Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:12:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950 - 1975 (George C. Herring)  (Đọc 105870 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #10 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 03:07:47 pm »

hành bất kỳ một biện pháp nào có thể tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa cộng sản" giành thắng lợi tại Đông Dương (1).

Kết quả là trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh Đông Dương, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập" nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ chủ nghĩa thực dân, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự (2). Hơn thế, các nguồn tài trợ thực tế khổng lồ của Mỹ đưa ra trong Kế hoạch Marshall đã cho phép Pháp sử dụng các nguồn lực của chính nước này để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tại Đông Dương. Lo ngại trước làn sóng phản đối của đồng minh châu Âu và sợ mang tiếng là giúp đỡ cho Việt Minh dù là gián tiếp, Washington không chịu thừa nhận đã nhận được lời kêu gọi Mỹ ủng hộ của cụ Hồ và còn từ chối dùng ảnh hưởng của mình để chấm dứt cuộc chiến hoặc đi đến một giải pháp qua thương lượng.

Trước khả năng Pháp thất bại, cùng lúc phe cộng sản giành thắng lợi tại Trung Quốc, nên đầu năm 1950 Mỹ quyết định hỗ trợ Pháp tại Đông Dương. Quyết định này đã đánh dấu bước đầu tiên Mỹ dính líu trực tiếp vào cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Pháp phát động cuộc chiến năm 1946 với niềm tin chắc chắn vào chiến thắng, nhưng cụ Hồ đã dự đoán một cách chính xác về bản chất và kết quả cuối
----------------------
(1) George C. Marshall gửi Đại sứ quán Mỹ tại Paris, ngày 3-2-1947, FR, năm 1947, VI, tr.67-68.
(2) George McT. Kahin, Quyền lực và Sự thực: Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. New York, năm 1986, Chương I.

----------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #11 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:54:02 am »

cùng của cuộc xung đột. Người nói: "Nếu mỗi khi con hổ (tức Việt Minh) dừng bước thì con voi (tức Pháp) sẽ dùng đôi ngà dũng mãnh của mình để đánh gục hổ. Nhưng con hổ sẽ không dừng bước và con voi sẽ chết vì kiệt sức và mất máu" (1). Việt Minh rút về vùng nông thôn tránh những cuộc giao tranh lớn, huy động sự ủng hộ của quần chúng và tập kích các tiền đồn của Pháp. Quân Pháp giữ các thành phố và thị xã lớn, nhưng hàng loạt các cuộc tấn công của Pháp vấp phải thất bại và phải trả giá đắt, cùng nhiều vụ tấn công chớp nhoáng do du kích Việt Minh tiến hành đã khiến Pháp ngày một hao kiệt các nguồn nhân lực và vật lực đồng thời ngày một tạo ra tâm trạng mệt mỏi vì chiến tranh ngay tại chính nước Pháp. Sự sụp đổ của chính quyền Tưởng Giới Thạch tại Trung Quốc năm 1949 và ưu tiên hướng nam của quân đội Mao Trạch Đông đã báo hiệu khả năng cộng tác giữa chính quyền cộng sản Trung Quốc với Việt Minh. Từ cuối năm 1949, các quan chức Pháp đã đưa ra nhiều nhãn gửi ngày một khẩn thiết rằng, nếu không có sự giúp đỡ quân sự trực tiếp của Mỹ, họ sẽ có thể bị buộc phải rút khỏi Đông Dương.

Những khẩn cầu của Pháp được đưa ra vào một thời điểm khi mà Washington, thực sự rơi vào tình trạng thất đảm đang điên cuồng đánh giá lại chiến lược chiến tranh lạnh toàn cầu của mình. Sự sụp đổ của Quốc dân Đảng ở Trung Quốc và việc Liên Xô thử thành công vũ khí hạt nhân đã khiến nhiều quan chức Mỹ tin rằng mối đe dọa
---------------------
(1) Trích trong Jean Lacouture, Hồ Chí Minh: Một tiểu sự chính trị, New York, năm 1968, tr.171.
-----------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #12 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:54:32 am »

của chủ nghĩa cộng sản đối với Mỹ còn lớn hơn nhiều so với mối đe dọa của khối Trục trước đó một thập kỷ từng gây ra. Đối với Mỹ, mọi nghi ngờ về sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Stalin đã được giải toả: Liên Xô, "được cổ vũ bởi niềm tin cuồng tín", đã quyết định áp đặt sự thống trị hoàn toàn lên phần còn lại của thế giới"; những thành công gần đây dường như đã đẩy các nhà lãnh đạo Liên Xô tới chỗ tự tin và quyết tâm hơn, và trong con mắt của các nhà hoạch định chính sách Mỹ, sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản đã thực sự đạt tới mức độ không được phép vượt quá. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ báo động: Bất kỳ một sự "mở rộng thêm lãnh thổ của điện Kremli sẽ dẫn đến khả năng không tập hợp nổi một liên minh nào đủ mạnh để đối đầu với Kremli" (1). Trong một thế giới được chia thành hai khối thù địch với sự cân bằng quyền lực mong manh cùng khả năng nổ ra chiến tranh thế giới tiếp theo, chính quyền Truman đã bắt đầu triển khai các kế hoạch tăng cường khả năng quân sự của Mỹ, nâng cao năng lực quốc phòng của Tây Âu và mở rộng chính sách kiềm chế tới tận vùng Viễn Đông.

Trong khuôn khổ những biến chuyển chiến lược to lớn của năm 1950, việc Mỹ ủng hộ Pháp tại Đông Dương được cho là cần thiết đối với an ninh của Tây Âu. Những phí tổn khổng lồ cho cuộc chiến chống Việt Minh đã làm chậm lại quá trình hồi phục kinh tế của Pháp cũng như quá trình đạt được mức độ ổn định chính trị cần thiết để chống đỡ trước
---------------------
(1) NSC 68, ngày 4-4-1950, in trong Tạp chí Naval War College, tháng 5 và 6-1975, tr.51-l08.
--------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #13 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:55:44 am »

mối đe dọa từ chủ nghĩa cộng sản. Biết chắc rằng châu Âu lúc này trở nên dễ bị tổn thất hơn bao giờ hết trước mối đe dọa từ Liên Xô, các nhà hoạch định chính sách Mỹ trong đầu năm 1950 đã bắt đầu đề ra các kế hoạch xây dựng lực lượng quân sự cần thiết để chống Liên Xô. Những đề xuất sơ bộ ban đầu của họ là yêu cầu Pháp đóng góp một số lượng quân khá lớn và bảo đảm tái vũ trang Tây Đức, những biện pháp mà người Pháp rất có thể phản đối. Chính quyền Truman do vậy lo sợ rằng nếu như Mỹ không đáp ứng tích cực yêu cầu của đồng minh xin trợ giúp tại Đông Dương, Pháp có thể không chịu hợp tác với Mỹ thực hiện kế hoạch chiến lược bảo vệ Tây Âu này.

Việc Mỹ sốt sắng ủng hộ Pháp tại Đông Dương cũng phản ánh mối quan ngại đang tăng dần của nước này về tương lai Đông Nam Á. Những xung đột ác liệt tại Đông Dương và các cuộc nổi dậy ở Miến Điện, Malaysia và Indonesia, tất cả đều xuất phát từ căn nguyên bản xứ, nhưng trong một thế giới dường như đã bị phân cực, sự tồn tại của những cuộc cách mạng này và xu hướng tả khuynh của chúng đã làm cho Mỹ tin rằng Đông Nam Á là "mục tiêu của một cuộc tác chiến hiệp đồng do Kremlin chỉ đạo,, Các nước thực dân châu Âu và những chính phủ mới độc lập còn non trẻ và rất yếu ớt trong khu vực dường như không đủ khả năng để chế ngự các cuộc cách mạng, đồng thời sự hiện diện của một Trung Quốc thù dịch ở phương Bắc càng làm mối đe dọa này trở nên nguy hiểm gấp bội.

Sau khi Trung Hoa Dân quốc sụp đổ, các nhà chiến lược Mỹ kết luận Đông Nam Á có tầm quan trọng sống còn đối với an ninh của Mỹ. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ khuyến cáo: Nếu khu vực này bị chủ nghĩa cộng sản kiểm soát, "chúng ta sẽ phải gánh chịu một thất bại thảm hại về mặt chính trị mà ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn trên toàn thế giới". Việc mất đi khu vực rộng lớn và đông dân này có thể làm lệch cán cân lực lượng, đẩy Mỹ vào thế hạ phong. Những thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản gần đây đã thực sự dấy lên bầu không khí hoảng loạn tại châu Âu, và do vậy một chiến thắng quan trọng tiếp theo nữa có thể đẩy châu Âu ngả về phía Liên Xô. Hậu quả kinh tế cũng không kém phần nghiêm trọng. Mỹ và các đồng minh châu Âu có thể không thâm nhập được vào những thị trường quan trọng này và châu Âu sẽ mất đi phần lớn nguồn tài chính cần thiết nhằm khôi phục lại nền kinh tế kiệt quệ của họ. Đông Nam Á là nơi sản xuất cao su tự nhiên lớn nhất thế giới và cũng có các nguồn tài nguyên quan trọng như dầu, thiếc, vonfam, cùng rất nhiều hàng hoá chiến lược khác. Nếu quyền kiểm soát những nguồn nguyên liệu thô cực kỳ quan trọng đó bị đổi chủ, thì khối Xô-viết sẽ được tăng cường sức mạnh lên rất nhiều, trong khi phương Tây sẽ phải gánh chịu tổn thất to lớn.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cũng lo sợ rằng việc mất đi vùng Đông Nam Á sẽ gây tổn thất không thể bù đắp nổi đối với vị trí chiến lược của nước này tại vùng Viễn Đông. Việc kiểm soát một loạt đảo ngoài khơi trải dài từ Nhật Bản tới Philippines, tuyến phòng thủ đầu tiên của Mỹ ở Thái Bình Dương, sẽ gặp nguy hiểm. Đường hàng không và đường biển giữa Australia và Trung Đông, Mỹ và ấn Độ có thể bị cắt đứt, gây trở ngại nghiêm trọng cho các hoạt động quân sự khi xảy ra chiến tranh. Nhật Bản, ấn Độ và Australia, những quốc gia mà phương Tây văn duy trì được ảnh hưởng vượt trội, sẽ bị tách khỏi nhau và lâm vào tình trạng nguy hiểm.

Sự tác động tới Nhật Bản, đồng minh Viễn Đông chủ yếu của Mỹ và cũng là nền kinh tế thịnh vượng nhất tại khu vực này, sẽ đặc biệt tai hại. Thậm chí trước khi Trung Hoa Dân Quốc sụp đổ, Mỹ đã tích cực hoạt động để hoà nhập Nhật Bản với Đông Nam Á, một vựa lúa và nguồn cung nguyên liệu thô thiết yếu đồng thời cũng là thị trường của Nhật. Sau khi Trung Hoa Dân Quốc hoàn toàn rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản, việc mất đi khu vực Đông Nam Á sẽ khiến cho Nhật không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải dung hoà với chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này. Mỹ do vậy đã nhanh chóng chuyển sang "bảo vệ" một khu vực được cho là một "bộ phận có tầm quan trọng sống còn" trong "đại vòng cung" kiềm chế trải dài từ Nhật đến ấn Độ (1).

Các quan chức Mỹ đã nhất trí rằng Đông Dương, và đặc biệt là Việt Nam, là then chốt trong việc phòng thủ ở Đông Nam Á. Việc Liên Xô công nhận Việt Minh ngày 30-1-1950 đã xác nhận niềm tin của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản. Đối với Mỹ, đây là
-----------------------
(1) Hội đồng An ninh Quốc gia 48/1, "Lập trường của Mỹ với việc bảo vệ Châu Á", ngày 23-12-1949. Quốc hội Mỹ, Hội đồng nghĩa vụ quân sự, Quan hệ Mỹ-Việt Nam (1949-1967): Nghiên cứu được chuẩn bị bởi Bộ Quốc phòng, Washington, năm 1971. Cuốn 8, tr.226-272. Sau đây được trích là USVN. Michael Schaller "Bảo vệ Đại vầng trăng lưỡi liềm: Nhật Bản và nguồn gốc của con đê tại Đông Nam Á", Tạp chí Lịch sử nước Mỹ, số 69, tháng 12-1982, tr.392-413.
-----------------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #14 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:56:19 am »

một điềm xấu "nghiêm trọng và đáng ngại" khi Stalin có ý định "thúc đẩy tiến trình cách mạng" tại Đông Nam Á (1).

Quân du kích được tổ chức tốt của Hồ Chủ tịch đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng trước quân đội Pháp và với sự ủng hộ gia tăng mạnh mẽ từ Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam có thể buộc Pháp phải rút quân. Nếu vậy bức tường ngăn chặn quân sự cuối cùng giữa Trung Quốc và phần còn lại của Đông Nam Á sẽ bị dỡ bỏ. Bộ Ngoại giao Mỹ kết luận: Đông Dương đang nằm trong "mối nguy hiểm sát sườn nhất", do đó "đây là một khu vực có tầm quan trọng chiến lược nhất của Đông Nam Á" (2).

Thực ra, Đông Dương được xem là có tầm quan trọng vì có nguồn cung dồi dào nguyên liệu thô, gạo, căn cứ hải quân, nhưng người ta còn cho rằng khu vực này có tầm quan trọng lớn hơn nhiều nếu xét dưới khía cạnh tác động của việc Đông Dương thất thủ lên những khu vực khác.

Đầu năm 1950, các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã đưa ra quan niệm mà sau này mang tên "thuyết Đôminô", tức là niềm tin rằng việc thất thủ của Đông Dương sẽ dẫn tới sự sụp đổ kế tiếp nhanh chóng của các quốc gia còn lại trong khu vực Đông Nam Á. Việc chấp nhận khái niệm đó phản ánh số phận mong manh của khu vực Đông Nam Á vào năm 1950, với kinh nghiệm rút ra từ Chiến tranh thế
-----------------------
(1) Thông báo Bộ Ngoại giao ngày 13-2-1950, 244; bị vong lục Charles Yort ngày 31-1-1959, FR 1950, VI, 710-711.
(2) Dean Rusk gửi James H. Burns ngày 7-3-1950, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, Tiểu ban Công trình và Hạ tầng, Văn kiện Lầu năm góc (bản gửi tới các thượng nghị sĩ) (4 quyển; Boston, 1971), I, tr.363. Sau đây trích là Văn kiện Lầu Năm góc (Gravel).

----------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #15 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:56:52 am »

giới thứ 2, khi mà chỉ trong vòng 3 tháng Hitler đã giày xéo toàn bộ Tây Âu còn Nhật thì chiếm được Đông Nam Á thậm chí trong thời gian ngắn hơn. Được vận dụng lần đầu tiên để biện hộ cho việc trợ giúp cho Hy Lạp năm 1947, ý tưởng này một lần nữa được áp dụng với Đông Nam Á và đã nhanh chóng trở thành một điều khoản cam kết. Mỹ tin chắc nếu như Đông Dương thất thủ, phần còn lại của Đông Nam Á sẽ bị đẩy vào tình trạng hiểm nghèo. Việc đánh giá lại chiến lược của năm 1950 do đó đã chấm dứt lập trường "trung lập" của Mỹ và vào đầu tháng 3 đã dẫn đến một cam kết viện trợ quân sự và kinh tế cho Pháp trong cuộc chiến tranh chống Việt Minh. Việc làm này cũng xác lập những nguyên tắc quy định cơ sở cho chính sách của Mỹ tại Việt Nam trong nhiều năm tới và cuối cùng dẫn tới một sự dính líu với quy mô lớn hơn.

Việc lập nên các chính phủ độc lập dù chỉ trên danh nghĩa tại Đông Dương khiến cho Mỹ hợp lý hoá hành động ủng hộ Pháp dễ dàng hơn. Không thể đánh bại nổi Việt Minh về quân sự, Pháp mưu toan hạn chế tác động về mặt chính trị của họ bằng cách lập ra các chính phủ bản xứ tại Lào, Campuchia và Việt Nam - chính phủ ở Việt Nam thì do cựu hoàng An nam Bảo Đại đứng đầu - đồng thời cho các chính phủ này được hưởng địa vị của những "nước tự do" trong khối Liên hiệp Pháp. Nhiều quan chức Mỹ đã hoài nghi về cái gọi là "giải pháp Bảo Đại", cảnh báo rằng đó chỉ là màn hoả mù để Pháp tiếp tục thống trị và cho rằng giải pháp này có rất ít cơ hội thành công. Bộ Ngoại giao Mỹ thừa nhận những lập luận trên là có trọng lượng, nhưng theo lời Bộ trưởng Dean Acheson, dường như Bảo Đại là phương án lựa chọn duy nhất để thoát khỏi "sự thống trị của cộng sản tại Đông Dương" và mặc dù sự ủng hộ của Mỹ không đảm bảo cho thành công của Bảo Đại, nhưng nếu thiếu nó thì chắc chắn ông ta sẽ gặp thất bại (1).

Tuy nhiên, bằng việc hậu thuẫn Bảo Đại, Mỹ ít nhất sẽ tránh khỏi bị coi là kẻ tòng phạm của chủ nghĩa đế quốc Pháp. Tháng 2-1950, chính quyền Truman đã chính thức công nhận chính phủ của Bảo Đại và các quốc gia "tự do" Lào và Campuchia, đồng thời bắt đầu kế hoạch viện trợ kinh tế và kỹ thuật để hỗ trợ cho chính quyền các nước này.

Nhìn lại thì những giả thuyết làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ trong những năm 1950 đều chứa đựng sai lệch. Matxcơva không thúc đẩy các cuộc cách mạng của Đông Nam Á. Liên Xô và Trung Quốc vào những thời điểm đó đều ít có khả năng kiểm soát các cuộc cách mạng này vì họ không đủ sức mạnh quân sự, nhất là sức mạnh hải quân, đồng thời chủ nghĩa dân tộc địa phương cũng có những cản trở đáng kể. Đánh giá của Mỹ về hiện trạng của Việt Nam dường như rất sai lầm. Là một nhà cộng sản hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp cách mạng, nhưng cụ Hồ không phải là một công cụ trong tay Liên Xô. Dù cụ Hồ sẵn sàng chấp nhận sự giúp đỡ của các nước cộng sản lớn, nhưng cũng không để cho nền độc lập của Việt Nam phụ thuộc vào họ. Những lo ngại lịch sử của
----------------
(1) Dean Acheson gửi Đại sứ quán Mỹ tại Manila, ngày 7-1-1950, FR, 1950, VI, tr.692; Garry R.Hess, "Cam kết đầu tiên của người Mỹ tại Đông Dương: Việc chấp nhận giải pháp Bảo Đại", Tạp chí Lịch sử Ngoại giao, số 2, mùa thu năm 1978, tr.331-350.
------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #16 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:57:30 am »

Việt Nam về nước láng giềng lớn phương bắc đã khiến cho việc quy phục Trung Quốc chắc chắn không thể xảy ra (1).

Với việc ủng hộ Pháp, dù dưới chiêu bài "giải pháp Bảo Đại, Mỹ đã tự trói buộc mình với nguyên nhân thất bại.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ không phải không nhận thức được những khó khăn, nguy hiểm khi can thiệp vào Đông Dương. Một chuyên gia về châu Á thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ cảnh báo: Nếu như Mỹ ủng hộ Bảo Đại và rồi ông ta trở thành bù nhìn trong tay Pháp, "chúng ta khi đó phải nhắm mắt đâm đầu vào một ngõ cụt không lối thoát, phải chi tiêu các nguồn lực có giới hạn của chúng ta... trong một trận chiến vô vọng"(2). Một số quan chức Mỹ thậm chí còn mơ hồ nhận thấy rằng. Mỹ có thể bị dính líu trực tiếp vào Việt Nam.

Nhưng cam kết bước đầu có vẻ chỉ là hạn chế và những mạo hiểm dường như là nhỏ hơn nếu không hành động gì cả. Bị kẹt lại trong một cuộc chiến toàn cầu như Chiến tranh thế giới thứ 2, với việc Liên Xô thay thế vị trí của Đức ở châu Âu và Trung Quốc thay thế vị trí của Nthật ở châu Á, các quan chức Mỹ tin chắc rằng, nếu như Mỹ không ủng hộ Pháp và Bảo Đại, thì có thể sẽ mất Đông Nam Á, điều này khiến Mỹ phải đứng trước một lựa chọn đáng sợ, nghĩa là hoặc "đầu tư lớn, vào để khắc phục tổn thất hoặc lui về một tuyến phòng thủ "thu hẹp hẳn" trong vòng Tây Thái Bình Dương (3).
-------------------------------
(1) Trích từ Lacouture, Hồ Chí Minh, tr.21, Carles Reed gửi Walton Bulterworth. ngà, 14-4-1949, 851G.Oo/th00g 4-1949. hồ sơ lưu goại giao.  (3) Acheson gửi Truman. ngày 14-5-1950. Văn kiện Truman, Hồ sơ mật, Robert M. Blum, Hoạch định đường lối: Nguồn gốc chính sách  ngăn chặn của Mỹ tại Châu Á, New York, năm 1982, tr.198-213.
------------------------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #17 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:58:02 am »

vào lúc mà Mỹ cam kết ủng hộ Pháp, Việt Minh đã giành được thế chủ động về quân sự tại Đông Dương. Lực lượng của cụ Hồ đã kiểm soát được khoảng hai phần ba vùng nông thôn, với bộ đội chính quy và quân du kích đã lên tới hàng trăm nghìn người. Trung Quốc giúp họ xây dựng những căn cứ an toàn bên kia biên giới cùng nhiều kho vũ khí lớn. Đầu năm 1950, tự tin vào sức mạnh quân đội Việt Minh, tướng Giáp bắt đầu phản công. Quân Pháp  vẫn tiếp tục kiểm soát các thành phố và các trung tâm sản xuất quan trọng, nhưng cũng phải trả giá rất đắt, riêng năm 1949 có 1.000 quân thương vong mỗi tháng, tiêu tốn 167 triệu Francs vào cuộc chiến. Thậm chí ngay tại những vùng do Pháp kiểm soát, Việt Minh đã gây kinh hoàng cho quân Pháp. Một phóng viên mặt trận Mỹ phản ánh, tâm lý sợ hãi đã bao trùm lên quân đội Pháp (1).

Chính Bảo Đại đã thừa nhận một cách thảm hại rằng, giải pháp Bảo Đại "chỉ là một giải pháp của người Pháp" (2).

"Vị Hoàng đế tay chơi" mang quá nhiều tai tiếng này trên thực tế là một nhân vật đầy bi kịch. Gần như cả đời Bảo Đại chỉ là một con rối trong tay Pháp và rồi sau đó là Nhật Bản. ông ta phung phí thời gian vào những đam mê phù phiếm vô độ như xe hơi đua, đàn bà và cờ bạc, thỏa thuận tháng 2-1950 khiến ông ta chẳng có gì nhiều để làm. Theo văn kiện phức tạp dày 258 trang này thì Pháp vẫn tiếp tục kiểm soát ngân khố, thương mại, chính sách đối ngoại và
----------------------
(1) Tilman Durdin, "Cuộc chiến khoogn vì đất đai mà vì con người", Thời báo New York, ngày 28-5-1950, tr.48.
(2) Robert Shaplen, Cuộc cách mạng bị thất bại: Mỹ tại Việt Nam, 1946 -1966. New York, năm 1966, tr.64.

----------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #18 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 08:59:31 am »

quân sự của Việt Nam. Thậm chí họ còn không chịu bàn giao cung điện Norodom ở Sài Gòn làm trụ sở cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Bản thân chính quyền này chủ yếu bao gồm các điền chủ miền Nam giàu có, nhiều người trong số họ mang tính cách của người châu Âu hơn Việt Nam và không hề đại diện cho nhân dân. Những người theo chủ nghĩa dân tộc có uy tín thì từ chối ủng hộ Bảo Đại còn quần chúng nhân dân hoặc ủng hộ kháng chiến hoặc giữ thái độ đứng ngoài cuộc. Vị hoàng đế này có thể đã hy vọng trở thành một nhà lãnh đạo, nhưng ông ta thiếu kinh nghiệm và khí chất để làm được điều đó. Với cách sống hướng nội cùng tính khí thất thường, lúc trầm cảm, lúc biếng nhác, ông ta sống biệt lập tại một trong những lâu đài hoặc ra nước ngoài ngao du trên chiếc du thuyền trọng tải 600 tấn có máy điều hoà, hay trốn tới vùng Riviera của Pháp, đồng thời cất giấu hàng đống tiền trong những tài khoản riêng tại các ngân hàng Thuỵ Sĩ (1).

Cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào mùa hè năm 1950 đã làm phức tạp thêm vấn đề vốn đã khó khăn thực sự. Chính quyền Truman coi việc "xâm lược" Nam Triều Tiên của Bắc Triều Tiên như là một sự khẳng định mối nghi ngờ của nước này rằng Liên Xô đang cố gắng xâm chiếm toàn bộ châu Á, và ở vào thời điểm gay cấn của cuộc chiến, việc phòng thủ Đông Dương thậm chí dường như có tầm quan trọng lớn hơn trong con mắt của Mỹ. 
---------------------------
(1) Heath gửi John Foster Dulles, ngày 28-4-1953, FR, 1952-1954, XIII 523: Ellen Hammer, "Cuộc thử nghiệm Bảo Đại", Tạp chí Các vân đề Thái Bình Dương, số 23, tháng 3-1950, tr.58.
---------------------------
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #19 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 09:00:15 am »

Tuy nhiên, cuối năm đó, Mỹ và Pháp đã phải chịu nhiều thất bại lớn. Việc Trung Quốc can thiệp vào Triều Tiên đã buộc tướng Douglas MacArthur phải vội vã rút khỏi sông Áp Lục. Cùng lúc đó, tướng Giáp đã giáng cho Pháp một đòn chí tử, "một thất bại trên xứ thuộc địa nặng nề nhất kể từ khi Montcalm chết tại Quebec", bẫy toàn bộ quân đội ở Cao Bằng tại Đông Bắc Việt Nam và gây tổn thất cho Pháp hơn 6.000 lính và thu được trang thiết bị đủ để cung cấp cho toàn bộ một sư đoàn của Việt Minh (1). Sự can thiệp của Trung Quốc vào Triều Tiên đã làm nảy sinh mối lo ngại về một cuộc điều quân tương tự, ồ ạt, vượt qua biên giới vào Việt Nam, do đó các nhà hoạch định chính sách Mỹ cũng ngày một lo ngại rằng tư tưởng chủ bại đang lớn dần tại Pháp có thể sẽ dẫn đến yêu sách đòi rút quân khỏi Đông Dương.

Trong hoàn cảnh đang có sự thất bại kinh hoàng ở Viễn Đông, chính quyền Truman đã rất cố gắng xây dựng một chính sách khả thi đối với Đông Dương. Do Mỹ đã đưa một số lượng lớn quân vào Triều Tiên và châu Âu, nên hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã thống nhất rằng thậm chí nếu Trung Quốc có xâm lược Đông Dương, Mỹ cũng không thể đưa lực lượng quân sự vào Đông Dương để phòng thủ. Pháp phải chịu trách nhiệm chính trong cuộc chiến tranh này. Do tin chắc hơn bao giờ hết rằng Đông Dương thực sự quan trọng đối với an ninh của Mỹ, nên chính quyền Mỹ buộc phải dùng viện trợ quân sự để củng
--------------------------------
(1) Bemard Fall, Đường phố không chút hân hoan, New York, năm 1972, tr.33
----------------------------------
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM