Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:34:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền  (Đọc 2956 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:27:04 pm »

5. Vào Phnôm Pênh

Từ ngày 26 tháng 12 năm 1978, ta mở chiến dịch phản công tiến công giải phóng Campuchia. Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Anh Hiền đốc chiến hướng thọc sâu của Quân đoàn 4 đánh chiếm Phnôm Pênh.

Sáng ngày 7 tháng 1 năm 1979, trời đẹp. Trên chiếc trực thăng UH-1, chúng tôi được quan sát quang cảnh thật, hùng vĩ, dưới sông là đoàn tàu, phà của hải quân - công binh hành tiến đến bến phà Niếc Lương để giúp bộ binh, xe tăng vượt sông. Trên bộ là đoàn xe tăng và bộ binh ngồi trên ôtô của Quân đoàn 4 hành tiến vào Phnôm Pênh.


Trưa ngày 7 tháng 1 năm 1979, chúng tôi bay vào vùng trời Phnôm Pênh. Từ một dải đất trên sông Mê Kông, cao xạ 37 ly và súng máy phòng không của tàn quân Pôn Pốt bắn lên hai chiếc trực thăng chúng tôi, đạn khói trắng từng cụm nổ lộp bộp. Trên một chiếc trực thăng có anh Hiền, tôi, Lâm Hà cán bộ Cục Tác chiến, hai đồng chí bảo vệ và tổ lái. Chiếc kia là của anh em tác chiến Sư đoàn không quân 372, một đồng chí thượng úy trúng đạn bị thương.


Hai chiếc trực thăng của ta đáp xuống bãi đất đầu cầu Mô-ni-vông, anh Hiền đòi đi ngay để tìm bắt liên lạc với Sở chỉ huy Quân đoàn 4. Lúc này súng của ta và tàn quân Pôn Pốt còn nổ, trong thành phố vẫn còn các đám cháy, khói khét lẹt. Tôi và Lâm Hà nhất định giữ không cho anh Hiền vào phố. Chúng tôi lấy xe của đơn vị chạy vào thành phố, xác xe tăng và xác quân Pôn Pốt nằm rải rác dọc đường phố. Liên lạc được với Quân đoàn 4, chúng tôi quay lại đón anh Hiền. Từ sáng đến giờ, đói bụng, anh em đã nấu cơm, chưa kịp bưng bát cơm, anh Hiền đòi đi ngay. Tôi nhớ khi gặp anh Hoàng Cầm, hai anh ôm nhau, câu đầu tiên của anh Hiền là: "Hoàng Cầm có gì cho bọn mình ăn với".


Sau khi nắm tình hình, chúng tôi có anh em quân đoàn bảo vệ chạy quan sát tình hình thành phố, đến sân bay Pôchentông thì gặp anh Chánh - Tư lệnh Quân khu 9 và bộ đội cũng vừa vào đến nơi.

Khoảng 8-9 giờ đêm, chúng tôi bay về Sở chỉ huy cơ bản. Trực thăng hạ xuống sân bay, trời rất lạnh, thấy anh Tấn đã đứng ở đó. Tôi nhớ khi thấy anh Hiền, anh Tấn chỉ nói một câu: "Lần sau cậu không được làm như vậy" và lên xe ra về ngay.

Sau này nghe anh em ở nhà kể lại ở phía trước báo về có chiếc trực thăng của ta bị trúng đạn, anh Tấn rất lo, đứng ngồi không yên.


6. Vào Lạng Sơn

Ngày 17 tháng 12 năm 1979, chiến tranh bùng nổ trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Ngay hôm sau, anh em chúng tôi được lệnh rời chiến trường Tây Nam ra biên giới phía Bắc. Từ đó cho đến lúc đối phương rút quân ra khỏi toàn tuyến biên giới phía Bắc, anh Hiền cùng cán bộ Cục Tác chiến và các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu luôn ở mặt trận trực tiếp chỉ huy, đôn đốc các mặt bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu. Hướng tác chiến nào có khó khăn là anh em chúng tôi có mặt.


Một ngày đầu tháng 3 năm 1979, đối phương mở cuộc tiến công thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 5 của anh Hoàng Đan chặn đánh đối phương quyết liệt trong thị xã. Khoảng trưa hôm đó, nghe tin đối phương rút về bên kia biên giới, từ Sở chỉ huy Quân đoàn, anh Hiền yêu cầu trực tiếp vào ngay thị xã để nắm tình hình. Tôi nhớ lúc đó anh Lê Phi Long - Cục phó Cục Tác chiến ngăn anh Hiền: "Vào thị xã lúc này để chúng tôi đi". Anh Phi Long là một cán bộ dũng cảm, rất có trách nhiệm, lo anh Hiền vào thị xã lúc này xảy ra chuyện gì thì vô cùng ân hận, nhưng không cản được anh Hiền.


Chúng tôi tổ chức 2 xe, tôi và anh Phi Long đi xe trước, xe sau là anh Hiền và hai đồng chí vệ binh. Đường vào thị xã tràn ngập cảnh tàn phá, nhà đổ, trâu bò chết trên đường, phía trong thị xã tiếng pháo cối, khói lửa mịt mù. Vào đến thị xã thì nhà sập, cây đổ ngang chặn đường, không còn cách nào đành phải quay lại. Lúc ấy cũng là lúc đối phương rút toàn bộ quân về bên kia biên giới.


Kể từ ngày ấy, tháng 3 năm 1979 đến 2009 thấm thoắt đã tròn 30 năm. Sau những năm chiến tranh, cuộc sống đã có nhiều đổi thay, anh Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng tình cảm, những kỷ niệm của tôi đối với anh vẫn đẹp, vẫn vẹn nguyên.

T.B
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:29:45 pm »

ANH LÊ NGỌC HIỀN
VỚI TIỂU ĐOÀN LÊ LỢI (1949-1950)

Đại tá Nguyễn Tự Lạc
Chiến sĩ cũ Tiểu đoàn Lê Lợi từ 1948 đến 1958


Giữa năm 1949, anh Lê Ngọc Hiền cùng anh Đào Huy Vũ về nhận nhiệm vụ Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên tiểu đoàn chúng tôi. Đó là thời điểm Tiểu đoàn vừa được điều từ Trung đoàn 34 (Hà-Nam-Ninh) về tái lập Trung đoàn 66 (danh hiệu là Ký Con) chủ lực của Liên khu 3. Địa bàn hoạt động là các tỉnh hữu ngạn sông Hồng. Ngoài phiên hiệu bằng số, tiểu đoàn còn có thêm danh hiệu là Tiểu đoàn Lê Lợi1 (Phiên hiệu cấp tiểu đoàn trở xuống bằng số trong chiến tranh đã thay đổi nhiều lần. Do vậy, xin dùng danh hiệu để nhận biết).


Tuy thời gian phụ trách Tiểu đoàn trưởng có hơn một năm2 (Tháng 8-1950, anh Lê Ngọc Hiền được để bạt Trung đoàn phó và chuyển sang Trung đoàn 64 của Liên khu 3 (hoạt động ở địa bàn các tỉnh tả ngạn sông Hồng) nhưng anh Lê Ngọc Hiền đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc về xây dựng, tác chiến của Tiểu đoàn. Điển hình nhất là Anh đã cùng Ban chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị xây dựng nên truyền thống chiến đấu trong vận dụng hai hình thức chiến thuật đánh đồn địch bằng hình thức cường tập và đánh vận động khi quân địch đang tiến công ra vùng tự do của ta.


Để chứng minh, tôi xin kể lại hai trận đánh tập trung tiểu đoàn do anh Lê Ngọc Hiền chỉ huy.

Một là trận cường tập tiêu diệt đồn Đồng Bến (huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình) đêm 25 rạng ngày 26 tháng 11 năm 1949.

Hai là trận đánh vận động tiêu diệt một đại đội địch Âu-Phi tại khu vực làng Hoàng Dương, Tử Dương (Ứng Hoà, Hà Đông) ngày 12 tháng 5 năm 1950.


1. Trận cường tập tiêu diệt đồn Đồng Bến

Thu Đông năm 1949, ở chiến trường Liên khu 3, Bộ quyết định mở chiến dịch Lê Lợi tại tỉnh Hoà Bình, nhằm phá thế uy hiếp của địch sau lưng địa bàn Liên khu, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá khối ngụy binh Mường. Lực lượng tham gia gồm các Trung đoàn 9, 66 và 209. Tiểu đoàn Lê Lợi được giao nhiệm vụ diệt đồn Đồng Bến thuộc huyện Kỳ Sơn nằm cạnh đường số 6, cách thị xã Hoà Bình về phía đông khoảng 10 km.


Sau khi đoàn cán bộ tiểu đoàn đi trinh sát về, được rõ đồn Đồng Bến bố trí trên một quả đồi tuy không cao nhưng hoả lực có thể khống chế các đồi thấp hơn và khu ruộng lúa xung quanh đồn. Đồn được xây dựng bằng gỗ, đất, nhà ở lợp cỏ gianh, hàng rào bằng tre nứa kiểu lông nhím. Lực lượng phòng thủ gồm một đại đội ngụy người Mường, do sĩ quan Pháp chỉ huy.


Bàn bạc lập kế hoạch tác chiến xong, Tiểu đoàn cho xây dựng đồn tương tự để huấn luyện bộ đội. Các đơn vị bộ binh được huấn luyện theo nhiệm vụ từng hướng, từng mũi. Đơn vị hoả lực (súng cối, súng phóng bom) huấn luyện bắn ban đêm. Trung đội công binh huấn luyện phá hàng rào bằng thuốc nổ và nghiên cứu làm bùi nhùi lửa (bằng ống tre con, có các móc cạnh quấn giẻ tẩm dầu, nối với giây cháy chậm, trước khi ném thì đốt giây cháy chậm) để các chiến sĩ xung kích ném vào các mái nhà gianh của địch gây cháy. Sau huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, từng bộ phận, tiểu đoàn tổ chức huấn luyện tổng hợp và diễn tập. Không phải chỉ tập một lần, một nơi mà mỗi lần di chuyển đến nơi trú quân mới là làm ngay thao trường để tập. Có hai lần diễn tập có tiếng nổ như công đồn thật. Lần thứ nhất ở làng Đầm, Bích Trì, huyện Bình Lục, Hà Nam và lần thứ hai ở khu vực Đồng Văn, huyện Duy Tiên, Hà Nam.


Sau gần hai tháng được giáo dục động viên về chính trị tư tưởng và khổ luyện về kỹ thuật, chiến thuật, trình độ chiến đấu của tiểu đoàn được nâng lên rõ rệt, tinh thần quyết tâm diệt đồn địch lập công được thấu triệt trong đảng viên, cán bộ, chiến sĩ. Tiểu đoàn sẵn sàng lên đường vào chiến dịch.


Trung tuần tháng 11 năm 1949, từ Hà Nam, tiểu đoàn hành quân qua cầu Đường (đường 21), rẽ vào Suối Bu và tới vị trí tập kết cuối cùng tại Suối Đất. Tại đây, chiều tối ngày 25 tháng 11 năm 1949, trước giờ xuất quân vào chiếm lĩnh trận địa thì tổ trinh sát bám địch về báo cáo: "Đồn Đồng Bến chiều hôm đó có thêm một trung đội áp tải hai con lừa thồ hàng tiếp tế cho đồn, có thể đêm nay số này vẫn còn nghỉ lại".


Tiểu đoàn nhận định, tuy số quân tăng nhưng không phải là quân chiến đấu, bố phòng địch vẫn như trước, càng thêm quân có thể càng khó cho chỉ huy của chúng. Tiểu đoàn vẫn giữ quyết tâm, thông báo tin trên cho các đại đội và ra lệnh xuất quân, vượt đường số 6 vào chiếm lĩnh trận địa, đánh địch theo kế hoạch. Khi bí mật tiếp cận đồn, bọn lính gác địch cũng có nghi ngờ bắn ra một vài loạt trung liên ở hướng chủ yếu của tiểu đoàn, làm một đồng chí liên lạc ở vị trí chỉ huy tiểu đoàn bị thương. Nhưng sau đó tình hình im ắng trở lại.


Qua giây nói, kiểm tra nắm được các đơn vị đã hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, anh Lê Ngọc Hiền lệnh bắn pháo hiệu bắt đầu nổ súng. Ngay loạt đạn đầu, hoả lực ta đã bắn trúng đồn giặc kết hợp xung kích phá rào, ném bùi nhùi lửa vào mái nhà. Đồn Đồng Bến phút chốc bốc cháy rực sáng. Địch hoảng loạn chống đỡ được một lúc, rồi yếu ớt dần. Trong vòng chưa đến một tiếng đồng hồ, quân ta đã làm chủ đồn, diệt và bắt gọn 132 tên, thu hơn 100 súng các loại, giải quyết thương binh tử sĩ và nhanh chóng rút quân về Suối Đất vào lúc trời vừa sáng. Sau đó tiểu đoàn hành quân về vùng Rịa, huyện Nho Quan, Ninh Bình tổng kết rút kinh nghiệm. Trong số chiến lợi phẩm ta còn thu được khá nhiều rượu, thuốc lá, bánh kẹo, đồ hộp, v.v... cùng hai con lừa, là hàng chuẩn bị đón Nô-en mà địch vừa được tiếp tế chiều hôm trước.


Có thể nói, diệt đồn Đồng Bến là trận công đồn thành công đầu tiên của Tiểu đoàn từ ngày thành lập đến lúc bấy giờ. Một trận đánh tập trung toàn tiểu đoàn, có hoả lực tăng cường của cấp trên (súng phóng bom), công đồn bằng hình thức cường tập, tiêu diệt gọn địch, thu toàn bộ chiến lợi phẩm1 (Có thể nói trên địa bàn Liên khu 3 thời đó, trong điều kiện trang bị của quân đội ta còn kém, nên cũng rất hiếm thực hiện được những trận công đồn thành công như vậy).


Cùng tham gia chiến đấu với tiểu đoàn trận này còn có các chiến sĩ văn nghệ Liên khu phái xuống. Trong đó có hoạ sĩ Nguyễn Nghiêm (vẽ bút sắt) và nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Ưu. Dọc đường hành quân qua một số dốc núi cao, trên đỉnh dốc lại xuất hiện một tấm panô nhỏ vẽ một số hình ảnh sinh hoạt bộ đội vui mắt, kịp thời động viên chiến sĩ ta quên đi cái mệt. Còn trong bộ ảnh của Nguyễn Đình Ưu có một tấm ảnh khá điển hình là trên nền trời đêm đen, đồn Đồng Bến đang bốc cháy rực sáng, nổi lên hình ảnh một người trước cửa mở (hàng rào) với tư thế hơi nghiêng nghiêng, tuy không thấy rõ khuôn mặt, nhưng trong tiểu đoàn ai cùng nhận ra ngay đó là Tiểu đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền, vì anh có cái dáng lưng hơi gù gù.


Diệt đồn Đồng Bến cùng là một trận đánh dược nhớ đến trong cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh. Năm 1955, trong chuyến lên thăm và làm việc ở Tây Bắc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dừng xe tại khu vực cầu Trôi, Đồi Mè quan sát địa hình khu vực Đồi Mè, Đồng Bến, Đầm Huống1 (Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Tiểu đoàn Lê Lợi về đóng quân tại Xuân Mai (Chương Mỹ). Khi đoàn cán bộ của Bộ đi công tác Tây Bắc, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bảo vệ Đoàn từ Mai Lĩnh đến thị xã Hòa Bình. Tại nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp dừng xe, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Phạm Công Cửu và tôi (cán sự tham mưu Tiểu đoàn) đã báo cáo và trả lời những câu hỏi của Đoàn.


Đồi Mè là nơi diễn ra trận phục kích diệt 34 xe địch (2-12-1951) và Đầm Huống là trận đánh đồn ngày 9-1-1952 trong chiến dịch Hòa Bình của Tiểu đoàn Lê Lợi. Ngày nay, tại nơi đây, nhân dân địa phương và Ban liên lạc Trung đoàn 66 đã xây dựng một tượng đài kỷ niệm).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #32 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:41:22 pm »

2. Trận vận động chiến Hoàng Dương - Tử Dương

Bước sang năm 1950, quân Pháp ngày càng khó khăn, buộc phải rút quân khỏi Bắc Kạn, một số đồn lẻ ở Cao Bằng, dồn lực lượng về giữ Đông Khê, Thất Khê; tập trung lực lượng đẩy mạnh càn quét mở rộng chiếm đóng vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Về phía ta, cuộc kháng chiến đã có những bước phát triển.


Nhằm thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng "Tích cực cầm cự, chuyển mạnh sang Tổng phản công", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh Tổng động viên với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Để chuẩn bị lực lượng đón thời cơ mới, các Đại đoàn chủ lực được thành lập. Tiếp sau Đại đoàn 308, ngày 10 tháng 3 năm 1950, Bộ quyết định thành lập Đại đoàn 304 (gồm Trung đoàn 9, Trung đoàn 57 của Liên khu 4 và Trung đoàn 66). Theo quy định tháng 4 năm 1950 phải hoàn thành, nhưng do địch đang mở rộng vùng chiếm đóng ra phía nam đồng bằng Bắc Bộ nên Trung đoàn 66 phải ở lại cùng địa phương đánh giặc, bảo vệ nhân dân, vì vậy không thể về tập trung đúng thời gian Đại đoàn quy định.


Thời gian này, Tiểu đoàn Lê Lợi đang đứng chân ở Hà Đông sẵn sàng đánh quân địch nông chiếm ra vùng tự do thuộc hai huyện Ứng Hoà, Mỹ Đức. Tại đây, quân Pháp đã chiếm Vân Đình, ngã tư Vác, Viên Nội, làng Miêng. Ngoài lực lượng đồn trú, chúng có một tiểu đoàn Áu-Phi cơ động do tên đại úy Pơ-ti chỉ huy.


Tại vị trí đóng quân ở khu vực các làng Đức Thụ, Lai Thụ, Lê Xá, huyện Mỹ Đức, Tiểu đoàn Lê Lợi đã được chính quyền và bộ đội tại chỗ (Đại đội 29 thuộc Trung đoàn 48) cung cấp cho tình hình địch. Trên cơ sở đó, Tiểu đoàn lập kế hoạch tác chiến tại khu vực đoạn đường đê từ Tử Dương đến Hoàng Dương (huyện Ứng Hoà), Sau đó cho bộ đội tập luyện trên thực địa theo phương án. Mặt khác, phái một tổ trinh sát theo dõi bám địch, nhất là bám sát tiểu đoàn cơ động của địch ở Ba Thá, Quán Tròn.


Rạng sáng 12 tháng 5 năm 1950, địch sử dụng một đại đội thuộc tiểu đoàn cơ động (khoảng 80 tên do trung úy Beng-déc chỉ huy) từ Ba Thá tiến công ra hướng Kênh Đào, Đoan Nừ theo đường đê hữu ngạn sông Đáy. Trên đường tiến quân, chúng bị du kích và lực lượng cảnh giới của Đại đội 29 đánh ngăn chặn làm chậm tốc độ hành tiến. Gần trưa mới địch mới đến Kênh Đào, Đoan Nữ, nên chúng quay về. Để tránh bị đánh, địch không quay về theo đường cũ mà lội qua sông Đáy và theo đường đê tả ngạn sông Đáy rút về Ba Thá.


Khoảng 10 giờ sáng 12 tháng 5 năm 1950, được tin báo cáo tình hình địch của trinh sát tiểu đoàn và thông báo của cảnh giới địa phương qua mạng điện thoại, Ban chỉ huy Tiểu đoàn lệnh ngay cho các đại đội nhanh chóng cơ động từ vị trí trú quân lội qua sông Đáy, đoạn Áng Hạ, nhanh chóng triển khai đội hình bao vây tiến công địch.


Ban chỉ huy Tiểu đoàn qua sông trước. Tại một vị trí cao trên đê gần làng Vĩnh Hạ (nơi đội hình các đại đội phải đi qua), Tiểu đoàn trưởng gặp chỉ huy từng đại đội để giao nhiệm vụ bổ sung, điều chỉnh nhiệm vụ tác chiến (theo kế hoạch đã chuẩn bị thì sẽ đánh địch từ hướng Ba Thá xuống theo đê tả ngạn sông Đáy, nhưng nay sẽ đánh địch trên đường từ Kênh Đào quay về Ba Thá).


Đi đầu là Đại đội 14 (Đại đội trưởng Tống Trần Thuật, Chính trị viên Nguyễn Xuân Mậu, Đại đội phó Đàm Thế Viêm), tiến qua làng Tử Dương đánh chặn đường địch rút và chặn quân tiếp viện từ hướng Ba Thá xuống. Tiếp đến là Đại đội 42 (Đại đội trưởng - Quốc Biên, Chính trị viên - đồng chí Lập, Đại đội phó đồng chí Chung - người Nhật) tiến qua cánh đồng giữa hai làng Hoàng Dương, Tử Dương chiếm đê cao, đánh ép địch ra bờ sông. Đại đội 28 (Đại đội trưởng Hoàng Văn Thi - người Nhật, Chính trị viên đồng chí Tuất, đại đội phó Mai Hiền) tiến qua làng Nghi Lộc và Hoàng Dương đánh khoá đuôi địch. Trung đội cối 81mm của Tiểu đoàn bố trí ở Vĩnh Hạ chi viện cho các đơn vị.


Khoảng 13 giờ 30 phút, bắt đầu có tiếng súng nổ. Cụ thể như sau:

- Đại đội 28: một trung đội bám được lên đê đầu làng Nghi Lộc thì bị địch phát hiện bắn đồng chí Khá trung đội trưởng hy sinh. Đại đội trưởng Hoàng Văn Thi điều ngay khẩu đại liên 30-M2 lên bắn quét dọc đê, buộc quân địch ở mặt đê phải dạt hết về vườn chuối phía bên kia đê ven bờ sông. Đồng thời cối 81mm tiểu đoàn đã bắn trúng bến lội của địch.

Hai trung đội vận động qua làng Hoàng Dương đã đánh bật một toán quân nhỏ ở đầu làng và tiến lên đê. Dưới sự chi viện của hoả lực đại liên, toàn đại đội tiếp tục tiến công địch đang cụm lại khu vườn chuối, diệt và bắt gọn một trung đội địch, số còn lại chạy về phía Tử Dương.


- Đại đội 14: khi nghe tiếng súng nổ ở hướng Hoàng Dương, đại đội mới đến làng Cao Lâm, Ban chỉ huy Đại đội động viên anh em vận động nhanh hơn để kịp hiệp đồng. Khi trung đội đi đầu lên đến đê, phát hiện một tốp lính da đen đang tìm chỗ đặt khẩu trung liên gần khu Chợ Tía, Đại đội phó Đàm Thế Viêm dùng cácbin diệt tên xạ thủ. Địch bắn trả và cho quân tràn sang chiếm khu lò gạch đầu làng Tử Dương, hòng co cụm cố thủ tại đó để chờ quân cứu viện từ Ba Thá xuống. Lúc này quân ngụy đóng ở nhà thờ làng Miêng bắn sang phía Tử Dương để yểm trợ.

Đang lúc địch đánh trả quyết liệt, thì đồng chí Minh trung đội phó và đồng chí Giao liên lạc hy sinh. Lực lượng đại đội đã lên đủ. Đại đội trưởng Tống Trần Thuật tổ chức hoả lực chi viện cho bộ đội tiến công vào khu lò gạch nơi địch cố thủ. Mấy khẩu súng phóng lựu của ta đã bắn rất trúng, ghìm đầu địch xuống. Nắm thời cơ này trung đội trưởng Lê Trung Cơ đã dẫn bộ đội xung phong lên nhanh chóng chiếm được khu lò gạch, diệt và bắt gọn 2 trung đội cùng tên chỉ huy Beng-déc.


- Đại đội 42: tuy phải vận động qua cánh đồng trống trải giữa hai làng Hoàng Dương - Tử Dương, song nhờ có yểm trợ hoả lực của Đại đội 14, 28 và cối 81mm của Tiểu đoàn nên vẫn lên chiếm được đê mà ít thương vong. Khi chiếm được mặt đê, đại đội đã phát huy hoả lực bắn mạnh vào khu lò gạch và khu vườn chuối khép chặt địch trong vòng vây, buộc địch phải ra đầu hàng.

Trận đánh kết thúc lúc 14 giờ 30 phút. Vừa lúc đó một cơn mưa rào ập xuống nên máy bay địch không thể đến chi viện, chỉ có một chiếc Đa-kô-ta bay qua khu trận địa, song máy bay địch không bắt liên lạc được với quân địch ở mặt đất nên đã bay đi.

Cùng lúc này, Tiểu đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền đã có mặt trên đê, nơi xảy ra trận đánh, lệnh cho các đơn vị thu dọn chiến trường, kiểm tra trận địa, giải quyết thương binh tử sĩ, thu hồi chiến lợi phẩm và giải tù binh về phía sau.

Một đoàn tù binh, giày treo trên cổ, do bộ đội ta áp giải qua khu vực Đức Thụ lúc còn ban ngày. Nhân dân ra hoan hô, úy lạo bộ đội. Một số đồng bào vùng địch tạm chiếm tản cư ra đây, còn nhận mặt một số tên giặc trong đám tù binh trên đã từng gây tai hoạ cho xóm làng mình.


Kết quả trận đánh: diệt gọn đại đội địch (chết 7, bị bắt 81, trong đó có tên chỉ huy Beng-déc). Thu 1 đại liên, 6 trung liên, 7 tiểu liên, 1 súng ngắn, 50 súng trường, 1 máy phôni và nhiều đạn dược. Phía ta, hy sinh 3, bị thương nhẹ một số đồng chí.

Sau trận này, Tiểu đoàn Lê Lợi được Bộ Tổng Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.

Nếu như trận Đồng Bến là trận công đồn ban đêm ở địa hình rừng núi thì trận Hoàng Dương - Tử Dương là trận đánh vận động ban ngày ở địa hình đồng bằng và cũng là trận đánh vận động đầu tiên tiêu diệt gọn một đại đội địch của Tiểu đoàn Lê Lợi1 (Tuy trước đó, Tiểu đoàn có đánh một số trận khi quân địch nống ra vùng tự do như trận Cổ Đam, Ninh Bình (12-12-1947); trận Giao Cù, Nam Trực, Nam Định (5-1-1948); trận đánh địch nhảy dù xuống vùng Chanh, Chè, Thanh Liêm, Hà Nam (12-1948) nhưng chưa thực hiện được tiêu diệt gọn).


45 năm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong cuốn hồi ký "Chiến đấu trong vòng vây" đã nhận xét: "... Đây là trận vận động chiến xuất sắc ở huyện Ứng Hoà thuộc tỉnh Hà Đông". Trong một cuộc nói chuyện với cán bộ, Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng nói, đại ý: "Trận Hoàng Dương - Tử Dương là một trận vận động chiến tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ. Các học viện, nhà trường cần lấy trận này làm chiến lệ để cán bộ học tập".


Mặc dầu quy mô trận đánh không lớn như những chiến công lẫy lừng mà các đơn vị trong quân đội sau này đã giành được, nhưng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cao nhất của quân đội ta đã có nhận xét như trên vì nó diễn ra trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang chuyển sang giai đoạn mới "phản công, tiến công địch". Phương châm, phương thức tác chiến cũng đã chuyển từ "du kích - vận động chiến" sang "đẩy mạnh vận động chiến", đánh những đòn tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch, song song phát triển đều khắp chiến tranh du kích trên các chiến trường, nhất là các mặt trận vùng sau lưng địch.


Trong phạm vi Tiểu đoàn Lê Lợi cũng vậy (có thể rộng ra là cả Trung đoàn 66). Những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp và sau này trong chống đế quốc Mỹ xâm lược, Tiểu đoàn (Trung đoàn) cũng đâ tiến hành nhiều trận đánh tập trung tiểu đoàn hoặc trung đoàn tiêu diệt hàng tiểu đoàn địch. Nhưng trận Hoàng Dương - Tử Dương là mở đầu xây dựng nên truyền thống đó. Tiếp đến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có thể nói những trận đánh của Tiểu đoàn, Trung đoàn diễn ra ở thung lũng Ia-đơ-răng, Plây Me, Đắc Tô, Tân Cảnh (Tây Nguyên)... cũng mang dáng dấp truyền thống từ Đồng Bến, Hoàng Dương - Tử Dương năm xưa.


Và khi kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, vinh dự cho Tiểu đoàn Lê Lợi (trong đội hình Trung đoàn 66) được tham gia đánh chiếm dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày nay Ban Liên lạc truyền thống Tiểu đoàn Lê Lợi chúng tôi đã chọn ngày 25 tháng 11 hàng năm (ngày chiến thắng Đồng Bến) để họp mặt. Và ngày đó không ai có thể quên được anh Lê Ngọc Hiền, người Tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều công lớn lao trong xây dựng truyền thống chiến đấu của Tiểu đoàn Lê Lợi.

Hà Nội, 6-7-2009
N.T.L
Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM