baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:55:26 pm » |
|
Tại đại sứ quán Mỹ ở sài Gòn, nơi đang có bầu không khí rất căng thẳng, người ta đã nghĩ đến việc cho Phú mượn các máy bay trực thăng của CIA để đổ quân thay cho không quân Mỹ. Nhưng điều đó lại là sự vi phạm quả tang về Hiệp ước Paris. Không thể gửi quân viện trợ cho Ban Mê Thuột bằng đường bộ, và càng khó khăn khi phải đổ quân chỉ bằng 2 trực thăng. Vấn đề theo logic của Phú hấu như không giải đáp được. Tổng tư lệnh Bắc Việt dự đoán phải mất một tuần lễ mới có thể chiếm hoàn toàn được Ban Mê Thuột. Nhưng qua thực tế, vào lúc 17 giờ 30, thành phố đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội Bắc Việt. Hà Nội đã phát ngay tin tức về việc giải phóng thành phố : “Các đường phố đỏ rợp màu cờ, các băng rôn khấu hiệu, các hình ảnh và áp phích…” Nhân dân đón tiếp chính quyền mới. Các thầy giáo và học sinh các trường tập trung, vui vẻ nói với nhau : “Vui quá! Đúng là Sài Gòn đã xuyên tạc, thực tế rõ ràng như ngày và đêm! “ Nhiều học sinh, nhân dân các thôn xóm đã xóa bỏ tất cả những tàn tích văn hóa của Mỹ… và đi lùng sục những kẻ thù còn ngoan cố ẩn nấp để pháp hoại trật tự Thiệu ra lệnh cho Phú phải chiếm lại Ban Mê Thuột. Tổng thống miền Nam VN còn yêu cầu giám đốc Đài truyền hình Sài Gòn cử 1 đội đi cùng với Phú để quay phim cảnh quân đội miền nam tái chiếm thành phố Ban Mê Thuột. Nhưng Phú lại có những ý định khác. Chỉ riêng có hãng thông tin AFP ở phương Tây là có đặt trụ sở cả ở Sài Gòn và Hà Nội. Hãng thông tin AFP ở thủ đô của miền Nam VN do Jean – Louis Arnaud phụ trách. Trong khi xảy ra cuộc chiến ở Ban Mê Thuột thì Arnaud lại đang ở Bangkok. Bức điện của AFP ở Sài Gòn do Jean Léandri ký lại giải thích rằng những người dân miền núi đã dẫn đường cho quân đội CS. Hãng thông tấn quốc tế nắm được bức tin nhanh ấy đã khích làm cho Thiệu tức giận. Theo con mắt của Thiệu thì ở trên cao nguyên đã có những hoạt động chống đối quốc gia và cộng tác với các đội quân của CS.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2008, 02:56:09 pm » |
|
Đã từ hơn 1 năm nay, Léandri cũng như nhiều nhà báo khác ở miền nam VN vẫn thường bình phẩm về chế độ Sài Gòn. Léandri đã nhận được thông tin của 1 người VN muốn được giấu tên để đưa những tin về Ban Mê Thuột thất thủ lên đài của AFP. Hai đại úy cảnh sát đã xuất hiện tại văn phòng của hãng AFP, nhưng Léandri từ chối không nói rõ nguồn tin này được cung cấp từ đâu. Những người cảnh sát truyền đạt cho Léandri lệnh phải có mặt ở văn phòng Ban di cư. Léandri đã báo cho các bạn bè và đại sứ Pháp biết việc này để đề phòng chuyện xấu có thể xảy ra. Léandri 38 tuổi, khuôn mặt khá điển trai nhưng không chau chuốt, người gốc đảo Coise, tính tình bướng bỉnh, hay nổi nóng. Cuối cùng vào sau lúc buổi trưa, Léandri cũng dùng xe của hãng AFP do người tài xế lái, đến văn phòng di cư. Ở đây, Léandri thấy có mặt đầy đủ Bộ chỉ huy cảnh sát quốc gia. Một trong 2 viên đại úy sáng nay đã đến gặp Léandri yêu cầu Léandri phải nói rõ tên người đã cung cấp tin Ban Mê Thuột thất thủ. Léandri không trả lời và yêu cầu gặp người chỉ huy cao cấp. Đại tá Phạm Văn Quý, Giám đốc cảnh sát có thể gặp Léandri? Thực tế là như vậy, tại sao không được. Nhưng đại tá Quý lại không có mặt ở trụ sở làm việc, mà ở tận phía đầu bên kia thành phố. Léandri đi vòng quanh khắp nơi, qua văn phòng của hãng AFP, rồi quay lại văn phòng Ban di cư. Nhưng đại tá Quý vẫn không có mặt. Léandri cho xe ô tô đỗ vào một lối đi của Sở chỉ huy cảnh sát, kiên nhẫn chờ đợi ở trên sân. Nhưng rồi Léandri cũng nòng ruột và nổi giận. Người ta có bắt giữ Léandri suốt đêm hôm nay không? Vào lúc 21 giờ, bất chợt Léandri vào xe của mình, mở máy cho xe lao ra cổng. Trong bóng tối, những nhân viên cảnh sát kêu lên chạy lộn xộn. Léandri tăng tốc cho xe chạy nhanh hơn. Người lính gác cổng đã nổ súng bắn vào chiếc xe Peugeot của Léandri làm nó đâm vào tường bẹp dúm. Léandri bị trúng đạn vào thái dương, chết ngay lập tức Tin này lan nhanh chóng khắp nơi. Ở tòa đại sứ Mỹ, mọi người đều nhận được lệnh không dính vào câu chuyện “tệ hại này”. Cảnh sát miền Nam VN thề là họ đã hô buộc Léandri dừng lại, và người gác chỉ định bắn vào bánh lốp, nhưng không may đạn lạc. Cái chết của Léandri làm cho Washington, Paris và Sài Gòn đều thấy khó chịu. Có người cho rằng đây là sự thanh toán của cảnh sát miền Nam VN đối với Léandri. Hay có thể là đòn cảnh cáo với các hãng tin tức báo chí nói chung. Hay cũng có thể là đòn đánh vào uy tín nước Pháp. Cánh nhà báo tỏ tình đoàn kết với Léandri đã đăng nhiều bài bình luận về vụ này, làm cho Thiệu phải bối rối. Có rất nhiều phóng viên báo chí, truyền hình đã chết ở Đông Dương, nhưng đây là lần đầu tiên cảnh sát miền Nam VN bắn hạ một nhà báo nước ngoài. Ông đại sứ Pháp yêu cầu có cuộc gặp gỡ ở Dinh Độc Lập. Thiệu đã đón tiếp Jean Marie Mérillon, người đại diện của sứ quán Pháp và tỏ ra làm tiếc về chuyện này. Thiệu nói cũng gần như là lời xin lỗi. Thiệu không có ý đồ gì làm hại đến nước Pháp. Ông đại sứ cũng nhìn nhận rằng Thiệu là người rất có cảm tính. Không bao giờ Thiệu lại có thể giải quyết việc như thế bằng cách ra lệnh xử người bị kết tội phải chết. Báo chí và đài phát thanh ở Hà Nội bình luận về vụ Léandri đã viết : “Cảnh sát miền nam VN là những tên “phát xít””.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:36:48 pm » |
|
Vào lúc ăn điểm tâm ngày 11-3, Thiệu đã triệu tập cuộc họp ở Dinh Độc Lập gồm có : Thủ tướng Trần Thiệm Khiêm, Tổng Tham mưu trưởng liên quân Cao Văn Viên. Cố vấn an ninh quốc gia Đặng Văn Quang và chỉ huy trưởng Vùng II chiến thuật Phạm Văn Phú. Những người hầu bàn phục vụ bữa ăn sáng tại hành lang của lầu 3. Theo Tổng thống Thiệu thì ở nơi này mới tránh được máy ghi âm cài nghe trộm của Mỹ vì tiếng xe máy chạy dưới lòng đường sẽ át tiếng người nói chuyện. Thiệu không tỏ ra buồn phiền về diễn biến cuộc chiến ở Ban Mê Thuột. Thủ tướng Khiêm hỏi tướng Phú : - Vào giờ này, người ta có thể chiếm lại BMT được không? Phú trả lời quanh co, yêu cầu tăng viện quân, các phương tiện chuyển quân, các lương thực và vũ khí. Thiệu quay hỏi tướng Viên nhưng ông Tổng Tham mưu trưởng liên quân báo cáo là không sử dụng được các thứ dự trữ ấy và rất thiếu trực thăng. Trên giấy tờ, quân đội Cộng hòa miền Nam VN có 430 máy bay trực thăng, nhưng có đến nửa số đó đã bị bắn rơi hoặc không còn dùng được nữa vì thiếu các phụ tùng thay thế. Một cuộc tranh cãi lộn xộn đã mở ra. Thiệu kết luận và ra lệnh cho Phú tái chiếm lại BMT. Phú đã bị thuyết phục là bởi phần nhiều người dự cuộc trao đổi này đã yêu cầu thiệu cho rút quân ở Pleiku và Kontum. Người ta vẫn thường thấy những cuộc trao đổi với Thiệu luôn thiếu sự quyết đoán. Tổng thống thường trả lời những câu hỏi ấy theo thói quen cũ và rất mơ hồ, người ta sẽ xem xét, tại sao không thể được, vì điều đó là không có thể. Chắc chắn việc Pleiku phải di tản đã được quyết định; kể cả thủ tướng Khiêm và Tổng Tham mưu trưởng liên quân, đều không phản đối việc đó. Thiệu chấp nhận mất Pleiku để cứu BMT. Phú lại thấy mất Pleiku để cứu lấy Sở chỉ huy Vùng II chiến thuật, mà Phú sẽ cho chuyển dời đến nơi khác. Còn thủ tướng Khiêm không đả động gì đến chuyện này, vẫn nghiêm chỉnh ngồi im với bộ âu phục quen thuộc màu xanh xẫm, áo sơ mi xanh nhạt và cà vạt đỏ, mà theo lời vợ ông thì mặc bộ âu phục như vậy để có được mọi sự may mắn. Trông Khiêm giống như một ông phụ trách kế toán đáng kính. Như thường lệ, Khiêm tỏ ra như hờn dỗi, rầu rĩ ủ ê, thực ra Khiêm chỉ thân trọng, ít khi đưa ra chính kiến của mình hay áp đặt những mệnh lệnh. Người ta cho rằng Khiêm ấp ủ mộng tổng thống. Khiêm hài lòng đóng vai trò thứ 2 đứng sau tổng thống Thiệu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:37:22 pm » |
|
Khiêm luôn có 2 câu trả lời thường dùng là : “Ông hãy nói trực tiếp với tổng thống!” Và “Hãy hỏi người Mỹ về việc đó xem như thế nào”
Cả đại sứ quán Mỹ và Dinh Độc Lập đều thích Khiêm Ông Tổng Tham mưu trưởng giải trình những kho dự trữ. Viên nhắc lại hồi Pháp ở Đông Dương, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn khi quân đội của họ phải rút lui… Phú đã cãi lại ngay. Đúng thế! Điều này thì đến 1 trung úy cũng rõ, việc rút lui là 1 hành động quân sự cực kỳ khó khăn. Nhưng người ta không còn cách lựa chọn nào khác. Tướng Phú quyết định cho Sở chỉ huy vùng II chiến thuật rút về Nha Trang. Những người Mỹ quân sự hay dân sự ở Sài Gòn đều không tính đến quyết định của Thiệu là cho Pleiku rút lui. Khi họ biết được tin này thì coi như việc đã xong rồi. Tướng Homer Smith, tùy viên quân sự cay đắng, than phiền với Viên. Ông Tổngf Tham mưu trưởng liên quân của miền Nam VN lấy lại uy tín chỉ nói : “Đây là mệnh lệnh của tổng thống. Ông muốn mọi hành động này phải hết sức giữ bí mật”. Dự định tài chính của chính phủ Mỹ muốn chi viện giúp theo đề nghị của VN đã không được Washington phê duyệt. Điều này đã làm cho phe ủng hộ Sài Gòn phải thất vọng. Theo cuộc thăm dò cuối cùng có tới 78% công dân Mỹ phản đối chi viện thêm cho VN. Thư của nhiều cử tri chất đống trên bàn làm việc của các nghị sỹ và các đại biểu. Từ hội nghị này đến hội nghị khác, người ta trao đổi qua điện thoại với nhau, người ta viết thư, và người ta tự thăm dò. Người ta vẫn không muốn bỏ rơi đồng minh của họ ở Đông Dương, và người ta cũng không muốn rời bỏ chức nghị sỹ của mình. Những yêu cầu của tổng thống vẫn diễn tiến theo thường lệ. Để 1 dự định của tổng thống được chấp nhận cần phải thông qua Hội đồng, các ủy ban và thứ ủy ban của Hội đồng. Ngay cả ở Quốc hội, nếu có sự không đồng ý giữa Quốc hội và Hội đồng nghị viện thì phải có 1 ủy ban hỗn hợp để giải quyết tháo gỡ cho một thỏa hiệp. Sáng 12-03, một nhóm nghị sỹ đại diện cho Đảng Dân chủ đã đưa ra 1 giải pháp, tỏ rõ sự phản đối “mọi việc viện trợ quân sự cho VN cho năm thuế khóa 1975” Bản kiến nghị này có 189 tiếng nói đồng tình chống lại 49 phiếu. Tổng thống Hoa Kỳ, người già đời trong nghị viện, đã am hiểu tất cả những thủ đoạn này nên đã tiếp tục tấn công. Ông yêu cầu 300 triệu USD viện trợ, nhưng chỉ đưa ra con số 82,5 triệu USD viện trợ quân sự ngay cho miền Nam VN. Để tạo thuận lợi cho moi, vũ khí và đạn dược được lấy ra từ kho dự trữ. Như vậy ngân sách quốc gia trong năm cũng không phải chi vượt kế hoạch. Ở Sài Gòn, sau một thời gian ngắn, kỹ sư Vân mới biết quân đội Bắc Việt đã tấn công Ban Mê Thuột. Trước cái tin sốt rẻo ấy, kỹ sư Vân nghĩ rằng người Mỹ sẽ không giữ vai trò bàng quan. Nhà sư Thiên Huệ không lo lắng gì đến việc các tỉnh thành sụp đổ mà ít ngày sau đó báo chí và đài truyền hình mới đưa tin về việc này. Đã tư lâu, người ta quen với các cuộc chiến lớn. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc di tản Ban Mê Thuột, cũng như ở Phước Bình chỉ là 1 phần của toàn bộ chiến lược. Quân đội quốc gia miền Nam VN sẽ chiếm lại tất cả những tỉnh, thành ấy. Nhà văn Duyên Anh lạinghĩ rằng Sài Gòn sẽ kết thúc bằng sự thỏa thuận với CS. Người ta dựng lên khu vực đệm giữa vùng đất đai mà Bắc Việt đã chiếm được và với 1 vùng mà Sài Gòn còn giữ. Sau đó người ta bàn đến chuyện 1 chính phủ hòa hợp theo đúng công thức như Hiệp ước Paris. Nhà văn tin rằng người Mỹ đã đổ rất nhiều tiền của đầu tư cho miền nam VN không phải là để bỏ rơi VN.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:37:54 pm » |
|
Đà Lạt : Cách Sài Gòn 300 km về phía bắc. Phần lớn người dân ở đây lại không tỏ vẻ gì lo sợ. Ở trung tâm thanh phố, trên đỉnh 1 ngọn đồi, các quán cà phê, các cửa hàng ăn, rạp chiếu bóng Hòa Bình vẫn đầy ắp người. Sau khi tan lớp, sinh viên, học sinh lại vội vã xúm quanh bàn billard hay các hàng quà bán cho trẻ em với đủ các thứ trái cây. Có nhiều thanh niên Sài Gòn sống ở đây theo học các trường lớp và đại học. Người ta nhận thấy có các cô gái của tu viện, mặc váy màu xanh nước biển, áo sơ mi màu xanh da trời. Những cậu ấm con nhà giàu ở Sài Gòn, trọ học ở trường Cao đẳng Yersin kéo nhau đi nghỉ cuối tuần. Những học sinh, sỹ quan mặc quân phục màu be của Học viện quân sự liên quân và của trường Chiến tranh tâm lý cũng đi nghỉ cuối tuần. Tất cả mọi người dạo chơi quanh hồ, chơi tenis, thuê các thuyền đạp nước, bơi trên mặt hồ. Đến tối, mọi người lại đổ về trung tâm Đà Lạt, xúm quanh các ki-ốt của các dàn nhạc, nghe những bài hát. Cả khu vực đắm mình trong mùi phở, mùi cháo cay nồng hạt tiêu, mùi cá nước, mùi trái dâu tây. Các cửa hiệu nhộn nhịp người ra vào mãi tới tận khuya, nhất là các cửa hiệu của người Ấn Độ bán các loại nước hoa và những tấm vải óng ánh màu sặc sỡ. Có thân hình nhỏ bé như hấu hết người Việt nam, Jean Mais, 40 tuổi, lông mày rậm, là linh mục phụ trách các nhiệm vụ ở nước ngoài, dạy ở trường đại học Thiên chúa giáo nằm ngay trên đỉnh đồi. Khoa kinh tế chính trị ở Đà Lạt thu hút các sinh viên ở mọi nơi đến. Jean Mais ở Đà Lạt từ 7 năm nay, chịu trách nhiệm đào tạo cử nhân tiếng Pháp, có thể nói thành thạo tiếng Việt nam và ở trọ ngay trong khu học xá Mais có quan hệ tốt với các sinh viên trong mọi cuộc xưng tội. Cha Jean Mais thường nhận được ở những người đến làm lễ xưng tội những lời tâm tư thầm kín. Một giáo sư cần khuyên nhủ và một giáo sư người nước ngoài càng không được có sự xét đoán. Nhưng với Mais thì các sinh viên lại bỏ qua điều đó cho ông, ngay cả khi có vài sinh viên đã tự hỏi làm sao người Pháp ấy lại có thể hiểu được tất cả mọi việc. Đa số các sinh viên quan tâm tới phong trào đấu tranh chống lại mọi sa đọa, mua chuộc để cứu lấy đất nước và xây dựng nền hòa bình. Người giáo sư cần phải tránh đứng về phe phái nào. Nhưng chắc chắn Jean Mais vẫn kể lại lịch sử của những năm 50 ở miền Bắc, về cuộc di cư của những người công giao, về việc cải cách ruộng đất… Ông muốn làm cho các sinh viên hiểu được những lo lắng và những chuyện đau lòng cắt ruột. Ông cũng tự hỏi xem ý định của các học sinh cao đẳng của ông ra sao. Người trợ lý tiếng Pháp cho Jean Mais là Ngữ đã tâm sự với Mais là gia đình có cảm tình với những người du kích của mặt trận giải phóng quốc gia. Mặt trận giải phóng quốc gia do Hà Nội chỉ đạo, nhưng theo lý thuyết thì nó độc lập điều hành cuộc chiến giải phóng miền Nam từ năm 1960. Sau những ngàu nghỉ Tết, các sinh viên lại tập trung đúng hẹn ở Đà Lạt. Từ khi các bậc cha mẹ hầu hết là người Sài Gòn luôn gửi điện tín theo các con đang theo học ở Đà Lạt yêu cầu phải về nhà ngay thì đối bvới 1 số thanh niên con những nhà khá giả, ngày càng có nhiều người nảy ra ý định ra nước ngoài để học tập. Nhiều sinh viên đã đến chào cha Mais. Ngày 1-3, Mais lên lớp nói về phép ẩn dụ trước gian phòng hầu như trống vắng. Mais nghĩ rằng Ban Mê Thuột chỉ cách Đà Lạt 100 km đường rừng, không lâu nữa sẽ nằm trong sự kiểm soát của Bắc Việt. Cha Darricault, chịu trách nhiệm về truyền giáo, đã tập trung các tu sỹ tại một căn nhà ở trong khu vực giáo dân. Cách đây ít lâu có 2 tu sỹ trẻ VN đã nhận được lệnh đi về Pháp. Các cha xứ khác được tự do hành động theo ý của mình. Phần đông trong số họ đã muốn ra đi. Dần dần những người có địa vị của chính quyền cũng biến mất. Có vài giáo viên trở về trung tâm văn hóa Mỹ. Sau đó những người Mỹ cũng thoái thác và tự biến đi hết. Khi ông trưởng khu giáo dục của trường đại học hỏi người đứng đầu tỉnh cho phép ông được đóng cửa trường học, đã nhận được câu trả lời : “Ông muốn làm gì thì làm”. Những nhà chức trách rũ bỏ trách nhiệm của họ. Ông chủ khu giáo dục cho “tạm thời” đóng cửa trường. Ở đây, từ “tạm thời” cũng có nghĩa gần như chấm dứt theo từ Mãnana của tiếng Tây Ban Nha. Ông trưởng khu giáo dục triệu tập ông Jean Mais và nói : - Ông là người Pháp. Đất nước của ông có quan hệ tốt với Hà Nội. Nếu có thể ông cứ ở lại đây để giữ vai trò của ông ở trường đại học này. Các sinh viên đã sửa soạn hành lý. Những người được che chở hay những người tháo vát đã di tản trên các máy bay quân sự. Sân bay của quân sự cách trung tâm thành phố độ 15 phút. Có vài người mua vé của hãng máy bay VN, đến sân bay dân sự, cách Đà Lạt xa hơn một ít, độ nửa giờ xe ô tô. Đa số các sinh viên khác lèn nhau lên ô tô, chạy về phía bờ biển. Chiếc Citroen 3 mã lực của Mais luôn xếp chặt người. Người trợ lý tiếng Pháp cho Mais là Ngữ vẫn ở lại Đà Lạt mà không di tản. Bà chủ tịch hội sinh viên Pháp, cũng là người đứng đầu liên hiệp sinh viên theo đạo Phật, cũng không đi di tản. Phần đông những người không thuộc tầng lớp trung lưu hay đại tư bản, đang làm việc cho chính quyền, những người làm công, người lao công, thợ thủ công ở Đà Lạt cũng như ở mọi nơi khác vẫn ở nguyên tại chỗ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:38:23 pm » |
|
Đã từ 30 năm nay họ có thói quen chờ đợi. Thomas Polgar, trợ lý đặc biệt của ông đại sứ 1 chức vụ hữu danh vô thực. Khi Polgar đến câu lạc bộ thể thao thì mọi người, ai cũng đều cảm nhận được ngay là Polgar vừa đảm nhận 1 chức vụ “quan trọng”. Vì khi Polgar đi vòng quanh bàn tiệc tiếp đón và lúc chạm cốcthường cố tỏ cho mọi người biết chức vụ mới của mình. Một nhà báo Hungari, là thành viên chính thức của Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát, đã nói : “Polgar, nếu ông là người Mỹ thì thích hợp hơn!” Polgar 53 tuổi, béo tròn, đầu hói phía trước, mang kính gọng đồi mồi to tướng, sinh ở Budapest, nên vẫn giữ vài âm sắc của người Hungari trong khi nói tiếng Anh. Polgar nói “vas” thay cho từ “was”, “tink” thay cho từ “think”, “anyting” thay cho “anything”. Người ta có cảm tưởng như Polgar cố dùng giọng nói như Kissinger. Cha của Polgar làm giám đốc 1 nhà băng ở Budapest, đã gửi Thomas Polgar đến Hoa Kỳ từ lúc 16 tuổi. Ơ đây, Polgar theo học tại 1 trường đại học nhỏ, chuyên đào tạo cho các sinh viên thế giới về khoa thương mại. Ngoài giờ học, Polgar giúp việc giao hàng cho ông chú – người chuyên đóng các cuốn bìa mỏng. Thời gian sau Thomas Polgar tiếp tục học thêm khoa vẽ địa hình. Lúc 20 tuổi, Polgar trở thành người lính của quân đội Hoa Kỳ. Nói được tiếng Đức, Polgar cũng như trung sỹ Kissinger đã hướng về công việc tình báo. Khi quân đồng minh chiếm đóng nước Đức thì ở Berlin, Polgar đang làm việc dưới quyền của Alan Dulles, phụ trách cơ quan tình báo Mỹ. Giải ngũ năm 1946 khi chưa đến 30 tuổi, Polgar vốn phục vụ trong lĩng vực tình báo với cấp hàm tương đương đại tá và ông lấy làm thích thú cho rằng mình là 1 nhà thực tế, không ảo ảnh gì về bản chất con người. Polgar thích kể về Kissinger : “Những người độc thân trong trại lính, hiếm khi sống như những ông thánh nặn bằng thạch cao”. Tháng 7-1971, Polgar được cử làm chỉ huy đơn vị tình báo ở VN. Bà vợ Polgar không vui thích lắm. Đứa con lớn trong 3 con trai phải vào 1 trường đại học ở Hoa Kỳ. Nhưng lúc này Polgar lại có cấp hàm tương đương với viên tướng của 1 quân đoàn. Vào lúc 10 giờ sáng thứ Bảy ngày 15-3, Polgar đang ở trong phòng làm việc tại đại sứ quán Mỹ thì 1 nhân viên ở Pleiku đã gọi dây nói cho Polgar báo tin : - Quân đoàn II đã rút lui ! Ông củ CIA vẫn tự hào vì thường cho rắng luôn biết trước những hoạt động của quân đội miền Nam VN. Choáng váng, Polgar vội cử 1 trong số các trợ lý của mình tới Dinh Độc Lập, và 1 người đến Bộ Tổng tham mưu ở Dinh Độc Lập. Tướng Quang tuyên bố : - Không có chuyện gì xảy ra ở Pleiku. Ở văn phòng Bộ Tổng tham mưu, 1 cộng tác viên của Polgar tìm được 1 viên tướng của lữ đoàn. - Có điều gì xảy ra ở Pleiku thế? Viên tướng khẳng định ngay : - Không có gì! Polgar nghiền ngẫm những ý tưởng đen tối. Vắng Graham Martin, đã có Wolfgang Lehman chỉ huy đại sứ quán. Người ta đi tìm Lehman thì ông này đang ở chỗ bác sỹ chữa răng. Trong vùng II chiến thuật vẫn còn người Mỹ. Người ta không thể bỏ mặc họ rơi vào tay CS được. Wolfgang Lehman đánh điện tới Bộ Ngoại giao ở Washington : “Tôi đã ra lệnh cho ông tổng lãnh sự ở Nha Trang cho rút tất cả người Mỹ ở Kontum và Pleiku” Những tin tức là chính xác : Những đội biệt động Bắc Việt đã làm nổ tung 1 kho đạn ở Kontum. Các đạn rốckét đã làm cho sân bay của thành phố không còn sử dụng được nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:38:58 pm » |
|
Cùng ngày hôm ấy, Bộ Chính trị và Hội đồng quân sự trung ương ở Hà Nội đã nhận được đề nghị của tướng Dũng : “Cần phải giải quyết mọi việc mau lẹ trước mùa mưa Trong 3 ngày từ 15 đến 18-3, ở Pleiku, cuộc rút lui của các đội quân miền Nam VN diễn ra khá thuận lợi. Việc di chuyển cả 1 quân đoàn không phải là chuyện đơn giản với quân số, xe vận tải, xe bọc thép và 20.000 tấn vũ khí trọng pháo, 1 lượng xăng dự trữ cho 1 tháng rưỡi, và 2 tháng khẩu phần cho binh sỹ và các sỹ quan. Cần phải chuyển tất cả về mạn ven biển ở Nha Trang. Và từ đây người ta sẽ trụ lại để chuẩn bị phản công tái chiếm Ban Mê Thuột. Ở đại bản doanh Bắc Việt, người ta theo dõi diễn biến tình hình ở Pleiku cho đến ngày 16-3. Các hãng thông tin phương tây cung cấp những tin hết sức quan trọng. Có những chi tiết đã báo động cho Bắc Việt, như hãng thông tấn Mỹ U.P.I đã tuyên bố : “Giá vé máy bay từ Pleiku về Sài Gòn đã lên tới 40.000 đồng”. Tại sao lại có việc đổ xô về phi trường với cái gia vé cao vọt đến như thế? Tướng Dũng được tin 450 người Mỹ ở Pleiku và 1 số viên chức Việt Nam đã rời khỏi nơi này. Một cầu hàng không trực thăng được tổ chức từ trung tâm thành phố đến sân bay. Những máy bay còn lại đã lập con thoi từ sân bay này về Nha Trang. Đối với những người dân ở Pleiku và các trinh sát của tướng Dũng thì mọi việc đã hiển hiện rõ ràng : "Họ đang di tản". Ở Pleiku, các nhân viên của CIA không còn đủ bình tĩnh – Họ đã “bỏ rơi” một số viên chức người miền Nam VN làm công cho họ. Trong đó có 1 trong những người cung cấp thông tin chính thức. Hầu hết, người ta không còn kịp tiêu hủy, đốt hết các tài liệu, giấy tờ. Thành phố đã bỏ trống nhiều giờ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:39:23 pm » |
|
Các đơn vị của tướng Dũng vội vàng cắt rừng chuẩn bị xung phong vào đoàn quân rút chạy của miền Nam VN. Tướng Dũng ra lệnh tiến vào Pleiku, vượt qua thành phố và tiến xuống phía Đông đánh tạt sườn đoàn quân của miền Nam VN đang rút chạy Trong thành phố Pleiku, bầu trời đầy ánh lửa xanh và màu da cam. Quân đội miền Nam đốt tất cả những gì còn lại ở phía sau họ, kể cả số lượng lớn dự trữ xăng dầu. Trên đường xe ô tô và xe vận tải va chạm vào nhau, chạy lẫn lộn cùng với đoàn xe của quân đội miền Nam VN, làm cho đoàn xe này phải tan rã. Những chiếc xe vận tải quân sự Dodge chất đầy binh lính và gia đình của họ, cùng với đồ đạc hòm xiểng, thúngmủng, gà lợn. Xe tăng và xe bọc thép bị xa lầy. Các sỹ quan không còn liên lạc, chỉ huy được với binh lính của họ. Những tin truyền đạt thất thường không rõ ràng lan từ đầu này đến đầu kia của con sâu róm khổng lồ càng làm cho đoàn xe phải chậm lại. các đài radar truyền tin đều hỏng hóc. Ngày 18-3, qua đài radio, các sỹ quan của đoàn quân tháo chạy này được tin An Lộc đã mất vào tay CS. Đây là 1 thành phố cách phía Bắc Sài Gòn có 100 km. Cuộc rút lui trở thành cuộc tháo chạy, cuộc di tản, cuộc băng tan, mạnh ai người ấy chạy không còn ai chỉ huy ai được nữa. cả ngày hôm ấy, những người chạy trốn càng ùn lên trong khối bụi đỏ mù mịt và hơi nóng khô rang. Ban đêm họ mới thấy lại được hơi ẩm ướt và mùi mốc của rừng mà ở đấy đang có những đội quân tuần tiễu của Bắc Việt. Đàn ông thì mệt nhoài, đàn bà thì mỏi mệt kiệt sức, trẻ em và người già thì ngây dại đến đờ đẫn. Họ thiếu thức ăn và nước uống. Người ta phải dẫm lên những xác người chết đầy các con côn trùng. Muỗi tấn công ngững người còn sống. Hơi nóng của nòng thép súng, xe cộ, mùi mỡ, mùi dầu, xăng ngột ngạt cả đoàn người.. Những khuôn mặt hốc hác vì mệt nhọc, vì đói, khát. Mọi người chỉ mong chạy nhanh được về phía bờ biển. Còn sau đó? Chạy đến tận Sài Gòn, và rồi sau đó sẽ ra sao? Tiếng đạn đại bác và các khẩu súng cối đã đến gần. Để chỉnh tầm bắn cho chính xác, quân đội Bắc Việt đã bố trí người quan sát ngay trên đường. Trong từng đoạn của đoàn xe, người ta thấy có những cuộc tấn công chia cắt. Quân đội Bắc Việt muốn tạo ra sự ùn tắc lâu hơn nữa, để họ càng làm phình lên các nút cổ chai, để họ đánh tiêu diệt số lớn quân đội miền Nam VN Trong đoàn xe kéo dài vô tận phần lớn là những người dân của các thành phố, nhưng cũng có cả người nông thôn. Tại sao họ phải chạy trốn? Chỉ vì họ lo sợ. Họ không tin vào kỷ luật của những người thuộc phe xã hội. Các viên chức cho rằng họ sẽ bị trừng phạt về tội cộng tác, dù tự nguyện hay không với người Mỹ Những người buôn bán thì sợ các cửa hiệu của họ bị quốc hữu hóa. Người khác lại nghe nói đến tài sản của họ bị tịch thu, đất đai bị cưỡng đoạt, những cuộc nổi dậy đàn áp của người nông dân, những tòa án nhân dân và những cuộc hành quyết công khai đơn giản. Trong số những người này có một số người đã phải bỏ những thành phố công giáo ở miền Bắc, di cư vào miền nam từ năm 1954, nay lại lao vào cuộc di thiên lần thứ 2. Số người khác theo đạo Phật đã không tin vào lời hứa của người CS để cho họ được tự do thờ cúng theo tín ngưỡng.
Ở Sài Gòn, Polgar tự hỏi diễn biến cuộc rút lui này ra sao?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:39:53 pm » |
|
Không có một nguồn thông tin nào từ người VN. Polgar cũng không còn nhận được những tin tức tình báo qua vệ tinh. Đã từ lâu những vệ tinh tình báo này kiểm soát ở Washington, và VN không phải là địa điểm được ưu tiên. Polgar không thể đòi hỏi 1 máy bay SR-71, loại máy bay do thám ở trên độ cao, thuộc loại máy bay U2 cải tiến. Tùy viên quân sự Mỹ ở đại sứ quán cũng không thể cử 1 trong số những máy bay của họ giúp cho Polgar, vì làm như vậy là vi phạm vào hiệp ước Paris đã quy định cấm mọi sự can thiệp thuộc kiểu đó. Polgar đành cử một máy bay của hãng hàng không Mỹ “Air America” trực thuộc CIA. Khi máy bay trở về đã có những tấm ảnhv thể hiện rõ cuộc rút chạy mà người ta thấy không thể sai lầm được nữa. Ngày 21-3, những đại đội của một sư đoàn Bắc Việt đã đánh chia cắt đoàn xe, cô lập những chiến binh miền Nam ngoan cố chống cự nhất. Để tiến quân thật nhanh, quân đội Bắc Việt đã chặn đánh đoàn xe cách bờ biển 40 km. Trong đoàn người, xe rút chạy này có khoảng 200.000 thường dân, có 60.000 người đã đến được Tuy Hòa. Vài đơn vị quân đội miền Nam đã mất tới nửa quân số. Bộ Tham mưu ở Sài Gòn đã tổng kết tổn thất nặng : “Họ đã mất 1 binh đoàn thiết giáp và 7 trung đoàn bộ binh” Thiệu đã đổ tội cho tướng Phú làm tổn thất nghiêm trọng lực lượng quân đội miền Nam VN. Tổng thống khẳng định Phú không nhận được lệnh di tản. Nhưng tướng tham mưu ở sài Gòn đã phân tích có lý lẽ hơn là Phú chỉ có 48 giở để triển khai các lực lượng. Người ta đã không lường trước được khối nhân dân to lớn đã đeo bám vào lực lượng quân đội và những trang bị vũ khí, khí tài đã làm tê liệt cuộc phản công. Tướng Dũng đã viết : “Chiến thắng trên cao nguyên của chúng ta thật to lớn, nó vượt qua cả những dự đoán của chúng ta”. Trước hết, Thiệu muốn giữ Sài Gòn. Vị tổng tư lệnh cùng với những cơ quan tình báo của miền Nam VN và của Mỹ đã chờ đợi trong nhiều tuần lễ 1 cuộc tấn công vào mạn Tây – Bắc thành phố, ở vùng Tây Ninh. Cuộc tấn công này có thể là mũi nhọn của cuộc tổng tấn công. Thường đôi khi, quân đội Bắc Việt chỉ sử dụng đến đại đội hay tiểu đoàn để tấn công thăm dò Sài Gòn ở vùng ngoại vi độ 50 km. Thiệu là tổng chỉ huy nên muốn giữ lại lực lượng dự bị cho mình. Những đội quân thiện chiến nhất là Sư đoàn Thủy quân lục chiến, và Sư đoàn Dù được viên tướng xuất sắc là Lê Quang Lương chỉ huy, đã từ lâu đóng tại Vùng 1 chiến thuật thuộc mạn Bắc của miền Nam VN. Vùng 1 chiến thuật được đặt dưới sự chỉ huy của viên tướng nổi tiếng nhất là Ngô Quang Trưởng. Trưởng 46 tuổi, vừa có khả năng lại có uy tìn, người nhỏ nhắn, mảnh dẻ, khuôn mặt mỏng và hốc hác, nước da đỏ sẫm, có cái nhìn xa xăm hầu như trống rỗng. Tính được lòng dân và sự huyền thoại của Trưởng dựa trên những hành động. Trong cuộc chiến ở Huế năm 1972, Trưởng đã cầm cự trong nhiều tuần lễ. Khi quân đội miền Nam VN nổi lên cướp bóc, Trưởng đã lên tiếng trên đài phát thanh : “Binh sỹ và công dân Vùng 1 chiến thuật! Tướng Trưởng muốn nói với các người. Tôi nắm quyền chi huy ra lệnh : Ngày mai những binh lính đào ngũ phải trở về đơn vị. Việc cướp bóc phải chấm dứt…” Và sau đó mọi việc đã ngừng lại. Trưởng đã sử dụng 3 sư đoàn chống lại 6 sư đoàn của quân đội Bắc Việt và đã tái chiếm lại được Quảng Trị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
baoleo
Moderator

Bài viết: 1500
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2009, 01:40:25 pm » |
|
Bị thách thức từ tuần lễ thứ 2 của tháng 3, Trưởng tion rằng ông ta có thể giữ được Vùng 1 chiến thuật, nơi ông ta đã bố trí tới 5 sư đoàn. Trưởng tin rằng lực lượng quân dù và hải quân sẽ chống lại được mọi cuộc tấn công, ngau cả khi Hà Nội, tung hết quân dự bị vào cuộc chiến tranh Tổng thống Thiệu yêu cầu Trưởng củ đơn vị lính dù về bảo vệ vùng Sài Gòn. Trưởng nổi giận đã dùng máy bay bay về Sài Gòn để biện hộ về nguyên nhân này. Thiệu không chịu từ bỏ ý kiến và không cho Trưởng biết điều gì sẽ sảy ra và việc lấy của Trưởng Sư đoàn Thủy quân lục chiến. Quay trở về bản doanh ở Đà nẵng, Trưởng đã nghĩ đến việc xin từ chức, nhưng sau đó đã tổ chức lại việc phòng thủ. Trưởng được tin là lực lượng CS tham gia tấn công là rất quan trọng không như dự đoán trước. Nếu người ta lấy đi lực lượng lính thủy đánh bộ và lính dù thì Trưởng thấy phải đối mặt tương đương với 6 sư đoàn CS, trong khi đó trong tay Trưởng chỉ có 3 sư đoàn ứng dụng. Kẻ địch của Trưởng “được tập trung vào chiều sau” có thể tấn công quân miền Nam ngay – Vì thế Trưởng buôc phải duy trì những sư đoàn đã bị căng ra và bị yếu đi. Ngày 15-3, khi cuộc rút lui của Pleiku bắt đầu, binh đoàn lính thủy số 369 đã rút khỏi Quảng Trị. Ở biên giới trên cao nguyên, những người lính thủy đánh bộ, tượng trưng cho sức mạnh. Họ có kỷ luật, cứng rắn và họ không đem theo gia đình và đồ đạc. Phần lớn những đơn vị bình thường ở miền Nam VN, từ lính hạ sỹ quan đến sỹ quan đều có thói quen là mang theo gia đình ở gần họ. Chỉ duy nhất các đội quân xung kích khi di chuyển từ vùng này đến tỉnh khác là không mang theo gia đình. Trước hết vì tiền lương của binh lính là ít ỏi. Các cố vấn Mỹ lại chấp nhận cho họ được mang theo gia đình, dù rằng lương của 1 lính trơn có 20.000 đồng / tháng. Để cho họ tự lo liệu lấy bản thân, cung cấp cho họ những khẩu phần quân sự hay tự nuôi những cô bồ “kiếm được” trong các cuộc hành quân tác chiến, thì cần phải cho họ tùy tiện hành động. Vì vậy, mỗi cuộc hành quân của đội xung kích này đi đến đâu là gây cho nhân dân mọi nỗi kinh hoàng đến đó. Trong toàn tỉnh, những người dân đều nghe tin qua đài nước ngoài. Bắt đầu từ ngày 16-3, các đài phát thanh này truyền đi những câu chuyện rùng rơn xảy ra trên dọc con đường rút chạy về Tuy Hòa. Từ đó, người dân Quảng Trị chạy về Huế và người dân Huế lại chạy về Đà Nẵng. Chỉ trong vài ngày thành phố Đà Nẵng đã vượt quá từ 600.000 lên đến 1.000.000 người dân. Tại đại sứ quán Mỹ, Wolfgang Lehman lúc này đang nắm vai trò vhỉ huy thay Martin, đã phải nghĩ đến những con chiên của mình (người dân Mỹ). Những viên chức Mỹ đang làm việc tại Huế không ngủ trong thành phố nữa. Đến tối, họ tập trung lại gần sân bay để ngủ. Sân bay này cách phía Nam thành phố hàng chục cây số. Ở đây, khi trường hợp cần kíp, họ có thể di tản ngay được. Những người Quarkers, thuộc tổ chức từ thiện, được biết là nếu có xảy ra chuyện gì thì họ vẫn ở nguyên tại chỗ. Các nhà chức trách Mỹ phải trông nom cho các công dân này của họ, nhưng khi những người này không phải là viên chức thì họ không ra lệnh được cho những người Quarkers này. Polgar đánh 1 bức điện cho giám đốc CIA ở Washington, giải thích hoàn cảnh đã sụp đổ “thảm hại” ở Vùng 1 chiến thuật cũng như ở Vùng 2 chiến thuật. Polgar tiên đoán : Thiệu sẽ mất cả Huế. Polgar chán ghét cuộc tranh cãi của Quốc hội ở Washington về việc viện trợ cho miền Nam VN. Ông ta muốn cung cấp tình trạng vũ khí đạn dược của quân đội miền Nam cho ông giám đốc CIA biết. William Colby buộc lòng phải bày tỏ ý kiến chính thức trước các ủy ban và trong câu chuyện trao đổi với các nghị sỹ và các đại biểu quan trọng :
“… Sự sống còn của miền nam VN là tùy thuộc phần lớn vào hành động của Hoa Kỳ. Nếu Hoa Kỳ thiếu sự quyết định thì sẽ giết chết 1 quốc gia mà… Hoa Kỳ đã giúp đỡ để sinh ra nó… Những khoản kinh phí là rất cần thiết, không thể thiếu được…” Ở Washington, người ta không chú ý quá mức tới Việt Nam. Những người quan liêu bàn giấy đã chỉ theo những ý nghĩ của họ, yêu sách đạt kết quả khi nó phát triển trong trường hợp khó khăn hay thất bại thì : Đó là việc của Nhà Trắng và của Bộ Ngoại Giao, hay là quyền hạn của Ban thư ký Hội đồng Quốc phòng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|