Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:50:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950 - 1975 (George C. Herring)  (Đọc 106021 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #160 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:36:48 pm »

thôn rộng lớn trong trường hợp phải bắt đầu các cuộc đàm phán nghiêm túc. Abrams đưa một bộ phận đáng kể quân Mỹ và lính Việt Nam Cộng hoà vào chương trình này và các lực lượng phòng thủ địa phương được phát triển và cung cấp trang thiết bị quân sự hiện đại. Để sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Mỹ và Nam Việt Nam đã tập trung nỗ lực bình định một số vùng then chốt. Các quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hoà tích cực vận dụng cả "cây gậy lẫn củ cà rốt" để bẻ gãy những lực lượng Việt cộng suy yếu. Chương trình chiêu hồi (tức ân xá và phục hồi cho những kẻ chạy sang hàng ngũ Việt Nam Cộng hoà) cũng như chương trình Phượng Hoàng là những đòn đánh trực tiếp vào các cơ sở cách mạng bằng cách bắt bớ hàng loạt. Vào cuối năm 1968, lần đầu tiên Mỹ và Việt Nam Cộng hoà đã tập trung phần lớn nguồn nhân lực và vật lực của họ vào việc thực hiện nhiệm vụ kiểm soát vùng nông thôn(1).

Mỹ cũng hối hả thực hiện chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh". Các quan chức Mỹ thành thật thừa nhận rằng, Việt Nam Cộng hoà chưa sẵn sàng gánh vác gánh nặng tự phòng thủ. Abrams thú nhận: "Nếu rút toàn bộ quân Mỹ ra ngay bây giờ thì chính phủ Nam Việt Nam sẽ phải cam chịu nhận trở thành một phần nhỏ của nước Việt Nam"(2).

Các kế hoạch mới vẫn được đề ra để phát triển và nâng cấp quân đội Nam Víệt Nam và dần chuyển cho họ trách
-------------------------------------------
(1) Douglas S. Blaufarb, Kỷ nguyên phản kháng trỗi dậv: Học thuyết và sự thực hiện của Mỹ, New York, năm 1977, tr.264-265.
(2) A.J.Langguth, Tướng Abrallls lắng nghe những hồi trống khác nhau, Thời báo New York ngày 5-5-1968, tr.28.

----------------------------------------------------------------
nhiệm chính trong các trận đánh. Mức quân số đã tăng từ 685.000 lên 850.000, các chương trình huấn luyện được phát triển mạnh và quân đội Nam Việt Nam được cung cấp các trang bị mới nhất. Để tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hoà và làm cho quá trình chuyển giao dễ dàng hơn, Abrams đã sử dụng kết hợp các đơn vị Việt Nam Cộng hoà và quân độí Mỹ trong các trận đánh(1).  Tuy nhiên "bình định" và "Việt Nam hoá chiến tranh" đều là những nỗ lực lâu dài của Mỹ, vì thế những nỗ lực điên cuồng trong năm 1968 không thể bù đắp lại cho nhiều năm lãng quên. Phải đến cuối năm 1968 "Chương trình bình định" mới đạt trở lại mức độ trước đó. Việc đưa lực lượng xuống các vùng nông thôn không được sự ủng hộ tích cực của dân. Quân đội Việt Nam Cộng hoà có quy mô lớn hơn và được trang bị tốt hơn, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cơ bản chưa giải quyết được. Năm 1968, nạn đào ngũ lên cao chưa từng thấy; thêm vào đó là tình tạng thiếu trầm trọng các sỹ quan có năng lực. Vào cuối năm đó, các cố vấn Mỹ tiến hành đánh giá và xếp hạng hai sư đoàn Việt Nam Cộng hoà là "cực kỳ kém", 8 sư đoàn chỉ ở mức "tiến bộ" và chỉ có một sư đoàn là "giỏi"(2). Mỹ nhận thấy trong lòng người Việt Nam có một sự chống đối "Việt Nam hoá chiến tranh" thầm lặng nhưng kiên quyết. Sau khi đi Sài
-----------------------------------------------------
(1) J.Lawton Collins, Sự phát triển và quá trình huấn luyện của quân đội Việt Nam cộng hoà giai đoạn 1950-1972, Washington D.C, năm 1975, các tr.85-88,100-101,104-105,117-118.
(2) Robert Shaplen. Con đường dẫn tới cuộc chiến: Việt Nam 1965- 1970, New York, năm 1970, tr.250.

--------------------------------------------------------------------------------
Gòn về, Clifford thấy rất "bức xúc" trước mức độ "Mỹ hoá cuộc chiến tranh". Mỹ lúc này vẫn đang thực hiện phần chính trong cuộc chiến tranh và phải trả mọi chi phí. Ông ta kết luận: "Điều tệ hại nhất là các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam có vẻ hài lòng với cách thức tiến hành chiến tranh như vậy"(1).

Mặc dù đã thực hiện chiến dịch "Hồi sức" - một chương trình cấp tốc khắc phục tổn thất mà các trận đánh Tết Mậu Thân đã gây ra cho các thành phố, chính quyền Việt Nam Cộng hoà có hoạt động tốt lên sau tổng tấn công Tết Mậu Thân, nhưng khả năng của họ vẫn chưa đều và chưa ổn định. Theo yêu cầu của Mỹ, Thiệu đã thực hiện một chương trình tân kinh tế để chống lạm phát và đề ra một chương trình chống tham nhũng, một trong những vấn đề kinh niên và lan tràn nhất của Nam Việt Nam. Căn cứ vào những hoạt động này, một số nhà quan sát lạc quan vào cuối năm đó đã kết luận rằng chính quyền Nam Việt Nam lúc đó hoạt động có hiệu quả hơn bất kỳ lúc nào từ giữa những năm 50. Nhưng cứ giải quyết được một vấn đề thì các vấn đề khác vẫn giữ nguyên và lại xuất hiện nhiều vấn đề mới. Cải cách điền địa tiến hành quá chậm. Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã tạo ra hàng ngàn dân tị nạn và các quan chức Mỹ tỏ ý vô cùng lo ngại khi thấy chính quyền có vẻ thờ ơ với hoàn cảnh khốn khó của họ. Triển vọng của các cuộc thương lượng làm cho Thiệu chững lại trong việc mở rộng thành phần của chính quyền Việt Nam
----------------------------------------------------------
(1) Clifford, Đánh giá mới về Việt Nam, tr.614-615; Clifford gửi Johnson các ngày 16,18-7-1968, Văn kiện Clifford, hộp 5.
--------------------------------------------------------------------------
Cộng hoà. Ông ta cũng có một số thay đổi bề ngoài như bổ nhiệm một quan chức dân sự (Trần Văn Hương) làm thủ tướng và hứa tăng cường ảnh hưởng của giới dân sự trong chính quyền. Nhưng ông này càng thu mình lại, chẳng tin ai cả và tự đề ra phần lớn các quyết định. Một người Mỹ phàn nàn: "Chính ông ta là một nhân vật có khác gì Ngô Đình Nhu"(1).

Khả năng Mỹ rút quân càng làm chia rẽ thêm chế độ chính trị vốn đã ly tán của Nam Việt Nam. Vào cuối năm 1968, Robert Shaplen nhận xét: "Tình trạng chia rẽ vẫn như một bệnh dịch và nhiều cuộc ganh đua diễn ra trên khắp mọi lĩnh vực như chính trị, quân đội và trong các tổ chức tôn giáo". Mẫu thuẫn giữa Kỳ và Thiệu tăng lên làm cho chính quyền chia thành nhiều phe phái. Phật tử xa lánh hơn bao giờ hết và họ công khai đưa ra yêu sách đòi thành lập một nội các hòa bình và đòi binh lính hạ vũ khí. Cả phật tử cũng như các phe phái đều mong đợi chính quyền sụp đổ để họ có thể thu hút các bộ phận về phía mình. Sau khi các cuộc đàm phán hoà bình bắt đầu, nhiều nhóm chính trị mới đã nảy nở, nhưng họ bị dằng xé vì tâm trạng bất đồng và không thể phối hợp hành động. Phần lớn đân đô thị vẫn tiếp tục giữ thái độ nghe ngóng. Shaplen kết luận: "Người Nam Việt Nam dường như ngày càng giống những người biết là mình đang mắc một chứng bệnh vô phương cứu chữa"(2).
-------------------------------------------------------
(1) Robert Shaplen, Con đường dẫn tới cuộc chiến: Việt Nam 1965- 1970, New York, năm 1970, tr.248.
(2) Robert Shaplen, Con đường dẫn tới cuộc chiến: Việt Nam 1965- 1970, New York, năm 1970, tr.208.

------------------------------------------------------------------------
Quan hệ Việt Nam - Mỹ căng thẳng lên trong thời gian từ sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #161 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:39:00 pm »

Những người Việt Nam trước đây lệ thuộc vào Mỹ nay tỏ ra rất sợ bị Mỹ bỏ rơi vào tay Việt cộng. Trong hàng ngũ lính Mỹ đã công khai bộc lộ những thất vọng dồn nén vì phải chiến đấu trong một cuộc chiến tranh mà họ không thể "thắng" và sự ác liệt của các trận đánh trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân cùng những tổn thất nặng mà họ chịu đựng đã thổi bùng tâm trạng chống Việt Nam. Câu chuyện tiếu lâm về một giải pháp theo kiểu "kết tội tử hình" để giải quyết thế bế tắc đã lan truyền khắp các cụm hoả lực và quán rượu của lính Mỹ là một điển hình của thái độ này. Họ nói: "Việc mà anh phải làm là chất toàn bộ những ông bạn này lên những con tàu và đưa họ ra biển Đông, rồi ném bom san bằng nước này sau đó đánh chìm những con tàu đó"(1).

Cuộc thảm sát trên 200 thường dân kể cả phụ nữ và trẻ em ở làng Mỹ Lai dưới bàn tay đao phủ của 1 đại đội Mỹ do trung uý William Calley chỉ huy diễn ra vào tháng 3-1968 cho thấy sự thù hận của một số lính Mỹ đối với tất cả những người Việt Nam.

Năm 1968, sự chia rẽ trong nước Mỹ cũng tăng hẳn lên, mặc dù Việt Nam chỉ là một trong số rất nhiều nguyên nhân nhưng ngày càng trở nên quan trọng. Tình trạng rối loạn trong các trường đại học tăng hẳn lên tới mức trong sáu tháng đầu năm đã nổ ra 200 cuộc biểu tình. Cuộc biểu tình lớn nhất diễn ra tại đại học Columbia, New York. Tại đây 1.000 cảnh sát dùng dùi cui để giải tán một cuộc biểu
---------------------------------------------
(1) Michael Hen, Thông điệp, New York, năm 1978, tr.59.
-------------------------------------------------------------------
tình ngồi quy mô lớn. Vụ ám sát Martin Luther King (con) vào tháng 4 đã bộc lộ sự rối loạn bấy lâu nay vẫn âm ỉ, do đó đã làm bùng lên bạo loạn, cướp bóc và nhiều vụ đốt phá trên toàn quốc. Người ta phải điều nhiều đơn vị lục quân Mỹ vào thủ đô để giữ trật tự. Vụ ám sát ứng cử viên tổng thống Robert Kennedy hồi tháng 6 dường như cho thấy bạo lực đã đạt tới mức cao. Vào tháng 8, đại hội Đảng Dân chủ diễn ra tại Chicago trở thành sự kiện nổi bật đã xé toang bức màn về một quốc gia tự mẫu thuẫn. Trong khi các đại biểu về tham dự đại hội tranh cãi gay gắt về cuộc chiến tranh thì những người phản đối chống chiến tranh đánh nhau dữ dội với cảnh sát đến đổ máu trên đường phố Chicago. Đại hội lựa chọn ứng cử viên mà Johnson mong muốn, đó là phó tổng thống Hubert H. Humphrey, ủng hộ các chính sách của tổng thống, qua đó chứng minh rõ cho nhiều nhà phê bình chiến tranh biết rằng không thể kết thúc chiến tranh theo thông lệ. Quan trọng hơn nữa, sự đổ máu trên các đại lộ của "đêm thành phố dùi cui" đều diễn ra trước mắt mỗi người dân Mỹ qua màn ảnh nhỏ hàng đêm, và nước này "không thể quay lưng lại với thực tế là cuộc chiến tranh ở Đông Nam á đang gây ra một cuộc nội chiến ngay trên đất Mỹ" (1).

Vào cuối năm 1968, Johnson đã cố gắng lần cuối để phá thế bế tắc của các cuộc hoà đàm và việc làm này chủ yếu để đối phó với áp lực trong nước. Đại hội Đảng Dân
----------------------------------------------------------
(1) Nancy Zaroulis và Gerald Sullivan, Ai lớn tiếng hơn? Người Mỹ phản đôí chiến tranh ở Việt Nam, (1963-1975), New York, năm 1984.
----------------------------------------------------------
chủ ở Chicago đã làm mất uy tín các đảng viên của đảng này và sau đó một số lãnh tụ Đảng Dân chủ đã nài xin thực hiện cuộc vận động hoà bình mạnh mẽ để hỗ trợ cho Humphrey, lúc đó ứng cử viên này tụt hậu rất xa so với ứng cử viên Richard M.Nixon của Đảng Cộng hoà trong các cuộc bỏ phiếu thăm dò ban đầu. Tổng thống Johnson đã nhiều lần nhấn mạnh rằng ông ta sẽ không bị dao động vì những cân nhắc chính trị. Ông ta thông cảm với những nỗi lo ngại của các đảng viên Đảng Dân chủ. Cuối cùng mọi người thuyết phục ông rằng ông có thể phá vỡ thế bế tắc ở Paris mà không gây rủi ro không cần thiết. Harriman tiếp tục lý luận rằng sự yên ắng trên mặt trận quân sự ở Nam Việt Nam là dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ Bắc Việt Nam muốn những cuộc thương lượng thực sự và Abrams cam đoan với Johnson là việc ngừng ném bom sẽ không tạo nên mối đe dọa quân sự. Bắc Việt Nam đã bị tổn thất nặng vì chiến dịch mùa xuân. Trong bất cứ tình huống nào thì mùa mưa đang tới sẽ rất hạn chế hiệu quả của hoạt động ném bom trong nhiều tháng. Để làm vừa lòng giới quân sự và tiếp tục ép Bắc Việt Nam, Johnson đã đồng ý trong trường hợp ngừng ném bom, sẽ tiếp tục triển khai lực lượng không quân đánh các đường tiếp tế của Bắc Việt Nam ở Lào.

Cuối cùng, tuy rõ ràng có sự do dự nhưng Johnson đã tự cam kết ngừng ném bom hoàn toàn nếu có thể tranh thủ được một số nhượng bộ của Bắc Việt Nam (1).

Trong vài tuần tiếp theo, Harriman kiên trì thương lượng cho một "thoả thuận ngầm". Đáp lại ý kiến phản
---------------------------------------------
(1) Johnson, Lợi điểm, tr.514-515.
---------------------------------------------
đối của Hà Nội về quan điểm "có đi có lại", ông ta nói sẽ chấm dứt chiến dịch ném bom đơn phương và cuối cùng Bắc Việt Nam thôi không đòi ngừng ném bom vô điều kiện. Nhưng đoàn đại biểu Mỹ nêu rõ họ hy vọng Bắc Việt Nam sẽ chấm dứt nã pháo và đạn cối vào các thành phố Nam Việt Nam và hạn chế đưa quân và hàng tiếp tế qua khu phi quân sự. Thêm nữa, Hà Nội chính thức đồng ý sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán nghiêm túc sau khi Mỹ ngừng ném bom 4 ngày. Chính quyền Mỹ hài lòng khi Hà Nội đồng ý cho chính phủ Nam Việt Nam tham gia hoà đàm. Để dàn xếp tình trạng Bắc Việt Nam từ chối thương lượng với chính phủ bù nhìn Sài Gòn còn Thiêụ từ chối tham gia các cuộc thương lượng có Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Harriman đã vạch ra một công thức rất khôn khéo "bên chúng tôi, bên các ông". Các cuộc đàm phán sẽ có hai phía, nhưng mỗi phía đều tự do tạo dựng thành phần của chính mình và hiểu thành phần của bên khi theo cách của mình. Do vậy Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn có thể tham gia mà không cần phải công nhận nhau là một thực thể độc lập. Hà Nội không chịu chính thức cam kết mình vào những "thoả hiệp ngầm này" nhưng trong những lần tiếp xúc riêng, họ cam đoan rằng sẽ "biết phải làm gì" một khi chiến dịch ném bom kết thúc. Tuy do dự cho đến phút chót, nhưng cuối cùng Johnson cũng chấp nhận sẽ đi nốt "những chặng cuối cùng" tiến đến hoà bình, mặc dù các quan chức chính quyền Mỹ nhất trí nếu Bắc Việt Nam lợi dụng cuộc ngừng ném bom và tỏ ra không  thương lượng nghiêm túc thì Mỹ có thể nối lại các trận không kích (1).

Ngay khi vừa hoàn thành những dàn xếp này thì Việt Nam Cộng hoà lập tức gây trở ngại. Kỳ, người đã gay gắt cảnh cáo về hành động "bán rẻ" của Mỹ, kết luận có thể Thiệu đã làm theo các chính trị gia cánh hữu của Nam Việt Nam. Các lãnh tụ Đảng Cộng hoà lo sợ "mánh lới hoà bình" của phái Dân chủ trước bầu cử sẽ gây tác hại đến chiến dịch vận động bầu cử của Nixon nên đã khích lệ thái độ ngang ngược của Thiệu và do đó yêu cầu Việt Nam Cộng hoà kiên trì cho đến sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ(2). Là một chính trị gia lắm mưu mẹo, giỏi tính toán, có thể là Thiệu đã đi đến kết luận mà chẳng cần ai nhắc nhở là ông ta sẽ làm ăn tốt với phái "Cộng hoà" hơn phái "Dân
-------------------------------------------------------
(1) Johnsonm, Lợi điểm, tr.518, biên bản cuộc họp ngày 14,31-10- 1968, Văn kiện Johnson, Hồ sơ biên bản cuộc họp, hộp 3.
(2) Những tình tiết của việc nhóm Nixon liên hệ với Thiệu là một câu chuyện "tình báo" có thể tạo nên cốt truyện cho một tiểu thuyết tình báo. Cố vấn an ninh quốc gia tương lai của Nixon là Henry Kissinger có những mối liên hệ rất tốt với chính quyền của Johnson, từng phục vụ cho chính quyền này như là một nhà trung gian trong một sáng kiến hoà bình trong năm trước đó. Với tham vọng giành vị trí đứng đầu trong việc hoạch định chính sách ngoại giao, Kissinger đã cho phái Nixon biết được thông tin về các cuộc đàm phán bí mật của Johnson về việc tạm ngừng ném bom. Nixon đã sử dụng quý bà Anna Chennault, bà quả phụ của nhà sáng lập huyền thoại của chiến tranh thế giới thứ 2 Flying Tigers, thúc giục Thiệu phá hoại chính sách của chính quyền Johnson, khuyến nghị rằng chính quyền Việt Nam Cộng hoà có thể được viện trợ tốt hơn bởi chính quyền Nixon vào tháng 1 so với chính quyền của Johnson trước đó. Xem Scymour M.Hersh, Cái giá của quyền lực: Kissinger trong Nhà trắng của Nixon, New York, năm 1983, tr.15-22.

-----------------------------------------------------------------
chủ" và trì hoãn là điều có lợi. Với lời tuyên bố rằng chính quyền của ông ta không phảỉ là "một toa xe có thể nối với một đầu tàu và để đầu tàu muốn kéo đi đâu thì đi". Thiệu khăng khăng rằng ông ta sẽ không gặp gỡ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và sự "thoả thuận ngầm" do Mỹ dàn xếp là một sự "rõ ràng chấp nhận thất bại". Hà Nội phải đưa ra những cam kết chính thức là họ sẽ xuống thang chiến tranh và thương lượng với chính quyền Sài Gòn (1).

Sự cứng đầu cửa Thiệu tạo cho Mỹ một thế bế tắc, Johnson thừa nhận nếu nhân nhượng cho những yêu sách của Thiệu thì sẽ "làm tan thành mây khói toàn bộ nỗ lực hoà bình" và có thể làm mất đi những cơ hội của Humphrey(2). Mặt khác, ông ta tính rằng nếu thương lượng không có chính quyền Sài Gòn tham gia như Harriman và Rusk yêu cầu, sẽ không chỉ ít có triển vọng đi đến một giải pháp có thể chấp nhận được, mà còn có nguy cơ bị phái "Cộng hoà" buộc tội là bán rẻ đồng minh. Do vậy ngày 31- 10 tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom và dù không được Việt Nam Cộng hoà tán thành nhưng vẫn trì hoãn chưa khai mạc các cuộc đàm phán chính thức. Đồng thời Mỹ vẫn tiếp tục cam đoan rằng họ sẽ không công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam hoặc áp đặt một chính phủ liên hiệp ở Nam Việt Nam để gây sức ép riêng và cuối cùng họ công khai đe dọa bắt đầu đàm phán mà không có chính quyền Sài Gòn tham dự nếu chính quyền Sài Gòn không chịu nhân nhượng. Sau hai tuần trì
-----------------------------------------------
(1) Shaplen, Con đường dẫn tới cuộc chiến, tr.243.
(2) Johnson, Lợi điểm, tr.517-519.

---------------------------------------------------------------------
hoãn, trong thời gian đó Nixon đã thắng Humphrey sát nút. Cuối cùng Thiệu đồng ý cử đại biểu đến Paris.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #162 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:40:40 pm »

Đến khi ngồi tại Paris, Việt Nam Cộng hoà lại bắt đầu đưa ra nhiều ý kiến phản đối về thủ tục làm vriệc và điều này đã làm mất đi hy vọng đạt một giải pháp hoà bình. Mỹ lúc đầu đề nghị các đoàn đại biểu được bố trí ngồi ở hai chiếc bàn dài để làm rõ tính chất hai phía của cuộc đàm phán, nhưng Bắc Việt Nam đòi ngồi bàn vuông mỗi bên là một đại biểu nhằm nhấn mạnh ý muốn của họ để Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam là một phía riêng biệt của cuộc đàm phán. Để giải quyết bế tắc này, Harriman đề nghị một bàn tròn và Bắc Việt Nam đồng ý, nhưng chính quyền Sài Gòn lại không chịu. Có lẽ Thiệu đã cho rằng vấn đề này có tầm quan trọng và ý nghĩa thực sự đủ để lên tiếng phản đối, hoặc chỉ đơn thuần là ông ta chộp lấy cơ hội này để trì hoãn cuộc đàm phán cho đến khi Nixon, một nhân vật có thể đồng cảm hơn lên cầm quyền. Harriman điên tiết về điều mà sau này ông ta gọi là "việc làm kỳ quặc" của phía Việt Nam Cộng hoà rồi một lần nữa ông ta yêu cầu Johnson tiến hành đàm phán không cần chính quyền Sài Gòn, cùng lúc Clifford đưa ra khả năng bắt đầu rút quân Mỹ(1). Tuy tổng thống Johnson bảo lưu ý kiến phản đối của Thiệu, nhưng Liên Xô lúc này đã thuyết phục được Hà Nội chấp nhận một sự thỏa hiệp: Hai chiếc bàn chữ nhật được đặt tại hai đầu đối diện của chiếc bàn tròn.

Nhưng thời điểm giải quyết xong bất đồng về hình thức chiếc bàn ngồi đàm phán cũng là những ngày cuối cùng
------------------------------------------
(1) Ghi chép của Clifford tại cuộc họp với Johnson, 18-10-1968, Văn kiện Clifford, hộp 6.
------------------------------------------
 của chính quyền Johnson và như thế một cơ hội đi đến những cuộc thương lượng thực sự đã qua đi (1).

Cũng chưa thể tin là thái độ ngang ngược của Nam Việt Nam đã phá vỡ cơ hội cho một giải pháp hoà bình.

Vào cuối năm 1968, quan điểm của Hà Nội đối với các vấn đề thủ tục trở lên linh hoạt hơn, có thể vì Bắc Việt Nam muốn Mỹ ngừng ném bom, cũng có thể họ tranh thủ ở Johnson một giải pháp chấp nhận được trước khi ông ta mãn nhiệm. Tuy vậy, Hà Nội vẫn không thay đổi lập trường các vấn đề cơ bản. Không có gì chứng tỏ Hà Nội có thể chấp nhận những điều thương lượng dưới mức Mỹ rút quân và một chính phủ liên hiệp. Còn phía Mỹ thì không chấp nhận điều này. Dù Johnson chịu ngừng ném bom và rất bực mình với Thiệu nhưng vì tổng thống này vẫn kiên định những mục tiêu mà ông ta đã theo đuổi từ ngày mới nhậm chức. Johnson tỏ rõ với Thiệu là ông ta sẽ không công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, không chấp nhận một chính phủ liên hiệp, và cũng không chấp nhận một giải pháp hình thức nào đó khiến Mỹ rút quân.

Dường như Johnson cảm thấy mình vẫn có thể đạt mục tiêu ban đầu và tin rằng mình đã dồn đối phương đến chỗ gần thất bại(2). Vào ngày ra lệnh ngừng ném bom, Johnson
---------------------------------------
(1) Tạp chí Thời báo New York ngày 24-8-1969, tr.72; Phỏng vấn Harriman, Văn kiện Johnson, Cooper, Cuộc viễn chinh thất bại, tr.406-407.
(2) Đối phương có thể "vẫn bị nốc ao", Johnson nhấn mạnh vào tháng 11, nhưng họ đã thoát ra khỏi tình huống đó từ tháng 9", Henry Graff, Nội các ngày thứ ba, NXB Englewood, N.J., năm 1970, tr.163, Biên bản cuộc họp với Nixon, ngày 11-11-1968, Văn kiện Johnson, Ghi chép của Tom Johnson, hộp 1.

-----------------------------------------------------
đã chỉ thị cho Abrams "dồn mọi nguồn nhân lực và vật lực với một nỗ lực tối đa" để bắt đối phương phải "căng ra" và thuyết phục ông ta rằng "ông ta không bao giờ có thể thắng trên chiến trường"(1). Do vậy, dù Thiệu có đồng ý thương lượng từ đầu thì cũng rất khó có khả năng đạt được bất kỳ thỏa thuận hoà bình có ý nghĩa nào vào năm 1968, nhất là trong một thời gian biểu hoạt động quá ngắn. Mỗi bên có thể tuyên bố "chiến thắng" của mình trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, nhưng thế trận của mỗi bên đều yếu đi nhiều và không bên nào có đủ ảnh hưởng để ép buộc bên kia đi đến một giải pháp, do vậy phải mất thêm 4 năm "vừa đánh vùa đàm" nữa thì mới phá vỡ được thế bế tắc này.

----------------------
(1) Johnson, Lợi điểm, tr.523.
-----------------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #163 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:42:49 pm »

Chương VII.
"MỘT CUỘC CHIẾN TRANH VÌ HÒA BÌNH": NIXON, KISSINGER Và VIỆT NAM (1969 - 1973)

Năm 1969, Henry Kissinger tuyên bố về Việt Nam như sau: "Chúng ta (Mỹ) sẽ không mắc lại những sai lầm cũ. Chúng ta sẽ có những quyết định của riêng mình"(1).

Những lời lẽ đó của Kissinger nêu lên quyết tâm của Mỹ tìm những giải pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ, với cách nói khôi hài chơi trội, một kiểu "nhãn hiệu Kissinger", cho thấy thắng lợi là chắc chắn. Nhưng cuối cùng lời tiên đoán này chỉ đúng một phần. Kissinger và Nixon đã cố thử nghiệm một số cách tiếp cận mới, trong đó một số cách tiếp cận có lúc đã gây ra những sai lầm riêng của họ, nhưng chính sách của chính quyền mới cũng có những khiếm khuyết như của các bậc tiền nhiệm. Che đậy bằng những lời lẽ "hoà bình trong danh dự", chính quyền Nixon kiên trì cuộc tìm kiếm theo kiểu phi thực tế
------------------------------------
(1) Roger Morris. Sự bất ổn lớn: Henry Kissinger và chính sách đối ngoại của Mỹ, New York năm 1977, tr.4.
------------------------------
 một nước Việt Nam độc lập, phi cộng sản. Mỹ sẽ đạt tới mục tiêu này chủ yếu bằng con đường tăng cường sức mạnh với quy mô lớn cho quân đội Việt Nam Cộng hoà, và gây sức ép quân sự chống Bắc Việt Nam - những phương pháp mà trước đây người ta đã thử nghiệm dưới nhiều hình thức và đã được xem là cần thiết. Với thêm 4 năm chiến tranh đẫm máu ở Đông Dương, kết quả thu lại chỉ là tình trạng chia rẽ trong lòng nước Mỹ tăng lên rõ rệt cùng một hiệp định hoà bình cho phép Mỹ rút ra nhưng chẳng phải là giải pháp lâu bền và trong danh dự.

Chính sách đối ngoại của Mỹ trong "kỷ nguyên" Nixon Kissinger mang dấu ấn của những người tạo nên nó. Giữa một chính trị gia nhà nghề hạng trung bình của Mỹ và một giáo sư đại học Harvard gốc Đức không thể có sự khác biệt hơn nữa về nguồn gốc, nhưng họ lại cùng có tình yêu quyền lực và một tham vọng cháy bỏng là nhào nặn một thế giới sống động theo cách thức tạo lập cho họ chỗ đứng trong lịch sử. Là những con người cô đơn và xa lạ ngay trong nghề nghiệp của mình, có lẽ họ bị cuốn hút vào nhau theo bản chất, và ít nhất trong những năm đầu họ đã chế ngự được tâm trạng nghi ngờ lẫn nhau do phải dựa vào nhau. Kissinger xem Nixon là phương tiện để vươn tới quyền lực và danh vọng, còn Nixon lại dựa vào Kissinger để tạo dựng và thực hiện những ý tưởng lớn của mình. Tuy cả hai người đều nổi tiếng là những chính trị gia cứng rắn, nhưng họ cùng thực dụng, linh hoạt trong cách giải quyết vấn đề. Họ cùng có xu hướng thích bí mật và mưu đồ cũng như thích có hành động bất ngờ. Đặc biệt là họ cùng có thái độ xem thường bộ máy chính quyền. Tuy sử dụng các  nhân vật khác trong chính phủ nhưng không bao giờ dựa vào ai, họ tự mình nắm chắc quyền kiểm soát chính sách đối ngoại của Mỹ. Kết quả là một chính sách đối ngoại đôi khi táo bạo, nhận thức giầu tưởng tượng; đôi khi thô bạo và ứng biến; đôi khi lại tuyệt hảo trong thực hiện; và có khi thì vụng về. Đó là một chính sách hiến dâng cho một mục đích cao cả của một "thế hệ hoà bình" nhưng thường tàn bạo và bi quan trong việc sử dụng sức mạnh quân sự.

Trước khi nhậm chức, Nixon và Kissinger đều kiên quyết bảo vệ cam kết của Mỹ ở Việt Nam. Tại đỉnh điểm cuộc tranh cãi nội bộ năm 1967, Nixon đã mạnh mẽ lập luận rằng, sự hiện diện quân Mỹ ở Đông Nam á góp phần kiềm chế một Trung Quốc bành trướng và mang lại cho các quốc gia "tự do" ở Đông Nam á thời gian để phát triển các thể chế ổn định. Ông ta khẳng định: "Dù ta có thể nghĩ về thuyết Đôminô như thế nào đi nữa, nhưng nó sẽ là câu hỏi lớn rằng nếu không có sự cam kết của Mỹ ở Việt Nam, châu á có thể khác xa so với lúc này"(1). Kissinger còn có thái độ nước đôi hơn, một mặt thừa nhận là Mỹ có thể đã thổi phồng tầm quan trọng của Việt Nam vào những giai đoạn đầu khi họ mới dính líu; mặt khác lại nói việc ném vào đó 50 vạn quân đã giải quyết tầm quan trọng của Việt Nam. Bởi vì giờ đây chính niềm tin vào những lời hứa của Mỹ lại là điều liên quan đến cuộc chiến tranh (2).

Vào năm 1969, Nixon Kissinger nhận thấy phải kết
---------------------------------------
(1) Richar Nixon, Châu á phía sau Việt Nam, Tạp chí Các vấn đề đối ngoại, số 46 tháng 10-1967, tr.111.
(2) Henry Kisinger, Những cuộc đàm phán về Việt Nam, Tạp chí Các vấn đề đối ngoại, số 47, tháng 1-1969, tr.219.

-------------------------------------------------------------
thúc cuộc chiến tranh Việt Nam. Theo lời một trợ lý chuyên chuẩn bị diễn văn cho Nixon thì cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành "một khúc xương hóc trong họng nước Mỹ", một lực lượng chia cắt đã xé vụn đất nước và cản trở mọi giải pháp xây dựng nhằm giải toả những vấn đề khó khăn trong chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ(1). Hơn nữa, Nixon nhận thức rõ ràng rằng khả năng đưa được nước Mỹ ra khỏi chiến tranh Việt Nam sẽ ảnh hưởng một cách quyết định đến tương lai chính trị và địa vị của ông ta trong lịch sử. Ông ta từng nói: "Tôi sẽ không kết thúc như Johnson cứ chui lủi trong Nhà trắng không dám ló mặt ra phố. Tôi sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh đó nhanh chóng"(2).

Nhưng cả hai nhân vật này đều nhấn mạnh phải kết thúc chiến tranh "trong danh dự". Chỉ thuần tuý rút khỏi Việt Nam sẽ là hành động nhẫn tâm bỏ rơi những người Nam Việt Nam vốn trước đây đã dựa vào sự bảo vệ của Mỹ và cũng là hành động không xứng với một cường quốc.

Khi còn trẻ, nghị sỹ Nixon đã lãnh đạo cuộc tấn công của phái hữu Đảng Cộng hoà đả kích Truman để "mất" Trung Hoa dân quốc và cũng giống như Johnson trước đây, ông ta sợ có thể xảy ra sự đảo lộn trong lòng nước Mỹ nếu để Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Tháng 5-1969, ông ta nói với một nhà báo: "Phản ứng sẽ rất khủng khiếp, chúng ta sẽ tự hủy diệt mình nếu rút ra theo cách thức không thực
---------------------------------------
(1) William Safire, Tnrớc lúc thất bại, New York, năm 1975, tr.121.
(2) H.R. Haldeman, Sự kết thúc của quyền lực, New York, năm 1978, tr.81.

-------------------------------------
sự giữ được danh dự"(1). Quan trọng hơn cả, Nixon và Kissinger lo sợ hậu quả quốc tế của việc rút quân vội vã.

Thậm chí trước khi nhậm chức họ đã bắt đầu phác thảo những nét cơ bản của một trật tự thế giới mới trên nền tảng địa vị độc tôn của Mỹ. Thiết kế của họ có tính đến cả việc hoà giải có mức độ với Liên Xô và Trung Quốc. Và họ cảm thấy mình phải đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh theo cách thức có thể biểu dương cho những đối thủ cũ biết rõ sự kiên quyết về mục đích và sự vững vàng về hành động, một cách thức thu hút được sự kính trọng của cả bạn lẫn thù. Kissinger nhận định, "dù chúng ta đã nhảy vào Việt Nam như thế nào, dù cho hành động của chúng ta bị phán xét ra sao thì việc kết thúc chiến tranh trong danh dự vẫn là điều thiết yếu cho nền hòa bình thế giới. Mọi giải pháp khác đều có thể làm nảy sinh những lực lượng mà sau này gây phức tạp cho triển vọng của trật tự quốc tế"(2).

Nixon hoàn toàn nhất trí và ngay sau khi lên nắm quyền ông ta khẳng định: "Mục tiêu đích thực của cuộc chiến tranh này là hoà bình, đó là một "cuộc chiến tranh vì hoà bình"(3).

Một giải pháp "danh dự" phải đáp ứng nhiều điều kiện cơ bản. Việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam phải được tiến hành theo cách thức sao cho tránh được mọi biểu hiện thất bại dù là những biểu hiện nhỏ nhất. Kissinger bác bỏ ý tưởng về một chính phủ liên hiệp vì theo ông ta, nó sẽ "phá
------------------------------------------
(1) C.L.Sulzberger. Bảy lục địa và 40 năm, New York, năm 1977, tr.505-507.
(2) Kissinger, Những cuộc đàm phán về Việt Nam, tr.234.
(3) Sulzberger, Bảy lục địa..., tr.507.

----------------------------------------------
hủy cơ cấu chính trị hiện tại và sẽ dẫn đến chỗ cộng sản chiếm quyền".
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #164 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:43:40 pm »

Nixon và Kissinger nêu mục tiêu tối ưu của mình là "một giải pháp thương lượng công bằng khả dĩ duy trì nền độc lập của Nam Việt Nam". Nhưng họ nhấn mạnh giải pháp đó tối thiểu phải tạo cho Nam Việt Nam một cơ hội hợp lý để tồn tại (1).

Tuy suốt một thập kỷ Mỹ đã không thể đạt được mục tiêu này, nhưng Nixon và Kissinger tự tin họ có thể thành công ở nơi mà những người khác đã thất bại. Họ nhận thức rằng chính quyền Sài Gòn không thể trụ nổi nếu Mỹ đột ngột rút quân, nhưng vào đầu năm 1969, chính quyền Sài Gòn có vẻ mạnh hơn và nếu Mỹ tiếp tục hậu thuẫn thì Thiệu có thể trụ vững lâu dài. Kissinger lập luận, người Bắc Việt Nam phải thừa nhận rằng họ không thể dùng sức mạnh để đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam, do vậy có thể thuyết phục họ đổi việc Mỹ rút quân lấy giải pháp chính trị mà sau đó Thiệu sẽ tiếp tục nắm quyền kiểm soát.

Hơn nữa, Nixon và Kissinger vẫn cho rằng họ có thể buộc Hà Nội chấp nhận các điều kiện mà trước đó họ kiên quyết bác bỏ. Liên Xô đã thể hiện rõ Ià họ rất quan tâm đến việc phát triển mậu dịch và một hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược với Mỹ, vì vậy có thể dùng đòn xeo này để tranh thủ Liên Xô thuyết phục Hà Nội đồng ý với một giải pháp "công bằng". Đường lối ngoại giao nước lớn sẽ được hỗ trợ bằng vũ lực. Nixon cho rằng cho đến thời điểm đó áp lực quân sự đã thất bại vì nó đã
-----------------------------------------
(1) Richard Nixon, RN: Hồi ký của Richard Nixon, New York, năm 1978, tr.349; Safire, Trước lúc thất bại, tr.l34.
-----------------------------------------
được dùng theo cách thức hạn chế và không dứt khoát.

Kissinger nhấn mạnh, "một nước được xếp hạng thứ tư như Bắc Việt Nam ắt phải có điểm yếu" và ông ta cũng như Nixon đều sẵn sàng dùng sức mạnh tối đa, đe dọa chính sự sống còn của Bắc Việt Nam để đạt những điều họ muốn(l). Nixon so sánh tình hình lúc này với tình hình mà Eisenhower đã vấp phải ở Triều Tiên năm 1953 và ông ta cho rằng sự "trả đũa ồ ạt" như đã làm đối với Bắc Triều Tiên sẽ làm cho Bắc Việt Nam run sợ. Nixon tin chắc hình ảnh một nhân vật chống cộng cứng rắn như ông ta sẽ buộc đối phương phải cảm nhận rõ sự đe doạ.

Nixon nói với một cố vấn riêng: "Họ sẽ tin vào mọi lời đe dọa dùng v'ũ lực từ Nixon phát ra vì đó là Nixon.

Chúng ta chỉ cần nói đến tai họ rằng, "vì chúa, các ngài nên biết rằng Nixon luôn bị ám ảnh bởi chủ nghĩa cộng sản và ông ta đã đặt tay lên nút bấm hạt nhân"(2).

Với niềm tự tin thái quá thường thấy ở những kẻ mới lên cầm quyền, Nixon và Kissinger đã sắp đặt việc kết thúc chiến tranh. Thông qua các nhân vật trung gian Pháp, tổng thống Nixon chuyển tín hiệu riêng đến Bắc Việt Nam bày tỏ ý nguyện hoà bình chân thành và đề nghị hai bên, cả quân Mỹ và quân Bắc Việt Nam, cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam và phục hồi khu phi quân sự theo đường biên giới giữa Bắc và Nam Việt Nam. Kissinger thông báo cho đại sứ Liên Xô, ngài Anatoly Dobrynin biết chính quyền Mỹ tha thiết muốn thương lượng với Liên Xô về nhiều vấn
----------------------------------
(1) Morris, Sự bất ổn lớn, tr.16., (2) Haldeman, Kết thúc của quyền lực, tr.83.
------------------------------------
đề khẩn cấp, nhưng lại thẳng thừng báo trước rằng đầu tiên là phải đi đến một giải pháp hoà bình ở Việt Nam.

Như để báo hiệu cho cả Hà Nội và Matxcơva biết rằng Mỹ có ý định thật sự, Nixon ra lệnh ném bom dữ dội vào các căn cứ địa của Bắc Việt Nam ở Campuchia, một hành động mà Hội đồng tham mưu trưởng liên quân từng nhiều lần đề xuất nhưng sau đó đã bị chính quyền Johnson bác bỏ. Mục đích quân sự của nhiều lần ném bom là hạn chế khả năng của Bắc Việt Nam mở những cuộc tấn công ở miền Nam, nhưng động cơ lúc đầu của Nixon muốn thể hiện rằng ông ta sẵn sàng thực hiện những biện pháp mà Johnson né tránh do vậy mà làm cho Hà Nội phải sợ và đi đến thương lương theo điều kiện của ông ta. Trong 15 tháng sau đó, Mỹ đã thực hiện 3.630 trận B-52 ném lrên 100.000 tấn bom xuống Campuchia. Chiến dịch này được mang tên "Thực đơn" (một cái tên rất không thích hợp), trong đó có từng chiến dịch nhỏ mang tên "Điểm tâm", "Bữa trưa", "Quà vặt", "Món tráng miệng". Theo yêu cầu của Nixon chiến địch được giữ kín không thông báo cho dân cũng như chính phủ biết. Số thường dân chết trong các trận không kích được giữ kín. Lúc này quân Bắc Việt Nam đã phải di chuyển sâu hơn vào lãnh thổ Campuchia để tránh bom Mỹ(1).

Biết rõ chiến lược của mình có thành công hay không còn phụ thuộc vào khả năng duy trì được vẻ đoàn kết bề ngoài trong nước, Nixon đã thực hiện một chiến lược ngoại giao
----------------------------------
(1) William Shawcross, Cuộc trình diễn: Kissinger, Nixon rà sự tàn phá ở  Campuchia, New York, năm 1979, tr.26-35.
-----------------------------------
công khai song song với hoạt động ngoại giao mật. Vào tháng năm 1969, ông ta tiết lộ cái mà ông ta mô tả là "một kế hoạch hoà bình toàn diện" nêu rõ những đề nghị đã nói riêng với Bắc Việt Nam và nói thêm rằng ông ta hy vọng toàn bộ quân "ngoại quốc" có thể được rút khỏi Nam Việt Nam trong một năm sau khi ký hiệp định hoà bình. Để làm rõ ý định kết thúc sự dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh, ông ta bắt đầu vạch kế hoạch rút quân chiến đấu Mỹ theo giai đoạn và sau khi trao đổi với Thiệu tại đảo Midway vào tháng 6, ông ta tuyên bố rút ngay 25.000 quân chiến đấu Mỹ. Để nhấn mạnh cho Bắc Việt Nam và Liên Xô cũng như phái hữu trong nước biết không phải là ông ta mềm yếu, Nixon đã đọc nhiều bài diễn văn cứng rắn và gắn nhãn "những kẻ biệt lập" cho các nhân vật "bồ câu"-những người lập luận cuộc chiến tranh đã làm cho nước Mỹ giảm sự chú ý tới nhiều vấn đề đối nội cấp bách hơn. Ông ta còn nhấn mạnh chính quyền có ý định giữ vững trách nhiệm quốc tế của nước Mỹ.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #165 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:44:56 pm »

Hoạt động ngoại giao bí mật cùng những lời đe dọa quân sự bóng gió của Nixon không lay chuyển được Hà Nội. Theo quan điểm của Bắc Việt Nam thì những đề nghị của tổng thống Nixon chẳng hơn gì đề nghị của Johnson và nếu chấp nhận chúng sẽ là từ bỏ những mục tiêu mà họ đã phấn đấu gần 1/4 thế kỷ. Đoàn đại biểu Bắc Việt Nam tham gia đàm phán hoà bình đã công khai miệt thị, gọi đề nghị của Mỹ là "một trò hề và nói nếu cần họ sẽ ngồi lại Paris "cho đến khi gẫy ghế mới thôi"(1). Họ tiếp tục đòi Mỹ
-------------------------------------
(1) Robert Shaplen, Con đường từ chiến tranh: Vỉệt Nam 1965-1970, New York, năm 1970.
------------------------------------
rút quân hoàn toàn khỏi Nam Việt Nam và kêu gọi thành lập chính phủ liên hiệp lâm thời không có Thiệu. Năm 1969, do còn bị tổn thất vì những thiệt hại trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, nhưng kiên quyết không từ bỏ cuộc chiến đấu, Hà Nội đã chuyển sang một chiến lược chiến tranh phòng ngự, trường kỳ, giảm hẳn hoạt động quân sự ở miền Nam và rút một số quân trở về bên kia khu phi quân sự. Biết chắc dư luận công chúng Mỹ cuối cùng sẽ buộc Nixon rút quân Mỹ khỏi Việt Nam nên Bắc Việt Nam sẵn sàng chờ đợi đến lúc đó cho dù họ sẽ có thể phải chịu đựng nhiều gian khổ thêm nữa.

Những bước đi hoà bình của Nixon cũng không kiềm chế được phe đối lập trong nước. Nhận thấy sẽ không có đột phá trong hoà đàm Paris, mức độ công chúng tán thành cách tổng thống tiến hành cuộc chiến tranh đã giảm hẳn.

Để bày tỏ tâm trạng thất vọng ngày càng lớn của phái "diều hâu", thượng nghị sỹ Richard Russell bang Georgia nhấn mạnh nếu hoà đàm Paris không nhanh chóng đem lại kết quả thì Mỹ phải thực hiện một "hành động đáng kể" chống Bắc Việt Nam(1). Phong trào hoà bình có tổ chức đã yên ắng từ sau Đại hội Đảng Dân chủ năm 1968, lại bắt đầu trỗi dậy và nêu ra những kế hoạch biểu tình quy mô lớn vào mùa thu. Các nghị sĩ "bồ câu" trước đây giữ im lặng trong 100 ngày đầu của chính quyền để tạo cơ hội cho tổng thống kết thúc cuộc chiến tranh, nhưng tới tháng 6, họ lại bắt đầu lên tiếng. Thượng nghị sĩ Cộng hoà Jacob
-------------------------------------
(1) Russell gửi L.M. Thacker, 26-7-1969, Văn kiện Russell M.Russell, Thư viện Đại học Georgia, Athens, George, Hồ sơ tốc ký, hộp IJ7.
-----------------------------------
Javits bang New York buộc tội Nixon đi theo những đường lối vô hiệu quả và không thành công" như Johnson.

Fulbright lên án bài phát biểu về chủ nghĩa biệt lập mới là "mị dân và thể hiện tính hung hăng cá nhân". Các nhân vật "bồ câu" trong thượng nghị viện không thỏa mãn với đề nghị hòa bình của Nixon cũng như với việc rút quân và nhiều đảng viên Đảng Cộng hoà tập hợp sau lời kêu gọi của Clifford đòi rút hoàn toàn quân Mỹ khỏi Việt Nam vào cuối năm 1970. Vào giữa mùa hè, tuần trăng mật ngắn ngủi giữa Nixon với Quốc hội do Đảng Dân chủ chi phối đã chấm dứt.

Lo sợ sự phản đối trong nước có thể làm tan vỡ hy vọng của mình ép Bắc Việt Nam đi đến thỏa thuận, vào tháng 7 Nixon đã nhanh chóng ứng biến một chiến lược "mạo hiểm hoàn toàn", một ý đồ tổng lực nhằm "chấm dứt chiến tranh bằng cách này hay cách khác - cả việc thỏa thuận đàm phán hoặc dùng vật lực". Lại nhờ Pháp làm trung gian, Nixon gửi cho cụ Hồ một bức điện riêng nhắc lại ý muốn đi đến "một nền hoà bình công bằng" nhưng lại kèm theo một tối hậu thư: nếu không có tiến triển để đi đến thỏa thuận vào ngày 1 tháng 11, ông ta sẽ không có cách lựa chọn nào khác ngoài việc phải sử dụng đến những biện pháp gây hậu quả lớn và bạo lực". Kissinger lại nói với Dobrynin lời cảnh cáo rằng về vấn đề Việt Nam mà nói, giống như một "con tàu vừa rời ga và bây giờ đang trượt trên đường ray"(1). Theo lệnh Nixon, Kissinger triệu tập nhóm nghiên cứu Hội đồng An ninh Quốc gia tuyệt mật để
--------------------------
(1) Nixon, RN, tr.393-394,399.
-----------------------------------
hoạch địinh kế hoạch cho cái mà ông ta mô tả là "những quả đấm trừng phạt tàn bạo" chống Bắc Việt Nam, kể cả ném bom ồ ạt vào các thành phố lớn, phong toả các cảng biển và thậm chí có thể dùng vũ khí hạt nhân chiến thuật trong những tình huống "kiểm soát được". Để lời cảnh cáo có sức mạnh, Nixon tiết lộ cho các nhà báo biết ông ta đang xem xét sự lựa chọn này, và bằng giọng điệu có ý nhấn mạnh, ông ta nói với một nhóm nghị sĩ là ông ta sẽ không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên thua trong chiến tranh (1).

Mặc dù Hà Nội đồng ý đàm phán hoà bình ngoài khuôn khổ Hội nghị Paris, nhưng tối hậu thư của Nixon vẫn không có hiệu quả. Ngày 4-8 diễn ra hàng loạt cuộc họp bí mật đầu tiên, Kissinger đã gặp riêng ông Xuân Thuỷ và nhắc lại những đề nghị hoà bình cùng tối hậu thư của Nixon, nhưng ông Xuân Thuỷ đáp lại bằng đường lối chuẩn mực của Bắc Việt Nam là Mỹ sẽ phải rút quân hoàn toàn và từ bỏ Thiệu để có thể đi đến một thỏa thuận. Câu trả lời chính thức của cụ Hồ (được cụ viết ra ngay trước khi qua đời) cũng truyền đạt một tín hiệu tương tự và theo lời Nixon thì đó là một "sự cự tuyệt lạnh lùng". Theo cách nhìn của Nixon, Bắc Việt Nam không chỉ ương ngạnh mà còn cố ý khiêu khích. Đài phát thanh Hà Nội, sau khi nghe những tuyên bố của tổng thống do phái "bồ câu" trong thượng nghị viện soạn ra, đã chỉ trích là các chính sách của
----------------------------------
(1) Chi tiết về kế hoạch mang mật danh DUCK HOOK xem Seymour Hersh, Giá trị của quyền lực: Kissinger trong Nhà trắng của Nixon, New York, năm 1983, tr.125-130.
-----------------------------------
 Nixon đang kéo dài chiến tranh và bày tỏ với nhân dân Mỹ niềm hy vọng "cuộc tấn công vì hoà bình vào mùa thu của họ sẽ thành công rực rỡ"(1).

Không thể dọa dẫm để Hà Nội có nhượng bộ dù là nhỏ nhất, Nixon phải lựa chọn giữa hai con đường: Một là leo thang chiến tranh quy mô lớn và hai là một cuộc rút lui bẽ mặt. Ông ta không giữ được bình tĩnh trước thái độ kiên quyết của Bắc Việt Nam cùng những ý kiến chỉ trích trong nước mà ông cảm thấy như khuyến khích thêm thái độ của đối phương. Phản ứng tự nhiên của Nixon là đánh trả.

Nhưng bộ trưởng Quốc phòng Melvin và bộ trưởng Ngoại giao William Rogers khẩn cầu ông ta không nên có hành động gì làm bùng lên sự chống đối trong nước. Sau nhiều tuần phân tích cẩn thận, nhóm nghiên cứu của Kissinger kết luận rằng các cuộc không kích và phong toả có thể không buộc được Hà Nội nhượng bộ cũng như không thể hạn chế đáng kể khả năng Bắc Việt Nam tiếp tục chiến đấu giải phóng miền Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị luôn bị săn đuổi bởi nỗi lo sợ gần như ám ảnh về sự thất bại và nhục nhã, Nixon cực kỳ miễn cưỡng khi phải từ bỏ kế hoạch "những cú đấm trừng phạt tàn bạo" và chỉ sau khi bị thuyết phục là kế hoạch này sẽ không có hiệu lực ông ta mới từ bỏ kế hoạch này hoàn toàn. Vì chỉ dựa vào sức ép quân sự để kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng, vào tháng 11-1969, Nixon giật mình khi nhận thấy trong tay mình không có chính sách nào cả.

Không muốn nhượng bộ song không thể dùng sức
---------------------------
(1) Nixon, RN, tr.397-399.
--------------------------
mạnh quân sự để kết thúc chiến tranh, một lần nữa Nixon lại ứng biến và lần này thì quay về với chính sách "Việl Nam hoá chiến tranh" mà ông ta được kế thừa từ Johnson.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #166 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:45:57 pm »

Trong lúc Nixon vẫn còn suy tính v'ề cuộc leo thang vào tháng 10, thì chuyên gia chống nổi dậy của Anh là Robert Thompson thông báo rằng Nam Việt Nam đang mạnh lên hàng ngày, và nếu Mỹ tiếp tục vriện trợ quân sự vrà kinh tế quy mô lớn thì trong vòng hai năm nữa, chính quyền Sài Gòn có thể đủ mạnh để chống lại cộng sản mà không cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Không còn lối thoát nào khác, Nixon vội vã tiếp nhận mà không hề xem xét kỹ lưỡng những kết luận của Thompson khi sử dụng chúng làm cơ sở cho một đường hướng mới để đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh. Có lẽ Nixon đã lý giải rằng, nếu ông ta có thể vận động được dư luận nước Mỹ làm hậu thuẫn thuyết phục Hà Nội là ông ta sẽ không bỏ rơi Thiệu và đẩy mạnh xây dựng sức mạnh quân sự cho Nam Việt Nam thì điều đó sẽ buộc Bắc Việt Nam phải đi đến kết luận rằng nếu họ thương lượng với Mỹ bây giờ thì sẽ tốt hơn là thương lượng v'ới Nam Việt Nam sau này, do đó ông ta có thể tranh thủ được sự nhượng bộ cần thiết của họ để giành được hoà bình trong danh dự.

Trong bài diễn vãn quan trọng ngày 3-11, Nixon bắt đầu cô lập các nhà phê bình và huy động quần chúng ủng cho chính sách của mình. ông ta kiên quyết bảo vệ sự cam kết của Mỹ ở Việt Nam với lời cảnh báo, v'iệc Mỹ rút ra sẽ tạo nên một cuộc tắm máu tại Nam Việt Nam cùng một cuộc khủng hoảng lòng tin vào sự lãnh đạo của Mỹ cả ở trong và ngoài nước* Trình bày tương đối chi tiết chính  sách "Việt Nam hoá chiến tranh" của mình, ông ta đưa ra một tnển vọng đầy hấp dân là chính sách này sẽ không chỉ làm giảm thương vong cho Mỹ mà còn có thể kết thúc sự dính líu của Mỹ theo cách thức bảo vệ được danh dự dù cho Bắc Việt Nam có làm gì cũng vậy. Tuy một số thành viên trong ban tham mưu của ông ta có thận trọng đề phòng một cuộc đối đầu với phong trào hoà bình, nhưng Nixon đã bỏ ngoài tai lời khuyên của họ. Ông ta gọi những người phản đối là phần tử vô trách nhiệm và phi lý. Nixon buộc tội họ phá hoại hoạt động ngoại giao của mình và công khai kêu gọi sự ủng hộ của cái gọi là "đa số yên lặng". Ông kết luận bằng một lời cảnh cáo giật gân "Bắc Việt Nam không thể hạ nhục Mỹ, chỉ có Mỹ mới có thể làm điều đó"(1).

Bài diễn văn của Nixon nói về "đa số yên lãng" thật là khôn ngoan và xét trên nhiều phương diện thì đó là một thủ đoạn chính trị thành công. Ông ta đã buộc những kẻ chống đối phải lui về thế phòng ngự. Bằng cách đưa ra một chính sách có thể đạt được hoà bình trong danh dự với con số lính Mỹ thương vong ở mức độ tối thiểu, dường như ông ta đã điều hoà được những yếu tố đối lập trong thái độ của công chúng đối với cuộc chiến tranh. Ông ta khá thông minh khi kêu gọi tinh thần yêu nước trong đám thính giả và đánh vào thái độ lừng khừng không muốn chấp nhận bất kỳ điều gì giống như thất bại. Bằng xác định cụ thể một "đa số yên lặng", Nixon đã huy động được một tập thể ủng hộ ở nơi mà điều đó đã không hề tồn tại.
----------------------------------------
(1) Văn kiện công khai, Richard M.Nixon, 1969, Washington D.C, năm 1971, tr.901-909.
----------------------------------------

"Hai cuộc cầu nguyện vì hoà bình" vào các ngày 15 tháng 10 và tháng 11 thành công và báo hiệu bước ngoặt mới trong tiến triển của phong trào chống chiến tranh. Các cuộc biểu tình do phái tự do tổ chức đã thu hút hàng triệu công dân trung lưu tỉnh táo, "tạo nên sự phản đối lớn nhất của quần chúng từ xưa đến nay ở Mỹ" và cho thấy rõ phong trào hoà bình đang trở nên "đáng tôn trọng"(1). Trái với cảnh rối loạn và bạo lực của sự kiện Chicago trước đây, hai đợt đấu tranh vào mùa thu diễn ra một cách hoà bình và đáng tôn trọng với màu sắc tôn giáo rõ nét. Trên khắp nước Mỹ chuông nhà thờ rung lên, tên các lính Mỹ chết trong cuộc chiến tranh được đọc to tại các buổi lễ trong ánh nến và những người tham gia đã âm thầm cất tiếng cầu nguyện chống chiến tranh, tiếng họ ngân lên: "Hãy cho hoà bình một cơ hội". Trong cuộc diễu hành tại Washington để tưởng niệm những binh sĩ đã tử trận, hàng ngàn người phản đối chiến tranh trong mưa lo, gió lớn đã cầm nến diễu hành từ nghĩa trang Arlington Cemetery đến trụ sở Quốc hội trên đồi Capitol và ở đây họ đặt những tấm bảng viết tên lính Mỹ tử trận ở Việt Nam trong các quan tài bằng gỗ.

Dù vậy, các cuộc bíểu tình mùa thu cũng không đem lại sự thay đổi về chính sách. Tuy sự phản đối này làm Nixon kinh hoàng và tức giận, nhưng ông ta công khai tỏ vẻ thờ ơ và bài diễn văn nói với "đa số yên lặng" của ông ta đã tạm thời vô hiệu hoá tác động của sự phản đối đó.
------------------------------------------------
(1) Charles De Benedelti, Phong trào đòi hoà bình trong lịch sử Mỹ,NXB Bloomington, năm 1984, tr.184-185.
------------------------------------------------
Ngay sau các cuộc cầu nguyện vì hòa bình, phong trào chống chiến tranh lại lắng xuống. Các cuộc bỏ phiếu thăm dò dư luận cho thấy có sự ủng hộ vững chắc đối với chính quyền. Vào cuối tháng 11, các cuộc tập hợp ủng hộ tổng thống Mỹ đã được tổ chức ở một số thành phố. Nixon phấn chấn nói: "Bây giờ chúng ta đã làm cho bọn tạp chủng tự do này phải kiệt sức và chúng ta sẽ tiếp tục làm cho chúng khốn khó"(1).

Làm cho chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" phát huy hiệu lực là một nhiệm vụ khó khăn hơn là thao túng dư luận công chúng Mỹ. Vào lúc Nixon chính thức tuyên bố kế hoạch "mới" của ông ta nhằm chấm dứt chiến tranh thì chương trình này đã được thực hiện từ một năm rưỡi trước. Trong lúc các lực lượng chiến đấu Mỹ làm cho Bắc Việt Nam và Việt cộng chao đảo với những trận tấn công dữ dội vào các đường tiếp tế và các khu căn cứ của họ, thì các cố vấn Mỹ đang điên cuồng xây dựng và hiện đại hóa quân đội Nam Việt Nam. Số quân Việt Nam Cộng hoà từ 850.000 khi Nixon lên nhậm chức được tăng lên hơn 1.000.000 người và Mỹ bàn giao cho Nam Việt Nam một khối lượng lớn vũ khí tân tiến nhất: hơn 1 triệu súng trường M-16, 12.000 súng máy M-60, 40.000 súng phóng lựu M-79 và 2.000 khẩu cối và lựu pháo hạng nặng. Nam Việt Nam còn được cung cấp tàu biển, máy bay, trực thăng và nhiều xe ô tô, điều này khiến một nghị sĩ phân vân nêu lên rằng liệu mục tiêu Việt Nam hoá chiến tranh có phải là "đặt từng người lính Việt Nam Cộng hoà đằng sau vô lăng
-----------------------------------
(1) Szulc, ảo mộng hoà bình của (?), tr.158.
------------------------------------
hay không"(1). Các trường quân sự mở rộng đến mức có thể tiếp nhận 100.000 học viên một năm. Để cải thiện tinh thần và hạn chế tỷ lệ đào ngũ cho binh lính Việt Nam Cộng hoà, Mỹ đã giúp cải tiến chế độ đề bạt, tăng lương, tăng quyền lợi của cựu chiến binh và có nhiều nỗ lực có hệ thống nhằm cải thiện điều kiện trong các trại lính.

Vào năm 1969-1970, "Chương trình bình định cấp tốc", lúc đầu được xây dựng như một chương trình cấp tốc nhằm mở rộng quyền kiểm soát ở vùng nông thôn trước khi có các cuộc đàm phán, đã được thể chế hoá và mở rộng. Để nâng cao mức độ an ninh ở các xã, do an ninh vốn là điểm rất yếu trong các chương trình cũ, số quân chính quy phối thuộc cho "chương trình bình định" đã lên tới 500.000 người được trang bị M-16 và có sự hỗ trợ của lực lượng dân vệ vừa được thành lập vội vã với quân số lên tới hàng ngàn. Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam đã cố gắng thổi sinh khí mới vào các chương trình phát triển nông thôn. Các cuộc bầu cử hương xã được tổ chức, khôi phục lại quyền tự quản đã bị tước đoạt dưới thời Diệm. Các chức sắc dân cử được huấn luyện về trách nhiệm công dân vụ tại Trung tâm phát triển nông thôn Vũng Tàu và khi tốt nghiệp họ được phát quần áo bà ba đen do CIA cung cấp.

Chính phủ giao cho từng xã quyền kiểm soát dân vệ và kiểm soát ngân sách sẽ dùng vào các dự án địa phương.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #167 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:47:32 pm »

Nhiều nỗ lực được thực hiện để khai thông đường xã, sửa chữa cầu cống, thiết lập trường học, bệnh viện và phát triển
------------------------------------------------
(1) Thomas Buckley, Quân đội Việt Nam cộng hoà sẽ lớn mạnh hơn và tinh nhuệ hơn, nhưng..., Thời báo New York ngày 12-11-1969, tr.132.
------------------------------------------------
sản xuất nông nghiệp. Tháng 3-1970, chính quyền đã thực hiện chương trình cải cách điền địa, qua đó phân phối lại gần một triệu héc ta đất.

Vào đầu năm 1970, chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" đang ở độ sung mãn nhất và đa số các nhà quan sát đều nhất trí rằng chương trình này đã đạt được những thành tựu đáng kể. Chỉ trong thời gian ngắn quân đội Nam Víệt Nam đã trở thành một trong những lực lượng quân đội lớn nhất và được trang bị tốt nhất thế giới. Hơn nữa khi được chỉ huy tốt, các đơn vị Việt Nam Cộng hoà đã chiến đấu giỏi và một số cố vấn Mỹ bắt đầu thấy rằng có lẽ do tình thế bắt buộc nên khả năng chiến đấu của họ đã tăng hẳn lên khi rút các đơn vị chi viện của Mỹ về. ở một số vùng khả năng chiến đấu của dân vệ còn được cải thiện rõ rệt hơn cả quân đội Việt Nam Cộng hoà. Các chiến thuật "phá hoại của Mỹ cùng với việc Bắc Việt Nam quyết định rút về phòng ngự đã khiến cho vùng nông thôn an toàn hơn bất kỳ lúc nào kể từ khi cuộc chiến tranh bắt đầu (...). ở các cứ điểm cũ của Việt Nam, mọi người có thể qua lại các tuyến đường vào ban ngày và số vụ đột kích giảm hẳn.

Ngay cả những người từ lâu vẫn đa nghi như chuyên gia bình định John Vann đã phải kết luận "lúc này chúng ta đã đi đúng hướng"(1).

Nhưng bước tiến thực sự trong lĩnh vực "Việt Nam hoá" vẫn còn bấp bênh. Các quan chức Mỹ tuyên bố đã "trung lập hoá" được 20.000 người là cơ sở cách mạng của Việt cộng qua chiến dịch Phượng hoàng và sau này đối
---------------------------------------------
(1) Vann gửi tướng Frederick Weyand ngày 22-1-1970, Văn kiện Vann.
---------------------------------------------
 phương cũng thừa nhận chương trình này đã gây cho họ nhiều vấn đề nghiêm trọng. Nhưng con số nêu trên đã quá phóng đại, tuy các hệ thơng cơ sở bí mật của đối phương bị đánh phá, nhưng nó vẫn nguyên vẹn. Các quan chức Mỹ thừa nhận những thành công về an ninh chủ yếu là nhờ các hoạt động quân sự của Mỹ và do đối phương giảm hoạt động. Tuy nhiên họ không dám chắc có thể duy trì được những thành công này hay không nếu quân Mỹ rút quân và đối phương mở lại các cuộc tấn công. Dấu hỏi lớn nhất vẫn là chính quyền Nam Việt Nam. Mặc dù có hoạt động tích cực ở các làng xã, nhưng chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ là "chương trình bình định" đã khơi dậy được cảm tình thực sự đối với chính quyền Thiệu. Hơn nữa như một quan chức Mỹ nhận xét, ở nhiều vùng đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hoà vẫn chưa động viên được ý chí và nhiệt tình của dân chúng chống lại Việt cộng và hỗ trợ cho các chương trình quốc gia"(1).

Mỹ cũng chưa biết chắc chắn liệu quân đội Việt Nam cộng hoà có thể lấp được chỗ trống mà việc rút quân Mỹ sẽ tạo ra hay không. Trên lý thuyết thì quân đội này quả là một lực lượng đáng gờm, nhưng thực tế vẫn còn nhiều điểm yếu cơ bản chưa khắc phục được. Mỹ ước đoán rằng quân số ma lên tới 20%; nạn đào ngũ vẫn là một vấn đề kinh niên và tình trạng thiếu nghiêm trọng các sĩ quan có trình độ, năng lực và trung thực ở tất cả các cấp. Thậm chí
-------------------------------------------
(1) Hồi ký của tướng Arthur S.Collins, mùa thu năm 1970, Văn kiện Collins, Xem Báo báo của nhóm nghiên cứu đặc biệt về Việt Nam, ngày 10-1-1979, và Charles S.Whitehouse gửi William Colby, ngày 22-9-1970, và Văn kiện Vann.
------------------------------------------
các đơn vị việt Nam Cộng hoà có chất lượng tốt hơn cũng thường xuyên tỏ ra không muốn giao chiến với đối phương trong những trận đánh kéo dài. Điều này khiến một sĩ quan cao cấp Mỹ phải đặt câu hỏi: Liệu bao giờ Mỹ "có thể tạo ra được một quân đội có tinh thần tấn công và xông xáo mà sau này sẽ rất cần để đối phó với Việt cộng và quân đội Bắc Việt Nam hay không?"(1). Dù muộn màng, Mỹ cũng bắt đầu hiểu rằng Nam Việt Nam đã quá phụ thuộc vào Mỹ. Vào những năm 1968-1969, vấn đề liệu quân đội Việt Nam cộng hoà có thể tự bảo vệ mình khi Mỹ rút quân về hay không luôn là một "câu hỏi khó chịu". Nhiều cố vấn Mỹ thú nhận rằng nếu tốt đẹp ra thì cũng mất rất nhiều thời gian để Nam Việt Nam có thể tự đứng vững trong cuộc chiến đấu với các lực lượng đầy kinh nghiệm và có kỷ luật của Bắc Việt Nam(2).

vào mùa xuân năm 1970, mâu thuẫn trong chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" của Nixon đã trở nên quá rõ. Bài diễn văn về "đa số yên lặng" đã tạm thời dẹp yên phong trào chống đối nhưng Nixon nhận ra thành công của ông chỉ là thoảng qua. Vào tháng 3, ông ta tuyên bố rút từng bước 150.000 quân trong năm sau nhằm "làm tan trận bão mùa xuân phản đối chiến tranh mà lúc này đang tích tụ"(3). Tuy cần nhìn nhận từ góc độ chính trị trong nước, Nixon đã nhận ra rằng phong trào phản đối chiến
-----------------------------------------
(1) Hồi ký của Collins, ngày 25-4-1970, Văn kiện Collins.
(2) Hồi ký của Collins mùa thu I970, Văn kiện Collins; Phỏng vấn William Rosson, Viện lịch sử quân đội Mỹ, trại Carlistle, Pa.
(3) Nixon, RN, tr.448.

-----------------------------------------
tranh sẽ làm ông ta yếu thế ở nhiều lĩnh vực khác. Abrams từng gay gắt phản đối việc rút thêm quân về nước với lời cảnh báo rằng việc rút quân sẽ làm cho Nam Việt Nam dễ bị tổn thất trước sức ép quân sự của đối phương và có thể phá hoại chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh". Trước đó Nixon đã ngây thơ hy vọng rằng việc ông ta thể hiện quyết tâm ở lại Việt Nam vô thời hạn và những biểu hiện sự ủng hộ của công chúng sau bài diễn văn ngày 3-11 sẽ thuyết phục được Bắc Việt Nam thương lượng. Nhưng Hội nghị Paris lúc đó chẳng đạt được bước đột phá nào, do đó ông ta nhận ra rằng việc tuyên bố rút thêm quân sẽ khuyến khích Hà Nội trì hoãn thêm. Do ngày càng nôn nóng kết quả và vẫn tin chắc có thể kết thúc chiến tranh bằng cách thể hiện sức mạnh mãnh liệt, nên Nixon một lần nữa bắt đầu tìm kiếm "những sáng kiến" mà ông ta có thể thực hiện để tỏ rõ cho đối phương biết rằng, "chúng ta (Mỹ) vẫn nghiêm chỉnh thực hiện cam kết của mình ở Việt Nam (1).

Vào tháng 3, việc phái thân Mỹ ở Campuchia do Lon Nol cầm đầu lật đổ hoàng thân Sihanouk, người theo đường lối trung lập, đã gây nhiều mối nguy hiểm cho chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" và tạo nhiều cơ hội hấp dẫn cho sáng kiến mà Nixon tìm kiếm. Lúc đó Kissinger kiên quyết phủ nhận việc Mỹ đồng loã trong cuộc đảo chính và cũng không có bằng chứng nào chứng minh là Mỹ trực tiếp nhúng tay vào. Tuy vậy, chính quyền Mỹ chẳng mấy ngạc nhiên về hành động của Lon Nol.

Thái độ của Mỹ rõ ràng từ lâu đã ghét Sihanouk, thêm nữa
-----------------------
(1) Nixon, RN, tr.445.
-----------------------------------
việc họ rất muốn đánh vào các căn cứ địa của Bắc Việt Nam ở Campuchia có thể đã khích lệ Lon Nol tin rằng nếu đảo chính thành công thì họ sẽ được Mỹ ủng hộ (1).

Sau này, Kissinger thừa nhận là Mỹ đã can thiệp vào Campuchia với thái độ miễn cưỡng và muộn màng, và họ chỉ can thiệp sau khi tin rằng Bắc Việt Nam tuyên bố tiêu diệt chính phủ Lon Nol. Nhưng lời nói này rõ ràng là giả dối. Không lâu sau cuộc đảo chính mà người ta cho là được Mỹ cho phép, các đơn vị Nam Việt Nam đã vượt biên giới tập kích vào Campuchia, sau đó Mỹ nhanh chóng công nhận chính phủ mới ở Campuchia và bắt đầu viện trợ lén lút. Việc Bắc Việt Nam quyết định chiếm Campuchia sau đảo chính đến nay vẫn là điều chưa chứng minh được và vào lúc đó cũng là điều mà nhiều người nghiêm túc chất vấn. Mặt khác, một số quan chức Mỹ ngay từ đầu đã muốn khai thác những diễn biến ở Campuchia. Giới quân sự nhiều năm đã nôn nóng muốn đánh các căn cứ địa của Bắc Việt Nam tại Campuchia. Sự thay đổi chính phủ ở Phnom Penh đã đã giải toả nối lo ngại vốn có từ lâu về việc vi phạm địa vị trung lập của Campuchia và các trận đánh vào các căn cứ địa lúc này có thể được biện bạch với lý do để duy trì chính phủ Campuchia thân hữu cũng như để giảm mối đe dọa quân sự đối với Nam Việt Nam. Do vậy, Nixon đã nhanh chóng chuẩn y đề nghị của Bộ Quốc phòng cho phép các đơn vị của Nam Việt Nam với máy bay Mỹ yểm trợ đánh vào căn cứ địa của đối phương ở Mỏ Vẹt, một dải
-------------------------------------
(1) Shawcross, Cuộc trình diễn..., tr.112-127 và Henry A. Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Boston, năm 1979, tr.457-521.
-------------------------------------
đất của Campuchia cách Sài Gòn khoảng 55 km. Thậm chí trước khi hoàn thành các kế hoạch cho trận đánh này, tổng thống Nixon đã thông qua một hành động khác dữ dội hơn và cũng mạo hiểm hơn. Sau gần một tuần nghiên cứu cẩn thận và đấu tranh dằn vặt cũng như vượt qua sự chống đối kịch liệt của Laird và Roger, tổng thống đã phê chuẩn đề nghị của Abram dùng quân Mỹ đánh vào một khu căn cứ của Bắc Việt Nam cách Sài Gòn khoảng 90 km về phía Tây Bắc. Có vẻ như Kissinger đã giấu kín những phân vân của mình đối với việc làm này, chí ít một phần cũng là để tạo lập địa vị cố vấn đối ngoại hàng đầu của Nixon.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #168 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:48:35 pm »

Quyết định của Nixon đưa quân Mỹ sang Campuchia, một trong nhiều quyết định quan trọng và gây tranh cãi trong nhiệm kỳ tổng thống đầy sóng gió của ông ta, có thể do nhiều suy tính thúc đẩy. Ông ta đã xiêu lòng vì lập luận của giới quân sự cho rằng cuộc hành quân này sẽ mang lại thêm thời gian cho chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" và sẽ giúp duy trì chính phủ ở Campuchia. Mặt khác ông ta nhận thức được quyết định của mình sẽ gây "tác động chia rẽ" ở trong nước"(1). Việc Nixon sẵn sàng làm công việc mạo hiểm này vì những kết quả chưa biết ra sao phần nào nói lên cái mà ông ta gọi là "triết lý trò chơi lớn", tức là niềm tin rằng vì chính quyền "sẽ bị rơi xuống địa ngục hoàn toàn nếu làm điều này" thì họ cũng rất có thể "hành động theo lý lẽ chung"(2). Không hề lo sợ về phản ứng trong nước mà biết chắc sẽ xảy ra, Nixon dường như
-----------------------------------
(1) Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Boston, năm 1979, tr.449.
(2) Safire, Trước lúc thất bại, tr.102-103.

----------------------------------
 đón chờ nó. Mùa xuân năm 1970, Nixon phải chống đỡ với cả trong và ngoài nước. Thượng nghị viện do Đảng Dân chủ chi phối đã bác bỏ lần thứ hai người mà Nixon đề cử vào một ghế trống tại Toà án tối cao và ông ta muốn phô diễn "cho những thượng nghị sĩ... thực sự cứng rắn đó"(1).

Quan trọng hơn, ông ta vẫn tin rằng có thể đi đến hoà bình bằng cách đe dọa Hà Nội. Bực tức vì bị giảm vị thế sau vụ tối hậu thư tháng 11, một việc làm đã chính xác truyền đạt một tín hiệu sai, Nixon đã lý giải rằng mở rộng chiến tranh sang đất Campuchia trước đây nằm ngoài giới hạn cho phép sẽ làm rõ ra là khác với bậc tiền nhiệm, ông ta sẽ không để cho những hạn chế trói buộc. Nixon giải thích cho các trợ lý của mình rằng, đến lúc đó Bắc Việt Nam sẽ phải quyết định "liệu họ có thể quần nhau với chúng ta mãi không" và xét về những áp lực bắt họ thương lượng thì "việc làm đó hoàn toàn cần thiết"(2). Trên con đường sự nghiệp của mình, Nixon luôn bận tâm đến tầm quan trọng của việc đối phó với các cuộc khủng hoảng, nên ông ta rất muốn nắm lấy thời cơ để phô diễn lòng dũng cảm dù bị công kích và để tỏ rõ cho các đối thủ ở trong và ngoài nước biết rằng không ai dọa nạt được ông ta.

Nixon đã giải thích quyết định của mình trong bài diễn văn rất hung hăng và khiêu khích được tường thuật trên truyền hình vào ngày 30-4. Ông ta biện bạch cho việc "đột kích" vào Campuchia là để trả đũa "hành động xâm lược" của Bắc Việt Nam, mặc dù ý đồ của Hà Nội lúc đó vẫn
-------------------------------------
(1) Monis, Sự bất ổn lớn, tr.174-175.
(2) Safire, Trước lúc thất bại, tr.190.

--------------------------------
chưa rõ ràng, cũng như biện minh rằng làm như vậy là cần thiết để bảo vệ các lực lượng Mỹ ở Việt Nam, tuy ông ta không giải thích được tại sao một mối đe dọa cũ rích như vậy bỗng nhiên lại cần một sự trả đũa mạnh đến như thế.

Nixon còn giải thích mục tiêu thực sự của cuộc hành quân là nhằm tiêu diệt Trung ương cục miền Nam Việt Nam, đầu não của các hoạt động tác chiến quân sự của Bắc Việt Nam, mặc dù Bộ Quốc phòng đã trình bày với ông ta rằng họ không biết rõ vị trí của Trung ương cục miền Nam Việt Nam ở đâu và thực sự có tồn tại một tổ chức như vậy hay không. Đoán trước cơn giận dữ trong nước, Nixon nói rõ: Thà làm tổng thống một nhiệm kỳ còn hơn là phải chịu trách nhiệm về thất bại đầu tiên của nước Mỹ. Ông ta kết luận với lời lẽ có phần to tát nghe như sự tồn vong của chính nước Mỹ phụ thuộc vào cuộc phiêu lưu sang đất Campuchia. Nixon cảnh cáo: "Khi đã hết các con bài, quốc gia hùng mạnh nhất thế giới sẽ hành động như một tên khổng lồ tội nghiệp vô dụng, các thế lực của chủ nghĩa chuyên quyền và vô chính phủ sẽ đe dọa 3 (?) quốc gia và các thể chế tự do trên toàn thế giới"(1).

Dưới góc độ quân sự, cuộc phiêu lưu của Nixon sang Campuchia cùng lắm cũng chỉ đem lại những kết quả có mức độ. Bộ chỉ huy Mỹ tuyên bố đã tiêu diệt được 2.000 quân đối phương, phát quang 1.600 arcres rừng, phá 8.000 công sự và thu được nhiều kho vũ khí làm cho các căn cứ địa này mất giá trị sử dụng trong một thời gian và gây thêm khó khăn cho
----------------------------------------
(1) Văn kiện công khai, Richard M. Nixon, 1970, Washington D.C, năm 1971, tr.405-410.
---------------------------------------
 công tác tiếp tế của đối phương. Do giải toả được mối đe dọa trước mắt từ Campuchia, cuộc hành quân này thực sự tạo thêm thời gian cho chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh".

Tuy nhiên, cuộc đột kích này chỉ tạm thời làm giảm khả năng tấn công của Bắc Việt Nam và thay vì một "Lầu năm góc" châu Á, Trung ương cục miền Nam Việt Nam hoá ra chỉ là "những chiếc lều không người nằm rải rác"(1). Dù cuộc hành quân này có đem lại thuận lợi gì cho chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" đi nữa thì cũng chẳng bù lại được hậu quả của việc mở rộng một cuộc chiến khu vực. Vào lúc Mỹ đang cố gắng giảm quy mô cuộc chiến thì họ lại phải chuyển những nguồn lực khan hiếm sang hỗ trợ cho một nhà nước yếu kém hơn ở Campuchia.

Ngay ở Campuchia, hành động của Mỹ đã góp phần tạo nên một trong những tấn thảm kịch lớn mới xảy ra. Mỹ quả có khuyến khích chính phủ Lon Nol tiến hành một cuộc chiến tranh mà họ có thể chiến thắng. Cuộc xâm lược của Mỹ buộc các lực lượng Bắc Việt Nam phải di chuyển khỏi các căn cứ địa và chuyển đến vùng trung tâm Campuchia. Dù có phải là hậu quả của hành động xâm lược của Mỹ hay không, Bắc Việt Nam đã bắt đầu chi viện quy mô lớn cho Khơ me đỏ chống Lon Nol. Trong cuộc nội chiến đặc biệt tàn khốc sau đó, Mỹ đã hào phóng chi viện cho chính phủ Campuchia và ném hàng ngàn tấn bom xuống đất nước này. Tấn bi kịch cuối cùng là ở chỗ từ đầu đến cuối, chính quyền Nixon coi đồng minh mới của họ
------------------------------------------
(1) Stanley Kamow Việt Nam: Một thiên lịch sử, New York, năm 1983, tr.610.
-------------------------------------------
chẳng khác gì một quân tốt đen, được dùng để cứu vãn tình thế của Mỹ tại Việt Nam và không quan tâm gì nhiều đến hậu quả đối với nhân dân Campuchia.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #169 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 06:49:52 pm »

Phản ứng trong nước đối với sự kiện Campuchia vượt xa những gì tồi tệ nhất mà Nixon đã dự kiến - theo những cách thức bi thảm. Việc bất ngờ mở rộng một cuộc chiến tranh mà vị tổng thống này đã hứa giảm bớt khiến cho những nhân vật bất đồng quan điểm nổi giận và việc ông ta biện minh cho hành động của mình với thái độ nóng giận, trong đó có những lời nói bừa bãi gán cho những người phản đối là những kẻ "vô trách nhiệm" càng như đổ dầu vào ngọn lửa căm giận.

Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra trong các trường đại học trên toàn quốc. Tại trường đại học Tổng hợp quốc gia Kent và trường đại học Quốc gia Jackson, 6 sinh viên đã bị sát hại trong cuộc đụng độ hỗn loạn với lực lượng cảnh vệ quốc gia và cảnh sát. Trên 100.000 người biểu tình tập trung tại Washington trong tuần đầu tháng 5 để phản đối sự kiện Campuchia và sự kiện tại bang Kent. Sinh viên hàng trăm trường đại học bãỉ khoá và một số trường đóng cửa để tránh bạo lực leo thang. Vụ sát hại tại bang Kent đã làm bùng nổ nhiều hoạt động bạo lực, thậm chí khích động cả những tổ chức thông thường mang tính bảo thủ và trầm lặng. Tại trường đại học Tổng hợp Kentucky một ngôi nhà cao tầng bị đốt cháy và các cuộc biểu tình của sinh viên đã bị lực lượng cảnh vệ quốc gia dùng hơi cay đàn áp(1).
---------------------------------------
(1) Mitchell k. Hall, "Một sự phá cách đúng lúc: Phản ứng của sinh viên tại trường đại học Tổng hợp Kentucky đối với vụ sát hại tại trường Đại học Tổng hợp Kent", Sự kiện lịch sử của trường Kentucky, mùa đông 1985, tr.36-63.
---------------------------------------------
Vụ tấn công bất ngờ sang Campuchia cũng làm nảy sinh sự thách thức nghiêm trọng nhất của quốc hội đối với quyền lực của tổng thống Mỹ kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh. Tổng thống Nixon trước đó chỉ tham khảo ý kiến một số nghị sĩ đã có tiếng là đồng tình với ông ta.

Lãnh tụ phái đa số Thượng nghị viện Hugh Scott điên tiết vì bị chính quyền che dấu thông tin và một số người khác thì tức giận vì Nixon mở rộng chiến tranh(1). Hành động phản kháng tiêu biểu của họ là vào tháng 6 đã bỏ phiếu áp đảo buộc chấm dứt hiệu lực của nghị quyết Vịnh Bẳc Bộ năm 1964. Các thượng nghị sĩ John Sherman Cooper bang Kentucky và Frank Church bang Idaho đã đề nghị cắt toàn bộ ngân sách cho hoạt động quân sự Mỹ ở Campuchia sau 30-6. Sau đó các thượng nghị sĩ McGovern bang South Dakota và Mark Hatfield bang Oregon đề xướng yêu cầu nghiêm khắc hơn buộc chính quyền Mỹ phải rút toàn bộ quân Mỹ khỏi Việt Nam vào cuối năm 1971.

Điên đầu vì những ý kiến phản đối, Nixon trả đũa. Ông ta nói với cộng sự của mình: "Không tranh luận thêm gì với các kẻ thù trong Quốc hội nữa. Đừng lo gì về chuyện chia rẽ. Nếu đã tuốt kiếm ra thì đừng bỏ nó xuống mà phải giữ chặt lấy nó"(2). Tổng thống công khai trách cứ các đối thủ trong nước đã kéo dài chiến tranh và thô bạo cảnh cáo các lãnh tụ Quốc hội rằng "nếu Quốc hội có hành động
---------------------------------
(1) Scott gửi Kissinger ngày 21-5-1970, Văn kiện Hugh Scott, Thư viện trường đại học Tổng hơp Virginia, Charlottesville, Va, hộp 65.
(2) Safire, Trước lúc thất bại, tr.190.

--------------------------------
hạn chế tôi thì họ sẽ phải gánh chịu hậu quả"(1). Tổng thống phê chuẩn Kế hoạch Huston, là một trong những đòn dánh vào tự do và sự riêng tư cá nhân trắng trợn nhất trong lịch sử nước Mỹ, cho phép các cơ quan tình báo mở thư, dùng các phương pháp giám sát điện tử và thậm chí cho phép do thám đối với công dân Mỹ. Các cơ quan tình báo không chịu thực hiện kế hoạch này, nhưng họ đã dùng một số biện pháp để xác minh mốt liên hệ giữa các nhóm cực đoan ở Mỹ và các chính phủ ngoại quốc(2).

Cuối cùng chính quyền Mỹ cũng đã thoát khỏi cơn bão Campuchia. Vào cuối tháng 6, Nixon ra lệnh rút quân khỏi Campuchia, tước đoạt của các đối thủ một vũ khí đáng giá nhất, do đó những cuộc phản đối dần dần lắng xuống. Dù có nhiều hoạt động ầm ĩ, nhưng Quốc hội chưa sẵn sàng trực tiếp thách thức tổng thống hoặc gánh vác trách nhiệm kết thúc chiến tranh. Phái Thượng nghị viện "bồ câu" hơn đã thông qua đạo luật sửa đổi Cooper-Church, nhưng Quốc hội đã bác bỏ nó và cho phép chính quyền Mỹ tiếp tục được tiến hành các hoạt động không kích tại Campuchia và cung cấp tiền bạc và hàng viện trợ cho Lon Nol. Đạo luật sửa đổi Hatfield-McGovem chưa bao giờ giành được đa số phiếu trong Thượng nghị viện Mỹ.

Tuy Nixon đã thoát hiểm và quyền lực của ông ta không bị sứt mẻ, nhưng sự kiện Campuchia đã thít chặt
-----------------------------------------
(1) Henry Brandon, Sự tái thiết quyền lực của Mỹ, New York, năm 1974, tr.146-147.
(2) Athan Theoharis, Tình báo Mỹ: Sự giám sát chính trị từ Hooover đến Kế hoạch Huston, Philadelphia, năm 1978, tr.13-39.

------------------------------------
thêm cái bẫy mà ông ta tự dăng cho mình. Phản ứng trong nước càng thúc đẩy quyết tâm của ông ta đi đến "hoà bình trong danh dự", đồng thời hạn chế hẳn những sự lựa chọn để đạt tới hoà bình. Sự kiện Campuchia đã tạo được đôi chút thời gian cho "Việt Nam hoá chiến tranh", nhưng nó cũng đặt ra những hạn chế rõ ràng, tuy ngấm ngầm đối với việc sử dụng các lực lượng chiến đấu Mỹ sau này và làm tăng thêm sức ép đòi đẩy nhanh tốc độ rút quân. Tình trạng chia rẽ trong nước Mỹ đã tăng lên trên mức năm 1968 kèm theo nhiều ảnh hưởng sâu rộng mà lúc đó chưa dự kiến nổi đối với tương lai của Nixon. Vào mùa hè năm 1970, vị tổng thống mang tâm trạng chua xót này đã tuyên chiến thực sự với những người mà ông ta coi là kẻ thù: "Lũ điên ở Quốc hội", giới báo chí tự do, những người đi diễu hành phản đối. Một trợ lý của Nixon sau này kể lại: "Trong cánh cổng sắt của Nhà Trắng từ lúc nào không biết đang rơi vào một thời kỳ tắc bế về tinh thần. Lúc này đây "chúng tôi" chống lại "bọn họ". Dần dần khi chúng tôi kéo vòng vây này thít gần chúng tôi hơn, thì hàng ngũ của họ bắt đầu phình lên"(1).

Hy vọng phá vỡ thế bế tắc ngoại giao đối với việc nhảy vào Campuchia, những hành động của Nixon dường như chỉ khiến cho tình hình thêm khó khăn hơn. Các phái đoàn Bắc Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tẩy chay các cuộc đàm phán chính thức tại Paris cho tới khi quân Mỹ rút khỏi Campuchia, và các cuộc
-----------------------------------
(1) Charles W.Colson, Hồi sinh của, NXB Old Tappan H.J, năm 1976, tr.41.
----------------------------------
đàm phán bí mật đã ngắt quãng trong nhiều tháng. Dường như Hà Nội đang chờ cơ hội và phản ứng trong lòng nước Mỹ có thể đã củng cố thêm lòng tin của họ rằng những áp lực trong lòng nước Mỹ sẽ buộc Mỹ phải rút quân.

Để giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại, vào tháng 10-1970 Nixon đã thực hiện cái mà ông ta gọi ỉà "một sáng kiến hoà bình quan trọng mới". Những đề nghị mà ông ta nêu ra trong bài diễn văn truyền hình với những ngôn từ hết sức khôn ngoan nhưng chẳng hề chứa đựng sự nhượng bộ nào về các vấn đề cơ bản. Hà Nội nhanh chóng bác bỏ đề nghị của Nixon về ngừng bắn tại chỗ, vì theo Hà Nội điều đó sẽ hạn chế quân giải phóng đi đến những khu vực mà họ hiện đang kiểm soát mà vẫn không bảo đảm cho họ bất kỳ một vai trò gì trong một giải pháp chính trị.

Dù gì đi nữa, bài diễn văn này hình như đã được chuẩn bị chủ yếu để phục vụ cho những cuộc bầu cử Quốc hội sắp tới. Sau bài phát biểu đó, Nixon đi thăm 10 bang và giận dữ lên án những ngươi phản đối chiến tranh, đồng thời dòi cử tri chọn những người sẽ "đứng về phía tổng thống".

Ngay trong việc làm này kết quả cũng đáng thất vọng.

Cũng có một số nhân vật "bồ câu" bị đánh bại, nhưng phái Cộng hoà chỉ giành được 2 ghế trong Thượng viện và mất 9 ghế trong Hạ viện.

Sau hai năm chiến đấu tiếp tục, tiến hành các hoạt động ngoại giao bí mật căng thẳng và vận động chính trị, vị thế của Nixon còn tồi tệ hơn cả khi ông ta mới lên nhậm chức.
 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM