Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:01:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam  (Đọc 77371 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #30 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 09:01:35 am »

@panphilov: cám ơn bạn đã làm rõ ý của mình về trường hợp An Dương Vương. Mình lôi Thủy Tinh vào làm ông tổ của cách đánh dưới nước nên mới bảo là nhầm chứ khong phải nhầm chỗ ADV.
 Grin
Logged
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #31 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 11:37:47 am »


Nếu đã có sự suy tôn thì chúng ta đều đã biết lâu rồi bác ạ  Grin

Suy tôn trong dân gian, trong mỗi chúng ta, theo tôi còn hơn và vĩnh cửu hơn sự suy tôn được xác nhận bởi các bằng sắc và ghi chép.

Thủy chiến ai qua được Ngô Quyền trong trận bạch đằng?
Đặc công nước chắc có Yết Kiêu, Voi chiến hẳn không thiếu Dã Tượng? Hai vị này đều là gia nô của Quốc công Tiết chế liệu có tính không?
Việc tổ chức thành công cuộc hành quân "Thần tốc" của Quang Trung nên vị anh hùng áo vải cờ đào này rất đáng được suy tôn là "Ông tổ của các cuộc hành binh thần tốc"...
Logged

linhtapsu
Thành viên
*
Bài viết: 51


« Trả lời #32 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 11:49:30 am »


Thực ra các bộ sử nước ta sơ sài quá đa phần là truyền miệng theo kiểu tam sao thất bản , 1000 năm bắc thuộc hầu hết là huyền sử độ chính xác không cao , về voi chiến thì từ thời bà Trưng , rồi tới bà Triệu đã sử dụng rồi bác ạ !
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #33 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:12:49 pm »

Đoàn Nhữ Hài cũng đưa vào hàng võ tướng thì VN có biết bao nhiêu người đây ? Đoàn Nhữ Hài là quan văn không có tầm nhìn chiến lược , kinh nghiệm của 1 võ tướng . Khi ông chết vua Anh Tông còn than rằng : "Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được!" Đời nhà Trần thì thiếu gì các võ tướng nổi danh như : Nguyễn Khoái , Nguyễn Địa Lô , Trần Khát Chân vv chứ Đoàn Nhữ Hài thì sao sánh với họ đây ?
Nguyễn Địa Lô có phải là tướng đâu bác. Ông này chỉ là gia nô thôi

Nên dùng từ gia tướng các bác ạ.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #34 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:49:36 pm »

NGUYỄN CHÍCH
(1382–1448)

Từ năm 1418 đến 1423, quân Lam Sơn chỉ hoạt động quanh quẩn ở vùng núi Thanh Hoá, bị quân Minh nhiều lần đánh bại. Trong tình thế khó khăn, Lê Lợi đã phải giảng hoà với quân Minh để củng cố thực lực. Cuối năm 1424, khi sứ giả quân Lam Sơn là Lê Trăn bị quân Minh bắt giữ, Lê Lợi bèn cắt đứt giảng hoà với địch.

Vào thời điểm đó, Nguyễn Chích đã hiến kế với Lê Lợi: "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ".

Các nhà sử học đánh giá rất cao về kế vào Nghệ An của Nguyễn Chích. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm kể từ khi thực hiện kế hoạch của ông, quân Lam Sơn làm chủ 1 vùng rộng lớn từ Thanh Hoá và Thuận Hoá, bao vây các thành địch. Nếu so sánh với thời gian 6 năm 1418 – 1423 chỉ quanh quẩn ở mấy huyện ở Thanh Hoá thì thấy hiệu quả của việc thay đổi chiến thuật này rất lớn.


Trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn ca ngợi ông như sau: "Bầy tôi có ông khai quốc, kể về bậc tài trí cần lao không phải là hiếm nhưng sở dĩ [vua Lê Thái Tổ] đã bình định được cả nước là do mưu chước của Lê Chích… Không cần phải đánh mà được thành Đông Đô, lấy hoà hiếu để kết thúc chiến tranh, tuy là mưu kế của Nguyễn Trãi, nhưng trước hết làm cho căn bản mạnh để thu thắng lợi hoàn toàn thực chất là bắt đầu từ Lê Chích"...

Đúng là nói đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn người ta thường nhắc tới cụ Nguyễn Trãi nhiều hơn và ít nhắc đến cụ Nguyễn Chích. Em rất thích câu đánh giá của cụ Lê Quý Đôn. Các bác chú ý là cụ dùng hai từ "mưu chước" và "mưu kế" nhé. Mưu chước liên quan đến chiến lược và mưu kế liên quan đến chiến thuật. Cho nên trong cái đoạn em bôi đỏ là không có chính xác, dùng từ kế là sẽ hạ thấp vai trò của cụ Nguyễn Chích.

Lúc mới khởi binh, nghĩa quân của Lê Lợi tiến hành chiến tranh du kích trong khu vực rừng núi Thanh Hóa (1918-1923) do lực lượng còn yếu. Một cuộc chiến tranh du kích nhằm 2 bước là (1) bảo tồn lực lượng và (2) từng bước phát triển lực lượng để rồi tiến tới đánh chính quy ở mức độ chủ lực với đối phương thì mới có thể kết thúc chiến tranh. Như vậy rõ ràng là nếu cứ tiếp tục ở Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn sẽ không có khả năng phát triển lực lượng.  "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ". Nghệ An là nơi hiểm yếu chọn Nghệ An làm chỗ đứng chân là chọn cái THẾ, đất rộng người đông chính là cái LỰC. Nói vậy hiểu sâu xa cái ý của Nguyễn Chích là khuyên Lê Lợi nếu không muốn thất bại thì phải phát triển lối đánh du kích thành lối đánh chính quy, chủ lực. Mà khi đã nói đến tạo thế, phát triển lực lượng thì đó là chiến lược tức là mưu chước. Mà trước đó ví dụ như Lý Bí chẳng hạn, rút vào Điển Triệt chỉ biết du kích thì rốt cuộc cũng bị bao vây mà thất bại thôi.

Còn cái đóng góp của Nguyễn Trãi đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đó là chiến lược "đánh và đàm" mà trong chống Pháp và chống Mỹ chúng ta gọi là "vừa đánh vừa đàm, quân sự kết hợp ngoại giao". Mà ngoại giao mà không có cái LỰC và cái THẾ thì là ngoại giao suông không có trọng lượng (Điện Biên Phủ trên không mà ta không thắng thì dễ gì thằng Mỹ nó ký hiệp định Paris). Nói vậy để ta hiểu hơn cái ý của Nhà sử học Lê Quý Đôn.

Như vậy, ta có thể coi Nguyễn Trãi là ông tổ của đường lối "Đánh và Đàm" và Nguyễn Chích là ông tổ của 2 bước "phát triển lực lượng và tổng phản công" trong chiến lược "cầm cự phát triển lực lượng phản công".






Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #35 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:51:16 pm »

Vâng, cần gọi Yết Kiêu, Dã Tượng là gia tướng, không nên viết là gia nô!

...Ông Tổ ngành quân khí Việt Nam phải chăng là tướng quân Cao Lỗ?
Logged

linhtapsu
Thành viên
*
Bài viết: 51


« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 07:56:32 pm »

Nhà Lê theo mình võ tướng giỏi nhất vẫn là Trần Nguyên Hãn !
Logged
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #37 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2009, 11:38:38 pm »

2. Ông Tổ của lối đánh Đặc công?

Với Đại tá Trần Công An thì em đồng ý với nhận định "là người khai sáng lối đánh đặc công hiện đai" hơn là "ông tổ của lối đánh đặc công" vì trong lịch sử của Việt Nam không không thiếu các trận đánh dùng tinh binh (ít hơn quân giặc rất nhiều) bí mật áp sát, tập kích bất ngờ đánh nhanh rút gọn. Đặc biệt hơn nữa người ta luôn coi danh tướng Yết Kiêu thời Trần là "ông tổ của đặc công nước".

[/quote]

Đồng ý với bác Pan! Chắc trong lịch sử cha ông ta đã áp dụng lối đánh này rồi, à mà vụ quân Lam Sơn cho người đánh sập cây cầu khi Liễu Thăng cùng đám kị binh chạy qua có coi là do "đặc công" thực hiện không các bác?
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
linhtapsu
Thành viên
*
Bài viết: 51


« Trả lời #38 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2009, 12:40:07 am »

Bác caytrevietnam trận Chi Lăng thì mình nhớ không nhầm đâu có cây cầu nào đâu nhỉ ? Chỉ nói là Liễu Thăng dẫn quân đuổi theo sa vào mai phục bị chém đầu thôi chứ bác  Huh Huh
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #39 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2009, 05:49:20 am »

 

Về lai lịch một "người Thăng Long gốc": Lý Thường Kiệt

                                                               GS. LÊ VĂN LAN

 

Trông ra phố Nam Đồng ngày trước (nay: phố Nguyễn Lương Bằng) và ngôi đình làng Nam Đồng (Năm Đồng). Đình thờ Lý Thường Kiệt, với cớ: nơi đây là đất mai táng người anh hùng dân tộc thời Lý.

Thông tin này cần được kiểm chứng, nhưng, dù sao thì cũng có phần phù hợp (phụ họa) được với một "tín hiệu chìm" khác: không một dòng sử quan phương nào chép về việc đã đưa linh cữu vị đại danh thần đồng thời là đại danh tướng Lý triều, sau khi mất, về một nơi nào - thường, theo quy luật trung cổ, thì phải là nơi chính quán - mà lại ở  ngoài Thăng Long! Có nghĩa ông là người Thăng Long.

Hiện có hai thuyết, xuất nhập về chi tiết, nhưng đại để, thì đều trực tiếp  nói rõ: Lý Thường Kiệt gốc người Thăng Long. Cả hai thuyết đều chỉ ra rằng: Lý Thường Kiệt là người Làng An (Yên) Xá (Sau đổi là Cơ Xá) trên bãi sông Hồng, phía sau thành Thăng Long. Nhưng, thuyết thứ nhất (dựa vào sách "Tây Hồ chí") cho rằng, trước khi trở thành người (và phúc thần) An (Yên) Xá, thì quê gốc Lý Thường Kiệt là: Làng Bình Sa.

Vào thời Lý Thái Tổ định đô, do việc mở mang kinh thành, làng Bình Sa phải di dời ra mạn bãi sông Hồng, nhường đất cho vua xây thành. Người Bình Sa, vì lẽ đó, trở thành người An (yên) Xá, tức Cơ Xá. Còn thuyết thứ hai, thì cũng nói đến việc Lý Thường Kiệt dời quê gốc ra bãi sông Hồng để thành người An (Yên) - Cơ Xá, nhưng lại (theo sự chỉ dẫn quan phương của các sách "Đại Việt sử ký toàn thư", "Lịch triều hiến chương loại chí"...) mà cho rằng chốn quê gốc ấy, là: phường Thái Hòa.

Nay, thử làm việc dung hợp hai thuyết này, thì có thể thấy ra một điều là: trong khi chỉ định làng Bình Sa như một chốn quê gốc của Lý Thường Kiệt, thuyết thứ nhất cũng đồng thời chỉ định vị trí xa xưa của làng này, là ở phía nam Hồ Tây. Và, khi nghiên cứu về vị trí của phường Thái Hòa, nhiều học giả đã cho rằng phường này vào thời Lý ở về mạn Tây thành Thăng Long (chỗ có núi Cung, gần các làng Ngọc Hà - Vĩnh Phúc xưa). Thế thì, ở đây, chẳng có gì là mâu thuẫn (khác biệt) cả (hoặc nhiều). Bởi vì: núi Cung (Ngọc Hà - Vĩnh Phúc) cũng chính là miền đất ở sát ngay bờ nam Hồ Tây (chỉ cách có một con đê - thành, cũng chính là vòng tường đất "La Thành" (đại La Thành) thời Lý Trần mà nay là đường Hoàng Hoa Thám.

Vậy, có thể cho rằng: Quê gốc của Lý Thường Kiệt là ở đất phía nam Hồ Tây, đồng thời là mạn tây (ngoài cửa Tây) thành Thăng Long. Cái tên Bình Sa (diễn nôm là "Bãi cát phẳng") của đất ấy, gần với đặc trưng cảnh quan tự nhiên (thiên nhiên) của nơi này thuở sơ khai nên có thể là địa danh cổ truyền và hồi cổ,  về và từ thời "tiền Thăng Long" khi đất kinh kỳ còn chưa được mấy khai phá (khai thác). Còn, tên Thái Hòa (các cổ thư quan phương, chép kèm với tên này, đều dùng rõ chữ "phường"), gần với văn hóa phong kiến (cung đình), nên có thể là địa danh - cũng của nơi này - thuộc về thời "đô thị hóa trung cổ" (cung đình hóa): "Thời kỳ Thăng Long" cả hai địa danh đều thuộc về, và chỉ về, một địa điểm (địa bàn): quê gốc của Lý Thường Kiệt.

(Chính từ chỗ này mà ta hiểu ra được: vì sao, sách" Tây Hồ chí" (và "Long thành vật sự") lại chép rõ về con đường mà ngày xưa, Lý Thường Kiệt đã thường đi để theo học thầy Lý Thường Kiệt đã thường đi để theo học thầy Lý Công ẩn ở trường Bái Ân , là: men theo bờ nam Hồ Tây; và, vì sao, lời kể dân gian vùng núi Cung, lại giỉ thích rằng: Sở dĩ núi có tên này, là bởi vì ngày xưa, ở đây có cung điện (phủ đệ, dinh thự) của một vị quan lớn lắm!)

Việc tìm hiểu con đường (cung cách) dẫn đến chỗ Lý Thường Kiệt trở thành người - Thăng Long - gốc từ nghìn năm trước, sẽ (và đã) là một trường hợp vừa điển hình, vừa hiếm lạ - để nghiên cứu ra được nhiều vấn đề dân số học Thăng Long (trong đó, có vấn đề về nguồn gốc và đặc trưng cư dân đô thị này) vào lúc mới định đô.

Hiện có một đầu mối - đúng hơn: một đầu mối kép - rất quan trọng, có thể giúp vào việc lần giở (mở) lại con đường ấy. Đó là: người cha của Lý Thường Kiệt, không phải họ Lý, mà là họ Ngô, và: ông họ Ngô này, có nhiều liên quan đến đất Thanh Hóa.

Tất nhiên các tài liệu, đều chép: họ tên người cha của Lý Thường Kiệt là Ngô An Ngữ, và: vào năm 1031 (lúc ấy, Lý Thường Kiệt 13 tuổi - "tuổi ta", tức: tính cả "tuổi mụ") ông họ Ngô này - giữ một chức quan võ của Lý triều - đã vâng mệnh vua Lý Thái Tông, từ Thăng Long, vào "đi tuần" miền Thanh Hóa, và mất tại đó.

Sự việc này, lâu nay, chỉ được sử sách khai thác ở khía cạnh trình bày về nhân cách Lý Thường Kiệt, tức chỉ quản g bá cho tính hiếu thảo của chú bé Ngô Tuấn - tên thực của Lý Thường Kiệt, khi ấy - đã "đêm ngày thương khóc" cái chết của cha đẻ mình, như thế nào. Nhưng gần đây, với việc dòng họ Ngô hiện đại, đã lập và công bố "tộc phả họ Ngô" (với nhiều chi tiết, tình tiết) phong phú, thú vị - tuy một số trong đó cũng còn cần được kiểm chứng giám định thêm) ta đã có thể nhận ra nhiều manh mối hơn, của sự việc này, ấy là căn cứ vào "Tộc phả họ Ngô" - Ngô An Ngữ, đầu tiên, đã theo giúp Lý Công Uẩn, khi ông này còn (và mới) là một quan chức triều Tiền Lê ở Hoa Lư, do đó, khi có việc dời đô (Hoa Lư) và định đô (Thăng Long) năm 1010, Lý Công Uẩn đã mang theo cả Ngô An Ngữ về triều đình Thăng Long. Trở thành người Thăng Long (một đời), Ngô An Ngữ đã lấy vợ (bà này, họ Hàn) là người phường Thái Hòa khi ấy, và, 9 năm sau ngày định đô - tức: năm 1019 - thì sinh hạ được cậu con trai đầu lòng, hết sức khôi ngô, tuấn tú, cho nên (bèn) đặt tên là: Ngô Tuấn - cái tên đầu tiên và chính gốc của Lý Thường Kiệt, trước khi được vua Lý và Lý triều ưu ái ban cho (đổi gọi) cái tên này.

"Tộc phả họ Ngô" còn cho biết: Ngô An Ngữ đã từ Thanh Hóa mà đi theo Lý Công Uẩn! Như vậy, ông này là một "chuyên gia" về Thanh Hóa. Và vì thế (nhờ thế) vẫn tiếp tục phục vụ triều đại Lý Thái Tông với tư cáhc này Ngô An Ngữ mới đuực phái đi tuần" (hoặc: "tuần kiểm") miền Thanh Hóa 1031, và mất ở đó.

Vì sao Ngô An Ngữ có nhiều gắn bó (liên quan) đến Thanh Hóa vậy? Tiếp tục tra tìm trong "Tộc phả họ Ngô", ta thấy ra một điều quan trọng và thú vị: ông họ Ngô này, chính là trực hệ (thế hệ sau) của ông họ Ngô khác, vốn đã được chính sử nhiều lần nói đến, với tư cách và hành trang của một nhân vật lịch sử đích thực: Sứ quân Ngô Xương Xí, từng - trong thời "Loạn Thập nhị sứ quân" (giữa thế kỷ X) - có căn cứ/và hùng cứ/ở đất Bình Kiều - Thanh Hoá.

Ngược được từ Ngô An Ngữ lên tới Ngô Xương Xí, thì, đến nay, ta đã có thể - dễ dàng và may mắn - gặp được chính sử. Bởi vì, tất cả các tài liệu sử cũ đều lưu chép: Ngô Xương Xí là con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập - hoàng tử trưởng của Ngô Vương Quyền. Từ những rối ren của vương triều Ngô sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), rồi Ngô Xương Ngập cũng mất (năm 944), rồi Ngô Xương Ngập cũng mất (năm 954), và em của ngô Xương Ngập (chú của Ngô Xương Xí) là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn rồi cũng mất (năm 965), mở đầu/ và ở trong/cục diện "Loạn thập nhị sứ quân", Ngô Xương Xí đã tự mình cũng trở thành một "sứ quân", tranh giành quyền lực với các "sứ quân" khác, nhờ (dựa vào) căn cứ Bình Kiều của mình ở Thanh Hóa.

Vì sao, trong khi các "sứ quân" khác, đều chiếm lĩnh và dựa vào các căn cứ của họ ở ngoài miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, thì riêng Ngô Xương Xí lại lựa chọn/và chạy vào/trong đất Thanh Hóa?

Dễ dàng giải đáp điều này: Bởi vì, "bà nội" (Dương Thị Như Ngọc) và cả "ông trẻ" (Dương Tam Kha - em trai bà nội nữa), rồi "cụ ngoại" (Dương Đình (Diên) Nghệ) nữa, của Ngô Xương Xí, đều là người ở/và lập nghiệp từ/Thanh Hoá: Đất Dương Xá (làng Giàng)! và, đây mới là điều quan trọng nhất: chính ông nội của Ngô Xương Xí (tức: "cụ nội" của Ngô An Ngữ, và "kỵ nội" của Ngô Tuấn - Lý Thường Kiệt) là Ngô Quyền (Ngô Vương Quyền) tuy quê gốc ở Đường Lâm (Sơn Tây) nhưng cũng lại chsinh là rể đất Thanh (con rể của Dương Đình (Diên) Nghệ) và cũng đã từng từ đây mà lập nghiệp: đem lực lượng (của họ Dương) từ đất Thanh ra Bắc, mở "chiến dịch kép" - tiêu diệt kẻ phản bội Kiều Công Tiễn ở Đại La và cả phá quân xâm lược Nam Hán ở Bạch đằng, năm 938!

(Roc ra điều này, ta sẽ lại có cơ sở và tiền lệ, để hiểu: vì sao mỗi khi đất Thanh Hóa có điều bất ổn (dưới triều đại Lý Thái Tông), hoặc cần quản lý tốt (dưới triều đại Lý Nhân Tông), thì ở tất cả những trường hợp ấy, đến lượt Lý Thường Kiệt: Ông đều được phái đi từ Thăng Long, để "thanh tra, vỗ về", hoặc "trị nhậm, mở mang", và đều "hoàn thành nhiệm vụ" rất tốt đẹp và trở về kinh kỳ.

Lý Thường Kiệt (Ngô Tuấn), vậy, không những là người Thăng Long gốc (đời thứ hai), mà còn là cháu chắt chút (đời thứ năm) của cụ Tổ ("Kỵ") Ngô Quyền.

Con đường để Lý Thường Kiệt trở thành một nhân vật lịch sử lớn, vậy là đã trải qua một hành trình trăm năm - dài từ thê skỷ X chuyển qua thê skỷ XI - và đã dẫn qua nhiều miền đất nước - từ quê nội Sơn Tây, qua quê ngoại Thanh Hoá, mà về đến Thăng Long. Đấy là con người biết kế tục truyền thống (tinh anh) của dòng họ, và biết kế tục giá trị (tinh hoa) của nhiều nguồn, để mà một khi đã trở thành người thị dân kinh đô, thì ở trên "đất rồng thiêng", biết hưởng dụng (khai thác) các vị thế thuận lợi của và từ chốn kinh kỳ vào lúc mới  định đô và khai sáng vương triều, nỗ lực lập trí và hành động, do đó, thăng tiến mạnh mẽ được cho cuộc đời và sự nghiệp bản thân, đồng thời, thăng hoa đẹp để được cho chốn quê hương kinh kỳ của đất nước này.

                                             (Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm - Số 7/2002)
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM