Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:00:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Võ tướng trong lịch sử Việt Nam  (Đọc 77362 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2009, 08:25:38 am »

Bác caytrevietnam trận Chi Lăng thì mình nhớ không nhầm đâu có cây cầu nào đâu nhỉ ? Chỉ nói là Liễu Thăng dẫn quân đuổi theo sa vào mai phục bị chém đầu thôi chứ bác  Huh Huh

Trong Đại Việt Sử ký toàn thư thì không nhắc đến cây cầu, nhưng theo các bộ sử khác của Việt Nam và Trung Quốc, thì đều có nói đến "cầu". Việt sử Thông giám cương mục dẫn lại theo Thông giám tập lãm: "Liễu Thăng định vượt qua cầu, cầu bị hỏng nên không tiến lên được". Còn Minh sử, Hoàng minh thực lục, Minh sử kỷ sự bản mạt và Đông lý văn tập thì nói Liễu Thăng đã vượt qua câu, cầu bị hỏng nên hậu đội không tiến lên được. Như vậy, dù còn chưa thống nhất ở chi tiết Liễu Thăng đã qua cầu hay chưa, nhưng đều có nhắc đến cây cầu trên đường tiến quân của quân Minh, gần nơi ta mai phục và giết được Liễu Thăng.

Còn tại sao lại có cây cầu này? Đó là vì: núi Mã Yên nằm ở phía nam cánh đồng Chi Lăng, quanh chân núi là cánh đồng lầy lội, hiện nay nhân dân địa phương còn gọi là Nà Pung, Nà Lúm (Tiếng Tày có nghĩa là đồng lầy, đồng thụt) muốn qua phải bắc cầu mới đi được.

Chi tiết hơn bác có thể xem trong sách Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, phần nói về chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười Một, 2009, 08:35:48 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
copbien51
Thành viên
*
Bài viết: 86


dragon thanh hoa


WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 07:52:33 am »

Lê Văn An (?-1437)
Danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, công thần khai quốc nhà Hậu Lê. Ông quê ở làng Mục Sơn (nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Ông đi theo Lê Lợi từ ngày đầu, và tham dự hội thề Lũng Nhai (1416). Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra (1418), ông đã chỉ huy đội quân Thiết Đột, đánh trên trăm trận lớn nhỏ, lập được nhiều công lao rất dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Năm 1424, ông đã tham gia một số trận đánh quan trọng như: trận Khả Lưu, trận Tân Bình – Thuận Hóa; trong trận Khả Lưu, ông xung phong đi đầu hãm trận, đánh lui quân Minh. Năm 1425, ông được cử cùng các tướng Lê Ngân, Lê Bôi mang thuyền tiếp ứng, phối hợp với Trần Nguyên Hãn đánh được hai thành, sau đó vây hãm và dụ hàng giặc ở thành Nghệ An (1425). Năm 1427, ông cùng với tướng Lê Lý (tức Nguyễn Lý) được lệnh đem 3 vạn quân hỗ trợ cho tướng Lê Sát ở Chi Lăng – Xương Giang. Ông đã lập công lớn trong trận đánh Xương Giang (11/1427).
Sau ngày toàn thắng, với những công lao trên ông được phong Nhập nội thành tư mã, hàm Suy trung Bảo chính công thần (1428). Năm 1429, khi Lê Thái Tổ sai khắc biển công thần, ông được phong làm Đình Thượng hầu.
Năm 1432, ông lại được gia phong làm Tán trị hiệp mưu công thần, Nhập nội kiểm hiệu Đại tư không, Bình chương quân quốc trọng sự.   
Năm 1434, nhân có biến loạn ở Lạng Sơn, ông được cử chức Tư mã Bắc đạo, đem quân đi đánh dẹp. Lập công tuy được thăng chức Nhập nội Đại tư mã, Đô đốc Tổng quản Bắc đạo nhưng ông vẫn bị chê trách  (vì đã bắt bớ tràn lan, không làm yên lòng dân).
Đương thời, ông là người hoà nhã, giản dị trong số các võ tướng triều đình, hay lấy lễ tiếp đãi các bậc sĩ đại phu.
Năm 1437, ông mất, được truy tặng Tư Không, thụy là Trung Hiến.
Năm 1484, ông được Lê Thánh Tông truy tặng là Thái phó, Khác quận công.
Logged

Từ điển nhân vật lịch sử Thanh Hoá
copbien51
Thành viên
*
Bài viết: 86


dragon thanh hoa


WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 07:55:35 am »

Hoàng Đình Ái (1527-1607)
Là tướng nhà Hậu Lê, có công giúp nhà Lê trung hưng. Ông sinh ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Hợi (1527), là người Biện Thượng, huyện Vĩnh Phúc (nay là thôn Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá). Ông là con nhà cậu của Lượng Quốc Công Trịnh Kiểm.
Ông ra đời khi nước Đại Việt bị chia cắt trong thời chiến tranh Lê-Mạc. Khi ông lớn lên, đất Thanh Hoá quê ông đã thuộc về nhà Lê. Ông đầu quân theo giúp nhà Lê trung hưng và trở thành danh tướng trong cuộc chiến tranh này.
Năm 1557, ông cùng Phạm Đốc phục binh phía Bắc sông Mã chặn đánh quân Mạc tiến từ vùng Hòa Bình vào căn cứ của quân Lê Trịnh, trận này quân Lê thắng lớn.
Năm 1561 sau khi mất vùng Sơn Nam, phụ chính nhà Mạc là Mạc Kính Điển vượt biển đánh vào vùng duyên hải Thanh Hóa. Trước sức mạnh của quân Mạc, Tây Đô có nguy cơ bị thất thủ. Thái sư Trịnh Kiểm điều ông về chặn đánh cuộc tiến công của quân Mạc, giữ vững được thành đô, đuổi quân Mạc ra khỏi đất Thanh Hóa.
Năm 1570, Trịnh Kiểm vừa mất, anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng đánh nhau tranh quyền hành, tướng sĩ không hòa thuận, nhân dân hoang mang. Nhân cơ hội đó quân Mạc do Mạc Kính Điển đem 10 vạn quân chia làm 5 đạo với 700 chiến thuyền vào đánh Thanh Hóa quyết diệt quân Lê Trịnh.
Thế quân Mạc khi đó rất mạnh. Trịnh Cối không thể đương nổi đã dẫn bộ tướng đem quân hàng Mạc. Hoàng Đình Ái liền gọi các tướng Lê Khắc Thận, Nguyễn Hữu Liêu, Phạm Văn Khoái... vào yết kiến nhà vua Anh Tông và tôn Trịnh Tùng làm đô tướng để chống quân Mạc.
Dưới thời Mạc Kính Điển cầm quân, quân Mạc rất mạnh và thường chiếm ưu thế trước quân Lê. Mạc Kính Điển cùng tướng Nguyễn Quyện nhiều lần cầm quân vào đánh Thanh Hoá, Nghệ An.
Năm 1575, Kính Điển đem quân đánh Thanh Hoá. Quân Mạc mạnh, tiến đến đâu, quân Lê đều không dám chống lại, trốn xa vào núi rừng để trốn tránh. Kính Điển tự đem đại binh tiến đánh các sông ở Yên Định và Thuỵ Nguyên, lại chia quân cho Mạc Ngọc Liễn tiến đánh các huyện Lôi Dương và Đông Sơn.
Tháng 8 năm đó, ông nhận lệnh của Trịnh Tùng thống suất các tướng Đỗ Diễn, Phan Văn Khoái đem quân đi cứu các huyện Lôi Dương, Nông Cống, Đông Sơn, đóng quân ở núi Tiên Mộc. Ông phối hợp với Trịnh Tùng và thái phó Vũ Sư Thước đuổi được quân Mạc rút về.
Tháng 8 năm 1577, Mạc Kính Điển lại đánh sông Đồng Cổ. ông lại nhận lệnh cùng Nguyễn Hữu Liêu đem quân chặn phá quân địch, đánh nhau với quân Mạc ở Hà Đô. Quân Mạc lại phải rút lui.
Năm 1581, quân Mạc lại đánh vào Thanh Hóa. Hoàng Đình Ái thống lĩnh quân tướng chia làm 3 đạo, Nguyễn Hữu Liêu làm tiên phong, tự mình đốc đại binh làm chính đội, Trịnh Thái làm hữu đốc, Trịnh Đồng làm hậu đốc đánh quân Mạc suốt dọc sông Mã, trận này diệt hơn 600 quân, bắt sống 1 tướng Mạc, quân Mạc phải tháo chạy ra Bắc.
Sau khi Mạc Kính Điển chết (1580), nhà Mạc ngày một suy yếu, quân Nam triều ngày càng thắng thế. Tháng 12 năm 1591, Trịnh Tùng dẫn đại quân tổng tiến công vào Thăng Long, chia quân làm 5 đạo. Hoàng Đình Ái cùng Trịnh Đồng lĩnh đội thứ 2. Cuối tháng chạp năm đó, quân hai bên đụng nhau một trận lớn, quân Lê đại phá quân Mạc.
Sang năm 1592,ông theo Trịnh Tùng đánh bại quân Mạc nhiều trận lớn nữa, chiếm được kinh thành Thăng Long. Vua Mạc là Mậu Hợp bỏ trốn không lâu bị bắt và bị giết. Thân tộc họ Mạc chạy lên phía bắc tiếp tục cầm cự.
Ông trở thành một trong các công thần có công lớn nhất trong việc giúp nhà Lê trung hưng, khi đó ông đã 66 tuổi.
Tình hình Bắc bộ chưa ổn định do vây cánh họ Mạc còn nhiều. Từ năm 1593, Hoàng Đình Ái tiếp tục ra quân đánh dẹp các lực lượng họ Mạc chống đối, tiêu diệt nhiều cánh quân Mạc.
Tháng 3 năm 1598, ông lại đem quân đánh dẹp tàn quân Mạc ở Lục Ngạn, bắt được Mạc Kính Luân, thu 35 chiến mã và nhiều khí giới. Tháng 6 năm ấy, ông lại đến thành Lạng Sơn cử đô đốc Lâm quận công Trần Phúc đem 1.000 quân đến châu Thoát Lãng bắt được con trai Mạc Kính Cung, còn Mạc Kính Cung chạy sang Long Châu (Trung Quốc).
Tháng 3 năm 1601, con Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung lại mang quân về đánh Hải Dương. Lão tướng ông lúc đó đã 75 tuổi, vẫn nhận lệnh cầm quân đi dẹp. Ông đánh đuổi Kính Cung chạy lên Lạng Sơn.
Tháng 3 năm 1597, nhà Minh sai ủy quan là Vương Kiến Lập đến trấn Nam Giao đòi lễ cống và hội khám (diễu binh). Ngày 28 tháng 3 vua Lê Thế Tông thân đốc hữu tướng Hoàng Đình Ái, thái úy Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Liêu cùng tả hữu đô đốc 7, 8 viên, voi và 5 vạn quân đến trấn Nam Giao đề phòng khi mở cửa quan, hội khám quân Minh tràn sang giúp phía Mạc lưu vong bắt vua, hiếp tướng. Hoàng Đình Ái tâu với Trịnh Tùng:
Trịnh Tùng liền trao cho Hoàng Đình Ái thanh gươm “An quốc” tại cửa ải Nam Quan, ủy quan Vương Kiến Lập cùng tàn quân Mạc trông thấy quân Lê đông đúc, binh tướng oai hùng, lẫm liệt khí thế phải lẳng lặng từ bỏ những ý đồ đánh chiếm. Cuộc hội khám cử hành đúng nghi lễ, nhà Minh phải công nhận nhà Lê, bỏ nhà Mạc.
Về vùng đất huyện Kim Thành, Hải Dương, ông đã chiêu dụ nhân dân trở lại làm ăn sinh sống, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, xin vua cấp thóc giống, miễn thuế 3 năm, mở mang học hành cho con trẻ... Do đó miền Hải Dương dần dần trở lại bình yên.
Cuối năm 1607, ông ốm nặng. Ông mất ngày 15 tháng Chạp năm Đinh Mùi (1607) tại nội thành Thăng Long, thọ 81 tuổi. Vua Lê Kính Tông ra chiếu chỉ cả nước để tang 5 ngày, triều đình bãi triều 5 ngày, lấy dân 10 xã làm lính giữ phần mộ.
Để nhớ công đức của ông, sau khi ông mất nhân dân Mạc Xá, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương đã lập đền thờ “Chiêu cảm Đại Vương” để thờ ông.
Logged

Từ điển nhân vật lịch sử Thanh Hoá
kientttt
Thành viên

Bài viết: 1


« Trả lời #43 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2010, 10:21:23 am »

Bạn nói đúng tác phẩm 12 sứ là tiểu thuyết lịch sừ,ở cuối quyển 2 tướng Đoàn Nhữ Hài đã dùng dao truy thủ của Quân sư Lê Thảo giao cho quyết đấu với tướng Lê Hoạt Hoàn của Nam Tấn Vương và đã bị Lê Hoạt Hoàn dùng kiếm đâm vào hông,vết thương này đã đã dẫn đến cái chết của tướng Đoàn Nhữ Hài Cám ơn vì những thông tin mà bạn vừa cho biết

Bạn cho tớ hỏi tiểu thuyết này của tác giả nào thế? Hồi trước tớ có tình cờ đọc một cuốn gì đó của ông Trần Đại Sỹ, thấy kinh hoàng vì mức độ xào nấu của tiên sinh này quá. Thành ra tớ hay có định kiến là các nhà văn Việt Nam viết tiểu thuyết trên nền lịch sử vẫn cứ bị kênh như mặc complet đi mượn ấy, không nhuyễn, không thật (nghĩa là tạo ra được không khí lịch sử và tạo được "lớp bụi thời gian" trên tính cách hành động của nhân vật). Một ví dụ nữa là "Tây Sơn bi hùng truyện", đọc nhiều đoạn như ăn cơm sạn ấy. Quả thực lịch sử Việt Nam rất bi tráng, nhiều thăng trầm, tiếc là nhà văn Việt Nam chưa tạo ra được tác phẩm nào tương xứng. Tớ vẫn ước ao có ai viết được một cuốn tiểu thuyết về lịch sử Việt Nam hay như "Bằng lửa và gươm" hay "Những ngôi sao Eghe". Nhưng chắc còn phải ước dài dài nữa.
Cuốn 12 sứ dược xuất bản làm 2 lần,1 lần trước năm 1975 ra được 3 tập theo như dự định của tác giả là 12 tập.Sau 1975 ra đủ 12 tập nhưng do Trần Đại Sỹ đứng tên tác giả.Những người đã từng đọc 12 sứ trước năm 1975 đều phải công nhận văn phong từng dòng từng chữ của 3 tập đầu y chang sách đã xuất bản trước 1975 nhưng kể từ tập 4 trở đi thì văn phong khác hẳn câu cú đọc cứ dựng tóc gáy cả lên.Nói sơ qua chắc seahawk1 cũng đã hiểu.Tôi đọc 12 sứ là ấn bản của trước năm 1975,Tướng ĐNH tử thương ở cuối tập 2 do bị Lê Hoạt Hoàn tướng của Nam Tấn Vương dùng kiếm đâm vào hông mà chết(Lê Hoạt Hoàn chứ không phải Lê Hoàn đâu seahawk1 nhé)

Bộ tiểu thuyết Loạn 12 sứ quân không phải do Trần Đại Sỹ viết mà nó của tác giả Vũ Ngọc Đĩnh
Hiện tại theo minh được biết truyện của tác giả này về đề tài lịch sử có 4 cuốn các bạn có thể tìm đọc:
1. Loạn 12 sử quân
2. Ứng vận thần vũ Lê Đại Hành hoàng đế phá Tống
3. Băn rụng mặt trời - thời nhà Trần chống nhau với Nguyên Mông
4. Hào kiệt Lam Sơn

Logged
bhavaghita
Thành viên

Bài viết: 2


« Trả lời #44 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2010, 11:17:23 am »

thời Nam bắc triều, lịch sử chúng ta ít được biết nhưng đó là thời chúng ta xuất hiện nhiều hảo thủ và nói thật thời đó hay không kém thời Tam Quốc. Nếu như thời chiến quốc của Trun Hoa có quỷ cốc tiên sinh với 4 học trò chống nhau là : Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi. Thì ở Thời Nam Bắc triều chúng ta cũng có Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm với những học trò tài giỏi cả về văn lẫn vỏ nhưng lại theo 2 phe chống nhau.
về văn ông có: Phùng Khắc Khoan và Lương Hữu khánh. hai người này là học trò của ông nhưng lại theo nhà Lê trong khi ông lại là tôi của nhà Mạc và 1 điểm lý thú là 2 người này 1 người theo tích dân gian là em cùng mẹ với ông còn 1 người là con của thầy: bảng nhãn lương Đắc Bằng. 2 người này theo nhà Lê và trở thành cột trụ trong triều đình Lê Trịnh sau này.
ông còn có học trò là Trạng nguyên Giáp Hải người trở thành trụ cột của nhà Mạc và nổi tiếng với mà tiếp sứ Nhà Minh với bài thơ "Vịnh Bèo" thể hiện rõ ý chí của ta và cho nhà Minh biết là Nước nam cũng có người tài, không dễ gì chiếm được.
về Võ ông có 2 học trò là con trai của người bạn thân là Trạng nguyên Nguyễn Thiến. 2 người học trò đó là Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn. Trạng nguyên Nguyễn Thiến là bạn thân của Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc Nguyễn bỉnh khiêm còn chưa có công danh ông ở nhà trạng nguyên Nguyễn Thiến và dạy 2 người con của Nguyễn Thiến. sau nhờ sự động viên của Nguyễn Thiến ông đã đi thi và đỗ trạng làm quan cho nhà Mạc. lúc này thế lực của Nguyễn Thiến trong triều Mạc rất lớn là thông gia với thái tể Lê Bá Ly. ông bị 2 sủng thần của nhà Mạc là Phạm Quỳnh và Phạm Dao xàm tấu nên buộc phải đem theo toàn gia quyến và 2 con hàng nhà Lê. Sau khi ông mất Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới sự đồng ý của nhà Mạc đã kêu gọi 2 anh em Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn về. Cả 2 anh em đều được nhà Mạc trọng dụng vua Mạc gả con gái cho Nguyễn Quyện và sau này Nguyễn Quyện trở thành danh tướng đệ nhất triều mạc chỉ sau mỗi Mạc Kính Điển. Chỉ vì Mạc Hậu Hợp quá ham nữ sắc, tính cướp vợ của bùi Văn Khuê khiến ông này đem toàn bộ thủy quân hàng nhà Lê nên nhà Mạc bị tổn thương nặng nề 1 mình Nguyễn Quyện lúc đó đã 80 tuổi không còn đủ sức chống lại khả năng hành quân như vũ bảo của Trịnh Tùng nên Nhà Mạc mất, 2 cha con Nguyễn Quyện bị Trịnh Tùng hại chết khi trong nhà lao.
1 Người ở Nhà Mạc rất đáng được kính trọng nửa là Mạc Ngọc Liễn. ông này là con của tướng quân Nguyễn Kính sau hàng Mạc Đăng Dung nên được ban quốc tính. Mạc ngọc Liễn chính là ngọn nến cuối cùng còn cháy sáng của nhà Mạc. lúc nhà Mạc bị diệt ông là người theo kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa tôn thất nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và tồn tại được vài đời. Cuối đời ông đã viết bức tâm thư gởi cho Vua nhà Mạc là Mạc Kính cung :" dù cho sau này có chuyện gì đi nửa tuyệt đối không được viết thư cầu cứu nhà Minh làm chuyện cõng rắn cắn gà nhà có tội ngàn đời với nhân dân xã tắc" đó là hành vi của bậc quẩn tử vĩ đại, nhà Lê không bao giờ bằng được. lúc đầu thì Nguyễn Kim, Trịnh kiểm cho người gởi thư cho Nhà Minh cầu cứu khiến cho nhà Minh cử 10 vạn quân đến sát biên giới khiến cho Mạc Đăng Dung phải thân chinh tự trói mình lên biên giới điều trần với nhà Minh. trả cho tụi nó 1 số đất mà trước đây ta đã chiếm. Nếu Mạc đăng Dung không chịu khuất thì nhà Minh kéo quân vào, quân Lê từ thanh Hóa đánh ra, tụi nhà Minh sẽ mượn tiếng phò thiên tử nhà Lê tấn công nhà mạc lúc đó thì thảm họa Hồ Quý Ly sẽ 1 lần nửa tái diễn. Nhưng lúc đó thực lực nhà Mạc rất mạnh, quân Minh dưới thời Gia Tĩnh đả suy yếu chỉ dám hù dọa chứ không dám tiến công và Mạc Đăng Dung chấp nhận nhún mình nên mới giúp cho đất nước tránh họa xâm lăng. Sau này hậu thế nhà Lê là Lê chiêu thống khi mất quyền lại 1 lần nửa cầu quân Thanh sang xâm lược nước ta. Không biết lão có hổ thẹn không khi nhớ đến Triều đại mà nhà Lê gọi là Ngụy triều có 1 bề tôi khi mất tất cả vẩn nhớ đến non sông xã tắc.
Logged
linhtapsu
Thành viên
*
Bài viết: 51


« Trả lời #45 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2010, 03:27:04 pm »

Thời Nam Triều -Bắc Triều thì Trịnh Tùng có lẽ là 1 bản sao của Tào Tháo , còn Mạc Kính Điển có thể ví như Gia Cát Lượng  Tongue Tongue!!
Logged
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #46 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 12:43:18 am »

                           
Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân_Yết Kiêu

                                               



                                                               1.Vị danh tướng xuất thân từ cảnh cơ hàn

Về huyện Gia Lộc, cách thị trấn khoảng 3 km về phía tây, đi qua những cánh đồng lúa đang trổ bông đón gió, ta sẽ đến Đền Quát, tại Hạ Bì (vốn là một làng chài ở tả ngạn sông Đáy), nơi thờ Yết Kiêu, một danh tướng tài đức song toàn, đặc biệt là tài thuỷ chiến trời Trần

Ông tên thật là Phạm Hữu Thế(1242-1301). Quê ở làng Hạ Bì, huyện Gia Phúc (nay là thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu). Con ông Phạm Hữu Hiệu, người thôn Hạ Bì và bà Vũ Thị Duyên, người huyện Thanh Hà. Cha làm nghề chài lưới bên sông Quát, mẹ bán hàng nước ở bến đò.
Cuộc sống bần hàn của một gia đình ngư dân nghèo khó và sớm mồ côi cha đã khiến Phạm Hữu Thế rất vất vả, phải chài lưới, cào hến giúp mẹ kiếm ăn ngay từ nhỏ. Cuộc sống trên sông nước đã khiến ông bơi lội rất giỏi.

Sau này, trong năm tuỳ tướng tài giỏi và thân tín của Trần Hưng Đạo,có: Cao Mang, Đại Hành, Nguyễn Địa Lô, Dã Tượng và ông.
Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông thế kỷ XIII, ông chuyên dùng tài bơi lặn của mình để xâm nhập sâu vào đội hình địch để đục thủng đánh chìm các chiến thuyền, mang lại nhiều chiến công vang dội đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến. Cũng bằng tài bơi lặn của mình mà ông đã nhiều lần xông pha nơi trận tiền, giữa đội hình địch để cứu nguy và bảo vệ cho chủ tướng. Chính ông đã bắt sống tên phù thủy tay sai giặc lợi hại là Nguyễn Bá Linh.
.Đã có lần Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ướm hỏi về việc lại ngôi vua từ ngành thứ về cho ngành trưởng .

Hưng đạo Đại vương thử hỏi:

“…Khi phụ thân ta (tức Trần Liễu) sắp mất có dặn bảo ta phải lấy cho được thiên hạ, thì Người mới an lòng nhắm mắt. Nhà ngươi thấy thế nào, có nên làm thế không?..”

Yết Kiêu thưa:

“…Làm vậy tuy có phú quý nhất thời mà ô danh muôn thuở. Tôi muốn làm quan hầu cho Đại vương đến lúc già chết, chứ không muốn làm quan với ông vua bất trung…”
Hưng đạo vương khen gợi và từ ấy rất trọng đãi...

Yết Kiêu mất ngày 28 tháng chạp năm Ất Sửu (1303), hưởng thọ 61 tuổi. Khi ông mất, vua Trần cho lập đền thờ ở bờ sông Hạ Bì  quê ông là đền Quát. Khu đền đã trải qua hơn 700 năm, đến thế kỷ XVII- XVIII  được tôn tạo khang trang và tu sửa nhiều lần vào triều Nguyễn. Khu di tích đền Quát được xếp hạng quốc gia (28-1-1989).

Hội đền Quát được tổ chức long trọng và rất lớn hàng năm vào rằm tháng giêng và rằm tháng tám.. Lễ hội có tục bơi thuyền chải nam, nữ. Yết Kiêu được tôn là ông tổ của ngành bơi lặn nước ta.

Ở Hải Dương, cùng với đền Quát còn có nhiều nơi thờ phụng Yết Kiêu, nhất là những nơi ông đánh trận ngày xưa. Đặc biệt tại làng chài có tên Nam Hải, thuộc xã Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng có một ngôi đền do nhân dân lập lên để thờ Yết Kiêu (tức Phạm Hữu Thế). Tại đây, nhân dân coi ông là người khai thiên lập địa, là vị Thành hoàng của cả xã. Vì hầu hết người dân Kênh Giang hiện nay vẫn giữ nghề sông nước, nhưng đã vươn xa hơn ra ngoài tỉnh và ra cả biển. Điều đặc biệt tại ngôi đền này còn lưu truyền được một vật vô giá, đó là chiếc mũ chiến cổ bằng đồng rất nặng của chính Yết Kiêu đội khi đi đánh trận. Lễ hội tưởng nhớ Yết Kiêu tại đây diễn ra vào 15- Giêng âm lịch hàng năm, cũng thu hút rất đông du khách thập phương tìm về tham dự.

Tại lễ hội có lễ tế công chúa Nguyên triều, và phải là những cô gái chưa chồng mới được tham gia lễ rước.(đọc phần sau sẽ rõ).


                                                                                  Thi bơi trải trong lễ hội.

Về danh tướng Yết Kiêu – Phạm Hữu Thế, đời sau có thơ vịnh rằng:
“Hồ Hải xông pha tỏ ý mình

Không nề lặn lội cứu sinh linh

Đáy nước khoan thuyền bắt Bá Linh

Cướp vía Thoát Hoan khi đắc báo

Giáp oai Hưng Đạo lúc hành binh

Một mai phá giặc thành công lớn

Rạng vẻ trời Nam một tướng tinh”.

còn tiếp....
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Bảy, 2012, 11:13:42 am gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #47 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 12:56:33 am »

                                         2.Thiên tài nhuốm màu huyền thoại cùng những chiến công hiển hách

                                                 
                                                      Chiếc mũ đồng cổ được cho là của danh tướng Yết Kiêu

Tương truyền, năm 15 tuổi, vào một buổi sáng tinh mơ, Phạm Hữu Thế ra sông gánh nước. Sương trắng mù mịt nổi khắp mặt sông, Phạm Hữu Thế thấy hai con trâu. một đen một trắng húc nhau chí mạng. Con trâu đen thua nhưng cuc, đánh sừng rất hiểm. Con trâu trắng phi phàm, húc khỏe nhưng ra đòn nhởn nhơ. Vốn có sức khỏe vật được trâu, Hữu Thế hạ đôi thùng gánh nước, dùng đòn ống vụt vài miếng thượng hạ,ý đuổi đánh, can ngăn. Trâu đen dính đòn chạy re, lao vào làng. Trâu trắng né đòn như người, một cú xiên rất hiểm làm trâu trắng ngã lăn và kỳ lạ thay tan thành ánh nắng mờ ảo rồi biến mất. Chỗ đất trâu đứng tìm thấy hai chiếc lông. Cầm lên ngắm, tự nhiên Hữu Thế thấy máu bừng lên mặt. Ông chạy ra ao, lao xuống nước, nước rẽ đôi, lên bờ thấy lông không ướt, có lẽ nó cũng muốn tan trong nắng. Hữu Thế vội nuốt vào bụng. Từ đó thân thể cường tráng, trí lực phi thường, bơi lội dưới nước như đi trên đất bằng .

Đêm ấy về nhà, ông kể với mẹ. Vũ Nương bảo đó là chuyện đại cát. Hai mẹ con đều mơ một giấc mơ hệt nhau. Sáng ra kể, xóm làng đều cho là lạ.Giấc mơ đó là, hai mẹ con được đón một đôi trai thanh gái lịch, họ vào nhà Vũ Nương, vách đất, nền đất biến thành lâu đài. Cái ao dào dạt sóng vỗ thành con sông dài tít tắp. Trời không trăng vẫn rực sáng. Ở gốc xoan, một con trâu trắng thừng xuyên mũi buộc chặt gốc cây. Hữu Thế dụi mắt bảo mẹ: “Đúng con trâu sáng con gặp đây”. Người con trai và cô gái bảo: “Ta là Ngưu Lang và Chức Nữ, nay dịp Ngâu chúng ta gặp nhau, không chăn trâu cho trời được, phải buộc mũi không nó đi khắp bầu trời biết đâu mà tìm”. Vũ Nương hỏi: “Chúng tôi ở đâu?”. Ngưu Lang bảo: “Lúc sáng tôi đi tìm trâu gặp con trai bà, con bà không làm hại trâu. Tôi muốn mời hai mẹ con bà lên trời chơi để trả ơn. Đây là đào tiên vườn Tây Vương Mẫu, tôi biếu bà một giỏ. Còn con trai bà sau này sẽ được lưu danh trong quốc sử vì có nhiều công lao giúp nước”. Hữu Thế tò mò hỏi: “Sông gì sáng thế?”. Người con trai bảo : “Cậu sẽ nổi danh vì sông nước mà không biết sông này ư!”. Nói rồi người con trai vỗ tay cho con sông cuộn sóng cao ngất: “Đó là sông Ngân Hà. Ta sẽ còn bảo trâu thần, cày thần xuống giúp đất Bàng Hà sau vài bốn trăm năm nữa”. Chợt trên sông Ngân rợp tiếng quạ kêu. Chúng vừa bay đầy trời vừa đan kết thành cây cầu Ô Thước. Ngưu Lang nhẹ nhàng bảo Chức Nữ: “Thôi ta về”. Cô gái mỉm cười đi theo, đằng sau là con trâu trắng. Thế là tan giấc mộng.

                                   

Sự lạ lùng ấy ứng với bức hoành phi trong đền Quát “Thiên cổ dị nhân” (từ trước tới nay mới có người lạ thường như vậy). Thực ra, đây là một cách lý giải tài bơi lội của Phạm Hữu Thế để làm tăng thêm tính phi thường của viên tướng xứ Đông này, khẳng định tài bơi lội của ông như do thần linh mang lại.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần hai và lần ba, Phạm Hữu Thế với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” (đi dưới nước ung dung, tự tại như trên đất bằng) đã lập nhiều công lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân. Ông đã được nhân dân và vua quan nhà Trần gọi là Yết Kiêu.

Giữ thuyền ở Bến Tân:Trong một trận đánh ở Nội Bàng (Chũ, Bắc Giang), Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân (trên sông Lục Nam), Dã Tượng đi theo Hưng  Đạo Vương.Quân giặc thế đang hăng, áp đảo, giết và bắt sống được nhiều tù binh quân Việt, khi quân Việt thua chạy, thủy quân bị tan cả. Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói:
- Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền.
Hưng Đạo Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó.Một mình ông cắm thuyền ở lại, chờ đón kỳ được Trần Hưng Đạo và Dã Tượng
Trần Hưng Đạo thấy thế thốt lên:
- Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi.
Nói xong chèo thuyền đi, kỵ binh Nguyên đuổi theo không kịp. Hưng Đạo Vương rút về Vạn Kiếp, chia quân đón giữ ở Bắc Giang.
Ý Trần Hưng Đạo muốn nói: người tướng tài giỏi, nổi tiếng phần lớn cũng là nhờ những người chung quanh mình ra sức làm việc, phò tá, nếu chỉ có một cá nhân mình thì không sao có thể làm nên sự nghiệp lớn

Nhiệm vụ của Yết Kiêu là tìm cách đục thuyền của giặc trong đêm. Khi màn đêm buông xuống, Yết Kiêu tìm cách vượt qua hàng lính bảo vệ thuyền giặc rồi nhẹ nhàng đục thuyền giặc. Mỗi thuyền phải đục khoảng trên 20 lỗ, đục được lỗ nào lại phải dùng giẻ đã cuộn tròn và buộc dây đút lút lại. Những cuộn giẻ ấy đều được buộc lại với nhau bằng một sợi dây.
 
Một đêm, Yết Kiêu đục được khoảng 30 thuyền giặc. Đến gần sáng khi đã đục đủ số thuyền đã định, Yết Kiêu liền kéo dây khiến những nút giẻ trôi ra khỏi thuyền, khiến hàng chục thuyền giặc bị đắm. Hoàn thành nhiệm vụ, ông lại nhẹ nhàng bơi về địa điểm an toàn.

Chuyện đánh giặc của Yết Kiêu được dân làng Lôi Động kể rất nhiều. Người người còn nhớ mãi chuyện ông dùng tài lặn đánh đắm thuyền giặc, bị bắt còn lừa được giặc nhảy xuống sông thoát….Lần ấy, ông có nhiệm vụ khóa đuôi một cuộc hành quân đường thủy. Thuyền lương đi chậm quá, ngoặt sang khúc sông khác thì thuyền địch đến. Những tên giặc Nguyên mình trần đầu trọc, thấy thuyền Yết Kiêu chỉ có một mình ông, chúng hò nhau đuổi hòng bắt sống ông.Chúng hí hố reo mừng, cá tươi, thịt béo, rượu nồng ngả ra kín đặc quanh Yết Kiêu. Bất ngờ, ông xuống tấn khiến thuyền lật úp. Quân Nguyên chờ mài không thấy ông nổi lên, rà đáy sông, buông lưới vẫn không thấy gì. Về đến quân doanh nhà Trần, ông mới tươi cười kể: Lúc đó có con cá chép cực lớn lượn qua, ông đã leo lên mình cá, bơi nhanh thoát ra khỏi vòng vây. Từ khi có hai chiếc lông trâu của Ngưu Lang, Yết Kiêu có tài bầu bạn với cá nước như với người.

Ở quê Hạ Bì, dân làng đã làm con cá chép bằng gỗ quý, mình dài 1m20, giữa thân đường kính 28cm, đục rỗng. Vây, vẩy được cách điệu bằng các hoa văn trang trí sinh động. Đầu cá to, râu dài vắt hai bên mép, miệng há to vểnh lên trông rất ngộ nghĩnh và độc đáo.
 
Có lần, Yết Kiêu bị vây bắt ở bãi sông. Ông núp mình dưới những bụi cây mọc lúp xúp và tránh sự lùng sục gay gắt của giặc. Chúng dùng kiếm đâm vào bụi cây, trúng đùi Yết Kiêu. Yết Kiêu cắn răng chịu đựng, khi kẻ thù rút kiếm ra, ông cố gắng chịu đau và dùng tay lau vết máu dính trên lưỡi kiếm để kẻ thù không phát hiện thấy mình.

Còn tiếp...
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Bảy, 2012, 01:20:02 am gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #48 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 01:13:31 am »

                                                        3.Tướng quân Yết Kiêu và công chúa nhà Nguyên

Ít ai biết ngoài tài năng bơi lội và chiến đấu dưới nước từng gây kinh hoàng cho quân Nguyên Mông, danh tướng Yết Kiêu còn rất đào hoa khi đã chiếm được trái tim của cô công chúa triều Nguyên kiêu sa.


Mỹ nhân kế dụ tướng tài

Chuyện kể rằng, sau chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ 3 (năm 1288), đất nước được thái bình. Người người ra sức cấy cày bù đắp lại những mất mát do chiến tranh gây ra. Lúc đó lúa gạo nhiều đến nỗi mỗi khi ai đó đi đường xa không phải mang theo lương thực, chẳng may lỡ bữa có thể vào nhà lạ xin cơm. Chẳng những mời một bữa cơm, người dân còn cơm đùm, cơm nắm cho khách mang theo phòng khi lỡ bữa.
Nhưng lúc đó, quân Mông Cổ là nỗi kinh hoàng của các dân tộc Á – Âu, lại thua nước Nam tới 3 lần khiến vua Nguyên mất mặt và nhăm nhe ý định phục thù. Nhận thấy điều đó, vua Trần một mặt cử tướng đem quân giữ nơi xung yếu, một mặt phái một đoàn sứ bộ sang sứ cống Nguyên triều.
Bảng nhãn Lê Đỗ được cử đi sứ, mong nối lại hoà khí với nước mạnh hơn mình mà mang lại hoà bình cho nhân dân đất Việt. Yết Kiêu vốn là võ tướng thuỷ quân được cử làm tướng hộ vệ Lê Đỗ.


Biết Yết Kiêu là tướng giỏi thủy chiến, vua Nguyên muốn chiêu dụ ông về dưới trướng nên sai người lén đem vàng bạc và hứa phong chức cao nhưng ông một mực từ chối. Một viên quan tâu vua nên dùng kế mỹ nhân bởi “xưa nay chưa ai có thể qua ải mỹ nhân”. Vua Nguyên nghe cũng hợp lí nhưng biết chọn ai xứng đáng? Chọn người đẹp trong dân thì không xứng đáng, con các quan thì không ai chịu đem gả cho sứ thần Đại Việt, vua Nguyên đành đem công chúa út là Ngọc Loan thực hiện kế mỹ nhân.

Theo truyền thuyết kể lại, Ngọc Loan vừa tuổi mươi sáu thuộc dạng sắc nước nghiêng thành, lại đàn hát hay, đoan trang lễ phép nên được vua rất cưng chiều. Khi nghe cha nói sẽ gả cho một viên tỳ tướng Nam triều và giao nhiệm vụ cho nàng là “phải giữ bằng được ông ấy ở lại đây”, nàng có ý không bằng long nhưng cũng không dám cãi đành vâng lời cha.

Lần đầu tiên gặp Yết Kiêu, Ngọc Loan thấy ông là một dũng tướng, râu hùm, hàm én, đôi tay lực lưỡng, giọng nói sang sang vang xa. Đặc biệt khi trò chuyện với ông, nàng cảm nhận ông là một người rất dễ gần nên đem long yêu mến. Hàng ngày nàng đều tìm cớ để được vào gặp ông, khi thì mang đặc sản của phương Bắc mời ông thưởng thức, khi thì mời ông đi ngắm đất kinh kỳ.

Rồi tình yêu của Ngọc Loan với Yết Kiêu đến lúc nào cũng không biết nữa, chỉ biết rằng lúc nào nàng cũng nhớ đến Yết Kiêu. Thấy hai người thường đi chơi, trò chuyện với nhau vua Nguyên mừng lắm vì kế hoạch của ông xem như thành công một nửa. Tuy nhiên, Yết Kiêu chỉ coi Ngọc Loan là bạn, với ông nhiệm vụ mà vua Trần giao phó mới là quan trọng nhất, lúc nào ông cũng đặt chữ “Trung” lên hàng đầu.

Thời gian đi sứ đã hết, vua Nguyên đã tổ chức tiệc rất thịnh soạn tiễn đưa Sứ đoàn trở về Đại Việt. Trong bữa tiệc, vua Nguyên tỏ ý gả công chúa Ngọc Loan cho Yết Kiêu. Trầm ngâm một lát, ông quỳ xuống tâu “Cảm ơn đức vua đã cho thần có được diễm phúc ấy. Nhưng nước có phép vua, thần lại là tôi tớ của vua Trầnnên phải tuân theo lệnh vua. Thần xin phép về xin ý kiến của vua Trần, nếu được đồng ý thần sẽ qua làm lễ với công chúa”.

Vua Nguyên nghe nói thấy cũng có lí nên không giữ nữa mà đồng ý cho ông  trở về báo cáo với vua Trần. Ngọc Loan nghe thế quỳ xuống xin cha cho nàng được theo đoàn trở về Đại Việt. Yết Kiêu khuyên nàng “Tục nước tôi không cho phép con gái theo về nhà chồng mà chưa có mối, chưa có lễ vật, nàng lại là công chúa cành vàng lá ngọc càng phải giữ thanh danh, thể diện. Nàng cứ ở lại chờ tôi một thời gian để tôi nói với cha mẹ mang lễ vật tới”, nàng đành chấp nhận ở lại.


Một mối tình si của nàng công chúa, cảm đông cả đất trời

Hơn 2 năm sau khi Yết Kiêu về nước mà vẫn không thấy ông trở lại, Ngọc Loan long nóng như lửa đốt, nàng thường ra lầu cao ngóng về phương nam. Mỗi khi có đoàn sứ thần của Đại Việt đến, nàng chứa chan niềm tin nhưng mỗi lần hy vọng là mỗi lần thất vọng bổi không đoàn nào mang theo tin tốt lành cho nàng.

Suốt một thời gian dài nàng sống trong khắc khoải, chờ đợi, ruột gan héo mòn, nàng không ăn, không uống, suốt ngày chỉ ngồi trong phòng vẽ hình Yết Kiêu rồi treo ở những chỗ trang trọng. Nàng còn tự tay thêu đôi uyên ương để tặng nếu chàng quay lại nhưng mọi hy vọng của nàng trở nên vô vọng.

                                           
                                        Kết thúc buồn cho tình yêu của công chúa Ngọc Loan _Ảnh mang tính minh họa


Cuối cùng nàng xin vua cha cho phép sang Đại Việt tìm gặp Yết kiêu, vua Nguyên một mực ngăn cản nhưng nàng quyết ý và bảo sẽ tự vẫn nếu cha không đồng ý. Không còn cách nào khác, vua đành chuẩn y và cử 9 nàng hầu, hai hoạn quan và một số quân lính đi theo bảo vệ nàng.

Từ kinh đô, đoàn người bắt đầu cuộc hành trình về phương nam xa xôi. Cứ thế, đoàn người ngày đi đêm nghỉ, sau hơn 2 tháng cũng tới được biên giới Việt Trung (đoạn thuộc Móng Cái – Quảng Ninh bây giờ). Nàng cho quân dò la tin tức và biết được Yết Kiêu đã mất, nàng vô cùng đau đớn, mặc đồ tang lập đàn tế cầu siêu suốt 7 ngày đêm. Nàng sai lính đẵn gỗ vàng tâm, triệu thợ điêu khắc giỏi tạc tượng mình và viết bức huyết tâm thư thổ lộ tình cảm của mình với Yết Kiêu. Xong xuôi, nàng sai thầy phù thủy yểm vào tâm tượng và đặt bức tượng mình vào than một khúc gỗ đã đục rỗng thả xuống sông cho trôi về Đại Việt. Rồi nàng khấn: “Cho dù chẳng được kết duyên cùng chàng ở chốn trần gian cũng nguyện hội duyên với chàng nơi thiên đường”. Nói xong, nàng quay mặt nhìn về phương Bắc, cởi hài và gieo mình xuống dòng song chảy siết quyên sinh, thấy vậy 9 nàng hầu và 2 thái giám cũng nhảy xuống sông theo chủ.

Người dân khu vực biên giới kể lại rằng: “Suốt mấy ngày trời trên đỉnh núi thấy khói hương nghi ngút, lại thấy một người con gái đầu tóc rũ rượi nên chẳng ai dám bén mảng đến”. Nhân dân Hạ Bì nhận được tin vô cùng xúc động đã tạc tượng nàng cùng đoàn tùy tùng và tổ chức lễ rước đưa nàng về đền thờ cùng với Yết Kiêu ở Hạ Bì.

Trong ngày lễ hội 15/1 âm lịch, dân làng rước tượng Yết Kiêu đặt bên cạnh tượng công chúa. Hiện trong đền còn tượng và di vật minh chứng cho tình yêu thủy chung của công chúa Ngọc Loan và Yết Kiêu.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Bảy, 2012, 01:23:18 am gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #49 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2012, 06:13:48 am »

Thế mà các nhà làm phim nước ta chả dựng được bộ phim nào về danh tướng "Thủy tổ của Đặc công nước" Việt Nam này. Bột có rồi, sao không ai ra tay gột nên hồ nhẩy?
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM