Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:35:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam  (Đọc 100688 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
seahawk1
Thành viên
*
Bài viết: 33



« Trả lời #20 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2008, 05:21:35 pm »

Nói về những trận vĩ đại thì có lẽ phải có trận Rạch Gầm - Xòai Mút chứ các thầy nhỉ!

Một trận điển hình về nghi binh cấp chiến thuật và chiến lược!

Nói về hải chiến thời có súng ống thì trận này đúng là lớn, cùng với trận Thị Nại năm 1800. Có lẽ trận Thị Nại có quy mô còn lớn hơn nhiều, vì vào thời điểm diễn ra trận này hạm đội Tây Sơn của Vũ Văn Dũng khá mạnh. Đọc đến trận Thị Nại tớ lại nhớ đến Xích Bích, cũng là một trận hỏa công ngoạn mục. Trận này cũng là một trận đánh quan trọng, có lẽ là quyết định trong việc xoay chuyển tình thế trong cuộc chiến Tây SƠn - Gia Miêu cùng trận thắng giúp Gia Long chiếm Quy Nhơn trước đó. Thành Bình Định (Quy Nhơn) đã trở thành con mồi nhử để điệu hổ ly sơn, đẩy Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng vào thế buộc phải xuất quân, đưa toàn bộ 100 ngàn quân tinh nhuệ cuối cùng của Tây Sơn đánh về phía nam. Cuộc tấn công quy mô lớn này đúng là đặt cả canh bạc vào một lá bài, vì nó để trống toàn bộ hậu phương của Tây Sơn từ Phú Xuân trở ra không còn lực lượng nào phòng ngự. Nhưng Diệu và Dũng cũng không phải là tướng tồi, chừng nào hạm đội của Vũ Văn Dũng còn ở Thị Nại canh mặt biển thì Trần Quang Diệu có thể thoải mái công thành Bình Định mà không lo Gia Long theo gió nồm đánh tập hậu. Gia Long cũng đã nhìn ra cơ hội trời cho để giáng đòn quyết định vào Tây Sơn theo kiểu "Vây Ngụy cứu Triệu", có điều thực tế xảy ra gọi là "Thí Triệu diệt Ngụy" thì chuẩn hơn. Nếu Trần Quang Diệu bỏ Bình Định lui gấp về giữ Phú Xuân ngay sau khi quân thủy Tây Sơn bị tiêu diệt ở Thị Nại thì rất có thể chiến cuộc đã khác. Với khoảng 50 ngàn quân tinh nhuệ trong tay, Quang Diệu chắc chắn sẽ làm khó dễ nhiều cho Gia Long, cho dù với một ông vua tồi tệ như Quang Toản thì vận mệnh Tây Sơn không thể nào thay đổi. Nếu Nguyễn Huệ giống như Hạng Vũ thì Nguyễn Ánh quả đúng là Lưu Bang.
Logged
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2008, 05:30:43 pm »

Rạch Gầm-Xoài Mút thì chỉ là nghi binh cấp chiến thuật thôi chứ nhỉ? Mấy cái đưa thư "lời lẽ nhún nhường" với "giả thua, nhử địch" thì chắc chưa đến mức chiến lược! Grin
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
seahawk1
Thành viên
*
Bài viết: 33



« Trả lời #22 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2008, 05:31:18 pm »

Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!
....
Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

Cái chuyện dùng ván hay dùng bó rạ lăn tròn này hồi trước cũng tranh luận kha khá bên TTVN. Bác này phân tích rất hay về ưu điểm của việc dùng bó rạ, nhưng lại quên mất một chi tiết là khi gặp hào sâu hay vật cản nổi (chiến lũy, hàng rào, bãi chông....) là bó rạ chịu chết. Những chỗ như thế dùng ván có thể vượt qua.

Ưu điểm của ván vừa là lá chắn, vừa là cầu để vượt vật cản, vừa để tải thương binh tử sĩ, chiến lợi phẩm sau trận đánh.

Như thế cũng hợp lý nếu quân TS sử dụng cả ván lẫn bó rạ, tuỳ thuộc địa hình từng chỗ.

Còn dùng súng điểu thương, từ trên bắn xuống mà trúng được chân thì hơi bị khó. Mà ngay cả có trúng vẫn có người lên thay thế được.

Cũng cần nhớ thêm là uy lực và độ chính xác của súng điểu thương (chắc là từa tựa như hỏa mai) không phải như Mauser hay CKC mà bắn đâu chết đó được. Món điểu thương này chắc không thể hiện đại hơn súng trường mà quân đội châu Âu thời đó thường dùng. Vậy mà để có được hỏa lực hiệu quả, các binh đoàn châu Âu thời đó xung phong thường xếp thành khối dày đặc sát liền nhau. Theo tôi thiển nghĩ chiến thuật này thịch hành không phải vì người châu Âu "vai u thịt bắp" chỉ biết đánh nhau bằng cơ bắp mà không biết đến "nghệ thuật chiến tranh, binh pháp ..." như nhiều "cao nhân" Việt nam ta đã tự sướng thốt lên ở nhiều forum. Sở dĩ vậy có lẽ do phải tập trung thành khối dày đặc thì hỏa lực súng trường mới hữu hiệu và cho phép đối phó với kỵ binh. Điều này cũng chứng tỏ súng trường và kể cả đại bác thời đó chĩa vào đám đông dày đặc như thế cũng không dễ gì làm thịt được nhau, tới được tầm bắn hiệu quả thì đối phương cũng đã khá gần. Lực xuyên của đạn súng trường thời đó không biết thế nào, nhưng thế kỷ 17, khi công phá Dunkirk, thống chế Luxemburg đã cho quân vác các túi len che phía trước để che đạn hỏa mai. Thế nên món ván bọc rơm đằng trước của Nguyễn Huệ chắc chắn không ngán súng điểu thương lắm đâu và thực tế đã phát huy tác dụng.
Logged
hath
Thành viên
*
Bài viết: 6



« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2008, 02:35:59 pm »

Ngô Thì Nhậm và cuộc lui quân về Tam Điệp

Trong các cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam, cuộc chiến chống hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) là một điểm son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân nước ta. Yếu tố quan trọng để lập nên chiến công lẫy lừng ấy là nhờ thiên tài quân sự của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và nước cờ lui quân trấn giữ Tam Điệp trong những ngày đầu của cuộc chiến. Tác giả nước cờ chiến lược này là tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, Tả Thị Lang bộ Lại của nhà Tây Sơn.

Cuối năm Mậu Thân (1788), vua Lê Chiêu Thống cầu viện, hơn 20 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị, thống đốc Lưỡng Quảng, cầm đầu kéo sang nước ta với chiêu bài diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê. Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo. Một đạo do tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý Châu kéo sang mạn Tuyên Quang. Một đạo do Sầm Nghi Đống kéo sang mạn Cao Bằng. Một đạo do Tôn Sĩ Nghị cùng Đề đốc Hứa Thế Hanh kéo sang mạn Lạng Sơn. Ba đạo quân của Tôn Sĩ Nghị xuất phát cuối tháng mười năm Mậu Thân, tiến vào nước ta thế mạnh như nước vỡ bờ!

Trấn thủ Lạng Sơn là Phạm Khải Đức khiếp sợ kéo cờ hàng. Phó tướng là Nguyễn Văn Diễn chạy về Kinh Bắc cùng Nguyễn Văn Hòa cố thủ, rồi sai người về Thăng Long cấp báo. Được tin, Ngô Văn Sở dùng kế hoãn binh, sai Nguyễn Quý Nha, Trần Bá Lãm mang ba tờ bẩm văn ký tên Sùng Nhượng Công và bá quan văn võ, đến quân thự Tôn Sĩ Nghị cầu hòa. Nghị bác khước!

Ngô Văn Sở bèn nhóm các quan văn võ lại, bàn biện pháp đối phó. Nhiều người đề nghị dùng phục binh đánh địch. Ngô Thì Nhậm nói:

- Quân địch mới tới, sức còn mạnh, khí đương hăng, lại khoa trương thanh thế làm kinh động nhân tâm. Nếu ta đem quân ra khỏi thành sẽ bị chúng sát hại. Cựu binh sĩ của Bắc Hà, nhuệ khí vốn đã nhụt, thừa cơ trốn hết. Chừng ấy ta mới đánh thì không hơn, mà muốn giữ cũng không được. Chi bằng rút hết quân thủy bộ vào đóng giữ từ Tam Điệp ra đến biển, để bảo toàn lực lượng, rồi cấp báo về Phú Xuân. Lúc ấy ta sẽ quyết chiến cũng không muộn.

Cuối cùng, mọi người đều thống nhất ý kiến của Ngô Thì Nhậm, rồi thừa đêm tối đem quân ra đi. Từ Thăng Long, Ngô Văn Sở theo đường bộ lui quân về giữ núi Tam Điệp (Ninh Bình). Quân thủy chở lương thực theo đường biển rút về đóng ở Biện Sơn (Thanh Hóa).

Đây chính là "cổ họng" của bắc-nam. Vì thế đèo Tam Điệp là một phòng tuyến, phòng ngự lợi hại, mang vị trí chiến lược trong quân sự như bức tường thành thiên nhiên án ngữ con đường thiên lý ra bắc vào nam của đất nước. Án ngữ đèo Tam Điệp thì địch khó có thể tiến đánh quân Tây Sơn ở kinh đô Phú Xuân.

Thế là trong giai đoạn đầu, quân Thanh mặc dù chiếm được Thăng Long, nhưng chúng không hoàn thành được kế hoạch chiến lược, tức là không tiêu diệt được quân Tây Sơn và không chiếm được tuyến địa hình có lợi cho sự phát triển của chiến tranh. Còn quân Tây Sơn tuy tạm thời rời bỏ kinh thành, vẫn bảo tồn được lực lượng, chiếm được tuyến địa hình quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công chiến lược sau này. Chính vì vậy, khi tới Tam Điệp, vua Quang Trung đã đánh giá cao kế hoạch rút quân của Ngô Thì Nhậm.

Ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân, đại binh Tây Sơn tới Tam Điệp. Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, Phan Văn Lân ra chịu tội. Vua Quang Trung cười nói:

- Ta biết đây là kế của Ngô Thị Lang. Lui quân để tránh thế giặc, trong khuyến khích sĩ khí, ngoài kích động lòng kiêu ngạo của giặc. Kế dụ địch vào chỗ hiểm yếu như thế là phải. Các khanh không có tội chi cả!

Tại Tam Điệp, vua Quang Trung cho chỉnh đốn quân sĩ 10 ngày. Đến ngày 30 tháng chạp , nhà vua cho mở tiệc khao quân ăn Tết trước và tuyên bố trước ba quân:

- Nay ta ăn Tết Nguyên đán trước, đợi sang xuân ngày mùng 7, vào Thăng Long, sẽ mở tiệc ăn Tết Khai hạ.

Sự việc diễn ra như vua Quang Trung đã nói. Chỉ trong 5 ngày, ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) quân Tây Sơn chiến thắng anh dũng ở Ngọc Hồi-Đống Đa (Thăng Long), đập tan hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược.

Nước cờ Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm đã góp phần vào chiến thắng lẫy lừng đó. (st)
Logged

Đời có Bác mở đường đi trước,
Bác cùng ta mỗi bước xông pha.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #24 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 11:48:44 am »

Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!
....
Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

Cái chuyện dùng ván hay dùng bó rạ lăn tròn này hồi trước cũng tranh luận kha khá bên TTVN. Bác này phân tích rất hay về ưu điểm của việc dùng bó rạ, nhưng lại quên mất một chi tiết là khi gặp hào sâu hay vật cản nổi (chiến lũy, hàng rào, bãi chông....) là bó rạ chịu chết. Những chỗ như thế dùng ván có thể vượt qua.

Ưu điểm của ván vừa là lá chắn, vừa là cầu để vượt vật cản, vừa để tải thương binh tử sĩ, chiến lợi phẩm sau trận đánh.

Như thế cũng hợp lý nếu quân TS sử dụng cả ván lẫn bó rạ, tuỳ thuộc địa hình từng chỗ.

Còn dùng súng điểu thương, từ trên bắn xuống mà trúng được chân thì hơi bị khó. Mà ngay cả có trúng vẫn có người lên thay thế được.

Cũng cần nhớ thêm là uy lực và độ chính xác của súng điểu thương (chắc là từa tựa như hỏa mai) không phải như Mauser hay CKC mà bắn đâu chết đó được. Món điểu thương này chắc không thể hiện đại hơn súng trường mà quân đội châu Âu thời đó thường dùng. Vậy mà để có được hỏa lực hiệu quả, các binh đoàn châu Âu thời đó xung phong thường xếp thành khối dày đặc sát liền nhau. Theo tôi thiển nghĩ chiến thuật này thịch hành không phải vì người châu Âu "vai u thịt bắp" chỉ biết đánh nhau bằng cơ bắp mà không biết đến "nghệ thuật chiến tranh, binh pháp ..." như nhiều "cao nhân" Việt nam ta đã tự sướng thốt lên ở nhiều forum. Sở dĩ vậy có lẽ do phải tập trung thành khối dày đặc thì hỏa lực súng trường mới hữu hiệu và cho phép đối phó với kỵ binh. Điều này cũng chứng tỏ súng trường và kể cả đại bác thời đó chĩa vào đám đông dày đặc như thế cũng không dễ gì làm thịt được nhau, tới được tầm bắn hiệu quả thì đối phương cũng đã khá gần. Lực xuyên của đạn súng trường thời đó không biết thế nào, nhưng thế kỷ 17, khi công phá Dunkirk, thống chế Luxemburg đã cho quân vác các túi len che phía trước để che đạn hỏa mai. Thế nên món ván bọc rơm đằng trước của Nguyễn Huệ chắc chắn không ngán súng điểu thương lắm đâu và thực tế đã phát huy tác dụng.

Luyên thuyên, mấy nhà sử học đểu. Đã dốt lại còn bậy.
Mấy cái ý trên mình đọc rồi, của một lão nào đó đăng báo, chứ không phải trên forum đâu, mấy lão này tên tuổi đàng hoàng-chuyên nghề nói phét, chứ không như anh em ta chuyên nghề tán gẫu. Ngày nay chuyện chê tiền nhân, vĩ nhân là sai, ngu... nhan nhản. Thời buổi nợn làm người mà. Mấy từ ở đây tớ dùng để nói về đám đó, không phải anh em ta nhé, thông cảm.

Súng dùng để chỉ chung các vũ khí từ hỏa đồng, pháo cho đến súng ngắn. Mấy ông nợn này cứ tưởng súng là súng trường nên mới đã ngu còn láo. mà kể cả súng trường thì ngày đó cũng chỉ xuyên gỗ được 2-3 phân, dùng ván là đúng rồi. Nợn ngu tưởng súng bắn liên thanh xuyên khỏe như 12,7mm, nên phải dùng ván 20 phân. Nợn không biết súng ngày đó thế nào, ngu si suy diễn. Trong khi quân tây Sơn dùng ván cửa bức bàn dầy có 2-3 phân bọc rơm.

Súng trường là thương (枪槍), tức là thương giáo đấy, đây là vũ khí chính của bộ binh, vừa chỉ giáo thời giáo, chỉ súng thời súng. Thương cổ đại là gậy, đồng thời là động từ có nghĩa "làm gậy", sau là "giáo"... phát triển theo kỹ thuật quân sự. Grin Grin Grin Grin Grin Grin
Súng to là pháo (礮), tức là cái máy bắn đá.
Pháo+thương+hỏa đồng đều là súng, 铳銃. Súng tức "rìu lỗ", rìu lỗ là rìu có chọc lỗ để tra cán, chứ cán không bao bên ngoài. Đúc súng rèn súng cũng giống như làm lỗ rìu lỗ cuốc, nên thừa kế chữ súng. Điều này cũng như nhà ta có "ống", trong từ "súng ống". Điều này cũng giống như tây có cannon, tức là cái ống tiến Ý.
Tiếng Vịt dân dã hiện đại thường dùng Pháo chỉ súng to, súng chỉ súng nhỏ. Vậy nên nhiều chú ngu si đần thộn nhầm lẫn. Đặc biệt anh tẹc nẹt thường phát triển bởi mấy thằng em út Hàn Triệu vốn uyên thâm như lưu manh. Sách vở chuyên ngành thì súng vẫn là vũ khí có nòng thôi, to bé không hề, nhưng lưu manh mấy khi được chạm đến mà bít.
Nghe thấy súng là tưởng súng trường súng ngắn.

Ngày đó, Âu cũng như Á, súng còn rất yếu. Nạp đạn vài phút một quả, trái phá nổ sát thương cỡ nửa quả lựu đạn trái na ngày nay. Mà rất ít trái phá, chủ yếu là đạn đặc. Súng kiểu đó chỉ dùng bắn thuyền bè xe cộ và công thành, hầu như không có khả năng sát thương. Ở châu Á, lực lượng vũ khí sát thương chủ yếu vẫn là các ống hỏa đồng và giàn nỏ liên châu, phụ thêm là loại pháo trên bắn đạn ria. Ống hỏa đồng 火筒, còn gọi hỏa hổ, là tiền thân của súng, mỏng, đường kính lớn, nhồi loại thuốc cháy chậm (trộn tỷ lệ than lớn, ít lưu hoàng), đặt nghiêng khỏang 45 độ chếch lên. Khi bắn, phun lửa và tàn than ra sát thương, tầm rất gần (2-3 chục mét). Ở châu Âu, lực lượng sát thương chính vẫn là kỵ binh, ngoài ra bắn nhiều trái phá "sát thương dần dần", châu Âu lúc này phát triển hơn Á, đã cơ động kông phụ thuộc thành trì nên Hỏa Đồng mất điện.

Âu hay Á thì cũng có đoạn xung phong. Cho đến Nội Chiến Mỹ thì chiến thuận vẫn cổ điển. Thật ra, mỗi trận đánh có vài vạn người tham gia thì trận tuyến rất mỏng, chỉ cùng lắm là vài chục hàng ngang, nên mới có khái niệm "xung lực xung phong", thời điểm cái hàng ngang mỏng teo ấy tiếp cận công sự địch, khác với trận đánh lớn bố trí quân bát giác, và dễ hiểu hỏa đồng tác dụng thế nào, làm thủng luôn hàng ngang đó. Nói rõ hơn, áp lực của hàng ngang tuy mạnh nhưng "mỏng", rất dễ bị dập tắt. Hiểu được thế thì cũng hiểu tại sao lại dùng ván tẩm rơm ướt, chống cả súng và hỏa hổ. Cũng hiểu được bó rơm lăn không thể có nhiều để che được, không thể lăn tốc độ cao, không thể xung phong được. Việc dùng ván hay loại khiên rất to có từ lâu khi xung phong, đây cũng là chiến thuật cổ có được nói trong binh thư. Khi giáp nhau, ván được vứt đè đối phương xuống, tạo thành bàn đạp xung phong, vừa đè người, chông, hào, bờ thành thấp.... CÒn dùng biển lửa của rơm thì lấy chỗ chó nào xung phong. Mà mấy con nợn chưa nhìn thấy doanh trại bao giờ, chông hào lũy nó để đâu để cho nợn lăn rơm.
Mấy chú ngu láo cứ tưởng trận đánh 1 vạn người cũng giống trận đánh 50 vạn người, quân đội trùng trùng điệp điệp, hết lớp này đến lớp khác.
Ngu láo cũng tưởng súng như ngày nay, bắn 600 phát phút, xuyên thép dầy 25mm gỗ dày 200mm. Hay ngu láo tưởng pháo bắn 10 phát phút, mỗi đạn hàng vạn mảnh chết cả sào người. Muộn hơn thời điểm này gần 20 năm, Nã Phá Luân buồn chán đứng nhìn quả trái phá đang cháy ngòi đợi chết (địch vừa bắn đến), "ùm", đến hạt bụi cũng không dính.

Trận đánh đồn Khương Thượng ban đêm, quân Tây Sơn dùng đuốc cùng với dân vùng này, tạo thành mũi xung phong dài, chứ không dàn hàng ngang. Ban đêm, đây là chiến thuật tiến quân hay được dùng, người sau đi theo người trước, chứ dàn hàng ngang dễ tan hàng. Quân Thanh nhìn thấy như rồng lửa.



Cái ngu thứ ba ở đây là "điểu thương". Khỉ, thời buổi này thằng ngu làm thầy, bốc phét văng mạng, càng ngu càng láo, càng láo càng lắm thằng ngu.
Phương Đông không dùng "điểu thương". Điểu thương là súng cá nhân dùng đã lửa, cái mỏ đá lửa giống đầu chim nên gọi là "điểu thương" hay "điểu đầu thương", "điểu súng" 鳥銃. Phương Đông dùng thiết kế của "Hỏa khí doanh" (đơn vị của Hồ Nguyên Trừng), tên là "hỏa thằng thương", loại súng trường có cò mồi bằng thừng cháy chậm. Tuy nhiên, đó là thời Minh, còn lúc diễn ra trận Hạ Hồi Ngọc Hồi, thì chỉ Nhật dùng. Súng thời Thanh đi lùi khủng so với Minh. Sắt chất lượng tồi, đúc rỗ và thiếu loại thép chất lượng cao để làm những bộ phận chi tiết phức tạp của súng trường. Hồi đánh ta, súng nhỏ của quân Thanh chỉ là loại thần cơ nhỏ, bỏ cò, khác gì pháo to đâu trừ kích thước. Vậy nên đều gọi súng là "thần cơ" hay là "thần công". Súng của phương Đông không có giai đoạn điểu đầu, mà chuyển ngay qua đoạn súng kíp với hạt nổ làm bằng ống lông vũ, điểu súng là từ tầu chỉ súng tây.

Mấy láo ngu ngày thích nói láo, lại dốt, bới được mấy trang web còn dốt hơn, bọn nó gọi "thằng" là "điểu", bê nguyên vào rồi ra vẻ nghị luận. Tời buổi ngu si đần thộn làm thầy nó thế.

Còn đây là hỏa thằng và điểu đầu. Ai có quen biết thì mách cho lũ ngu si biết là nó ngu. Ờ, nhưng mà điều đó hơi khó.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.20

Hoàng Lê Nhất Thống viết: "Trời gió nam, quân Thanh dùng hỏa đồng bắn ra".
Ngô văn gia thuyết: "sai đội khiêng ván chạy kíp vào trận".
Hỏa đồng đây



Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra.
Thế mới ngu si. Thời buổi ngu si đi dậy đời, nợn làm người nó thía nì. Diến biến thế nào Huh?
Súng tầm bắn 100 mét, xuyên 2-3 phân, tốc độ bắn 3 phút một phát, người chạy 5 mét giây (15km/h, bằng xe đạp đi vừa), 100 mét hết hai mươi giây, tức là súng chỉ bắn được 1 loạt duy nhất là đang trôi 1/10 thời gian chuẩn bị loạt sau. Nợn tưởng là quân Thanh dùng PKM, bắn được vài trăm viên rồi, hay chí ít cũng là AK. Thực tế là quân Thanh không kịp nạp đại bác, và cũng rất ít đại bác theo yêu cầu, có thể là không có, vì đại bác đặt ở Thăng Long hoặc tiền quân. Kể cả có nhiều đại bác thì số thương vong không đáng kể, vì như trên nói, đây không phải vũ khí sát thương, mỗi viên đạn chết 1 người, để sát thương đáng kể, quân Thanh cần có lẽ đến cả vạn pháo lớn Thần Cơ. Còn loại tên đạn súng nhỏ, ván cửa bức bàn bọc rơm quá cả xe tăng rồi.
Đấy là bước đầu, tiếp theo, khi chữ nhất đã tiến sát công sự, khoảng cách còn 2-3 chục mét theo cách nói hiện đại, quân Thanh dùng hỏa đồng bắn ra, trận chiến đã được mô tả hết sức thực tế, chuyên nghiệp, súc tích ngắn gọn. Tác giả đã nói hai bên đều thạo binh thư, được huấn luyện kỹ, đánh đúng bài bản, nhưng quân Thanh không chuẩn bị kỹ, thiếu hẳn lực lượng phản xung phong nên mới chết, đoạn văn quá hay. Thế nhưng ngu láo si đần luôn chê tiền nhân, chê tiền nhân vì quá ngu si biết mịe giề đâu. Thằng thần kinh luôn tưởng thiên hạ thần kinh, mỗi nó khôn, cái quy luật này ở đâu cũng đúng.
Cái chiến thuật vác ván này còn dùng dài dài, cả Âu lẫn Á. Chỉ có mỗi mấy thằng nợn thần kinh dở mới chê bai thôi. Cái thời nợn làm thầy đông như kiến, sa sả chê bai tiền nhân vĩ nhân nó thế.

Ở đây cũng thấy rõ một đặc điểm của giống nợn bại não nói chung là rất thích dùng những câu từ văn hoa như là nợn có hiểu biết lắm, mặc dù chưa biết cái trại lính hay bó rơm như thế nào, nhưng "những người có hiểu biết một chút về quân sự"... ý hẳn tự cho mình trên "hiểu biết một chút" đây. Trong khi dưới cả một chút là chông hào luỹ ven đồn thì éo thèm bít. Hay cái đồn vạn quân nó giống vườn hoa, mà vườn hoa thì người ta cũng rào, ai cho nợn chạy lung tung.

Người muốn hiểu biết cần học kỹ bản năng từ bé, sau mới hấp thụ được kiến thức. Cũng như trẻ em mới đẻ phải ti trước làm căn bản, có cơ địa rồi sau mới rượu chè. Nợn ngu si dốt nát, cũng như trẻ em cho uống rượu, càng đọc thiên kinh vạn thư càng loạn chữ bại não. Cũng là một bài học thời "tiếp thị thương hiệu Bush".

Đọan bình luận trên mình đọc trên báo, cũng lâu rồi, của giáo sư đứng tên hẳn hoi. Nghĩ lại, thời này lắm nợn làm thầy thế, thời đại bốc phét ngu si.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Năm, 2008, 03:36:49 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #25 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 01:02:17 pm »

  Không thấy mọi người nhắc đến trận Bô Cô nhỉ, quân Hậu Trần trận đó đánh ác phết, thằng Mộc Thạch mang quân tăng viện sang bị dính đòn này sợ vãi, theo sách Đại Việt sử ký toàn thư thì trận này bọn Minh bị giết đến 10 vạn, chết mất mấy tướng lĩnh và văn quan cao cấp.
  Mấy bác bảo các cụ nhà mình ko tranh thủ bọn Tống đang thoi thóp mà đánh lên phía bắc là nhầm rồi, Trần Thái Tông có trực tiếp dẫn quân tấn công đấy chứ, ông còn tự xưng là Trai Lang...Có tài liệu nào đó nói phần đất mà Mạc Đăng Dung cắt cho bọn Minh thực ra ko phải của mình, nó vốn là đất Tàu bị các cụ nhà mình xẻo mất

Trận Bô Cô là thời Giản Định Đế nổi dậy kháng Minh. Có công lớn ở trận này là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Chỉ tiếc là chưa kịp bắn hết chim thì Giản Định đã bỏ ná sát hại cả hai người. Kết quả là phải đợi khi Lê Lợi khởi nghĩa nước ta mới thoát vòng thuộc Minh. Có lẽ Việt Nam là nước nhỏ, dân số cũng có hạn nên quy mô các trận đánh cũng vừa phải (nói thêm là Trung Quốc nhiều khi cũng phét lác quá. VD: Thời chiến quốc khéo cả thế giới cộng lại cũng chỉ được chưa đến 100 triệu dân, TQ chắc ko quá 20 triệu lại chia bao nhiêu nước, thế mà Triệu chết được đến 450 ngàn quân ở Trường Bình thì cũng khó tin). Có thể kể ra vài trận đánh đáng nói:
-Cả chiến dịch chống Tống năm 981 của Lê Hoàn. Theo như sách ta thì quân Tống huy động khoảng 100 ngàn quân và thất bại thê thảm. Chủ tướng Hầu Nhân Bảo toi mạng ở Chi Lăng.
-Nam chinh to nhất thì có chiến dịch năm 1471 của Lê Thánh Tông huy động đến 250 ngàn quân như đã nói trước đây. Tiếc là tớ không có nhiều tư liệu.
-Thời hai họ Nguyễn tranh hùng cũng có nhiều trận quy mô lớn, như trận quân Nguyễn Gia Miêu diệt thủy quân Tây sơn ở Thị Nại năm 1800 hay 1801,
-Thời Nam Bắc triều cũng có vài lần nhà Mạc huy động đến 100 ngàn quân tấn công nhà Lê, nhưng rút cục đều thất bại, lần tệ hại nhất năm 1592 theo đại việt sử ký quân Mạc chết đến 10 ngàn người, với quân số thời đó quả thực là khủng khiếp.
-Thời Trần hiển nhiên có nhiều trận đánh dữ dội, thắng thì nhiều người nói rồi, thua thì nổi tiếng nhất là Hồ Quý Ly bị Chế Bồng Nga nện cho đến mức mất 76 tướng trong một trận năm 1389.


Công của hủ nho nhà khựa đấy. Khựa cứ ôm sách khổng hủ, tự hào là văn minh, trong khi phần lớn thời gian lịch sử của khổng con khổng cháu bị dân man di đô hộ. Một trong những công lao lớn nhất của khổng hủ là an dân trị nước bằng thơ nhạc, học thơ nhạc được làm quan. Còn toán thì chỉ làm lại, lý làm thợ, sinh vật thì làm nghề hạ đẳng nhất xã hội là nông dân. Vì cái kiểu đó, nên cái gọi là chính sử chỉ là tập hợp những lịch tế lễ và tụng ca hoàng triều.

Ví dụ, Quang Trung Đại Phá Quân Thanh được mô tả là quân Thanh đánh trận lớn ở Đáp Cầu, toàn thắng, Nguyễn Huệ sợ quá quy hàng. Rồi vua thanh sai vẽ 6 bức tranh quý rất lớn, mô tả chiến công này, nêu gương cho hậu thế. Nợn, số phận cũng hài hước, Cố Cung điêu tàn, bọn hoạn quan trộm đồ quý rồi đốt cung phi tang. 2 trong số 6 bức quý đó được một nhà sưu tầm am hiểu lịch sử phương đông tặng cho..... Vịt nhân 200 năm trận chiến.  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Mà hình như Vịt tặng lại khựa  Grin Grin Grin Grin Grin, bạn nào bít chiện này không nhỉ. ?

Những cuộc chiến tranh bị bóp méo như thế. Mỗi trận nào thắng, số quân tham chiến được chính sử tầu tâng lên đôi ba, những trận thua thì tụt xuống. Rồi những người sau đó mất thế lực cũng bị ngu hủ nho viết sử cắt bớt quyền lực bằng giảm bớt quân...... Hủ nho nhà Vịt lại lấy Minh Sử nhai lại thành sử Nguyễn. Nước thối chảy tràn khắp nơi.

Đấy mới là ngu si cố ý. Rồi sự ngu si của những thằng hủ nho ở cung đình không hiểu thực tế. Ví dụ, quân Trung Uơng Tầu khi vượt biên thường lôi theo cả lũ thổ phỉ địa phương, bọn này sống không có lương, bằng gì tự hiểu, đôi khi đông bằng và hơn quân được tính trong sổ. Sự ngu tối này được những nhà nghiên cứu thủ dâm hậu thế cắt lọc đi và quân số chỉ còn nhiều khi là 1/10.

Ví dụ, 4-5 cuộc Mạc Bắc Viễn Chinh cùng thời với Lê Lợi quân Minh mang 50 vạn, đích thân Chu Lệ thân chinh, thắng. Cùng thời đó Liễu Thăng chỉ được mang 10 vạn khi chết và sử ghi tụt xuống còn 7 vạn. Hay cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Minh đánh Đại Ngu của Hồ Quý Ly chỉ 5 ngàn người  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin. Quân Minh thiên về đại quân, những trận chiến thường huy động số quân rất lớn và thường xuyên có Hoàng Đế thân chinh (đặc diểm của những khởi nghĩa tầu, nghi kỵ nhau, đem tất đi cho an toàn). Thế nhưng có lần đem 5 ngàn người đi đánh một nước mấy trăm năm hùng mạnh, ngu đến không còn gì ngu hơn.  Grin Grin Grin Grin Grin Grin

Dân khựa đời đài nhớ ơn khổng tử, phần lớn lịch sử tầu khựa là nằm dưới ách đô hộ của lũ "man di địch...". Nhờ khổng tử, dân tầu là lũ súc vật nô lệ chuyên nghiệp và thỉnh thoảng lại bị làm thịt hàng loạt trong nhã nhạc thi ca.

Thế nhưng nhờ hủ nho mà khổng con khổng cháu thường vỗ ngực về văn minh văn hóa. Thiên niên kỷ tứ 2 bắt đầu bằng việc nước tống suy và gọi Tây Hạ, Liêu là em kết nghĩa, mỗi năm biếu em... để khỏi dùng chữ nộp cống. Rồi thì Kim lấy Bắc Tống. Rồi thì cái mẩu Nam Tống bị Mông Cổ chén nốt. Nhà Minh tồn tại dặt dẹo với khoảng vài chục năm đời Vĩnh Lạc đè được Nguyên, rồi sau đó lại bị Nguyên Thanh gặm nhấm. Rồi cuối cùng thanh cũng chén sạch Minh. Rồi ..... Cả Thiên niên Kỷ thứ 2, khựa chỉ duy nhất hoàn toàn độc lập được thời Minh. Nhưng cái độc lập của họ dân chúng còn chuối hơn cả làm nô lệ, các cuộc khởi nghĩa chống nguyên dừng lại lập ra nhà Minh chỉ vì dân chúng chết đã sạch đàn ông, chiến tranh vì thế mà chấm dứt. Lúc chưa mất minh,hủ nho ra rả chửi Sùng Trinh. Cái thằng lùng trinh này có cái giường di động, đi khắp nơi, kết ẻm nào là lôi lên liền. Nhưng mà hắn có vấn đề với máy móc, nên có lần các ẻm nổi loạn thắt cổ hắn trong giường, may bà không chết. Sau khi Sùng Trinh bị sấm vương giết, Minh mất, lũ hủ nho khựa lại sa sả để tang cho Sùng Trinh mấy trăm năm liền, biểu tượng của độc lập  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin. Mà Thiếu Lâm cũng đi đầu trong phong trào ủng hộ Sùng Trinh  Grin Grin Grin Grin Grin Các sư hình như kính phục hắn khoản ăn chơi.  Grin Grin Grin Grin Grin

Thiên niên kỷ thứ nhất thì còn tệ hơn cả thế. Cộng cả lại, dân khựa sống được 1/4 hoàn toàn độc lập và trong thời gian đó ngày đêm cầu mong được làm nô lệ. Đâu như nhà ta, sử hủ nho cũng nhiều, nhưng các cụ còn truyền được bí kíp, nên phần lớn thời gian làm trưởng xóm  Grin Grin Grin Grin
Dưng cơ mừ càng ngày hủ nho vịt càng mạnh, cú thía. Tớ đang có cảm giác của Nhậm Ngã Hành, muốn phá văn miếu kheóet mặt tượng không tử quá.  Grin Grin Grin Grin Grin Grin
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Năm, 2008, 02:42:52 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 519



« Trả lời #26 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 04:57:22 pm »

Chẹp, bác Phúc lại thế rồi. Đề nghị bác sửa lại những chỗ nợn, ngu, dốt, khựa... đi nhé. Bài của bác sẽ có giá trị hơn nhiều nếu không có mấy cái chỗ đấy đấy.
Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #27 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 07:46:55 pm »

Hờ hờ hờ.
Kể ra, chửi bọn hủ nho thế là còn nhẹ.
Sau những nỗ lực của Vương An Thạch bất thành, hủ nho toàn thắng. Ngày nay, dân tầu căm thù Tư Mã Quang, nhưng ngày đấy, cả dân tầu vươn cổ ra chịu Hung Nô chém giết, mất dần đến hết nước... tất cả trong nhã nhạc thi ca của hủ nho.

Thật ra, hủ nho ở ta cũng chả kém gì. Những cải cách của Hồ Quý Ly, Mạc, Tây Sơn... đều bị hủ nho làm cho hỏng, kể cả đánh trước mặt và đánh từ trong nà đánh ra. Một trong những người chống hủ nho nhà ta là Hồ Nguyên Trừng cuối cùng tìm được việc làm lớn bên Minh Triều. Ông đã chế tạo nhiều loại súng và xây dựng công nghệ luyện sắt khổng lồ nhà Minh.

Chu Nguyên Chương giành được chính quyền, nhưng hủ nho rất lắm mẹo, chúng bám vào thái tử và con ông, làm thối nát triều đình. Vinh quang gì cái lũ sống bằng váy đàn bà trẻ em đó, thế mà, chúng làm nhiều chuyện bi thảm mà các chiến binh anh hùng phải chịu chết cả 9 họ. Toàn bộ các bạn của Chu Nguyên Chương cùng các tướng lập quốc bị lũ nợn này chém sạch và người chịu trách nhiệm dĩ nhiên, là Chu nguyên Chương. Còn lũ hủ nho, hoạn quan, đàn bà đứng sau... vô can.  Ngoài tam giáo cửu lưu, đàn bà giáo, hoạn quan giáo phát triển trong bóng tối mà hèn hạ không bao giờ xưng tên. Thịnh Đường là triều đại mà hủ nho thường ca tụng, chính là nơi mà đàn bà giáo thịnh trị. Người ta giành chính quyền không phải bằng gươm đao, trị nước không phải bằng cày cuốc, mà bằng cái ở giữa hai chân chị em. Lúc đó, người ta chỉ mong đẻ con gái.

Tuy nhiên, hủ nho chém sạch tướng binh giành chính quyền, yên hưởng Nam Kinh, thì con thứ của Chu Nguyên Chương là Chu lệ dẫn quân từ Bắc Kinh về làm gỏi sạch cả đàn bà, hoạn quan, hủ nho và tên vua bị chúng làm cho hủ bại. Rồi Chu Lệ xây dựng một kinh thành mới, tránh xa hủ nho, nhờ vậy mà Minh Triều có kinh tế đại quy mô, thợ thuyền như Nguyễn An được tôn vinh, khoa học được nỗ lực đài thọ. Chính trong môi trường đó, Hồ Nguyên Trừng đã tạo được sự nghiệp của mình và chế ra súng.

Đối địch với Hồ Nguyên Trừng là những kẻ nào: những kẻ gọi quân Minh và đánh nước ta, gọi quân Thanh vào đánh nước ta.... Hủ nho biểu hiện muôn hình muôn vẻ, nơi đâu cũng lươn lẹo léo lá, giết muôn người chỉ đổi lấy miếng cơm thừa. Những kẻ coi khinh toán lý sinh học... Mở mồm ra là nhạc ư, thơ ư.

Thời Tuyên Đức, hoạn quan thịnh trị, hủ nho đời sau thường lấy đấy làm ví dụ để nói này nọ !!!!! lúc nào chúng cũng muốn làm ngu si thiên hạ. Hoạn Quan thời này là những người đặc biệt, đó là những anh tài khắp nơi được các chiến minh của Chu Lệ lùng săn về, đem hoạn để xây dựng kinh thành Bắc Kinh, trong đó có Nguyễn An, Trịnh Hòa. Số phận của lớp người này thật bi thương, nhưng ít ra trong vài chục năm họ đã lấn át được quyền của lũ hủ nho ngu dốt. Chu Lệ cũng ngu si, nếu không hoạn lớp người này thì nhà Minh có khi đã thành nước tư bản lớn. Nhưng gen tinh hoa này của loài người mất đi, Bắc Kinh lại toàn hủ nho thối như 2 ngàn năm trước. Hủ nho lại lải nhải nhồi sọ lũ ngu si về cái hoạ hoạn quan. Chúng ỉm phéng đi với các nạn nhân của chúng rằng, đấy không phải là đệ tử của hoạn quan giáo, đồng minh của đàn bà giáo. Hoạn quan thân hủ nho là lũ thay quần cho chị em, đâu phải những người tung hoành 4 biển như Trịnh Hoà.


Em chữa rùi pác ạ.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Năm, 2008, 07:59:19 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 07:50:48 pm »

Hờ hờ hờ.
Kể ra, chửu bọn hủ nho thế là còn nhẹ.

--------------------------------------------------------
 Chú lúc nào cũng thế, quy định của diễn đàn chú đọc chưa? Chưa thì đi đọc ngay rồi vào tự sửa bài đi!
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #29 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 02:01:03 pm »

Hình như lần này là đánh thắng đúng không bác nhỉ. Thấy sử sách ít nhắc đến quá.
----------------------------------------------------------------------
 Thắng to ấy chứ!

Nhà Nguyễn đê hèn thế nào không cần nói. Đã thấp hèn thì thường đi ngang cái ngu dốt, cái óc dược cái tim dẫn lối mà.  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin

Nhà Nguyễn lấy Minh Sử và vài sách, như Đại Sự Ký (một loạt sử viết về đương thời, rộng hơn, nhiều hơn và công được coi "chính thống" như chính sử của sử quán), rồi ngào nặn bóp méo lịch sử ngắn ngủi của Đại Ngu. Nhiều người đã tưởng nhầm mà tin theo "Khâm định Việt sử khâm giám cương mục". Những cuộc cải cách lớn như Hồ, Mạc, Quang Trung (và chúng ta ngày nay), đều là đại thù của hủ nho, ngày đêm bọn khổng thối ấy tìm cách bôi xóa. Nhà Nguyễn thì lại có nguyên lý cõng rắn cắn gà, như những kẻ mượn họ trần sang cầu quân minh, mượn họ lê sang cầu thanh, nguyên lý ấy ngược lại với truyền thống chống ngoại xâm.
Tóm lại, Đại Ngu cải cách kinh tế, phát triển khoa học, chống ngoại xâm.... đều ngược với nguyên lý của triều Nguyễn và lũ hủ nho, hai loại đê hèn. Khen Đại Ngu là "cách không chỉ chưởng" mắng nhà Nguyễn. Nhưng đã đê hèn lại càng thối khi nhà Nguyễn bóp méo lịch sử trong Khâm Giám làm nhiều người nhầm.


Hơn nũa, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn An là những Việt Kiều vĩ đại. Từ thân phận nô lệ, họ đã vươn lên chiếm những vị trí lớn trong triều đình nhà Minh. Hồ Nguyên Trừng dâng vua Minh "thần cơ thương pháo pháp" đổi lấy mạng cha em và các tù binh, liền được cho làm quan (binh trượng cục chủ sự). Ông bất chấp việc hặc tội lớn (có thể chết cả nhà), không nộp lý lịch cho đến năm 1426. Thái độ cương cường bất hợp tác đó tồn tại cho đến khi 17 ngàn tù binh và con cháu đã được tôn trọng, trở thành một bộ phận quan trọng của công nghiệp tầu, nền móng chủ chốt cho ngành luyện sắt khổng lồ của thế giới lúc đó (10kg đầu người một năm sau đó vài chục năm). Ông chỉ nộp lý lịch khi cuộc kháng chiến của ta đã coi như thắng lợi và bản thân ông được giấy tờ viết là "Hoàng tử nước An Nam" chứ không là "em của con giặc đầu sỏ".
Suốt đời Hồ Nguyên Trừng không công nhận hai binh thư quan trọng là do ông viết hay tham gia viết, mặc dù ông và con ông nối nhau đứng đầu súng pháo tầu 63 năm liền !!!!! xây dựng nên đại công nghiệp luyện sắt và người Tầu ra rả đó là kiến thức của An Nam. Minh sử ghi "Thành Tổ bình giao chỉ, được thần cơ thương pháo pháp, đặt thần cơ doanh". Thời gian bên Tầu ông chỉ nhận là tác giả "Nam ông mộng lục".

Thái độ và tài năng của ông hoàn toàn ngược với những kẻ bán nước, cõng rắn cắn gà, đê hèn về tinh thần và dẫn đến ngu si về tri thức.
Kiến thức của ông thì muôn đời bọn ngu si không thèm học toán không thể bình luận dược. Nhưng đê hèn sinh ra ngu si thì ngu si cũng làm phát triển đê tiện. Hủ nho 2500 năm qua đê tiện thế nào thì chả cần phải bàn. Lũ ăn bám chê bai toán lý hóa sinh, bắt các đạo này lưu trong bóng tối. Hủ nho lại có lý thuyết trị nước bằng thơ nhạc, lại luôn vỗ ngực là trụ cột của thiên hạ,  Grin Grin Grin Grin Grin và chê toán lý hóa sinh, đúc sắt xây thành, đào mương khẩn hoang, đóng thuyền viễn du... là công việc của lũ... éo thèm nói nữa.
------------------------


Bùn cừi, tớ bắt đầu nghi Khăm Gián khí đọc đến đoạn trương phụ bố trí Thần Cơ Thương Pháo bắn vào Đa Bang. Bản thân tớ biết được đó là đoạn viết ngu si, không thể nào lại có mặt trong chính sử, trừ loại chính sử ngu si. Và thế là, tớ biết được có loại chính sử ngu và hèn.

Các lý do sau:
Thần Cơ Thương Pháo không phải là một loại vũ khí. Thần Cơ là loại súng có kết cấu do Hồ Nguyên Trừng phát minh. Thần Cơ Thương là súng cá nhân bộ binh. Thần cơ pháo là súng lớn cộng đồng. "Thần cơ thương pháo" không được dùng ở đây, mà dùng từ "súng". "Thần cơ thương pháo" thường dùng trong cụm từ "thần cơ thương pháo pháp", nguyên lý thần thánh chế tạo súng pháo, sản phẩn là "thần cơ súng". Người dùng cụm từ trên đã dùng theo cách hiểu "Thần Cơ Thương Pháo" là một loại vũ khí.

Minh sử ghi như trên "Thành Tổ bình giao chỉ, được thần cơ thương pháo pháp, đặt thần cơ doanh". Như vậy, Thần cơ là tên nhà Minh chỉ loại súng có động năng đầu đạn rất mạnh của Hồ Nguyên Trừng, nhưng ở đây, nó lại dược dùng để đánh Đa Bang.  Grin Grin Và còn nhiều sách vở nữa nói về "Thần Cơ", "nguyên lý thần thánh" là một thương hiệu Hồ Nguyên Trừng đặt ra, quảng cáo và sinh sống khi sao chiếu mệnh mờ tối. Thương hiệu "Thần Cơ" này rất nổi tiếng ở Tầu. Đến nay tầu con tầu trẻ vưỡn thương vỗ ngực uỳnh uỵch về nó. Khăm gián tra Minh Sử, thấy đời Minh Thành Tổ chu lệ nổi tiếng có thương hiệu này, liền chế ngay ra đoạn hợp lý, tại sao không đem nó đi đánh Đa Bang nhỉ.

Cái đê hèn nó dẫn đường cho ngu si và ngu si làm người ta tỏ rõ hèn hạ nó như thế. Đến mạt kiếp cũng không giải thích cho bọn hủ nho thế nào là đúc là rèn, là giòn là chắc, áp lực nhiệt độ, đường ngắm và thời điểm bóp cò. Vì vậy, 2500 năm lũ hủ nho bồi bút cũng không thể hiểu súng nòng dài và nòng ngắn, mồi châm và mồi cò. Vì vậy, có đào mả 2500 tổ sư nhà hủ nho cũng không thể giải thích thần cơ nó khác loại hỏa đồng nòng ngắn như thế nào. Thực tế thì ở Đa Bang, Minh Sử và Thực Lục, Đại Sự đều ghi Trương Phụ dùng tên áp chế mặt thành, chiến thuật phổ biến của quân Minh lúc đó.
-------------------------


« Sửa lần cuối: 15 Tháng Năm, 2008, 02:09:16 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM