Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:27:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tháng Tư ác liệt  (Đọc 70420 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #80 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2009, 10:51:33 am »

Những cơ quan tình báo và những nhà báo, ai sẽ ca tụng những nguy hiểm và sự quan trọng việc sao chép lại của sự quan liêu bàn giấy về việc ngoại giao? Với đẳng cấp quan trọng của đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn thì tư tưởng chính vẫn là việc tiếp tục đeo đuổi về 1 giải pháp thương lượng.
Học viện Pháp ở Sài Gòn đã trình chiếu cuốn phim có những hoàn cảnh tình tiết “Les yeux Fermés” (Những con mắt nhắm). Cả những người ở miền Nam VN cũng đã tin hay thấy tự tin về những cuộc thương lượng chính trị có thể xảy ra tùy tình hình. Trong giới báo chí, Ẩn, 1 trong 3người lính Ngự Lâm pháo thủ, tỏ ra mẫu mực, tuyên bố với 2 người bạn thân là Vượng và Cao Giao:
- Những người CS muốn thương lượng.
Ẩn, người cao lớn, có những nét đặc biệt, lịch sự, nhã nhặn, xử sự như 1 người Anh không chê vào đâu được, và như 1 người Pháp tuyệt vời - Ẩn rất nhạy cảm. Là thành viên đương thời của tòa soạn báo Times ở Sài Gòn, đã có được sự nể nang của những ban tham mưu quân sự và ngoại giao. Ẩn đã cộng tác với báo Christian Science monitor (người hướng dẫn khoa học Thiên chúa giáo) và làm việc cả cho hãng Reuter. Ẩn yêu quý những con chó và các giống chim. Ẩn đã cung cấp ít ra cho 80% bài từ Việt nam gửi về cho báo Time ở Mỹ.
Những thông tin và những sự phân tích do Ẩn thu được qua nhiều phóng viên báo chí nước ngoài. Trong quá khứ, Ẩn luôn tỏ ra là người biết nhìn xa trông rộng.
Còn với bà Nga, cũng làm việc ở tòa soạn báo Time, Ẩn lại thường đôi khi tỏ ra không yêu thích gì người Mỹ. Ẩn khuyên bà Nga nên rời bỏ đất nước để ra đi. Ẩn cũng mong bà mẹ của mình được di tản. Vào lúc này, tòa soạn báo Time cũng đã chuẩn bị cho các đôi vợ chồng và con cái của những người cộng sự với tuần báo được ra đi. Lúc này Ẩn đã giải thích cho Cao Giao là không nên hoảng hốt.
Ngườp Sài Gòn chen nhau đến các nhà băng rút số tiền của họ để đổi thành đồng USD. Họ phải chịu đựng các thủ tục, nếu muốn ra đi thì người Việt Nam phải có hộ chiếu quá cảnh, một tấm hộ chiếu được ra đi và phải làm mọi thủ tục với cảnh sát. Để có vài tấm hộ chiếu được phép ra đi họ phải thương lượng với 10 triệu đồng VN hay 14.000 USD đổi theo giá chính thức. Những người có thể bị động viên vào lính không được phép rời bỏ Việt Nam.
Muốn tiến hành lập các hồ sơ, một vài viên chức Mỹ đã đặt ra những vấn đề thiết thực: Dự kiến về quân sự và chính trị của Hà Nội là vấn đề gì? Tình hình Campuchia ra sao? Tổng thống Ford có đạt được những khoản tiền phụ?
Vào tuần lễ thứ 2 của tháng Tư, đã có 9 sư đoàn của Bắc Việt đang hướng về Sài Gòn. Tham mưu trưởng quân đội miền Nam VN không còn nghi ngờ gì về việc 9 sư đoàn Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công vào Sài Gòn. Tướng Viên, kể cả tổng thống Thiệu đều không tin vào 1 giải pháp chính trị nào. Viên không còn tự hỏi liệu quân đội Bắc Việt có tấn công Sài Gòn hay không, mà chỉ cần biết là họ sẽ tấn công khi nào và bắt đầu từ đâu?
Bộ tham mưu Bắc Việt đã chủ động làm 1 vài động tác giả trong việc nghi binh, áp dụng châm ngôn của Mao Trạch Đông trong mọi chiến lược là: “Nếu anh muốn tấn công phía Tây, thì phải quấy động ở phía Đông”.
Các cơ quan tình báo đánh giá là Bắc Việt sẽ tấn công Xuân Lộc, 1 thủ phủ đẹp của 1 tỉnh có 100.000 dân cư, nằm giữa rừng cao su, lọt giữa 2 rặng đồi cách phía đông Sài Gòn độ 100 km.
Quân đội miền Nam VN đoán chiến thuật cổ điển của Bắc Việt là đánh theo gọng kìm. Tướng Trà sẽ tung 3 sư đoàn của quân đoàn số 4 vào cuộc chiến trận. Sư đoàn 341 tiến theo hướng Tây Bắc, Sư đoàn 7 sẽ đánh xuống từ mạn Bắc Đông Bắc, và Sư đoàn 6 sẽ xuất hiện ở hướng Tây Nam.
Sư đoàn 341 tiến công trước, gồm có rất nhiều tân binh trẻ. Có nhiều người lính còn chưa đến 17 tuổi, họ làm liên lạc giữa các tiểu đoàn. Sư đoàn này sẽ tiến vào thành phố Xuân Lộc, chiếm lấy vị trí theo mũi tên nhà thờ đạo, sau đó phát triển sâu vào khu chợ và bến xe ca. Những bộ binh của Sư đoàn 18 miền Nam VN, do tướng Lê Minh Đảo chỉ huy đã đẩy lùi được quân của Sư đoàn Bắc Việt 341. Sau những cuộc chiến giáp lá cà ác liệt, quân của Trung đoàn 43 miền Nam VN đã buộc những đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 6 Bắc Việt phải rút lui.
Cuộc chiến đấu diễn ra ở Xuân Lộc rất khủng khiếp. Quân Bắc Việt đã trút xuống ngoại ô thành phố này 10.000 viên đại bác trong 24 giờ. Từ tháng 1, đây là lần đầu tiên khoa chiến thuật logic của Bắc Việt đã gặp những khó khăn nghiêm trọng. Tướng Trà phải gọi các trung đoàn dự bị của những sư đoàn 6 và 7 ra tham chiến.
Quân đội miền Nam VN đứng vững trong thành phố đã bị tàn phá nghiêm trọng. Nhưng lúc này họ bị vướng bận vì những người chạy trốn là dân cư của Xuân Lộc và những vùng xung quanh muốn chạy trốn về Sài Gòn. Con đường về thành phố Sài Gòn đã bị pháo binh Bắc Việt băm nát không còn có thể vượt qua được. Những người dân lại chạy đổ dồn vào trong thành phố Xuân Lộc.
Ngày 10-4, Bộ tham mưu quân đội miền Nam VN buộc lòng phải có quyết định quan trọng. Những người bảo vệ Xuân Lộc đang cần được viện trợ. Người ta không có thể rút được quân phòng thủ ở Sài Gòn và luận chứng đã được dùng như ở Huế và Đà Nẵng cũng không chấp nhận được, vì Xuân Lộc là 1 phần của vị trí phòng thủ Sài Gòn. Viên Tổng tham mưu trưởng đã phải sử dụng đến quân dù.
Patrick Hays ở gần nhà máy Michelin đã chứng kiến việc xuất quân của quân dù bằng con mắt của người am hiểu. Họ là những người lính đầy nhiệt tình hăng hái, can đảm và cũng có cả sự yêng hùng khoác lác. Những người lính dù này không đội mũ sắt mà đội mũ nồi màu đỏ. Những đội quân này có kỷ luật tốt. Có gần 2 binh đoàn quân dù đã bị “thiệt hại nặng” trước Nha Trang và Phan Thiết khi kìm chân quân đội Bắc Việt. Họ đã có tới 30% số quân tử trận.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #81 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2009, 10:52:07 am »

Những sỹ quan Mỹ vây quanh tướng Holmer Smith đã nghĩ rằng cuộc chiến ở Xuân Lộc không quyết định được sự kìm giữ cuộc tiến quân của Bắc Việt và ổn định mặt trận. Ai biết được điều gì có thể xảy ra? Đây có thể là 1 chiến thắng để có thể kích thích những ủy viên trong phái đoàn của tướng Weyand. Những người lính miền Nam VN đã chứng tỏ họ có thể phòng thủ và phản công, và như vậy họ xứng đáng được sự viện trợ giúp đỡ của người Mỹ. Người ta đã cử những máy bay trực thăng để cho những nhà báo nước ngoài toàn quyền sử dụng để họ có thể chứng kiến được 1 chiến thắng của miền Nam VN.
Tham mưu trưởng Viên thấy rằng ông không thiếu mọi vật chất và đạn dược. Người ta có thể trang bị cho mỗi người của 2 tiểu đoàn thuộc binh đoàn số 1 được di chuyển bằng máy bay loại vũ khí nhẹ chống chiến xa là súng Law. Người ta sẽ phá vỡ được gọng kìm bao vây Xuân Lộc. Những máy bay tiêm kích ném bom F-5, những máy bay Skyraiders A-1 sẽ phá tan những trung đoàn thuộc sư đoàn 341. Những chiếc máy bay vận tải C-130 đã thả những quả bom nặng 375 kg qua cửa phía sau của máy bay ở tầm thấp.
Nhưng 1 tin không vui đã tới với Bộ tham mưu quân đội miền Nam VN là Bộ Chỉ huy tối cao của Bắc Việt đã quyết định tung các sư đoàn 325 và 312 vào cuộc chiến ở Xuân Lộc
Ý chí của những người phòng thủ Xuân Lộc tỏ ra rất cao. Đội quân dù và biệt động quân đã được điều lên Xuân Lộc. Con đường về Sài Gòn đã được giải tỏa. Những lực lượng tăng viện đã đi qua con đường này. Những máy bay trực thăng chở những người bị thương. Có những máy bay trực thăng tấn công cũng bị tham dự vào cuộc chiến trận. Quân đội miền Nam Vn phải chống cự 1 với 3 người, nhưng kẻ địch củ họ không có được sự trợ lực của không quân. Pháo binh Bắc Việt lại nã đạn liên hồi vào căn cứ sân bay Biên Hòa, là nơi xuất phát của phần lớn máy bay của miền nam VN. Nhưng người ta đã vội chuyển các máy bay tiêm kích ném bom về phi trường Tân Sơn Nhất, và ở đây các máy bay này đã được tiếp thêm bom đạn và chất đốt.
Trong các cánh rừng cao su xung quanh Xuân Lộc, những căn cứ hậu cần của Bắc Việt đã được tiếp tế đầy đủ và được chỉ huy chặt chẽ. Những máy bay trực thăng của quân miền Nam đã chỉ định chính xác nơi đặt pháo và chiến xa của Bắc Việ. Các sỹ quan bộ binh của miền nam đã dễ dàng dựa vào sự chi viện của pháo binh và của máy bay. Người ta có thể trở lại thời kỳ đẹp đẽ của cuộc chiến thời Mỹ tham dự. Tính lạc quan dễ lây lan đến nỗi Homer Smith ở Sài Gòn đã gửi điện tín cho tướng Browe, chủ tịch Hội đồng ban tham mưu ở Washgton, là 1 sỹ quan cao cấp nhất trong ngành quân sự Mỹ:
“Quân đội miền Nam VN đã thu được thắng lợi đầu tiên… Lòng quả cảm và tính hăng hái của các đội quân miền Nam VN đã hình như giải quyết được 1 câu hỏi: Lực lượng quân sự của Cộng hòa Việt nam có thể tự chiến đấu được không?”
Ngày 10-4, bản tổng hợp của các cơ quan tình báo ở Washgton đã cho rằng bắc Việt sẽ không còn đủ sức mạnh trong vài tuần tới “để tiếp tục mở cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn.”
Một mặt trận ổn định cộng với ý muốn thương lượng của cả phe này và bên kia sẽ là 1 giải pháp chính trị. Bà Nguyễn Thị Bình, sau chuyến đi thăm châu Phi trở về đã tuyên bố Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ thực hiện những mục tiêu của mình ở miền Nam VN “nếu có thể bằng biện pháp quân sự
Quốc hội Hoa Kỳ đã bắt đầu họp lại từ ngày 7-4. Trong các bang và các khu ngoại vi, những nghị sỹ và đại biểu đã thăm những cử tri có ác ý đối với chế độ Sài Gòn. Có cuộc thăm dò đánh giá ý nghĩ của các cử tri. Có 2 người Mỹ trong số 3 người đã phản đối sự giúp đỡ về quân sự của Mỹ cho miền Nam VN, ngay cả khi điều đó tránh được cuộc tắm máu của dân chúng nước này. Các ban và thứ ban đã tiến hành huy động bộ máy nặng nề về dân chủ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Schlesinger tuyên bố sự tin cậy của thế giới đối với Hoa Kỳ đã chăm chú: “Chúng tôi không phải là 1 đất nước bỏ rơi bạn bè của mình, phản bội lại các đồng minh và giữ lại lời hứqa của mình”.
Ở Washington, càng ngày người ta càng nói đến những thỏa thuận bí mật đã được tổng thống Nixon thông qua. Có còn không việc nuốt lời hứa cam đoan “bằng miệng”? Nghị sỹ Henry Jackson đòi Kissinger phải ra trước Quốc hội trình bày 7 điểm về những đảm bảo mà ông ta tiến hành “không báo cáo với Quốc hội". Hơn bao giờ hết, tổng thống Ford và chính phủ của ông bị coi như thủ phạm.
Qua những cuộc trao đổi công khai hay bán công khai kéo dài, các nghị sỹ và đại biểu đã chất vấn những người chịu trách nhiệm của Bộ ngoại giao và Bộ Quốc phòng, của cơ quan CIA và của tất cả những cơ quan hành pháp. Các ban đã phân tích rõ ràng việc trợ giúp quân sự chỉ càng gây thêm thù địch và việc cần phải giúp đỡ nhân đạo.
Nghị sỹ Hubert Humphrey, cựu phó tổng thống nói trong hành lang:
- Tất cả mọi người đi dạo chơi với những lời ngọt ngào trong tai để tuyên bố là mọi việc sẽ diễn ra rất tốt. Điều đó không phải như thế đâu. Đó chỉ là 1 thảm họa. Tôi không sẵn sàng thẳng thắn chấp nhận những người mà họ không muốn dừng lại và muốn chống cự để sống sót.
Trong bầu không khí hội họp trang nghiêm, tổng thống Ford đã nói với các ông nghị sỹ và đại biểu về vấn đề giúp đỡ cho miền Nam VN. Đa số với lòng tin và cũng có người sợ làm phật lòng các nghị sỹ, nên có nhiều người trong Quốc hội cho biết là họ sẵn lòng bầu cho việc giúp đỡ nhân đạo và đồng ý với số tiền chi cho việc di tản, nhưng không chi thêm 1 đồng USD nào cho chiến tranh. Ford phải thể hiện kịp thời cho việc đó.
Tổng thống đã nhắc lại là 3 tháng trước đây ông đã đề nghị sự giúp đỡ thêm. Nhưng tối hôm nay thì “điều đó sợ là đã quá muộn”. Ông nhắc lại những luận chứng của chính phủ trước đây: Quốc hội đã từ chối việc bầu hàng loạt những sự giúp đỡ cho miền Nam VN, và như vậy đã khuyến khích cho Hà Nội gia tăng các cuộc tấn công của họ.
Các nghị sỹ không chấp nhận cách gán cho họ trách nhiệm về sự tan vỡ của miền nam VN.
Tổng thống còn nghĩ đến nhiều cách giải quyết, mà trong đó có 2 cách được coi là tốt nhất: Không làm gì hoặc lại tuyên bố chiến tranh để đòi áp dụng các điều khoản của Hiệp ước Paris.
Hai cách khác dung hòa hơn: Chấp nhận 300 triệu USD giúp đỡ quân sự theo yêu cầu từ ban đầu, hoặc tăng cường sự giúp đỡ về quân sự và kinh tế.
Ford thấy nên làm theo giải pháp cuối cùng. Tốt nhất là sẽ giúp đỡ cho miền Nam VN ổn định được hoàn cảnh về quân sự và có được 1 thủ tục về chính trị. Còn xấu nhất là có thể cho phép di tản 6 ngàn người Mỹ vẫn còn ở lại miền Nam VN và 1 số người Việt Nam khác.
Ford khẩn nài các nhà lập pháp chấp thuận số tiền ấy và sẽ quyết định vào trước 19-4
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #82 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2009, 10:52:35 am »

Ford còn nêu lên 1 vấn đề rắc rối nữa: Quyền hạn của tổng thống sẽ được như thế nào khi phải dùng đến sức mạnh quân sự để di tản những người Mỹ ở Việt Nam và “nếu điều đó là cần thiết”.
Ford nghĩ đến mọi thứ luật pháp được mở rộng dưới thời Nixon, để hạn chế quyền hành của tổng thống. Ford mong người ta cho phép gủi các đội quân Mỹ để “bảo vệ và họ tống” các công dân Mỹ. Nhưng Ford cũng không muốn dù trong trường hợp nào bị kết tội là mở lại cuộc chiến tranh. Theo hiến pháp, Quốc hội “sẽ có quyền… tuyên bố chiến tranh”. Không 1 tổng thống nào, kể cả Kennedy, Jhonson, Nixon không kêu gọi các nghị sỹ về ý nghĩa này.
Thực tế Quốc hội Mỹ chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh kể từ cuộc chiến thế giới lần thứ 2. Điều đó không cấm các ông tổng thống gửi đội quân Mỹ đến Hy Lạp, đến Triều Tiên (dưới cái danh nghĩa của Liên Hợp Quốc), đến Cộng hòa Dominique và đến Libăng. Trong vài trường hợp, người ta có thể nói chắc là chỉ có hành động của cảnh sát được mở rộng mà không phải là lực lượng quân sự để chiến đấu. Nhưng từ năm 1965, mặc nhiên các nghị sỹ và đại biểu chấp nhận tổng thống có quyền mở ra cuộc chiến tranh mà không cần tuyên bố. Và hàng năm, lập lại chuyện các nghị sỹ đã bỏ phiếu bầu cho những quỹ ngân sách cần phải chi tiêu. Cách ấy được thông qua. Tháng 7-1973, Quốc hội đã bầu 1 đạo luật xóa bỏ mọi chi phí cho tất cả “hoạt động về chiến tranh” ở Đông Dương.
Mặc dầu có sự phủ quyết của tổng thống Nixon, cũng Quốc hội ấy đã tán thành “giải pháp về những quyền về chiến tranh”, và đến tháng 11 tiếp theo giải pháp này đã chính thức thành 1 đạo luật. Người ta đã thấy theo đạo luật ấy, mỗi khi tổng thống dùng các đạo quân đưa ra nước ngoài đều phải phụ thuộc vào 1 lý do thuyết phục, để lấy cớ đó gây ra cuộc chiến.
Nhưng luật pháp nước Mỹ lại không lường trước được trường hợp như trong việc di tản ở Việt Nam.
“Quyền hạn như thế nào” cho tổng thống để “đưa lực lượng quân sự của Hoa Kỳ” vào những việc thù địch, hay trong những hoàn cảnh mà môi trường đã thể hiện rõ ràng là người ta đã có qua nhiều hệ lụy vào trong sự thù địch ấy.
Các giải pháp và luật pháp (về quyền gây ra cuộc chiến tranh) không phải là những công trình kỷ niệm về sự trong sáng của pháp lý. Ford monh muốn làm sáng tỏ vài điểm, và tự làm… một vấn đề khác: Luật pháp không lường trước việc di tản của người Việt Nam mà họ không phải là công dân Mỹ. Những nhà lập pháp chắc chắn phải chấp nhận giúp đỡ những người Mỹ trong lúc nguy hiểm, và cả người Việt Nam – Nhưng có bao nhiêu người Việt Nam muốn được di tản?
Để chấm dứt sự cam kết bí mật của Nixon, Ford đã triệu tập họp[ những người nổi tiếng và là lãnh tụ của Quốc hội, ở Nhà Trắng vào ngày 11-4.
Tóm lại Ford đã tuyên bố:
“Những cuộc trao đổi riêng giữa Nixon và Thiệu không khác gì với những việc đã được nói công khai”.
Thật là 1 luận án tuyệt vời của học vị tiến sỹ, vấn đề vẫn được giữ nguyên vẹn: Sự cam kết riêng của cựu tổng thống có buộc cho tổng thống hiện nay, và nhất là Quốc hội phải tuân theo không? Cả tổng thống và Quốc hội đều không có thời gian cho những luận đề đẵ sắp xếp như vậy.
Yêu cầu tài chính của Ford đã phải huy động tới 8 ban của Thượng nghị viện và Hội đồng dân biểu. mệt mỏi hơn nữa là việc đối chất giữa chính phủ và Quốc hội được đưa lên đài truyền hình và báo chí. Trong cuộc họp báo, Ford lại định làm cho những ye7u cầu của mình mang tính tương đối. ông đã đòi hỏi bớt ít, chỉ độ chưa đến 1 tỷ USD. Vậy thì “so sánh thế nào với 150 tỷ USD mà chúng ta đã phải chi trước đây?”.
Hiển nhiên, mặc dầu có ý tốt và có sự thiện cảm với Gérald Ford, đa số các nghị sỹ của Quốc hội cũng không sẵn sàng chấp nhận kế hoạch giúp đỡ về quân sự của Ford cho miền Nam VN. Nhưng tất nhiên Ford đã có được ngân sách cần thiết để di tản những người Mỹ. Người ta còn đồng ý với tổng thống chi 1 số tiền phụ cho việc giúp đỡ nhân đạo và để cho những người VN đã cộng tác với Mỹ không rơi vào tay CS
Ford đã tiếp tất cả các uỷ viên của Quốc hội phụ trách về vấn đề đối ngoại trong 1 giờ rưỡi. Cả người của Cộng hòa và Dân chủ đều muốn tổng thống phải hứa đưa được nhanh chóng những người Mỹ ra khỏi VN. Còn người VN di tản phải thuộc vào kế hoạch thứ 2.
Nhưng có bao nhiêu người VN mà Mỹ phải đưa đi?
Ford đã trả lời:
“Nói chung, phải có từ 175.000 đến 200.000 người. Chúng tôi phải có trách nhiệm về đạo đức và phải giúp đỡ những người mà trước đây họ đã giúp chúng ta”.
Tổng thống không muốn ấn định rõ thời hạn với các nghị sỹ. Rút những nghị sỹ ra khỏi miền Nam VN vào lúc này sẽ gây ra sự hoảng hốt và cũng gây nguy hiểm đến đời sống của những đồng hương đang còn lại tại miền Nam VN.
- Chúng tôi cần phải tranh thủ thời gian. Việc làm đó sẽ phải mất vài ngày.
Ở Washington có người đã nói đến con số người VN di tản có thể lên đến 1 triệu người và sẽ chuyển họ đi bằng tàu biển. Nhưng cần phải có bao nhiêu lính bộ binh và lính thủy Mỹ để bảo vệ cho 1 chiến dịch di cư lớn như vậy? Cần phải có nhiều sư đoàn?... Các nghị sỹ chỉ mong có 1 con số là 200.000 người VN được di tản.
Ban của thượng nghị viện đã yêu cầu tạm thời 1 sự hợp pháp cần kíp. Ban này đã đồng ý cho tổng thống có quyền khi cần thiết sử dụng sức mạnh vào việc di tản những người Mỹ và 1 số người VN ra khỏi miền Nam VN.Có bao nhiêu người VN mà người ta có thể đưa họ ra đi và làm sao cho họ được di tản theo con đường hợp pháp của nước Mỹ? Người ra khỏi Hoa Kỳ không cần phải trình 1 thẻ căn cước. Nhưng khi người ta vào Hoa Kỳ thì rất khó khăn, nhất là về thủ tục và Quotas áp dụng đối với người VN cũng như đối với mọi người di cư khác. Bộ ngoại giao đã tranh cãi về vấn đề này. Riêng trong ngày 14-4 cần phải biết ở đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn có bao nhiêu người và Việt Nam sẽ được vào được Hoa Kỳ “theo lời thề”. Điều này không phải thuần tuý là lòng vị tha. Người ta muốn “loại bỏ” 1 trong các lý do đã đẩy vài người Mỹ từ chối không chịu rời bỏ VN. Đó là sự tồn tại những người vợ của họ hay những đứa con có nguồn gốc là người VN. Bộ Tư pháp Mỹ chịu trách nhiệm về các công việc di cư đã ra quyết định về những tiêu chuẩn.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #83 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2009, 10:52:57 am »

Muốn di cư vào Hoa Kỳ cần phải có:
1- Kết hôn hợp pháp với 1 người đàn ông hay người đàn bà là công dân Mỹ.
2- Con là của người chồng hay người vợ là công dân Mỹ
3- Có cha hay mẹ là công dân Mỹ
(ví dụ: 1 người phụ nữ VN qua hôn nhân đã trở thành người phụ nữ Mỹ)
4- Có cha hay mẹ chỉ có tính liên kết của người nước ngoài với 1 công dân Mỹ
(ví dụ: 1 phụ nữ VN lấy chồng là người Mỹ nhưng người này chưa phải là công dân Mỹ).
5- Con còn nhỏ không qua hôn nhân mà chỉ có quan hệ với người nước ngoài
(ví dụ: Con trai hay con gái của 1 phụ nữ VN đã có con riêng trước khiu lấy 1 công dân Mỹ).
Mỗi một người ra đi phải có những tài liệu chứng nhận mối dây họ hàng với 1 công dân Mỹ.
Những người làm thủ tục ở Washington có cảm tưởng như đã lên được những quy định rõ ràng, hợp pháp, và độ lượng về vấn đề di cư vào Hoa Kỳ. Nhưng khốn thay, họ chẳng hiểu gì về thực tại của người VN. 1 con số chưa chính xác về những công dân Mỹ ở VN là thợ, là đốc công, là kỹ sư làm việc cho hãng tư nhân, là phóng viên, nhiếp ảnh đã sống từ lâu ở VN với người vợ không có cưới xin là phụ nữ VN và đôi khi họ đã có với nhau nhiều đứa con. Có người đơn giản còn tự cưới nhau hẳn hoi mà không qua thủ tục của chính quyền sở tại.
Những người làm việc ở Washington theo cách bàn giấy quan liêu chỉ đơn giản nghĩ đến những thành phần của gia đình Mỹ gồm có chồng, vợ, 1 hay 2 đứa con hay thêm nữa là 1 hay 2 ông bà đi cùng. Nhưng 1 gia đình người VN đã đến trình với các cơ quan của lãnh sự thường có từ 15 đến 30 người. Trong trường hợp gia đình Mỹ - Trung Hoa lại có tới 50 người.
May mắn thay, ở Sài Gòn có những viên chức Mỹ đã hiểu rất rõ chuyện này nên giải quyết mọi vấn đề mềm dẻo hơn. Hàng ngày, những chuyến máy bay cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất đều hạn chế số ghế ngồi. Vì người ta còn nghi ngờ về quyết định số người được di tản hay phải ở lại. Đây là sự lựa chọn đáng ghê sợ, bởi vì hầu như những người VN đề nói với các viên chức ở lãnh sự quán:
- Tùy các ông muốn lựa chọn thế nào cũng được. Khi người ta không thể chấp nhận cho cả 1 gia đình ra đi, người ta phải theo 1 nguyên tắc: Không được để lại ở Sài Gòn những ông bà già bà cả phải sống 1 mình mà không có 1 con trai hay con gái sống chung để giúp đỡ cho bố mẹ già sống được.
Để điều chỉnh hoàn cảnh của 1 số phụ nữ VN, người ta soạn thảo và thêm vào “tài liệu của đôi vợ chồng”. Những ông chồng tương lai người Mỹ phải ký vào 1 bản tuyên bố hứa hẹn sẽ cưới người phụ nữ VN ấy. Ở thành phố, cái giá chó ông chồng đã cưới hay mới đính hôn là người Mỹ, người Pháp, người Đức… đã lên giá rất cao. Những gia đình của 1 số phụ nữ trẻ phải nộp bằng tiền mặt ngay là 150.000 USD. Trên các báo chí đang đầy những tin quảng cáo tìm chồng là người nước ngoài.
Còn có những người VN tìm đến những người Mỹ mà họ quen biết để nhờ vả can thiệp giúp cho họ được ra đi. Nhưng người Mỹ nào có thể đảm bảo được cho họ và giúp đỡ cho họ được đi khỏi Sài Gòn trong tình hình này? Về phía các cấp trên và theo lý thuyết, trước khi cấp hộ chiếu cho việc ra đi, lãnh sự Mỹ phải tin chắc người sẽ được cấp hộ chiếu sẽ phải qua thủ tục của các nhà chức trách VN.
Để có được tấm hộ chiếu không phải là 1 việc đơn giản, chưa nói gì đến các thủ tục hải quan. Người Mỹ lại thường vi phạm các thủ tục của người VN dễ dàng hơn theo luật pháp nước Mỹ. Từ đầu tháng 4, lãnh sự đã chấp nhận 1 loại giấy phép cho đi do Bộ Nội vụ VN cấp, có thể là làm giả, hay được cấp bình thường, hay bỏ tiền mua giấy phép đó.
Để làm cho mọi công việc tiến hành trơn tru, người ta hứa với các viên chức của Bộ Nội vụ hay các viên chức ở Sở di cư là cho họ di tản với cả gia đình của các viên chức ấy nếu họ muốn chứng tỏ sự cộng tác. Ở Sài Gòn vào thời kỳ bình thường ngay cả khi người ta muốn câu kết với các viên chức cũng phải mất hàng tuần, đôi khi hàng tháng mới có được tấm hộ chiếu chính thức. Có tới hàng chục ngàn người đã nộp đơn xin ra đi, nhưng họ mất công hy vọng hão huyền về những tấm hộ chiếu, giấy thông hành qua cửa khẩu, các tài liệu về hải quan, thuế khóa được cấp nhanh chóng. Lập tức kỹ nghệ làm giả các giấy tờ này nảy nở ở khắp nơi. Người Mỹ cũng hiểu ngay rằng không nên so đo, tằn tiện trong việc cấp các giấy phép ra đi. Ở Washington người ta đã nói đến có khả năng đến 1 triệu người di cư, trong khi tổng thống chỉ đưa ra con số 200.000 có thể được di cư. Ở đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn không nhận được 1 chỉ thị nào về con số được ra đi. Chỉ riêng có ngày 26-4 người ta cho phép Graham Martin được thu xếp cho 25.000 người VN ra đi.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #84 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2009, 10:53:24 am »

Bên cạnh đường dây di tản đã tràn đầy, còn có những mạng di cư chính thức được thành lập song song do các hãng của Mỹ, các sỹ quan hàng không của Mỹ, do cơ quan CIA hay do 1 cơ sở đặc biệt nào đó, tự đứng ra tổ chức việc di cư. Cũng như 2 viên chức cao cấp của Bộ Ngoại giao là Lrry Johntone và Lionel Rosenblatt độ 30 tuổi làm việc ở Washington sau khi đã thực hiện xong 1 vai trò đứng đầu 1 vị trí ở Sài Gòn đều thấy ngạc nhiên về sự chậm trễ của cơ quan hành chính. Họ xin nghỉ và dùng tiền riêng của họ bay đến thủ đô của miền Nam VN. Trong 6 ngày, 2 người này đã dùng chiếc Citroen cổ lỗ đi ngang dọc khắp nơi trong Sài Gòn. Họ đã nắm được những giấy tờ giả, hẹn đến nơi bí mật trước nhà bưu điện hay nhà thờ để tập hợp các người chạy trốn của họ.
Larry Johnstone nói:
- Thật như là đóng kịch mà không có trong kiểu của Bộ Ngoại giao (ý muốn nói về việc tổ chức di cư lậu).
Khó khăn chủ yếu là làm sao đưa được những hành khách lậu này ra được sân bay khi mà cảnh sát và các đội tuần tra quân sự làm việc rất nghiêm ngặt. Có vài người chạy trốn đã chui vào trong thùng đựng hành lý của xe Citroen để vượt qua các vọng gác ra được sân bay. Bằng cách đó Johntone và Rosenblatt cùng với Jim Eckes làm việc ở hãng máy bay Continental Air Services đã đưa chót lọt 200 người VN ra đi mà theo 2 viên chức cao cấp này cho biết, thì trong đó có 20 người thấy lo sợ bị nguy hại nếu họ bị rơi vào tay Bắc Việt
Trong ngôi chùa của mình, sư Thiện Huệ cũng đã có quyết định dù có xảy ra chuyện gì, cũng nhất định ở lại Sài Gòn. Người anh cả của sư Thiện Huệ là thiếu uý đi hộ tống dẫn giải những người lính của Bắc việt bị bắt làm tù binh ở Xuân Lộc. Viên thiếu uý này khi dẫn giải tù binh đi qua Sài Gòn đã gặp cha mẹ khuyên nên ra đi. Cha mẹ thiếu uý khuyên anh nên đào ngũ, nhưng viên sỹ quan này đã từ chối.
Cộng đồng người châu Âu và người Mỹ thường lui tới các câu lạc bộ thể thao hàng ngày, và ở đây họ đã áp dụng được các thể lệ: cấm mặc áo lót đi dạo chơi trong thành phố, trừ trường hợp ở gần các bể bơi, bắt buộc phải đi giày trắng dùng cho người chơi quân vợt khi vào sân chơi. Người ta đi dạo thong thả bên các hàng cây me, dự vào 1 trò chơi nào đó. Cách đây vài tuần lễ còn có 1 số ít phụ nữ trát lên người thứ kem có màu hổ phách. Những chàng trai trẻ mặc áo vét màu trắng phục vụ khách những chai Wisky hay rượi Gin. Những khu phố nhỏ bé sáng nhấp nháy trên những chiếc đĩa bằng thủy tinh. Những chiếc quạt máy chạy vù vù vừa tạo ra 1 sự vui vẻ giả tạo và 1 sự lo lắng cụ thể. Những người Mỹ, người Pháp và người Úc trao đổi với nhau những tin tức cuối cùng. Đôi khi họ lại phá lên cười thoải mái.
Ed Daly, chủ tịch hãng máy bay World Airways đã mời các nhà báo đến khách sạn của ông ta ở Tokyo và đọc cho họ nghe bức điện gửi đến tổng thống Ford và nói sẽ cử chiếc máy bay DC-8 và chiếc Boeing-727 chở đầy người chạy trốn khỏi Sài Gòn. Nhưng có lệnh không ai được phép lên máy bay nữa. 2 chiếc máy bay của Ed Daly lại phải trở về Tokyo mà không đón được người nào. Người ta không biết là tổng thống Ford có đọc bức điện của Ed Daly hay không: “Ngài hãy ngăn cấm các nhân viên CIA không được can thiệp vào việc này. Xin cử tới đây vài người tận tâm và trung thực của ngài và thực sự làm được việc. Với danh nghĩa cá nhân và danh nghĩa nghề nghiệp của 1 trong những người có công đóng góp to lớn, tôi có quyền được biết 1 ý kiến của ngài và chúng ta hãy bắt tay vào công việc”.
Các cơ quan ở sài Gòn thấy lời lẽ của bức điện ấy chướng tai, nhưng qua tính cách dung tục của Ed Daly hắn đã biểu lộ 1 thực tế: Ông đại sứ Graham Martin để tránh 1 thảm họa đã cho dừng lại việc di btản.
Gần câu lạc bộ thể thao và trên những thảm cỏ của Dinh Độc Lập, binh lính đã bố trí những khẩu pháo phòng không, họ đào các hầm hào, dựng các ụ có xếp bao cát và đặt những khẩu trọng liên. Việc làm này có thể là để chống lại quân đội Bắc Việt, nếu họ tấn công đến đây, và cũng có thể để chống lại những binh lính miền nam VN nổi loạn hay trong trường hợp xảy ra cuộc đảo chính?
Về phần Dinh Độc Lập cũng đã phát đi những tuyên bố chung chung và những câu khuyến khích như kiểu niệm thần chú. Tổng thống Thiệu cho biết là đoàn người của ông luôn mong muốn và sẵn sàng thương lượng với CS. Còn chính phủ “sẽ không bao giờ đầu hàng”
Cuối cùng nội các mới của Cẩn cũng đã được thành lập. Những thành phần dân sự của nội các đã công khai bày tỏ là không tin vào giải pháp quân sự, và họ đã thấy chán nản về chiến tranh cũng như phần lớn đồng bào của họ. Nhiều người muốn Thiệu phải từ chức nhưng không dám nói thẳng điều đó với Thiệu. Còn tất cả các tướng lĩnh đều đồng ý là nếu người ta không làm 1 việc gì thì miền Nam VN sẽ bại trận. Nhưng tất cả mọi người lại lẩn tránh “làm 1 việc gì đó”.
Chính phủ được thành lập 1 cách khó khăn đã giữ 1 khoảng cách trong quan hệ với tổng thống Thiệu. Trong nỗ lực cuối cùng, Thiệu đã yêu cầu mọi người phải chiến đấu, chuẩn bị 1 cuộc phản công, và ổn định ở hậu phương cũng như ở mặt trận.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #85 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2009, 10:53:47 am »

Đóng góp vào sự cố gắng chiến tranh, tòa thị chính Sài Gòn đã ban bố những luật lệ mới bao gồm… sự đi lại: Chắc là để tránh các vụ mưu hại nên toà thị chính đã ấn định xe chạy trong thành phố không được phóng tối đa, với xe đạp là 15km/giờ, xe vận tải và xe buýt là 25km/giờ, xe ô tô và cảnh sát là 40km/giờ…
Trong trường hợp có báo động thì “nhân dân không được hoảng sợ…”
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #86 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2009, 01:29:05 pm »

4- LẤY ĐÁ LẤP BIỂN

.
Ở Quai d’Orsay, người ta nhấn mạnh không phải ai cũng biết được những vấn đề nghiêm trọng. Việc ngoại giao của Pháp diễn ra kín đáo, nhưng không phải là bí mật. Ở Sài Gòn, mọi người đều biết đến vị trí của Pháp: Ông đại sứ Mérillon muốn sử dụng đến cùng con bài của lực lượng thứ 3 và Minh “lớn”. Đối với người Pháp thì miền nam VN sẽ bại trận, nhưng chế độ Sài Gòn chưa đến nỗi sụp đổ trong vài tuần lễ nữa. Cần phải đảm bảo cho sự sống sót phần nào của miền Nam VN. Bắc Việt chưa phải vội vàng và họ sẽ chấp nhận hình thức 1 chính phủ trung gian với Minh “lớn” là người đứng đầu.
Đó là điều nhận xét về tình thế của Pháp mà Pierre Brochand đã nói với Thomas Polgar ngày 13-4 ở bên cạnh bể bơi của câu lạc bộ thể thao. Brochand là cố vấn thứ 2 của đại sứ quán Pháp và là chuyên gia về các việc ở Đông Dương. Brochand da nâu và đẹp trai, nói giọng của người miền nam nước Pháp, là trợ lý chính của Mérillon về những vấn đề chính trị. Đã từ lâu Brochand nhẹ nhàng trách móc đại sứ Mérillon là không nhìn nhận đến những con người thuộc lực lượng thứ 3 trong chính quyền của Thiệu. Mérillon hiểu rằng nếu ông thuờng xuyên lui tới Minh “lớn” sẽ làm cho Thiệu không hài lòng.
Còn Brochand và Polgar thì thời gian gần đây đã thường xuyên gặp Minh “lớn”. Lúc này Polgar cũng nghĩ đến 1 giải pháp chính trị là Thiệu phải ra đi và thay thế bằng 1 người khác.
Hơn nữa cố vấn Pháp đã chứng tỏ 1 thực tế là nước Pháp sẵn sàng tiếp nhận 50.000 người VN di tản. Việc làm này là Brochand đã áp dụng đường lối chính trị của Mérillon. Mérillon người khá nhỏ nhắn, cận thị, cự sinh viên, ăn nói lưu loát, được Georger Pompidou chỉ định làm đại sứ ở Sài Gòn. Khi Mérillon trình quốc thư tới Thiệu đã được nghe bài quốc ca La Marseilaise được cử lên để chào mừng ông đại sứ. 10 năm rồi, Sài Gòn mới cử lại bài quốc ca của Pháp. Mérillon có nhiều mục tiêu. Phải lo đến sự an ninh của người Pháp hiện có khoảng 10.000 người đang có mặt tại miền Nam VN. Mérillon đã cho dùng những máy bay riêng của Pháp đón 300 người Pháp ở cao nguyên về Sài Gòn.
Trong viễn cảnh Bắc Việt sẽ chiếm được Sài Gòn nên Mérillon phải có biện pháp bảo vệ cho cộng đồng, nhất là ở thời kỳ biến động phức tạp như thế này. Mérillon cần phải chơi con bài có lợi nhất cho nước Pháp. Trong 2 miền Việt Nam, đường lối chính trị của Pháp chỉ là 1 mớ pha trộn giữa những kỷ niệm não nùng và những ước mong không rõ ràng.
Đối với Quai d’Oray thì Việt Nam không phải là đối tượng được ưu tiên. Có nnhiều người Việt Nam ở Sài Gòn, nhất là ở những người đã trên 40 tuổi, vẫn nhắc lại việc họ gần gũi với người Pháp hơn là đối với người Mỹ. Người Pháp có tình cảm hơi tỏ ra quá mức về tầm quan trọng: về lịch sử mà trước đây họ đã làm tất cả mọi việc ở Đông Dương. Về ngoại giao, mà hiệp ước năm 1973 đã ký ở Paris.
Khi Mérillon rời Paris đến Sài Gòn đã xin chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ông Michel Robert đã trả lời:
- Không cần có chỉ thị gì đối với ông đại sứ - Tự ông phải đưa ra quyết định của mình.
Sau đó Michel Robert còn nói thêm:
- Một thành phố nhỏ tồi tàn như Sài Gòn thì sao? Ông đã co đại sứ quán và thế đã là quá đủ (Tỏ ý coi thường Sài Gòn).
Đại sứ quán Pháp ở Sài Gòn rất đẹp. Trong dinh cơ của mình, Mérillon ngắm nhìn những chiếc cầu thang xoáy trôn ốc chạy lên các tháp canh phòng thủ, và nhớ đến thời kỳ những ông đô đốc làm toàn quyền sống ở đây. Trên các bức tường quét vôi trắng treo những bức tranh sưu tập về Huế với màu xanh và những dòng thác im lặng. Có 1 số đĩa bằng bạc được dán tem hình vòng nguyệt quế của hoàng gia.
Trong đại sứ quán xinh đẹp của mình, Mérillon muốn làm 1 vụ chính trị lớn. Ông đại sứ tiếp nhiều người, lắng nghe và động viên họ. Mérillon là 1 trong những ông đại sứ hiếm hoi được Graham Martin mời ăn. 2 người này tự đánh giá cao nhau. Theo lời khuyên của Polgar, Martin đã không chấp nhận chi nhiều tiền vào công việc thu thập tình báo về quân sự và chính trị của người Pháp. Những người Pháp này là những chủ đồn điền, là thầu khoán, là linh mục, sống phân tán trong tỉnh, thành ở miền Nam VN nhưng không thể so sánh được với mạng lưới mạnh của CIA.
Nhưng ngược lại Martin sẵn sàng nghe kế hoạch về chính trị của Mérillon. Người ta có thể dùng những người Pháp đến mức tối thiểu. – 2 tòa nhà đại sứ quán đều gần đại lộ Thống Nhất. 2 ông đại sứ đã cho lắp đặt đường dây điện thoại đỏ trực tiếp giữa 2 văn phòng của 2 ông đại sứ Mỹ và Pháp. Về phía người Pháp, máy điện thoại liên hợp được đặt ở phòng làm việc của Mérillon. Trong 1 lần đến thăm ông đại sứ Pháp, sứ thần của tòa thánh đã ngao ngán khi nhìn thấy ông vội vàng chạy ra khỏi phòng làm việc, và cho rằng Mérillon bị cơn đau bụng.
Martin đang muốn tìm lối thoát về chính trị nên ngày càng thiên về ý kiến của ông ngoại giao Pháp. Vào giữa tháng 4, Martin và Mérillon cùng thỏa thuận thấy Thiệu đúng là 1 vật cản.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #87 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2009, 01:29:52 pm »

Ngày 16-4 ấy, vào lúc 16 giờ 50, Martin cùng với đô đốc Hugh Benton, được chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương cử đến để nghiên cứu kế hoạch di tản cho 200.000 người VN. Đô đốc Benton đề xuất là nên cho họ đi từ Cap Saint Jacqques. Từ đó sẽ để cho họ cập vào các bếbn Thái lan, Philipines, Singapore. Martin tỏ ra hoài nghi về kế hoạch này và đã giải thích mối nghi ngờ của mình cho Benton thấy.
Là cựu sỹ quan tình báo trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ 2, Martin không cần khiêm nhường, tự cho mình có thẩm quyền hơn bất kỳ 1 ông tướng hay ông đô đốc hải quân nào. Và Martin càng cho mình có thẩm quyền hơn trong việc giải quyết di tản. Khi còn ở Paris (thời chiến tranh thế giới lần thứ 2) Martin đã lên kế hoạch di tản cho những người Mỹ ở trường hợp Liên Xô sẽ tấn công vào Tây Âu. Bản thân Martin đã đi đến Bruxelles, ngược lại với làn sóng người đang di tản chạy xuống phía Nam. Và Martin cũng không nghĩ đến việc đưa người Mỹ hay số người VN của mình chạy ngược về Hà Nội. Theo Martin, kế hoạch của đô đốc Benton khó đứng vững và rất đắt tiền. Cần phải thuê tàu chở hàng độ 16 chuyến mỗi ngày với giá là 250.000 USD cho mỗi chuyến. Được 1 số cộng tác của mình gánh đỡ trách nhiệm, Martin bắt đầu quan tâm tới vấn đề di tản hơn.
Sau đó thấy tâm hồn như đã chết không còn muốn làm việc gì nữa, Martin đã có ý nghĩ xin về hưu. Ngày 17-4, Martin nhận được bức điện của Kissinger mà chỉ có ông đại sứ thấy được sự bối rối trong nội dung bức điện ấy:
“Ông phải biết rằng, hầu như không có người nào ủng hộ ý kiến cho người VN di tản hay sử dụng sức mạnh để bảo vệ cuộc di tản. Theo giới quân sự và Bộ Quốc phòng và cơ quan điều hành của CIA thì ý nghĩ chủ yếu của họ là phải thi hành ngay lập tức việc di tản các công dân Mỹ khỏi Sài Gòn”
Chính Kissinger đã thảo bức điện ấy sau khi đã họp với những người có trách nhiệm cao cấp của các bộ và các đơn vị phụ thuộc. nhưng Kissinger cũng đồng ý với Martin là cần thiết phải tránh những phản ứng hoảng hốt theo dây chuyền. Ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho biết đến thời hạn ngày 24-4, ở miền Nam VN chỉ còn hơn 2000 người Mỹ.
Những người lãnh đạo của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Hà Nội đã tổ chức chuyến thăm Đà Nẵng đã được giải phóng vào ngày 22-4. Họ mời Alexandre Casella, 1 công dân Thụy Sỹ, nửa với tư cách là nhà báo, nửa là nhân viên quốc tế và lãnh sự của cao uỷ về vấn đề di tản, đang có trụ sở đặt tại Hà Nội, cùng sáp nhập vào đoàn cán bộ cao cấp của Chính phủ cách Mạng lâm thời. Người ta bảo Casella:
- Ông có thể cùng đi với chúng tôi vì ông cũng là nhà báo mà không chỉ là đại diện của Cao uỷ về vấn đề di tản.
Đoàn này gồm có cả các phóng viên của báo Le Monde của hãng IFP và của báo Pravda, của hãng Chine Nouevelle, các nhóm vô tuyến truyền hình của Thụy điển và Pháp. Máy bay Yak-40 chở họ đã hạ cánh xuống sân bay lớn của Đà nẵng. Phòng đón tiếp của nhà ga sân bay đã có treo bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thành phố tỏ ra yên tĩnh. Trên đường phố có rất ít bóng dáng quân đội Bắc Việt. những người của Chính phủ Cách mạng lâm thời điều khiển giao thông. Các cửa hiệu của người Trung Hoa đều treo cờ của nước CHND Trung Hoa. Điều này làm cho đại diện của hãng Chine Nouevelle rất vui lòng.
Cuộc đi thăm các nơi được hướng dẫn chu đáo. Cảm giác chung của mọi người đều thấy là tốt. Khi đoàn đến thăm 1 trại trẻ mồ côi do các tu sỹ VN phụ trách, 1 bà tu sỹ tuyên bố:
- Ở Đà Nẵng không có cuộc chiến trận nào. Chúng tôi được quân đội Bắc Việt để tự do. Chúng tôi đang chăm sóc các trẻ mồ côi của chúng tôi.
Khi quay trở về Hà Nội. Casella đã viết bản báo cáo gửi về Liên Hợp Quốc và được ông Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã cho công bố công khai. Bản báo cáo này khẳng định chắc chắn là kế hoạch về thực phẩm ở Đà Nẵng diễn ra bình thường. Những người dân di tản đã trở về nhà của họ, khu dân nghèo hầu như vắng vẻ, thiếu thốn: Người ta cần có sự giúp đỡ khẩn cấp với thời hạn sớm nhất. Cần phải có sự cứu tế nhiều mặt để người dân có thể trở về làng xóm của họ sinh sống được.
Các báo chí ở Hà Nội vui mừng đăng những bài với tít lớn: "Một viên chức của Liên Hợp Quốc đã đến Đà Nẵng. Cuộc sống ở thành phố này đã trở lại bình thường.”
Casella từ Đà Nẵng trở về trong chuyến đi thú vị, và đối với người Bắc Việt thì sự kiện này là tuyệt vời.
Ở vùng ngoại ô Sài Gòn, Frank Snepp đã gặp 1 gián điệp cừ khôi của ông.
Người này nói dứt khoát:
“Bắc Việt đã quyết định chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng. Không có vấn đề về giải pháp ngoại giao – chính trị”.
Nhưng Martin và Polgar lại không thấy sự quan trọng của báo cáo đó.
Còn đại sứ Pháp ở Sài Gòn Jean – Marie Mérillon lại theo chiến lược chính trị của mình là làm áp lực với Minh “lớn” và với Martin.
Nhà ngoại giao Pháp đã gặp Minh “lớn” vào ngày 17-4, đảm bảo với Minh “lớn” tin dựa vào nước Pháp. Mérillon liến thoắng trình bày 1 kế hoạch lớn về công việc chính trị. Ở tại nhà của mình, Minh “lớn” đồng tình với Mérillon là phải tránh không để cho Sài Gòn xảy ra chiến sự và đẫm máu. Nếu những người CS chiếm được thành phố thì hầu như chắc chắn sẽ không còn tồn tại vài kiểu sống như trước đây. 2 người nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, và cùng thấy xúc động.
Minh “lớn” đã rơm rớm nước mắt, nắm lấy tay Mérillon, bắt rất chặt và lâu:
“Thưa ông đại sứ! Ông là người có tâm huyết. Tôi sẽ thử làm việc này…”
Mérillon đã nhận được chỉ thị ở Quai d’Orsay 1 bức điện thật lạ lùng và ngông cuồng:
“Tóm lại: Phải cho Thiệu ra đi và đưa Minh lên làm tổng thống!”.
Chính quyền miền Nam đã cho đăng trên các báo chí lời tuyên bố:
“Đã đẩy lùi được những cuộc tấn công ồ ạt của CS ở Xuân Lộc. Lực lượng quân đội CHVN đã chứng tỏ sự quyết tâm của họ bảo vệ đất nước và khả năng chiến thắng được quân xâm lược CS”.
Nhưng rõ ràng việc nói “khả năng chiến thắng” là không thể tin được, vì cùng trong lúc này chính phủ đã chuyển hết số vàng dự trữ sang Hoa Kỳ. Nếu Quốc hội Mỹ không bầu cho việc viện trợ thì Thiệu sẽ nói rằng số vàng đó dùng để mua vũ khí và đạn dược.
Thiệu đã rút lui về sống ở nhà riêng trong căn hầm bằng bê tông ngầm dưới mặt đất ở ngay trong Dinh Độc Lập. Thiệu được tin là lính thủy và biệt động quân đã san bằng tất cả mồ mả tổ tiên của mình ở ngôi làng gần 1 thành phố ven biển Phan Rang. Mệt mỏi và rã rời về điềm xấu này, Thiệu đã từ chối không trả lời cú điện thoại của đại sứ quán Mỹ gọi sang.
Martin đã ý thức được sự lo lắng của nhân dân Sài Gòn nên thấy cần phải làm cho nhân dân yên lòng. Martin đã ra lệnh cho Alan Carter phụ trách các công việc về thông tin, lên đài vô tuyến truyền hình để nói về việc này. Martin không ưa gì anh chàng rậm râu, người đã không có cùng quan niệm với ông đại sứ trong vấn đề phải làm sao ổn định được tư tưởng cho người dân Sài Gòn. Có thể Martin lại cảm thấy vui thích khi buộc Alan Carter làm công việc khó khăn này.
Carter tỏ ra không thoải mái khi phải ra mặt trên truyền hình và có 1 ngưới VN hỏi Carter:
- Hiện nay có lời đồn đại là nếu không có được sự tích cực giúp đỡ cho chính phủ miền Nam VN, thì người Mỹ sẽ phải di tản vào ngày 19-4…
Carter kiêu hãnh trả lời:
- Lời đồn đại ấy là không có căn cứ. Nếu ông đến thăm toà đại sứ và bà vợ vẫn còn có mặt ở đó, ông sẽ thấy chẳng có biểu hiện gì về việc di tản. Ngay cả ở nhà tôi cũng vậy.
Một câu hỏi khác:
- Theo lời đồn đại khác, lãnh sự của các ông đã cấp giấy phép di tản cho vài người VN nếu như vậy… người ta sẽ xếp hàng rồng rắn trước các cơ quan của lãnh sự.
Carter phản ứng ngay:
Lại có tin đồn nữa à! Lãnh sự quán chỉ đảm bảo những công việc bình thường của họ. Người ta làm đầy các thủ tục về hôn nhân cấp giấy khai sinh và các hộ chiếu.
Này! Người ta có biết được không, con số người theo quốc tịch Mỹ trong cộng đồng người VN đã tăng lên rất đáng kể đấy. Nhưng Carter cũng thấy rõ có nhiều người xem vô tuyến truyền hình đã nhìn thấy hàng dẫy người Mỹ đang xếp hàng chờ đợi trước sứ quán Mỹ nên carter phải nhùn nhường xác nhận.
Đúng là có 1 số người Mỹ sẽ ra đi. Khi họ trình bày hoàn cảnh thì việc người ta đi sớm trước 1 thời gian cũng là chuyện bình thường.
Tóm lại! Những người Mỹ ấy đã ra đi sớm trước kỳ nghỉ hè của họ…
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #88 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2009, 01:30:15 pm »

Việc trình bày của người phụ trách các công việc về thông tin không thuyết phục nổi người dân Sài Gòn. Những người xem vô tuyến thấy cảnh đó hiểu rằng việc di tản đang bắt đầu. Martin gửi cho Kissinger 1 văn bản về sự can thiệp trên vô tuyến truyền hình như vậy là lần đầu tiên.
Nội dung bức điện:
“Tôi thấy hình như quá trình thương lượng không có thể tiến hành được nếu Thiệu vẫn nắm quyền lực”.
Bức điện này là sự khôn khéo tuyệt vời về ngoại giao. Martin đã gủi về cho ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao “nếu không có chỉ thị tái ngược nào” thì cho phép đẩy Thiệu ra đi, nhưng tránh không làm liên lụy trách nhiệm về việc này cho Kissinger và cho tổng thống Ford. Đây là đạo đức giả hay là chuyện “thay ngựa giữa dòng”?
Sau đó Martin lại quay lại vấn đề di tản của người Mỹ, cần phải có “những đội quân của Mỹ đến đây tham dự vào những hoàn cảnh hiện nay, sau đó họ lại rút, nhưng họ sẽ phải chống lại những toán quân của miền nam VN bất mãn với việc bị người Mỹ bỏ rơi”. Ngược lại, nếu Washington có được sự bình tĩnh thì Martin có thể cho số người của ông di tản “bằng cách không ai can thiệp vào chuyện này, tôi xin nhắc lại lần nữa, đừngc ó thêm vào 1 sai lầm khủng khiếp khác trong số hàng ngàn sai lầm mà người Mỹ đã phạm phải ở VN. Thân ái kính chào!”
Bức điện số 710 này là “mật”. Ở Sài Gòn chỉ có cô nữ thư ký và người đánh điện của Martin là được biết nội dung của bức điện ấy.
Sau đó Kissinger đã trả lời Martin:
“Tôi đã bàn giao với tổng thống về nội dung bức điện của ông. Không có ý kiến bắt bẻ gì về việc ông cứ tiến hành theo chỉ dẫn của khoản 9”.
Đây là bài điếu văn ngăn và mật cho Thiệu. Trong 1 bức điện khác của Kissinger được công bố rộng rãi từ Washington đến Honolulu và Sài Gòn, thì Kissinger lại nói:
“Hôm nay chúng tôi đã có cuộc họp rất dè dặt với 1 số người của các cơ quan khác để xem xét kế hoạch của ông về việc di tản người Mỹ và người VN… Dư luận công chúng và quốc hội đều đồng tình là chúng ta phải có sự yêu tiên trước hết cho việc đảm bảo an toàn của người Mỹ… Nhưng việc đưa mọi người di tản ồ ạt theo đường biển ở Cap Saint – Jacques có thực tế không?
Ông có tin được ở vài đơn vị quân đội miền nam VN sẽ bảo vệ an toàn cho khu vực di tản được không?...”
Ngày 18-4, Kissinger lại ra 1 chỉ thị khác:
“Mặc dầu tất cả những dự định của ông và bản năng của tôi, theo cách của Washington về hoàn cảnh quân sự đang diễn biến quanh Sài Gòn và những ý định của Hà Nội thì tôi yêu cầu ông phải giảm bớt sự có mặt của người Mỹ ở Sài Gòn là 1.100 người vào tối thứ Năm này (24-4). Theo chúng ta đây là số người có thể di tản ngay trong 1 chiến dịch bằng trực thăng”.
Kissinger sợ rằng người Mỹ sẽ kết tội ông và martin là cứ chần chừ việc để cho người Mỹ được di tản sớm
Ngày 18-4, ở Hà Nội, ông thủ tướng Phạm Văn Đồng có tiếp bác sỹ Rousel, người Pháp để nhờ chuyển những ý định của ông tới tới ông đại sứ của Pháp.
Ông Đồng tuyên bố:
- Ít có may mắn tìm được lối thoát về chính trị.
Ở hầu khắp nước Mỹ đã thấy có những điều trái ngược lại. Không ai nói một cách nghiêm túc về việc để cho 1 triệu người VN di tản. Sự ước tính của Kissinger chỉ xoay quanh con số 200.000 người.
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #89 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2009, 01:30:50 pm »

Người ta dự kiến phải di tản cho 50.000 người VN trong 90 ngày. Martin cãi lại là không có thể để cho người VN chạy trốn từ Sài Gòn. Và Martin nghĩ đến con số 200.000 người di tản mà Ford đã gợi ý. Đối với các viên chức làm việc cho các công sở của Mỹ thì Martin đã chỉ rõ không úp mở là có vài địa điểm ven biển để cho người Việt Nam di tản bằng tàu biển là: “Sẽ có rất nhiều người không thể đến chố ấy được
Ngày 18-4, báo Sài Gòn có đăng 1tin quảng cáo:
“Nữ sinh cao đẳng khá xinh đẹp, đã tốt nghiệp tú tài, biết chơi đàn piano, gia đình tốt, tìm hôn nhân với người nước ngoài là quốc tịch Mỹ, Pháp, Anh, Đức hay nước khác, sẽ đưa tôi ra nước ngoài bằng con đường hợpp pháp để tôi được tiếp tục theo học đại học ở nước ngoài và chịu mọi phí tổn cho tôi ra đi.
Yêu cầu gọi điện thoại số 45.470.”
Nhưng tất cả mọi người đều không thể hình dung ra cuộc sống ở Hoa Kỳ theo chi phí của cô gái.
Cũng trong tờ báo ấy, ra ngày hôm ấy, có tin quảng cáo khác:
“Một đầu bếp người Việt, biết làm bữa ăn theo phong cách người Mỹ và làm bánh…
Tình nguyện đi bất cứ nơi nào xa khỏi nơi đây…”
Các nhà chức trách tiếp tục cho trẻ em di tản. Phần lớn là các trẻ em mồ côi. Số trẻ khác là của các gia đình viên chức miền nam VN muốn cho con của họ đến được nơi an toàn. Ngày 18-4, ở Geneva, 121 nước đã bàn cãi về những biện pháp đảm bảo và mở rộng những thỏa ước về Hồng thập tự.
Hai đại diện của 2 chính phủ Việt Nam đã đối chất với nhau.
Đại diện Hà Nội tuyên bố cầu hàng không đã cướp đem đi các trẻ em việt Nam ra khỏi tổ quốc của chúng ta là 1 sự “lừa lọc về các điều luật của nmhân quyền”
Đại diện Sài Gòn đã cãi lại là trong vùng của Chính phủ Cách mạng lâm thời thường ngày đã có những vụ “giết người” và những vụ “tàn sát tập thể”.
Bộ máy của Quốc hội Hoa Kỳ chuyển động. Kissinger đã trình diện trước 34 uỷ viên của uỷ ban các công việc đối ngoại của nghi viện. Kissinger đã nhắc lại những từ mà Martin thích dùng như: “thảm bại”. Người ta muốn tránh từ này bằng mọi giá.
Câu hỏi:
- Thưa ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, có vài ủy viên của Quốc hội biện hộ nên chiếu cố che chở cho việc Thiệu xin từ chức… Vậy ông nghĩ thế nào
Kissinger:
-… Hoa Kỳ giúp đỡ chính phủ miền Nam VN chứ không phải giúp đỡ cho cá nhân nào. (Kissinger bỏ rơi Thiệu mà chỉ nói là bảo vệ cho chính phủ miền Nam VN)… Hôm nay, ở Sài Gòn người ta đang chuẩn bị thương lượng bằng những cách mềm rẻo nhất.
Nhưng Kissinger lại không đưa ra được 1 chứng cớ nào về những cách sắp đặt tốt nhất ấy. Thực tế ở Sài Gòn có rất nhiều người muốn thương lượng, nhưng chắc là không có Thiệu trong số người đó. Đại biểu Donall Frasser mà vài tuần lễ trước đây đã có mặt trong đoàn của Quốc hội đến Sài Gòn:
- Cảm giá chung là… miền Nam VN đã mất…
Kissinger:
-… Giữa kết quả thắng lợi về quân sự và sự hoàn toàn sụp đổ còn có rất nhiều chặng trung gian… Đối với những chặng trung gian ấy, để thực hiện 1 chung cuộc được kiểm soát thì việc bỏ phiếu bầu cho vài việc can thiệp quân sự là rất cần thiết.
Các đại biểu lại xoay sang vai trò của Martin. Kissinger nhận xét rằng: “Một ông đại sứ không được bình phẩm công khai chính phủ mà chính phủ này đã uỷ nhiệm cho ông chức đại sứ.”
Frasser chen ngang:
- Rất nhiều người trong chúng tôi không tín nhiệm ông đại sứ. Chính vì chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm đối với ông này.
Kissinger bảo vệ Martin:
- Đồng ý, nhưng đây không phải là dư luận chung, nếu không thì ông ấy không còn là đại sứ của chúng ta nữa… Trong những điều kiện hiện nay thì rõ ràng nếu Hoa Kỳ thay đổi đại sứ và quyền lãnh đạo của miền Nam VN, đó sẽ không phải là cách kiểm soát hoàn cảnh tốt nhất… Ông đại sứ Martin là 1 nhà ngoại giao có khuôn phép, đã thi hành mọi chỉ thị với khả năng cao nhất của ông.
Fraster đã gặp 1 đại biểu của chính phủ cách mạng giải phóng ở Geneva, đã nói:
- Theo cảm tưởng của tôi, ông Martin đã dần dần đòi hỏi thêm những yêu cầu… người ta cho tôi biết là ông Martin có vai trò quan trọng trong việc để Thiệu ra đi. Người ta cũng còn cho tôi biết đến sự ngừng mọi cuộc tấn công quân sự.
Kissinger:
- Đã từ lâu, họ (Bắc Việt) nói đến ngừng mọi sự viện trợ cho miền Nam VN.
Lầu Năm Góc (Bộ Quốc phòng) lại muốn có sự di tản thật nhanh. Martin thì lại muốn có sự di tản từ từ. Kissinger tin rằng cách tốt nhất di tản người VN ra khỏi VN, là làm chậm lại 1 thời gian việc di tản người Mỹ. Nếu người ta để cho tất cả người Mỹ di tản, như nhiều người mong muốn như vậy, và người ta không cứu người VN họ sẽ thấy ngay binh lính miền Nam Vn sẽ nổ súng vào người Mỹ. Và thế thì người ta không còn có thể di tản được người Mỹ, nhưng tổng thống Ford lại thấy trước khi đưa 200.000 người VN di tản, phải được phép chuẩn y của Quốc hội.
Trong khi đó, Martin ở Sài Gòn đã kháng nghị:
- Điều đó không dễ dàng gì cho người Mỹ ở Sài Gòn.
Ngày 18-8, đài vô tuyến Mỹ đã công bố trên truyền hình rằng ủy ban quân sự của nghị viện đã bác bỏ yêu cầu tham dự phụ bằng quân sự ở VN. Uỷ ban đối ngoại quốc tế của thượng nghị viện lại chấp nhận để Ford sử dụng lực lượng quân sự Mỹ với cách hạn chế và thận trọng để đưa những người Mỹ đi di tản.
Mọi việc làm đều đã được thực hiện.
Đại sứ Martin không biết có chính xác bao nhiêu người Mỹ ở VN cần di tản. Ông muốn có 1 kỳ hạn để người Mỹ ra đi tất cả: Những người buôn bán, các kỹ sư, các đốc công… nhưng còn có những ngoài lề là những người Mỹ đào ngũ không có liên hệ gì với lãnh sự Mỹ khác mà Martin gọi họ là những kẻ “ăn phải bả hoa sen” (có ý nói không quan tâm tới thời sự).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM