Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:28:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tháng Tư ác liệt  (Đọc 70421 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #30 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:46:50 pm »

Tối 23-1, Tổng thống bị chất vấn trên kênh truyền hình của đài N.B.C. Người ta đề cập đến vấn đề VN. Người dẫn chương trình đặt một câu hỏi đơn giản :
- Thưa ông Tổng thống, mục tiêu của ngài về Đông Nam Á và nhất là VN sẽ là gì?
Tổng thống tỏ ra vụng về nhưng đã thật thà :
- Ở VN, sau khi chúng ta đã mất hơn 50.000 người, và sau khi đã có những khoản chi phí đặc biệt theo đồng đô-la của Mỹ, thường là mỗi năm phải hơn 30 tỷ… ờ… Theo tôi hiểu thì chúng ta phải thử giúp cho miền Nam VN có thêm khả năng bằng viện trợ quân sự, ờ!... ờ!… bảo vệ cách sống của họ… Thực tế là ông đại sứ Hoa Kỳ vẫn có mặt ở đó, ông Graham Martin, cũng như ông Kissinger, đã nói với tôi là, nếu có một số lượng đô-la Mỹ thích đáng chuyển thành vũ khí và viện trợ kinh tế… ờ!... rằng nếu miền Nam VN được sử dụng số viện trợ ấy thì trong 2 hay 3 năm, họ có thể vượt qua được sự khó khăn như hoàn cảnh hiện nay…
Đối với các chuyên gia về chính trị trong các bộ máy của nhà nước các bang thì sự bàn cãi, phản bác, sự căng thẳng luôn diễn ra sôi nổi. Đối với Hà Nội cũng vậy. Ngày 28-1, theo một nguồn tin đặc biệt của Quốc hội, Ford đề nghị 300 triệu đô-la gửi cho miền Nam VN. Tổng thống cũng không nói trước được là, với sự viện trợ ấy, miền Nam VN có thắng được hay không. Nhưng theo ông, thì người ta có thể buộc địch thủ phải trở lại ngồi vào bàn thương lượng.
Ngày 30-1, Ford tiếp các nhà lãnh đạo của Quốc hội để yêu cầu các ông này chấp nhận lời đề nghị giúp đỡ tài chính thêm cho miền nam VN. Nhưng người lãnh đạo Quốc hội lắng nghe nhưng không cam kết một điều gì.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #31 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:47:16 pm »

Bộ máy pháp luật nặng nề chuyển động. Ngày 30-1 ấy, đã có cuộc triệu tập các thành viên của ủy ban sử dụng các quỹ. Ủy ban này nắm độc quyền thực hiện các điều luật về tài chính. Những nhân vật của Ủy ban này to béo phục phịch, tỉ mỉ, ngồi trong những gian phòng trang hoàng lộng lấy bằng đá hoa và bằng gỗ lát tường, sau những chùm micro hỏi các viên chức cao cấp.
Ủy ban sử dụng các quỹ đã nghe nhiều các nhân chứng như Eric Von Marbod, cộng tác với phó thư ký của Bộ Quốc phòng. Von Marbod khẳng định là Lầu Năm Góc đã đoán trước cuộc tấn công của CS trong 6 tháng trở lại đây. Tướng Graham, chỉ huy cơ quan tình báo của Lầu Năm Góc nói :
- Chúng tôi không nghĩ rằng Hà Nội sẽ thu được thắng lợi hoàn toàn trong 6 tháng tới và chúng tôi cũng đoán trước là người miền nam VN sẽ gặp khó khăn nghiêm trọng.
Tất cả các đại sứ quán CS ở Washing ton theo dõi sát sao những cuộc tranh luận ở Quốc hội Hoa Kỳ. Họ đã có những bản báo cáo khi cuộc tranh luận ấy được đưa ra công khai, và khi những cuộc tranh cãi được họp kín thì sự rò rỉ tin tức cũng đã làm cho người cố tình tò mò được thỏa mãn. Như vậy Hà Nội đã được báo trước. Một xã hội quá công khai không? Nó không còn có điều gì bí mật ngay cả ở mức độ phải có sự quyết định. Ở Hoa Kỳ, hấu như không thể tiến hành một hành động bí mật có tầm quan trọng nào.
Cũng như bà Nga ở báo Time, nhà văn Duyên Anh và nhà sư Huệ, cũng như tất cả mọi người ở sài Gòn, mọi người VN, kỹ sư Vân cũng đang chuẩn bị cho cái Tết – thời khắc để nói đến tướng lai. Năm ấy ngày Tết của VN vào ngày 11-2 năm Mão sẽ thay cho năm Dần.
Từ tổng thống đến người nông dân, từ nhà buôn đến binh lính, sinh viên hay người lái xe taxi, người thợ thủ công hay một nhà giáo, được sinh ra và lớn lên ở phương Đông hay chưa bao giớ rời khỏi đất nước của mình, nói chung là người VN thường tin vào những sự thần bí với vẻ thành kính nghiêm trang đến mức làm cho người châu Âu phải ngạc nhiên, và làm cho người Mỹ phải ngờ vực.
Muốn biết được tương lai, hậu vận, người ta thường đi xem bói, thày bói xúc xắc lên rồi ngắm nghía các mặt của đồng tiền, rồi phán bảo những lời tiên tri về tương lai của khách hàng.
Trước khi xây thêm một gian phòng cho ngôi biệt thự hay lợp lại mái nhà bằng rạ, người ta không được quên là ngôi nhà của mình khi làm không được cắt đứt vào long mạch đang nằm ngủ dưới mặt đất.
Người ta thường đón nhận những lời khuyên của những nhà thông thái và những lời thân tình mách bảo của những nhà chiêm tinh. Chính Tổng thống Thiệu cũng năng lui tới gặp những người này để hỏi ý kiên biết được điềm tốt, xấu cho mỗi quyết định của mình về một vấn đề gì.
Nếu một người phương Tây hỏi Thiệu vì sao, dù rằng là người công giáo, ông lại phải đi hỏi các nhà chiêm tinh, Tổng thống Thiệu phá lên cười :
- Tôi không đi hỏi các nhà chiêm tinh, mà chỉ đi xem số tử vi. Tư vi là một môn khoa học rất chính xác.
Trước khi mở một chiến dịch quân sự, các tướng cũng thường xem số tử vi. Điều này làm cho các cố vấn Mỹ không hài lòng. Các sỹ quan Bắc Việt không bao giờ xem số tử vi nhưng lại không ngần ngừ hỏi các ông thày bói để làm sai lạc các tin tức.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #32 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:48:00 pm »

Trước Tết, các cơ quan chính quyền hoạt động tới tấp trong thành phố bình yên này. Ngày 1-1, Bộ Bưu chính viễn thông tuyên bố là họ đã đặt được đường dây liên lạc bằng vô tuyến điện đến Paris và đến Cộng hòa Nam Phi. Đây là uy tín cần thiết và chỉ trong vài ngày nữa, người ta có thể dễ dàng gọi tới Pretoria (thủ đô Nam Phi) cũng như đến Paris.
Những khách du lịch dạo chơi loăng quăng khắp thành phố. Người ta tin rằng sang năm tớisẽ còn nhiều khách du lịch đến thành phố này hơn. Ban Giám đốc vườn thú Sài Gòn kiêu hãnh ghi nhận có “137.200 khách đến thăm vườn thú, trong đó có 98.000 người lớn và 38.400 trẻ em”. Chắc có thể 800 người đã bị các sấu ăn thịt. Ở Việt nam, con số và thống kê thường đáng ngờ.
Tổng thống Thiệu chuẩn bị đọc lời chúc mừng đầu năm tới nhân dân, được phát đi lúc giao thừa. Ông nhấn mạnh 3 điểm : Phải dựa tối đa vào mặt trận quân sự, tăng cường sản xuất, và cuối cùng Thiệu chúc mừng sự hợp tác và thống nhất về chính trị.
Pháo đốt theo cổ truyền đã bị cấm (vì sợ lẫn lộn với tiếng súng tấn công bất ngờ của Việt cộng), nhưng đó đây vẫn lác đác có tiếng pháo nổ. Một sự vui mừng đã bị kiềm chế. Không có người VN nào lại không nghĩ đến ngày Tết 1968 (Năm Mậu Thân, Mặt trận dân tộc Giải phóng đã tổng tấn công 37 tỉnh, thành quan trọng của miền Nam VN). Trái với thường lệ, CS đã mở cuộc tấn công trong toàn miền Nam. Vì vậy vào mỗi ngày mồng một tết, người ta lại nghĩ đến câu hỏi : “Liệu năm nay Việt Cộng có tái diễn cuộc tổng tấn công nữa không?”.
Đề phòng xa, chính phủ miền Nam đã cấm các viên chức kghông được nghỉ ngày Tết và các quân nhân không được đi phép dài hạn. Mọi người đều bàng hoàng với một ngày rưỡi nghỉ ăn Tết
Thiệu và các bộ trưởng của ông rất sốt ruột chờ đợi phái đoàn của đại diện và nghị sỹ Mỹ tới miền nam VN.
Để cắm mốc địa giới và giải thích về hoàn cảnh của sài Gòn, một phái đoàn của miền nam VN phải chầu trực chờ đợi ở Bộ Ngoại giao Mỹ và ngoài hành lang của nhà Quốc hội. Trưởng đoàn này là Trần Văn Lắm, chủ tịch nghị viện, một con người tế nhị và có tài ngoại giao.
Tổng thống Ford tiếp và đã nói với Lắm :
“Tôi xin ngỏ ý với ông về sự khâm phục của tôi đối với cuộc chiến đấu dũng cảm mà ông và các nhà yêu nước của ông đã theo đuổi để được tự do… Tôi tin chắc rằng ông đã hiểu được vài sự cố gắng mà tôi đã cung cấp sự viện trợ giúp đỡ và là chỗ dựa đầy đủ cho đất nước của ông… Tôi monh rằng miền bắc VN thấy rõ tính kiên trì và sự quyết định của miền Nam VN để cuối cùng họ phải chấp nhận thi hành hiệp định ở Paris”.
Ford có tin vào lời nói của ông không? Đại biểu của Thiệu và các đồng nghiệp có cảm giác là hầu hết những người đối thoại với họ ở Washington không còn muốn nghe nói đến VN nữa – mệt mỏi và buồn phiền, những ý định mơ hồ của họ về thái độ của người Mỹ đã không sai chút nào.
Ngày hôm sau, Gérald Ford viết lá thư gửi cho Thiệu để trả lời bức thư của Thiệu đã được chuyển đi từ ngày 24 và 25-1. Tổng thống Thiệu muốn tìm biết ý định của người Mỹ sau khi tỉnh Phước Long thất thủ.
Ford chỉ trả lời chung chung mà không đề cập đến vấn đề gì :
“… Tôi chia sẻ sự lo lắng với ngài… Tôi xin đảm bảo với ngài là chính phủ của tôi tiếp tục được duy trì sự thỏa hiệp ở Paris phải được áp dụng đầy đủ…”
Nói đến việc áp dụng thỏa ước sau khi cả một tỉnh của miền Nam bị mất về tay Việt Công đã chứng tỏ sự đạo đức giả ngây thơ hay là sự dốt nát của một người không thực tế. Ford viết thêm :
“Hơn một lần nữa miền Nam VN và lực lượng quân đội của họ đã chứng tỏ quyết tâm đương đầu với mọi cuộc tấn công của Hà Nội. Mặc dù ngài còn đang thiếu thốn về mọi khí tài… nhưng tôi vẫn rất tin tưởng vào những hiệu quả của các đội quân của ngài…”
Ford đã giải thích cho Thiệu :
“Nếu chiến tranh kéo dài thì tôi vẫn tin rằng mọi lỗi lầm là thuộc về miền bắc VN. Chúng tôi tiếp tục tin tưởng vào việc áp dụng thỏa ước ở Paris qua sự thương lượng trực tiếp giữa 2 bên của VN, là cách nhanh chóng nhất, cách thực dụng nhất và tác dụng nhất để chấm dứt cuộc đổ máu…”
Bức thư của Ford còn lặp lại một cách mơ hồ :
“Chúng tôi sẽ làm mọi sự cố gắng để cung cấp viện trợ với sự cần thiết cho cuộc chiến đấu của ngài cho đến khi hòa bình được lập lại”.
Không có vấn đề sẽ gửi pháo đài bay B52 hay những máy bay Con Ma, Thần Sấm, và cũng không có một đội quân nào được đưa sang miền Nam VN, Ford chỉ có một điều cam đoan là xin tiền của Quốc hội. Thiệu như đang ở trong cuộc chiến tranh mà không nhìn thấy sự kết thúc.
Ford còn viết thêm như thể hòa bình đã chớm nở ở một góc phố nào :
“Con đường đến hòa bình không bao giờ dễ dàng. Ở VN con đường này sẽ còn kéo dài và rất khó khăn”.
Có thể xảy ra được như thế không? Ông ta biết gì hơn nữa?
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #33 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:48:44 pm »

Ngày 27-1, những người có trách nhiệm ở Nhà Trắng đã có trong tay bản tổng hợp hàng ngày của các cơ quan tình báo : “Hình như Bắc Việt đã chuyển vào miền Nam một trong những sư đoàn dự bị của họ”.
Từ 3 tuần nay, Bắc Việt đã làm rất nhiều công việc. Họ đã cử tướng Dũng “xâm nhập” vào miền Nam. Tướng Dũng đã rời bỏ căn nhà số 33 phố Phạm Ngũ Lão vào lúc 10 giờ ngày 5-2 để ra sân bay.
Trước khi đi, tướng Dũng còn ký những thông điệp gửi đến Mông Cổ, Cộng hòa Dân chủ Đức, Liên Xô chúc mừng nhân dịp ngày kỷ niệm quân đội của họ. Sau khi tướng Dũng đã đi, các báo chí ở Hà Nội vẫn đưa tin về mọi hoạt động của ông như thanh tra, dư hội nghị với các sỹ quan. Hàng ngày vào lúc 7 giờ sáng và 14 giờ chiều, bức màn gió được kéo lên, chiếc xe Volga của tướng Dũng vẫn rời khỏi nhà để đến Bộ Tổng Tham mưu. Và đến 12 giờ và 17 giờ xe Volga lại trở về nhà của tướng Dũng.
Ngay sáng hôm tướng Dũng ra đi, ông Tổng bí thư chính thức hay không rõ – đã bị cảm cúm. Trước tháng 4, người Mỹ cũng không biết được rằng tướng tham mưu trưởng của quân đội Bắc Việt đã có mặt ở miền Nam VN. Máy bay của ông hạ cánh xuống sân bay Đồng Hới (thuộc Bắc Việt). Từ đó đoàn người đi cùng với tướng Dũng, đã hợp thành những đơn vị chỉ huy dưới quyền của Tư lệnh, đi theo con đường mòn Hồ Chí Minh.
Theo khoa logic, con đường này rất tốt. Có vài đoạn đường sau tháng 4 đã trở nên khó sử dụng vì mùa mưa. 2 con đường mạch máu lớn song song tiến sâu vào miền nam VN. Những chiếc xe tải quân sự đã vượt qua 3 hay 4 mặt trận. Để duy trì hạ tầng kiến trúc này, theo tướng Dũng nói thì “miền Bắc VN phải dùng đến hàng chục ngàn quân đội, công nhân, kỹ sư và những thanh niên xung phong tình nguyện”, khối đông những người làm đường, lính công binh, thợ điện đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn… Bom của máy bay B52 rải thảm, gió mùa, tiếp tế thiếu thốn, sốt ré mà miền Bắc lại thiếu ký ninh.
Với sự bền bỉ và lòng kiên nhẫn phi thường, những người lao động tình nguyện ấy, đã san bằng những ngọn núi, phạt cây mở những lối đi tưởng như không thể vượt qua được, di chuyển các tảng đá, đẵn bỏ các cây cối, xây dựng nhiều cây cầu, làm các con phà, đào hầm trú ẩn. Tất cả những người Việt Nam đều bền bỉ chịu đựng mọi khó nhọc.
Được huấn luyện, được cổ vũ, được tuyển vào quân đội hay thanh niên xung phong, chịu đựng một kỷ luật chặt chẽ; những con người ở Bắc Việt có tính kiên trì, miệt mài và dễ bảo hơn những người ở miền Nam. Với sự tận tâm thần kỳ ấy, nam nữ trên đường Hồ Chí Minh là những người kế tục của những con người đi xuyên qua rừng, gùi trên lưng những bộ phận của các khẩu đại bác đến tận Điện Biên Phủ. Chiều dài của con đường chiến lược này đã đặt ống dẫn cung cấp chất đốt cho hàng ngàn xe cộ cần thiết phải có.
Ngược đời là quân đội của một nước nhỏ bé kém phát triển, thiếu thốn đủ mọi thứ lại có thể đặt được đường ống dẫn dầu quân sự qua mọi địa hình phức tạp, giỏi nhất thế giới. Với người Mỹ, đây là sự thất bại to lớn nhất về chiến lược. Họ đã không vô hiệu hóa được con đường mòn Hồ Chí Minh, ngay cả khi sử dụng các dụng cụ điện tử để chỉ điểm. Như vậy thì người Việt Nam ở miền Nam VN làm sao có thể làm được chuyện ấy? Tướng Dũng và đoàn tùy tùng dùng xuồng máy vượt qua con sông Hiền Lương chia đôi Nam – Bắc ở vĩ tuyến 17, tiến lên và vượt qua rất nhiều đoàn xe trên những con đường gồ ghề, lầy lội và bị bom phá nát.
Cảnh tượng làm cho tướng Dũng phấn khởi : “Không có gì động viên hơn khi nhìn đến các chiến sỹ của chúng ta đã được chuểyn quân bằng xe cơ giới”.
Tướng Dũng nói :
“Miền Bắc Việt Nam đã tiết kiệm chắt chiu ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác những dự trữ để chi viện cho toàn bộ các mặt trận ở miền Nam để chờ thời cơ lớn”.
Từ 10 năm nay, Bắc Việt đã tập trung các kho hàng và thành công trong việc phân tán còn tốt hơn Mỹ và miền Nam VN, cũng như đối với cả Liên Xô và Trung Quốc trong công việc này. Các sỹ quan của Liên Xô và Trung Quốc đi lại thật khó khăn ở miền Bắc nhưng không phải là ở miền nam. Sự đánh giá của họ phần nhiều là không chắc chắn vì CS Bắc Việt đã thực hiện kế hoạch phân tán rất có kỹ thuật. Họ ưu tiên cho việc cất giấu 1 tấn vũ khí đạn dược ở nơi này, 2 tấn ở nơi khác, trong những xóm thôn nhỏ bé, những làng mạc được ngụy trang kín đáo. Họ có rất nhiều kho hàng có thể xác định được vị trí dễ dàng. Nhưng với những người Liên Xô, Trung Quốc cũng như kẻ thù ở miền Nam VN, người ta khó có thể che dấu được hàng ngàn tấn hàng bằng cách phân tán ở khắp nơi, hoặc đơn giản chỉ vì họ nghĩ là không cần thiết.
Đến đại bản doanh, tướng Dũng ở trong ngôi nhà lợp gianh và không làm sao ngủ được. Có 1 câu hỏi cứ nhảy nhót trong đầu ông : Làm thế nào để thực hiện bằng hành động ý đồ của Bộ Chính trị để giải phóng miền Nam? Trong các đơn vị chiến đấu đang ở tại miền Nam và trong các báo chí ở Hà Nội, người ta cũng không nói trước được sự chiến thắng.
Tờ báo Nhân dân của Đảng luôn nhắc lại :
“Năm 1975 là năm đánh dấu một giai đoạn quan trọng của Cách mạng Việt Nam : Đảng của chúng ta đã 45 tuổi, nhà nước ta đã 30 tuổi, và năm nay chúng ta tổ chức ngày sinh lần thứ 85 của Hồ Chủ tịch, người đã đặt nền móng cho sự ra đời của Đảng CS và nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa”.
Người ta không nhìn thấy ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh treo la liệt khắp nơi như người ta vẫn thường thấy ở Moskva và ở Bắc Kinh theo cách sùng bái cá nhân.
Những câu châm ngôn và những bài thơ của Bác Hồ thường được phổ biến khắp nơi và việc sùng bái chỉ là ở trong nội tâm người Bắc Việt. tất cả các chiến sỹ, hạ sỹ quan, sỹ quan thường được nghe đến hàng ngàn lần lời dạy của Bác Hồ :
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Bác Hồ sinh vào tháng 5.
Gèrald Ford ấp ủ một niềm tin rất Mỹ : Có thể thuyết phục được nếu người ta đưa ra được những công việc dưới một ánh sáng mới, nhất là đối với các nghị sỹ của Quốc hội. Những cong việc này có thể lúc đầu làm dịu bớt dư luận và sau đó sẽ tiến hành bầu cử. Ford tin vào phái đoàn của nghị sỹ và những người đại diện đến Sài Gòn, có thể làm thay đổi suy nghĩ của đa số các cử tri.
Những lời mời được Thứ trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách về châu Á và miền Đông – Nam đưa ra. Philip Habib, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đã nghĩ đến cần phải mời độ 20 nghị sỹ. Thông thường, các đại diện và các nghị sỹ Mỹ, cũng như những người trúng cử trên toàn thế giới, vẫn thích các cuộc “đi dạo như vậy” bằng tiền của người dân nộp thuế. Nhưng sau nhiều cuộc thương lượng người ta chỉ mời được một toán đúng 10 người. Đối với Nhà Trắng thì con số hợp thành này chưa phải là lý tưởng. Trong đoàn có 6 người thuộc phe dân chủ, 4 người đã ký vào một lá thư, cũng như 78 nghị sỹ khác của Quốc hội nêu lên việc hết sức giảm bớt sự viện trợ của Mỹ cho miền Nam VN.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #34 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:49:19 pm »

Tại lâu đài sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, người ta thấy sự may mắn cuối cùng về số tiền 300 triệu đô-la được phái đoàn đề nghị với Ford, để cung cấp giúp đỡ cho miền Nam VN. Philip Habib và đại sứ Martin vốn không có cảm tình với nhau. Vì vậy Graham Martin không cảm thấy vui sướng khi được tin Habib cùng đi với phái đoàn và với Eric Von Marbod, người cộng tác với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Cuộc thăm hỏi diễn ra hờ hững ở toà đại sứ. Những luồng tư tưởng không hợp va đập nhau. Có độ 12 người tùy tùng đi theo phái đoàn. Những người trẻ tuổi này sục sạo khắp Sài Gòn, tìm tòi, lục lọi. Có vài người đã gặp những nhân viên của toà đại sứ và thấy họ không tỏ ra lạc quan về việc này. Còn những người của CIA như Fank Snepp lại đã từ lâu nghĩ rằng Hiệp định Paris đối với Hoa Kỳ chỉ là sự thất bại trá hình.
Ông đại sứ Martin nhận thấy rõ nhiều người trong phái đoàn không có “tư tưởng cởi mở”. Ngay cả những người đại diện trong phái đoàn cũng nhận thấy Martin có sắc sảo nhưng ít thực tế.
Có vài đại biểu của phái đoàn quan tâm đến tù chính trị. Nhưng Martin không nao núng khẳng định ngay :
“Ở miền nam VN không có tù chính trị”. Ông nói : “Toà án ở Sài Gòn cũng có hiệu lực, nếu không nói là còn hơn cả toà án ở new York”
Người ta hỏi ông đại sứ về những “chuồng cọp” ở Côn Đảo ra sao? Trong đó đã giam hãm rất nhiều tù nhân? Martin nói rằng :
“Với khí hậu ở miền nhiệt đới thì những nơi giam giữ ấy là rất trong lành, thoáng đãng hơn các xà lim".
Đại sứ Martin mở tiệc chiêu đãi danh dự phái đoàn. Có vài người tẩy chay, số khác lảng đi lấy cớ là được các nhà báo đến thăm, nên không dự bữa tiệc ấy được
Buổi tối ngày 1-3, Tổng thống cũng mở tiệc chiêu đãi danh dự các đại biểu của phái đoàn. Trong khi nâng cốc chúc mừng, Thiệu nhắc lại có nhiều tổng thống Mỹ trước đây đã đảm bảo là chỗ dựa vững chắc cho thiêu.
Thiệu nói thong thả :
“Sự cam kết long trọng ấy lại một lần nữa được nhắc đến vào đúng lúc ký Hiệp ước Paris. Người ta có thể tin vào lời hứa của Hoa Kỳ được không? Đây là thông điệp mà tôi mong muốn nhờ các ngài chuyển giúp tôi đến Hội nghị đại biểu lần thứ 94 của Hoa Kỳ”
Trước khi đến Washington Chủ nhật ngày 2-3, nghị sỹ thuộc phe dân chủ đã có cuộc họp báo ở ngay sân bay. Sau khi đã ngừng chiến tranh, các đại biểu đã góp ý với Tổng thống Ford là thúc đẩy Kissinger tiếp tục thương lượng với Bắc Việt. Ông nghị sỹ này không biết rằng là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cũng không hào hứng lắm với việc thương lượng dưới thế yếu của Hoa Kỳ khi phải đối mặt với người CS Bắc Việt.
Khi các đại biểu chuẩn bị lên máy bay để về Mỹ, thì ông đại sứ Graham Martin vội vã lao ra :
- Tôi có thể đi cùng các ông về Washington được không?
Ông nghị sỹ và các đại diện đã gặp ông Martin nhiều lần vào những ngày cuối sửa soạn ra về Mỹ, nên không ai còn muốn gặp ông Martin, dù rằng trong vài giờ nữa – Nhưng làm thế nào để từ chối được điều yêu cầu ấy của ông Martin.
Đến Washington, Martin nhận được ngay không khí lạnh nhạt của Bộ Ngoại giao. Tờ thông tin tình báo cuối cùng của CIA và của Bộ Ngoại giao khẳng định “những đội quân của Bắc Việt ở phía nam vùng phi quân sự đang mạnh hơn bao giờ hết”, nhưng những đội quân này “sẽ không có đủ khả năng đánh bại quân đội của chính phủ cộng hòa miền Nam VN một cách quyết định”
Martin ở lại nhà riêng của con gái ở phố số 42 và lao vào việc chạy chọt gây sức ép. Bộ Ngoại giao đã cử một chiếc xe ô tô để phục vụ cho Martin tùy ý sư dụng. Những viên chức trẻ tuổi ở Ban châu Á và Đông Nam Á đã thường nhận được những lời mời hẹn của Martin. Ở Sài Gòn, sau Thiệu thì Martin là nhân vật có thế lực thứ 2. Ở Washington thì Martin chỉ là ông đại sứ không còn có vẻ long trọng gì nữa.
Ở Bộ Ngoại giao, Martin cảm thấy ngay lề lối làm việc quan liêu bàn giấy, và hiểu ngay rằng “người ta sẽ không tiến bộ được khi dính vào vấn đề Việt Nam” – Ngay cả các nghị sỹ thuộc Đảng Cộng hòa cũng hoàn toàn phải theo những luận thuyết của họ. Martin vấp phải những điều không nói ra được. Ông đã bơi ngược dòng và hiểu rằng nhiều thành viên trong phái đoàn đã lan truyền và phê bình gay gắt về vấn đề của ông. Có 1 người trong số các thành viên của phái đoàn còn nói công khai :
- Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn sẽ còn phải đi tiếp, tay trong tay với chính phủ của Thiệu, sẽ thật khó khăn để phân biệt được bản chất của sự thật về quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam.
Graham Martin thấy hầu như bị sỷ nhục ở Washington và cảm thấy phẩm giá và đặc quyền của mình không còn ra gì nữa. Giữ trách nhiệm đại sứ Mỹ ở Sài Gòn từ tháng 3-1973, Martin đã đến chậm vài ba ngày và đòi hỏi phải có riêng 1 máy bay để cho ông toàn quyền sử dụng ở thủ đô của miền Nam VN. Điều đó được thỏa thuận cho ông đại sứ của Hoa Kỳ, đại diện cho cá nhân tổng thống.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #35 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:50:03 pm »

Martin 63 tuổi, đôi mắt sắc sảo, tóc màu xám, sức khỏe yếu, hút rất nhiều thuốc, có dáng vẻ quý tộc, rất kiêu căng đối với người này, nhưng lại hòa nhã với người khác. Martin có nguồn gốc gia đình tầm thường, sinh ra ở bắc Caroline. Người cha linh mục của ông đã thường dạy con luôn nhớ 1 điều là : “Có nhiều cách để nói lên sự thật và điều đó tốt hơn là nói dối”. Trước các nghị sỹ hay những người đại diện, Martin sẵn sàng tỏ ra sự liêm khiết và luôn để lộ ra sự hiểu biết sáng suốt của mình.
Ông chưa bao giờ theo học ở các trường đại học Harvard, Princeton hay Yale, mà chỉ theo học ở trường cao đảng Wake. Martin nghĩ rằng theo học về môn lịch sử, học về Latin và Hy Lạp sẽ giúp ông có được những “ý nghĩ về quá khứ”. Ông dễ dàng kể lại câu chuyện lịch sử về Thucydide.
Khi lên Washington, Martin đã trở thành một nhà báo khá lâu, nhưng lại ghét nghề nghiệp này nên ít hiểu về nghề đó. Martin cho rằng : Một nhà báo giỏi không được hại gì đến lợi ích của Hoa Kỳ. Nếu sự thật được nói ra mà không có lợi thì nên im lặng là hơn. Martin thấy rằng khối đông các nhà báo ở Washington và ở Sài Gòn, dù rằng không đồng nhất, cũng tỏ ra “ủng hộ Hà Nội” và sớm muộn gì cũng chống lại Thiệu. Điều đó thật khác nhau.
Martin tiếp tục nghề làm báo và chịu trách nhiệm về mục bảo hiểm xã hội dưới thời tổng thống Roosevelt. Ông tự tuyên bố mình là phe dân chủ, bởi vì ông là sỹ quan tình báo rồi là đại tá và chuyên gia về châu Á, và Đông Nam Á trong thời chiến tranh thế giới thứ 2. Và cũng bởi vì Martin luôn quan hệ với Alan Dulles, người thành lập ra tổ chức CIA. Ông tự phụ cho rằng mình hiểu rõ trong lĩnh vực “sáng - tối”về tình báo hơn cả Polgar hay Frank Snepp.
Tất cả những báo cáo mập mờ về những ý định của Bắc Việt làm ông đại sứ khó chịu. Chịu trách nhiệm công việc của đại sứ quán của Hoa Kỳ tại Paris từ năm 1947 đến 1955, Martin hiểu rõ người Bắc Việt. Martin là một trong những người phó của Kissinger ở Paris trong những cuộc thương lượng rồi dẫn đến có sự hiệp ước. Martin thường thấy chính phủ Pháp thương lượng riêng với Việt Minh và phải nhượng bộ
Martin làm đại sứ ở Thái Lan từ 1963 đến 1967, đã sử dụng ở Bangkok 1 hải cảng và 6 sân bay quân sự, mà không bao giờ ký chính thức với Thái Lan một hiệp ước hay một tạm ước. Martin thường tỏ ra khinh bỉ “ý nghĩ quân sự hẹp hòi” nên chống lại Lầu Năm Góc dự định đưa các đội quân vào Thái Lan. Martin đã gặp Thiệu ở Bangkok.
Là phi công lái máy bay trực thăng, là con nuôi một ông đại sứ bị ám sát ở Việt Nam, và đã từ lâu có vài người đoán trước là Martin sẽ trở nên cứng rắn. Thuyết phục được Hoa Kỳ không gửi đội quân lính thủy đến Thái lan, vào thời kỳ đó, Martin đã gửi đến Bộ Ngoại giao những bức điện tín cay độc mà ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dean Rusk thấy khó có thể chấp nhận được. Bộ Ngoại giao đã cách chức đại sứ của Martin ở Thái Lan và cử làm tùy viên chuyên trách vấn đề người di tản và việc di cư. Một chức vụ chỉ coi như nằm trong một hốc tường, chẳng có tác dụng gì. May mắn là khi ở Bangkok, vào một ngày đẹp trời ông đại sứ Martin đã trải thảm đỏ cho một luật sư của hãng nước giải khát Coca-Cola, một nhà chính trị “đã hết thời”, đó là ông Richard Nixon.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #36 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:50:36 pm »

Khi trở thành tổng thống, Nixon lại nghĩ đến sự chú ý của Martin đối với mình, nên đã cử Martin đến Rome. Tại đây, Martin đã làm bóng kinh nghiệm của mình với vai trò đứng đầu 1 nhiệm vụ. Tháng 12-1972, người ta đã thông báo cho Martin biết là tổng thống Nixon muốn cử ông làm đại sứ ở Sài Gòn. Lúc đầu Martin còn ngần ngừ muốn chấm dứt sự nghiệp của mình. Ở Sài Gòn luôn xảy ra các cuộc lật đổ nhau. Nhưng Haig đã gợi ý cho Martin về bổn phận và danh dự. Cuối cùng Martin chấp nhận làm đại sứ của Hoa Kỳ ở Sài Gòn.
Trong khi Quốc hội khẳng định vai trò của Martin vào tháng 6-1973, thì ông đã tuyên bố :
“Chúng ta phải nhanh chóng chấm dứt đến mức có thể sự dính líu của người Mỹ vào Việt Nam, nhưng cách làm như thế nào thì chúng ta phải hết sức thận trọng… Chúng ta phải chấm dứt và để cho nền kinh tế của Việt Nam tự sống được…”
Ở Washington, Martin cũng nhắc lại lời đó nhưng không có kết quả lớn. Những lời xì xào bàn tán do các nhà báo và những nhà ngoại giao đã loan truyền từ trước, đã làm cho Martin tê liệt. Người ta không kết tội Martin không chịu làm việc, mà chỉ kết tội ông đại sứ đã làm cho công việc của mình ở Sài Gòn trở nên tồi tệ.
Có người còn nói : “ông chỉ nhìn thấy những cái cây mà không nhìn thấy cả cánh rừng”, hay “Martin đã bảo vệ Thiệu cùng với chính phủ của Thiệu quá đáng”.
Có phải là người ta đã gây sự chia rẽ! Ông đại sứ gợi ý rằng : “Chính nhờ có dầu trong quá trình mở mang nền kinh tế… nhưng với chiến tranh thì thật nguy hại…” Ông dựa vào việc xuất khẩu dầu, cá sẽ tạo cho miền nam VN “một sự may mắn sống sót”.
Ở Washington, đại sứ Martin mở cuộc chiến tụt hậu về số tiền 300 triệu đô la viện trợ thêm cho thiệu. Mệt mỏi, không còn có thể chống cự lại được và chịu bệnh xưng tấy răng nên Martin đành trở về nhà mình ở bắc Caroline để chữa bệnh đau răng.
Lúc này Martin đã xa Washinton và còn cách Sài Gòn quá xa hơn nữa.
Đánh chặn, tiêu diệt địch trên đường số 7 là Sư đoàn 320
Theo tư liệu của Tỉnh ủy Kak Lak :
...Triển khai ý định truy kích, Bộ Tư lệnh đã giao nhiệm vụ cho đại tá Kim Tuấn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 và đại tá Bổng, chính ủy Sư đoàn nhanh chóng tổ chức cho Sư đoàn 320 truy kích quân địch rút chạy trên đường số 7. Sư đoàn được phối thuộc Trung đoàn 95B, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh, 110 xe ô tô vận tải chở quân và vũ khí, đạn dược.
Lúc nhận lệnh truy kích, Sư đoàn 320 đang triển khai tiến công địch trên đường số 14, từ Thuần Mẫn tới Đạt Lý.
Con đường tỉnh lộ số 1, từ Thuần Mẫn (Ea H’Leo) đến Cheo reo khoảng 50 km, đi bộ nhanh cũng mất 1 ngày đêm. Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64 / Sư đoàn 320) đang triển khai ở phía đông đường số 14, nhận lệnh tiến trước về hướng Cheo reo. Ban đêm, Tiểu đoàn 9 đốt đuốc, băng rừng chạy bộnhằm hướng đường số 7 lao tới. Cuộc bôn tập diễn ra nhanh chóng. Đến 16 giờ ngày 17-3, đại đội đầu tiên của Tiểu đoàn 9 đã đến được đường số 7. Anh em đã vượt qua cầu Sông Bờ, Đông thị xã khoảng 4 km, chặn địch lại. Như mũi tên lao cắm vào giữa đội hình quân địch, đại đội đã chiến đấu kiên cường giữa bốn bề quân địch dày đặc. Trong đêm 17-3, toàn bộ Tiểu đoàn 9 đã đến đầy đủ trên đường số 7 để ngăn chặn quân địch…
Ngày 18-3, Trung đoàn 64 đã vượt qua cầu Sông Bờ, hình thành các chốt ngăn chặn địch trên đường số 7. Cầu sông bờ là cầu sắt, trọng tải thấp, xe của địch tranh nhau qua, xe tăng cũng dành đường để vượt khiến cầu bị sập, xe bị dồn lại. Một số xe của địch liều mạng, tranh nhau lội qua sông, bị lún xuống cát, hàng loạt xe nằm chết giữa sông. Một số địch vượt qua sông trước đã bị Trung đoàn 64 chặn lại.
Trong khi đó Trung đoàn 9 của Sư đoàn 320 làm nhiệm vụ đuổi đánh phía sau đội hình rút chạy của địch. Sau khi đánh chiếm Phú Nhơn, Trung đoàn 9 đã theo đường số 14, đánh chiếm ngã 3 Mỹ Thạnh, tiếp đó tiến đến đường số 7.
Trên đèo Ban B’lek, Trung đoàn 9 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn bảo an và 1 bộ phận của liên đoàn biệt động 23 của địch
Phối hợp với Trung đoàn 64 chặn đầu và Trung đoàn 9 đuổi đánh ở phía sau. Hồi 11 giờ ngày 18-3, Trung đoàn 48 bắt đầu tấn công vào giữa đội hình địch ở Cheo reo. Đến 18 giờ cùng ngày, Trung đoàn 48 chiếm xong thị xã Cheo Reo...
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #37 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:51:51 pm »

2 –TIẾNG CHUÔNG BÁO TỬ Ở ĐÀ NẴNG
-------
Tướng Dũng, tổng chỉ huy ở miền Nam, đặt bản doanh trong khu rừng âm u và rậm rạp cách 35 km về phía Tây thành phố Ban Mê Thuột, cách biên giới Campuchia có 10 km. Ở vùng cao nguyên này nơi nào cũng có những con sông, hồ và thác nước. Người ta có thể dễ dàng giấu quân trong vùng này, 1 đội, 1 trung đội, thậm chí cả 1 sư đoàn. Quân đội quốc gia đi theo các thung lũng. Họ thấy cần thiết phải kiểm soát, phải giữ được những con đường quốc lộ thời thuộc Pháp, vì đó đều là những con đường chiến lược. Vùng này giàu nguyên liệu gỗ tre, rộng lớn và hiểm trở. Những công dân Việt Nam, những người miền núi không biết nói tiếng Việt Nam, đã sống trên cao nguyên này hàng thế kỷ. Họ làm ruộng, săn bắn và chăn nuôi nhưng vẫn thành lập những bản làng khác lạ với quốc gia. Dù là người miền Nam hay người miền Bắc, người Việt Nam luôn có những “vấn đề” với người dân tộc miền núi.
Để che dấu 3 sư đoàn tập trung trong vùng này mà không bị phát hiện, tướng Dũng đã ra lệnh chỉ được liên lạc với nhau bằng điện thoại, tuyệt đối không được dùng vô tuyến. Tướng Dũng ca ngợi những phong cảnh hoành tráng lộng lẫy, thích nghe những tiếng lá khô vàng ròn vỡ dưới chân của mình. Những chiếc lá “khộp” đẹp đẽ, chỉ cần một tia lửa nhỏ đã bùng cháy. Những người lính ít quan tâm đến cảnh vật điền viên mơ mộng như tướng Dũng. Sau mỗi lần xảy ra những đám cháy ở đây, họ lại phải đi sửa những đường dây điện thoại.
Người ta phải mắc dây điện thoại thật cao ở trong rừng, vì voi rứng có thể phá hoại các đường dây điện thoại, nhiều khi tới vài trăm mét.
Năm 1975, Bộ tham mưu quân đội Bắc Việt đã sử dụng thứ khi tài rất hiện đại của Liên Xô, nhưng họ lại thiếu những bản đồ. Tướng Dũng muốn biết tường tận vùng Ban Mê Thuột, thủ phủ của tỉnh Đác Lắc. Ông cử một sỹ quan và vài người giả làm thường dân, thâm nhập vào thành phố. Họ đã hốt hoảng quay trở lại, viên sỹ quan đã choáng người, nói :
- Thành phố to rộng lắm, gần như thành phố Hải Phòng của miền Bắc.
Những người của toán tuần tra đã thấy thật ấn tượng về những vùng ngoại thành, những ngôi nhà “sáng rực ánh đèn néon”. Ở Bộ tham mưu ngoài miền Bắc, người ta cho rằng Ban Mê Thuột không đáng kể gì. Vì Ban Mê Thuột chỉ có 150.000 dân là cùng, làm sao so được với Hải Phòng có gần 1 triệu dân.
Với số quân vượt trội của mình, tướng Dũng muốn làm tăng thêm sự bất ngờ. Ông hạn chế các toán tuần tra và lo lắng đến “nhiều chướng ngại vật” như ruộng đồng và các vị trí tăng cường mạnh, mà các vũ khí nặng và các đơn vị chiến xa phải vượt qua. Ông muốn các đơn vị cơ giới tấn công của mình phải được tiến lên nhanh chóng.
Với một tầm vóc khiêm tốn, nhưng lần đầu tiên chiến lược “bão táp” (Blitzkrieg) được áp dụng ở Việt Nam
Về chuyện CIA biết nhưñg gì về ý định chiến lược của ta thì Frank Snepp cũng tả như sau :
"Quân đội Bắc Việt Nam mở đầu cuộc tiến công Buôn Mê Thuột trên Tây Nguyên ngày 1 tháng 3, bằng việc đánh chiếm làng nhỏ Đức Lập, một đồn duy nhất của Nam Việt Nam đóng ở xa, giữa biên giới CPC và thị xã. Nhiều đơn vị quân đội Bắc Việt Nam đánh các vị trí tiền tiêu dọc đường số 19 giữa Pleiku và bờ biển, cắt hẳn con đường này. Ngày 4 tháng 3, việc duy nhất còn lại để hoàn thành giai đoàn đầu cuộc tiến công của ông Văn Tiến Dũng, đó là việc đánh cắt đường số 14 giữa Pleiku và Buôn Mê Thuột. Trong khi đó ở Sài Gòn, tôi làm xong một bản nhận định về chiến lược của quân đội Bắc Việt Nam cho Hoa Thịnh Đốn, trong đó tôi nêu rõ tất cả những gì tôi biết về ý định của Bắc Việt Nam. Tôi dự kiến, ít nhất sẽ có 4 sư đoàn Bắc Việt Nam định cô lập Huế và Đà Nẵng trong những tuần tới, còn những đơn vị khác sẽ đánh lấn những vùng ở bờ biển, phía nam quân khu I. Có thể đồng thời họ sẽ tiến công Quân khu II vào hệ thống đường sá ở phía Nam, phía Đông các thị xã Kon Tum, Pleiku và chung quanh Buôn Mê Thuột. Và tôi đã hoàn toàn lầm lẫn. Tôi đã không dự kiến được cộng sản sẽ đánh vào nơi nào đầu tiên. Ở sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, chúng tôi không hề biết Đại tướng Văn Tiến Dũng đang ở miền Nam Việt Nam, lại càng không biết việc ông đặt sở chỉ huy ở phía Tây Nam Buôn Mê Thuột đang chuẩn bị tiến công thị xã. Quân tiếp, viện của cộng sản kéo vào vùng này mà không hề có ai biết. Nếu đúng là cộng sản chuẩn bị mở một chiến dịch mùa khô mới thì không một ai trong chúng tôi biết rõ mục tiêu chính của họ".
(…)"Trưa ngày 10 tháng 3, cộng sản tiến công thị xã từ phía Bắc và phía Tây...Trận đánh đã kết thúc sau 30 giờ chiến đấu mà chính phụ Sài Gòn vẫn chưa có một ý niệm rõ ràng về những sự kiện đang xảy ra. Mãi tới ngày 14 tháng 3 họ mới biết được tin thị xã Buôn Mê Thuột đã mất. Nguồn tin tức duy nhất họ biết là những bức ảnh do không quân Mỹ và do người Nam Việt Nam chụp. Những bức ảnh ấy hầu như không nói với chúng tôi điều gì cả. Tôi nhớ có xem một vài tập ảnh một, hai ngày sau khi Bắc Việt Nam mở cuộc tấn công, thấy khói và đổ vỡ ở sân bay, phần còn lại trong thị xã có vẻ yên tĩnh. Một vài xe tăng đổ ở chợ chính, gần "ba" Bạch Thử. Một vài người từ từ đi xe đạp chung quanh. Từ những chứng cứ nghèo nàn ấy, chúng tôi cho rằng lực lượng chính phủ đã đẩy lùi được trận tiến công. Nhưng điều ngược lại mới là sự thật. Thị xã đã nằm trong tay quân Bắc Việt Nam".
(…)"Cuộc tiến công Buôn Mê Thuột cũng bất ngờ đối với Tổng lãnh sự Mỹ ở Nha Trang là Moncrieff Spear. Ngày 13 tháng 3, sau khi nghe Howard Archer, trùm CIA ở Quân khu II, báo cáo Pleiku đã nhanh chóng biến thành một thị xã ma, Spear đã cho di tản ngay các nhân viên không cần thiết".
(…)"Vào ngày 15 tháng 3, chỉ 4 ngày sau cuộc tấn công, tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu thống báo với các tướng lĩnh là cao nguyên miền Trung phải bị bỏ rơi. Vậy là ông ta bỏ luôn cả quân khu I và II. Hầu như chỉ qua một đêm, ông ta phải nhượng mất nửa đất nước...
Suốt buổi chiều dài vô tận (15/3), quân của Phú (Tư lệnh Quân khu II) rút chạy khỏi Pleiku và Kon Tum hết sức lộn xộn. Bản thân cuộc rút chạy như một trò trẻ con. Tướng Tất, người điều khiển cuộc rút chạy đã quên cả việc chuẩn bị sơ đẳng nhất. Không có ai đi điều tra tình hình đường 7B đến Phú Bổn và ra bờ biển. Không có phương tiện gì để chở hàng nghìn người dân chắc chắn sẽ kéo theo quân đội. Do đó lính và dân chen chúc, trộn lẫn với nhau, còn xe tăng và xe bọc thép chở nặng thì lại dẫn đầu. Không chịu nổi sức nặng, đường bộ lún, bị phá. Một đoàn gồm hai nghìn xe hơi, xe gíp, xe vận tải nhanh chóng ngập trong một con sông bùn...".
(…)"Ngày 16 tháng 3, buổi chiều, tôi dự thảo cho Polga (người phụ trách CIA ở Sài Gòn) một bản tường trình về hậu quả của việc rút bỏ Tây Nguyên. Về mặt lịch sử, cuộc rút chạy này không để lại một điều gì tốt. Nó làm nhớ lại cuộc rút lui của quân Pháp khỏi Kon Tum năm 1954 đánh dấu bước đầu việc chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở phía Nam nước Việt Nam, cũng như chiến thắng của cộng sản ở Điện Biên Phủ, mấy tháng sau, mở đầu cho sự cáo chung này ở phía Bắc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà chiến lược bậc thầy của Việt Minh trước đây đã từng viết rằng: Người nào kiểm soát được Tây Nguyên thì nắm được chìa khóa của Đông Dương. ý kiến này được thực hiện. Thật vậy, hệ thống đường sá ở vùng này là những con đường lý tưởng cho việc đi lại giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, đồng thời vùng này cũng là một bậc nhảy hoàn hảo cho một cuộc chiến tranh chớp nhoáng tiến ra bờ biển".
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #38 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:52:22 pm »

(…)"Ngày 25 tháng 3 chính phủ nam Việt Nam báo tin Huế thất thủ. Tôi làm cho Polga một bản báo cáo, trong đó tôi cố gắng tả cuộc rút lui chiến lược hỗn loạn bằng những tử dễ hiểu. Tôi viết: Tám tỉnh đã mất trong ba tuần qua, bốn tỉnh khác đang bị uy hiếp.
(..)"Quá trưa ngày 28 tháng 3, sư đoàn 3 của Nam Việt Nam không còn nữa. Tin thất thiệt bay về bộ tư lệnh của tưởng Trưởng. Trưởng gọi cho Thiệu ở Sài Gòn đề nghị dành cho ông ta một sự "linh động" nào đó. Thiệu không thèm hỏi gì vì biết rằng "linh động" có nghĩa là di tản ngay và triệt để bằng đường biển!"
(…)"Ngày 29 tháng 3, không rõ giờ nào, tướng Ngô Quang Trưởng, từng được coi là sĩ quan ưu tú nhất của quân đội Nam Việt Nam đang bơi và trôi giữa những con sóng nguy hiểm ở ngoài khơi Đà Nẵng. Ông không phải là người bơi giỏi, người ta phải vớt ông ta lên tầu tuần tra của Việt Nam đang đón".
(…)"Quân đội Việt Nam tan rã. Số quân bị loại khỏi vòng chiến đấu trong giai đoạn này của cuộc chiến tranh lên tới 150.000 người. Phương tiện chiến tranh bị phá hủy hay bi đối phương thu đáng giá một tỷ đô-la".
Ban Mê Thuột là thủ phủ của 1 trong 12 tỉnh thuộc Vùng II chiến thuật của miền nam VN, và hầu như đây là vùng chiến thuật quá rộng rãi hơn cả 3 vùng chiến thuật khác hợp nhất lại. Đây là vùng có dân cư thua thớt. Điều an ủi nhẹ bớt cho Sài Gòn là những dân cư ở vùng này là rất thất thường, không tin vào ai. Một đạo luật về chiến tranh VN vừa mới được đưa ra, người dân đã lánh xa ngay thành phố. Những người nông dân chờ thời, đã có thói quen là đào các hố để cắt đường vào ban đêm theo lệnh của Việt Cộng, và ban ngày lại theo lệnh của quân đội miền Nam VN phải lấp đầy các hố ấy.
Nhưng tất cả điều đó lại làm thuận lợi cho tướng Dũng. Với địa hình lồi lõm, những ngọn núi cao, những thung lũng chật hẹp, những khe ngòi ẩn giấu dưới rừng rậm, rất khó khăn cho việc chiến đấu ở mặt đất và việc phản công của không quân miền nam VN. Người ta có thể dễ dàng ém quân trong khung cảnh như thế này hơn là ở vùng đồng ruộng miền Nam VN. Một công trình tuyệt vời cho tướng Dũng. Trước mặt ông chỉ có Sư đoàn 23 của miến Nam và 6 đoàn biệt kích. Còn tướng Dũng đã dàn ra 3 sư đoàn, thắt gọng kìm Ban Mê Thuột.
Ông gọi chiến thuật này bằng cái tên đẹp đẽ là “Hoa sen nở”.
Để làm cho kẻ địch càng tin tưởng thêm là ông sẽ tấn công Pleiku, là nơi đặt đại bản doanh chỉ huy quân sự ở Vùng II chiến thậut. Tướng Dũng đã cho mở 3 chiến dịch nghi binh :
- Cảnh sát miền Nam VN đã thu được tin tình báo giả là, quân du kích đã chuẩn bị cuộc mít tinh ở Pleiku và Kontum đón chào những “quân giải phóng tương lai”.
- Chiến dịch thứ hai của tướng Dũng là tung tin, Sư đoàn 968 ở Lào đang tiến về Pleiku. Tướng Dũng ra lệnh cho các sỹ quan “làm chuyện chuyển quân này thật rầm rộ để thu hút sự chú ý của kẻ địch”.
- Chiến dịch thứ ba, tổ chức ngay gần Pleiku có một đài phát tuyến, làm nửa úp, nửa mở về việc sư đoàn tinh nhuệ 320 đang có mặt ở vùng này : Một máy phát tin, một nhóm phát điện và vài ba người đủ gây ra được một đài vô tuyến quan trọng.

Ở Sài Gòn, CIA đã ghi tình hình này lên bản đồ. Nhà chuyên gia phân tích Frank Snepp theo dõi sát từng hoàn cảnh, đã hiểu rằng Bắc Việt đang chuyển quân lớn ở vùng Tây và bắc Ban Mê Thuột. Nhưng Snepp lại chỉ đoán rằng ý đồ của Bắc Việt làm như vậy là để cô lập thành phố này.
Trong lúc đó CIA lại ít có tinh tình báo tác chiến ở vùng cao nguyên. Một năm rưỡi trước đây, một trong những nhân viên của CIA, chịu trách nhiệm về vùng này đã lạm tiêu công quỹ, vì thế không có tiền để trả công cho các gián điệp. Hơn nữa, để hạn chế kinh tế, người ta đã bỏ tổ chức CIA ở Ban Mê Thuột. Ngay cả Snepp và một số nhân viên CIA khác đều không để ý đến tin một kẻ đào ngũ Bắc Việt đã khai chắc chắn là Sư đoàn 320 đang di chuyển từ Pleiku đến Ban Mê Thuột.
Trong số những nhân viên CIA ở VN, Frank Snepp là con người rất thú vị. Cũng như đại sứ Martin, Snepp sinh ra ở Bắc Caroline. Còn trẻ, đẹp trai, lại có trí nhớ tuyệt vời, về mặt chính trị thì khiêm tốn. Frank Snepp nói và viết đều có tài, đến nỗi Thomas Polgar, người chỉ huy của minh và Graham Martin, ông chủ của Snepp đều thấy hài lòng. Martin thường mời Snepp đến đàm thoại. Snepp đã “đưa trình” với ông chủ một trong những cô con gái tên là Ginette, xinh đẹp và đã ly dị chồng
Đối lại với những hoạt động của các đoàn quân Bắc Việt, quân đội miền Nam VN lại lúng túng và chia rẽ nội bộ.
Cũng như những người Mỹ ở Sài Gòn, tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2, Chỉ huy trưởng Vùng II chiến thuật nghĩ rằng Pleiku mới là mục tiêu chính của Bắc Việt. Phú cho rằng Bắc Việt đang cố gắng tập trung mở mặt trận vào điểm thần kinh này. Vì ở đây, quân đội miền Nam VN đã thừa hưởng trụ sở Bộ chỉ huy của người Mỹ. Và từ ngày xưa, quân Pháp cũng đã đặt bộ chỉ huy quân sự cao nguyên ở Ban Mê Thuột và coi Pleiku là trung tâm..
Không chú ý đến những điều kiện về địa lý, người Mỹ cũng thích Pleiku, thành phố trung tâm của vùng cao nguyên, nằm chếch cao về phía bắc. Người Mỹ ỷ lại vào một đội trực thăng lớn, nên có thể không cần chú ý tới khoảng cách.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #39 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:52:52 pm »

Nhưng còn Phú?
Phạm Văn Phú chỉ huy tưởng Vùng II chiến thuật từ năm 1974. Xuất thân từ quân đội Pháp, Phú đã từng bị bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ. Ý nghĩ về quân đội Bắc Việt có thể lại bắt được mình, nên Phú vẫn thấy lo sợ một cách mơ hồ.
Phú cảm thấy kẻ thù đang nghi binh.
Nhưng ở đâu là chính thì Phú không tài nào đoán ra được?
Trưa ngày 9-3 tướng Dũng đã báo ra Hà Nội cho biết :
“Chúng tôi sẽ tấn công Ban Mê Thuột vào ngày 10-3”. Ông nói : “Quân số, lương thực, vũ khí đều đầy đủ. Tinh thần của các đạo quân là tuyệt vời. Chúng tôi chỉ còn xem xét lại lần cuối các vấn đề về chiến thuật cho thật logic”.
Để vượt qua con sông Srê-Pok, người ta sẽ cho chuyển các pháo hạng nặng bằng bè mảng tre rộng lớn.
Trước hết tướng Dũng cho cắt mọi con đường dẫn đến Ban Mê Thuột và nhất là con đường số 14 nối liền thành phố này với Pleiku.
Để tránh sự can thiệp có hiệu quả của máy bay miền Nam VN, và lợi dụng đêm tối làm tan rã rối loạn quân địch, tướng Dũng đã ra lệnh mở cuộc xung phong vào lúc 2 giờ sáng.
Dựa vào dàn pháo bắn cấp tập, bộ binh và xe tăng của Sư đoàn 1 sẽ tiến quân dễ dàng hơn. Tướng Dũng đã bố trí 25.000 quân, trong khi đó quân phòng thủ ở Ban Mê Thuột chỉ có 1200 người.
Vào lúc 7 giờ 30 phút, đợt xe tăng đầu tiên của Bắc Việt đã chiếm và phá hủy một phần của kho đạn và một nhà gara để các xe tăng và xe bọc thép.
45 phút sau các xe tăng của tướng Dũng đã ở tước mặt trụ sở Bộ chỉ huy quân sự Vùng II chiến thuật của miền Nam VN. Một bộ phận của Trung đoàn 53 của Nam VN đã bảo vệ quyết liệt sân bay chính thuộc phía tây thành phố. Áp dụng chiến thuật “Hoa sen nở”, tướng Dũng cho bao vây sân bay này rồi đánh chiếm một mảng nhỏ ở phía Bắc sân bay.
Máy bay của miền Nam VN xung trận. Pháo phòng không của quân đội Bắc Việt rất mạnh. Các phi công của miền Nam phải cho bay rất cao, và tác hại hơn là chính các quả bom của bọn họ lại rơi đúng vào trung tâm truyền phát tin của Sở chỉ huy quân sự Sư đoàn 23, làm rối loạn cuộc phòng thủ Ban Mê Thuột.
Không còn ai liên lạc được với Bộ chỉ huy quân sự Vùng II chiến thuật ở Pleiku và lúc này người ta mới biết mục tiêu tấn công chính của Bắc Việt.
Phú quyết định tăng viện cho Ban Mê Thuột. Nhưng khi muốn chuyển 2 tiểu đoàn, Phú mới phát hiện chỉ sử dụng được 7 trực thăng lớn Chinook. Mỗi trực thăng này trở được 40 người. Nhưng nhanh chóng có 2,3 rồi 5 trực thăng đã bị hỏng hóc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM