Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:07:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Trị - Thiên 1972  (Đọc 2859 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:31:43 pm »

Hướng Tây được Bộ Tư lệnh Chiến dịch chọn làm hướng tiến công chủ yếu. Lực lượng địch ở đây gồm có Trung đoàn 56, ở điểm cao 544, Ba Hồ, Đầu Mầu, sở chỉ huy của chúng ở điểm cao 241, Lữ đoàn thủy quân lục chiến ở Động Toàn, điểm cao 365, sở chỉ huy của chúng ở Mai Lộc80, 81 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1937, tr.28; Sư đoàn 304, Tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nộì, 1990, tr.177).

Nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị:

Trung đoàn 9: tiến công trên hướng chủ yếu của cánh Tây, dùng 3 đại đội đặc công, 1 đại đội bộ binh vây diệt Ba Hồ; phần lớn lực lượng của Trung đoàn đánh viện quanh khu vực Ba Tum, sẵn sàng 1 tiểu đoàn diệt Đầu Mầu, sau đó phát triển đánh núi Kiếm.

Trung đoàn 66: dùng 2 tiểu đoàn, từ ngày N-4 đến ngày N, hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, vây ép Động Toàn, tiến công tiêu diệt Động Toàn vào ngày N-2; dùng 1 tiểu đoàn khác đánh địch ứng cứu giải tỏa Động Toàn, sau đó phát triển bao vây Mai Lộc.

Trung đoàn 2482 (Trung đoàn 24 (tên truyền thống Trung đoàn Trần Hưng Đạo): thuộc Sư đoàn 304 trong Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Trung đoàn trưởng Lê Đắc Long; Chính ủy Đồng Ngọc Vân): là lực lượng dự bị của cánh, trước mắt dùng 1 đại đội bộ binh và đặc công bao vây Ba Tum, có điều kiện thì tiêu diệt, còn lực lượng chủ lực của Trung đoàn sẵn sàng cùng Trung đoàn 9 đánh địch ứng cứu, giải tỏa lớn, sau đó là lực lượng chủ yếu tiêu diệt cứ điểm 2483 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.29).


Lực lượng phòng không trên hướng này có các Tiểu đoàn 8, 39, Đại đội 1 (tên lửa A-72) Trung đoàn 241 và Tiểu đoàn 105 Trung đoàn pháo cao xạ 280. Trung đoàn pháo cao xạ 230 ở phía sau bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch trên địa bàn Hướng Hóa, làng Miệt, sẵn sàng cơ động lên phía trước84 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân (1963- 2013), Quyển một: Quân chủng Phòng không - Không quân (1963-1977), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr.769).


Cánh Nam, gồm Sư đoàn bộ binh 324 (thiếu Trung đoàn 3 và Tiểu đoàn 7B đặc công) được tăng cường 1 tiểu đoàn pháo binh thuộc Trung đoàn 368, Tiểu đoàn 24 cao xạ 14,5mm, 4 đại đội cao xạ của quân dân Hà Tĩnh, Quảng Bình; Tiểu đoàn bộ binh 2 độc lập; có phối hợp chiến đấu của Trung đoàn 129, 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương (8, 10, 14 của tỉnh Quảng Trị) và du kích hai huyện Triệu Phong; Hải Long; Tiểu đoàn đặc công 35; Trung đoàn pháo xe kéo 368 (có 24 khẩu 130mm và Đ-74); 2 tiểu đoàn pháo cao xạ (thuộc 2 Trung đoàn 280 và 241); 1 đại đội A-72; 1 đại đội xe tăng PT-85; Trung đoàn công binh 219; trung đội trinh sát hóa học.


Cánh Nam do Phó Tư lệnh Chiến dịch Đại tá Giáp Văn Cương85 (Giáp Văn Cương (1921-1990): Đại tá, Phó Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010). Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam (4/1974); Tư lệnh Quân khu 4 (5/1976); Tư lệnh Quân chủng Hải quân (1977-1980 và 1984-1990); Đô đốc Hải quân (1988)) và Phó Chính ủy Mặt trận Đại tá Lê Tự Đồng86 (Lê Tự Đồng (1920-2011): Đại tá, Phó Chính ủy, Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận Trị - Thiên (1972). Bí thư Quân khu ủy Trị - Thiên, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên (12/1972). Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4 (1976); Viện phó Chính trị Học viện Quân sự cao cấp (2/1977); Đại biểu Quốc hội khóa VI. Trung tướng (1982)) chỉ huy.


Cánh Nam có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Nam và Bắc sông Quảng Trị, chủ yếu là khu vực Phượng Hoàng, động Ông Do, đoạn đường 1 Bắc Mỹ Chánh; thực hiện chia cắt chiến dịch; cùng lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ cho nhân dân Nam Triệu Phong và Hải Lăng nổi dậy; dùng hỏa lực đánh phá khu tung thâm phòng ngự của địch, chuẩn bị một bước cho việc phát triển chiến dịch vào Thừa Thiên. Trước mắt là tích cực đánh viện ở Bắc sông Mỹ Chánh, bao vây động Ông Do để diệt viện, sau đó tiêu diệt địch ở động Ông Do. Lực lượng địch có Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở căn cứ Mai Lộc, Động Toàn, Động Ngang; Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến ở khu vực điểm cao 367, Tân Điền, Liên đoàn biệt động quân ở khu vực động Ông Do, Tân Téo. Chỉ huy Sư đoàn 324: Tư lệnh Thượng tá Chu Phương Đới87 (Chu Phương Đới (1922-2007): Thượng tá Tư lệnh Sư đoàn 324 trong Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Phó Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên, Quân khu Tây Bắc (1973); Phó Tư lệnh, Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1981-1987). Thiếu tướng (1980)), Chính úy Thượng tá Nguyễn Xuân Trà88, 89 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.29-30; Sư đoàn 324, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992, tr.125 126).


Nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị:

Trung đoàn 1 (Sư đoàn 324)90 (Trung đoàn 1 (Sư đoàn 324 ): tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Trung đoàn trưởng Vũ Thế Đào, Chính ủy Lê Văn Dánh): bao vây cứ điểm 365, có điều kiện thì tiêu diệt; bố trí một số chốt ở các điểm cao 130, 148, nhử viện binh địch và phối hợp với Trung đoàn 66 tiêu diệt địch vào ứng cứu giải tòa từ hướng Ái Tử lên làng Nút. Dùng hỏa lực chia cắt địch giữa cứ điểm 365 và Mai Lộc.


Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324)91 (Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324 ): tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Long): ngày N-3 bao vây động Ông Do để diệt viện, sau đó tiêu diệt động Ông Do; cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh phá giao thông, tiêu hao địch trên đường 1.


Khi hoàn thành các nhiệm vụ trên, Sư đoàn 324 sẽ được tăng cường 1 trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 304 để tiếp tục diệt địch quanh khu động Ông Do; dùng 1 trung đoàn tiến công La Vang và 1 trung đoàn cắt đường 1 đoạn Mỹ Chánh - Cầu Nhùng; dùng một bộ phận bộ binh cơ giới (A7) thọc sâu xuống Nam Quảng Trị, sẵn sàng diệt quân địch rút chạy về phía Mỹ Chánh.


Lực lượng bộ đội địa phương (3 tiểu đoàn): phối hợp chặt chẽ với các đòn tiến công của bộ đội chủ lực, tích cực diệt ác, trừ gian, phá kìm kẹp, phát động và hỗ trợ quần chúng nói dậy giành chính quyền (trọng điểm là Hải Lăng)92 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.30).


Trên hướng Nam do Sư đoàn 32493 (Sư đoàn 324 (tên truyền thống Sư đoàn Ngự Bình): thuộc Mặt trận B5 tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Tư lệnh Thượng tá Chu Phương Đới, Chính ủy Thượng tá Nguyễn Xuân Trà) phụ trách, có Tiểu đoàn 24, Trung đoàn pháo cao xạ 241 và Đại đội 2 tên lửa A-72. Lực lượng phòng không trên các hướng chiến dịch do sư đoàn bộ binh trực tiếp chỉ huy94 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân (1963- 2013), Quyển một: Quân chủng Phòng không - Không quân (1963-1977), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr.770).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:28:19 pm »

Cánh Đông, gồm Tiểu đoàn bộ binh 47 thuộc Vĩnh Linh; 2 Tiểu đoàn đặc công 31, 25; Đoàn 126 hải quân (1A); 4 đại đội bộ đội địa phương (10, 11, 14, 15) thuộc các huyện Gio Linh, Cam Lộ; 1 Tiểu đoàn pháo binh mang vác thuộc Trung đoàn pháo binh 84.

Cánh Đông do Trưởng phòng Đặc công Quân báo B5 Bùi Thúc Dưỡng95 (Bùi Thúc Dưỡng (1927-2006): Thượng tá Tham mưu phó B5, Trưởng phòng Đặc công Quân báo B5, Đảng ủy viên Đảng ủy Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên (1972), Phó Tư lệnh cánh Đồng trong giai đoạn tiến công, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy bảo vệ thị xã Quảng Trị, bị thương trong thị xã Quảng Trị (29/7). Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công; Tham mưu trưởng Quân khu Trị - Thiên (1975); Phó Tham mưu trưởng Quân khu 4; Phó khoa Nghệ thuật Chiến dịch, Trưởng khoa Lịch sử Nghệ thuật quân sự (Khoa Chiến lược quân sự), Học viện Quân sự cao cấp (1977). Thiếu tướng (1985)) chỉ huy.


Cánh này có nhiệm vụ bao vây Dốc Miếu, Quán Ngang, tiêu diệt căn cứ hải thuyền Nam Cửa Việt, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt và làm tan rã lực lượng kìm kẹp của địch, phát động, hỗ trợ quần chúng ở Gio Linh nổi dậy. Sau đó đưa lực lượng thọc sâu vào Đông Bắc Ái Tử - Triệu Phong, thu hút phân tán địch, uy hiếp khu tung thâm, tạo điều kiện cho các cánh khác tiến công.


Nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị:

Các tiểu đoàn đặc công và các đại đội địa phương bao vây Dốc Miếu, Quán Ngang, diệt các đại đội bảo an ở Bến Ngự, Bến Sanh hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

Đoàn 126 hải quân: tiêu diệt căn cứ hải thuyền Cửa Việt, chiếm cảng Cửa Việt, cắt đường thủy.

Tiểu đoàn 47: thọc sâu vào Đông Ái Tử, Triệu Phong thu hút phân tán địch, phối hợp với hướng Bắc96 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.30-31). 


Lực lượng dự bị chiến dịch

Trung đoàn 8897 (Trung đoàn 88 (tên truyền thống Trung đoàn Tu Vũ): thuộc Sư đoàn 308 trong Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Nguyễn Văn Thận (1/1970 - 4/1972), Phạm Duy Tân (5/1972 - 5/1973); Chính ủy Nguyễn Thanh Tùng (3/1972 2/1973)) (Sư đoàn 308) bố trí trên hướng Bắc; Trung đoàn pháo xe kéo 45 (12 khẩu 130mm, 12 khẩu D-74); 1 tiểu đoàn xe tăng của Lữ đoàn 203; 2 tiểu đoàn bộ binh thiết giáp (A7); 1 tiểu đoàn công binh cầu thuyền của Lữ đoàn 249; Sở Chỉ huy chiến dịch đặt tại Bãi Hà, Bắc sông Bến Hải, Tây đường 1 khoảng 10km98 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.31).


Nhiệm vụ của từng binh chủng

Đặc công: Đánh cắt giao thông cảng Cửa Việt - Đông Hà; đánh phá các căn cứ, kho tàng, sân bay... phía sau đội hình địch; cùng lực lượng vũ trang huyện Gio Linh mở cánh Đông; cùng các đơn vị binh chủng hợp thành đánh địch phía trước trên tuyến phòng thủ ngoài; sau đó phát triển vào Quảng Trị99 (Bộ Tư lệnh Đặc công, Biên niên sự kiện, Lịch sử Binh chủng Đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam (1967-1997), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.52).


Hải quân: Đoàn 126 hải quân trong giai đoạn đầu của chiến dịch hiệp đồng với các lực lượng tiến công đánh căn cứ địch ở Cửa Việt, căn cứ Duyên đoàn 11, đánh các tàu địch trên sông, cắt đứt giao thông và tiến tới làm chủ sông Cửa Việt. Đồng thời, luồn sâu vào phía trong đánh các cầu cảng và tàu địch ở cảng Thuận An, sông Hương, Mỹ Thủy. Các đội đặc công 2, 3, 4, Đại đội 48 hỏa lực và một số đơn vị trực thuộc tham gia trực tiếp vào đội hình tiến công ở hướng Cửa Việt. Đội 1, tách ra luồn sâu phía trong đánh địch ở phía sau đội hình địch. Để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ, Đoàn 126 được bổ sung thêm 3 phân đội đặc công của các khu vực 2, 3, 4 cùng một số lượng lớn vũ khí chất nổ, thủy lôi và mìn các loại. Bộ Tư lệnh Chiến dịch tăng cường thêm cho Đoàn 126 hải quân: 1 đại đội bộ binh, 1 đại đội ĐKB và 2 đại đội 12,7mm. Ngoài ra, một số đơn vị công binh hàng hải, radar tàu thuyền của các đơn vị được Bộ Tư lệnh Hải quân điều vào tập kết ở sông Gianh, sẵn sàng chiến đấu100 (Bộ Tư lệnh Hải quân, Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2015), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.281).


Pháo binh: Tiêu diệt, chế áp các trận địa pháo chính của địch ở tuyến ngoài, kiềm chế các trận địa pháo địch ở tung thâm chiến dịch, khi bắt đầu nổ súng phải tiêu diệt ngay các trận địa pháo ở cứ điểm 241, Mai Lộc; miếu Bái Sơn; Bắn phá các sở chỉ huy, kho tàng, sân bay địch ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, thị xã Quảng Trị; Chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu; Đánh pháo hạm địch.


Nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị:

- 24 khẩu 130mm (Trung đoàn 164) và 24 khẩu ĐKB, H12 (Trung đoàn pháo binh 84) chi viện Sư đoàn 308 chiến đấu ở cánh Bắc.

- 22 khẩu Đ-74 và 130mm (Trung đoàn pháo binh 38) chi viện Sư đoàn 304 đánh ở hướng Tây.

- 24 khẩu 130mm; Đ-74 (Trung đoàn pháo binh 368) chi viện lực lượng chiến đấu ở cánh Nam.

- 12 khẩu ĐKB, H12 (Trung đoàn pháo binh 84) chi viện Trung đoàn bộ binh cơ giới 66 và 27 đánh phía Đông.

- Hai Trung đoàn pháo binh 58 và 68 chi viện các Sư đoàn 308 và 304 đột phá.

- Trung đoàn pháo binh 45 gồm 12 khẩu 130mm, 12 khẩu Đ-74 làm lực lượng dự bị chiến dịch.

- Hướng Thừa Thiên: hai tiểu đoàn Đ-74, 130mm của Trung đoàn 368, cối 120mm và một đại đội B-72 (Sư đoàn 324 và Trung đoàn bộ binh cơ giới 66) chi viện các đơn vị của Quân khu Trị - Thiên chiến đấu trên hướng này.

Đến trước giờ nổ súng, tổng số pháo trên Mặt trận Trị - Thiên (không kể Trung đoàn 45 làm lực lượng dự bị) có 403 khẩu, trong đó có 63 pháo chiến dịch, 93 pháo cấp sư đoàn, 247 pháo đi cùng bộ binh. So với địch (quân đội Sài Gòn - tính từ pháo 85mm và 105mm trở lên) ta có 146 khẩu, địch có 114 khẩu, tỷ lệ giữa ta và địch là 1,3/1. Mật độ hỏa lực của ta: trung bình một tiểu đoàn pháo chi viện 2 trung đoàn bộ binh; của địch: 1,2 đến 1,4 tiểu đoàn pháo chi viện 1 trung đoàn bộ binh101 (Lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Hà Nội, 1991, tr.283-284).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:31:38 pm »

Xe tăng, thiết giáp: Hiệp đồng chặt chẽ với bộ bình đột phá tiêu diệt các cứ điểm của địch. Thọc sâu, vu hồi đánh chiếm các mục tiêu then chốt, hiểm yếu trong tung thâm phòng ngự của địch. Chi viện bộ binh đánh địch phản kích, co cụm hoặc rút chạy, cùng bộ binh chiếm lĩnh các vị trí quan trọng; Tham gia làm chủ chiến trường, bắt sống xe tăng địch102 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.32).


Khi đánh các cứ điểm tuyến ngoài, ta chưa sử dụng tăng thiết giáp. Tăng thiết giáp chỉ tham gia đánh miếu Bái Sơn, điểm cao 241, Mai Lộc trên hướng tiến công chủ yếu, vì đó là sở chỉ huy các trung đoàn, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến của địch. Riêng Trung đoàn bộ binh cơ giới 202 đảm nhiệm mũi thọc sâu trên hướng Đông vào Đông Hà, Triệu Phong.

Nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị:

- Tiểu đoàn tăng 512 (thiếu): được giao nhiệm vụ phối thuộc cho Sư đoàn 308 tiến công tiêu diệt cứ điểm miếu Bái Sơn nhằm mở cửa trên hướng Tây Bắc căn cứ Đông Hà.

- Tiểu đoàn tăng 397 (Trung đoàn tăng 203): tham gia tiêu diệt cứ điểm 241 và quận lỵ Mai Lộc trên hướng Tây. Đại đội tăng lội nước 4 (Trung đoàn tăng 203) phối thuộc cho Sư đoàn 324 tiến công La Vang, thực hiện chia cắt chiến dịch.

- Tiểu đoàn tăng 3 (Trung đoàn tăng 203): và hai tiểu đoàn bộ binh cơ giới (Trung đoàn 202) nằm trong lực lượng dự bị103 (Binh chủng Tăng Thiết giáp, Lịch sử Binh chủng Tăng Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam (1959-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr.134-135).


- Cao xạ, tên lửa: Chi viện cho bộ binh và các binh chủng chiến đấu, bắn rơi máy bay chiến đấu, máy bay trinh sát và hạn chế hoạt động của máy bay B-52; Bảo vệ đội hình bộ binh, pháo binh, xe tăng ta; Bảo vệ hậu phương chiến dịch, các trục vận chuyển, kho tàng, các sở chỉ huy104 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.33). Lực lượng phòng không trên các hướng chiến dịch do sư đoàn bộ binh trực tiếp chỉ huy.


Nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị:

- Trên hướng chủ yếu do Sư đoàn 304 đảm nhiệm có các Tiểu đoàn 8, 39, Đại đội 1 (A-72) Trung đoàn 241 và Tiểu đoàn 105 (Trung đoàn pháo cao xạ 280). Trung đoàn pháo cao xạ 230 ở phía sau bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch trên địa bàn Hướng Hóa, làng Miệt và sẵn sàng cơ động lên phía trước.

- Trên hướng Bắc và hướng Đông do Sư đoàn 308 đảm nhiệm, có Tiểu đoàn 28 Trung đoàn 241 và Trung đoàn 284 (Sư đoàn phòng không 365). Một bộ phận lực lượng của Trung đoàn 284 làm lực lượng dự bị Chiến dịch.

- Trên hướng Nam do Sư đoàn 324 phụ trách, có Tiểu đoàn 24 (Trung đoàn pháo cao xạ 241) và Đại đội 2 tên lửa A-72.

- Một phần lực lượng của Trung đoàn 280 bảo vệ pháo binh chiến dịch ở đồn điển Rô Mơ, A Chính, Ba Hồ, Sa Trầm. Tiểu đoàn 126 của Trung đoàn làm lực lượng dự bị chiến dịch. Trung đoàn pháo cao xạ 282 bảo vệ trận địa pháo binh ở Lăng Cô, động Con Tiên, Dị Loan. Hai Tiểu đoàn 64, 62 Trung đoàn tên lửa 236B ở phía Bắc sông Bến Hải.

- Phía sau đội hình chiến dịch, trên bờ Bắc sông Bến Hải, là đội hình chiến đấu của Sư đoàn phòng không 365. Trung đoàn tên lửa 274 được bố trí bên cạnh đội hình Trung đoàn tên lửa 236B với vùng hòa lực có thể chi viện đến không phận các hướng tiến công của Chiến dịch.

- Tiếp sau đội hình chiến đấu của Sư đoàn phòng không 365 là đội hình chiến đấu của Sư đoàn 363B ở khu vực đường số 10, Lệ Thủy (Quảng Bình).

- Sư đoàn phòng không 377 bảo vệ khu vực cửa khẩu hành lang 559, trong đó Trung đoàn tên lửa 275 hoạt động ở khu vực Hướng Hóa. Trung đoàn pháo cao xạ 232 cơ động chiến đấu trên đường số 14 chi viện chiến dịch từ hướng Tây. Tại đây, có một bộ phận lực lượng phòng không của Bộ Tư lệnh 559 phối hợp chiến đấu. Trung đoàn pháo cao xạ 218 (Quân khu 4) và 17 đại đội súng cao xạ 12;7mm của Bộ Tư lệnh B5 cùng với lực lượng phòng không của Quân chủng Phòng không - Không quân bảo vệ Sở Chỉ huy Chiến dịch và hệ thống kho tàng, kỹ thuật, hậu cần của Chiến dịch105 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử quân chủng Phòng không - Không quân (1963- 2013), Quyển một: Quân chủng Phòng không- Không quân (1963-1977), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr.769-771).


Công binh: Bảo đảm cơ động cho các binh chủng kỹ thuật và ô tô vận chuyển hậu cần, đặc biệt coi trọng xây dựng đường sá, điều chỉnh giao thông, bảo đảm vượt sông trong quá trình chuẩn bị và phát triển chiến đấu; Làm công sự, xây dựng các sở chỉ huy các cấp; Tham gia chiến đấu; Chỉ đạo các lực lượng khác về mặt công trình và sử dụng khí tài công binh trong chiến đấu.


Hóa học: Hướng dẫn đôn đốc phòng hóa và giải quyết hậu quả khi địch tập kích hóa học; Dùng màn khói nghi binh che mắt địch; Sử dụng súng phun lửa trong chiến đấu106 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.33-34).


Các sư đoàn bộ binh đã tổ chức các ban hóa học (riêng Sư đoàn 324 không có) và một phân đội hóa học gồm 4 tiểu đội: 1 quan sát, trinh sát, hóa học và nòng cốt phòng hóa cho đơn vị trang bị chuyên môn gọn nhẹ. Sư đoàn 324 chỉ có một tiểu đội hóa học.

Trực thuộc Mặt trận có 1 tiểu đoàn hóa học gồm 1 đại đội phòng hóa thiếu, trang bị đi bộ và cơ giới (1 xe trinh sát hóa học và 2 xe tiêu độc); Một đại đội súng phun lửa nhẹ, có 24 khẩu; 1 đại đội cối 82mm có 2 khẩu và 600 viên đạn cs. Phân chia lực lượng như sau:

- 4 tiểu đội trinh sát bảo đảm các sở chỉ huy chiến dịch, thu vũ khí, phương tiện hóa học của địch và thay phiên lâm thời cho Đoàn bộ binh 31, Trung đoàn 48, Trung đoàn 164.

- Hai trung đội súng phun lửa tăng cường cho Sư đoàn 308 và Sư đoàn 304, dự định để sử dụng khi tiến công các cứ điểm ở miếu Bái Sơn, Đông Hà và Động Toàn.

- Trung đội cối hóa học lâm thời phối thuộc với Trung đoàn công binh dự định tạo màn khói ngụy trang bến vượt sông Hiền Lương.

- Lực lượng cơ động và dự bị chiến dịch gồm 1 tiểu đội trinh sát và 1 trung đội tiêu độc bố trí tại khu vực Bến 4.

- Lực lượng hóa học các đơn vị chủ yếu tố chức đài quan sát hóa học, hướng dẫn công tác phòng hóa và cơ động trong phạm vi đơn vị107 (Lịch sử Bộ đội Hóa học sơ thảo, Tập 1: 1958-1975, Bộ Tư lệnh Hóa học 1988, tr.223-224).


Nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang địa phương

Ngoài việc phối hợp với các bộ đội chủ lực trong các hoạt động quân sự lớn, phải đẩy mạnh hoạt động du kích, tiêu diệt các lực lượng kìm kẹp, đập tan bộ máy chính quyền của địch, tạo điều kiện đưa quần chúng nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng, làm chủ địa phương. Chống địch bắt dân, lùa dân đi nơi khác. Hỗ trợ chính quyền các cấp từng bước vững mạnh, ổn định vùng mới giải phóng108 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.34).


Nhiệm vụ của tỉnh Quảng Trị

Tỉnh ủy Quảng Trị quyết định phân chia lực lượng địa phương theo hai nhánh: Cánh Bắc gồm hai huyện Gio Linh - Cam Lộ và thị xã Đông Hà do ủy viên Thường vụ Tinh ủy Nguyễn Hòa phụ trách quân sự; Cánh Nam gồm 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị do Phó Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đức Dũng, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Nguyễn Văn Lương và Tỉnh đội trưởng Nguyễn Mạnh Thoa109 (Nguyễn Mạnh Thoa, Trưởng ban Tác chiến Mặt trận B4, Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Thiếu tướng) phụ trách. Tùy theo nhiệm vụ, mục tiêu, đặc điểm của địa phương, mỗi cánh chia cụm (khu) để sử dụng lực lượng, tổ chức hiệp đồng giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, tiến công và nổi dậy, chủ lực và địa phương... theo ý định chung của chiến dịch, lấy hoạt động của chủ lực làm trung tâm110 (Thường vụ Đảng ủy và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, Quảng Trị Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Quảng Trị, 1988, tr.199).
 

Nhiệm vụ của hướng Thừa Thiên

Trong Chiến dịch tiến công ở Quảng Trị, hướng Thừa Thiên là hướng phối hợp, có nhiệm vụ: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng Sư đoàn 1, diệt và bức rút một số căn cứ quan trọng của địch (Bình Tranh, Bình Điền, Đồi 14), phá vỡ tuyến phòng ngự ở đường 12, Hương Trà; Cài thế trận tạo thành thế liên hoàn 3 vùng vững chắc, xen kẽ và chia cắt địch tạo áp lực mạnh và thường xuyên đối với đồng bằng và thành phố Huế, hỗ trợ trực tiếp cho việc đánh phá bình định và phong trào thành phố; Chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt, khi có thời cơ thì áp sát Huế, thọc sâu chiếm lĩnh một số mục tiêu ở vùng ven và trong thành phố, hình thành thế chia cắt bao vây Huế và cắt cụm còn lại của địch, phối hợp 3 mũi quân sự, chính trị, binh vận tiến công và nổi dậy đồng loạt111 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.34).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:40:26 pm »

d. Công tác chuẩn bị

Trên cơ sở quyết tâm và ý định tác chiến chiến dịch như trên, Bộ Tư lệnh tập trung kiểm tra đôn đốc các mặt chuẩn bị sau đây:


Chuẩn bị kế hoạch

Từ ngày 18 tháng 7 năm 1971, qua 8 tháng rưỡi chuẩn bị, kế hoạch Chiến dịch tiến công Trị - Thiên đã được thay đổi, bổ sung nhiều lần trước khi trở thành kế hoạch chiến dịch tiến công chính thức, nhưng cũng mới xác định cụ thể đợt tiến công Quảng Trị. Trong quá trình này, Quân ủy Trung ương và Thủ trưởng Bộ đã 6 lần hướng dẫn và thông qua từng bước kế hoạch chiến dịch tiến công. Tạo điều kiện cho Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch tiến hành những công tác chuẩn bị khác. Cấp chiến dịch đã tổ chức quán triệt quyết tâm, ý định chiến dịch trong cán bộ các cấp. Làm cho mọi người hoàn toàn nhất trí với chủ trương của trên, khắc phục khó khăn, triển khai tích cực mọi mặt công tác chuẩn bị.


Nhưng tình hình chiến trường diễn biến phức tạp, nên kế hoạch chiến đấu vẫn phải tiếp tục bổ sung cho phù hợp. Vì vậy thời gian chuẩn bị tuy dài nhưng càng về cuối càng gấp. Kế hoạch tiến công Thừa Thiên chỉ mới dự kiến một số vấn đề. Sau khi giải phóng Quảng Trị, căn cứ tình hình cụ thể sẽ xác định thêm.


Chuẩn bị chiến trường

Từ tháng 6 năm 1971, Bộ Tổng Tư lệnh đã giao cho Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và Bộ Tư lệnh B5 (Mặt trận đường 9) tổ chức chuẩn bị chiến trường, chủ yếu là làm các con đường từ phía Bắc xuống. Đến tháng 3 năm 1972, ta đã làm mới và sửa chữa được 9 con đường với chiều dài 264km, bảo đảm triển khai các loại binh khí, phương tiện và vận chuyển hậu cần chiến dịch ở khu vực Quảng Trị112 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Noi, 1987, tr.35).


Bộ Tư lệnh Công binh đã sớm thành lập bộ phận tiền phương gồm cán bộ các cơ quan tham mưu, chính trị, khí tài, hậu cần, cơ sở sửa chữa do Phó Tư lệnh Phạm Cương phụ trách, đi vào Trị - Thiên phục vụ Chiến dịch. Khi Chiến dịch Quảng Trị sắp mở màn, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập cơ quan công binh chiến dịch với Tư lệnh Nguyễn Văn Nhạn và Chính ủy Nguyễn Ích.


Ngày 19 tháng 2 năm 1972, trong cuộc họp đánh giá công tác chuẩn bị, Tư lệnh Chiến dịch Lê Trọng Tấn nhận xét: "Công binh đã xây dựng được mạng đường sá đầy đủ nhất so với các chiến dịch khác, có mạng đường sá ta mới dám sử dụng lực lượng binh khí kỹ thuật lớn như thế này. Nhưng công binh còn nhiều nhược điểm: lực lượng còn mỏng lại không có dự bị, phương tiện thiếu, nhiệm vụ lại rất nặng... Phải chú ý ba vấn đề lớn là bảo đảm vượt sông, bảo đảm đường sá suốt chiều sâu chiến dịch và phải hoạt động trong mùa mưa"113 (Bộ Tư lệnh Công binh, Lịch sử Công binh Việt Nam (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.364 365).


Nhận nhiệm vụ chính thức ngày 3 tháng 3 của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc đã tổ chức cơ quan thông tin Chiến dịch Trị - Thiên do Phó Tư lệnh Phạm Niên trực tiếp làm Tư lệnh. Tham gia cơ quan thông tin còn có đại diện cơ quan thông tin của các quân chủng, binh chủng, Tổng cục như các Chủ nhiệm (hoặc Phó Chủ nhiệm) Thông tin, Pháo binh, Thiết giáp, Tổng; cục Hậu cần. Ngoài các phân đội khai thác các trục hữu tuyến điện, vô tuyến điện tiếp sức, thông tin chuyển đạt thuộc hệ thống thông tin chiến lược trên địa bàn chiến dịch, lực lượng thông tin phục vụ ở các sở chỉ huy chiến dịch còn tổ chức 2 tiểu đoàn thông tin cơ động (Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 46), đưa tổng số các đơn vị thông tin thành 25 đại đội. Trong đó có 5 đại đội vô tuyến điện, 6 đại đội hữu tuyến điện dây trần, 12 đại đội hữu tuyến điện dây bọc dã chiến, 1 đại đội thông tin chuyển đạt và 1 đại đội bảo đảm kỹ thuật (riêng Bộ Tư lệnh Binh chủng có 16 đại đội).


Đêm 28 tháng 3 năm 1972, trước trận mở màn hai ngày, toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc ở các sở chỉ huy chiến dịch đều triển khai xong và bảo đảm chất lượng tốt. 21 giờ ngày 29 tháng 3, Tư lệnh và Chính ủy Chiến dịch sử dụng hệ thống hữu tuyến điện kiểm tra và động viên các đơn vị, các binh chủng. 3 giờ ngày 30 tháng 3, các mạng vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn lên máy thử và thực hiện chế độ canh, sẵn sàng làm việc114 (Binh chủng Thông tin liên lạc, Lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc (1945 -2000), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.422-423).


Đến cuối tháng 3 năm 1972, hệ thống thông tin hữu tuyến điện xuống các hướng đã được triển khai xong. Công tác điều tra nắm địch, tổ chức chuẩn bị cơ sở chính trị v.v... đều tiến hành tích cực115 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987. tr.36). 


Để chuẩn bị cho Chiến dịch, bộ đội và dân công mở mới, sửa chữa nhiều đường cho xe kéo. Quân khu Trị - Thiên (B4) sửa và mở 9 trục đường quân sự với chiều dài 264km, trong đó có 6 đường cho xe kéo pháo. Hướng Bắc Trị - Thiên, Trung đoàn pháo binh 164 mở 11km đường từ Bắc sông Bến Hải vào sát Cồn Tiên. Hướng Tây, Trung đoàn pháo binh 368 mở đường từ Ba Hy đến Đá Bàn (dài trên 10km). Đại đội công binh của Trung đoàn phá gỡ bom mìn, làm đường cơ động cho pháo binh của Trung đoàn vươn tầm bắn tới La Vang, Thành cổ Quảng Trị, Mỹ Chánh.


Cùng với mở đường, các đơn vị khẩn trương trinh sát mục tiêu, đo đạc một khu vực rộng 1.280km2. Đại đội 767 (Trung đoàn 97) nhiều lần luồn hàng rào căn cứ Đông Hà, Ái Tử, La Vang vẽ cảnh đổ, sơ đồ, tìm hiểu quy luật hoạt động của địch. Có chiến sĩ cải trang trà trộn vào lực lượng thám báo địch, xác định chính xác 120 tọa độ của 80 mục tiêu cho pháo bắn. Trung đội trưởng Hà Khắc Trung, Đại đội trưởng Lê Như Trân chỉ huy đội đo đạc đã được tặng thưởng huân chương vì những thành tích này. Đội trinh sát chụp ảnh luồn vào sát các căn cứ địch chụp từ nhiều phía được 84 bộ ảnh với 4.800 tấm có giá trị, giúp cơ quan tham mưu chiến dịch đánh giá tình hình địch, làm cơ sở xác định kế hoạch hỏa lực pháo. Các đại đội chỉ huy Trung đoàn 38, 368 và 84 vừa đánh địch vừa đo đạc đội hình chiến đấu của đơn vị và các mục tiêu đơn vị đảm nhiệm, cung cấp kịp thời phần tử cho pháo bắn116 (Lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr.280).


Một số đơn vị đã chịu những thương vong đầu tiên khi triển khai đội hình chiến đấu. Ngày 21 tháng 3 năm 1972 (9 ngày trước khi Chiến dịch mở màn), Thiếu úy Đại đội phó Vương Thiết Cương117 (Vương Thiết Cương (1944-1972): Con trai Trung tướng Vương Thừa Vũ. Vương Thừa Vũ (1910-1980): Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam (1965-1980), kiêm Giám đốc Học viện Quân chính, kiêm Tư lệnh Quân khu 4 (1964-1971), Trung tướng 1974) thuộc Trung đoàn cao xạ 230 Sư đoàn phòng không 367 đã anh dũng hy sinh khi đi tìm trận địa để bố trí pháo bảo vệ đường giao thông, hậu phương chiến dịch tại Hướng Hóa, Quảng Trị118 (Thông tin do chị Nguyễn Thị Vân - vợ Thiếu úy Vương Thiết Cương cung cấp).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:43:37 pm »

Chuẩn bị hậu cần (7/1971 - 3/1972)

Để chuẩn bị cho Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, từ cuối tháng 6 năm 1971, Bộ Tổng Tư lệnh đã giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 chuẩn bị chiến trường ở Tây Quảng Trị, chủ yếu xây dựng các tuyến đường từ bờ Bắc sông Bến Hải vào chiến trường và vận chuyển vật chất vào dự trữ ở Nam, Bắc sông Bến Hải. Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1971 là giai đoạn xây dựng tổ chức, lập kế hoạch và chuẩn bị cơ sở vật chất đầu tiên.


Công tác huấn luyện đào tạo nhân viên chuyên môn như: lái xe, y tá, dược tá... được triển khai gấp; dân công các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu Vĩnh Linh được huy động phục vụ hậu cần chiến dịch. Vấn đề lớn nhất lúc này là gấp rút xây dựng các cụm hậu cần, tổ chức cơ quan chỉ huy, sắp xếp cán bộ, điều động các phân đội nhanh chóng hình thành tổ chức và đưa ngay vào chiến trường, kịp tiến hành công tác chuẩn bị; đồng thời, tiếp nhận hàng của tuyến chiến lược chuyển tới và bảo đảm cho các đơn vị đầu tiên vào chiến trường.


Trong tháng 12 năm 1971, các cụm hậu cần lần lượt vào chiếm lĩnh vị trí, vừa tiến hành công tác chuẩn bị chiến trường, vừa triển khai ngay cơ sở tiếp nhận hàng của tuyến chiến lược, bảo đảm cho các đơn vị đầu tiên vào chiến trường. Việc hành quân vào chiến trường của các cụm rất khẩn trương, nhưng lại phải khớp với thời gian các binh trạm thuộc Đoàn 559 vận chuyển hàng tới. Nếu vào sớm thì không có gạo ăn, còn vào muộn thì không kịp tiếp nhận hàng.


Trong tháng 12, ba cụm hậu cần ở phía Tây đã đi vào triển khai chuẩn bị cho Chiến dịch: Cụm hậu cần 3, ở khu vực làng Mong - Sa Trầm bảo đảm cho Sư đoàn 324 (thiếu) và các lực lượng binh chủng phối thuộc; Cụm hậu cần 2, triển khai ở khu vực Hướng Hóa, Tà Cơn, làng Giao, bảo đảm cho một bộ phận của Sư đoàn 304, cho các binh chủng kỹ thuật cơ động theo đường 9 vào, và vận chuyển vật chất vào cụm trong; Cụm hậu cần 1, triển khai ở khu vực làng Miệt, làng Suốt, Nam La Rường, bảo đảm cho Sư đoàn 304 (thiếu) và các lực lượng binh chủng phối thuộc trên hướng đó và vận chuyển vật chất vào Cụm hậu cần 2. Đến tháng 2 năm 1972, tổ chức thêm Cụm hậu cần 4 để thống nhất chỉ huy các cơ sở hậu cần ở phía Bắc, từ khu vực Gia Vòng, Bến 4 trở vào, bảo đảm cho Trung đoàn 27, Trung đoàn 48 và lực lượng dự bị chiến dịch (Sư đoàn 308) vào chiến đấu.


Hậu cần chiến dịch trực tiếp nắm các cơ sở phân đội ở khu vực Bãi Hà và các phân đội dự bị (gồm 1 đội điều trị, 1 đại đội ô tô, 1 trạm sửa chữa xe, 1 trạm sửa chữa pháo và một số dân công). Cùng với việc triển khai các cụm, hậu cần chiến dịch đã chỉ đạo việc triển khai của hậu cần sư đoàn, trung đoàn bộ binh và binh chủng. Hình thành một mạng bảo đảm hậu cần tương đối rộng khắp và chặt chẽ gồm: Hệ thống kho tiếp nhận và dự trữ của các cụm, các đơn vị ở từng hướng tác chiến; Hệ thống trạm sửa chữa xe, pháo của các đơn vị và các cụm, phân công bảo đảm ở từng khu vực và từng hướng tác chiến; Hệ thống quân y của bộ binh, binh chủng và các đội điều trị của cụm, phân công bảo đảm ở từng khu vực, từng hướng, nối liền với nhau bằng các tuyến chuyển thương bộ và cơ giới119 (Tổng cục Hậu cần, Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Báo cáo của Cục Hàu cán Bộ Tư lệnh Mặt trận tại Hội nghị Tổng kết Công tác Hậu cần của Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Hà Nội, 1990, tr.18-23).


Từ tháng 12 năm 1971, các kho chiến dịch ở phía sau (Bải Hà, Bến 4) cũng như các cụm đã triển khai tiếp nhận hàng của binh trạm chiến lược chuyển tới. Ở phía Bắc, từ tháng 12, Cục Vận tải tiền phương đã vận chuyển vào Bãi Hà, Bến 4 cho Chiến dịch. Ở phía Tây, từ tháng 1 năm 1972, Đoàn 559 bắt đầu vận chuyển lớn vào Cụm hậu cần 2 ở Hướng Hóa; tháng 2 năm 1972 vào Cụm hậu cần 1 ở làng Miệt, làng Suốt. Riêng cho Cụm hậu cần 3, đến giữa tháng 3 năm 1972, Đoàn 559 mới vận chuyển vào được 330 tấn, đạt 27% kế hoạch, nên ở hướng Nam gặp nhiều khó khăn. Kết quả, đến hết tháng 3, các kho chiến dịch đã tiếp nhận của tuyến chiến lược 12.600 tấn, cộng với tồn kho 4.000 tấn thành 16.600 tấn, đạt 103% kế hoạch Bộ Tổng Tư lệnh duyệt cho bước giải phóng Quảng Trị120, 121 (Tổng cục Hậu cần, Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Báo cáo của Cục Hậu cần Bộ Tư lệnh Mặt trận tại Hội nghị Tổng kết Công tác Hậu cần của Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Hà Nội, 1990, tr.23; Tài liệu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam có khác về một số dữ liệu: "Theo kế hoạch chiến dịch, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1972, hậu cần chiến lược và chiến dịch phải vận chuyển một khối lượng vật chất lớn là 16.500 tấn. Yêu cầu trước khi nổ súng phải bảo đảm được 50% khối lượng. Thực hiện kế hoạch này, tính đến ngày 30 tháng 2 năm 1972, Cục Vận tải và Đoàn 559 đã vận chuyển được 12.490 tấn, đạt 78% kế hoạch, cộng với 3.530 tấn do B5 vận chuyển trước thì khối lượng vật chất đã có là 16.020 tấn, gần đạt yêu cầu thời kỳ đầu của chiến dịch. Riêng ở hướng Nam (khu vực Sa Trầm), chỉ mới chuyển được 520 tấn/yêu cầu 1.900 tấn, đạt 23% kế hoạch. Đặc biệt, ở hướng Tây Thừa Thiên còn khó khăn hơn". Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.36).


Về chuẩn bị đạn pháo, ở các kho chiến dịch dự trữ nhiều hơn kế hoạch, ở các trận địa pháo cơ bản tuyến chiến dịch vận chuyển đến tận nơi nên dự trữ đủ theo kế hoạch. Riêng hướng Nam, tuyến chiến lược không vận chuyển đến Sa Trầm, chỉ đạt 27% (330 tấn) nên đạn pháo thiếu, việc cung cấp cho Sư đoàn 324 cũng gặp khó khăn. Để khắc phục, Cụm hậu cần 3 kết hợp với Sư đoàn tổ chức 19 cung vận chuyển bộ từ Cụm hậu cần 2 trở vào, bảo đảm đủ đạn dược cho các trung đoàn bộ binh và có 15 đến 20 ngày lương thực, thực phẩm cho Sư đoàn.


Về bảo đảm kỹ thuật, các đơn vị tiến hành tốt công tác kiểm tra kỹ thuật xe pháo trước khi vào chiến trường, đã sửa chữa 554 xe ô tô và xe xích hư hỏng122 (Tổng cục Hậu cần, Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Báo cáo của Cục Hậu cần Bộ Tư lệnh Mặt trận tại Hội nghị Tổng kết Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Hà Nội, 1990, tr.26).


Về quân y, đã cứu chữa hết thương bệnh binh, sức khỏe của bộ đội được giữ tốt đến 30 tháng 3 năm 1972123 (Tổng cục Hậu cần, Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Báo cáo của Cục Hậu cần Bộ Tư lệnh Mặt trận tại Hội nghị Tổng kết Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Hà Nội, 1990, tr.26). Trong thời kỳ chuẩn bị Chiến dịch đã có 378 thương binh, bằng 1,3% quân số. Thương binh trung bình 1 ngày trong thời kỳ chuẩn bị là 3,15. Bệnh binh là 996124 (Cục Quân y Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập III (1969-1975), Nxb. Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 1996, tr.288-289).


Nhìn chung, từ tháng 12 năm 1971 đến 30 tháng 3 năm 1972 (thời kỳ chuẩn bị), hậu cần chiến dịch và các đơn vị đã triển khai thành một hệ thống bảo đảm tương đối hoàn chỉnh và rộng khắp, tổ chức dự trữ vật chất khá đầy đủ. Các công tác bảo đảm cho thời kỳ chuẩn bị đã tiến hành tốt. Riêng hướng Nam, vận chuyển cơ giới của tuyến chiến lược không đạt kế hoạch vì hoàn thành đường chậm và bị mưa lầy. Chuyển đủ đạn bộ binh còn đạn pháo cơ giới mới đạt mức thấp125 (Tổng cục Hậu cần, Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Báo cáo của Cục Hậu cần Bộ Tư lệnh Mặt trận tại Hội nghị Tổng kết Công tác Hậu cần Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, Hà Nội, 1990, tr.51).


Hoạt động tạo thế, cài thế, nghi binh lừa địch

Từ tháng 1 năm 1972, Tỉnh ủy và Tỉnh đội hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên đã triển khai kế hoạch đánh địch, cài thế và nghi binh lừa địch. Trong 3 tháng (1, 2, 3 năm 1972), lực lượng vũ trang địa phương Quảng Trị đánh gần 400 trận lớn nhỏ. Ở Thừa Thiên, ta liên tục hoạt động ở khu vực Tây đường 12, kết hợp với hoạt động vũ trang tuyên truyền hỗ trợ xây dựng cơ sở chính trị, mở rộng việc diệt ác trừ gian, đặc biệt là vùng xung yếu. Các hoạt động trên làm cho thế kìm kẹp của địch lỏng bớt, ta cài thế được vào cả 3 vùng. Giữ được bí mật chiến dịch, làm địch phải điều thêm lực lượng lên hướng đường 12, phân tán sự chú ý của địch tới hướng tiến công chính của ta.


Khi cơ động lực lượng chuẩn bị chiến dịch, các đơn vị chủ lực chủ yếu dựa vào hệ thống thông tin hiện có của các đơn vị tại chỗ. Vì vậy, hạn chế địch theo dõi qua máy định vị vô tuyến, giữ được bí mật. Để nghi binh, Bộ Tổng Tư lệnh đã cho các tổ đài của Sư đoàn 304 hành quân vào Tây Nguyên, thường xuyên báo cáo từng cung độ hành quân và nhận các mệnh lệnh giả. Địch tin rẳng hướng tiến công chủ yếu của ta là Tây Nguyên126 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.36-37).


Đầu tháng 3 năm 1972, Trung đội phó đặc công Phạm Thanh Tâm127 (Phạm Thanh Tâm (1952): Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1973). Thượng sĩ, Trung đội phó đặc công thuộc Đại đội 1 Tiểu đoàn 35 Đoàn 305. Từ năm 1971 đến năm 1972, Phạm Thanh Tâm trinh sát chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Đã 20 lần vào cử điểm Ái Tử, nhiều lần gặp những tình huống rất nguy hiểm, lần nào Phạm Thanh Tâm cũng bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí vượt qua, nắm địch được chính xác. Đã chỉ huy đơn vị phá hủy 20 kho đạn và chất nổ, 7 xe quân sự, diệt 50 địch. Riêng Phạm Thanh Tâm phá hủy 18 kho đạn (khoảng 15.000 tấn). Luôn gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, hết lòng thương yêu đồng đội. Có lần đi trinh sát gặp địch, bản thân bị thương, Phạm Thanh Tâm vẫn cố gắng tìm 2 đồng đội cùng bị thương, băng bó chu đáo rồi dìu về đơn vị. Hai lần bị thương, đi viện điều trị, sức khỏe còn chưa binh phục hẳn, Phạm Thanh Tâm vẫn xin bằng được trở về đơn vị chiến đấu. Nguồn: https://www.quansuvn.net/index.php?topic=25083.100) đi trinh sát ở khu vực Ái Tử. Trời rét buốt, nhiều lúc chân tay tê cóng, vẫn kiên trì luồn vào cứ điểm nhiều lần. Có lần bị thương vào chân, vẫn bình tĩnh, mưu trí, bí mật lẩn tránh, không để địch phát hiện. Nắm chắc tình hình địch, trong trận đánh ngày 19 tháng 3 nâm 1972, Phạm Thanh Tâm đã đột nhập vào khu căn cứ phá hủy 15 bế xăng (1 triệu 50 vạn lít) và 3 máy bay địch128 (Nguồn: https://www.quansuvn.net/index.php?topic=25083.100).
   Như vậy, đến tháng 3 năm 1972, trước thời điểm mở màn Chiến dịch, công tác chuẩn bị Chiến dịch cơ bản hoàn thành. Ta đã thực hiện được các mục tiêu đề ra, bố trí chiến thuật và nghi binh chiến dịch ở Trị - Thiên, tạo thế bất ngờ. Tuy nhiên, công tác chuẩn bị vẫn còn một số thiếu sót, do hạn chế về tiềm lực. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến quá trình triển khai chiến dịch.
Logged
Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM