17. T-64
T-64 được thiết kế đầu những năm 60 dưới sự lãnh đạo của Tổng công trình sư A.A.Morozov tại xưởng sản xuất xe – máy vận tải Kharcov, là loại xe tăng chủ lực đầu tiên của Liên Xô và so sách với các xe tăng chủ lực tương tự, cùng chủng loại do các nước khác sản xuất, nó nổi bật hơn ở một số tính năng. Xe tăng tiếp nhận tổ hợp giáp nhiều lớp với các tấm giáp trước đầu có góc nghiêng lớn, tăng sự bảo vệ cho xe. Tháp pháo đúc được lắp pháo chính 115 nòng trơn D-68 với cơ chế nạp đạn tự động bằng máy thủy – điện. Lần đầu tiên trên thế giới, thiết bị này được lắp trên xe tăng có cấu tạo truyền thống (thông thường). Việc đó cho phép giảm thành phần kíp xe xuống còn 3 người (bỏ người làm nhiệm vụ nạp đạn), đồng thời có thể thu hẹp chiều rộng của tháp pháo và tăng độ dày giáp. Trong cơ số đạn 40 viên với các loại đạn khác nhau với vỏ đạn dễ cháy thuộc dòng đạn phá – mảnh, đạn nổ và đạn dưới cỡ nòng. Sự dẫn bắn được thực hiện với sự trợ giúp của kính ngắm viễn vọng đo xa ổn định TPD-43B, có tầm bắn lên đến 4 000m. Tốc độ bắn của pháo chính, được trang bị hệ thống cân bằng pháo – tăng hai chiều 2E18, lớn gấp 2 lần so với tốc độ bắn trên pháo nòng trơn 115mm trên T-62.
Trong hệ thống truyền động xe tăng sử dụng tổ hợp động cơ diezen đa nhiên liệu tuabin – pittông 5 xilanh – 5TDF 700 sức ngựa. Bộ phận truyền động gồm có các bánh đỡ đường kính nhỏ vớ hệ thống giảm sóc bên trong. Điều đó đảm bảo cho T-64 đạt tốc độ cao và êm trên đường gồ ghề. Loạt xe tăng T-64 đầu tiên được xuất xưởng tại công xưởng Kharcov mùa thu năm 1963, tuy nhiên, xe tăng chỉ gia nhập lực lượng vũ trang Liên Xô 1 năm sau đó. Vào năm 1969, phiên bản hiện đại hóa của T-64 bắt đầu được sản xuất, dưới tên gọi T-64A. Khác với T-64 bằng việc trang bị pháo nòng trơn 125mm D-81 (2A26), cơ chế nạp đạn mới, nâng cấp máy đo – thước ngắm TPD-2-49, hệ thống cân bằng pháo – tăng 2E23 và tăng cường giáp bảo vệ. Sau đó, T-64 A được lắp súng máy phòng không 12,7mm với thiết bị điều khiển từ xa, độ dày tháp pháo cũng được tăng cường, hệ thống vượt hố sâu đến 1,8m, lưới quét mìn và các trang bị kèm theo cho việc chống mìn chống tăng 1 cách tự động. Từ năm 1980 trên T-64A xuất hiện màn chắn cao sup ha thép. T-64B, được sản xuất từ năm 1967, trang bị tổ hợp “Cobra” có khả năng bắn tên lửa chống tăng qua nòng pháo. Trong thành phần hệ thống điều khiển hỏa lực có thước ngắm – đo xa laze, máy tính đường đạn và hệ thống cân bằng pháo tăng 2E26M. Tính năng của pháo được tăng cường cùng với sự trang bị hệ thống hút khói.
T-64B không có tổ hợp “Cobra” nhận tên gọi T-64B1. T-64BV và T-64BV1 trang bị giáp phòng ngự tích cực. Xe tăng được trang bị động cơ diezen 6TD 1000 sức ngựa mạnh hơn, có kí hiệu chỉ số M.
Xe tăng chủ lực T-64 không dành cho xuất khẩu, vì vậy, việc bán hoặc chuyển giao nó cho các quốc gia khác không diễn ra. Seri sản xuất của nó liên tục khoảng 25 năm với nhiều tham số vượt trội hơn phần lớn các xe tăng thuộc khối NATO.
Phần lớn số lượng T-64 nằm trong các bộ phận xe tăng trong khối quân đội Xô Viết đóng tại Đông Đức. Sau khi Liên Xô tan rã và các quân đoàn đóng tại nước ngoài rút đi, một số lượng lớn T-64 đã bị phá hủy dưới sự chứng kiến của các thanh sát viên nước ngoài. Trên cơ sở T-64, còn chế tạo được các kiểu xe tăng chỉ huy T-64K, T-64AK, T-64BK, xe kéo pháo, xe vận tải lội nước PTR-2 và các kiểu xe khác.
Các thông số chính:
Tên gọi: T-64BV
Phân loại : xe tăng chủ lực
Kíp xe: 3người
Khối lượng chiến đấu: 42,2
Chiều dài,m: 9,22
Chiều rộng:,m: 3,29
Chiều cao,m: 2,17
Khối lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/125
Hỗ trợ: 1/7,62; 1/12,7
Độ dày giáp đầu: 200+giáp phòng ngự D3
Độ dày giáp bên: 80
Động cơ: 5TDF, diezen, 700 sức ngựa
Tốc độ tối đa: 60km/h
Tầm hoạt động: 500km.
