Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:27:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đời và những trang nhật ký  (Đọc 6584 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #60 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2026, 09:35:15 pm »

8 giờ hỏa lực chuẩn bị 15 phút, chuyển làn bắn theo yêu cầu của bộ binh. Đại đội 1 bên cánh trái làm nhiệm vụ chủ yếu, Đại đội 2 bên cánh phải làm nhiệm vụ thứ yếu. Đại đội 3 dự bị, Đại đội 4 chi viện chung. Bên cánh trái, đồng chí Phong - Đại đội trưởng báo cáo gặp hồ nước lớn trước mặt, tôi lệnh lên đường số 3 và vòng trái tiếp tục tiến công đánh chiếm ngã ba đường số 37 rồi chốt lại chờ xe tăng và bộ binh lên.


Lúc đầu, do bị ta tiến công bất ngờ, địch nhanh chóng tan rã, nhưng khi ta dừng lại bảo vệ ngã ba đường số 37 thì địch cụm lại tổ chức đánh trả. Hai bên giằng co quyết liệt, Trung đội trưởng Thụy thuộc Đại đội 1 hy sinh, tiếp theo đó là Trung đội phó Tung hy sinh và một số đồng chí bị thương. Bộ binh Tiểu đoàn 9 ngồi trên xe tăng theo đường số 3 tiến về thị trấn Côngpông Trạch, bộ binh Tiểu đoàn 7 bố trí hai bên phải, trái đường số 3 dẫn dắt xe tăng cùng tiến. Do chuẩn bị không kỹ, địa hình không thuộc nên khi xe tăng rẽ vào đường đi Côngpông Trạch thì trời gần tối buộc phải lui quân thật nhanh. Hai bên đường quân địch khá đông, chúng cụm lại chặn đánh xe tăng. Đại đội 1 chốt giữ ngã ba chặn đứng quân địch, sẩm tối, xe tăng vượt qua về Cămpốt, Đại đội 1 chốt lại bị địch vây ba mặt, vừa chiến đấu ngăn chặn, vừa rút theo đội hình cuốn chiếu. Sau một ngày chiến đấu căng thẳng và mệt mỏi, ta diệt hơn 60 tên địch và bắt sống chín tên, thu nhiều vũ khí và trang bị. Quân ta hy sinh năm đồng chí, 23 đồng chí bị thương.


Cuối tháng 2 năm 1979, trong lúc tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng, chủ trương của mặt trận là tập trung lực lượng, hiệp đồng binh chủng mở chiến dịch tiến công lớn vào các căn cứ của địch. Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân khu 9 sử dụng lực lượng tiến công, truy quét trên toàn chiến trường.


Trung đoàn 18 được chi viện hỏa lực pháo binh, không quân, xe tăng, thiết giáp tiến công từ trận địa phòng ngự lên phía trước và các khu vực xung quanh.

Tiểu đoàn 7 được tăng cường một đại đội xe tăng và ô tô - Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 cũ của tôi thời đánh Mỹ. Dự quê Thanh Hóa - Chính trị viên, Cành quê Quảng Bình - đội trưởng đều thuộc lớp cán bộ cũ của đơn vị, gặp nhau anh em mừng lắm, bắt tay ngay vào triển khai chiến đấu. Mờ sáng, pháo 130mm, 122mm bắn cấp tập vào ngã năm, sau đó bộ binh, xe tăng ào ạt tiến công đánh chiếm ngã năm bắt liên lạc với Sư đoàn 320 Quân đoàn 3 từ ngã tư Súc đánh sang. Lúc đầu địch cố chống cự nhưng nhanh chóng tan rã, các điểm chốt đều bị ta tiêu diệt. Trên sử dụng Trung đoàn 18 đánh thẳng vào Quân khu 23 của Pônpốt. Tiểu đoàn 8 do đồng chí Huynh - quyền Tiểu đoàn trưởng đi đầu. Tiểu đoàn 9 do đồng chí Tuân - Tiểu đoàn trưởng luồn sâu, bọc lót phía sau. Tiểu đoàn 7 làm lực lượng dự bị. Trên tăng cường cho Trung đoàn một đại đội pháo 105mm có bốn khẩu, một trung đội pháo cao xạ 37mm có hai khẩu.


Thực hiện lệnh tiến công, Tiểu đoàn 8 ngày đầu không đi nổi 10km, đội hình tiến công hàng dọc, hai bên rừng già nguyên sinh rậm rạp không triển khai lực lượng được, cứ phải đi chậm, dò dẫm trong khi lại liên tục bị địch phục kích, gài mìn, bắn tỉa, đánh chặn. Ngày thứ hai, đội hình đi hàng đôi, đến gần trưa, do chủ quan, mệt, Đại đội 7 đi đầu lọt vào giữa trận địa phục kích của địch. Địch nổ súng chặn đầu, khóa đuôi và hai bên mép ta luy, đủ các loại súng tới tấp nhả đạn, lựu đạn nổ mù mịt. Ta bị động chống trả, lui dần về sau. Đại đội 7 và lực lượng đi đầu bị thương vong lớn, số còn lại rút về sau mất sức chiến đấu. Kết thúc trận đánh, ta hy sinh bảy đồng chí, bị thương hơn 20 đồng chí. Tiểu đoàn thay Đại đội 5 vào và tiếp tục hành tiến. Ra đến bãi bằng, địa hình tương đối trống trải, Trung đoàn điều hai khẩu 37mm đi trước, mỗi khẩu do một trung đội bộ binh đẩy, pháo thủ ngồi trên, bắn ngay khi cần. Gần tối, vượt qua suối lại ngược dốc lên, đầu đội hình vừa chớm chân dốc thì hai bờ bên suối súng nổ ran. Quân ta, một số đồng chí hy sinh tại chỗ, số còn lại nhanh chóng rút xuống suối triển khai, vấp phải mìn gài sẵn của địch, ta hy sinh thêm một số. Hai khẩu pháo cao xạ 37mm kịp hạ nòng đạp cò nhưng vướng cây trước mặt, đạn nổ khiến một số bị thương, trong đó có cả quyền Tiểu đoàn trưởng Huynh.


Chỉ mới có hai ngày đầu mà Tiểu đoàn 8 đã hy sinh, tổn thất quá lớn, tinh thần chiến đấu đơn vị suy giảm. Trước tình hình trên, trong đêm, Trung đoàn triệu tập cán bộ đại đội, tiểu đoàn lên họp, phát huy ý kiến dân chủ. Trung đoàn quyết định thay Tiểu đoàn 7 vào chiến đấu, Tiểu đoàn 8 rút ra làm dự bị.


Về vị trí đóng quân, tôi triệu tập cán bộ giao nhiệm vụ chiến đấu mới. Một giờ sáng, anh nuôi dậy nấu cơm, nước cho bộ đội, 4 giờ sáng phải triển khai chiến đấu xong. Khó khăn lớn nhất bấy giờ là nước ăn, tôi quyết định tập trung từng đại đội đào sâu xuống lòng khe suối cạn, nhờ thế vấn đề nước được giải quyết ngay trong đêm.


4 giờ 30 phút tôi điện bảo cáo Trung đoàn trưởng, đầu dây bên kia là đồng chí trực ban báo lại Trung đoàn trưởng vừa đi ngủ. Đến 5 giờ kém 5 phút tôi lại điện báo cáo, vẫn giọng đồng chí trực ban, tôi gắt lên yêu cầu cho gặp ngay Trung đoàn trưởng. Trung đoàn trưởng cầm máy, tôi báo cáo công tác chuẩn bị xong, đơn vị đã sẵn sàng...


Ngay sau đó, trận địa pháo 105mm nổ ran, kèm theo đó là súng cối các loại, ĐKZ, 12,7mm, tất cả đồng loạt 15 phút. Hỏa lực vừa dứt, bộ binh ta tiến quân. Bị bất ngờ, địch tháo chạy, quân ta truy kích. Tốc độ tiến công rất nhanh, chưa đầy một giờ đồng hồ mà đội hình tiến công đã đi được hơn 3km, bỏ lại Sở Chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn 8 khá xa, trận địa pháo 105mm, cao xạ 37mm không theo kịp chi viện. Trời sáng hẳn, đơn vị cứ bám theo trục đường tiến quân, hai khẩu ĐKZ theo đội hình cuốn chiếu, chỗ nào nghi ngờ là bắn dọn đường cho quân ta tiến.


Khoảng 10 giờ, Tiểu đoàn triển khai về phía điểm cao 105, con đường tiến quân vắt qua dãy núi. Ở phía trước, Đại đội 1 báo về phát hiện có nhiều người, không rõ là ta hay địch. Tôi nhắc Đại đội quan sát kỹ không để nhầm. Tiến cách khoảng 500 - 700m, tôi cho đội hình dừng và cho Đại đội 1 bắn ba phát một. Nhận được tín hiệu quân ta, trên sườn và đỉnh đồi 105 toàn bộ bộ đội Tiểu đoàn 9 đứng dậy nhảy múa vui mừng vì cả tuần xuyên rừng, luồn sâu chặn địch nay mới được gặp lại đồng đội. Bộ đội hai bên ào lên ôm chầm lấy nhau thật sung sướng sau bao nhiêu hy sinh gian khổ đã vượt qua.


Tiểu đoàn 7 vượt qua điểm cao 105, đến ngã ba đường thì dừng lại để xin định hướng, loay hoay mãi cuối cùng triển khai bốn khẩu pháo 105mm bắn ba loạt để xác định hướng đi, tiếp tục tiến thì gặp con suối, hồ nước. Tất cả bi đông bộ đội đã khô, thấy nước ai cũng sà xuống làm một ca đầy, uống một hơi cho đã, rồi dìm bi đông lấy nước vào bình. Ai uống xong cũng nhổ ra vì nước màu vàng, nhớt nhớt lại tanh tanh, nhưng khát quá nên vẫn phải uống. Khi dừng đóng quân quá lên phía trên mới phát hiện có nhiều xác chết nổi lềnh phềnh thối rữa, hôi tanh nồng nặc. Lui lên một đoạn để trú quân lại phát hiện hai hố chôn người tập thể.


Sáng ra, để tiếp tục hành quân, ta lại dùng pháo binh bắn xác định hướng, hai loạt pháo nổ gân đội hình đi đầu do kế toán trinh sát tính toán nhầm phần tử vì bản đồ cũ, may không ai bị thương. Theo đường dân sinh, chúng tôi ra tới chân đèo Píchlin đường số 4. 15 giờ, toàn Trung đoàn ra tới đường số 4. Gần trưa hôm sau, chúng tôi được chở bằng ô tô về Cămpốt. Ngồi trên xe mà lòng cứ lâng lâng vui mừng, thế là sắp được trở về Tổ quốc. Trung đoàn 18 là đơn vị cuối cùng của Quân đoàn 2 rời khỏi nước bạn Campuchia.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #61 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:43:43 pm »

IX. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Quân đoàn 2 là một trong ba quân đoàn chủ lực tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giải phóng đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng. Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1979, Quân đoàn tổ chức những trận đánh và truy quét lớn vào những nơi tập trung quân và hậu phương của địch, sau đó lần lượt các đơn vị rút về nước, nhanh chóng ra Bắc thực hiện nhiệm vụ.


Các đơn vị hành quân đường bộ bằng ô tô, Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 đi máy bay. Trung đoàn 18 rút sau cùng đội hình Quân đoàn vào ngày 6 tháng 3 năm 1979, hành quân từ thị xã Cămpốt qua phà Hà Tiên ngày 7 tháng 3 năm 1979, xuống ga Thái Nguyên sáng 16 tháng 3 năm 1979 rồi tiếp tục hành quân lên Phú Lương tập kết dọc theo đường số 3 đi Cao Bằng.


Sau một tháng tiến công xâm lược dọc tuyến biên giới phía Bắc, do bị áp lực của quốc tế, bị thương vong tổn thất nặng nề, các hướng tiến công đều bị quân ta ngăn chặn và đánh bại, Trung Quốc tuyên bố rút quân. Quân đoàn 2 hành quân thần tốc ra Bắc nhưng chỉ có Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 là tham gia chiến đấu bảo vệ thị xã Cao Bằng cùng Quân khu 1.


Ngày 26 tháng 3 năm 1979, Quân đoàn 2 hành quân về hướng đông bắc, hướng phòng thủ chủ yếu quốc gia. Cụ thể: Sư đoàn 304 đứng chân ở huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn, Mẹt - Lạng Giang - Hà Bắc. Sư đoàn 306 (mới thành lập tháng 11 năm 1978) đứng chân ở Lục Nam - Hà Bắc. Sở Chỉ huy Quân đoàn ở thị trấn Lạng Giang. Các lữ đoàn trực thuộc đứng chặn xung quanh Sở Chỉ huy Quân đoàn trên hai huyện Lạng Giang và Lục Nam. Sư đoàn 325 đứng chân huyện Lục Ngạn, Sơn Động, Sở Chỉ huy Sư đoàn đóng ở xã Nghĩa Hồ thuộc huyện Lục Ngạn.


Đến vị trí mới, tất cả cán bộ, chiến sĩ đều bắt tay vào các công việc rất khẩn trương, còn cán bộ đại đội, tiểu đoàn trở lên đều phải đi trinh sát chuẩn bị chiến trường.

Đối phương sử dụng chiến thuật "biển người", tập trung hỏa lực mạnh, bắn trong thời gian dài, sau đó sử dụng lực lượng đông tiến công hai bên sườn, luồn phía sau. Lực lượng chốt, phòng ngự của ta mỏng nên một số trận địa phòng ngự, chốt của ta bị mất, thương vong tổn thất khá nặng nề. Trên tuyến Hữu Nghị Quan - Đồng Đăng và thị xã Lạng Sơn, quân ta rút sang bờ nam, toàn bộ thị xã Lạng Sơn, khu vực xung quanh tan hoang, đổ nát khi đối phương rút quân.


Lúc xảy ra chiến sự, Trung tướng Đàm Quang Trung - Tư lệnh Quân khu 1, nắm được kế hoạch Bộ điều động Quân đoàn 2 ra hướng Quân khu, đã động viên bộ đội yên tâm giữ chốt, giữ địa bàn, phía sau đã có Quân đoàn 2, quân đoàn chủ lực thiện chiến, có truyền thống và thành tích vẻ vang sẵn sàng chi viện... Vì thế, đi đến đâu chúng tôi cũng được các đơn vị bộ đội và nhân dân đón tiếp nồng hậu, nhiệt tình, giúp đỡ. Chỉ trong một thời gian ngắn, các đơn vị đã chuẩn bị phương án chiến đấu chu đáo, từ Cao Bằng đến Lạng Sơn, Quảng Ninh.


Lúc ra đến Thái Nguyên rồi về Hà Bắc, tôi tranh thủ viết thư về nhà thăm bố mẹ, vợ con. Từ cuối tháng 12 năm 1978 khi đi chiến đấu không có dịp viết thư về làm cả gia đình lo lắng. Đến khi chiến sự diễn ra ở biên giới phía Bắc, em trai tôi là Thiều Chí Hợi đi công nhân địa chất ở Cao Bằng cũng bặt tin làm bố mẹ tôi sốt ruột ra ngóng vào trông, hỏi thăm tin tức khắp nơi và khóc ròng. Vợ tôi thì mới sinh con nhỏ ngày 21 tháng 5 năm 1978. Khi nhận được thư tôi và sau khi đối phương rút quân, em tôi từ Cao Bằng trở về, cả nhà vỡ òa vui sướng.


Trung tuần tháng 4 năm 1979, em tôi đưa mẹ, vợ và con gái đầu của tôi là Thiều Thị Hạnh lên thăm tôi đang đóng quân ở Hồng Giang - Lục Ngạn - Hà Bắc. Từ Vĩnh Tường - Vĩnh Phú lên Hà Bắc chưa đầy 200km mà phải đi hai ngày một đêm mới tới nơi, xe cộ quá khó khăn, đi lại rất gian khổ... thế mà mẹ, vợ con tôi vẫn quyết tâm tìm lên. Nhận được tin, tôi xúc động quá, chạy ra đón cả nhà. Tôi mới gặp con gái một lần vào tháng 8 năm 1978. Con vẫn đang ngả trên vai mẹ ngủ ngon lành, vợ tôi vỗ vỗ vào lưng đánh thức con dậy. Hạnh bừng mở mắt ngoảnh lại ôm chầm lấy bố. Tôi om con mà mắt rưng rưng. Lúc đó con gái tôi 11 tháng tuổi, mới chập chững biết đi.


Đơn vị mới hành quân từ chiến trường ra còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Bộ đội ở nhờ nhà dân không đủ phải căng tăng ở ngoài đồi. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 7 ở tạm khu vực nhà xe cũ nát, trống tuềnh trống toàng, phải lấy phên nứa che tạm. Nằm cũng vậy, phải rải phên nứa xuống đất. Mẹ, em trai, vợ con tôi ở được khoảng chục ngày mà tôi không có nào nghỉ, chỉ khi xế chiều và tối tôi mới có mặt ở nhà. Anh em, bạn bè cùng đơn vị đến thăm khá đông. Hôm mẹ tôi cùng vợ con trở lại quê, tôi phải nhờ anh em đi chen vé từ 2 giờ sáng, mượn hai chiếc xe đạp đèo ra cách Chũ khoảng 7km, lên xe vào lúc hơn 5 giờ, trời vẫn còn lờ mờ tối. Về đến nhà, vợ tôi điện lên báo an toàn mà cũng phải mất năm, sáu ngày tôi mới nhận được điện. Tháng 9 năm 1979, vợ con tôi lên thăm lần thứ hai, khi đó tôi đang ở Giáp Sơn.


Những ngày đầu ở Hồng Giang thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Bộ đội ăn, tắm đều là nước suối tù.

Tháng 5 năm 1979, để luyện tập theo phương án chiến đấu và thị uy đối phương, Quân đoàn 2 dưới sự chỉ đạo của Bộ thực hành một cuộc diễn tập lớn mang tên "Chi Lăng tháng 1 năm 1979". Toàn Quân đoàn xuất quân vào trận. Sư đoàn 325 được tăng cường chi viện hỏa lực theo đường Hữu Nghị II từ Lục Ngạn - Sơn Động - Đình Lập đi Bản Chắt, biên giới Việt - Trung, hành quân liên tục thâu ngày, qua đêm, ban ngày trời nắng như thiêu, như đốt, ban đêm trời lạnh. Bộ đội ngủ tăng võng, ăn ở dã ngoại, cơm nắm, gạo sấy, uống nước suối. Trung đoàn 18 đảm nhiệm tiến công chủ yếu vào khu vực bản Mục, bản Có. Tiểu đoàn 7 được giao luồn sâu, chia cắt đánh thẳng vào đội hình và sở chỉ huy sư đoàn địch, sau đó phát triển lên điểm cao 445 (sông Kỳ Cùng), bản Chắt, khôi phục tuyến biên giới quốc gia...


Cuối tháng 7 năm 1979, một tin vui đến với đơn vị và cá nhân tôi, trên tổ chức tổng kết chiến đấu ở Campuchia, Tiểu đoàn 7 chúng tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, cá nhân tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #62 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:45:01 pm »

Năm này, trên cơ sở văn bản hợp tác toàn diện giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam, Liên Xô tăng cường viện trợ quân sự cho Việt Nam nhằm nâng cao sức mạnh của quân đội. Liên Xô trang bị cho ba sư đoàn bộ binh cơ giới gồm Sư đoàn 304 Quân đoàn 2, Sư đoàn 308 Quân đoàn 1, Sư đoàn 320 Quân đoàn 3.


Sư đoàn 325 là sư đoàn bộ binh tăng cường, cấp tiểu đoàn được nâng lên một đại đội cối 82mm có bốn khẩu, mỗi đại đội bộ binh trang bị thêm hai khẩu đại liên PKMS. Trung đoàn bộ binh có một đại đội cao xạ 23mm với bốn khẩu, một đại đội pháo 76,2mm có sáu khẩu. Sư đoàn có một trung đoàn pháo binh, một tiểu đoàn cao xạ 37mm 12 khẩu, một tiểu đoàn pháo chống tăng 18 khẩu, một tiểu đoàn xe tăng T-54B, một đại đội pháo phản lực BM13 với bốn xe, một đại đội tên lửa A72... Tiểu đoàn 7 chúng tôi được trên giao nhiệm vụ cùng tiểu đoàn xe tăng tham gia tiến công tất cả các hướng chủ yếu của Sư đoàn trên tuyến biên giới Quảng Ninh - Lạng Sơn - Cao Bằng.


Buổi đầu tập làm quen giữa bộ binh và xe tăng, chúng tôi vẽ hình xe tăng và cử một trung đội đứng hai bên hình xe tập hô lên, xuống cho đến khi thành thục mới lấy xe ra tập. Các buổi luyện tập tổng hợp cũng như các cuộc diễn tập sau này, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 16 xe tăng gắn bó thân thiết với nhau.


Kết thúc năm 1979, Trung đoàn 18 được chọn làm thí điểm cho toàn quân về thực hiện chế độ một người chỉ huy, tôi được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy, Tiểu đoàn trưởng. Ban chỉ huy Tiểu đoàn gồm ba người: Tôi là Tiểu đoàn trưởng; đồng chí Đồng, quê Thạch Hà - Hà Tĩnh là Phó Tiểu đoàn trưởng về chính trị; đồng chí Vĩnh, quê Thanh Hà - Hải Dương là Phó Tiểu đoàn trưởng. Đơn vị đóng quân ở xã Giáp huyện Lục Ngạn, tỉnh Hà Bắc, xung quanh là ruộng, đồi, đơn vị ngăn cách với dân một con suối nhỏ. Tiểu đoàn kết nghĩa với Hợp tác xã Thái Hòa do bác An là Chủ nhiệm Hợp tác xã. Hợp tác xã thường điều động trâu cày bừa và bà con xã viên giúp bộ đội cấy lúa, tăng gia, quân dân đi lại gắn bó keo sơn. Từ năm 2008, khi xa Quân đoàn, xa đất Lục Ngạn - Bắc Giang, tôi và gia đình bác An vẫn giữ liên lạc với nhau, tình cảm thật lưu luyến.


Đầu năm 1980, để củng cố và bổ sung cho phương án tác chiến, Quân đoàn, Sư đoàn chủ trương mở đường cơ động bắc huyện Đình Lập, Lạng Sơn làm kinh tế kết hợp quốc phòng, lấy tên là "Mở đường 50" mừng 50 năm Ngày thành lập Đảng. Toàn đơn vị hành quân làm đường ba tháng, gian khổ, đói, rách, rét, tất cả đều khắc phục vượt qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Trung tuần tháng 3, Tiểu đoàn 7 được giao nhiệm vụ: Được tăng cường hỏa lực, trang bị bắn chiến đấu cấp tiểu đoàn do cố vấn Liên Xô và cấp trên chỉ đạo, thực hiện chiến thuật tiểu đoàn bắn chiến đấu với toàn bộ trang bị hiện có. Đây là nội dung từ trước tới nay chưa có, khi nhận nhiệm vụ quả thật tôi rất lo, lo nhất là khâu bảo đảm an toàn nhưng cũng được động viên bởi nhiệm vụ thể hiện sự tin tưởng của cấp trên đối với đơn vị và cá nhân mình. Và quả thực, với sự nỗ lực của toàn đơn vị, chúng tôi đã không phụ lòng tin cậy đó.


Tháng 8 năm 1980, tôi đang chỉ huy bộ đội huấn luyện dã ngoại khu vực đèo Váng thuộc xã Phong Minh thì trên điện về Trung đoàn nhận nhiệm vụ. Tôi được bổ nhiệm Trung đoàn phó - Tham mưu trưởng Trung đoàn 111, Trung đoàn đóng quân ở xã Cẩm Đàn, huyện Sơn Động, tỉnh Hà Bắc. Niềm vui thật bất ngờ và lớn lao, đánh dấu một bước ngoặt của cuộc đời quân ngũ.
Trung đoàn 111 được thành lập năm 1978 thay cho Trung đoàn 101 được cắt về Sư đoàn 968 Quân khu 4. Từ Campuchia về nước, Trung đoàn đóng quân hoàn toàn dã ngoại, không có doanh trại, không ở nhà dân, tự dựng nhà bằng tranh tre vách đất trên địa bàn đồi núi để ở. Cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ gặp vô vàn khó khăn, lại xa Sư đoàn, mỗi lần về Sư đoàn công tác phải đạp xe khoảng 25km. Ban Chỉ huy Trung đoàn gồm: Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Vũ Hồng Thái, quê Nam Định; Đại úy, Phó Trung đoàn trưởng về chính trị Trần Sỹ Kính, quê Thanh Hóa; tôi và đồng chí Phó Trung đoàn trưởng hậu cần, kỹ thuật (sau một thời gian thì bỏ chức danh phó trung đoàn trưởng hậu cần, kỹ thuật). Các tiểu đoàn mang phiên hiệu 1, 2, 3 và tám đại đội trực thuộc.


Tháng 5 năm 1981 tôi được thăng quân hàm Đại úy. Ngày 3 tháng 6 năm 1981 (âm lịch) bố tôi lâm bệnh nặng, qua đời ở tuổi 64. Bố mất được một tuần thì tôi mới nhận được điện báo của vợ. Mặc dù rất đau buồn muốn về nhà ngay nhưng công việc đơn vị bận rộn, đến 49 ngày bố tôi mất cấp trên mới cho tôi về.


Bố tôi mất được hai tuần thì con trai tôi là Thiều Chí Huỳnh cất tiếng khóc chào đời (ngày 17 tháng 7 năm 1981 dương lịch). Con tôi sinh ra không được khỏe mạnh vì thiếu dinh dưỡng, nhưng sau này lớn lên rất đẹp trai, nhanh nhẹn, hoạt bát, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, hiện đang là Phó Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên, vợ là giáo viên cấp Hai, sinh ba con, hai gái: Thiều Mai Anh, Thiều Bảo Khánh và con trai Thiều Chí Trung.


Những năm tiếp theo, do có nhiều biến động về nhiệm vụ và công tác cán bộ, từ Trung đoàn đến Sư đoàn có nhiều thay đổi, lớp cán bộ chống thực dân Pháp dần dần về hưu và về cơ quan Bộ, nhà trường. Tôi lên cơ quan tác chiến Sư đoàn, rồi xuống làm Phó Trung đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Trung đoàn 95, rồi lại sang Phó Trung đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Trung đoàn 101. Tháng 8 năm 1985, tôi được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 và thăng quân hàm Thiếu tá.


Cuối năm 1985, sau khi tổng kết nhiệm vụ và triển khai công tác năm 1986, tôi nghỉ phép hơn một tháng. Gia đình thì nghèo, anh em lại đông, phải tính chuyện tách ra.

Trong thời gian nghỉ phép, hai vợ chồng tôi tự đóng gạch tính xây bếp rộng và có không gian để ở. Nhà có ruộng đất phần trăm, chúng tôi hạ ruộng lấy đất về đóng gạch. Hơn một tháng trời tập trung làm, đóng được gần hai vạn viên gạch mộc, hai vạn viên ngói mũi, phơi khô xếp lại, che đậy rất cẩn thận. Sau này nhờ người đốt cho, nhưng lò xếp đun giữa sân bị sự cố, may mà còn cứu được phần nào vừa xây đủ chiếc bếp ba gian ngoài vườn, trước cửa nhà.


Đóng gạch xây bếp xong thì vợ tôi sinh đứa con thứ tư là Thiều Chí Huynh vào ngày 14 tháng 9 năm 1986. Sinh con nhưng phải nằm viện điều trị, may mà hồng phúc lớn, cháu qua khỏi và cứ lớn dần, trưởng thành theo năm tháng. Là con trai út nên bố mẹ, anh chị rất nuông chiều, nhất là chị gái cả Thiều Thị Hạnh đi đâu, làm gì cũng bồng bế cho em đi theo. Sau này con học Đại học Thể dục thể thao, hiện đang công tác tại Trung tâm Thể dục thể thao Quân đội, vợ là Công an công tác tại Hà Nội.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #63 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:46:36 pm »

Năm 1987, theo dự báo của cấp trên, sẽ lần lượt sử dụng các quân đoàn chủ lực lên tác chiến và thay phiên phòng ngự biên giới phía Bắc, đặc biệt là tuyến biên giới Vị Xuyên Tháng 3 năm 1987, Bộ mở đợt tập huấn toàn quân tại chiến trường Vị Xuyên các nội dung huấn luyện chiến đấu lên chốt thay quân, sinh hoạt của bộ đội...


Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 được Bộ chính thức giao nhiệm vụ thay quân vào tháng 8 năm 1987. Các đơn vị được bổ sung quân số, trang bị và huấn luyện trước khi bước vào chiến đấu. Toàn Sư đoàn lấy địa hình Chi Lăng - Lạng Sơn để huấn luyện bộ đội sát thực tế của chiến trường Vị Xuyên.


Trung tuần tháng 3 năm 1988, Sư đoàn tập kết tại Nông trường Việt Lâm, bổ sung trang bị, làm công tác chuẩn bị để vào thay phiên cho Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 rút ra. Theo kế hoạch của trên, việc thay phiên diễn ra trong bốn đêm. Đêm đầu tiên chỉ huy từ cấp trung đội trở lên vào nắm tình hình, làm quen việc, trang bị, thông tin, địa hình. Ba đêm còn lại, mỗi đêm một phần ba quân số lần lượt bí mật vào...


Cuối tháng 3 năm 1988, tất cả các đơn vị vào phòng ngự thay cho Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 rút ra, Trung đoàn 95 hy sinh một đồng chí tiểu đội trưởng quê Bắc Thái.

Sau khi thay phiên, tôi đi kiểm tra toàn tuyến của Trung đoàn và quyết định họp phiên Đảng ủy Trung đoàn củng cố niềm tin, động viên tinh thần hy sinh, vượt qua gian khổ cho cán bộ, chiến sĩ; đề nghị cấp trên điều chỉnh và rút bớt lực lượng phía trước để giảm bớt quân số phục vụ bảo đảm, nhất là khu vực phòng ngự bốn hầm, khu H. Sau Hội nghị Đảng ủy, một chiến dịch được phát động trong quần chúng, thanh niên, đảng viên, cán bộ toàn đơn vị về làm hầm hào, sửa sang công sự kiên cố, vững chắc (áo giáp sắt) để chiến đấu lâu dài. Đêm tối, sáng trăng đều phải làm, không khí rất nhộn nhịp.


Vào thay phiên được hơn ba tháng thì toàn là lao động, củng cố công sự, hầm hào. Khi trận địa phòng ngự tương đối vững chắc, chúng tôi đề nghị Sư đoàn sử dụng hỏa lực pháo binh, súng cối đánh trả khi cần.

Trưa ngày 22 tháng 6 năm 1988, bộ phận phòng ngự khu vực bốn hầm vừa ăn cơm xong, kịp phân tán vào các ngách hầm, một quả cối 100mm rơi lọt cửa, nổ tung khiến một đồng chí hy sinh, làm bị thương hai đồng chí. Nghe Tiểu đoàn trưởng Tuyến báo, tôi ra lệnh cho bộ đội phòng tránh, chờ thời cơ lên cấp cứu thương binh. Vừa dứt lời thì một quả cối 100mm lại rơi sát mép cửa hang Mán Thượng khiến hai đồng chí hy sinh, làm bị thương bốn đồng chí, trong đó có Thượng úy, Tiểu đoàn phó về chính trị Tiểu đoàn 1 và Đại đội trưởng Đại đội 2.


Khi ta thay quân thì đối phương cũng thay quân, ổn định tình hình thì chúng bắn để xác định lại các phần tử. Tôi lệnh cho toàn Trung đoàn cảnh giác đề phòng. Đến chiều, phát hiện các trận địa của địch, tôi báo cáo Sư đoàn và ra lệnh các trận địa đánh trả. Bốn đại đội cối 82mm, 120mm đều bắn chính xác. Hai bên nổ súng quyết liệt, một trận đấu pháo giữa hai bên chưa có từ trước đến nay. Hai bên dừng tiếng súng thì trời tối.


Các đài quan sát bộ binh, pháo binh, binh chủng và trận địa được tôi giao nhiệm vụ rất cụ thể, chặt chẽ và thường xuyên nắm chắc địch phía trước, các hoạt động, các trận địa pháo binh địch mới xuất hiện để có thời cơ là đánh trả. Cứ như vậy, hỏa lực pháo binh của ta bí mật đánh trả pháo binh, bộ binh địch rất hiệu quả. Từ tháng 6 năm 1988 cho đến cuối năm 1988, khi đơn vị rút, địch rất sợ pháo binh, hỏa lực của ta, mọi hoạt động giữ bí mật, đi lại kín đáo chứ không còn dám ngạo mạn, giương oai.


Tháng 8 năm 1988, trên hướng H4 bình độ 300, địch đào trận địa mở rộng, hướng lỗ châu mai to, rộng về hướng trận địa Đại đội 7. Trung đoàn điều khẩu đội ĐKZ 82mm lên, chớp thời cơ bắn liền hai phát làm sập hầm, địch chết và khẩu chống tăng bị diệt mà chúng không dám phản ứng. Tuy nhiên, các đơn vị phòng ngự trước bị chúng dùng pháo bắn cả ngày uy hiếp đến nỗi ăn, vệ sinh ngay trong hầm chứ không ra ngoài được.


Trên khu H gồm H3 (Pho Tượng), bốn hầm, quân ta làm chủ và hoạt động địch vận tốt nên bớt phần căng thẳng, đi lại cũng dễ dàng hơn.

Mặt trận Vị Xuyên, khó khăn nhất là công tác bảo đảm cho bộ đội về mặt hậu cần. Hơn 600 quân trên chốt mà lực lượng còn lại của cả trung đoàn gùi, thồ bảo đảm, mỗi ngày mỗi người từ một đến hai chuyến chuyển hàng lên, sau này anh em quen dần, nâng lên gấp đôi nên đi một lần là xong. Cứ sáng tinh mơ hoặc chiều tối qua đài quan sát và Sở Chỉ huy Trung đoàn ra lệnh là đi theo từng tốp, từng tổ mang hàng lên chốt gồm: Gạo, đạn, nước... xong về là tắm giặt nghỉ ngơi và điệp khúc hôm sau lại thế cho đến hết nhiệm vụ phòng ngự năm 1988. Sau này, tôi cho cải tạo trước cửa hang Mán Thượng một cái giếng trời, cứ mưa to là đủ nước gùi lên chốt, bộ đội không phải xuống suối cụt lấy nước, vừa giảm công sức vừa đỡ nguy hiểm.


Ngoài thực phẩm theo chế độ trên cấp và cải thiện rau rừng, măng đắng đưa vào bữa ăn, chúng tôi còn triển khai các chốt, Sở Chỉ huy Trung đoàn nuôi thêm gà, chó, lợn, trồng rau bầu, bí. Sở Chỉ huy Trung đoàn có giàn mướp khá tốt, nhiều quả, không chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp của Sở Chỉ huy, mà còn giúp cho việc ngụy trang kín đáo. Trên chốt, bộ đội rất khéo tay, làm cả giá đỗ, đậu phụ,... Cuộc sống tuy ác liệt, gian khổ, khó khăn nhưng chúng tôi, những người lính giữ chốt, giữ biên cương Tổ quốc vẫn cứ lạc quan, yêu đời.


Ngày 5 tháng 9 năm 1988, kỷ niệm 43 năm Ngày truyền thống Trung đoàn 101, bộ phận hậu phương gửi rượu vang, rượu chanh, rượu nút lá chuối và thịt lợn, bò, gà... lên chốt phân phát cho các đơn vị, không khí nhộn nhịp. Các trận địa đều điện về Sở Chỉ huy Trung đoàn chúc mừng, tôi điện lại nhắc cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu tốt, quyết tâm giữ vững trận địa, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tô thắm truyền thống Trung đoàn 101 (Cao Vân) anh hùng.


Chiều 5 tháng 9 năm 1988, các loại pháo lớn của địch bắn mạnh sang trận địa ta, nắm thời cơ, tôi lệnh đồng loạt pháo binh đánh trả. Hai bên đấu pháo hết buổi chiều, địch sử dụng pháo nòng dài 130mm bắn qua thị xã Hà Giang, nhân dân chạy toán loạn, phía sau dân chúng tưởng là đối phương tiến công lấn chiếm chốt.


Khi Trung đoàn 101 sử dụng pháo binh đánh trả, thấy vậy Trung đoàn 18, Trung đoàn 95 báo sang hiệp đồng chí viện và cũng bắn trả. Kết thúc trận đánh, đồng chí Tùng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 18 điện sang bảo tôi lần sau có bắn nhớ điện sang cho Trung đoàn 18 tham gia.


Đầu tháng 11 năm 1988, Sư đoàn 325 bàn giao phòng ngự Vị Xuyên cho Sư đoàn 316 Quân khu 2. Chúng tôi có một tuần làm công tác chuẩn bị, sau đó bí mật giao phiên. 10 tháng chiến đấu đầy kinh nghiệm nên hai sư đoàn bàn giao rất nhanh, gọn, bí mật. Những ngày bàn giao, địch sử dụng pháo binh, súng cối bắn phá ác liệt nhưng chúng ta thay quân vẫn bảo đảm an toàn. Toàn bộ cấp phó chỉ huy bộ đội ra tập kết và tổ chức hành quân về hậu cứ, cấp trưởng ở lại bàn giao trận địa, vũ khí, trang bị chiến trường ra sau.


Sáng hôm sau, cả đoàn chúng tôi tổ chức ra viếng nghĩa trang liệt sĩ của Sư đoàn, thắp hương kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc. Sư đoàn 325, một trong bảy sư đoàn lên tham gia chiến đấu ở Vị Xuyên, được Bộ đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được toàn quân phổ biến học tập, trong đó có công tác chính trị, tư tưởng, công tác dân vận. 10 tháng chiến đấu oanh liệt, Sư đoàn đã có 43 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, riêng Trung đoàn 101 có 11 liệt sĩ trong cả quá trình chiến đấu.


Cuối tháng 11 năm 1988, toàn Sư đoàn hành quân về đến hậu phương Lục Ngạn, nhanh chóng ổn định, củng cố và làm nhiệm vụ tiếp theo. Địa phương, đơn vị bạn xung quanh, cấp trên, học viện, nhà trường liên tục đến thăm và tặng hoa chúc mừng thành tích chiến đấu ở biên giới của các trung đoàn, Sư đoàn. Trung đoàn 101 chúng tôi được Thiếu tướng Nguyễn Công Trang và Khoa Công tác đảng, công tác chính trị Học Viện Quân sự cấp cao đến thăm, chúc mừng và học tập kinh nghiệm. Sau đó, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm và chúc mừng đơn vị.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #64 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:49:18 pm »

X. NHỮNG THÁNG NĂM HÒA BÌNH

Để xây dựng quân đội chính quy, hiện đại như chủ trương của Đảng, cán bộ phải có trình độ học vấn, chuyên môn tương xứng, vì thế tất cả cán bộ các cấp đưa vào nguồn phát triển mà chưa học hết cấp Ba đều phải đi học. Hết năm 1988, tôi bàn giao Trung đoàn trưởng cho Đại úy Mai Ngọc Tác (quê Thanh Hóa) từ Trung đoàn 95 sang thay, tôi đi phép, nghỉ Tết rồi đầu tháng 2 năm 1989 lên Trường Văn hóa Quân đoàn 2 học 18 tháng. Tháng 8 năm 1989 tôi được thăng quân hàm Trung tá.


Lớp tôi có tất cả hơn chục đồng chí, tôi là người tuổi quân, tuổi đời, chức vụ cao nhất, rồi đến đồng chí Đặng Thái Nhã - Thiếu tá, Phó Trung đoàn trưởng về chính trị Trung đoàn 18, còn lại là cánh trẻ, phần lớn là cán bộ của Sư đoàn 325.

Chúng tôi học các môn toán, vấn, lý, hóa một tuần năm buổi, tối tự ôn. Mặc dù đã nhiều tuổi và gác bút nghiên từ lâu, kiến thức mai một nhưng chúng tôi đều rất chăm chỉ, khiêm tốn, chấp hành nghiêm kỷ luật Nhà trường. Trưa thứ Bảy đến Chủ nhật, trừ những đồng chí ở xa, còn lại đều được về tranh thủ, tôi đem theo chiếc xe đạp để tuần nào cũng về nhà.


Từ trường về nhà mất khoảng gần bốn giờ đạp xe, tuần nào cũng vậy, chả thế mà có 18 tháng học mà ba chiếc quần sờn, rách đít, rách gối phải khâu. Cuộc sống cả nước bấy giờ đang khó khăn thiếu thốn, nên hết giờ là lại đi bắt cá, mò cua, hái rau rừng để cải thiện, ở nhà, vợ tôi đau yếu liên miên, hết đi Viện 109 lại Viện 43, Bệnh xá Nhà trường. Bốn đứa con còn nhỏ đều đi học, cáng đáng trông nhau, lại còn mấy sào ruộng, hai con lợn trong chuồng... nhưng may mắn tôi có con gái lớn Thiều Thị Hạnh dù mới chỉ 11 tuổi đã rất tháo vát, giỏi giang, lại được nhờ bà nội, anh em trong gia đình lo toan để vợ tôi đi chữa bệnh suốt mấy năm trời. Đến khi tôi về học Học viện Quân sự cấp cao vẫn còn phải lo đưa vợ đi Viện Quân y 108 chạy chữa trong một thời gian dài. Thật may, tất cả khó khăn đều trôi qua.


Tháng 6 năm 1990, chúng tôi tốt nghiệp cấp Ba, các đồng chí trong lớp đều về đơn vị công tác, riêng tôi lại tiếp tục theo học Học viện Quân sự cấp cao, nhà trường lớn nhất toàn quân, trong hai năm 1990 - 1992.

Tôi là một trong những sĩ quan nhiều may mắn, được đào tạo rất cơ bản theo hệ thống cán bộ chính quy từ sơ cấp, trung cấp đến cao cấp. Năm 1971, từ Cánh Đồng Chum tôi được về đào tạo sĩ quan lục quân khóa 33, ra trường tháng 8 năm 1972, vào chiến trường Quảng Trị. Năm 1976 - 1978, tôi được đi học trung - cao Đà Lạt, ra trường đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng... Lần này, tôi đến trường với niềm tự hào, hãnh diện được học tập tại ngôi trường lớn nhất của Quân đội, đào tạo những sĩ quan chỉ huy tham mưu cao cấp, nguồn tướng lĩnh Quân đội ta sau này.


Lớp học của tôi có 29 học viên, khai giảng ngày 5 tháng 9 năm 1990.

Những ngày đầu, chúng tôi được học cấu tạo, tính năng, tác dụng, cách sử dụng các loại vũ khí của các binh chủng, quân chủng như: Pháo binh, phòng không, thông tin, trinh sát, hóa học, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa phòng không mặt đất, tên lửa biển, hải quân, không quân... Học lý thuyết ở trường sau đó lần lượt đến các trường sĩ quan xung quanh, thành phố Sơn Tây để thực tế pháo binh, phòng không, công binh; đi Hải Phòng, Quảng Ninh tham quan hải quân, tàu chiến, tên lửa bờ... Tiếp sau là học chiến thuật cấp sư đoàn, chiến dịch tiến công, phòng ngự; học các nội dung về triết học, đường lối của Đảng, công tác đảng, công tác chính trị... Sáng lên lớp năm tiết, chiều tự nghiên cứu, tự ôn, tuần học từ thứ Hai đến thứ Bảy, tháng có xe tuyến về tranh thủ một lần.


Năm thứ nhất, Nhà trường cho nhận đề tài, chuẩn bị tài liệu viết tiểu luận, năm thứ hai viết luận văn cho tùy chọn đề tài. Tôi chọn tiểu luận năm thứ nhất, luận văn tốt nghiệp năm thứ hai đều với đề tài "Sư đoàn bộ binh tiến công địch ở địa hình rừng núi buộc địch phải đổ bộ đường không ra ứng cứu giải tỏa". Đại tá Đinh Quang Cựu, quê Hải Dương, giáo viên Khoa Chiến thuật là giáo viên hướng dẫn viết luận văn; Đại tá Nguyễn Văn Độ, giáo viên Khoa Chiến thuật là giáo viên phản biện.


Hai thầy hướng dẫn, chỉ đạo tôi rất nghiêm túc, tỷ mỷ từ khi nhận tài liệu, nghiên cứu, tổng hợp đến khi viết luận văn. Tôi phải thông qua đi thông qua lại nhiều lần, chỉnh sửa những lỗi rất chi tiết của luận văn tốt nghiệp, còn phải một mình đóng cửa luyện tập cho đến khi thành thục. Sự chỉ bảo của các thầy và sự nỗ lực của bản thân đã đem lại kết quả, bảo vệ luận văn cuối khóa, thi tốt nghiệp quốc gia tôi đạt xuất sắc với số điểm tối đa, cao nhất khóa học, được Học viện khen thưởng.


Hai năm học tại Học viện Quân sự cấp cao là lúc tình hình thế giới, trong nước đầy những biến động, nếu không xác định tốt và giữ vững niềm tin thì không thể học được. Cuộc sống cũng đầy khó khăn, lương thấp, vợ ốm, các con còn nhỏ. 29 học viên chúng tôi chỉ có một số đồng chí điều kiện kinh tế khá giả, số còn lại chỉ dám dùng tiền lương ít ỏi mua xà phòng, kem đánh răng, còn lại tiết kiệm nuôi vợ con ăn học, không dám mua sắm, chi tiêu cho bản thân.


Tháng 7 năm 1992, tốt nghiệp Học viện, tôi và Phạm Ngọc Khóa được điều trở lại Quân đoàn 2.

Đầu tháng 9 năm 1992, tôi trở lại Sư đoàn 325 đang đóng quân ở huyện Lục Ngạn. Chỉ huy Sư đoàn gồm: Đại tá Trần Văn Loạn - Sư đoàn trưởng; Đại tá Nguyễn Hữu Khải - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn, Phó Sư đoàn trưởng về chính trị; Thượng tá Trịnh Đình Thức - Phó Sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (đến tháng 12 năm 1992 anh được bổ nhiệm làm Phó Tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện của Quân đoàn 2 và tôi thay vị trí của anh).


Cuối năm, Quân đoàn chỉ đạo Sư đoàn chuẩn bị và diễn tập cấp Sư đoàn có thực binh và bắn đạn thật tại Trường bắn Quốc gia, thực hiện đề tài của Học viện Quân sự cấp cao do Bộ chỉ đạo: "Sư đoàn bộ binh mang vác tiến công địch phòng ngự ở địa hình rừng núi". Tôi được phân công chỉ huy hậu cứ và đón tiếp khách, là dịp được gặp lại các thầy ở Học viện và bạn bè cùng lớp, mới xa nhau cách đó mấy tháng. Kết thúc diễn tập, do biên chế, vũ khí trang bị thay đổi nên cách đánh cũng phải thay đổi, còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh.


Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 và Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 được Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chọn là hai đơn vị xây dựng điểm toàn quân về sư đoàn vững mạnh toàn diện, làm căn cứ nhân rộng ra toàn quân học tập. Do đó, về tổ chức biên chế, trang bị đều phải thống nhất rất cao, cán bộ được chọn lọc có đủ năng lực, phẩm chất để huấn luyện và xây dựng đơn vị theo yêu cầu mới. Cấp trên cũng đầu tư xây dựng nâng cấp, sửa chữa doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp. Sau những năm xây dựng, nhiều cán bộ nghỉ hưu lên đơn vị tham quan hết sức ngạc nhiên và trầm trồ khen ngợi.


Tháng 8 năm 1993, tôi được thăng quân hàm Thượng tá, chuyển từ sĩ quan trung cấp lên sĩ quan cao cấp, một bước chuyển rất quan trọng trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Dù biết chắc ngày đó sẽ tới nhưng trong lòng tôi không khỏi bâng khuâng xúc động, nghĩ về cuộc đời đã trải qua, về bạn bè đồng chí, về gia đình và quê hương.


Tháng 8 năm 1997, tôi được thăng quân hàm từ Thượng tá lên Đại tá. Tháng 10 năm 1997, tôi được bổ nhiệm giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325. Không phụ lòng tin của cấp trên và sự trông cậy của cấp dưới, tôi cùng chỉ huy Sư đoàn: Đại tá Phạm Quang Tách - Phó Sư đoàn trưởng về chính trị (đến tháng 8 năm 1998 đồng chí Nguyên thay), Đại tá Lê Đình Chinh - Phó Sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng, Đại tá Trịnh Khắc Tính - Phó Sư đoàn trường quân sự là một tập thể đoàn kết, trách nhiệm, đổi mới xây dựng Sư đoàn vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao, nâng cao chất lượng cuộc sống và bữa ăn bộ đội.


Tháng 3 năm 1998, đón Tết cổ truyền xong, đơn vị vừa ra quân huấn luyện thì vinh dự được Trung tướng Đào Trọng Lịch - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và cơ quan Bộ xuống kiểm tra huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Qua nghe báo cáo tình hình Sư đoàn huấn luyện sẵn sàng chiến đấu (nhất là các phương án Quân đoàn giao cho Sư đoàn), xuống kiểm tra ăn ở, huấn luyện của Trung đoàn 95, đồng chí khen ngợi và động viên Sư đoàn. Lúc ăn cơm, đồng chí hỏi thăm quê quán của tôi, thấy gia đình tôi còn khó khăn, đồng chí rất chia sẻ và giới thiệu tôi với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh để tạo điều kiện giúp đỡ. Thế nhưng tôi chưa kịp thực hiện lời Thủ trưởng dặn thì Thủ trưởng bị tai nạn máy bay hy sinh tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nước bạn Lào tháng 5 năm 1998. Chỉ mới gặp một lần nhưng Trung tướng Đào Trọng Lịch đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc về một vị tướng chỉ huy tài năng, đức độ, luôn quan tâm đến đời sống cấp dưới.


Cuối năm 1998, trên tổ chức và chỉ đạo Quân đoàn 2, Quân khu 3 diễn tập chiến dịch phản công địch trên địa bàn Quân khu 3, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương về Hà Nội, do Thượng tướng Nguyễn Chơn - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng ban Chỉ đạo. Diễn tập có chỉ huy cơ quan Quân đoàn, chỉ huy cơ quan các đơn vị trong toàn quân đến dự. Sư đoàn 325 gồm: Chỉ huy cơ quan Sư đoàn, chỉ huy cơ quan Trung đoàn 18, Trung đoàn 95 và toàn bộ Trung đoàn 101 thực binh. Cuộc diễn tập diễn ra hai tuần, chuyển trạng thái toàn bộ các đơn vị, tập kết khu vực rừng núi Chí Linh dọc đường số 18. Khu vực tác chiến giả định của chiến dịch là quân địch đổ bộ đường biển lên Quảng Ninh, Hải Phòng đánh chiếm toàn bộ ven biển Quân khu 3, tiến công theo đường số 18 và đường số 5 là chủ yếu, đánh chiếm Bắc Ninh và mục tiêu chủ yếu là Thủ đô Hà Nội.


Cuộc diễn tập kết thúc, Sư đoàn 325 được trên đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đàm bảo an toàn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #65 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:50:52 pm »

Những năm tiếp theo, tôi và chỉ huy Sư đoàn luôn đi sát đơn vị để chỉ đạo xây dựng điểm một số mặt, trong đó có ăn ở, đời sống và nâng cao chất lượng huấn luyện. Cán bộ cấp tiểu đoàn, trung đoàn và cơ quan giữa hai giai đoạn huấn luyện đều phải tập trung tập huấn 10 ngày. Trong tập huấn, đội ngũ cán bộ được tổ chức, biên chế trang bị theo từng tiểu đội bộ binh; các chế độ ngày, tuần, 24 đầu công việc trong ngày... đều thực hiện nghiêm túc. Đây thực sự là một cuộc đổi mới về chất lượng huấn luyện, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy của Sư đoàn.


Về hậu cần đời sống, hội thi doanh trại xanh, sạch, đẹp; phong trào vườn, ao, chuồng, giàn... được nhân rộng trong toàn Sư đoàn mang lại hiệu quả thiết thực, được các đơn vị về tham quan học tập. Mô hình đó còn được phát huy, nhân rộng đến nhiều năm sau này.


Tháng 7 năm 2000, Bộ chỉ đạo Sư đoàn 325 diễn tập TN-20 với đề mục "Trung đoàn bộ binh được tăng cường cơ động phản kích nhanh" theo đề tài mới của Bộ. Lực lượng tham gia diễn tập gồm Trung đoàn 101 được tăng cường một đại đội thiết giáp 60PB, một đại đội pháo 122mm (bốn khẩu), một đại đội pháo cao xạ 37mm hai nòng và một số binh chủng khác, ba máy bay trực thăng, gần 200 ô tô các loại. Ban Chỉ đạo ba cấp: Sư đoàn, Quân đoàn 2, Bộ Quốc phòng, do Bộ chủ trì.


Trung đoàn 101 biên chế đủ gần 2.000 quân, làm công tác chuẩn bị và sẵn sàng bước vào diễn tập. Cuộc diễn tập đúng vào mùa mưa, mưa to kéo dài, nước sông Lục Ngạn, Lục Nam lên to, chảy xiết. Trung đoàn Công binh 219 tăng cường bắc cầu phao để bộ binh, xe pháo đi qua. Ban Chỉ đạo cùng Trung đoàn ngồi xe cơ động trên hai hướng:


Hướng thứ yếu theo trường bắn, đường số 31 - Sơn Động, Mai Siu, tây dãy núi Yên Tử - Tân Mộc, cắt ra Uông Bí - Quảng Ninh.

Hướng chủ yếu gồm bộ binh, xe thiết giáp, pháo binh, cao xạ... từ trường bắn qua Chũ, Lục Nam, Trại Mít vượt cầu phao sông Lục Nam, Tân Mộc qua dãy núi Yên Tử, Uông Bí - Quảng Ninh là nơi diễn tập.

Quá trình hành quân, hai hướng không liên lạc được với nhau, đội hình bị chia cắt vì sông suối, trời tối, bộ đội đói mệt, cán bộ toàn quân đến tham quan học tập cũng bị lạc nhiều đoạn, mãi đến gần diễn tập mới thu đủ các đầu mối đơn vị.

Theo kịch bản, cán bộ bám nắm "địch" và dẫn quân vào trận địa, pháo sáng bắn lên, hỏa lực chuẩn bị, sau đó bộ binh, xe thiết giáp 60PB tò các mũi, các hướng tiến công tiêu diệt "quân địch" trong khu vực phân công; kết thúc thu quân, hành quân về đơn vị. Thế nhưng kết quả không mỹ mãn, Bộ không rút ra được vấn đề gì mới ngoài cách đánh truyền thống.


Tháng 10 năm 2000, tôi được Đại tướng Phạm Văn Trà - Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thường vụ Quân ủy Trung ương gặp mặt trao quyết định bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Nhận bàn giao của đồng chí Phạm Ngọc Khóa, từ đầu năm 2001, tôi bắt tay ngay vào chuẩn bị Đại hội Đảng bộ Bộ Tham mưu và Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 2001 - 2005. Tại Đại hội Đảng bộ Quân đoàn, tôi được số phiếu tín nhiệm cao tuyệt đối và được bầu vào Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn.


Xác định công tác huấn luyện cán bộ là then chốt, việc đầu tiên mà tôi tham mưu cho Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn là tăng cường huấn luyện cán bộ. Lớp tập huấn tập trung đầu tiên do Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ đạo, thành phần gồm cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, cơ quan Quân đoàn; lớp thứ hai là quân nhân chuyên nghiệp. Lớp tập huấn được biên chế thành tiểu đội, trung đội, được rèn luyện chính quy, duy trì nghiêm kỷ luật. Qua 10 ngày học tập, tất cả các cán bộ đều nhận thấy nội dung rất thiết thực và hiệu quả để xây dựng đơn vị. Lớp tập huấn được đặt cho cái tên gần gũi và thiết thực là: 10 ngày làm chiến sĩ. Về sau, hình thức tập huấn này được Bộ đánh giá cao và nhân rộng.


Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2002, tôi được đi học lớp bổ túc A tại Học viện Chính trị tại Hà Đông.

Tháng 2 năm 2004, tôi được bổ nhiệm Tư lệnh Quân đoàn 2 thay đồng chí Phạm Ngọc Khóa về làm Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Mấy anh em trong Bộ Tư lệnh sống với nhau hòa thuận, đoàn kết, rất tâm đồng ý hợp. Tôi và anh Lương Cường - Phó Tư lệnh Chính trị rồi Chính ủy khi thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW (anh Lương Cường hiện là Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Chúng tôi luôn bên nhau lúc công việc cũng như khi thể thao, quan tâm chia sẻ với nhau cả việc chung cũng như việc riêng.


Trên cương vị mới, tất cả anh em chúng tôi phấn khởi, đoàn kết triển khai các nhiệm vụ, trọng tâm là nhiệm vụ kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống Quân đoàn 2 anh hùng.

Tháng 12 năm 2004, tôi được thăng quân hàm Thiếu tướng. Anh em, bạn bè, đồng đội đến chúc mừng, vợ con tôi ở quê ra có mặt trong ngày vui đó. Có được thành công đó, tôi không bao giờ quên ơn nghĩa tổ tiên, gia đình, quê hương và đồng chí, đồng đội. Ngay ngày hôm sau, tôi cùng vợ con về quê thắp hương bàn thờ tổ tiên, thưa với bà con làng xóm.


Tháng 3 năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức cho một đoàn cán bộ từ cấp trung đoàn, lữ đoàn trực thuộc, chỉ huy cơ quan sư đoàn, Quân đoàn đi thăm lại chiến trường xưa và trinh sát dọc theo biên giới từ Quân khu 5 đến hết Quân khu 7. Đây là dịp tôi gặp lại nhiều bạn bè, đồng chí gắn bó trong chiến đấu, trong công tác và học tập. Trong dịp này, tôi được trở lại bán đảo Sơn Trà nói chuyện với bộ đội về thời gian cách đó 30 năm, ngày 29 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 cùng xe tăng tiến công đánh chiếm đèo Hải Vân, qua cầu Trịnh Minh Thế, tiến thẳng vào thành phố Đà Nẵng cùng các đơn vị bạn giải phóng Đà Nẵng, đại đội tôi, đơn vị đầu tiên đánh chiếm và chốt giữ bảo vệ toàn bộ khu vực ra đa viễn thông... Thật không ngờ, sau đúng 30 năm tôi lại có mặt và nổi chuyện với bộ đội ở đây, khu vực ra đa viễn thông, con mắt thần của biển, giữ gìn biển đảo của Tổ quốc.


Trong dịp lễ kỷ niệm 30 năm Ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 2005, tôi cùng vợ theo giấy mời vào Thành phố Hồ Chí Minh dự lễ. Thủ trưởng Nguyễn An Gang - nguyên Chính ủy Trung đoàn 18, đang nghỉ hưu tại quận Gò Vấp, biết tin tôi vào đã mời đến nhà. Người nọ thông tin cho người kia, thế mà có đông đủ nguyên cán bộ Quân đoàn 2 đang ờ Thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm đến họp mặt: Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (nguyên Tư lệnh Quân đoàn), anh Đinh Thế Huynh - Tổng Biên tập Báo Nhân dân, anh Quốc Triệu - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội... Chúng tôi xúc động nghẹn ngào ôm lấy nhau không nói được thành lời. Về nghỉ hưu nhưng Chính ủy An Giang vẫn rất ham và giỏi làm kinh tế, nay đang giữ chức Giám đốc Nhà máy bia. Vợ anh, chị An, ở tuổi gần 70 vẫn nét thùy mị, nhỏ nhẹ như ngày nào, tiếp chúng tôi như người thân đi xa lâu ngày gặp lại.


Tháng 1 năm 2007, tôi lại có dịp đi tiếp địa hình Quân khu 9 từ Đồng Tháp, An Giang, Hà Tiên, Kiên Giang ra đảo Phú Quốc, dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia thăm lại chiến trường xưa. Chúng tôi vào thắp hương tưởng niệm đồng bào Ba Chúc (Bảy Núi - An Giang) bị Pônpốt giết hại, thắp hương cho đồng đội ở nghĩa trang dốc Bà Đắc, nghĩa trang Hà Tiên (là hai nghĩa trang đều có các liệt sĩ của Quân đoàn).


Cuối năm 2007, tôi được bổ nhiệm Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng. Vậy là chia tay Quân đoàn, nơi tôi đã gắn bó mấy mươi năm cuộc đời quân ngũ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #66 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:51:25 pm »

LỜI KẾT


Sinh ra ở vùng quê nghèo, nhà đông anh em, được bố mẹ nuôi ăn học đến hết lớp Bảy phổ thông, tôi một mực đi bộ đội. Năm ấy tôi ở tuổi 17, cả xã chỉ có một mình tôi lên đường nhập ngũ.

Từ ngày nhập ngũ đến khi nghỉ hưu là 44 năm cuộc đời gắn bó với Quân đội, trong đó tôi gắn bó nhất với các đơn vị Quân đoàn 2. Tôi cùng đồng đội trải qua các chiến trường vô cùng gian khổ, ác liệt như Cánh Đồng Chum (Lào), Quảng Trị 1972, tham gia các chiến dịch giải phóng miền Nam, bảo vệ Tổ quốc ờ biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng năm 1979, phòng thủ ở biên giới Vị Xuyên năm 1988. Cuộc đời tôi trải qua những gian lao, hiểm nguy nhưng nhìn lại cũng nhiều may mắn. Tôi đã đi qua chiến tranh để về với gia đình, được đào tạo qua năm trường Quân đội, trải qua nhiều chức vụ và được thăng quân hàm đến Trung tướng... Đó không phải chỉ là nhờ sự may mắn, mà còn từ chính sự tu dưỡng, rèn luyện, ý chí phấn đấu của bản thân; nhờ hồng phúc của tổ tiên và được gia đình, làng xóm, đồng đội, anh em, bạn bè giúp đỡ, nhất là sự hy sinh lớn lao của người vợ hiền... lòng tôi luôn luôn trân trọng và hàm ơn những giúp đỡ, hy sinh đó.


Ngoảnh lại quá khứ 70 năm của cuộc đời, đặc biệt là những năm đánh giặc trên các chiến trường, tôi tự hào về những gì mình đã trải qua và làm được, hạnh phúc vì có một gia đình viên mãn. Tôi ghi lại những dòng này làm kỷ niệm và tri ân đồng đội, anh em, bạn bè, quê hương và gia đình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM