tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #170 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 09:48:23 am » |
|
Các cuộc thương lượng với Bắc Việt Nam vẫn bế tắc và một nghiên cứu của Hội đồng An ninh quốc gia vào cuối năm 1970 đã kết luận Mỹ không thể thuyết phục mà cũng không thể ép được Hà Nội rút quân khỏi Nam Việt Nam.
Ở trong nước, Nixon đã cố "đi trước một bước", theo cách nói của ông ta, để vật lộn xoay xở tránh những hạn chế đối với quyền hành động của tổng thống. Nhưng ông ta vẫn vấp phải sự chống đối đầy thù địch và quyết tâm hơn trong Quốc hội và một phong trào chống chiến tranh đã hồi sinh trong khi chỉ mới một năm trước đó còn thoi thóp. Tình hình ở Nam Việt Nam vẫn ổn định, nhưng đến cuối năm, giới tình báo cho biết có sự gia tăng lớn về số quân và số hàng hoá thâm nhập vào Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, đe dọa các tỉnh phía Bắc và Huế, nơi quân đội Mỹ đã rút một lực lượng lớn.
Đáng lẽ phải suy tính lại một chính sách vốn chẳng đem lại kết quả gì thì trong phần lớn năm 1971, Nixon cứ ngoan cố bám lấy quan điểm mà ông ta đã ứng tác ra năm trước. Để xoa dịu làn sóng chỉ trích trong nước, ông ta đẩy nhanh thời gian biểu rút quân. Mặc cho Abrams phản đối, tổng thống Nixon đã ra lệnh rút 100.000 quân vào cuối năm đó, để lại 175.000 quân trong đó chỉ có 75.000 quân trực tiếp chiến đấu. Đồng thời, ông ta vẫn quyết tâm giành một nền hoà bình "công bằng" và để chống lại mối đe dọa đối với chương trình "Việt Nam hoá" phát sinh từ việc Hà Nội tăng cường thâm nhập và quân Mỹ rút về, Nixon tăng cường áp lực quân sự chống Bắc Việt Nam. Máy bay Mỹ tiến hành oanh tạc dữ dội các đường tiếp tế và các khu vực xuất phát ở Lào và Campuchia. Lấy cớ là Bắc Việt Nam bắn vào máy bay "trinh sát" của Mỹ, chính quyền ra lệnh thực hiện các trận oanh tạc "phản ứng phòng vệ" đánh cầu đường doanh trại, đường mòn trên khắp khu vực phi quân sự và ở Hà Nội và Hải Phòng. Tháng 2-1971, Nixon mở rộng chiến tranh cho phép đánh lớn ở Lào. Mục tiêu của cuộc hành quân này cũng giống như cuộc đột kích vào Campuchia nhằm tạo thời gian cho chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" bằng cách phá các đường tiếp tế của đối phương, nhưng lần này quân đội Việt Nam Cộng hoà gánh vác nhiệm vụ chiến đấu chính, còn Mỹ chỉ chi viện bằng không quân.
Chính sách rút quân kết hợp gây sức ép quân sự chỉ đem lại một thành công hạn chế. Cuộc hành quân vào Lào nếu không là một trận đấu thủ hoà tốn kém thì có thể coi đó là một đại bại. Giới tình báo Mỹ chỉ dự đoán là đối phương sẽ chống cự yếu ớt, nhưng rõ ràng tướng Giáp đã bắt được cơ hội đánh một đòn chí mạng vào chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" và huy động tới 36.000 quân có xe tăng loại mới nhất của Liên Xô yểm trợ đánh vào 2 sư đoàn Việt Nam Cộng hoà vừa vượt biên giới. Sau 6 tuần giao tranh đẫm máu, quân đội Việt Nam cộng hoà bị đánh tơi tả và kiệt quệ phải rút chạy về Nam Việt Nam. Các phát ngôn viên chính quyền tuyên bố tiêu diệt tới 15.000 quân đối phương và phá huỷ mạng lưới tiếp tế của Bắc Việt Nam ở Lào do vậy trì hoãn được một trận tấn công lớn trong năm. Nhưng dù những tuyên bố này có thật đi chăng nữa thì quân đội Việt Nam Cộng hoà cũng chịu tổn thất lớn với số thương vong tới 50% và khoảng 2.000 quân tử trận. Khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hoà không được như mong đợi và nếu không có không quân Mỹ đã ném tới 48.000 tấn bom yểm trợ thì họ còn chiến đấu kém hơn nhiều. Lời khẳng định của chính quyền Mỹ là quân Bắc Việt Nam đã rút quân có trật tự" quả là lố bịch trong không khí hối hả và hỗn loạn của cuộc rút chạy khỏi Lào và hình ảnh binh lính Việt Nam Cộng hoà tuyệt vọng bám vào càng máy bay trực thăng đang cất cánh lên đã làm nảy sinh nhiều thắc mắc về sự thành công của chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh".
Tại Mỹ, các cuộc phản đối và biểu tình vẫn tiếp tục diễn ra, thu hút nhưng gương mặt mới và ngày càng trở nên thù hận. Vào đầu năm 1971, Tổ chức Cựu chiến binh chống chiến tranh của những người đã từng tham gia chiến tranh Việt Nam đã tự tiến hành cuộc điều tra của "những người lính mùa đông" về tội ác chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương. Vào tháng 4, một nhóm cựu chiến binh đã từng chiến đấu ở Việt Nam mặc quân phục bạc màu có đeo quân, huy chương và các biểu tượng hoà bình đã tập hợp trước nhà Quốc hội, điều trần về tội ác chiến tranh của chính họ là vứt hết các huân, huy chương trên người. Vài ngày sau, 30.000 thành viên của Tổ chức ngày Quốc tế lao động đã tới Washington với ý đồ "ngăn cản chính phủ hoạt động" và họ tiến hành các cuộc "biểu tình ngồi" trên những chiếc cầu, những đường phố lớn và ở lối vào các toà nhà của chính phủ. Đám đông tràn ngập các đường phố, gây tắc nghẽn giao thông, phá phách các cửa hàng gây nên mội trong những cuộc bạo loạn tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Nhiều người Mỹ mong mỏi kết thúc chiến tranh, nhưng vào mùa hè năm 1971 câu chuyện về cuộc xung đột trong đó Mỹ đã dính líu hơn một thập kỷ lại bắt đầu trở lại ám ảnh cả dân tộc này. Sau phiên xử án dài nhất và thu hút sự chú ý của công chúng nhất, toà án binh đã buộc tội trung uý William Calley giết hại "ít nhất 22 mạng người" ở Mỹ Lai năm 1968 và kết án anh ta tù chung thân. Điều này một lần nữa đã phơi bầy trước công chúng sự tàn bạo của cuộc chiến tranh và làm bùng nổ một cuộc tranh cãi gay gắt về trách nhiệm đối với tội ác chiến tranh. Tâm trạng phẫn nộ về vụ Calley vừa dịu xuống thì tờ Thời báo New York lại xuất bản cái gọi là tài liệu Bí mật lầu Năm góc- một câu chuyện về quá trình đề ra chính sách ở Việt Nam dựa trên các tài liệu mật của Bộ Quốc phòng bị cựu quan chức Lầu Năm góc Daniel Ellsberg tiết lộ. Tài liệu này xác nhận những gì mà những người chỉ trích chiến tranh đã tranh luận từ lâu, trong đó có việc Kennedy và Johnson liên tục lừa dối công chúng về ý đồ của họ ở Việt Nam.
Nixon ngày càng lâm vào thế cô lập và bị công kích dữ dội. Ông ta phản ứng kịch liệt với những gì mà ông ta cho là sự đe dọa quyền hành tổng thống. Bộ Tư pháp xin được lệnh cấm cựu chiến binh ngủ ở tầng trệt và chính phủ đã quay sang bỏ tù 12.000 người biểu tình nhân ngày Quốc tế lao động và chẳng hề quan tâm đến việc buộc họ phạm tội cụ thể gì. Cá nhân Nixon thì can thiệp vào vụ Calley trong lúc đang phúc thẩm và ông ra lệnh thả Calley khỏi nhà giam và khẳng định ông ta sẽ xem xét vụ án. Vốn bị ám ảnh bởi vụ rò rỉ tin từ sau tiết lộ về cuộc ném bom bí mật vào Campuchia năm 1969 và biết chắc rằng các nhà phê bình sẽ dùng tài liệu Bí mật lầu Năm góc để "tấn công các mục tiêu và chính sách của mình"(1), Nixon thực hiện một ----------------------------------- (1) Nixon, RN, tr.509. ------------------------------------ bước mạnh mẽ là đề nghị toà án ra lệnh cấm xuất bản tài liệu đó. Khi toà án tối cao bác bỏ đề nghị này, Nixon tức điên lên và cho phép một "tổ hàn chì" bí mật bịt kín những lỗ rò trong chính phủ và chỉ thị cho họ dùng mọi biện pháp cần thiết để hạ uy tín Ellsberg.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #171 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 09:49:28 am » |
|
Chính sách rút quân cũng như cuộc phản công mạnh mẽ của Nixon chống phái đối lập đều không thể giải toả được tâm trạng mệt mỏi vì chiến tranh và mất tinh thần lan tràn toàn nước Mỹ vào mùa hè 1971. Cựu Ngoại trưởng Acheson than vãn cho hoàn cảnh khốn khó của "nước Cộng hoà đang chao đảo" này và nhà báo Robert Shaplen gọi Mỹ là "bệnh nhân của Tây bán cầu"(1). Tâm trạng mất tin tưởng về cuộc chiến tranh đã đạt đỉnh điểm hơn bao giờ hết, trong đó tới 71% số dân đều cho rằng Mỹ đã sai lầm khi đưa quân sang Việt Nam, và 58% số dân cho cuộc chiến tranh là "vô đạo đức". Sự ủng hộ của công chúng đối với việc Nixon tiến hành chiến tranh đã giảm chỉ còn 31% và sự chống đối các chính sách của ông ta đã tăng hẳn lên.
Hầu như đa số dân chúng đều cảm thấy rút quân quá chậm và đại đa số nhất trí rút hết quân về vào cuối năm cho dù điều đó dẫn đến chỗ cộng sản giải phóng miền Nam Việt Nam cũng mặc(2). Quốc hội cũng phản ánh tâm trạng ngày càng bất ổn của nhân dân, dù họ vẫn tiếp tục chưa có được hành động quyết định. Thượng nghị viện đã phê chuẩn tới hai lần các bản nghị quyết có nêu cụ thể một thời hạn rút ---------------------------------------------- (1) Acheson gửi Matthew B. Ridgway ngày 5-7-1971 và Shaplen gửi Robert Apsey, Văn kiện Ridgway, Hộp 34B. (2) Louis Harris, Nỗi thống khổ của sự đổi thay, New York, năm 1973, tr.72-73. ---------------------------------------------- toàn bộ quân Mỹ trong khi chờ Hà Nội thả hết tù binh.
Mỗi lần như thế Hạ nghị viện nếu không gạt bỏ thời hạn thì cũng thay đổi lời lẽ cho đỡ căng thẳng.
Căn bệnh đang ngày càng ảnh hưởng đến đất nước này cũng nhanh chóng lan sang các lực lượng quân đội Mỹ ở Việt Nam. Quân Mỹ đã chiến đấu cho mãi đến 1969, nhưng sau khi bắt đầu thực hiện chính sách rút quân của Nixon thì mục tiêu của cuộc chiến tranh ngày càng trở nên đen tối đối với những người đã được động viên đi chiến đấu, vì thế nhiều lính Mỹ không muốn vứt bỏ mạng sống của mình. Kỷ luật giảm sút ở một số đơn vị và binh lính không chịu tuân lệnh sĩ quan. Hiện tượng đánh các sĩ quan trong thời chiến không phải là hiếm thấy ở Việt Nam, hiện tượng rã đám đạt tới mức chưa từng có trong thời kỳ "Việt Nam hoá chiến tranh", với trên 2.000 vụ đã xảy ra trong năm 1970. Tình trạng ở Đông Nam Á có ma tuý và ma tuý chất lượng cao có nghĩa là nền văn hoá nghiện hút từng thu hút một số lớn thanh niên Mỹ trong nước cũng dễ dàng lây lan sang Việt Nam. Năm 1970, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ước tính có tới 65.000 lính Mỹ dùng ma tuý. Các quân chủng cũng không thoát được tình trạng căng thẳng chủng tộc vốn đã làm tan nát nước Mỹ trong kỷ nguyên Việt Nam và nhiều vụ xung đột chủng tộc nổ ra ở các đơn vị đóng trên đất Việt Nam cũng như ở các nơi khác đã thu hút sự chú ý ngày càng lớn đến tình trạng xuống cấp về tinh thần và kỷ luật. Lão chiến binh Matthew Ridgway người đã phục hồi tinh thần cho quân đội Mỹ tại Triều Tiên sau trận đánh của Douglas MacArthur than vãn về "những đòn nặng nề" mà cuộc chiến tranh Việt Nam đã đánh vào quân đội thân yêu của ông ta (1).
Tuy đã quyết không để bị đẩy vào tình thế hành động vội vã, nhưng những quan ngại của Nixon và Kissinger đủ khiến họ cố phá vỡ thế bế tắc ở Paris một lần nữa.
Kissinger tỏ ý lo lắng chính quyền không thể qua được năm đó nếu không được Quốc hội ủng hộ(2). Nixon nhận thấy ông ta sẽ cần một giải pháp hoà bình để thắng cuộc bầu cử nhưng lại hy vọng đạt được sớm nhất để tránh biểu hiện của một hành động tuyệt vọng hoặc một sự vận động trắng trợn. Do vậy, vào tháng 5, Kissinger bí mật trình bày với Bắc Việt Nam một đề nghị hoà bình toàn diện nhất từ trước đến giờ. Để đổi lấy việc thả tù binh chiến tranh, ông ta cam kết rút quân trong 7 tháng sau khi ký kết một hiệp định. Mỹ cũng đành từ bỏ quan điểm hai bên cùng rút quân, mà chỉ nhấn mạnh rằng, Bắc Việt Nam ngừng thâm nhập thêm người vào để đổi lấy việc Mỹ rút quân.
Đề nghị này mở màn những cuộc đàm phán hoà bình căng thẳng nhất từ khi chiến tranh bắt đầu. Bắc Việt Nam nhanh chóng bác bỏ đề nghị của Kissinger vì cho rằng đề nghị này đòi hỏi họ phải từ bỏ tù binh chiến tranh là vũ khí mặc cả lợi hại của họ, ngừng chiến đấu và chấp nhận chế độ Thiệu trước khi có bất kỳ một giải pháp chính trị nào.
Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ lập tức đưa ra đề nghị đồng ý ---------------------------------------- (1) Rigway gửi Westmoreland ngày 25-4-1970, Văn kiện Ridway, hộp 34B; Karnow Việt Nam, tr.631-632; Cincinnatus, Tư hủy hoại, New York, năm 1978. (2) Vermon A. walters, Nhiệm vụ thầm lặng, New York, năm 1978, tr.516. --------------------------------------- thả tù binh đồng thời với rút quân Mỹ, với điều kiện Mỹ chấm dứt viện trợ cho Thiệu trước khi đi đến giải pháp chính trị. Kissinger thấy đề nghị của Bắc Việt Nam là không chấp nhận được, nhưng ông ta có ấn tượng rất sâu sắc trước thái độ nghiêm túc và hoà giải của nhà ngoại giao Lê Đức Thọ và từ hai đề nghị này đã cảm nhận được "hình thù của một thỏa thuận". Ông ta phấn chấn nói với bè bạn rằng mình gần như có thể "nếm mùi vị của hoà bình"(1).
Nhưng các cuộc đàm phán đó cuối cùng lại tan vỡ vì vấn đề chế độ Thiệu. Ngay từ đầu các cuộc hội đàm bí mật, Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh rằng việc phế bỏ Thiệu là điều kiện tiên quyết cơ bản đối với bất kỳ một thỏa thuận hoà bình nào và nhiều lần họ bóng gió nói rằng Mỹ cần loại bỏ ông ta. Lúc này ở miền Nam đã có kế hoạch tổ chức tuyển cử vào tháng 9 và ông Lê Đức Thọ đề nghị nếu Mỹ thôi ủng hộ Thiệu và cho phép tuyển cử công khai thì Mỹ có thể đi bước đầu tiên đến một giải pháp mà không mất thể diện. Cảm nhận được một thỏa thuận như vậy, Thiệu đã làm cho vấn đề phức tạp thêm rất nhiều bằng cách buộc phải loại bỏ hai ứng viên đối lập là Nguyễn Cao Kỳ và Dương Văn Minh. Việc Thiệu trắng trợn can thiệp vào tiến trình chính trị đã làm cho đại sứ quán Mỹ tức giận đến mức đại sứ Ellsworth Bunker đòi Nixon công khai tách khỏi Thiệu và dùng sức ép riêng để buộc Thiệu chấp nhận một cuộc tuyển cử có tranh đua. Nhưng vào lúc gay cấn đó, Nixon và Kissinger không dám liều lĩnh bỏ Thiệu nên ---------------------------------- (1) Marvin và Bemard Kalb, Kissinger, Boston, năm 1974, tr.180. ------------------------------------------- đã bác bỏ cả đề nghị của Bắc Việt Nam lẫn lời khuyên của Bunker. Chính quyền chỉ tuyên bố "thái độ trung lập" một điều chẳng có nghĩa lý gì vì Thiệu tranh cử mà không có đối thủ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #172 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 09:50:47 am » |
|
Sau khi Thiệu đã được bầu lại yên ổn, Kissinger lại tìm cách duy trì các cuộc đàm phán bí mật bằng cách đưa ra một đề nghị mới kêu gọi tổ chức tuyển cử sau khi đình chiến 60 ngày và bảo đảm là Thiệu sẽ rút lui trước ngày bầu cử 1 tháng. Theo quan điểm của Hà Nội, đề nghị này rõ ràng là tốt hơn những đề xuất trước đây nhưng nó không bảo đảm là Thiệu sẽ không là một ứng cử viên cũng như không ngăn được Thiệu lợi dụng bộ máy chính quyền để tổ chức bầu cử gian lận. Do đó, Hà Nội tức khắc bác bỏ đề nghị của Mỹ. Vào cuối tháng 11, các cuộc đàm phán bí mật lại tan vỡ khiến cho cố vấn Kissinger với tâm trạng tuyệt vọng và chán nản đã tính đến việc xây một chiếc đập qua sông Mekong và "đánh chìm toàn bộ Việt Nam"(1).
Tuy các cuộc đàm phán vào cuối năm 1971 là nghiêm túc nhất từ trước đến lúc đó, nhưng cuối cùng cũng tan vỡ vì nhiều lý do đã khiến cho những nỗ lực trước đó thất bại.
Sau khi đầu tư quá nhiều xương máu, tiền của và uy tín chính trị vào một cuộc chiến tranh kéo dài hơn mười năm, chẳng bên nào muốn có sự nhượng bộ cần thiết để đi đến hoà bình. Điều quan trọng hơn, mỗi bên vẫn cảm thấy có thể đạt được những gì mà họ muốn bằng những biện pháp khác chứ không phải qua thỏa hiệp. Từ năm 1968, Hà Nội vẫn giữ thế phòng ngự và lúc này đang tập trung nguồn ------------------------------------ (1) Marvin và Bemard Kalb, Kisstnger, Boston, năm 1974, tr.185. -------------------------------- nhân lực và vật lực cho cuộc tấn công quân sự cuối cùng mà họ hy vọng sẽ lật nhào chế độ Thiệu và buộc Mỹ cút khỏi Việt Nam. Năm 1971, trong lúc cố gắng tạm gác vấn đề Việt Nam sang một bên nhưng chẳng mấy thành công, Nixon và Kissinger đã cố gắng tập trung sức lực và sự chú ý vào các cuộc đàm phán nhằm đi đến chỗ xoay chuyển quan hệ giữa Mỹ với Liên Xô, Trung Quốc để thực hiện lời hứa của họ về "một sự tạo dựng hoà bình". Cuối năm 1971, Nixon và Kissinger đã dự liệu những cuộc họp cấp cao với cả Bắc Kinh và Matcơva nên rất hy vọng sẽ cứu vãn được tình hình, bảo đảm tổng thống được bầu lại và đẩy Việt Nam vào thế cô lập không còn con đường nào khác là phải chấp nhận diều kiện của Mỹ. Nhưng chẳng bên nào đạt được điều họ hy vọng qua những bước đi quân sự và ngoại giao đầy kịch tính năm 1972, mỗi bên đều sẽ phải trả giá đắt cho cố gắng của họ. Chính họ đã đưa cuộc chiến tranh đến giai đoạn cuối cùng đầy tàn phá, mà sau đó mới bước sang một giai đoạn dẫn đến nền hoà bình thỏa hiệp.
Tháng 3-1972, Hà Nội mở chiến dịch đánh vào miền Nam vào lúc Mỹ còn lại 95.000 quân, trong đó 6.000 là quân trực tiếp chiến đấu. Hà Nội đã nhận định đúng đắn rằng sức ép trong nước sẽ ngăn cản Nixon điều thêm quân sang Việt Nam. Cuộc tấn công này được tính toán thời gian để trùng hợp với thời gian bắt đầu chiến dịch vận động bầu cử với hy vọng, cũng như năm 1968, chiến sự leo thang lớn sẽ dẫn đến sức ép đòi hoà bình bất khả kháng ở Mỹ. Đối tượng các cuộc tấn công của Bắc Việt Nam là các đơn vị chủ lực của Việt Nam Cộng hoà với hy vọng hạ uy tín chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" và trói chân càng nhiều lực lượng chính quy của chế độ Nam Việt Nam càng tốt, khiến quân giải phóng có thể tiếp tục tấn công ở các vùng nông thôn, phá "chương trình bình định" và củng cố chỗ đứng của họ trước khi đi đến những cuộc đàm phán hòa bình cuối cùng.
Trong giai đoạn đầu, cuộc tiến công đã thành công. Với lực lượng mũi nhọn là xe tăng, 120.000 quân Bắc Việt Nam đã đánh qua khu phi quân sự xuống Tây Nguyên và qua biên giới Campuchia phía tây bắc Sài Gòn. Tình báo Mỹ đã phán đoán nhầm thời điểm, quy mô và vị trí của cuộc tấn công. Do đạt yếu tố bất ngờ, quân giải phóng dễ dàng đi qua những phòng tuyến mỏng của lực lượng Việt Nam Cộng hoà và nhanh chóng tiến về Quảng Trị, KonTum và An Lộc, nơi chỉ cách Sài Gòn gần 100 km về hướng Bắc. Thiệu buộc phải đưa phần lớn lực lượng dự bị đi bảo vệ các thành phố, do đó quân giải phóng tự do tấn công ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và ở những vùng đông dân quanh Sài Gòn.
Tuy choáng váng trước tốc độ và tầm cỡ của cuộc tiến công, nhưng Washington đã phản ứng nhanh và mạnh mẽ.
Nixon không chịu ngồi yên để cho Việt Nam Cộng hoà sụp đổ ông ta không muốn đưa quân Mỹ trở lại Việt Nam, nhưng quyết tâm làm cho Bắc Việt Nam đổ máu và hình như ông ta nhìn thấy trong cuộc tiến công của Bắc Việt Nam một cơ hội để làm sống lại chiến lược kết thúc chiến tranh mà ông ta đã buộc phải gạt bỏ năm 1969(1). Ông ta nhanh chóng phê chuẩn các cuộc ném bom B-52 --------------------------------------- (1) Elmo R. Zumwalt, Phiên trực, New York, năm 1976, tr.379. ---------------------------------------- trên khắp khu phi quân sự và sau đó là những trận không kích ồ ạt vào các kho xăng dầu ở Hà Nội và Hải Phòng của Bắc Việt Nam. Đồng thời Kissinger bí mật gặp Leonid Brezhnev của Liên Xô. Lần đầu tiên Kissinger tỏ ý sẵn sàng cho phép lực lượng Bắc Việt Nam ở lại Nam Việt Nam sau ngừng bắn. Ông ta cũng mạnh mẽ nêu rõ là Liên Xô phải chịu trách nhiệm về cuộc tiến công và cảnh cáo nếu chiến tranh cứ tiếp tục thì có thể gây tác hại cho quan hệ Xô - Mỹ và gây hậu quả nghiêm trọng cho Bắc Việt Nam. Ngày 1-5, đề nghị và những lời dọa dẫm trên đây được nhắc lại với ông Lê Đức Thọ.
Hoàn toàn tin tưởng vào chiến thắng, Bắc Việt Nam dứt khoát bác bỏ đề nghị của Kissinger khiến cho Nixon chỉ còn trong tay một loạt sự lựa chọn đầy khó khăn. Ngày 8- 5, Abrams đòi tăng cường ném bom Bắc Việt Nam và thả thuỷ lôi cảng Hải Phòng, sau khi báo động rằng nếu Huế và Kom Tum thất thủ nhanh chóng thì "sẽ mất tất cả"(1).
Mặt khác các Bộ trưởng Laird và Rogers cảnh cáo rằng những biện pháp đối phó quá mạnh có thể có hậu quả tai hại trong nước, còn Kissinger thì tỏ ý lo ngại Liên Xô có thể huỷ chuyến viếng thăm Matxcova sắp tới của Nixon.
Không muốn liều đón nhận thất bại ở Việt Nam và tức giận vì sự thách thức của Bắc Việt Nam, Nixon quyết định phản công. Ông ta khẳng định "lũ khốn này chưa bao giờ bị ăn bom như chúng sắp bị lần này"(2). Một số quan chức ------------------------------------------- (1) Nixon, RN, tr.594. (2) Bản ghi chép của Nixon ngày 29-6-1972, Thời báo New York ngày 30-6-1974. ----------------------------------------- ở washington đoán Liên Xô không thể huỷ bỏ cuộc gặp cấp cao vì họ có quá nhiều lợi ích. Và kể cả Liên Xô có làm vậy thì Nixon đã sẵn sàng đặt cược toàn bộ uy tín của mình vào quyết định này. Ông ta nhận xét, "nếu chúng ta thua tại Việt Nam sẽ chẳng có ai tôn trọng tổng thống Mỹ nữa vì chúng ta có sức mạnh nhưng không dùng nó ... chúng ta phải giữ uy tín"(1). Vì thế ngày 8-5, tổng thống đã tuyên bố trước quốc dân một tin vô cùng sửng sốt về bước leo thang ghê gớm nhất trong cuộc chiến tranh kể từ năm 1968: thả thuỷ lôi cảng Hải Phòng, phong toả Bắc Việt Nam bằng hải quân và ném bom ồ ạt kéo dài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #173 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 09:51:30 am » |
|
Canh bạc của Nixon ít nhất cũng đã thành công ở một điểm. Giới lãnh đạo Liên Xô không muốn để cuộc chiến tranh Việt Nam gây ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các nước, vì vậy cuộc họp thượng đỉnh không bị huỷ bỏ. Trong chuyến đi của Nixon sang Matxcơva vào cuối tháng 5, Brezhnev và các đồng sự của ông ta cũng thể hiện sự phản đối qua ý kiến phàn nàn rằng hành động của Mỹ là "một hành động xâm lược trắng trợn" và còn so sánh những hành động này với các chính sách của Đức quốc xã(2).
Nhưng cuộc thương lượng cũng đạt được những bước tiến, cuối cùng đã đi đến một thỏa thuận. Liên Xô tiếp tục viện trợ kinh tế cho Bắc Việt Nam nhưng cũng phải cử một nhà ngoại giao cấp cao sang thúc giục Hà Nội tìm kiếm giải pháp hoà bình. Trung Quốc phản đối chiếu lệ chống lại Nixon leo thang chiến tranh, nhưng đằng sau màn kịch này ... --------------------------------------- (1) Raymond Price, Với Nixon, New York, năm 1977, tr.112. (2) Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, tr.1226-1227. ----------------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #174 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 02:19:32 pm » |
|
... họ cũng gây áp lực buộc Hà Nội phải đàm phán với Mỹ.
Cả hai cường quốc cộng sản này đều coi Việt Nam như một màn phụ không được phép gây nguy hiểm cho trật tự của các thế lực vốn đã được định hình trên thế giới.
Phản ứng trong nước cũng có thể kiềm chế được. Một đợt phản đối và biểu tình mới lại diễn ra. Theo thượng nghị sĩ George Aiken bang Vermont thì các nghị sĩ "bồ câu" trong thượng viện "bị choáng váng", "điên đầu" và "phiền muộn" và một loạt nghị quyết đòi kết thúc chiến tranh được hối hả đưa ra Quốc hội (1). Tuy vậy, công chúng Mỹ luôn luôn coi ném bom là một giải pháp dễ chấp nhận hơn là dùng bộ binh và nhiều người Mỹ cảm thấy rằng cuộc tiến công của Bắc Việt Nam biện minh cho phản ứng của Nixon. Nhưng vào những lần trước, cả công chúng và Quốc hội đều đã tập hợp quanh những sáng kiến của tổng thống và thành công của cuộc họp cấp cao đã làm hẫng hụt những ai cho rằng hành động hấp tấp của Nixon làm hỏng thế hoà hoãn. Không muốn phó thác bất kỳ chuyện gì cho may rủi, các thành viên trong Uỷ ban vận động bầu cử lại tổng thống đã làm giả hàng ngàn bức thư và bức điện gửi đến nhà Trắng bày tỏ sự tán thành các chính sách của Nixon, nhưng dù cho không có những trò hề này thì tổng thống vẫn được sự ủng hộ rộng lớn. Tỷ lệ công chúng ủng hộ ông ta đã tăng hẳn lên. Quốc hội không có ý kiến gì và Nixon ở vào thế mạnh hơn ở trong nước so với trước khi Bắc Việt Nam mở cuộc tấn công(2). --------------------------------------------- (1) George Aiken, Nhật ký Thượng nghị viện, Brattleboro, năm 1976, tr.55-57. (2) Louis Harris, Nỗi thống khổ của sự đổi thay, tr.74. ----------------------------------------- Phản ứng dứt khoát của Nixon dường như cũng chỉ để đẩy lùi thất bại ở Nam Việt Nam. Với mật danh LINEBACKER (tiền vệ), chiến dịch khởi động vào tháng 5 này đã vượt tất cả những đợt oanh tạc trước vào Bắc Việt Nam. Chỉ riêng trong tháng 6, máy bay Mỹ đã trút 112.000 tấn bom lên Bắc Việt Nam, trong đó có loại bom "thông minh" được điều khiển chính xác tới mục tiêu bằng máy tính nhận tín hiệu từ Camera truyền hình và chùm tia laze. Chiến thuật quân sự truyền thống mà Bắc Việt Nam sử dụng vào mùa hè năm 1972 dựa nhiều vào những khối lượng lớn nhiên liệu và đạn dược. Những trận đánh bom cường độ cao song song với cuộc phong toả làm cho việc tiếp tế cực kỳ khó khăn. ở Nam Việt Nam máy bay ném bom của Mỹ thực hiện các phi vụ suốt ngày đêm, đánh dữ dội vào các đường tiếp tế và nơi đóng quân của Bắc Việt Nam. Với sự trợ giúp thiết yếu của không quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hoà đã cố sức ổn định các phòng tuyến phía trước Sài Gòn và Huế và thậm chí còn tiến hành một cuộc phản công nhỏ.
Nhưng phân tích cho đến cùng, các chiến dịch trong mùa hè năm 1972 chỉ đẩy thế bế tắc lên một mức độ bạo lực mới. Cả hai phía đều tổn thất nặng. Bắc Việt Nam đã chứng minh rằng quân đội Việt Nam Cộng hoà vẫn còn yếu kém và quân giải phóng giành được một số thắng lợi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng Thiệu vẫn cầm quyền và NiXon không nhượng bộ. Bắc Việt Nam vẫn có lực lượng lớn ở miền Nam mặc dù không ít thương vong vì những trận bom Mỹ- Tin tình báo mà Washington nhận được vào cuối mùa hè đã tiên đoán Bắc Việt Nam có đủ khả năng để tiếp tục chiến đấu ít nhất 2 năm nữa (1).
Thất vọng vì không phá được thế bế tắc ngoại giao bằng các biện pháp quân sự, mùa thu năm 1972 các bên đều cảm thấy có nhiều lý do thúc ép phải phá vỡ thế bế tắc quân sự bằng con đường ngoại giao. Chắc chắn chính quyền Nixon không liều đi đến giải pháp trước khi bầu cử.
Đảng Dân chủ đã đề cử George McGovern, một nhân vật chủ hoà hay nói thẳng nhưng quan điểm cực đoan. Nixon và Kissinger cũng đã nhận ra nếu tiếp tục cuộc chiến trên không vô thời hạn sẽ gây dư luận trong nước. Họ ngày càng thất vọng khi thấy vẫn dai dẳng kéo dài một cuộc chiến tranh mà họ coi là ngăn cản kế hoạch vĩ đại về một "thế hệ hoà bình". Họ muốn giữ lời hứa trước đây là kết thúc chiến tranh và mong đạt được một giải pháp trước bầu cử nếu như có thể mà không phải mất mặt...
Từ cuối hè trở đi, hai nước nhích dần từng ly tới một thỏa hiệp. Sau khi tỏ ý sẵn sàng cho phép quân đội Bắc Việt Nam ở lại miền Nam sau đình chiến, Mỹ đã lùi một bước lớn sau cam kết ban đầu kiên quyết ủng hộ Thiệu qua việc chấp nhận một Uỷ ban bầu cử ba bên. Uỷ ban này (gồm chính quyền Sài Gòn, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và phái trung lập) sẽ chịu trách nhiệm dàn xếp một giải pháp sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Lúc này Bắc Việt Nam cũng chấp nhận một nguyên tắc đình chiến, cho Thiệu tiếp tục nắm quyền kiểm soát tạm thời và cho phép chính quyền Cách mạng lâm thời (tên chính thức của ----------------------------------- (1) Szulc, ảo mộng hoà bình, tr.618-619. ----------------------------------- Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam năm 1969) có địa vị của một thực thể chính trị ở miền Nam.
Vào cuối tháng 9, người ta đã bàn luận nghiêm túc về một giải pháp theo những đường lối này, trong ba tuần thương lượng căng thẳng Kissinger và Lê Đức Thọ đã phác hoạ ra những nét cơ bản của một hiệp định. Trong 60 ngày sau đình chiến, Mỹ sẽ rút số quân còn lại và Bắc Việt Nam sẽ trả tù binh. Sau đó Hội đồng hoà hợp và hoà giải dân tộc sẽ dàn xếp một giải pháp, điều khiển cuộc tuyển cử và chịu trách nhiệm thi hành hiệp định. Ngày 11-10, toàn bộ các vấn đề (chỉ trừ 2 vấn đề trên) đã được giải quyết xong. Sốt sắng muốn gói gọn lại công việc càng sớm càng tốt, Kissinger và Lê Đức Thọ đồng ý để lại hai vấn đề này. Và sau khi hỏi ý kiến Nixon và Thiệu, Kissinger sẽ xúc tiến cùng Hà Nội ký tắt hiệp ước này vào ngày 22-10.
Do vội vã đi đến một thỏa thuận, Kissinger đã tính toán rất nhầm về mức độ Thiệu sẵn sàng làm những gì Mỹ sai khiến và sự sẵn lòng ủng hộ Thiệu của Nixon. Kissingel phải bỏ ra 5 ngày ở Sài Gòn để kiên trì giải thích những điểm lợi của từng mục trong hiệp định đối với Việt Nam Cộng hoà và đưa ra những lời cảnh cáo thiếu tế nhị là nếu Thiệu từ chối hiệp định có nghĩa là Mỹ sẽ ngừng ủng hộ. Nhưng trong các bên hữu quan, Thiệu là người có lợi ít nhất trong một hiệp định quy định việc Mỹ rút quân, và ông ta thấy các điều khoản đó hoàn toàn không thể chấp nhận được. Ông ta kịch liệt phản đối việc không được tham khảo ý kiến trước về những cuộc thương lượng này và kiên quyết không chịu chấp nhận một thỏa thuận cho phép quân đội Bắc Việt Nam được phép ở lại miền Nam và cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam chủ quyền. Ông ta vạch cho Kissinger thấy trong văn bản có một số từ ngữ cẩu thả cho phép Uỷ ban ba bên có được vị thế một chính phủ liên hiệp. Đòi phải có những thay đổi hoàn toàn trong bản thỏa thuận kể cả việc thiết lập một khu quân sự làm đường biên giới giữa hai nước chủ quyền, Thiệu hiển nhiên bất chấp rủi ro của việc đẩy Mỹ và Bắc Việt Nam ra xa nhau và cản trở hiệp định vô thời hạn đồng thời cho phép cuộc chiến tranh kéo dài. ít nhất Thiệu cũng đã thành công trong một giai đoạn ngắn.
Vô cùng tức giận trước sự đe dọa không lường trước đối với tác phẩm đầy kỳ công của mình, Kissinger ép buộc Nixon hành động mà không cần chính qưyền Sài Gòn đồng ý. Do quan tâm đến việc rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, ông ta dường như thỏa mãn với Việc đạt tới một "khoảng thời gian vừa phải" giữa lúc Mỹ rút quân và lúc giải quyết cuộc xung đột ở Việt Nam. Nhưng Nixon thì không bao giờ từ bỏ cuộc tìm kiếm "hoà bình trong danh dự". Có vẻ như ông ta cũng chia sẻ một số suy nghĩ phân vân của Thiệu về bản dự thảo tháng 10 và mặc dù đã tán thành thỏa thuận trên với điều kiện Thiệu không phản đối, nhưng ông ta cảm thấy trong ý kiến phản bác của chính quyền Sài Gòn có cơ hội để đạt được những gì mà ông ta tìm kiếm ngay từ đầu. Biết chắc sứ mạng to lớn trong cuộc bầu cử sắp tới ông ta quyết định chờ đợi cho đến sau khi được bầu lại, đến lúc đó ông ta có thể đòi hỏi Bắc Việt Nam phải giải quyết hoặc "gánh chịu hậu quả của những gì mà Mỹ có thể làm đối với họ"(1). Ông ta không muốn để Thiệu ngăn cản vô thời hạn một thỏa thuận, nhưng chỉ cần trì ------------------------------------- (1) Nixon, RN, tr.701. ---------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #175 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 02:32:16 pm » |
|
hoãn một thời gian ngắn là ông ta có thể viện trợ thêm cho Nam Việt Nam, và có thể khắc phục những chỗ khiếm khuyết trong bản hiệp định và làm suy yếu khả năng của Bắc Việt Nam đe dọa hoà bình.
Kissinger có ý đồ giữ vững hy vọng về một giải pháp sớm bằng cách tuyên bố công khai vào ngày 31-10 rằng "hoà bình nằm trong tầm tay", nhưng việc Nixon ủng hộ Thiệu chắc chắn sẽ làm tan vỡ thỏa thuận tháng 10. Khi các cuộc đàm phán bí mật nối tiếp vào đầu tháng 11, Mỹ đã đưa ra xem xét lại khoảng 60 điểm, nhiều điểm chỉ là vụn vặt nhưng một số điểm rất quan trọng đối với sự thỏa hiệp giữa hai bên. Kissinger yêu cầu ít nhất rút một số quân tượng trưng của Bắc Việt Nam ra khỏi miền Nam và đề nghị một số thay đổi trong văn bản để làm yếu vị thế chính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, giới hạn quyền lực của Uỷ ban ba bên và thiết lập một khu phi quân sự như một đường ranh giới thực tế. Ông ta còn dọa dẫm thêm rằng vì Nixon đã chiến thắng vang dội trước đối thủ McGavon nên ông ta sẽ không ngần ngại gì trong việc "làm bất kỳ điều gì cần thiết để bảo vệ lợi ích của Mỹ"(1).
Biết chắc bị phản bội và không chịu nhân nhượng trước sự đe doạ, Hà Nội tức giận bác bỏ đề nghị của Kissinger và nêu ra nhiều đề nghị của mình và thậm chí còn nêu lại ý kiến trước đây là phế bỏ Thiệu. Nhiều tuần lễ, Kissinger và Lê Đức Thọ đấu khẩu tại bàn thương lượng trong bầu không khí căng thẳng và thường có thái độ giận dữ. Sợ rằng nền hoà bình xem ra đã ------------------------------------ (1) Nixon, RN, tr.721. ------------------------------------ đến gần nay lại sắp tuột mất, mỗi bên đều có nhượng bộ, nên - vào giữa tháng 12 họ đã quay lại cái cơ bản của thỏa hiệp ban đầu duy chỉ có vấn đề vị thế khu phi quân sự là chưa giải quyết được. Lúc này Kissinger đã hết kiên nhẫn, không hề nhớ là Mỹ cũng góp phần vào sự lỡ dở này, Kissinger phàn nàn gay gắt rằng Hà Nội "đã dồn chúng ta vào thế không thể chịu nổi và họ đã báo trước với Nixon rằng họ cố tình trì hoãn để gây chia rẽ giữa Mỹ và Thiệu" (1). Thất vọng và nôn nóng muốn đạt kết quả, hai nhà lãnh đạo nước Mỹ đã quyết định ngừng đàm phán và giải quyết vấn đề bằng vũ lực.
Trong tuần tiếp theo, Nixon dùng mọi phương tiện có thể để áp đặt cho cả Bắc lẫn Nam Việt Nam một giải pháp.
Ông ta ra lệnh ngay lập tức viện trợ cho Nam Việt Nam trên 1 tỷ đô la vũ khí quân sự khiến cho Thiệu có được một lực lượng không quân đứng hàng thứ 4 thế giới và còn nhiều thứ khác nữa. Ông ta tuyệt đối bảo đảm với chính quyền Sài Gòn nếu Bắc Việt Nam vi phạm hiệp định hoà bình thì ông ta sẽ ra lệnh "có hành động trả đũa nhanh chóng và dữ dội" và ông ta hạ lệnh cho Hội đồng tham mưu trưởng liên quân bắt đầu lên kế hoạch ngay nếu tình huống như vậy xảy ra(2). Đồng thời Nixon cảnh báo cho Thiệu biết nếu Thiệu không chấp nhận một hiệp định tốt nhất trong phạm vi khả năng có thể đạt được thì Mỹ sẽ đi đến hoà bình mà không cần có Thiệu. Thiệu tiếp tục chống lại không cho Nixon toàn quyền thương lượng cho mình và ------------------------------------- (1) Sulzberger, Bảy lục địa, tr.593; Nixon, RN, tr.725-726. (2) Nixon, RN, tr.718; Zumwalt, Phiên trực, tr.413-414. ------------------------------------ ngang ngược thông báo với báo chí là ông ta gạt bỏ tối hậu thư của Mỹ. Tuy rất điên tiết trước thái độ ngoan cố của Thiệu nhưng Nixon không hoàn toàn phật lòng vì ông ta thấy điều đó tạo cớ để ông ta có thời gian tạm nghỉ nếu như sau này phải đi đến thảo thuận.
Trong lúc cố gắng thúc ép Thiệu phải khuất phục, Nixon dùng chính sách mà Kissinger gọi là "đường lối ngoại giao đánh vào chỗ hiểm" để chống Bắc Việt Nam và ra lệnh một đợt ném bom ồ ạt nữa. Động cơ là để buộc Hà Nội ký một thỏa thuận, nhưng quyết định này phản ánh một nỗi tức giận và thất vọng dồn nén trong suốt 4 năm và nhằm làm cho Bắc Việt Nam suy yếu đi đến mức họ không thể đe dọa Nam Việt Nam sau khi ký một giải pháp hoà bình. Nixon cho giới quân sự thấy rõ quyết tâm của ông ta muốn gây thiệt hại tối đa cho Bắc Việt Nam. Ông ta lên lớp cho đô đốc Thomas Moorer, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân: "Tôi không muốn nghe các ngài nói vớ vẩn là không thể đánh mục tiêu này hay mục tiêu kia.
Đây là cơ hội để các ngài dùng sức mạnh quân sự nhằm chiến thắng cuộc chiến tranh này, nếu các ngài không làm được tôi sẽ quy kết trách nhiệm cho các ngài"(1). Trong 12 ngày sau, Mỹ đã thực hiện những trận đánh bom dữ dội và tàn phá nhất trong cuộc chiến tranh với số lượng bom trút xuống miền Bắc Việt Nam hơn 36.000 tấn, vượt xa số bom trong toàn bộ thời kỳ 1969-1971.
Sau này Nixon và Kissinger tuyên bố đợt ném bom vào lễ Giáng sinh đã buộc Bắc Việt Nam phải chấp nhận một -------------------------------- (1) Sulzberger, Bảy lục địa, tr.593; Nixon, RN, tr.725-726. -------------------------------- giải pháp theo đúng ý đồ của Mỹ, nhưng sự thật không đúng như vậy. Trận ném bom không có sức tàn phá như các trận ném bom vào Tokyo, Hiroshima hay Dresden trong Chiến tranh thế giới thứ 2 như lời buộc tội của các nhà phê bình. Phần lớn dân chúng đã được di tản khỏi các thành phố lớn. Nhưng sự tàn phá ở nhiều khu vực của Hà Nội và Hải Phòng vẫn rất nặng nề, có tới 1.600 dân thường vô tội bị thiệt mạng. Chắc chắn đợt ném bom đã tạo cho Hà Nội lý do nối lại thương lượng, đặc biệt khi họ đã cạn kiệt tên lửa đối không vào ngày 30-12.
Đợt ném bom có thể đã tạo cho Nixon nhiều lý do thúc ép hơn để trở lại bàn thương lượng. Lực lượng phòng không Bắc Việt Nam đã bắn rơi 15 máy bay B-52 và 11 máy bay khác gây tổn thất lớn cho Mỹ. Đợt ném bom vào dịp lễ Giáng sinh đã gây ra một làn sóng căm phẫn trên khắp thế giới. Liên Xô và Trung Quốc không còn giữ được thái độ kiềm chế hồi tháng 5 đã tức giận phản đối. Còn phản ứng trong nước thì cực kỳ gay gắt. Các nhà phê bình lên án Nixon là "điên dại" và buộc tội ông ta đã tiến hành "chiến tranh để thỏa mãn cơn giận"(1). Nhiều người trước đây đã từng tán thành các trận ném bom hồi tháng 5 thì lúc đó lại đặt câu hỏi về cả sự cần thiết lẫn độ tàn bạo khác thường của các trận ném bom tháng 12, theo lời thượng nghị sĩ Aiken thì đó là một món quà Giáng sinh đáng buồn cho người dân Mỹ (2). Tỷ lệ dân chúng ủng hộ cho Nixon giảm ngay xuống 39% và phái "bồ câu" trong Quốc hội ---------------------------------- (1) Nixon, RN, tr.738. (2) Aiken, Nhật ký Thượng nghị viện, tr.136. ---------------------------------- nêu rõ khi họ quay về Washington sau kỳ nghỉ Giáng sinh rằng họ sẵn sàng đấu tranh với tổng thống. Sau này, một phụ tá Nhà Trắng nhận xét: "Chúng tôi nghiêm túc đón nhận những sự đe dọa của Quốc hội, chúng tôi biết mình đang chạy đua với thời gian và nếu Bắc Việt Nam từ chối thương lượng thì chúng tôi phải đối diện với một tình hình nghiêm trọng"(1). Để giữ lối thoát cho những sự lựa chọn của mình, Nixon đã thể hiện cho Bắc Việt Nam thấy rằng ông ta sẽ ngừng ném bom nếu họ đồng ý nối lại cuộc đàm phán, Hà Nội đồng ý và Nixon đã thoát khỏi tình thế hiểm nghèo.
Quan trọng hơn, cuộc ném bom không đem lại một giải pháp khác hẳn mà Mỹ trông đợi. Ngày 8-1, các cuộc thương lượng được nối lại tại Paris. Không khí căng thẳng và lạnh lẽo, nhưng lần này cả hai bên đều nhất quyết đi đến giải pháp, sau 6 ngày họp liên tục với sự nhượng bộ của hai bên, Lê Đức Thọ và Kissinger đã giải quyết những bất đồng của họ. Những thay đổi so với thỏa thuận tháng 10 chủ yếu là hình thức, khiến cho bên nào cũng có thể nói rằng họ không phải nhượng bộ chút nào. Về vấn đề quan trọng-khu phi quân sự, Bắc Việt Nam đồng ý nêu rõ trong hiệp định nhưng Mỹ chấp nhận ý kiến của họ mô tả khu phi quân sự này chỉ là "tạm thời và không phải đường biên giới lãnh thổ", do vậy vẫn giữ được tính chất cơ bản trong lập trường của Hà Nội. Vấn đề đi lại của nhân dân qua khu phi quân sự được để lại giải quyết sau trong các cuộc đàm phán giữa Bắc và Nam Việt Nam. ------------------------------------- (1) Colson, Hồi sinh, tr.77-79. -------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #176 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 02:44:51 pm » |
|
Lần này Mỹ áp đặt thỏa thuận này đối với Thiệu. Để cho Thiệu dễ chấp nhận, Nixon nêu rõ nếu Thiệu đồng ý thì ông ta sẽ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam và sẽ "phản ứng với toàn bộ sức mạnh" nếu Bắc Việt Nam vi phạm thỏa thuận. Đồng thời ông ta bộc lộ nếu Thiệu tiếp tục phản đối, ông ta sẽ ngừng viện trợ và ký hiệp định một mình, nếu cần thiết(1). Thiệu trì hoãn nhiều ngày, nhưng khi biết là không còn cách nào khác nên đã nhượng bộ với lời lẽ cam chịu: "Tôi đã làm hết sức mình cho đất nước tôi". Chính quyền Sài Gòn không bao giờ chấp nhận chính thức bản hiệp định nhưng Thiệu bí mật thể hiện ông ta sẽ không chống lại nó.
Chỉ bằng một khái niệm hẹp nhất có thể nói thỏa thuận này đã tạo nên "hoà bình trong danh dự". Hiệp định cho phép Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến và bảo đảm trao trả tù binh đồng thời vẫn để nguyên chính quyền Thiệu - ít nhất vào ngay lúc này. Mặt khác, quân đội Bắc Việt Nam vẫn tiếp tục ở miền Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam có được một vị thế. Vấn đề chủ chốt mà vì nó có cuộc chiến tranh này, tức là tương lai chính trị Nam Việt Nam, được để lại giải quyết sau. Hiệp định ký tháng 1-1973 quy định vấn đề này sẽ được giải quyết bằng biện pháp chính trị. Nhưng cơ chế thiết lập để thực hiện nó rất mập mờ, và tự nó không thể hoạt động được và tất cả các bên liên quan đều nhận thức được là cuối cùng sẽ phải giải quyết vấn đề bằng sức mạnh quân sự. Thực vậy, khi Kissinger và Lê Đức Thọ từ khách sạn Majestic bước ra, ------------------------------------------------ (1) Nixon, RN, tr.737; Thời báo New York ngày 1-5-1975. ------------------------------------------------ miệng cười tươi vì những thành tựu mà họ đạt được thì các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hoà đang bận rộn chuẩn bị cho vòng đấu cuối cùng. "Hòa bình trong danh dự" chỉ là một giai điệu mới của cuộc chiến tranh 30 năm giành giật quyền kiểm soát Việt Nam.
Đối với tất cả những ai liên quan thì "Hòa bình trong danh dự" rất đắt giá. Theo con số ước tính chính thức của Mỹ thì trong thời gian từ năm 1969 đến năm 1973, số quân tử trận của Việt Nam Cộng hoà là 107.504 người và của quân giải phóng là trên 500.000 người. Sẽ không bao giờ có con số chính xác thỏa đáng về số dân thường bị thiệt mạng và bị thương. Số bom trút xuống Đông Dương trong thời kỳ Nixon đã vượt quá con số trong thời kỳ Johnson, gây ra sự tàn phá khủng khiếp, để lại hậu quả lâu dài cho hệ sinh thái ở vùng nông thôn và khiến cho hàng triệu dân không cửa không nhà. Mỹ chịu tổn thất ít hơn Việt Nam rất nhiều, nhưng cái giá phải trả cũng không kém. Thêm 20.553 tính Mỹ nữa bị chết trong 4 năm cuối của cuộc chiến tranh, nâng tổng số tử trận lên trên 58.000. Việc tiếp tục cuộc chiến tranh đã làm bùng lên tình trạng lạm phát mà Nixon và những người kế nhiệm đều không thể kiểm soát được. Chiến tranh đã phân cực nhân dân Mỹ và đầu độc không khí chính trị nước này ở mức độ chưa từng có từ khi còn chế độ nô lệ của thế kỷ trước. Tuy Nixon đã kiên quyết tìm đến một nền "hoà bình trong danh dự" để duy trì địa vị của Mỹ trên thế giới, nhưng Mỹ đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh với hình ảnh vấy bẩn trong con mắt của nhân dân thế giới và chính người dân Mỹ vốn đã chán ghét việc dính líu vào chiến tranh. Đối với Nixon, cái giá cũng quá cao. Tháng 1-1973, ông ta đã kiệt quệ và bị cô lập, còn chính quyền của ông ta chỉ còn là một "nhúm những kẻ mệt mỏi, mất tinh thần, đôi khi còn mang tính chất nhỏ nhen tầm thường, đấu đá, đề phòng và ghen tị lẫn nhau" (1).
Hơn bất kỳ vấn đề nào khác, chiến tranh Việt Nam đã làm cho nhiệm kỳ tổng thống của Nixon kết thúc sớm. Những biện pháp cực đoan mà ông ta thực hiện để bảo vệ chính sách Việt Nam của mình chống các đối thủ thực sự cũng như tưởng tượng đã trực tiếp dẫn đến vụ bê bối Watergate và cuối cùng dẫn đến chỗ ông ta từ chức. Do vậy khi trận đấu quyết liệt cuối cùng ở Việt Nam diễn ra trong năm 1975, vị kiến trúc sư của nền hoà bình trong danh dự không còn trong Nhà Trắng và nước Mỹ không còn tinh thần để bảo vệ sự thỏa thuận mà ông ta đã xây dựng với cái giá phải trả đắt đến như vậy. ---------------------------------------- (1) Colson, Hồi sinh, tr.80. -----------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #177 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 02:45:10 pm » |
|
Chương VIII THẤT BẠI CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ Những thỏa thuận "hoà bình" tháng 1-1973 chỉ tạo dựng một khuôn khổ để tiếp tục cuộc chiến tranh mà không có Mỹ trực tiếp tham gia. Bắc Việt Nam vẫn tìm cách thống nhất đất nước theo điều kiện của họ; Việt Nam Cộng hoà thì gắng sức để tồn tại như một quốc gia độc lập và một số quan chức Mỹ, kể cả tổng thống Nixon, tiếp tục ủng hộ cho tham vọng của họ. Do vậy lệnh ngừng bắn chỉ có hiệu lực trên giấy tờ. Nhưng giai đoạn cuối cùng này của cuộc chiến tranh rất ngắn ngủi. Chính quyền Sài Gòn phụ thuộc Mỹ từ khi mới ra đời, nên khi phải tự hoạt động nó đã gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa do tác động của vụ bê bối Watergate và tâm trạng mệt mỏi vì chiến tranh của người Mỹ, Nixon không thể giữ những cam kết đã hứa với Thiệu và rồi ông ta đã buộc phải từ chức vào tháng 8-1974. Quốc hội Mỹ đã quyết định cắt giảm hẳn viện trợ cho Nam Việt Nam, làm xói mòn thêm ý muốn kháng cự vốn đã ngả nghiêng của chính quyền Sài Gòn. Khi Bắc Việt Nam mở đợt tấn công lớn vào mùa xuân năm 1975, chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ nhanh chóng đến kinh ngạc. Cuộc chiến tranh 30 năm kết thúc một cách đầy kịch tính, đẩy nước Mỹ vào tình trạng thất vọng và hoang mang. "Cuộc chiến thời hậu chiến" bắt đầu ngay khi "nền hoà bình" vừa được công bố. Mỹ gặp khó khăn khi dàn xếp với Bắc Việt Nam và Việt cộng việc trao trả 587 tù binh chiến tranh và có lúc đã đe dọa trì hoãn việc rút quân vì thiếu sự hợp tác. Vào cuối tháng 3, tù binh Mỹ đã được trả tự do trở về quê hương trong sự đón chào như thể chỉ có họ mới là những người "anh hùng" của cuộc chiến. Toàn bộ quân Mỹ đã được rút về nước. Nhưng đó chỉ là những thành tích xác thực của những tập thể được giao nhiệm vụ thực hiện hiệp ước hoà bình. Ngay từ đầu những nỗ lực thực hiện ngừng bắn đã thất bại. Cả hai phía Việt Nam tham chiến đều không từ bỏ mục tiêu của họ và chỉ nhìn nhận hiệp định trong phạm vi phù hợp với lợi ích của mình(1). Thiệu lập tức tấn công. Trước đó, quân giải phóng đã mở nhiều trận đánh giành đất, nên Thiệu muốn chiếm lại càng nhiều vùng đất bị mất càng tốt. Tuy đã kiểm soát khoảng 75% lãnh thổ và 85% dân số vào thời điểm ký ... --------------------------------------- (1) Waller Scott Dillard, "60 ngày hoà bình: việc thực hiện Hiệp định hoà bình Paris, Việt Nam năm 1973", Washington, D.C, năm 1982.----------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #178 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 02:59:49 pm » |
|
... kết hiệp định, nhưng Thiệu vẫn muốn củng cố thêm vị thế của mình trong lúc vẫn còn được sự ủng hộ vững chắc của Mỹ. Thiệu định cư dân tị nạn và xây dựng đồn bốt ở vùng tranh chấp để chiếm thêm nhiều đất. Các đơn vị Việt Nam Cộng hoà và máy bay của Nam Việt Nam tấn công vào các căn cứ và đường tiếp tế của Bắc Việt Nam cũng như vào các làng do Chính phủ Cách mạng lâm thời kiểm soát. Thế nhưng quân đội Việt Nam Cộng hoà đã chịu tổn thất hơn 6.000 quân trong 3 tháng "hoà bình" đầu tiên, đó là một trong những thiệt hại lớn nhất họ phải gánh chịu trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến(1).
Bắc Việt Nam thận trọng hơn và cũng có chiến lược đối phó. Do tổn thất và kiệt quệ sau chiến dịch năm 1972 cùng với sự thiếu thốn lương thực, binh lực và khí tài quân sự, nên họ rất cần thời gian để hồi phục. Bắc Việt Nam cũng thiết tha muốn Mỹ rút hết quân và quả là có lợi nếu tránh được những hành động trắng trợn có thể thúc đẩy Mỹ can thiệp một lần nữa vào cuộc xung đột.
Trong năm đầu tiên sau đình chiến, chính phủ Cách mạng lâm thời chủ yếu tìm cách củng cố lãnh thổ mà họ kiểm soát và phá vị thế của Thiệu bằng cách vận động --------------------------------------- (1) Arnold R.Isaacs, Chẳng còn danh dự: Sự thất bại ở Việt Nam và Campuchia, New York, năm 1984; Maynard Parker, Việt Nam: Cuộc chiến tranh không điểm dừng, Tạp chí Các vấn đề đối ngoại, số 53, tháng 1-1975, tr.365-366; Gareth Porter, Một nền hoà bình bị khước từ: Mỹ, Việt Nam và Hiệp định Paris, NXB Bloomington, năm 1975, tr.174-184,188-196. ---------------------------------------- chính trị. Các lực lượng quân sự được lệnh chỉ đánh các đơn vị Việt Nam Cộng hoà khi có ưu thế rõ ràng. Trong khi đó, Bắc Việt Nam ngầm đưa bộ đội và trang bị vào miền Nam, xây dựng một hệ thống giao thông hiện đại nối liền các khu tập hợp lực lượng tác chiến với các vùng chiến lược ở Nam Việt Nam và thậm chí còn xây dựng một đường dẫn dầu để đảm bảo có đủ xăng dầu cho các lực lượng trên chiến trường.
Mặc dù Hiệp định Paris quy định tương lai của Nam Việt Nam sẽ do người Việt Nam giải quyết, nhưng Mỹ vẫn kiên trì ủng hộ Thiệu. Do quá thất vọng vì những tháng đàm phán nặng nề và sốt ruột muốn chuyển sang những công việc khác, Kissinger dường như chỉ tìm kiếm một "cự ly khuôn khổ" từ lúc ký kết Hiệp định cho đến khi giải quyết xong cuộc chiến tranh Việt Nam. Mặt khác, vào năm 1973, Nixon không còn muốn làm vị tổng thống Mỹ đầu tiên thua trong một cuộc chiến tranh như năm 1969. Mặc dù Hiệp định tháng 1 tạo dựng cho chính phủ Cách mạng lâm thời một vị thế chính trị ở miền Nam, nhưng tổng thống Nixon đã tuyên bố: Mỹ "sẽ tiếp tục công nhận chính phủ Việt Nam Cộng hoà là chính phủ hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam"(1).
Nhận thức đầy đủ rằng Hiệp định rất dễ đổ vỡ, Nixon và Kissinger dùng mọi phương tiện có trong tay để củng cố chính quyền Thiệu. Nhằm tranh thủ sự nhất trí của Sài Gòn, Nixon đã bí mật hứa hẹn tiếp tục "viện trợ quân ------------------------------------ (1) Porter, "Một nền hoà bình bị khước từ, tr.186. ------------------------------------ sự và kinh tế đầy đủ" và "phản ứng với toàn bộ sức mạnh nếu Bắc Việt Nam vi phạm Hiệp định"(1). Trong cuộc gặp gỡ Thiệu tại San Clemente vào tháng 3, Nixon khẳng định cam kết của mình và cam đoan với nhà lãnh đạo Nam Việt Nam này rằng: "ông có thể trông cậy vào chúng tôi"(2). Trong suốt những tháng còn lại của năm 1973, chính quyền Mỹ dùng nhiều thủ đoạn để tiếp tục viện trợ quân sự ở mức độ cao mà không lộ liễu vi phạm các điều khoản của Hiệp định Paris. Thay vì triệt thoái các căn cứ của mình, Mỹ đã trao lại cho Nam Việt Nam trước khi Hiệp định có hiệu lực. Trang thiết bị vũ khí viện trợ được dán nhãn "phi quân sự" và "được coi là đủ điều kiện" để chuyển giao. Đoàn cố vấn quân sự được thay thế bằng tổ chức "dân sự" 9.000 người, trong đó rất nhiều người được vội vã cho giải ngũ và đưa vào phục vụ chính quyền Việt Nam(3).
Chính quyền Mỹ mưu đồ tận dụng vai trò của mình để ngăn cản Bắc Việt Nam tạo dựng một thế cân bằng mong manh ở miền Nam. Mỹ đồng ý viện trợ cho Hà Nội 4,75 tỷ USD, một phần trong cả gói Hiệp định Paris, để tái thiết. Mùa xuân năm 1973, Nixon nhiều lần đã dọa giữ lại số tiền đó nếu Bắc Việt Nam không thực hiện triệt để Hiệp định và cuối cùng ông ta đình chỉ đàm ------------------------------------------ (1) Nixon, RN, tr.749-750; Thời báo New York ngày 1-5-1975. (2) Stephen T.Hosmer, Sự thất bại của Nam Việt Nam, NXB Santa Monica, Calif, năm 1978, tr.11. (3) Tad Szulc, Ảo mộng hoà bình: Chính sách ngoại giao trong thời kỳ Nixon, New York, năm 1978, tr.672-676. ---------------------------------------- phán về viện trợ sau chiến tranh để phản đối Bắc Việt Nam tiếp tục thâm nhập vào miền Nam và tăng cường chiến sự ở Campuchia. Tổng thống và Kissinger còn tìm cách duy trì hiệu lực về mối đe dọa can thiệp của Mỹ.
Kissinger nhận xét, "cách duy nhất để chúng ta tiếp tục kiểm soát Nam Việt Nam là đừng nói chúng ta sẽ rút ra mãi mãi. Chúng ta không muốn làm tiêu tan danh tiếng về sự quyết liệt của tổng thống trước họ"(1). Vào cuối tháng 3, người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam, nhưng Mỹ vẫn đuy trì một lực lượng hải quân và không quân ở Vịnh Bắc Bộ, ở Thái Lan và Guam. Cuộc ném bom Campuchia vẫn tiếp tục, một phần là để hỗ trợ cho Lon Nol chống lại một cuộc tấn công đầy quyết tâm của Khơme đỏ và một phần cũng là để duy trì danh tiếng "quyết liệt" của Nixon. Nhiều lần, tổng thống đã đưa ra những lời cảnh cáo không che đậy là ông ta có thể nối lại cuộc ném bom Bắc Việt Nam, và vào tháng 4 ông ta tiếp tục cho các chuyến bay trinh sát ở bắc vĩ tuyến 17.
Nhưng Hà Nội không hề lay chuyển trước những lời cảnh cáo của Mỹ. Vào đầu mùa hè, khả năng đe dọa của Nixon đã giảm hẳn do Quốc hội Mỹ có thái độ nổi loạn.
Sự thách thức của Quốc hội năm 1973 phản ánh một tâm trạng chán ghét chiến tranh và tư tưởng phổ biến trong dân Mỹ là khi đã an toàn rút được quân Mỹ về thì nước Mỹ phải hoàn toàn rút khỏi cuộc xung đột. Chứng cứ ngày một tăng về việc Nhà Trắng dính líu vào vụ --------------------------------------- (1) William Safire, Trước lúc thất bại, New York, năm 1975, tr.673. --------------------------------------- Watergate làm cho Nixon ngày càng rơi vào thế yếu.
Quốc hội không nhiệt tình với việc viện trợ cho Bắc Việt Nam, phái "bồ câu" thì nói rằng làm như vậy không bảo đảm hoà bình, còn phái "diều hâư" thì lên án khoản viện trợ đó là "tiền bồi thường chiến tranh". Đảng viên Đảng Cộng hoà cùng với đảng viên Đảng dân chủ lên án cuộc ném bom Campuchia là bất hợp pháp và vào ngày 10-5, Hạ viện đã bỏ phiếu cắt khoản ngân sách dành cho những trận oanh tạc tiếp theo.
Nhận thấy rằng Mỹ đang ngày càng không thể kiểm soát nổi các sự kiện ở Đông Dương, Kissinger đã làm một việc vô ích là đi Paris vào tháng 5 để thuyết phục Lê Đức Thọ thực hiện ngừng bắn. Bắc Việt Nam phản đối việc Mỹ buộc cho họ tội vi phạm Hiệp định, rồi lên án Nam Việt Nam và Mỹ không chịu giữ cam kết. Điều làm cho Kissinger càng thêm bực mình là họ đã gọi những lời cáo buộc của ông ta là "ý đồ lừa dối dư luận công chúng, như các ngài đã làm với vụ Watergate". Các nhà ngoại giao chỉ có thể thỏa thuận được một bản thông cáo vô thưởng vô phạt khẳng định lại bản Hiệp định tháng 1.
Khi trở về Washington, Kissinger lúc này đã quá mệt mỏi nên thông báo cho báo chí là ông ta sẽ giảm dính líu vào các vấn đề Đông Dương "để giữ được sự bình ổn trong tình cảm"(1).
Nhận xét của Kissinger mang tính tiên tri hơn là ông ta tưởng, vì vào tháng 6, Quốc hội đã tước bỏ của chính --------------------------------------- (1) Marvin và Bemard Kalb, Kissinger, Boston, năm 1974, tr.432. ----------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #179 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 03:17:48 pm » |
|
... quyền chút ảnh hưởng ít ỏi cuối cùng mà họ còn giữ được.
Vào lúc này, các cuộc điều tra về vụ Watergate đã làm lộ ra nhiều hiện tượng lạm dụng quyền lực tổng thống. Các đảng viên Đảng Dân chủ vốn từ lâu đã ôm hận nay càng được khích lệ đả kích tổng thống, còn đảng viên Đảng Cộng hoà thì ngày càng không muốn hậu thuẫn cho ông ta.
Nixon và Kissinger quyết liệt bảo vệ hành động ném bom Campuchia và cho đó là hành động cần thiết để giữ vững quyền lực của Lon Nol và duy trì việc đình chiến. Nhưng đại đa số nghị sĩ Quốc hội đồng ý với thượng nghị sĩ George Aiken là hoạt động ném bom đó đã "nhận được ý kiến cố vấn tồi và không có gì đảm bảo", đồng thời nhiều người chấp nhận ý kiến khẳng định thẳng thắn của hạ nghị sĩ Norris Cotton: "Nếu là tôi thì tôi đã rút khỏi cái địa ngục đó"(1). Vào cuối tháng 6, Quốc hội đã phê duyệt một đạo luật bổ sung đòi phải ngừng ngay lập tức mọi hoạt động quân sự ở trong và trên toàn Đông Dương. Hạ viện bảo lưu ý kiến phủ quyết đầy tức giận của Nixon, nhưng cuối cùng tổng thống bị buộc phải chấp nhận một thỏa hiệp kéo dài thời hạn đến 15-8. Lần đầu tiên Quốc hội đã có hành động quyết định để cắt giảm sự dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh. Kissinger đã nhận xét với lời lẽ giảm nhẹ và đầy thất vọng: "Thật vớ vẩn nếu như nói rằng quyền hạn của ngành hành pháp không bị làm cho suy yếu đi"(2). ------------------------------------------------------ (1) George Aiken, Nhật ký Thượng nghị viện, Brattleboro, Vt, năm 1976, tr.198, Kalb and Kalb, Kissinger, tr.432. (2) Kalb and Kalb. Kissinger, tr.434. ------------------------------------------------------- vào cuối năm 1973, Nixon thực sự không còn một chút quyền lực nào. Vụ Watergate đã làm cho tỷ lệ dân ủng hộ ông ta giảm sút đến mức thấp nhất chưa từng có và đẩy vị tổng thống này vào thế phải đấu tranh đầy tuyệt vọng ở hậu trường để cứu vãn sinh mạng chính trị của mình. Tháng 11, Quốc hội bác bỏ một quyền phủ quyết nữa - đó là quyền tiến hành chiến tranh, một phản ứng trực tiếp với việc thực hiện quyền lực của tổng thống ở Việt Nam. Đạo luật này đòi hỏi tổng thống phải thông báo cho Quốc hội trong vròng 48 giờ trước khi đưa quân Mỹ ra nước ngoài và buộc tổng thống phải rút quân trong 60 ngày nếu không được Quốc hội tán thành. Một số nghị sĩ phản bác lại rằng đạo luật đó cho tổng thống được quyền trực tiếp điều quân Mỹ đi tham chiến hơn trước. Nhưng trong tình huống diễn ra tranh luận lúc đó kết hợp với vụ Watergate và cuộc bỏ phiếu chấm dứt mọi hoạt động ở Campuchia khiến cho chắc chắn Mỹ sẽ chấm dứt dính líu trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam.
Lúc này Hiệp định Paris không khác gì mớ giấy lộn.
Nhiều cuộc bàn cãi về giải pháp chính trị đã nổ ra vào đầu năm 1973 và tiếp tục lẻ tẻ trong suốt năm, nhưng vấn đề cơ bản - tức là tương lai của Nam Việt Nam - là điều không thể thương lượng được. Vào đầu năm 1974, các cuộc đàm phán đã tan vỡ. Vẫn tin vào sự giúp đỡ của Mỹ, bất chấp vụ Watergate, Thiệu chính thức tuyên bố bắt đầu "cuộc chiến tranh Đông Dưong lần thứ ba". Vào cuối 1973, ông ta đã tăng cường các trận đánh trên không và trên bộ vào các căn cứ đối phương, đồng thời mở hàng loạt chiến dịch chiếm lãnh thổ trên vùng đất mà Chính phủ Cách mạng lâm thời chiếm giữ dọc bờ biển phía Đông, trong vùng tam giác sắt và ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lần này Bắc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời phản công và trong vài tháng sau họ liên tục giành thắng lợi, đánh tơi bời các đơn vị quân Việt Nam Cộng hoà ở vùng tam giác sắt, lấy lại được nhiều vùng đã mất và chiếm thêm nhiều vùng trước đây do Nam Việt Nam kiểm soát.
Đến mùa thu năm 1974, cán cân quân sự đã nghiêng về phía có lợi cho Bắc Việt Nam. Hơn nửa triệu quân Việt Nam Cộng hoà đã bị trói chân vào các vị trí phòng thủ tĩnh tại và trên khắp các tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam. Lúc này, Bắc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã động viên lực lượng xây dựng được những đội quân lớn ở miền Nam. Họ đã tích trữ được nhiều hàng hoá quân nhu dự trữ và xây dựng được một hệ thống hậu cần rất tinh vi giúp họ có thể di chuyển quân chính quy cùng xe tăng và pháo tới bất kỳ mặt trận nào trong vài giờ. Ít nhất ở vùng châu thổ sông Cửu Long họ đã lấy lại được phần lớn vị trí bị mất vào năm trước(1).
cùng lúc đó, phần nào do Mỹ rút quân, những vấn đề kinh tế và chính trị kinh niên của Nam Việt Nam đã trầm trọng lên nhiều: Mỗi năm mất 400 triệu USD tiền quân Mỹ chi tiêu ở Nam Việt Nam; số viện trợ của Mỹ ---------------------------------------- (1) Parker, Việt Nam, tr.366-367. ---------------------------------------- giảm từ 2,3 tỷ USD năm 1973 xuống còn 1 tỷ USD năm 1974; sự gia tăng lạm phát hàng năm ở đây lên tới 90%; nạn thất nghiệp trầm trọng; sự sa sút tinh thần trầm trọng trong quân đội, trong dân đô thị và nạn tham nhũng lên cao hơn bao giờ hết. Nhữnơ kẻ hôi của đã lột cảng Cam Ranh chỉ còn bộ xương trần trụi và các phi công đòi ăn hối lộ rồi mới bay các phi vụ yểm trợ cho lực lượng mặt đất. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1974 làm cho những khó khăn chính trị của Thiệu càng chồng chất. Phật tử hoạt động tích cực hơn bất kỳ lúc nào kể từ năm 1966, với mục tiêu đòi hoà bình và hoà giải với cộng sản. Giáo dân, chỗ dựa quan trọng nhất của chính quyền đã tổ chức một chiến địch chống tham nhũng mà mục tiêu quan trọng của chiến dịch đó lại chính là Thiệu. Tư tưởng chủ bại lan đến cả những kẻ lừng chừng trung dung mà trước đây không ủng hộ, nhưng cũng không tích cực chống chính phủ.
Việc Mỹ từ bỏ Nam Việt Nam đã thể hiện rõ và cuối năm 1974. Nixon bị buộc từ chức vào tháng 8, như vậy người ta đã đánh bật ra khỏi chiếc ghế quyền lực một con người từng hứa hẹn tiếp tục ủng hộ Thiệu. Trong suốt năm đó, Kissinger cầu xin một Quốc hội Mỹ ngang bướng hãy tăng viện trợ quân sự của Mỹ lên 1,5 tỷ USD.
Ông ta nhấn mạnh rằng Mỹ có nghĩa vụ đạo đức với Nam Việt Nam và cảnh báo nếu không giữ nghĩa vụ đó thì sẽ "phá hoaị lợi ích của ta ở bên ngoài Đông Dương".
Những lập luận mà gần 1/4 thế kỷ qua đã được chấp nhận hầu như không có ý kiến phản bác thì bây giờ trở nên vô nghĩa lý. Nạn lạm phát ở Mỹ đã làm bùng lên những yêu sách đòi giảm chi tiêu và nhiều nghị sĩ Quốc hội đồng ý với thượng nghị sĩ William Proxmire là việc tiếp tục viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam không cần thiết bằng "bất cứ một mục nào" trong ngân sách nước Mỹ. Các nhà phê bình vạch rõ, chính quyền Thiệu lúc này không bị mối đe dọa nào cận kề và cảnh báo là phần lớn số tiền viện trợ sẽ chui vào túi các quan chức tham nhũng Sài Gòn. Việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự quy mô lớn sẽ khuyến khích Thiệu kéo dài chiến tranh nhưng việc giảm viện trợ có thể giúp ông ta thấy cần phải tìm kiếm giải pháp chính trị. Thượng nghị sĩ Edward Kennedy nói: "Đã đến lúc chấm dứt sự viện trợ vô tận của Mỹ cho một cuộc chiến tranh không có kết thúc". Vào tháng 9-1974, Quốc hội đã phê chuẩn chương trình viện trợ 700 triệu USD, trong đó một nửa dành cho chi phí vận chuyển(1).
Việc cắt viện trợ năm 1974 đã có tác động lớn ở Nam Việt Nam. Không có sự hỗ trợ lớn về tài chính và trang bị từ Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hoà không thể đánh theo cách Mỹ đã huấn luyện họ. Các cuộc oanh kích đã phải giảm đi 50% do thiếu nhiên liệu và phụ tùng. Đạn dược và các thức tiếp tế khác phải tuân theo chế độ cung cấp chặt chẽ. Những dấu hiệu không thể che đậy về sự giảm sút trong mức độ chi viện của Mỹ đã có tác động đến tinh thần của một đội quân đang tan tác dưới những ------------------------------------------------ (1) Báo cáo của Quốc hội, 93rd Cong, phiên họp thứ 2, tr.29176-29180. -------------------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|