn lại và đánh chiếm đèo Hải Vân lúc 10 giờ ngày 29 tháng 3, rồi triển khai giữ. Xe tăng chúc nòng pháo về hướng quân càng và chân đèo sẵn sàng nhả đạn.


Thiếu úy Cao Minh Lục - Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát 20 Trung đoàn 18 đi đầu đội hình, bắt được liên lạc với lực lượng vũ trang địa phương Đà Nẵng, biết tin lực lượng vũ trang và nhân dân Đà Nẵng đã chuẩn bị sẵn sàng đón quân giải phóng tiến vào, trong lúc đó quân địch rất hoang mang lo sợ... Cầu Trịnh Minh Thế cây cầu độc nhất trên đưcmg số 1 để tiến quân vào thành phố đã bị địch gài mìn.


Nắm được tình hình, Phó Tư lệnh Hoàng Đan ra lệnh tiến công Đà Nẵng. Trên đỉnh đèo xuống đến kho xăng Liên Chiểu, Đại đội 7 cử một tiểu đội chốt giữ cây xăng ngay bên đường và bàn giao cho lực lượng địa phương sau khi Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng.

Đầu đội hình đơn vị cách cầu Trịnh Minh Thế khoảng 200m thì dừng lại, công binh xuống khắc phục mìn, khoảng một giờ thì xong. Vượt qua cầu Trịnh Minh Thế, đoàn xe nhanh chóng tiến vào thành phố. Nhân dân Đà Nẵng cờ hoa rợp trời, người đông chật ních hai bên đường vẫy chào chúng tôi. Trong Chiến dịch Đà Nẵng, từ phía nam co Sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng các lực lượng Quân khu 5 phối hợp, Sư đoàn 304 ở Thượng Đức đánh xuống... Các hướng phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã hơn 10 vạn quân đỊch chốt giữ ở đây.


Chúng tôi bàn giao trung tâm thành phố cho đơn vị bạn để tấn công ra bán đảo Sơn Trà và quân cảng Đà Nẵng. Một cảnh tượng hỗn loạn chưa từng có: Bắn giết, cướp bóc, trèo leo lên tàu chạy trốn, một số thì buông vũ khí xin hàng.

Chúng tôi dừng và chốt giữ tại cảng. Đại đội 7 được giao chốt giữ toàn bộ khu ra đa viễn thông trên bán đảo Sơn Trà. Lên đến nơi trời đã khuya, màn đêm yên tĩnh quá như chưa hề có trận đánh quyết liệt mới diễn ra hồi chiều. Mờ sáng dậy nhìn từ trong rừng ra bãi biển thấy rất đông lính ngụy và người nhà của họ ẩn núp trong đó chờ ra cảng vượt biển.


Ở trên cao phóng tầm mắt nhìn ra biển và xung quanh, không gian bao la, biển trong xanh, sóng vỗ rì rào, nhìn về thành phố thấy xe cộ tâp nập, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng rợp trời, không còn tiếng súng nổ. Đến trưa, chúng tôi bàn giao khu ra đa viễn thông và trở về thành phố chốt giữ, bảo vệ khu vực tổng kho Đà Nẵng. Khi rút chạy, quân địch không kịp phá hủy, phân tán kho nên còn nguyên vẹn hàng nghìn xe ô tô các loại, hàng trăm khẩu pháo 155mm, 105mm.


Thành phố Đà Nẵng được giải phóng có hơn 10 vạn binh lính vừa đầu hàng hoặc tan rã. Chính quyền mới được thành lập ngay sau đó, để ổn định tình hình, Ủy ban Quân quản được thành lập, thiết lập an ninh trật tự ngay từ ngày đầu. Sĩ quan, binh lính và nhân viên chính quyền cũ phải ra trình diện chính quyền cách mạng... Nhân dân phân khởi mừng thành phố được giải phóng, nô nức đến thăm hỏi các đơn yị Quân giải phóng. Đơn vị chúng tôi ngày nào cũng đón tiếp các đoàn thể và nhân dân đến thăm, tặng quà, ngày nấu cơm ba bữa gánh đến đơn vị mời ăn. Quần áo các má, các chị em thiết tha xin được đưa về nhà giặt giũ, khâu vá... Chúng tôi rất ngại ngùng vì lòng tốt của các má và chị em. Thực tình toàn đơn vị chúng tôi mỗi anh em chỉ có một bộ mặc trên người từ ngày đầu đi chiến dịch (21 tháng 3), ba lô chúng tôi để lại nên không có quần áo để thay, giặt, rất bẩn và hôi, nhiều đồng chí áo, quần rách bươm. Vài ngày sau đó cấp trên cấp bổ sung cho mỗi người một bộ, còn lại ba lô, tư trang cấp cá nhân vẫn nằm ở chân đồi 366, chân điểm cao 560 tây bắc Phú Lộc - Thừa Thiên.


Qua gần 10 ngày tham gia hai chiến dịch Trị Thiên - Huế, chúng tôi liên tục đánh nhiều trận, chủ yếu trong hành tiến, chặn, cắt rất ác liệt, gian khổ nhưng chiến thắng vẻ vang. Trận trước đánh thắng tạo thế tạo đà cho trận sau, cứ như thế đơn vị liên tiếp giành thắng lợi, khí thế thi đua lập công sôi nổi. Sau khi dừng lại củng cố, bình bầu thành tích nhiều đồng chí trong Đại đội được thưởng Huân chương Chiến công các loại và bằng, giấy khen; cá nhân tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, anh Đậu Văn Bạch - Chính trị viên được thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì.


Ngày 4 tháng 4 năm 1975, đơn vị được lệnh rút quân về đóng tại cứ Quang Trung và được bổ sung 50 tân binh thuộc Sư đoàn 338 vừa hành quân từ Phú Thọ vào. Tân binh hầu hết nhập ngũ tháng 7 năm 1974, quê Hà Nội, được biên chế về ngay các tiểu đội, trung đội để sẵn sàng bước vào trận chiến đấu mới.


Quân đoàn 2 được Bộ đồng ý tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn cùng với lực lượng vũ trang Quân khu 5 "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" dọc theo các tỉnh miền Trung vào đến cửa ngõ Sài Gòn, địch gọi là cánh quân duyên hải. Chuẩn bị xuất quân thì các cánh quân nhận được điện của Đại tướng Vố Nguyên Giáp với nội dung: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới chiến trường giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng". Nắm vững tư tưởng chỉ đạo và mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, toàn đơn vị khí thế hừng hực chuẩn bị lên đường ra mặt trận. Tất cả các xe đều dán khẩu hiệu "Thần tốc - táo bạo - chắc thắng" trên cửa xe và cắm cờ Giải phóng.


Để phù hợp với nhiệm vụ, Sư đoàn, Quân đoàn tổ chức tiến công thành từng khối cấp trung đoàn có tăng cường pháo binh, phòng không, xe tăng và các binh chủng bảo đảm khác để vừa hành quân vừa tác chiến.

Ngày 10 tháng 4 năm 1975, khối đi đầu Trung đoàn 101 có đại đội xe tăng, thiết giáp phối thuộc, từ Đà Nẵng theo đường số 1 thẳng theo hướng nam mà tiến. Tiếp sau là Trung đoàn 18, đến Sư đoàn 304, Sư đoàn 324 đi sau cùng. Các đơn vị binh chủng tăng cường cho các đơn vị bộ binh, thành khối binh chủng hợp thành, còn lại do Quân đoàn, các sư đoàn nắm. Toàn bộ đội hình hành quân bằng cơ giới, xe nào cũng cắm cờ Giải phóng, nối đuôi nhau, dài dằng dặc, đi giữa ban ngày. Nhân dân hai bên đường vẫy cờ, hoa chúc mừng đoàn quân giải phóng. Chúng tôi liên tục nhận được, hoa, kẹo, bánh, thuốc lá của nhân dân trao tặng cùng những lời chúc đi mạnh khỏe, chiến thắng!


Qua đất Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định mới được giải phóng, chúng tôi dừng hai bên đường mắc võng tạm nghỉ. Nhân dân đến hỏi thăm, động viên thật tình cảm. Những ngày hành quân từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, nhiều bữa chúng tôi không phải nấu cơm mà là do nhân dân tiếp tế, thật đúng là cuộc chiến tranh nhân dân, bộ đội của dân, quân đội nhân dân nên đi đến đâu cũng được nhân dân tận tình giúp đờ.


Trên đường hành quân, nhiều đoạn chúng tôi phải dừng vì địch dùng không quân đánh phá ngăn chặn, đường hỏng, cầu hỏng phải khắc phục. Đoàn xe kéo dài, nối đuôi nhau hàng chục kilômét, cử phải nhích dần từng đoạn, có ngày chỉ đi được trên dưới 20km. Bộ đội liên tục phải ăn, ngủ, nghỉ ngồi trên xe... rất căng thẳng, mệt mỏi. Không chỉ có không quân đánh phá, chặn đường, địch còn sử dụng pháo hạm ngoài biển bắn vào đội hình ở các khu vực trọng điểm, gây cho ta không ít thương vong, tổn thất.


Vào đến Khánh Hòa, thành phố Nha Trang vừa mới được giải phóng, mùi bom, đạn, nhà cửa cháy khét lẹt, ngổn ngang bãi chiến trường. Lệnh trên tạm dừng, đơn vị triển khai hai bên đường, các khe núi, rừng cây đề phòng bom, pháo.

Thị xã Phan Rang (Ninh Thuận), thị xã Xuân Lộc (Long Khánh) địch coi là hai lá chắn thép, quyết tử thủ để bảo vệ Sài Gòn từ xa. Quân khu 5 trước đó sử dụng Sư đoàn 3 đánh thị xã Phan Rang nhưng không thành.

Ngày 14 tháng 4, đầu đội hình hành quân của Quân đoàn chỉ còn cách thị xã Phan Rang khoảng trên dưới 10km thì dừng lại chuẩn bị đánh Phan Rang. Trung đoàn 101 được tăng cường Tiểu đoàn 4 xe tăng - thiết giáp của Lữ đoàn Xe tăng 203, được pháo binh chi viện, đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu. Trung đoàn 18 làm lực lượng dự bị. Tất cả làm công tác chuẩn bị rất khẩn trương trong ngày 15 để sáng 16 triển khai đội hình chiến đấu.


5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 4, pháo binh bắn chế áp 30 phút, Phan Rạng rung chuyển bởi tiếng nổ, tiếng rít của pháo, súng cối, xe tăng. Bộ binh đồng loạt xung phong. Địch chống cự quyết liệt. Ta bị thương vong, tổn thất nhưng vẫn giành thắng lợi. Trung đoàn 101 cùng với Sư đoàn 3 giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang, diệt, bắt sống và làm tan rã hoàn toàn quân địch. Lá chắn thép Phan Rang bị san bằng, uy hiếp trực tiếp Sài Gòn.

Thị xã Xuân Lộc sau nhiều lần tiến công không dứt điểm, ta thương vong lớn, Quân đoàn 4 phải rút ra củng cố. Ngày 22 tháng 4, ta cũng san phẳng lá chắn Xuân Lộc, mở đường cho cánh quân duyên hải hành quân vào tập kết ở khu rừng cao su Ông Quế thuộc tỉnh Đồng Nai (phía đông, đông nam Sài Gòn).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #51 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:08:49 pm »

C. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

30 năm chiến tranh giải phóng của quân và dân ta, đây là chiến dịch cuối cùng và cũng là chiến dịch lớn nhất. Tham gia chiến dịch gồm Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và Đoàn 232 tương đương quân đoàn. Năm cánh quân trên năm hướng tập trung đánh vào Sài Gòn.


Chiều và đêm 22 tháng 4 năm 1975, đi đầu đội hình Quân đoàn 2 gồm khối Trung đoàn 101, Trung đoàn 18, Sư đoàn bộ, Trung đoàn Pháo binh 84, sau đó là lần lượt Sư đoàn 304, khối trực thuộc Sư đoàn 3 Quân khu 5 tăng cường cho Quân đoàn. Sư đoàn 324 hành quân sau cùng, là lực lượng dự bị (phòng thủ khu vực Phan Rang - Ninh Thuận).


Các đơn vị lần lượt hành quân trên đường số 1, vượt qua thị xã Xuân Lộc còn ngổn ngang xe, pháo cháy, xác lính địch chết, quân trang, quân dụng vứt đầy đường... chưa kịp thu dọn.

Đêm 24 tháng 4 năm 1975 và những ngày tiếp theo, các đơn vị toàn Quân đoàn lần lượt hành quân vào tập kết tại khu rừng cao su Ông Quế, khẩn trương làm công tác chuẩn bị chiến đấu.

Hướng đông nam Quân đoàn 2 bố trí cụ thể như sau:

Sư đoàn 304 tiến công trên hướng chủ yếu vào khu vực Nước Trong (Trường Bộ binh) do Trung đoàn Bộ binh 9 đảm nhiệm hướng thứ yếu tiến công đánh chiếm Trường Thiết giáp, Trường Biệt kích do Trung đoàn 24 đảm nhiệm. Trung đoàn Bộ binh 66 có xe tăng, thiết giáp, pháo 85mm, cao xạ 37mm phối thuộc là lực lượng cơ động thọc sâu khi có thời cơ vào mục tiêu chính dinh Độc Lập.


Sư đoàn 325 được tăng cường Trung đoàn 46 Quân khu 3 tiến công trên hướng quận lỵ Long Thành - Cát Lái. Trung đoàn Bộ binh 101 được tăng cường một đại đội xe tăng, có pháo binh cấp trên chi viện, có nhiệm vụ hành tiến, triển khai tiến công quận lỵ Long Thành (Đồng Nai). Trung đoàn 46 (trên tăng cường) tiến công Lai Phước, phà Cát Lái. Tiểu đoàn Bộ binh 8 Trung đoàn 18 được chi viện hỏa lực tiến công Nhà máy cao su Bình Sơn, bảo đảm bên cánh trái cho Trung đoàn Bộ binh 101. Sư đoàn Bộ binh 3 Quân khu 5 tăng cường cho Quân đoàn 2, được tăng cường một đại đội xe tăng, có hỏa lực pháo binh Quân đoàn chi viện, có nhiệm vụ tiến công cầu Cỏ May, sau đó đánh dọc đường số 15 đi Bà Rịa - Vũng Tàu, khóa chặt đường sông Lòng Tàu không cho địch rút ra biển.


Tiểu đoàn 8 chúng tôi tập kết tại khu rừng cao su, sáng ra được bộ đội địa phương đến chỉ dẫn các khu vực trú quân và dẫn đi hái rau rừng, lấy mít xanh về gọt nấu ăn. Vì nửa tháng hành quân trên đường chủ yếu ăn đồ hộp, thấy có rau chúng tôi rất mừng, nhưng mít xanh chúng tôi không biết nấu, phải nhờ chị em du kích miền Đông hướng dẫn.


Chuẩn bị ăn cơm trưa thì có lệnh triệu tập gấp lên Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ. Tôi cùng Chính trị viên Đậu Văn Bạch đeo súng, xà cột vội lên đường. Chỉ huy Tiểu đoàn ở cách chúng tôi khoảng 2km, cũng trong rừng cao su. Khi hai chúng tôi tới nơi thì mọi người đã có mặt đầy đủ. Cuộc họp có cả Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Lẫm, Chính ủy Nguyễn An Gang và Tham mưu trưởng Trung đoàn cùng bốn cơ quan dự.


Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho Đại đội 7 được tăng cường hỏa lực, tiến công đánh chiếm Nhà máy cao su Bình Sơn, bảo vệ sườn trái cho Trung đoàn Bộ binh 101 tiến công quận lỵ Long Thành. Lực lượng địch tại Long Thành gồm: Liên đoàn 933 biệt động quân, một bộ phận Lữ đoàn 468 thủy quân lục chiến, Tiểu đoàn Pháo binh 105mm và lực lượng bảo an dân vệ và lực lượng địch ở Xuân Lộc kéo về, ước tính 1.500 tên.


Sau khi đi trinh sát, nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường, tôi trực tiếp báo cáo Tiểu đoàn, Trung đoàn rằng nếu chỉ sử dụng Đại đội 7 thì nhiệm vụ đơn vị quá nặng, không chắc thắng. Đề nghị của tôi phù hợp nên được cấp trên chấp nhận sử dụng Đại đội 5, Đại đội 6 dự bị.


Chiều ngày 25 tháng 4 năm 1975, xe ô tô ngụy trang kín đáo chở cán bộ chúng tôi theo đường số 2 từ Dầu Giây về Bình Sơn, Long Thành đi trinh sát chuẩn bị chiến trường. Trên trời, máy bay các loại gầm rít, quần lượn, bổ nhào ném bom, bắn phá các khu vực xung quanh... Từ ngã ba Xuân Lộc theo hướng đường số 2 đi Vũng Tàu, cánh rừng cao su Ông Quế kéo dài và rộng vào trong, đâu đâu cũng có các đơn vị đóng quân, các trang bị chiến đấu ngụy trang kín đáo sẵn sàng chờ lệnh.


Xe dừng, theo chỉ dẫn của hai đồng chí địa phương, chúng tôi cắt hướng về căn cứ địch. Từ trong cánh rừng cao su, chúng tôi chọn đến một vị trí cao, kín, dễ quan sát căn cứ Bình Sơn. Nhà máy rộng, xung quanh trống trải, phía xa bên trái có một dáng đất trống, cao (sau này ta gọi là điểm cao 15). Tôi xác định mục tiêu tiến công chủ yếu, thứ yếu, xác định hướng tiến công, đường cơ động, vị trí triển khai cho các trung đội và vị trí đặt hỏa lực chi viện. Cụ thể, Trung dội 3, Trung đội 2 tiến công hướng chủ yếu vào nhà máy; Trung đội 1 tiến công bên phải chia cắt đường vào nhà máy không cho địch ứng cứu hoặc rút chạy. Bên trái Đại đội tôi là Đại đội 5, hướng thứ yếu của Tiểu đoàn, tiến công vào điểm cao 15, khóa chặt cánh trái vào nhà máy.


Trời tối dần, tôi cho tiến sát vị trí địch, gặp một con suối, chúng tôi tụt xuống định vượt sang bên kia, nhưng suối quá sâu, phải kéo tay nhau lên bờ, người nào cũng ướt sũng. Chúng tôi chỉ vắt tạm nước rồi tiếp tục trinh sát địa hình xung quanh.

Trên đường trở về đơn vị, trời khuya, chúng tôi vừa đói vừa khát nhưng không có gì để ăn, chợt ngẩng lên thấy nhiều cây có trái, đẩy đít nhau trèo lên, rút dao găm chặt một quả xuống, tưởng là mít xanh, nhưng không sao bổ được. Một người tay cầm cán dao, một người đứng giậm mũi dao mới bổ được làm đôi nhưng không ăn được, gai nhọn xuyên cả vào tay chảy máu, mọi người đều hỏi nhau mít gì mà lạ vậy? Sau này mới biết đó là quả sầu riêng.


Tôi để lại một tổ bốn đồng chí cùng hai đồng chí địa phương dẫn đường ở lại bám nắm địch và sau sẽ dẫn đơn vị vào chiến đấu, còn lại đều trở về đơn vị làm công tác chuẩn bị.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #52 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:22:05 pm »

Chiều 26 tháng 4 năm 1975, tất cả các đơn vị Quân đoàn 2 trên các hướng đều chiếm lĩnh trận địa xong và báo cáo về Sở Chỉ huy Quân đoàn sẵn sàng nổ súng theo kế hoạch.

17 giờ, tất cả pháo binh Quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn bắn vào các mục tiêu theo kế hoạch 40 phút. Pháo gầm rít làm rung chuyển cả một vùng khiến nhiều trận địa hỏa điểm quân địch tê liệt.

Hướng chủ yếu của Sư đoàn 304 đánh chiếm được một phần căn cứ Nước Trong, phát triển vào sâu bị địch ra phấn kích ngăn chặn không tiến lên được, trời tối phải dừng lại củng cố. Ngày 27, Trung đoàn 9 nhiều lần xốc lại đội hình tổ chức tiến công căn cứ Nước Trong, bị thương vong, tổn thất khá nặng. Sang ngày 28, ta và địch cài răng lược. Đơn vị hết lương thực, nước uống, phải dùng xe phía sau đưa lên tiếp tế. Đến ngày 29 ta mới làm chủ được căn cứ Nước Trong, tiến ra chiếm cầu Sông Buông, phát triển ra ngã ba xa lộ. Địch cố thủ, ta phải dùng xe tăng áp đảo mới chiếm được ngã ba xa lộ, phát triển chiếm đầu cầu và cùng Lữ đoàn Đặc công 116 giữ cầu cho đến sáng 30 quân ta đánh chiếm toàn bộ cầu, tạo điều kiện cho Trung đoàn Bộ binh 66 (mũi thọc sâu của Quân đoàn) theo đường số 1 vào giải phóng các mục tiêu còn lại, thọc sâu đánh chiếm dinh Độc Lập.


Hướng Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tiến đánh căn cứ biệt kích, Trường Thiết giáp, sau đó phối hợp Trung đoàn Bộ binh 9 giải phóng căn cứ Nước Trong, phát triển ra ngã ba đường số 15.

Hướng Sư đoàn Bộ binh 3, được hỏa lực chi viện, xe tăng bên cầu chế áp, bộ binh vượt cầu Cỏ May đánh chiếm mục tiêu, nhưng bị địch dùng hỏa lực bên kia đầu cầu phản kích, ta bị thương vong lớn, phải tổ chức tiến công lại nhiều lần mới đánh chiếm được mục tiêu, phát triển đánh chiếm dọc đường số 15 đi Vũng Tàu. Ngày 28 - 29 tháng 4, Sư đoàn cùng lực lượng địa phương tại chỗ giải phóng thành phố Vũng Tàu, một lực lượng vòng phải khóa chặt sông Lòng Tàu không cho địch rút theo sông ra biển. Ngày 30 tháng 4, quân ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.


Hướng Sư đoàn Bộ binh 325, sau khi hỏa lực các cấp tập trung bắn vào các mục tiêu theo kế hoạch, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 tập trung hỏa lực của Tiểu đoàn, các đại đội bắn vào Nhà máy cao su Bình Sơn làm tê liệt quân địch ngay từ phút đầu. ĐKZ, súng máy 12,7mm, đại liên chế áp phía trước, hai bên sườn cửa mở số 1, số 2, tôi cho đội hình cơ động dần, tiến sát cửa mở. Lệnh xung phong, bộ đội bật dậy như lò xo vượt qua bãi trống tiến sát nhà máy. Địch phục hồi, dùng hỏa lực bắn trả quyết liệt, quyết ngăn chặn các mũi tiến công của ta.


Đang trên đường tiến, bỗng tất cả dừng lại. Trước mặt là một chiến hào rộng khoảng 3m, sâu hơn 2m, bộ binh không thể vượt qua. Tôi quan sát và ra lệnh nằm xuống, hai đồng chí một kéo tay nhau thả xuống hào, sau đó hai đồng chí đội đít, chân đẩy lên, cứ như thế lần lượt rất nhanh qua hết hào, theo đội hình cuốn chiếu nhanh chóng bám theo rãnh thoái nước đánh chiếm nhà máy từ ba phía. Chúng tôi làm chủ nhà máy lúc 18 giờ 30 phút.


Hướng thứ yếu, Trung đội 1 khi được lệnh nổ súng đã nhanh chóng thọc sâu vào bên trong, chia cắt đường vào nhà máy, không cho địch rút chạy, chốt chặt ngã ba. Một mũi đánh thẳng vào bên trái và nhà máy, phối hợp hướng chủ yếu làm chủ Nhà máy cao su Bình Sơn.


Sau trận đánh, các bộ phận tập trung tù binh dẫn giải bàn giao cho trên, đưa thương binh về tuyến sau. Đơn vị phát triển theo cánh phải đánh ra ngã ba đường số 25 để bảo vệ bên sườn trái cho Trung đoàn Bộ binh 101 tiến công vào thị trấn Long Thành.


Hướng tiến công Đại đội 5 (bên trái), khi tiến vào bên trong, bị địch lợi dụng địa hình, địa vật chống trả quyết liệt nên không tiến lên được. Đại đội cơ động lên bao vây ba phía nhưng ba mặt điểm cao 15 đều có nhiều lớp hàng rào, do không chuẩn bị sẵn bộc phá nên không thể vào được. Đại đội tạm dừng tiến công và tổ chức trinh sát nắm lại tình hình, xác định cửa mở. Lực lượng luồn rào vào trinh sát, đi đầu là Tiểu đội trưởng, tiếp theo là đồng chí Chuẩn úy, Trung đội trưởng, sau là chiến sĩ. Bò được hàng rào thứ nhất, sang hàng rào thứ hai thì bị lộ, địch nổ mìn clâymo khiến hai đồng chí đi đầu hy sinh, một đồng chí bị thương bò ra được ngoài hàng rào.


Đại đội 5 triển khai hai mũi tấn công bên ngoài cùng hỏa lực ĐKZ, 12,7mm, cối 82mm sẵn sàng chi viện, mở cửa tiến công điểm cao 15. Cán bộ Đại đội, Tiểu đoàn đang loay hoay tính kế thì phía xa, bên trái, theo trục đường qua sườn bắc cứ điểm có nhiều tiếng động cơ, đèn pha sáng quắc chiếu vào. Tiểu đoàn trưởng Trần Minh Thiệt cử ngay cán bộ ra chặn đường, bắt liên lạc, đó là xe ATS kéo pháo 130mm của Lữ đoàn 164.


Ý định của Tiểu đoàn trưởng là nhờ Lữ đoàn dùng xe chạy quanh áp đảo tinh thần quân địch trong cứ điểm, nhưng đơn vị pháo binh không đồng ý, chỉ cho bốn xe quay lại dùng đèn pha chiếu thẳng vào căn cứ địch. Địch hoang mang tường ta sử dụng xe tăng tấn công, tháo chạy ra các hướng. Bên ngoài, ta đã triển khai sẵn, cơ bản địch bị bắt sống, căn cứ Bình Sơn bị tiêu diệt. Ta khai thông đường để đưa xe pháo vào sâu bên trong.


Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 phát triển đánh chiếm ngã ba đường số 25 thì đội hình tiến công có xe tăng đi đầu, các xe cơ giới chở quân tiếp theo lần lượt qua ngã ba đường số 25 tiến công Long Thành. Trung đoàn 101 nhanh chóng triển khai và tiến công các mục tiêu bên trong thị trấn. Ban đầu địch chống trả nhưng rồi lần lượt bỏ chạy, có bộ phận leo lên tầng nhà, tháp nước, có bộ phận dạt ra xung quanh và rừng cao su. Đại đội xe tăng và bộ binh thừa thắng chọc thẳng ra đường số 15, rẽ phải, thẳng tiến khoảng 5 - 7km thì gặp xe tăng và bộ binh địch ở ngã ba Thái Lan (Trường Bộ binh) - Ta dừng lại triển khai, hai bên đấu pháo. Lệnh trên, Đại đội xe tăng quay lại Long Thành. Trời tối, do chủ quan, tưởng Long Thành hết địch, quân ta bị bọn núp ở trên nhà tầng, tháp nước dùng hỏa lực bắn cháy một xe tăng, một xe thiết giáp, toàn bộ hai kíp xe và bộ binh ngồi trên xe đều hy sinh.


Trong đêm, thỉnh thoảng lại rộ lên nhiều tiếng súng nổ, địch trên tầng nhà, tháp nước bắn xuống, quân ta ở dưới bắn lên. Khu vực xung quanh và rừng cao su địch còn rất đông, điên cuồng chống trả hòng chiếm lại một số điểm. Ta và địch nổ súng giằng co cho đến sáng 27 tháng 4 năm 1975.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #53 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:23:08 pm »

Khi Trung đoàn 101 vượt qua ngã ba đường số 25, trên lệnh Đại đội 7 hành quân bảo vệ đội hình phía sau Trung đoàn 101. Tôi cho lực lượng chốt cầu Bình Sơn, Trung đội 3 và chỉ huy Đại đội bố trí trên đỉnh cao nhìn xuống, Trung đội 2 chặn phía sau, hình thành trận địa đánh địch được trên các hướng.


Trên hướng thứ yếu của Sư đoàn, Trung đoàn 46 tiến công đánh chiếm cầu Đông Hữu, Quán Tre, vận động đánh chiếm ngã ba Phước Thành thuận lợi, cô lập địch ở quân lỵ, tạo điều kiện cho Trung đoàn 101 tiêu diệt địch. Sau khi đánh chiếm được thị xã Long Thành, Trung đoàn 101 phối hợp với Trung đoàn 46 tiến công tàn quân địch ở ấp Thái Lạc. Kết hợp chặt chẽ hỏa lực và các mũi, hướng tiến công cả chính diện và bên sườn, đến 16 giờ 30 phút ta đã làm chủ mục tiêu, giải phóng hoàn toàn quận lỵ Long Thành.


Khoảng hơn 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4, lần lượt đội hình xe pháo hạng nặng của Quân đoàn hành quân tới, đầu đội hình đến đầu cầu Bình Sơn. Long Thành còn địch, trời sáng, đội hình Quân đoàn quá lớn, máy bay địch có thể oanh tạc, đánh phá cả đội hình xe, pháo kéo dài hàng cây số chờ tiến lên phía trước. Đang kiểm tra bộ đội, tôi phát hiện có bảy tên lính ngụy Sài Gòn, tôi ra lệnh dừng lại, chúng bỏ chạy, bộ phận chốt cầu bắn lên, trên đỉnh bắn xuống, chúng lọt ở giữa, nhanh chóng bị tóm gọn gồm: Một tên thiếu úy, một tên giữ máy PRC 25, một tên giữ trung liên, còn lại là bộ binh. Chúng khai thuộc lính Sư đoàn 18, thất thủ ở Xuân Lộc chạy về, ở trong rừng ra thấy toàn bộ xe pháo trên đường tưởng là đồng bọn nên nhập vào và cứ thế đi, khi bị bắt chúng mới biết là Quân giải phóng.


Sáng sớm 27 tháng 4 ta chưa dứt điểm được Long Thành, trên lệnh cho Trung đoàn Bộ binh 18 tăng cường Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 và Tiểu đoàn Bộ binh 9 cho Trung đoàn 101 tấn công Long Thành. Chúng tôi triển khai cách quận lỵ khoảng hơn 1km. Được lệnh tiến công, Đại đội 7 Tiểu đoàn Bộ binh 8 và Tiểu đoàn Bộ binh 9 theo rừng cao su chặn, cắt đường số 15 đoạn từ Long Thành đi ngã ba Nước Trong, sau đó đánh thẳng theo đường số 15 vào Long Thành phối hợp với Trung đoàn 101 tiến công từ các hướng. Địch ờ Long Thành chống cự quyết liệt. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nguyễn Ánh Dương hy sinh, Trung đoàn 101 xốc lại đội hình và tiến công dứt điểm từng mục tiêu, đến khoảng hơn 10 giờ, các mũi tiến công gặp nhau, thị trấn Long Thành được giải phóng (trừ ấp Thái Lạc chưa dứt điểm).


Trung đoàn 18 được lệnh vượt qua Long Thành vừa giải phóng, nằm dọc theo đường sô 15, làm lực lượng dự bị cho Quân đoàn.

Ngày 28 - 29 tháng 4, tất cả năm cánh quân đã tiến sâu vây chặt Sài Gòn. Đại sứ quán Mỹ lệnh cho người Mỹ di tản. Sai Gòn vốn đã náo loạn lại càng lộn xộn, náo loạn hơn, chen lấn, xô đẩy lên máy bay trực thăng để tháo chạy. Dọc theo sông Lòng Tàu từ Sài Gòn ra Vũng Tàu inh tai nhức óc tiếng động cơ máy bay trực thăng chở người di tản. Chủ trương của ta không bắn, mở đường cho chúng rút chạy. Xen vào đó là những máy bay quan chức từ Sài Gòn bay nhấp nháy đèn (theo quy ước) ra xin hạ cánh đầu hàng.


4 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, trận địa pháo 130mm của Quân đoàn 2 ở Nhơn Trạch trút bão lửa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, làm rung chuyển Sài Gòn.

Chiều và đêm 29 tháng 4, toàn bộ Trung đoàn 101, đại đội xe tăng, thiết giáp, pháo binh Trung đoàn 84, Tiểu đoàn cao xạ 37 Lữ đoàn 673 tăng cường đã chiếm lĩnh và triển khai tại bến phà Cát Lái. Sáng sớm 30 tháng 4, hỏa lực quân ta bắn chế áp bờ nam sông Sài Gòn, trên sông Lòng Tàu tiêu diệt các tàu chiến trên sông, chi viện cho bộ binh và thiết giáp vượt sông.


Địch dùng hỏa lực trên tàu, trên bờ bắn trả quyết liệt, ta dùng pháo 85mm, pháo xe tăng, pháo phòng không 37mm hạ nòng bắn quét, địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy. Lợi dụng thời cơ, ta dùng xe thiết giáp lội nước, phà, thuyền của dân chở bộ đội qua sông đánh chiếm Quận 9, phát triển sang Quận 4, phối hợp với các hướng tổng công kích giải phóng Sài Gòn vào 11 giờ 30 phút trưa 30 tháng 4 năm 1975.


Ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 18 theo lệnh Quân đoàn, điều Tiểu đoàn 9 tăng cường cho Sư đoàn Bộ binh 304 tiến công đánh chiếm ngã ba Nước Trong, theo đường sô 15 đánh chiếm cầu Sông Buông và truy quét tàn quân địch đang lẩn trốn xung quanh khu vực. Sáng 30 tháng 4 tiến công đánh chiếm Trường Sĩ quan Thủ Đức và các mục tiêu xung quanh.


Sáng 30 tháng 4, Trung đoàn 18, lực lượng dự bị cho chiến dịch, được lệnh lên xe theo đường số 15 ra ngã ba xa lộ hướng về Sài Gòn. Quá trưa, đang trên đường tiến quân thì được trên thông báo binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn đã đánh chiếm dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, Tổng thống ngụy Sài Gòn Dương Văn Minh đã lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng.


Tin chiến thắng được nhanh chóng thông báo đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Tất cả chúng tôi cảm xúc trào dâng, lâng lâng xúc động. Mong ước, khát vọng cháy bỏng bấy lâu nay đã thành hiện thực.

Hai bên đường rực rỡ cờ, hoa, nhân dân đổ ra chật kín vui mừng vẫy chào đoàn quân giải phóng đang rầm rập tiến vào Sài Gòn.

Chiều và đêm 30 tháng 4 năm 1975, các đơn vị của tất cả năm cánh quân đều được lệnh tiến vào Sài Gòn, bộ đội đóng chật kín các khu vực. Đơn vị đến trước được nghỉ, ngủ trong nhà dân, đơn vị đến sau đóng ở vỉa hè, trên cả lòng đường ít người qua lại.

Chiều hôm đó chúng tôi dừng xe trước cửa dinh Độc Lập vào trong quan sát. Những chiếc xe tăng chiến thắng vẫn còn đậu nguyên các vị trí với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Ngoài đường, trước cổng chính, chật kín người dân, bộ đội đứng nhìn nhưng rất có trật tự. Đêm hôm đó, đơn vị dừng chân nghỉ gần trước cổng dinh Độc Lập, trải tăng, võng xuống vỉa hè, góc phố để nghỉ, các tiểu đội, trung đội đều tổ chức canh gác, đề phòng tàn quân địch. Cả đơn vị hầu như không ngủ, nằm nói chuyện cả đêm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #54 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:24:38 pm »

Ngày 1 tháng 5, các đơn vị được lệnh giãn ra, đóng quân xung quanh thành phố. Đơn vị tôi đóng ở Quận 4, Nhà Bè, kho bạc. Hầu như không ngàỵ nào chúng tôi không di chuyển quân trong thành phố, vừa để canh phòng sẵn sàng truy quét tàn quân, vừa để thị uy và tìm nơi đóng quân phù hợp.

Tối 7 tháng 5 năm 1975, theo lệnh của trên, tất cả các đơn vị chủ lực bàn giao cho lực lượng địa phương, quân quản, hành quân ra khỏi thành phố Sài Gòn.

Toàn bộ Quân đoàn 2 hành quân ra xa lộ, đường số 15 về các vị trí đóng quân.

Sư đoàn 304 đóng ở tổng kho Long Bình.

Sư đoàn 3 Sao Vàng về đội hình Quân khu 5.

Sư đoàn 324 đóng ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết...

Các lữ đoàn đóng quanh khu vực Thủ Đức và căn cứ cũ Thủ Đức, Long Bình.

Sư đoàn 325: Sư đoàn bộ, Trung đoàn 101 ở căn cứ Nước Trong, Trung đoàn Pháo binh 84 đóng ở căn cử thiết giáp - Trường Biệt kích.

Trung đoàn 95 đóng ở thành Tuy Hạ.

Trung đoàn 18 đóng ở Phước Lai, Phước Thiền (thuộc huyện Long Thành).

Thời gian từ tháng 5 đến tháng 6, chúng tôi đóng quân ở nhà dân, được nhân dân yêu quý giúp đỡ về mọi mặt. Đơn vị thường xuyên đi truy quét tàn quân xung quanh khu vực đóng quân và huấn luyện một số nội dung do trên chỉ đạo.

Ban Chỉ huy Đại đội 7 đóng ở ấp 5 - Phước Thiền - Long Thành. Bác Mười chủ nhà giàu có, "tiền đo theo khối", thóc để đầy kho ngoài đồng, vườn rộng nhiều cây trái như dừa, sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi... ngày nào chủ nhà cũng hái cho ăn. Hai bữa chính đều được chủ nhà mời thêm một số món hợp khẩu vị, đồng bào Nam Bộ hầu hết nhà nào cũng có ti vi 14in, bình ác quy (vì không có điện lưới), xem xong ti vi thường có bữa ăn đêm bồi dưỡng, ở hơn một tháng thì đơn vị hành quân ra căn cứ Nước Trong. Chia tay nhau, chủ nhà và khách bịn rịn lưu luyến. Đến vị trí mới và các điểm sau này, gia đình bác Mười cứ hai tuần hoặc một tháng là thuê xe ô tô chất đầy quà, cả nhà đến thăm đơn vị. Sau này, năm 2005 và 2015, tôi có quay lại thăm nhà bác, bác gái đã đi xa, các con cháu của hai bác đều trưởng thành, tình cảm vẫn tha thiết như xưa, thật đáng quý.


Căn cứ Nước Trong khi đó có ba đơn vị của Sư đoàn 325 đóng quân: Sư đoàn bộ, Trung đoàn 101, Trung đoàn 18.

Tiểu đoàn 8 được ở bốn nhà lợp tôn, nền xi măng. Chúng tôi trải chiếu, bạt xuống nền để ngủ. Mùa Hè trời nắng, nóng, từ trưa đến chiều không ai ngủ được. Nước sạch dùng để sinh hoạt không đủ, phải chia nhau từng bi đông nước.

Các đơn vị đều tổ chức huấn luyện theo hướng chính quy gồm: Điều lệnh, bắn súng, thể thao và một số môn chiến thuật khác. Trời quá nắng, bộ đội tập đúng giờ, có nhiều đồng chí ngất.

Đầu tháng 7 năm 1975, đang huấn luyện thì tôi bị một trận sốt xuất huyết. Bệnh viện 43 của Quân đoàn đóng ở Thủ Đức quá đông bệnh nhân nên tôi không nhập viện được, phải quay về nằm điều trị ở Tiểu đoàn 24 của Sư đoàn đóng ở Trường Biệt kích cũ của địch. Tôi bị nặng, mất tuần đầu mê man không biết gì, phải nằm điều trị ba tuần mới khỏi.


Sau Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1975, đơn vị nhận nhiệm vụ mới: Trung đoàn 18 lên Chiến khu Đ. Tôi đang chỉ huy bộ đội truy quét tàn quân địch thì được cấp trên trao quyết định phong quân hàm Trung úy và cho nghỉ phép đợt đầu. Đây là niềm vinh dự lớn, bởi đó là sự ghi nhận của tổ chức về những thành tích công tác, chiến đấu của tôi trong suốt thời gian qua.


Sau khi bàn giao công việc, tôi theo đơn vị xuống ga Hố Nai đi tàu ra Bắc. Đến ga Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây, đoàn cán bộ Quân đội từ miền Nam ra nghỉ phép xuống tàu, đi theo hướng từng quân khu. Mấy anh em đơn vị tôi sáp nhập vào đoàn các tỉnh thuộc Quân khu Tây Bắc để đi tàu Hà Nội - Yên Bái. Chúng tôi xuống ga Tiên Kiên, có cán bộ đón dẫn về từng khu vực làm thủ tục giấy tờ, các chế độ... sau đó mới có giấy phép về quê. Chúng tôi ăn đợi nằm chở ở Tiên Kiên - Lâm Thao - Phú Thọ đúng ba ngày.


Trong ba ngày chờ đợi, tôi mượn xe đạp nhà anh Phan Văn Phường (anh Phường là Trung đội trưởng, cùng đoàn đi phép với tôi) để lên thăm Huy đang học ở Trường Trung cấp y Phú Thọ. Thời gian từ khi quen Huy, tôi vào chiến trường tôi và em vẫn thư từ qua lại và yêu nhau từ đó. Không thể tả hết nỗi bồi hồi xúc động khi gặp lại nhau sau hơn một năm xa cách. Chiến tranh không nói trước được điều gì nên dù hy vọng nhưng vẫn không khỏi bất ngờ và cảm giác may mắn trong ngày gặp lại. Đó là buổi chiều đầu tháng 10 năm 1975. Chúng tôi chỉ có hai tiếng đồng hồ để ở bên nhau tại ký túc xá nhà trường rồi lại phải chia tay. Em ở lại trường, còn tôi về trạm nghỉ Tiên Kiên. Em căn dặn tôi đủ thứ, nhất là nhắc tôi phải giữ an toàn, khi về nhà nhớ đến thăm gia đình...


Chia tay nhau, tôi vừa đạp xe vừa ngoái lại nhìn cho tới khi bóng em khuất hẳn trong buổi chiều mùa Đông se lạnh. Mải miết đạp xe mà cũng hơn 8 giờ tối mới về đến nơi ở, mấy bạn đã lĩnh giúp các giấy tờ đi phép, tem phiếu lương thực, thực phẩm và xếp vào ba lô để sáng sớm mai lên đường. Tôi theo tàu đến Việt Trì, xuống ga Bạch Hạc thì đi bộ một mạch gần ba tiếng đồng hồ về đến nhà.


Trên đường về nhà, qua thị trấn huyện, làng mạc, ở đâu mọi người cũng chào hỏi chúc mừng, cảm giác vừa tự hào, phấn khởi của người chiến thắng trở về, vừa bồi hồi xúc động khi mình còn được lành lặn trong khi bao đồng đội khác người nằm lại trên các chiến trường, người đang nằm điều trị tại các bệnh viện quân y.


Về đến đầu thôn Thượng thì đã gần trưa, gặp mấy đứa em và bạn, ba ngày nay, ngày nào chúng cũng ra đầu làng đón tôi vì cả làng đều biết tôi sẽ được về phép qua ông Hoàng Quang Tịnh, người cùng làng gặp tôi lúc tôi vào nhập trạm để làm thủ tục giấy tờ. Trong ba ngày ấy, bố mẹ sốt ruột hỏi thăm và chờ đợi tôi, chỉ sợ ông Tịnh nhầm ai với tôi.


Tôi vừa đặt ba lô thì trong nhà, ngoài sân đã chật kín người đến chơi, thăm hỏi. Tôi là bộ đội được đi phép đầu tiên của làng sau chiến thắng 30 tháng 4, trong làng còn rất nhiều người đi biền biệt hàng chục năm chưa có tin tức hoặc chưa được về thăm nhà lần nào. Mọi người chờ mong và đón tôi như người thân từ chiến trường trờ về với niềm hy vọng cũng sẽ có được hạnh phúc đón người thân của mình trở về trong nay mai, và thông qua tôi muốn nắm tin tức về người thân, tin tức về miền Nam.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #55 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:27:42 pm »

Không những ngày đầu mà cả các ngày sau, làng trên xóm dưới mọi người kéo đến thăm hỏi đủ thứ chuyện trong Nam ngoài Bắc, chuyện sinh hoạt, chiến đấu. Niềm vui chiến thắng xen lẫn nước mắt khi nhắc đến người thân với khắc khoải mong chờ và hy vọng. Cũng có người đến thăm tôi mà không cầm được nước mắt vì người thân của họ đã vĩnh viễn không trở về...    Buổi tối tôi tranh thủ đến thăm gia đình người yêu và không quên đem theo thang thuốc em gửi tôi mang về. Hôm gặp trên trường, chúng tôi có hẹn thứ Bảy gặp nhau ở nhà, đường xa em về muộn nên sáng Chủ nhật chúng tôi mới gặp được nhau. Ngồi nói chuyện có đủ mặt mọi người trong gia đình em khiến tôi ngượng nghịu. 12 giờ trưa tôi đón em từ nhà qua đường làng, lên phố huyện. Chuyện chúng tôi đến với nhau qua lần về phép trước, năm 1974, thì ai cũng đã tỏ.


Ngồi sân ga đợi tàu, hai chúng tôi mới có dịp gần nhau tâm sự. Tàu đến, chúng tôi chia tay nhau mà bịn rịn, lưu luyến quá tàu chưa đi đã nhớ nhung rồi. Chúng tôi hẹn nhau gặp lại thứ Bảy và Chủ nhật trong thời gian tôi nghỉ phép.

Tuần cuối kỳ nghỉ phép, hai bên gia đình tổ chức lễ "dạm ngõ" cho chúng tôi. Tuy nhiên, là cán bộ, đảng viên khi lập gia đình phải có bước báo cáo với tổ chức, thông qua lý lịch, có giấy đơn vị về mới được kết hôn, vì thế chúng tôi yêu nhau thời gian ba năm, "dạm ngõ" cũng được gần hai năm, đến ngày 30 tháng 7 năm 1977 mới nên vợ thành chồng.


Thấm thoắt 40 ngày nghỉ phép đã hết. Bố, mẹ, các em và gia đình tổ chức làm mâm cơm cúng gia tiên và mời họ hàng, làng xóm liên hoan cho tôi lên đường, không khí thật thân thương, ấm cúng.

Ba ngày chờ làm thủ tục và biên chế bộ phận vào Nam, tôi thật hạnh phúc vì Huy từ trường xuống với tôi từ chiều thứ Bảy. Chúng tôi dắt nhau đi chơi khắp nơi. Đây là quãng thời gian tôi được bên em lâu nhất. Sáng thứ Hai tôi lên tàu vào Nam, lòng xao xuyến bịn rịn, khó khăn lắm mới bước được lên tàu. Tàu chuyển bánh, tôi thò đầu qua cửa sổ vẫy tay chào Huy. Bóng em khuất hẳn tôi mới ngồi xuống.


Vào đến đơn vị, tôi được cử đi lớp tập huấn do Sư đoàn tổ chức. Những ngày đầu tháng 12 năm 1975 sao mà rét thế, dân Sài Gòn nói đây là trận rét lịch sử mấy chục năm mới có.

Sau lớp tập huấn, tôi về đơn vị tiếp tục nhiệm vụ truy quét tàn quân được một thời gian thì đơn vị triển khai đóng quân dọc đường số 1, từ ngã ba xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn đến Gia Tân - Gia Kiệm huyện Thống Nhất thuộc tỉnh Biên Hòa. Đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ an ninh khu dân cư Công giáo gồm toàn những người quê miền Bắc di cư vào từ năm 1954, và bảo vệ cuộc bầu cử Quốc hội, thống nhất hai miền, thu non sông về một mối sau nhiều năm chia cắt.


Tiểu đoàn 9 đóng quân ở ngã ba Gia Tân - Gia Kiệm, Tiểu đoàn 7 và Sở Chỉ huy Trung đoàn đóng ở Trảng Bom, Tiểu đoàn 8 đóng ở khu vực nhà thờ Thái Bình. Đại đội 7 chúng tôi đóng ở khu vực nhà thờ Hà Nội, ngã ba xa lộ, chợ Sặt.

Tháng 8 năm 1976, tôi cùng một số đồng chí được cấp trên cử đi học ở Trường Trung - cao Đà Lạt (sau là Học viện Lục quân) thì tháng 9 năm 1976 toàn bộ Quân đoàn 2 được điều ra đóng quân ở miền Trung. Cụ thể: Sư đoàn 324 cắt về Quân khu 4, Sư đoàn 968 đang đứng chân ờ Nam Lào về thay Sư đoàn 324; Sư đoàn 304 đóng quân ở Đà Nẵng, Quân đoàn bộ đóng ở thành phố Huế, các đơn vị trực thuộc đóng quân xung quanh và gần Sở Chỉ huy Quân đoàn. Sư đoàn 325 ra đóng quân dọc theo đường số 9 từ ngầm B đi Lao Bảo, Sở Chỉ huy Sư đoàn và các đơn vị trực thuộc ngầm B; Trung đoàn 95 đóng ở thị trấn Khe Sanh; Trung đoan 18 Trung đoàn 101 và một số đơn vị tăng cường sang Lào giúp bạn truy quét phỉ và tàn quân bảo vệ an ninh cho nước bạn. Tháng 5 năm 1978, Trung đoàn 18 được lệnh hành quân về nước, bổ sung quân số, trang bị, ổn định biên chế rồi tiếp tục hành quân vào Quân khu 9, tác chiến ở Hà Tiên, giáp Cămpốt của Campuchia. Trung đoàn 18 hai lần được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Ở Trường Trung - cao Đà Lạt, tôi học lớp K2C hệ II đào tạo cán bộ tiểu đoàn - trung đoàn. Quá trình học tập, tôi thân thiết gắn bó với Phạm Hồng Lợi, và sau này hai chúng tôi đều mang quân hàm Trung tướng, hiện Phạm Hồng Lợi đang sinh sống ở thành phố Cần Thơ.


Hai năm đào tạo tại trường, chúng tôi đều chăm chỉ, siêng năng học tập, rèn luyện. Phương pháp đào tạo là học đến đâu nắm chắc đến đó, kể cả lý thuyết và thực hành; học đến đâu kiểm tra đến đó. Cuối khóa, chúng tôi nhận được gần 200 câu ôn tập để thi sát hạch quốc gia, mỗi người chuẩn bị ra vở tự ôn, hai người một nhóm ra rừng thông Đà Lạt vấn đáp với nhau. Các bài thi, kiểm tra tôi và Lợi đều đạt khá và giỏi. Thi quốc gia cuối khóa, chúng tôi đạt 9,5 điểm, đứng đầu khóa học. Cả 36 người chúng tôi đều tốt nghiệp ra trường và được phong quân hàm Thượng úy.


Ngoài học chuyên môn, mỗi tuần hai tối chúng tôi học văn hóa. Tuy vất vả nhưng chúng tôi đều ý thức việc học để nâng cao trình độ và phục vụ Quân đội lâu dài trong giai đoạn mới nên đều cố gắng vượt qua.

Thời gian mới nhập học, mọi chế độ, tiêu chuẩn ăn theo từng cấp, khá sung túc: Sáng ăn phở hoặc bánh, xôi...; trưa và chiều cứ bốn người một mâm, các món gồm: Thịt, cá, trứng, đậu, rau, nước mắm, cơm, canh... Nhưng chỉ được vài tháng thì sinh hoạt lâm vào khó khăn. Cơm có tới 30% độn sắn, mỳ, hạt bo bo, thậm chí có lúc thức độn còn nhiều hơn cơm. Thực phẩm thiếu thốn, thậm chí thiếu cả rau. Cả nước bấy giờ lâm vào khủng hoảng kinh tế, đời sống khó khăn... Năm 1977, Nhà trường ra chỉ tiêu tăng gia mỗi đồng chí 70kg rau/năm, một con thỏ, nộp đủ chỉ tiêu mới hoàn thành nhiệm vụ. Nhờ tích cực tăng gia mà bữa ăn của chúng tôi phần nào được cải thiện. Các chiều thứ Bảy và ngày Chủ nhật chúng tôi thường có bữa cải thiện, nhất là có rau từ vườn tăng gia.


Sau một năm học tập, nghỉ hè tôi báo cáo Nhà trường xét giấy giới thiệu đơn vị cũ là Trung đoàn 18 về địa phương đăng ký kết hôn. Ngày 30 tháng 7 năm 1977 tôi và Huy nên vợ thành chồng. Chúng tôi sống thật đầm ấm, hạnh phúc và gần một năm sau thì có con gái đầu lòng: Thiều Thị Hạnh, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1978. Lúc tôi ra trường về tranh thủ thì con gái đã ba tháng tuổi. Bây giờ vợ tôi đang làm ở Trạm xá Nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ).


Trung tuần tháng 9 năm 1978, tôi cùng sáu đồng chí nhận quyết định về Quân đoàn 2 công tác theo đúng nguyện vọng. Tôi được về Trung đoàn 18 Sư đoàn 325, đơn vị cũ của tôi, đơn vị có truyền thống trong chiến đấu, xây dựng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #56 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:29:54 pm »

VII. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIA

Trung tuần tháng 10 năm 1978, Quân đoàn điều tôi về giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18, thay đồng chí Chiến được điều về Sư đoàn 306 mới thành lập.

Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 thực chất có thể gọi là Trung đoàn 18B bởi toàn bộ Trung đoàn 18 cắt về Quân khu 9 vào tháng 5 năm 1978. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đều mới, chiến sĩ hầu hết nhập ngũ tháng 8 năm 1978, cán bộ tiểu đội, trung đội thì được điều từ Trường Hạ sĩ quan Quân đoàn và các đơn vị khác về. Ban Chỉ huy Trung đoàn gồm: Thiếu tá Trần Minh Thiệt - quyền Trung đoàn trưởng, ra trường trước tôi ba tháng; Đại úy Nguyễn Hồng Bào - quyền Chính ủy; Đại úy Trần Bá Viên - Trung đoàn phó; Đại úy Nguyễn Minh - Tham mưu trưởng (Sư đoàn 968 về); Đại úy Vũ Quốc Phòng - Phó Chính ủy (Trung đoàn 84 sang). Biên chế, trang bị Trung đoàn tương đối đủ, bước vào huấn luyện rất khẩn trương, mỗi ngày thực hiện một bài bắn từ súng bộ binh đến súng hỏa lực. Đơn vị đóng quân ở ngầm B Cam Lộ, Quảng Trị, xung quanh là đồi núi, rừng cây lúp xúp thuận tiện cho rèn quân và huấn luyện bộ đội.


15 giờ ngày 24 tháng 12 năm 1978, đơn vị nhận lệnh rời doanh trại, mang theo toàn bộ trang bị chiến đấu, quân tư trang hành quân đi diễn tập. Ra đến đường số 9 thì dừng lại tập hợp lên xe, toàn J130 mới, đi theo hướng đèo Hải Vân - thành phố Đà Nẵng. Khoảng 3 giờ sáng 25 tháng 12 năm 1978 đơn vị xuống xe vào nhận nhà ở. Sang ra bộ đội dậy nhìn xung quanh nhiều máy bay lên xuống, sau mới biết là sân bay Đà Nẵng.


Theo kế hoạch của trên, toàn bộ Sư đoàn 304, Trung đoàn 95 và các đơn vị binh chủng hành quân bằng xe theo đường bộ vào chiến trường; Sư đoàn 325 gồm Trung đoàn 18, Trung đoàn 111 đi bằng máy bay.

Sáng 26 tháng 12, sau khi xuống sân bay Cần Thơ, mỗi trung đội một xe ô tô tiếp tục hành quân vào tập kết trong khu rừng kín đáo cách thị trấn Chi Lăng (Bảy Núi - An Giang) khoảng 7 - 10km.

Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam diễn ra ngay sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975. Ngày 10 tháng 5 năm 1975 tập đoàn phản động Pônpôt sử dụng một lực lượng lớn đánh chiếm đảo Thổ Chu và một số điểm trên biên giới từ Tây Ninh đến Hà Tiên. Lúc đầu, để giữ mối quan hệ truyền thống, ta tìm cách đàm phán, nhưng chúng ngày càng lộ rõ bản chất phản động, hiếu chiến.


Ngày 30 tháng 4 năm 1977, chúng đã tiến công toàn tuyến biên giới từ Tây Ninh đến Hà Tiên, gây cho ta không ít tổn thất, có chỗ chúng đánh sâu vào đất Việt Nam hàng chục kilômét giết hại nhiều dân thường, phụ nữ và trẻ em. Có đồn biên phòng hy sinh gần hết, bị mất trận địa, mất đồn.


Đàm phán hòa bình, hữu nghị nhiều lần không có kết quả chủ trương của trên tập trung phản công kiên quyết bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Cuối năm 1978, Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia được thành lập, yêu cầu Việt Nam giúp đỡ về mọi mặt để lật đổ chế độ độc tài phát xít Pônpốt, giải phóng đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng. Được sự thống nhất giữa Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia với Đảng và Chính phủ ta, Quân đội nhân dân Việt Nam bước vào cuộc chiến đấu mới.


Chiến dịch lần này xác định quy mô rất lớn trong một thời gian ngắn với lực lượng tham gia ba quân đoàn chủ lực gồm: Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4; ba quân khu: Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9; Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân chủng Hải quân, một số binh chủng và lực lượng trực thuộc của Bộ, với khoảng 30 vạn quân.


Từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 31 tháng 12 năm 1978, tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch đều nổ súng tiến công tạo thế để đưa lực lượng chủ yếu vào tham gia chiến dịch. Quân đoàn 2 lực lượng tham gia gồm: Sư đoàn 304 hướng chủ yếu xã Ba Chúc tiến công sang Xom Đông, Xom Tây, dãy núi Sâu Róm - Cờ Răng, Túc Mía, đường số 3 về Cămpốt - cảng Xihanúcvin, khóa chặt đường biển.


Sư đoàn 325 là thê đội 2 sau Sư đoàn 304 mở rộng cánh tiến công sang hai bên và thay thế Sư đoàn 304 khi cần. Bộ tăng cường Sư đoàn 8 Quân khu 9 cho Quân đoàn 2, toàn bộ lực lượng Quân khu 9 đảm nhiệm biên giới An Giang - Hà Tiên đánh sang Cămpốt.


Ngày 26 tháng 12, Sư đoàn 304 sử dụng Trung đoàn 9 nổ súng tấn công từ cánh đồng Ba Chúc qua kênh Vĩnh Tế sang Campuchia. Do chuẩn bị không kỹ về nhiều mặt, nắm địa hình địch không chắc, nên mặc dù được chi viện tối đa của pháo binh và không quân nhưng ta bị thương vong nhiều phải dừng tiến công và lui quân về tuyến sau củng cố.


Đến ngày 30 - 31 tháng 12, ta tổ chức tiến công lần 2. Hỏa lực không quân, pháo binh, bắn thẳng của ta rất mạnh, địch không chống cự nổi, chết nhiều, phải bỏ tuyến phòng ngự tháo chạy. Tuyến ngoài bị chọc thủng khiến các tuyến trong mỏng hơn nhanh chóng tan rã, địch chạy vào rừng, co cụm để chống lại ta sau này. Thừa thắng, các đơn vị Sư đoàn 304 lần lượt vượt qua biên giới giải phóng các mục tiêu còn lại sâu trong nội địa, như dãy Sâu Róm, núi Con Sâu, Túc Mía, Ta Ni... Quân đoàn tổ chức Trung đoàn 24 cùng lực lượng các binh chủng theo đường số 3, đèo 244 giải phóng thị xã Cămpốt; theo đường số 4 qua đèo Píchlin giải phóng cảng Xihanúcvin, khóa chặt đường biển.


Sư đoàn 325 với Trung đoàn 18 đi đầu, ngày 1 tháng 1 năm 1979 từ cánh đồng xã Ba Chúc, huyện Bảy Núi, tỉnh An Giang, Tiểu đoàn 7 đi đầu Trung đoàn vượt phà, cầu phao do Lữ đoàn Công binh 219 bắc qua sông Vĩnh Tế sang đất bạn. Hành quân qua trận địa vẫn còn khói nghi ngút, xác chết ngổn ngang chưa kịp thu dọn, đơn vị đi liên tục cả ngày lẫn đêm, ăn lương khô, uống nước sông để cho kịp. Đường hành quân toàn theo bờ mương, bờ ruộng ngoài cánh đồng. Đêm tối, bộ phận đi đầu cứ thấy ào ào tiếng nước phía trước, lúc đầu chưa hiểu, sau mới biết trâu, bò thả rông ngoài đồng có đến vài trăm con, vịt có những đàn vài nghìn con đẻ đầy bờ ruộng.


Sang ngày thứ ba trên đất bạn, chúng tôi đang truy quét tàn quân thì có lệnh cơ động ngay lên Túc Mía giải cứu cho Sở Chỉ huy Sư đoàn đang bị tàn quân Pônpốt uy hiếp. Tôi nhanh chóng thu quân và tổ chức dàn thế trận trên hai hướng từ làng ra cánh đồng bằng phẳng thành hai gọng kìm tiến và khép lại. Súng nổ dữ dội, quân Pônpốt bị tiêu diệt, bắt sống một số, số còn lại chạy tán loạn vào rừng. Sở Chỉ huy Sư đoàn an toàn, chúng tôi thu quân nhanh chóng chuyển hướng theo nhiệm vụ của Trung đoàn đang tổ chức tiến công truy quét địch ở dãy núi Con Sâu. Tiểu đoàn 7 thọc thẳng vào trung tâm thị trấn Ta Ni diệt nhiều tên địch, bắt sống bảy tên. Trên mặt trận, các hướng tiến công như vũ bão, đánh chiếm các mục tiêu và thọc sâu giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh lúc 11 giờ ngày 7 tháng 1 năm 1979.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #57 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:31:25 pm »

Sau khi giải phóng Phnôm Pênh, các đơn vị toàn chiến dịch tiếp tục tiến quân giải phóng hoàn toàn đất nước Campuchia, sau đó tổ chức các đợt truy quét tàn quân và giúp nhân dân Campuchia xây dựng chính quyền, ổn định cuộc sống.

Hướng Quân đoàn 2, Sư đoàn 304 đóng tại cảng và nằm dọc theo đường số 4 từ Cămpốt đến cảng. Sở Chỉ huy Quân đoàn và các đơn vị trực thuộc đóng ở thị xã Cămpốt. Sư đoàn 325, Sở Chỉ huy Sư đoàn ở thị xã Cămpốt, Trung đoàn 95 đóng gần Sở Chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn 111 đóng quân và truy quét tàn quân ở đường số 4, riêng Trung đoàn 18 đi sau đội hình Quân đoàn và Sư đoàn.


Ngày 9 tháng 1 năm 1979, toàn bộ lực lượng chính của Quân đoàn, các sư đoàn tiếp tục hành quân. Sở Chỉ huy Sư đoàn 325 cùng một số bộ phận đi sau bị tàn quân chặn lại tại ngã tư Súc, tình hình quá nguy, cấp trên lệnh Tiểu đoàn 7 cách đó 10km về giải vây cho Sở Chỉ huy Sư đoàn.


Lúc đầu nhận nhiệm vụ tôi cứ tưởng là mấy tên tàn quân, nhưng khi gần đến nơi mới biết lực lượng địch đông và mạnh. Bộ đội triển khai chiến đấu, còn tôi và cán bộ trung đội, đại đội lên gặp Trung tá Đặng Tụ - Sư đoàn phó nhận nhiệm vụ. Theo chân thủ trưởng qua mấy mặt ruộng bậc thang, địch bắn pháo xung quanh, chúng tôi kịp nằm xuống, chỉ có một đồng chí bị thương. Pháo, cối, súng bộ binh nổ không ngớt...


Nhận nhiệm vụ xong, tôi cho các đơn vị triển khai đội hình chiến đấu. Đại đội 3 do đồng chí Đoàn là Đại đội trưởng, đồng chí Việt là Chính trị viên, đảm nhiệm phòng ngự trên hướng chủ yếu, từ ngã tư Súc sang phải đội hình phòng ngự của Tiểu đoàn. Đại đội 2 do đồng chí Vĩnh - Đại đội trưởng, đồng chí Nhu - Chính trị viên, đảm nhiệm phòng ngự bên trái Đại đội 3, dọc đường số 3 từ ngã tư Súc đi thị xã Cămpốt. Đại đội 1 do đồng chí Hiển - Đại đội trưởng, đồng chí Nhuần - Chính trị viên, đảm nhiệm phòng ngự phía sau và bảo vệ Sở Chỉ huy Tiểu đoàn và Sư đoàn.


Cuộc chiến đấu phòng ngự ở ngã tư Súc ngày càng diễn ra ác liệt. Địch tổ chức tiến công nhiều lần, nhiều hướng trong ngày, trận địa phòng ngự toàn là cánh đồng lúa, bờ ruộng, ngã ba, ngã tư nên chỉ đào cơ bản là công sự cá nhân và một số ít hào cơ động vì thế khi chiến đấu việc chi viện cho nhau bị hạn chế. Ở phía trước, Đại đội 2 và Đại đội 3 chiến đấu kiên cường, diệt địch và đánh lui nhiều đợt tiến công, giữ vững trận địa. Gần đến trưa ngày 11 tháng 1 năm 1979, khẩu đại liên của Đại đội 3 sau ba ngày chiến đấu vẫn giữ nguyên trận địa ở gốc cây đừa, do bị lộ, địch điều ĐKZ 75mm lên, khẩu đội đại liên trúng đạn pháo, cả ba đồng chí hy sinh, khẩu súng bị hỏng hoàn toàn.


Các ngày tiếp theo, địch tiến công thăm dò trên các hướng của Tiểu đoàn. Thương vong, tổn thất ngày một tăng, tôi đề nghị Trung đoàn trưởng và đồng chí Sư đoàn phó được phản kích tiêu diệt địch. 14 giờ chiều 12 tháng 1 năm 1979, Tiểu đoàn tổ chức triển khai trận địa chuẩn bị tiến công, trong lúc di chuyển để bố trí đội hình, khẩu ĐKZ 82mm từ sau ruộng mía bị lộ, địch bắn ba quả liền, Chuẩn úy Hùng - Trung đội trưởng quê Hải Phòng hy sinh tại chỗ, một số đồng chí bị thương.


17 giờ, các hướng triển khai xong, tôi cho cối 82mm, cối 60mm và các loại hỏa lực 12,7mm và ĐKZ bắn dồn dập 15 phút chi viện, các đơn vị đồng loạt xung phong diệt địch trước trận địa, thu được một số súng và cả máy thông tin, bắt hai tù binh. Sau trận đánh, theo lệnh của trên, Tiểu đoàn 9 vào thay phòng ngự, Tiểu đoàn 7 rút ra làm nhiệm vụ cơ động.


Hai ngày sau, Tiểu đoàn 9 tổ chức phản kích nhưng do không hiểu địa hình và tình hình địch, Đại đội 9 tổ chức tiến công đi giữa cánh đồng, bên phải là làng, bên trái là con mương đắp nổi địch nổ súng chặn đầu, khóa đuôi, Đại đội 9 hy sinh, bị thương gần hết.


Qua gần một tuần chiến đấu ở khu vực ngã tư Súc, thương binh ngày một tăng, quá tải không có nơi điếu trị, trên phải điều trực thăng xuống chở thương binh đi.

Ngày 15 tháng 1 năm 1979, tôi và Chính trị viên Khai lên Sở Chỉ huy Trung đoàn 18 nhận nhiệm vụ tuyệt đối bí mật và rất khẩn trương. Về Tiểu đoàn, tôi triển khai chỉ huy các đầu mối lên nhận nhiệm vụ theo phương pháp lần lượt, nhiệm đơn vị nào đơn vị đó biết, không được phổ biến rộng. Tại Sở Chỉ huy Tiểu đoàn chỉ có các cán bộ đến nhận nhiệm vụ, trong và ngoài hầm canh gác cẩn mật không ai được qua lại.


Tiểu đoàn hành quân vào lúc khoảng hơn 1 giờ sáng, trời sáng trăng, không khí se lạnh. Kiểm tra quân số các đơn vị báo cáo, Đại đội trưởng Vĩnh, Chính trị viên Nhung cứ ấp úng, tôi nghiêm giọng gặng hỏi thì các đồng chí cho biết còn thiếu một trung đội nằm ngoài cánh đồng lúa chưa ra... Ngay lập tức tôi ra lệnh cho chỉ huy Đại đội 2 sử dụng một tiểu đội bộ binh có Đại đội trưởng đi cùng, vào đưa quân ra, nhưng thấy không yên tâm, tôi quyết định tự mình cùng một tiểu đội trinh sát của Tiểu đoàn đi với Đại đội 2.


Vào đến ngã tư Súc không khí im lặng khác thường, tôi triển khai các lực lượng bảo vệ đội hình rồi cùng Đại đội trưởng ra bờ ruộng lúa gặp trung đội còn đang nằm lại lệnh nhanh chóng thu quân rời khỏi trận địa. Khi đó địch đã vây kín xung quanh mà không biết ta lui quân. Khoảng 9 giờ sáng hôm sau địch thăm dò, biết ta rút, chúng tràn vào chiếm hết khu vực ngã tư.


Tiểu đoàn tiếp tục hành quân trong đêm theo hướng các đơn vị đi trước. Đại đội 3 đi đầu, bộ phận tiền vệ do đồng chí Chung - Đại đội phó chỉ huy cùng một trung đội bộ binh và một khẩu cối 60mm, ra đến đường số 3 khoảng hơn 100m thì gặp địch dùng cối 60mm, M79 bắn chặn. Bộ phận đi đầu tản ra triển khai chiến đấu, địch phát hiện quân ta ít nhưng chúng chỉ bắn cầm canh. Trời sáng dần, qua quan sát ước chừng địch có khoảng hơn trăm tên, tôi xin ý kiến đồng chí Viên - Trung đoàn phó cùng đi với Tiểu đoàn được nổ súng tiêu diệt nhưng đồng chí không nhất trí vì e bị bao vây cô lập.


Trời sáng hẳn, tôi triển khai các đơn vị vào các làng xung quanh, Sở Chỉ huy Tiểu đoàn ở giữa, theo chiến thuật "trâu đàn ngủ rừng". ĐKZ, súng máy cao xạ 12,7mm tăng cường cho Đại đội 1 và Đại đội 3, cối 82mm do Tiểu đoàn chỉ huy chung.

Bộ phận đi đầu Đại đội 3 do mất tinh thần, địch bắn mấy quả M79, cối 60mm đã vứt chiếc giá đại liên K53 gần đầu đường số 3. Tôi ra lệnh cho đồng chí Đoàn - Đại đội trưởng giao nhiệm vụ cho một trung đội có Đại đội phó chỉ huy tổ chức bí mật lấy giá đại liên về. Hỏa lực của Đại đội, Tiểu đoàn sẵn sàng chi viện.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #58 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:32:34 pm »

Khi Đại đội 3 ra gần đến nơi, địch đã phát hiện lực lượng lớn quân ta vừa đi qua nên chúng đã tổ chức phục kích đội hình phía sau. Hai bên chạm trán nổ súng quyết liệt, ta tiêu diệt được một số tên, nhưng do địch quá đông nên ta vừa chiến đấu vừa rút lui. Trung sĩ Tính - Tiểu đội trưởng, quê Hà Tĩnh bắn kiềm chế rút sau cùng bị một viên đạn xuyên từ trán ra sau gáy gục trong bụi cây, người và súng đổ gập ở tư thế quỳ bắn. Sẩm tối, tiếng súng kết thúc, đơn vị đi tìm nhiều lần mà không thấy, quyết tâm không bỏ anh em hy sinh ở lại, tôi, ra lệnh cho đồng chí Đồng - Tiểu đoàn phó chỉ huy tìm kiếm, đến 23 giờ đêm mới tìm thấy.


Bên cánh phải của Tiểu đoàn, đồng chí Hạnh - Đại đội phó Đại đội 3 cùng hai chiến sĩ bị thương vừa chiến đấu vừa rút về hướng Đại đội 1, đạn bay vèo vèo trên đầu, phía sau khoảng một trung đội địch đuổi theo quyết bắt sống. Tôi ra lệnh để địch đến gần mới nổ súng, bảo vệ ba đồng chí của ta rút lui an toàn. Trung đội địch bị tiêu diệt trước trận địa, ta thu một khẩu ĐKZ 82mm còn mới. Địch đoán quân ta đông không dám tiến công vào làng mà chỉ ở ngoài quốc lộ bắn vào những chỗ chúng nghi ngờ.


Sau khi tìm thấy Tiểu đội trưởng Tính hy sinh, đơn vị tiếp tục hành quân. Trung đội vận tải đảm nhiệm ca liệt sĩ và hai đồng chí thương binh, đi đến ngày thứ năm mới về tới đội hình Trung đoàn và bàn giao đưa về nước.

Từ làng, qua cánh đồng cắt lên đường số 3, đội hình Tiểu đoàn vừa lên khỏi thì gặp một tổ đại liên và bộ binh địch phục kích trên đường. Do trời tối, chủ quan nên đội hình đi đầu chạm địch thì mới biết, súng nổ loạn xạ nhưng rất may là không ai việc gì.

Tôi quyết định không hành quân theo đường số 3 mà đi tắt bờ ruộng, giữa cánh đồng, không qua làng, sợ bị phục kích. Trên cánh đồng, ta gặp rất nhiều địch sợ ta tập kích nên tránh, ở trong làng. Gần sáng, đơn vị tới gần sân kho, nghe tiếng động, địch lại gần tưởng đồng bọn, nhưng khi phát hiện là ta, chúng bỏ chạy tán loạn không kịp nổ súng. Đi khoảng hai giờ nữa thì trời sáng rõ, tôi quyết định dừng đội hình ở rừng cây to kín đáo, chờ tối đi tiếp. Địch thăm dò biết có lực lượng ta nhưng chúng không dám tiến công vào.


Qua bốn ngày đêm độc lập đi giữa vòng vây địch, không liên lạc được với cấp trên, lương thực, thực phẩm cũng hết, chúng tôi phải tự kiếm thức ăn, chủ yếu là dưa hấu, dưa gang, mía, đu đủ, chuối...

Khoảng 16 giờ ngày 18 tháng 1 năm 1979, Tiểu đoàn đến vị trí thay phiên phòng ngự tại đèo 244 cho Tiểu đoàn 8 rút ra. Lần gặp và chia tay Cao Minh Lục - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 lần này không ngờ lại là lần cuối tôi và Lục gặp nhau. Lục là người bạn thân, gắn bó và có nhiều kỷ niệm với tôi, từ năm 1971 cùng học Trường Sĩ quan Lục quân, cùng về Trung đoàn 18, rồi lại cùng đi học ở Trường Trung - cao Đà Lạt, Lục ra trường trước tôi ba tháng. Ngày 21 tháng 1 năm 1979 (sau ba ngày chia tay), Lục chỉ huy Tiểu đoàn truy quét tàn quân, bộ phận đi đầu sa vào ổ phục kích, Lục đứng trên lò đốt than để quan sát và chỉ huy, một mảnh đạn cối 60mm găm trúng bàng quang, dưới rốn 2cm, chảy máu trong, anh em cấp cứu và khẩn trương đưa về tuyến sau, trên đường đi Lục hy sinh. Lục nhập ngũ tháng 2 năm 1968, quê Hướng Hóa - Quảng Bình, có vợ và một con gái chưa đầy một tuổi.


Các đơn vị nhanh chóng triển khai trận địa phòng ngự. Đại đội 3 phòng ngự trên hướng chủ yếu từ đường số 3, vòng trái vào chân dãy núi Sâu Róm về phía sau. Đại đội 2 phòng ngự từ đường số 3 vòng phải vào dãy núi đá 284 về hồ nước phía sau. Đại đội 1, phòng ngự phía sau, cơ động trên hai hướng, một trung đội phòng ngự phía trước và bảo vệ Sở Chỉ huy Tiểu đoàn, cối 82mm có hai khẩu do Tiểu đoàn nắm chi viện chung; ĐKZ, 12,7mm tăng cường cho Đại đội 3, Đại đội 2 còn một khẩu 12,7mm bố trí bên phải đường số 3 gần chỉ huy Tiểu đoàn.


Khoảng 20 giờ tối hôm đó, địch tổ chức tiến công hai hướng vào Đại đội 3 và Đại đội 2. Các loại súng bất ngờ nổ ran, có cả cối 120mm, cối 82mm, ĐKZ... Lực lượng địch khoảng một đến hai tiểu đoàn.

Trong khoảng hai tiếng chiến đấu, ta đánh lui nhiều đợt tiến công, tiêu diệt nhiều địch, bắt một tù binh, giữ vững trận địa. Ta hy sinh một đồng chí bắn B41 thuộc Đại đội 2.

Qua các trận chiến đấu đánh trả và giữ vững trận địa ở tư Súc và trận đầu ở đèo 244, Tiểu đoàn đã rút ra được những bài học quý trong thực tiễn.

Sáng ngày 21 tháng 1 năm 1979, địch cho trinh sát nghi binh thăm dò, sau đó đưa một lực lượng lớn lên triển khai tiến công nhiều lần vào hướng Đại đội 2 và Đại đội 3 nhưng không thành, địch dùng hỏa lực bẳn chi viện cho bộ binh theo sườn núi tiến công đánh chiếm trận địa Đại đội 2 rồi Đại đội 3. Tôi cho hỏa lực pháo binh, súng cối bắn chặn, chế áp đẩy lùi địch, hai khẩu 12,7mm khóa nòng bắn quét địch trèo lên bám sườn núi, diệt một số, số địch còn lại tụt xuống không dám trèo lên... Thời cơ đến, Đại đội 1, Đại đội 2 cùng xuất kích tiêu diệt địch phía trước, khôi phục lại toàn bộ trận địa, tiêu diệt hơn 60 tên, thu nhiều vũ khí và trang bị chiến đấu. Ta hy sinh 11, bị thương 18 đồng chí...


Trận địa phòng ngự của Tiểu đoàn tại đèo 244 nằm kẹp giữa hai dãy núi, bên phải là dãy điểm cao 284 toàn đá, dốc đứng, dưới chân có hang sâu, nước chảy bốn mùa trong vắt, cả Tiểu đoàn sử dụng ăn uống và tắm giặt; bên trái là dãy núi Sâu Róm kéo dài, phía sau là đèo 244 và một con đập nước sâu trong xanh, phía trước là một cánh đồng bằng phẳng có một con mương thẳng kéo dài từ trận địa Tiểu đoàn ra phía trước, nhân dân trồng chuối, dưa hấu rất nhiều. Bên trong trận địa có hàng héc ta mía tím, một kho dự trữ đậu xanh, đậu tương, cá khô, mật thốt nốt, hai hồ cá, chim, lợn, gà rất nhiều và được phép sử dụng. Hơn một tháng chiến đấu phòng ngự ác liệt nhưng không phải lo chuyện hậu cần, bộ đội vẫn tăng cân.


Sau một thời gian tham gia hoạt động tác chiến, Sư đoàn mở Hội nghị quân chính tại thị xã Cămpốt, thành phần toàn cán bộ chủ chốt từ cấp tiểu đoàn trở lên, và Hội nghị chuyên đề "Những trận đánh hay, những người chỉ huy giỏi". Tôi và đồng chí Trần Văn Loạn - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 được chọn báo cáo trước Hội nghị. Hội nghị đó có cả Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Hữu An; Thiếu tướng, Chính ủy Quân đoàn Lê Linh cùng đại biểu bốn cơ quan Quân đoàn, Sư đoàn xuống dự. Cả hội trường chật ních người im phăng phắc lắng nghe tôi và đồng chí Loạn báo cáo một số trận đánh vừa qua, kinh nghiệm và bài học rút ra. Tư lệnh, Chính ủy Quân đoàn, Sư đoàn trưởng Đỗ Phạm, Chính ủy Sư đoàn Phạm Công Nhân đến bắt tay tôi rất chặt. Trong chiến dịch bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, tôi được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #59 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:34:24 pm »

Hơn 1 giờ sáng ngày 7 tháng 2 năm 1979, tôi thức dậy và đi vệ sinh, trước khi vào hầm ngủ, tôi quay lại nhắc đồng chí Điềm - Tiểu đoàn phó đang trực ca cùng các đồng chí thông tin, trinh sát trong kíp trực quay máy kiểm tra các hướng và cẩn thận giờ này địch hay bất ngờ tiến công. Tôi vừa khom người vào hầm thì cả trận địa bị trùm lên bởi các loại hỏa lực địch cùng tiếng nổ chát chúa đinh tai nhức óc. Phía trước Đại đội 2, lửa cháy ngút trời. Tôi nhanh chóng ngồi vào vị trí chỉ huy nhắc thông tin vô tuyến, hữu tuyến, đài quan sát, đài pháo báo cáp. Lúc đầu, thông tin hữu tuyến Đại đội 3, Đại 2, trận địa cối đều thông, tôi ra lệnh bình tĩnh nắm lại đơn vị, tình hình địch và kiên quyết chiến đấu, ngăn chặn địch giữ vững trận địa. Nhưng ngay sau đó đường dây Đại đội 2 mất liên lạc phải dùng vô tuyến điện. Đại đội trưởng Vĩnh phát hiện cỡ một đại đội địch vượt qua đường, bãi trống thẳng vào đài quan sát và Sở Chỉ huy Tiểu đoàn. Ngay lập tức tôi ra lệnh Đại đội trưởng cối 82mm dựng nòng, cự ly 5 - 100m trươc Sở Chỉ huy Tiểu đoàn bắn cấp tập, hai khẩu cũng hạ nòng bắn ngang, chặn đứng đội hình quân địch. Bị thương vong, địch tháo lui gọi hỏa lực mạnh, có cả pháo 105mm, cối 120mm, pháo 37 hai nòng bắn vào trận địa ta khoảng một giờ đồng hồ. Đặc biệt, chúng tập trung bắn vào điểm cao 284 vì nghi ta có chốt và đài quan sát. Hỏa lực dứt, địch tổ chức tiến công quyết liệt vào Đại đội 3, Đại đội 2. Bộ đội ta chiến đấu ngoan cường, giữ vững trận địa.


Các đợt tiến công liên tục kéo dài từ hơn 1 giờ đến khoảng hơn 5 giờ sáng thì tạm dừng, tiếng súng thưa dần rồi im hẳn. Qua các phương tiện thông tin tôi ra lệnh các đơn vị phải hết sức cảnh giác, đề phòng địch tiến công tiếp, củng cố công sự, hầm hào bị hư hỏng, bổ sung đạn dược các loại.


Trong khoảng gần hai giờ đồng hồ im tiếng súng, hai bên tranh thủ quan sát, thăm dò lẫn nhau. Tôi cùng Trung đội trưởng Lợi trinh sát ra đài quan sát bên ngoài phía trước trận địa thấy nghi ngút lừa, khói nhà cháy. Phía trước có khoảng hơn chục tên địch chết phơi xác trước đài quan sát Sở Chỉ huy Tiểu đoàn.


Ở đài quan sát, nghe có tiếng động cơ từ xa, tôi nghe lại thật kỹ và khẳng định đó là tiếng xe tăng, tôi nhanh chóng báo cáo lên Trung đoàn và ra lệnh cho toàn Tiểu đoàn vào vị trí chiến đấu. Khẩu ĐKZ 75mm được điều lên tăng cường cho hướng Đại đội 3.

Lại một đợt hỏa lực khá mạnh, ác liệt kéo dài khoảng 30 phút. Hướng chân điểm cao 284 (Đại đội 2 chốt giữ) địch bắn phá ác liệt hơn cả, chúng chọn đây là hướng tiến công chính. Trời quang, có nắng rất tiện cho quan sát trận địa, ta phát hiện lực lượng địch có khoảng một trung đoàn bộ binh tăng cường, có tám xe tăng, ba xe thiết giáp (hướng phải Đại đội 2 có bảy xe tăng, một xe thiết giáp; hướng Đại đội 3 có một xe tăng, hai xe thiết giáp).


Sau đợt hỏa lực bắn phá ác liệt, trên hai hướng Đại đội 3 Đại đội 2, địch tập trung xe tăng và bộ binh tiến công vào trận địa, hỏa lực pháo xe tăng và 12,7mm bắn ngang, cây cối gãy đổ rầm rầm khiến một số chiến sĩ mới hoang mang. Đội ngũ cán bộ tiểu đội, trung đội dày dạn kinh nghiệm kèm cặp rất sát những chiến sĩ mới nên không một ai rời trận địa, tinh thần bình tĩnh trở lại. Để xe tăng, bộ binh địch đến gần trong tầm bắn hiệu quả, tôi ra lệnh nổ súng. Trên các hướng, súng đồng loạt nổ giòn, hỏa lực của cấp trên, Tiểu đoàn chi viện kịp thời, bắn chặn, bắn trúng đội hình, diệt nhiều địch khiến chúng không tiến lên được, nhiều đợt tiến công đều bị ta đẩy lui. Khẩu pháo 85mm của Sư đoàn tăng cường đặt trên đồi Không tên phía sau trận địa bắn thẳng, uy hiếp được xe tăng và bộ binh địch. Khẩu cao xạ 37mm bên cạnh pháo 85mm cũng hạ nòng bắn quét. Địch khiếp sợ phải lui quân.


Như vậy, từ sáng đến gần trưa, trong hơn ba giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 7 đã anh dũng, ngoan cường đánh lui, đánh bại nhiều đợt tiến công bằng bộ binh và xe tăng của địch, giữ vững trận địa.

Lúc 15 giờ, trên hướng Đại đội 3, đồng chí Việt - Chính trị viên báo cáo trực tiếp cho tôi có một xe tăng, hai thiết giáp với bộ binh đi sau đang ở cách trận địa khoảng 400 - 500m. Tôi ra lệnh cho Đại đội 3 củng cố lại đội hình, tăng cường chỉ huy ra hướng chủ yếu, kiên quyết chiến đấu, ngăn chặn, tiêu diệt bộ binh, xe tăng địch giữ vững trận địa.


Đài pháo 122mm của Sư đoàn đặt ở kế bên, tôi xin chi viện pháo binh, tập trung hướng Đại đội 3. Pháo binh ta bắn rất hiệu quả, bộ binh đánh trả và ngăn chặn địch giữ vững trận địa. Một chiếc xe tăng trong rừng lao ra, 12,7mm trên xe bắn rát, cây cối phía trước trận địa gãy gập, đổ ngổn ngang. Đại đội 3 tập trung hỏa lực B40, B41, ĐKZ tiêu diệt. Chiếc xe tăng bị thương nhanh chóng lùi nấp sau mô đất dùng hỏa lực bắn trả. Nhận được tin báo, tôi lệnh cho Đại đội 3 Đại đội 1 điều tất cả các loại hỏa lực chống tăng lên, điều khẩu ĐKZ 75mm hướng Đại đội 2 tăng cường cho Đại đội 3 với quyết tâm tiêu diệt chiếc xe tăng. Trời sẩm tối, các xạ thủ lần lượt điều lên ở cự ly gần để bắn, có đồng chí bắn xong ngất xỉu vì trong ngày bắn quá nhiều đạn, không chịu nổi...


Về khuya, Đại tá Đoàn Chương - Phó Chính ủy Quân đoàn và Đại tá Phạm Công Nhân - Chính ủy Sư đoàn điện biểu dương đơn vị chiến đấu rất dũng cảm, lập công xuất sắc, giữ vững trận địa.

Trung tuần tháng 2 năm 1979, trên chủ trương mở rộng hoạt động ra phía trước trận địa và xung quanh. Tiểu đoàn 7 có nhiệm vụ xuất kích từ trận địa phòng ngự theo đường số 3 đánh lên hướng ngã tư Súc. Khoảng 7 giờ sáng tôi mới nhận được điện lên Trung đoàn họp. Theo nhiệm vụ hiệp đồng 8 giờ nổ súng. Để kịp thời thực hiện, tôi vừa nghe Trung đoàn giao nhiệm vụ vừa điện thoại về cho đồng chí Khai - Chính trị viên ở nhà triệu tập các đại đội trưởng, chính trị viên lên nhận nhiệm vụ. Họp xong tôi chạy như bay về Tiểu đoàn, khi đó mọi người có mặt đủ, ngồi quây tròn trên bãi đất phẳng, tôi ngồi xuống dùng ngón tay vẽ sơ đồ, hiệp đồng các đơn vị, sau đó giao nhiệm vụ cho các bộ phận.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM