Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:09:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xe tăng của thế giới - Танки мира  (Đọc 455699 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
langbam80
Thành viên
*
Bài viết: 9


« Trả lời #90 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2009, 11:21:51 pm »

Bác nào biết thông tin về tank KV của Liên xô thì thông tin cho em với
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #91 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2009, 05:42:08 am »

 Tăng KV1 và KV2 thuộc dòng xe tăng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bạn chịu khó đợi nhé Grin! Sách dịch từ tiếng Nga qua tiếng Việt nên câu chữ cần chỉnh sửa một chút cho xuôi nên chậm.
Logged
langbam80
Thành viên
*
Bài viết: 9


« Trả lời #92 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2009, 06:47:27 pm »

A7V tại Roye ngày 21 tháng 3 năm 1918
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #93 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:39:21 pm »

34. FCM 36
     

 Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất, Quân đội Pháp sở hữu trình độ kỹ thuật tiên tiến hơn các quốc gia khác trên thế giới. Lực lượng xe tăng cơ bản trong Quân đội Pháp khi đó có hơn 3000 xe tăng hạng nhẹ Renault FT-17, loại xe tăng vào những năm 20 của thế kỷ trước được biết đến như những lực lượng khủng khiếp và được đưa ra trong khái niệm quân sự thời kỳ đó: sử dụng xe tăng mang mục đích hỗ trợ cho các hoạt động của bộ binh. Bởi vào thời kỳ đó, tiềm lực quân sự của các quôc gia khác cũng không cao, nên người Pháp cảm thấy không cần thiết phát triển số lượng xe tăng và dẫn đến họ bắt tay hiện đại hóa với các kinh nghiệm đã cũ và không theo kịp thời đại. Những phiên bản mới không có những tính năng vượt trội hơn hẳn so với các thế hệ xe tăng trước, vì thế, chúng không được tiếp nhận vào các lực lượng vũ trang. Khi quyền lực của nước Đức được chuyển giao cho Hít le, chính phủ Pháp vẫn dồn phần lớn tiềm lực tài chính vào việc xây dựng các công sự phòng thủ trên hướng biên giới Pháp – Đức. Vì thế, việc trang bị lại cho quân đội bị kéo dài và đến năm 1935,  có tổng cộng 280 xe tăng mới loại AMR 33 và D1 được trang bị cho thay thế cho xe tăng Renault -17 đã lỗi thời. Chỉ vào năm 1936, Pháp mới tiếp nhận chương trình xây dựng tái thiết lực lượng vũ trang. Trong lĩnh vực xe bọc thép, sự ưu tiên dành cho các loại xe trước đây với các loại tăng hạng nhẹ để trang bị cho các đơn vị bộ binh cơ giới. Trong số đó có FCM 36. Loại tăng này trở thành xe tăng đầu tiên của Pháp sử dụng động cơ diezen và sử dụng phương pháp hàn trên tháp pháo và thân xe.
 Chậm hơn một năm, vào năm 1936, so với hãng “Renault”, xí nghiệp FCM sản xuất một mẫu xe tăng hạng nhẹ dành cho bộ binh, có bố cục cổ điển: động cơ và bộ phận truyền động ở phía sau, khoang chiến đấu – trung tâm, khoang điều khiển –  phía trước xe. Kíp xe gồm hai người: kỹ thuật viên kiêm lái xe và chỉ huy, người kiêm them nhiệm vụ của một pháo thủ. Xe tăng được trang bị động cơ diezen 90 sức ngựa “Berlye” – được chế tạo theo giấy phép sản xuất của Anh, mô phỏng động cơ “Ricardo”. Nó cho phép FCM 36 có tầm hoạt động lâu trên đường bộ gấp từ 2 đến 2,5 lần so với các đối thủ cạnh tranh với nó. Điểm đặc biệt không bình thường của FCM 36 là kết cấu của thân xe và tháp pháo. Các chi tiết của chúng, được cắt từ các mảnh thép cán có độ dày tới 40 mm, có hình dáng phức tạp: sau sự uốn cong và hàn có hai góc nghiêng một cách tương đối dọc theo trục xe tăng. Điều đó đảm bảo cho sự bảo vệ tối ưu cho thân xe và tháp pháo khỏi đạn pháo. Giáp bố trí nghiêng tăng khả năng nảy ra của đạn không chỉ đầu xe mà còn các bộ phận khác. Tháp pháo xe tăng được thiết kế khá độc đáo với hai tầng từ sau tháp pháo chỉ huy được kéo dài ra phía sau. Độ nghiêng kép tăng cường đồng thời gia cố thêm bản lề của diềm chắn, che bộ phận truyền động. Cũng giống như xe tăng của Anh cùng thời kỳ đó, diềm chắn của FCM 36 có 5 cửa xả bẩn từ nhánh xích trên. Hệ thống treo theo kiểu hỗn hợp: 10 cặp bánh nâng, trong đó 8 cặp bánh đỡ dưới thân xe được liên kết với 4 bánh truyền động được treo trên các tấm lò xo hình xoắn ốc., còn cặp bánh đỡ phía trước có lò xo riêng. Trang bị của FCM 36 có pháo nòng ngắn 37 mm với cơ số đạn 100 viên và một sung máy 7,5 mm.
 Công nghệ chế tạo phức tạp và động cơ đắt tiền đã ảnh hưởng nhiều đến số phận của loại xe tăng này. Nó đắt hơn 40% so với R-35, và ví thế, Quân đội Pháp chỉ đặt hang 100 chiếc.
 Mặc dù mặt mạnh của  FCM 36 là tốc độ cao và tầm hoạt động xa, nhưng nó không cơ động và giáp yếu. Hai tiểu đoàn được trang bị FCM 36 đã không kịp tham gia vào các trận đánh với quân thù, và sau khi nước Pháp bị chiếm, toàn bộ số xe tăng này trở thành chiến lợi phẩm của quân Đức. Trên cơ sở FCM 36, người Đức cải tiến nó thành pháo tự hành. Trên thân FCM được lắp pháo chống tăng Pak 40 mm của hoặc lựu pháo 105 mm leFH của Đức.

 Các thông số chính:
Tên gọi: FCM 36
Phân loại: hạng nhẹ
Kíp xe: 2 người
Khối lượng chiến đấu: 12 tấn
Chiều dài,m: 4,43
Chiều rộng,m: 2,13
Chiều cao,m: 2,18
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/37
Hỗ trợ/mm: 1/7,5
Độ dày giáp đầu: 40mm
Độ dày giáp bên: 40mm
Động cơ: “Berlye”, diezen, 90 sức ngựa
Tốc độ tối đa: 25km/h
Tầm hoạt động: 320km.


 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #94 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 11:42:22 pm »

 Sơ đồ cấu tạo FCM 36:
 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #95 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 04:33:22 pm »

35. SOMUA S-35


  Dòng xe tăng với tên gọi AMC SOMUA AC-3 được trang bị với mục đích hỗ trợ cho các hoạt động của các đơn vị kỵ binh, ban đầu có số lượng nhiều hơn cả loại tăng hạng nhẹ “Hotchkiss” – 35. Sau đó, xe tăng được đổi tên thành S-35 và trở thành loại xe tăng hạng trung cơ bản của Quân đội Pháp, có khả năng thực hiện các nhiệm vụ chiến thuật một cách độc lập. Vào thời S-35 xuất hiện vào năm 1935, nó trở thành xe tăng đầu tiên trên thế giới, có những bộ phận cơ bản: tháp pháo và các bộ phận chính bên ngoài thân xe được bọc thép hoàn toàn. Đây là công nghệ tiên tiến trên thế giới lúc đó, đảm bảo khả năng bảo vệ cao và khối lượng xe ở mức hợp lý (chấp nhận được – NV). Xe tăng được trang bị pháo chính 47 mm. Ngoài ra, S-35 còn được trang bị đài vô tuyến và thiết bị dẫn động chạy bằng điện của tháp cho tháp pháo – những thiết bị thường được trang bị cho các dòng xe tăng hạng nặng. Vào thời gian này, sức mạnh của động cơ trang bị cho xe tăng 20 tấn được coi là nhược điểm, vì thế, tốc độ của nó trên đường và trên các loại địa hình là thấp. Tuy nhiên, giới quân sự Pháp không coi đó là nhược điểm, vì thế S-35 được xem như là xe tăng tăng cường cho phòng tuyến “Maghino” – công trình phòng thủ quân sự bố trí trên hướng biên giới Pháp – Đức. Yếu tố quá tải của 3 thành viên trong kíp xe – được bố trí trong không gian tháp pháo chật chội đã không được đánh giá chính xác (bị xem thường – NV). Trưởng xe, ngoài nhiệm vụ chỉ huy, còn kiêm thêm nhiệm vụ ngắm và nạp đạn. Đó là nhược điểm chung của toàn bộ các dòng xe tăng của Pháp lúc đó.  Ngoài ra, loại xe tăng hai chỗ ngồi AMC-35 chỉ được sản xuất với số lượng tổng cộng 75 xe. Toàn bộ chúng, đã bị dung không đúng mục đích. S-35 chỉ được trang bị trong các phân đội nhỏ, thực hiện các trận đánh nhỏ, nhanh gọn cả quân Pháp trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Một số lượng lớn trong số 500 S-35 đã rơi vào tay quân Đức trong trạng thái còn nguyên vẹn. Một bộ phận S-35 được Đức bán cho Đồng minh trong phe Trục – Italia. Nhiều xe được sử dụng trang bị cho các trường huấn luyện. Vài chục S-35 được đưa sang mặt trận phía Đông, nơi mà chúng chỉ đóng vai trò thứ yếu trong các trận đánh trên chiến trường. Các phiên bản còn lại, được bố trí tại khu vực phòng thủ Nooc –măng – đi để bảo vệ bờ biển hướng Đại Tây Dương và bị các đơn bị đổ bộ thuộc lien quân Anh – Mỹ chiếm được. Các xe tăng này sau đó được chuyển cho các đơn vị quân đội “Nước Pháp tự do” và tham gia giải phóng Pari.
 
 Các thông số chính:
Tên gọi: S-35
Phân loại: hạng trung bình
Kíp xe: 3 người
Khối lượng chiến đấu: 20 tấn
Chiều dài,m: 5,38
Chiều rộng,m: 2,12
Chiều cao,m: 2,63
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/47
Hỗ trợ/mm: 1/7,5
Độ dày giáp đầu: 40mm
Độ dày giáp bên: 40mm
Động cơ: “Somua”, bộ chế hòa khí, 90 sức ngựa
Tốc độ tối đa: 37km/h
Tầm hoạt động: 260km.

« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2009, 04:44:36 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 04:40:33 pm »

 S-35 Somua
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #97 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2009, 06:43:47 pm »

36. LT 35

     Tiệp Khắc vào giữa những năm 30 của thế kỷ trước đã có trình độ phát triển công nghiệp một cách tương đối và những thí nghiệm có giá trị về khả năng sản xuất xe tăng nội địa. Xe tăng bánh – xích đầu tiên được thiết kế tại quốc gia này vào năm 1925, và vào đầu những năm 1930 đã nhận được quyết định về sản xuất về loại xe tăng chỉ chạy trên bằng xích. Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế, hai hãng “Shkoda” và ChKD đã không có những sự tích cực cần thiết. Loại xe tăng hạng nhẹ được trang bị cho Quân đội Tiệp Khắc được thiết kế bởi hãng nổi tiếng “Shkoda” dựa trên các công nghệ đã có từ năm 1859. Hai bản thử nghiệm dưới tên gọi S-II-a được đưa ra chạy thử vào mùa hè năm 1935 và khi đó đã nhận được đơn đặt hang sản xuất 150 phiên bản dưới tên gọi LT kiểu 35. Quá trình sản xuất được giao cho hai công xưởng của hãng “Shkoda” và ChKD. Sau khi Đức xâm lược Séc và Moravia*, toàn bộ các xe tăng bị rơi vào tay quân Đức và được bán lại cho các nước chư hầu của Đức. Dưới tên gọi Pz Kpfw. 35 (t) của Đức, chúng tham gia vào giai đoạn đầu trong cuộc Đại chiến Thế giới thứ hai.
   Thiết kế của LT-35 mang hình dáng cổ điểm cho xe tăng giữa những năm 30 (Tk 20), nhưng khác biệt ở sự hoàn thiện cẩn thận và sử dụng toàn bộ các tổ hợp và trang thiết bị: Đầu xe bọc thép, sử dụng phương pháp tán đinh và tháp pháo có thể chịu được đạn pháo “Erlicon” từ khoảng cách trên 250 mét. Bộ chế hòa khí 120 sức ngựa  có thể làm việc không chỉ bằng dầu giàn benzene mà còn trên các hỗn hợp của nó với cồn. Hệ thống truyền động phức tạp, cấu tạo từ 7 banh nâng mỗi bên tạo nên sự tin cậy, đảm bảo cho xe tăng có khả năng hoạt động đều hòa. Bánh dẫn động được bố trí phía sau. Sự vận hành được đơn giản hóa bằng hộp số cao tốc của bộ truyền động với các cơ cấu khí nén – đây cũng là chỗ yếu cấu tạo. Vào mùa đông, nước ngưng bị đông đặc trong xi lanh khí nén và tắc hệ thống điều khiển quay cùng với sự thay đổi tốc độ chuyển động của xe tăng.
  Trong tổng số 298 xe tăng hạn nhẹ LT 35 đã sản xuất, 219 xe được đưa vào thành phần lực lượng xe tăng Đức, số còn lại được bán cho Bugari, Slovakia và Rumani.
  Trong thời gian nằm trong lực lượng xe tăng Đức, Lt 35 đã không được hiện đại hóa một cách nghiêm túc. Kíp xe được tăng lên 4 người với 1 thành viên trong kíp xe có nhiệm vụ nạp đạn. Đồng thời được trang bị đài vô tuyến của Đức và thiết bị chiếu sang mới bên ngoài (đèn pha).  Bên trong xe được mở rộng, dành cho việc tăng nhiên liệu dự trữ.
  Xe tăng LT 35 (t) được quân Đức sử dụng trong các chiến dịch tại Ba Lan và Pháp. Khoảng 150 xe tăng loại này trong thành phần tập đoàn xe tăng số 4 tham gia tấn công Liên Xô vào cuối tháng 6 năm 1941. Hầu hết trong số đó bị phá hủy trên mặt trận phía Đông vào gần cuối năm 1941. Số còn lại được sử dụng vào huấn luyện hoặc làm xe kéo pháo. Các tháp pháo của chúng được tháo gia để trang bị và gia cố các công trình phòng thủ “Thành lũy Đại tây dương” (Атлатический Вал) trên duyên hải phía tây nước Pháp.
   Theo tài liệu từ phía Đức, vào mùng 1 tháng 6 năm 1942, trong quân đội Đức còn 167 xe tăng LT 35 còn nguyên vẹn trong các đơn vị ở hậu phương. Nhiệm vụ chính của chúng được sử dụng để chống lại quân du kích. Các xe tăng LT 35 còn tiếp tục phục vụ trong quân đội các nước Đồng minh của Đức: Rumani, Bungari và Slovakia.


 Các thông số chính:
Tên gọi: T 35
Phân loại: hạng nhẹ
Kíp xe: 4 người
Khối lượng chiến đấu: 10,5 tấn
Chiều dài,m: 4,9
Chiều rộng,m: 2,05
Chiều cao,m: 2,35
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/37
Hỗ trợ/mm: 2/7,92
Độ dày giáp đầu: 25mm
Độ dày giáp bên: 16mm
Động cơ: Shkoda, bộ chế hòa khí, 120 sức ngựa
Tốc độ tối đa: 40km/h
Tầm hoạt động: 200km.

* Moravia (tiếng Séc: Morava; tiếng Đức: Mähren) là một vùng lịch sử thuộc nước Cộng hòa Séc. Moravia chiếm khoảng một phần ba diện tích của Cộng hòa Séc ngày nay và nằm ở phía đông nam nước này. Moravia tiếp giáp với Ba Lan và Silesia thuộc Séc về phía bắc, giáp với Slovakia về phía đông, giáp với bang Niederösterreich của Áo về phía nam và giáp với xứ Bohemia về phía tây.
Cái tên Moravia (Morava) bắt nguồn từ con sông Morava trên lãnh thổ vùng này. Vào thế kỉ 8, Công quốc Moravia đã được người Slav thành lập. Vào năm 833, Moravia đã xâm chiếm Công quốc Nitra và nhanh chóng trở thành một quốc gia hùng mạnh tại châu Âu. Lãnh thổ nước này mở rộng nhất dưới thời vua Svatopluk I (871-894). Tuy nhiên những thế kỉ sau đó, Moravia ngày càng lệ thuộc vào Bohemia. Cả hai quốc gia này cũng rơi vào Đế chế Áo và sau đó nữa là Đế chế Áo-Hung vào thế kỉ 16. Năm 1918, Moravia trở thành một phần trong Liên bang Tiệp Khắc. Đến năm 1993, khi Tiệp Khắc tách ra thì Moravia trở thành một vùng của nước Cộng hòa Séc ngày nay.
Trong Cộng hòa Séc, Moravia vẫn giữ những bản sắc văn hóa riêng của mình. Những thành phố lớn nhất xứ này là Brno, Olomouc, Zlín và Ostrava.
(http://vi.wikipedia.org/wiki/Moravia)

« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Một, 2009, 11:48:19 am gửi bởi OldBuff » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #98 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2009, 06:47:51 pm »

 Lt 35 [Pz Kpfw. 35 (t)].

 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #99 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2009, 04:03:06 am »

37. LT 38


    Loại xe tăng tốt nhất của  Tiệp Khắc là LT 38 hay là TNHP, được thiết kế bởi hãng ChKD trước khi bị Đức xâm lược. Việc sản xuất hang loạt xe tăng Lt 38 được bắt đầu tại các quân xưởng của Séc vào năm 1939. Dưới tên gọi Pz Kpfw 38 (t) hoặc 38 (t), dòng xe tăng này được sử dụng rộng rãi bởi Quân đội Đức và các nước chư hầu trong những năm đầu cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2.
   Cấu trúc và vũ khí trang bị của LT 38 gần với xe tăng hạng nhẹ LT 35. Tuy nhiên, nó có động cơ 6 xi lanh, 125 sức ngựa “Praha” EPA mạnh hơn. Các tấm thép của thân xe được gắn chặt với nhau bằng đinh tán liền với thân xe từ các thép góc. Bộ phận truyền động kiểu “Christie” cấu tạo bởi 4 bánh đỡ mỗi bên, được treo theo cặp bởi các tấm lò xo nằm ngang. Kết cấu này đảm bảo cho xe tăng có tốc độ cao và khả năng vượt chướng ngại vật tốt. Tháp chỉ huy được trang bị bằng 4 khe quan sát, được che chắn bởi kính bọc thép và kính tiềm vọng. Tuy nhiên, sự liên lạc giữa trưởng xe và lái xe (kiêm kỹ thuật viên) được thực hiện với sự trợ giúp của hệ thống các bóng đèn tín hiệu nhỏ nhiều màu. Xe tăng được trang bị pháo nòng dài 37mm, đạn xuyên giáp với khối lượng 0,8 kg và tốc độ bắn 750m/s, tầm bắn 500m và có thể xuyên được giáp dày 40mm. Tháp pháo quay bằng tay nạp đạn theo mặt phẳng thẳng đứng.
    150 xe tăng phiên bản TNHPS, được đặt hàng bởi Bộ Quốc phòng Tiệp Khắc, được sản xuất vào thời điểm gần mùa thu năm 1939. Trong lực lượng xe tăng Đức, chúng được biết đến dưới tên gọi Pz 38(t) Ausf.A và nhanh chóng tham gia vào các trận đánh trên chiến trường Ba Lan. Sauk hi chiếm đoạt thành chiến lợi phẩm, người Đức đã thực hiện những cải tiến nhỏ trên LT 38, kíp xe được tăng lên thành 4 người với 1 thành viên làm nhiệm vụ nạp đạn. Cải tiến này còn được áp dụng cho các phiên bản tiếp theo B, C, D (dưới tên gọi của Đức), được sản xuất 352 chiếc trong khoảng năm 1940. Những seri sau 38(t) Ausf.A.E và F (525 chiếc) được gia cố them giáp đầu bằng những khối thép dày 25mm và giáp hông – 15mm.  Xe tăng được trang bị hệ thống đài vô tuyến điện của Đức và các thiết bị quan sát mới. Trong khoảng thời gian 3 năm, seri sản xuất LT 38 được hiện đại hóa không chỉ một lần với mục đích tăng giáp bảo vệ xe và hệ thống thông tin liên lạc theo tiêu chuẩn của Đức. Tổng cộng có hơn 1300 xe tăng theo 7 phiên bản được sản xuất với sự khác nhau chút ít nằm ở hình dạng bên ngoài.
   38(t) bắt đầu tham gia vào các hoạt động trên chiến trường Ba Lan năm 1939, tham gia chiến đấu tại Pháp năm 1940. Đến gần ngày 22 tháng 6 năm 1941, theo tính toán, có 772 xe tăng 38(t) trong 5 sư đoàn xe tăng Đức trên tuyến đầu. Hầu hết chúng bị phá hủy bởi Hồng quân trong những năm đầu của cuộc chiến. Số còn lại được sử dụng làm phương tiện cho các đơn vị huấn luyện và chống du kích.
   Gầm của loại xe tăng này về sau được một số quân xưởng sử dụng cho đến cuối chiến tranh. Nó được sử dụng làm cơ sở cho việc chế tạo nhiều loại pháo tự hành với cỡ nòng từ 20mm đến 150mm. Loại pháo tự hành chống tăng nổi tiếng nhất trong số này là “Thợ săn” với cỡ nòng pháo 75mm. LT 38 với những nâng cấp không đáng kể cũng được sản xuất tại Thụy Điển dưới tên gọi Strv m/41.
   


 
 Các thông số chính:
Tên gọi: LT 38
Phân loại: hạng nhẹ
Kíp xe: 4 người
Khối lượng chiến đấu: 9,7 tấn
Chiều dài,m: 4,61
Chiều rộng,m: 2,13
Chiều cao,m: 2,25
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/37
Hỗ trợ/mm: 2/7,92
Độ dày giáp đầu: 25mm
Độ dày giáp bên: 15mm
Động cơ: EPA, bộ chế hòa khí, 120 sức ngựa
Tốc độ tối đa: 42km/h
Tầm hoạt động: 230km.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM