Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:36:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 93381 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #120 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 01:46:31 am »

Điều này thể hiện tư tưởng xây dựng quân sự mạnh phải gắn liền với xây dựng một nhà nước mạnh của vị vua đầu triều Lý xuất thân từ nghiệp võ với chức Điện tiền chỉ huy sứ.

Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ nói rõ mục dính dời đô: “để mưu nghiệp lớn, chọn chỗ ở giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân” 1. Bản chiếu cũng nêu rõ Thăng Long là nơi đủ điều kiện giải quyết mục đích đó. 

Thăng Long “ở giữa khu vực đất trời, được thế rồng cuộn hổ ngồi chính giữa đông, tây, nam. bắc; tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thật là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng kinh đô sư mãi muôn đời” 2.

Kinh đô Thăng Long được xây dựng, tồn tại và phát triển đúng như ý tưởng của Lý Thái Tổ. Đó là một sự lựa chọn chính xác.

Cùng với việc chọn đất định đô sau võ công thắng giặc ngoại xâm của Ngô Quyền, dẹp loạn thành công, giải quyết tình trạng chính sự bê bối của Đinh Bộ Lĩnh. Lý Công Uẩn,  việc xây dựng bảo vệ nhà nước quân chủ tập quyền thời kỳ này với vai trò của lực lượng vũ trang là những biểu hiện sinh động của tư tưởng xây dựng quân đội mạnh đi đôi với việc xây dựng bảo vệ nhà nước tập quyền mạnh. 

Lịch sử cho hay vào cuối vương triều Ngô, khi bộ máy nhà nước quân chủ ở Cổ Loa suy yếu, bệnh hoạn, thì lực lượng vũ trang cũng mất hiệu lực, phân tán, bị cuốn hút vào “loạn 12 sứ quân”.

Dưới sự tập hợp, rèn luyện của Đinh Bộ Lĩnh qua chiến đấu dẹp loạn thắng lợi một tổ chức quân 10 đạo ra đời, thực sự mở đầu cho lực lượng quân sự quốc phòng của quốc gia độc lập thống nhất Đại Cồ Việt dưới quyền tổng chỉ huy của Thập đạo tướng quân Lê Hoàn.

Ra đời chưa bao lâu, lúc lượng vũ trang của nước Đại Cồ Việt đã phải đương đầu với những thách thức lớn lao. Đó là các vụ loạn liên tục xảy ra ở Hoa Lư: Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn; Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp lấy cớ bảo vệ ấu chúa Đinh Toàn đã đem quân nổi dậy chống Lê Hoàn; Ngô Nhật Khánh rước giặc Chiêm về nhằm đánh chiếm Hoa Lư đều xảy ra vào năm 979.

Một năm sau: vào năm 980, nhân cơ hội triều đình Hoa Lư mất ổn định, nhà Tống mưu toan cất quân xâm lược Đại Cồ Việt. Trước tình thế hiểm nghèo, ý thức được sứ mệnh lịch sù của mình, lúc lượng vũ trang của quốc gia Đại Cổ Việt đã nhanh chóng diệt trừ phản loạn ổn định tình hình.

Đặc biệt trước hành động xâm lược của giặc Tống, chính lực lượng vũ trang dưới quyền điều khiển của tướng Phạm Cự Lạng dã chủ động tôn thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi thay Đinh Toàn mới sáu tuổi để chuẩn bị chống giặc. Việc làm của quân lính được thái hậu, triều thần và nhân dân đồng tình ung hộ.

Trong tình hình chính trị đã ổn định, nhà nước quân chủ đã được củng cố, lực lượng quân sự quốc phòng dưới quyền tổng chỉ huy của Lê Hoàn đã kịp thời bố trí trận địa, tổ chức đánh thắng giặc Tống xâm lược vào cuối năm 980 đầu năm 981, bảo vệ thành công dốc lập tự chủ và vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.


_______________________________
1. 2. Toàn thư, Sđd, t.1  tr. 241 .
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Năm, 2009, 07:52:42 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #121 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 07:56:02 am »

Vào đầu vương triều Lý, sau khi Lý Thái Tổ qua đời (1028) loạn đã xảy ra ở Thăng Long. Theo di chúc của Lý Thái Tổ, Lý Phật Mã lên ngôi. Lập tức Đông Chinh vương Lực, Đức Thánh vương và Vũ Đức vương đều là con của Lý Thái Tổ, đem phủ binh của mình vào cấm thành nhằm bức hại thái tử để giành ngôi báu.

Sử chép: “khi ấy phủ binh của ba vương vây bức càng gấp, thái tử liệu không thể ngăn được nói: “Thế đã như vậy, ta còn mặt mũi nào trông thấy ba vương nữa. Ta chỉ biết làm lễ thành phục đến hầu tiên đế, ngoài ra đều uỷ thác cho các khanh cả” 1.

Được sự uỷ thác của thái tử, võ quan Vũ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu và Lý Nhân Nghĩa chỉ huy cấm quân đánh dẹp. Vũ Đức vương bị giết tại chỗ, Đông Chinh và Dực Thánh chạy thoát. Nhờ có sự can thiệp kịp thời của lực lượng vũ trang, Lý Phật Mã tức Lý Thái Tông đã lên ngôi duy trì sự ổn định chính trị, tiếp tục đưa đất nước phát triển về mọi mặt. trong đó có tổ chức quân sự. quốc phòng. Ngót 50 năm sau quân đội của quốc gia Đại Việt thời Lý dưới quyền chỉ huy của Lý Thường Kiệt đã lập nên kỳ tích, chiến thắng oanh liệt giặc Tống xâm lược lần thứ hai vào năm 1077.

Từ những sự kiện lịch sử trên hiện ra chân lý: để có một tổ chức vũ trang, quốc phòng mạnh nhất thiết phải có một nhà nước tập quyền vững mạnh. Và ngược lại một nhà nước tập quyền mạnh không thể không xây dựng một tổ chức lực lượng vũ trang mạnh, có hiệu lực trong chống giặc giữ nước, bảo vệ chủ quyền.

Đó chính là tư tưởng xây dựng quân đội mạnh phải đi đôi với việt xây dựng bảo vệ nhà nước tập quyền mạnh của nền quân sự Việt Nam được hình thành bước đầu trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước thời Ngô. Đinh, Tiền Lê, Lý.

2. “Ngụ binh ư nông” và toàn dân là lính, tư tưởng lớn về tổ chức quân sự, quốc phòng.

Trong quá trình xây dựng tiềm lực quốc phòng nhằm củng cố và giữ vững đội láp dân tộc, Ngô Quyền và các triều đại kế tiếp rất coi trọng lình vực tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang.

Như đã biết, đương thời, dân số nước ta ít. Vấn đề đặt ra là xây dựng quân đội như thế nào để đảm bảo có thể huy động đủ số cần thiết vào thời chiến và có nhân lực đảm bảo sản xuất trong thời bình.

Trong mấy thập niên từ thời Ngô đến Tiền Lê (938-1009) tổ chức quân đội theo quy chế của một nhà nước bắt đầu được xây dựng nhưng còn sơ sài. binh chế chưa xác định đầy dù và rõ rệt. Đinh Tiên Hoàng đã định quân thành 10 đạo: Lê Đại Hành, vào năm 986 “cho điểm dân để lấy lính” 2. Đó là manh nha của chế độ binh dịch đối với tất cả đinh tráng. 

Đến thời Lý, binh chế nước ta bước đầu được xác định, trong đó có chính sách “ngụ binh ư nông”. Sách Đại Việt sử ký toàn thu viết: “Binh chế buổi đầu nhà Lý... lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân... Lại có chín quân như sương quân, để sai khiến làm mọi việc mỗi tháng đến phiên một lần gọi là đến canh, hết canh cho về nhà cày cấý, làm công nghệ tự cấp lấy chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu số quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ. Xong việc lại cho về làm ruộng. Đó là đúng với ý nghĩa ngụ binh ư nông” 3.

Ngô Thì Sỹ khảo cứu từ thư tịch cổ giúp hình dung về chế độ “ngụ binh ư nông trong thực tiễn thời Lý: “ Chế độ binh lính của nhà Lý... mỗi tháng lên cơ ngũ một lần gọi là đi canh, hết hạn canh lại về làm ruộng, quân không phải cấp lương...  không có phí tổn nuôi lính mà có công hiệu dùng sức lính; cũng là một chế độ hay” 4.

__________________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.252.
2. Toàn thư. Sđd, t.1, tr.220.
3. Lời bàn của Ngô Thì Sỹ, xem: Lịch triều hiến chương loại chí, t. 3, Binh chế chí. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr.7 - 8.
4. Ngô Thì Sỹ: Việt sử tiêu án, Sđd, tr.127.  
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #122 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 07:58:24 am »

Trong thực tiễn, vào thời Lý Thái Tông trong lần chiến tranh với Chiêm Thành năm 1069. đại quân xuất chinh lên tới năm vạn (trong đó quân eấm vệ chỉ có 3.200), như thế. “Quân ấy không phải có sẵn cả. Phần lớn  huy động dân thường” 1. “Người dân nào đến tuổi cũng phải đăng lính, nhưng vẫn được ở nhà cày bừa. mỗi tháng mới phải đi phen một kỳ ngắn lúc chinh phạt thì cắt quân ấy giao cho các tướng. Nếu quân không đủ thì lấy dân đinh mà dùng. Xong việc rồi lại trở về cày ruộng” 2. Đó là kết quả của chính sách “ngụ binh ư nông”.
 
Chính sách “ngụ binh ư nông” gồm những quy chế về quân biên sổ và quân chia phiên. Nhà nước lập ra sổ hộ tịch, trong đó, những đinh nam khoẻ mạnh đến tuổi trưởng thành đều có nghĩa vụ quân dịch, được ghi tên vào cuốn sổ bìa vàng mà thời Lý gọi là sổ hoàng nam. Hằng năm, chính quyền chiếu sổ chọn những đinh tráng sung vào quân ngũ theo yêu cầu, số còn lại ở nhà sản xuất, tham gia dân binh, sẵn sàng nhập ngũ khi cần thiết.

Quân thường trực được nhà nước quy định chế độ “chia phiên”. Khi đất nước thanh bình, thì trừ cấm quân phải thường xuyên túc trực để bảo vệ kinh đô, bảo vệ nhà vua và triều đình, còn sương quân và quân các lộ được chia thành nhiều phiên theo định kỳ một bộ phận thường trực tại ngũ, luyện tập và canh phòng, bộ phận còn lại trở về sản xuất tự túc, thời hạn tuỳ theo từng thời kỳ. Khi có chiến tranh tất cả trở lại quân ngũ theo đơn vị đã định và lệ thuộc vào các tướng.

Việc lập hộ tịch và kiểm kê nhân đinh là cơ sở để nhà nước định quân hạng. Theo lệ, hàng năm vào mùa Xuân, các xã lập sổ hộ xã mình, kê khai số dân chia thành nhiều hạng: tôn thất (người trong họ vua), các quan (quan văn, quan võ, quan theo hầu), quân nhân, tăng đạo, hoàng nam (từ 18 tuổi đến 60 tuổi), long lão (người già yếu), bất cụ (người tàn tật), người xiêu tán, . . . tất cả đinh nam khoẻ mạnh được ghi vào sổ, phân chia thành hai hạng: hoàng nam (từ 18 tuổi đến 20 tuổi) và đại nam (từ 20 tuổi trở lên). Đó là nguồn nhân lực trong cả nước để huy động sai dịch và quân dịch. 

Năm 1083, Lý Nhân Tông duyệt hoàng nam, định làm ba bậc rồi cho tuyển những người khoẻ mạnh làm lính. Năm 1146, Lý Anh Tông lệnh cho các quan, các quản giáp và chủ đô, khi tuyển quân phải chọn người ở hộ đông người, không lấy con nhà cô độc. Theo Phan Huy Chú, “Đại ước người trúng tuyển thì sung vào quân ngũ, người hạng kém thì biên tên vào sổ, có việc mới gọi ra, niên hạn, lâu chóng có lẽ không nhất định” 3.
 
Phải đến thời Trần và Lê Sơ, tư tưởng và chính sách “ngụ binh ư nông” mới hoàn thiện, nhưng trong xây dựng lực lượng quân đội từ thời Ngô cho đến thời Lý đã có thể thấy rõ một phương thức tổ chức lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước. Đó là, chế độ binh dịch với tất cả đinh tráng (dân binh đến tuổi trưởng thành đều được đặt trong diện chịu binh dịch) và, chế độ quân lính chia phiên về sản xuất (quân lính luân phiên nhau vừa canh phòng và luyện tập vừa trở về sản xuất).

Phương thức tổ chức lực lượng vũ trang và phòng giữ đất nước như vậy được gọi là “ngụ binh ư nông”. Nên hiểu trong các khái niệm “việc binh”, “binh gia”, “binh nghiệp”, “binh pháp”, “binh thư ‘ , . . . chữ binh không chỉ có nghĩa hẹp là lính-quân đội-chiến tranh mà bao quát nhiều lĩnh vực liên quan đến (việc binh. quân sự. chiến tranh và quốc phòng. Và “nông” ở đây nên được hiểu gồm nhà nông nông dân, nông thôn, nông nghiệp. Như thế “ngụ binh ư nông” (gửi binh ở nông) bao gồm các nội dung về quân đội, chiến tranh: quân sự và quốc phòng.

Cách tổ chức lực lượng như trên đã tạo ra một thế trận quốc phòng rộng khắp và thuận lợi trong điều động lực lượng, ở đâu có dân là ở đó có quân, tức là những trai tráng từng được tập trung luyện tập quân sự, có tên trong sổ, thời bình ở nhà sản xuất, có biến được huy động vào đội ngũ.

Đây cũng chính là cách sau này được vận dụng và phát triển trong xây dựng tiềm lực quốc phòng, kết hợp quân sự với kinh tế. Sử sách cho biết, với chính sách kể trên, khi quân giặc xâm lấn bờ cõi, các triều đại có thể huy động lực lượng vũ trang ngay tại địa bàn để tổ chức đánh địch kịp thời.  Hoặc khi đất nước phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn, các triều đại có thể nhanh chóng huy động được nguồn binh lực lớn và có nguồn bổ sung dồi dào trong quá trình kháng chiến.

____________________
1,2. Đại việt sử ký, dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr. 39.
3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, t. 3, tr.24.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #123 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 08:00:03 am »

Ví dụ: trong cuộc tuyển quân chống Tống xâm lược lần thứ hai (1075 - 1077), riêng số quân do Lý Thường Kiệt và Tôn Đản thống lĩnh đánh phá căn cứ xuất phát tiến công của đối phương đã là khoảng 10 vạn. Cùng lúc, số quân ở trong nước để bảo vệ kinh đô, bảo vệ biên thuỳ phía nam thường xuyên bị Chiêm Thành uy hiếp và bảo vệ lãnh thổ nói chung, hẳn cũng phải rất lớn. Cũng có nhà khoa học ước lượng số quân đó có thể tương đương lực lượng được huy động đánh sang đất đối phương.

Nếu như vậy, tổng số quân thời Lý dược động viên ở thời điểm kể trên là rất lớn so với số dân Đại Việt lúc đó khoảng bốn triệu người. Mặt khác, chất lượng quân đội thời Lý cũng cao. Không những họ có tinh thần yêu nước, căm thù giặc, ý chí quyết chiến quyết thắng mà còn giỏi võ nghệ, thạo binh khí, kỹ thuật, nắm chiến thuật. hợp đồng bộ binh và thuỷ binh tài giỏi. Kết quả của đợt tác chiến tại Ung, Khâm, Liêm, của tác chiến chặn giặc dọc phòng tuyến dọc theo sông Như Nguyệt (sông Cầu) đã khẳng định điều đó. Đây cũng thể hiện tính ưu việt, hiệu quả của tư tưởng “ngụ binh ư nông”.

“Ngụ binh ư nông”, đã giúp nhà nước quản lý tốt nhân đinh, mọi đinh nam từ 18 tuổi trở lên, khi cần đều được huy động theo nghĩa vụ binh dịch. Mọi đinh tráng, nhờ chính sách này mà đều được huấn luyện quân sự, có hiểu biết thông thường về quân sự và khi hữu sự, ai nấy đều biết rõ quân ngũ của mình.

Nhờ việc thay phiên về sản xuất: nghĩa vụ binh dịch, do đó, có thể thực hiện công bằng xã hội, giảm chi phí quốc phòng, đảm bảo sản xuất không ngưng trệ.  “Ngụ binh ư nông” là sự kết hợp chặt chẽ “binh” với “nông” tiếp tục phát huy mạnh mẽ tác dụng trong các triều đại tiếp sau và vẫn có giá trị gợi mở trong tư duy xây dựng quân đội nói riêng, lực lượng vũ trang nói chung trong sự nghiệp quốc phòng toàn dân.

Tư tưởng “toàn dân là lính” đã sản sinh từ hoàn cảnh lịch sử của dân tộc ta. Đó là sau khi giành được độc lập vào năm 938, để bảo vệ nền độc lập đó, quân và dân Đại Cồ Việt - Đại Việt thường xuyên phải đương đầu với các thế lực xâm lược hầu như tuôn đông: mạnh hơn.

Như thế, với một quốc gia dân không đông, vấn đề đặt ra là xác lập ngay một cơ cấu xã hội thế nào để vừa có lực lượng sản xuất đông đảo, vừa có quân đội và lực lượng vũ trang đủ sức bảo vệ Tổ quốc, cả thời bình cũng như thời chiến.

Ở buổi ban đầu Ngô Quyền dựng nghiệp, lực lượng vũ trang còn trong tình trạng phân tán thuộc các thế lực vùng.  Ngô Quyền khi đi diệt trừ bọn phản bội Kiều Công Tiễn, chỉ có một đội binh Ái Châu. Nhưng khi chuẩn bị kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lược trở lại, đội binh ấy nhanh chóng trở thành một đội binh dân tộc, được sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân.

Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (An Hải) do Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu đã tự vũ trang xin theo Ngô Quyền phá giặc. Trai tráng các làng Lâm Động (Thuỷ Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hưng Yên), người. mang vũ khí, kẻ mang chiến thuyền tìm đến cửa quân xin giết giặc. Ngoài cha con Ngô Quyền, trong đội quân phá giặc Nam Hán còn có lực lượng của Dương Tam Kha, Đỗ Cảnh Thạc (hào trưởng Thanh Oai) 1, v.v... 
 
Từ yêu cầu thường xuyên và nhiều khi nóng bỏng của sự nghiệp bảo vệ đất nước, một hệ thống quân ngạch hợp lý dần dần hình thành. Như đã đề cập ở các chương trên, đó là: - quân chủ lực của triều đình; - quân của lộ, phủ, châu; - quân của quý tộc, tôn thất (quân vương hầu); - và lực lượng dân binh (hương binh) trong làng xã, động bản. 

Như vậy, trải qua các thời Ngô - Đinh - Tiền Lê đến Lý, nhận thức về xây dựng quân đội, lực lượng vũ trang, dân binh ngày càng sáng tỏ. Tổ tiên ta thời đó luôn coi “việc quân là việc thiết yếu của quốc gia”, “quân đội là thiết bị giữ nước không thể thiếu được” đồng thời với việc xây dựng dân binh sẵn sàng được huy động khi hữu sự.

Nhận thức đó càng trở nên sáng suốt khi nước ta đương thời dân số ít và luôn phải chiến đấu với quân xâm lược lớn mạnh. Nhận thức, tư tưởng đó đã biến thành phương lược cụ thể trong xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng - kế sánh giữ nước hiệu quả, đánh bại nhiều đội quân xâm lược, bảo vệ vững chắc quốc gia Đại Việt.

_______________________
1. Xem Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiên Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr.197.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #124 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 08:57:10 am »

II. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ

Ở các thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý, dù chiến tranh xảy ra chưa nhiều, nhưng yêu cầu bức xúc của sự nghiệp giữ nước đã đặt ra cho các vương triều những vấn đề về nghệ thuật quân sự. Căn cứ vào hoạt động quân sự của quốc gia Đại Việt qua các thời kể trên, có thể phác thảo những nét chính về nghệ thuật quân sự.

1. Về chiến lược

a) Biết mình biết người, chủ động xây dựng lực lượng và kế sách bảo vệ đất nước.

Từ khởi nguyên, trong quá trình hình thành, quốc gia Văn Lang - Âu Lạc mà sau này là Đại Cồ Việt - Đại Việt đã ở vào một vị trí địa lý khá đặc biệt.

Về cương vực, đó là vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, có đồng bằng màu mỡ, có rừng với lâm, thổ sản, thú lạ và cây thuốc quý, có biển với hải sản và ngọc trai; nơi đây còn là tụ điểm giao lưu giữa Đại Việt với bên ngoài bằng đường bộ và đường biển.

Nhờ vị trí đó, người Đại Việt có điều kiện tiếp xúc, hấp thụ tinh hoa các nguồn văn hoá, văn minh của nhân loại. Mặt khác, do vị trí đó mà nước Đại Việt luôn là mục tiêu thôn tính, xâm lược của các thế lực ngoại bang. Cùng với việc tổ chức đất nước sẵn sàng đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt còn luôn phải giải quyết các vấn đề nảy sinh ở biên giới bảo vệ biên cương trọng thời bình.

Ở mặt nam, tây nam cố sự quấy rối, lấn cướp của Chiêm Thành, Chân Lạp và Lão Qua. Ở phía bắc, đó là nhà Nam Hán và nhà Tống. Ở đây có vấn đề do lịch sử để lại và do đặc điểm dân cư, việc hoạch định chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất biên cương còn chưa rõ ràng, các thổ tù, châu mục bản địa quản giữ và nhà nước quản lý chưa được chặt chẽ.  Dân cư tại vùng này, “một bên thì chịu sự kimi (ràng buộc lỏng lẻo) của chính trị và văn hoá Trung Quốc, một bên thì chịu sự kimi chính trị và ảnh hưởng của văn hoá Việt Nam” 1.

Còn về bộ máy quản giữ, như Nguyễn Thế Anh viết:

“Hiển nhiên, các thủ lĩnh địa phương đó không thừa nhận những quy phạm và giá trị của chế độ quan liêu Khổng giáo.  Họ dễ mua chuộc và chia rẽ cũng như khó khuất phục và hợp nhất, từ đó họ tạo thành yếu tố rối động cho hai chính quyền Việt Nam và Trung Hoa, những hành động không hợp thời của họ [đột kích, xâm phạm biên giới] có thể là nguyên nhân xung đột [giữa hai nước] 2.

Từ thực tế trên, các nhà cầm quyền Đại Cồ Việt - Đại Việt luôn chú trọng xây dựng đất nước về nhiều mặt, đặc biệt là lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, hoạch định kế sách bảo vệ đất nước, sẵn sàng chống xâm lược. 

Nhận thức rõ về vị thế và tiềm năng của đất nước với những mặt mạnh mặt yếu tức “biết mình” là điều cực kỳ quan trọng, cũng như “biết người” vậy. Để “biết người” các vương triều Đại Cồ Việt - Đại Việt luôn chú trọng công tác nắm địch tìm mọi cách để hiểu ý đồ đối phương. 

Vào cuối thời Đinh, thừa dịp Hoa Lư có loạn, nhà Tống tính chuyện xâm lăng Đại Cồ Việt theo đề nghị của tể tướng Lư Đa Tốn: “An Nam bên trong rối loạn, đó là lúc trời làm mất, triều đình nên bất ngờ đem quân sang đánh úp, nhủ người ta nói : “sét đánh không kịp bịt tai” 3 . Do dã theo dõi nắm bắt động tĩnh của nhà Tống nên các biên quan đã kịp thời báo về.

Sử chép: “Bấy giờ Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang liền làm tờ tâu báo về” 4. Nhờ vậy triều đình Hoa Lư đã kịp thời chấn chỉnh, cắt cử Phạm Cự Lạng làm đại tướng, tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi, ổn định tình hình, chuẩn bị đối phó với giặc mạnh. 

Thời Lý cũng vậy. Thông qua nhiều mối quan hệ đặc biệt quan hệ giao lưu trao đổi với vùng kề biên giới Trung Hoa của cơ dân biên thuỳ phía bắc dưới quyền quản lý của thổ tù châu mục, mọi âm mưu và hành động của nhà Tống đối với Đại Việt đều không qua được con mắt của triều đình Thăng Long.

Ngay từ năm 1073, qua thư của một tiến sỹ nhà Tống có tên là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã thông báo với vua Lý: “hiện nay Trung Quốc muốn cử binh diệt Giao Chỉ” 5.

____________________________
1. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, tr. 188.
2. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Kế sách giữ nước thời Lý Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.230.
3,4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.212.
5. Theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr. 116.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #125 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 08:59:56 am »

Nhờ biết rõ hành động chuẩn bị xâm lăng của nhà Tống với việc tập trung binh lính, lương thảo ở thành Ung Châu và các căn cứ đồn trại gần kề biên giới Đại Việt cho nên Lý Thường Kiệt đã kịp thời thực hiện kế sách “tiên phát chế nhân” thắng lợi.

Không phải nhà Tống không biết Đại Việt đà tung quân do thám nắm bắt tình hình trên đất Tống. Vua Tống từng hạ chiếu: “Nghe Giao Chỉ sai nhiều kẻ gian tới thám Lưỡng Quảng. Vậy các chỉ huy, các tướng phải coi chừng. Đừng để nó dò được phép công, thủ, tiến. thoái của ta” 1.

Nhà Lý còn dùng bằng của sư nhà Tống thu được khi quân Lý đánh sang Khâm, Liêm giao cho điệp viên sang đất Tống hoạt động.  Biết việc này, vua Tống hạ chiếu cho lộ Quảng Tây đình việc cấp bằng cho các sư 2.
 
Từ nhu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước, nhà Tiền Lê và nhà Lý đã xây dựng nhà nước tập quyền gồm một hệ thống chính quyền các cấp từ triều đình đến tận các làng xã. Triều đình trung ương là cơ quan tập trung quyền lực cao nhất.  Vua đứng đầu triều đình, có quyền lực tối cao trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt, vua có quyền hạn to lớn, nắm quyền tối cao về quân sự, quốc phòng.

Các vua Tiền Lê và Lý giữ vai trò thủ lĩnh quân sự của cộng đồng dân tộc, là người có quyền quyết định đường hướng quốc phòng, phát động chiến tranh và xuống chiếu huy động quân đội, tiềm lực đất nước cho cuộc chiến. Nhiều vị vua thân cầm quân đánh giặc. Cách tổ chức như vậy khiến những vấn đề trọng đại về quân sự, quốc phòng trong thời bình và khi hữu sự được thực thi kịp thời, nhanh chóng.

Cảnh giác trước các thế lực ngoại xâm là ý thức thường trực của nhiều vị vua đương thời. Ngay trong lúc đất nước thanh bình. nhiều nhà vua vẫn thường xuyên xuống chiếu nhắc nhở tướng sĩ không được lư là việc phòng thủ, phải chăm lo luyện rèn binh sĩ, sắm sửa chiến thuyền và rèn đúc vũ khí.

Lý Nhân Tông, vị vua anh hùng từng kinh qua cuộc kháng chiến chống Tống, trước khi mất đã dặn dò các đại thần: “Nên sửa sang giáo mác để đề phòng việc không lường, chớ làm sai mệnh lệnh, trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận” 3. Vua Lý Anh Tông trước lúc lâm chung, cũng đã căn dặn thái tử thay mình trị vì đất nước: “Nước ta non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, đất thiêng, châu ngọc bảo bối không cái gì không có, nước khác không thể nào ví được. Con hãy nên giữ gìn cẩn thận” 4.
 
Nhà nước được xây dựng theo cơ cấu và chế định như thế cùng những nhà vua biết chăm lo giữ nước như vậy đã là tiền đề cho thắng lợi của công cuộc chống ngoại xâm.

Nhiều lĩnh vực khác đóng vai trò quyết định trong công cuộc phòng giữ đất nước và trực tiếp tác động tới chiến lược quân sự được giải quyết tốt. Các nhà cầm quyền luôn chăm lo xây dựng khối đoàn kết dân tộc. Ở các vùng biên viễn, núi rừng xa xôi, triều Lý vẫn áp dụng chính sách “kimi” qua những biện pháp mềm dẻo và hình thức linh hoạt, thực chất là một cách quản lý lỏng lẻo.

Để tập trung được mọi lực lượng, trong đó có lực lượng thuộc dân tộc thiểu số cho công cuộc chống thù trong giặc ngoài, các triều đại đương thời đã thực thi nhiều biện pháp hữu hiệu. Đó là việc phong quan tước, giao quyền quản lý địa. phương. giữ gìn an ninh, bảo vệ lãnh thổ biên cương và coi sóc nhân dân.

Mặt khác, nhà nước còn dùng quan hệ hôn nhân gả công chúa cho các tù trưởng, qua vai trò của họ tập hợp cơ dân thành một khối xung quanh nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Đây là chính sách đặc biệt của vương triều Lý.

________________________
1. 2. Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd.
3. Toàn thư, Sđd, t.l, tr.312.
4. Việt sử lược, Nxb. Văn-Sử- Địa, Hà Nội, 1960, tr.152.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #126 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 09:01:45 am »

Theo sử sách, từ năm 1036 thời Lý Thái Tông đến năm 1167 thời Lý Anh Tông, ít nhất có chín trường hợp gả công chúa cho tù trưởng các châu thuộc vùng trung - thượng du Bắc Bộ ngày nay.  Các biện pháp kể trên đã phát huy tác dụng rất lớn trong việc giữ gìn an ninh, bảo vệ lãnh thổ nơi biên cương. Hai cha con phò mã Thân Thiệu Thái, Thân Đạo Nguyên đã xứng đáng với vai trò làm phên giậu, quản giữ vùng đất biên cương xung yếu ở Lạng Sơn ngày nay. Các châu mục, tù trưởng Nùng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An, Lý Kế Nguyên có những đóng góp tích cực huy động quân, dân các tộc thiểu số chung sức cùng triều đình đánh giặc Tống vào năm 1077. 

Như nhận xét của Trần Quốc Tuấn, thời Đinh, Lê “dùng được người tài giỏi”, “trên dưới một dạ, lòng dân không lìa” 1.  Nhiều triều đại đã giải quyết được các bất hoà trong dòng tộc tôn thất trên cơ sở đó củng cố được khối đoàn kết các dân tộc miền xuôi, miền ngược, thực hiện “vua tôi đồng lòng, cả nước chung sức”. Nhờ đó sức mạnh quân sự được nhân lên và phát huy tác dụng chiến thắng ngoại xâm, bảo vệ và mở mang bờ cõi.

Ở phía nam, quốc gia Chiêm Thành với nền nông nghiệp lạc hậu trên giải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển Trung và Nam Trung Bộ ngày nay, hẳn rằng nguồn nhân lực và tài vật phong phú ở phía bắc Hoành Sơn có sức hấp dẫn lớn đối với họ. Vì vậy Chiêm Thành thường đánh phá quấy rối nhằm bắt người cướp của. Vả lại, họ rất thạo nghề biển. Đó là những nguyên nhân dẫn tới những cuộc cướp phá, quấy rối và xâm lấn của họ đối với Đại Việt. Các cuộc xâm lấn ấy có quy mô lớn khi người Chiêm dựa được vào hoặc do các vương triều kẻ thù của Đại Việt liên minh, thúc ép.

Người đứng đầu các triều đại Tiền Lê và Lý ý thức đầy đủ về tình hình trên nên thường dùng biện pháp cứng rắn với vua Chiêm. Cuộc chinh phạt của Lê Đại Hành vào đất Chiêm năm 982 khi vua Chiêm ngang ngược bắt giữ sứ thần của triều đình Hoa Lư, các cuộc phạt Chiêm của Lý Thường Kiệt trong các năm 1069, 1103, v.v... khi quân Chiêm quấy nhiễu hoặc cướp phá vùng biên giới tỏ rõ sự chủ động chiến lược đó.

 Trên cơ sở “biết mình biết người”, các vương triều Tiền Lê - Lý đã chủ động xây dựng lực lượng và đề ra kế sách chống giặc thích hợp. Trong chống giặc Tống lần thứ nhất, Lê Hoàn đã chủ động bố trí lực lượng phòng thủ và kết hợp quân sự với ngoại giao để hoà hoãn tình hình, tranh thủ thời gian chuẩn bị kế hoạch chống giặc.

Từ tháng 10-980, nhận được thư vừa dụ hàng vừa đe doạ của Lư Đa Tốn, Lê Hoàn đã sai sứ sang Biện Kinh thác lời Đinh Toàn dâng biểu cầu xin nối ngôi vua cha để hoà hoãn. Tất nhiên nhà Tống không ưng thuận, lại cho Trương Tôn Quyền đem thư sang dụ:

“Họ Đinh truyền nối đã được ba đời, trẫm muốn cho Đinh Toàn làm thống soái, khanh làm phó. Nếu Đinh Toàn không đáng tướng tài, hãy còn tính khí trẻ con thì nên cho ngay mẹ con và thân thuộc y sang đây. Đợi khi vào chầu tất sẽ ban điển lễ ưu hậu. Khanh sẽ được trao cờ tiết và cây việt. Có hai đường đấy, khanh nên xét kỹ mà chọn lấy một” 2.

Lê Hoàn không trả lời. Bằng con đường ngoại giao, Lê Hoàn tranh thủ thời gian được hơn ba tháng, từ tháng 10-980 đến cuối tháng 1- 981, để chủ động bố trí quân phòng ngự ở các tuyến gần xa, dựng trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng, đắp thành Bình Lỗ để chặn giặc, bảo vệ kinh đô Hoa Lư.

Do có thời gian chủ động lập kế chống giặc nên khi quân Tống tràn vào bờ cõi chúng bị quân và dân Đại Cồ Việt đánh chặn ở cửa sông Bạch Đằng, ở Hoa Bộ, bị đánh bại ở Đồ Lỗ (vùng sông Lục Đầu), ở trận Lục Giang - Bình Lỗ, Tây Kết. Và đặc biệt Lê Hoàn đã chủ động lập kế trá hàng đánh lừa quân Tống để phá giặc trên sông Bạch Đằng, giết chết tướng Hầu Nhân Bảo tại trận, buộc giặc phải rút chạy về nước, giành thắng lợi hoàn toàn.

____________________________
1. Toàn thư, Sđd, t.2, tr, 77.
2. Cương mục. Sđd. t.1. tr.251.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #127 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 09:02:59 am »

Trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai, Lý Thường Kiệt sau khi đã nắm vững tình hình chuẩn bị xâm lược của địch đã chủ động thực hiện “tiên phát chế nhân”, xuất quân đánh phá các đồn trại của nhà Tống ở biên giới, từ hai cánh quân tràn vào đất Tống, tiến lên bao vây và tiến công Ung Châu.

Bị tiến công bất ngờ, quân Tống không kịp trở tay. Căn cứ hậu cần của địch ở Ung Châu và các đồn trại quân Tống ở biên giới bỉ san ‘phẳng. Từ chủ động tiến công kìm chế địch sau 42 ngày đêm trên đất Tống, Lý Thường Kiệt lại kịp thời rút quân về chủ động lập phòng tuyến sông Như Nguyệt, bố trí lực lượng chặn đánh thuỷ quân Tống ở Vĩnh An, Vân Đồn, ung dung sẵn sàng đợi giặc.

Đưa quân vào Đại Việt mặc dù có binh hùng tướng mạnh, nhưng giặc Tống từ chủ động tiến công xâm lược rơi vào thế bị động chống đỡ. Thuỷ quân bị đánh phá, kìm chân ở dòng Đông Kênh. Quân bộ bị chặn đứng bên tả ngạn sông Như Nguyệt.  Sau vài lần đưa quân vượt phòng tuyến nhằm tiến về Thăng Long bị thất bại, giặc Tống chỉ còn cách cố thủ chờ thuỷ quân một cách vô vọng.

Lý Thường Kiệt tổ chức tiến công vào bản doanh của Quách Quỳ, Triệu Tiết bên tả ngạn, đẩy giặc lâm vào thế khó khăn tuyệt vọng. Nắm bắt được tâm lý hoang mang với thế cùng của giặc, Lý Thường Kiệt lại chủ động đưa ra kế giảng hoà. Quách Quỳ, Triệu Tiết lại phải bị động rút quân về nước. Cuộc kháng chiến chống giặc Tống lần thứ hai thắng lợi hoàn toàn.

Qua hai cuộc kháng chiến chống Tống vào thời Tiền Lê và thời Lý, quân đội của quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt dưới sự chỉ đạo của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện sức mạnh vô địch trong chiến đấu giữ nước.

Qua quá trình tổ chức và hoạt động chống giặc, chiến lược biết mình biết người và chủ động xây dựng lực lượng, kế sách bảo vệ đất nước đã hình thành sắc nét. Ngay từ đầu chiến lược đó đã phát huy hiệu lực, đánh thắng giặc, bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước.

b) Kết hợp chặt chẽ, sáng tạo giữa tiến công và phòng ngự, phòng ngự và phản công.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Tống vào năm 981, Lê Hoàn cùng các tướng lĩnh đã tổ chức hệ thống phòng thủ nhiều lớp liên hoàn, trên cả đường bộ và đường sông ở hướng tiến đến kinh đô Hoa Lư. Đó là tuyến phòng thủ quanh Hoa Lư, gồm hệ thống đồn và thành (luỹ). Tuyến giữa gồm thành Bình Lỗ và nhiều đồn trại. Xa hơn là các đồn từ sông Kinh Thầy - Bạch Đằng đến biên giới Việt - Tống theo hướng Quảng Yên, Quảng Ninh ngày nay và từ cửa biển Thần Đầu vào đồn Công Trung, đến biên giới Việt - Chiêm.

Lê Hoàn còn sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng, lập trận địa ngăn cản địch. Những trận giao chiến lớn đã diễn ra ở Hoa Bộ - Bạch Đằng (1-981), Đồ Lỗ (2-981), Lục Giang (3-981) và trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng (4-981). Để có trận Bạch Đằng giành thắng lợi lớn vua Lê Đại Hành đã dùng kế trá hàng.

Bởi vậy, bên trong bí mật củng cố lực lượng, bài binh bố trận. phòng vệ cẩn mật; bên ngoài tạm án binh, nới vây hãm, giảm canh phòng. Mặt khác, nhà vua gửi thư từ thông điệp cho phía Tống dùng lời lẽ nhún nhường tỏ vẻ e sợ uy “thiên triều’, ngỏ lời cầu xin quy phụ để bảo toàn tính mạng...

Quả nhiên, quân Tống mắc mưu. Sử cũ chép “Lê Hoàn giả vờ xin hàng mà Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng cứ tưởng là thật”. Tuy nhiên để đối chọi và làm giảm thế mạnh ban đầu của quân Tống, thực hiện được kế trá hàng, quân đội Tiền Lê phải thực hành thế trận phòng ngự chiến lược trong thời gian trên dưới 70 ngày.

Thế trận phòng ngự chiến lược diễn ra xung quanh khu vực sông Bạch Đằng từ khoảng tháng 2 và đến tháng 4-981 mới tổ chức trận phản công giết được chủ tướng địch là Hầu Nhân Bảo, đánh tan lực lượng thuỷ quân và khiến quân bộ do Tôn Toàn Hưng chỉ huy tự tan, rút chạy.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #128 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 09:05:06 am »

Vậy là từ thế trận phòng ngự, nhà Tiền Lê đã thực hành nhiều trận đánh tiêu hao, tiêu diệt, làm giảm dần thế mạnh của địch. Những trận đó đạt được mục đích và tạo ra điều kiện thuận lợi, tạo ra thế chiến lược mới và thế trận mới để thực hiện phản công truy kích đuổi quân Tống ra khỏi bờ cõi.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược dưới triều Lý vào những năm 1075 đến 1077, tuy quy mô và diễn biến có khác, song về chiến lược quân sự cũng có nét tương đồng.

Đến năm 1075 nhà Tống đã hoàn tất việc chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Đại Việt. Thành Ung Châu (Quảng Tây) và hai cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu (Quảng Đông) đã trở thành căn cứ hậu cần và căn cứ quân sự sẵn sàng xuất phát tiến công. Giây cung đã căng lên mà mũi tên đã được đặt vào lẫy.

Trước thế uy hiếp của quân Tống. với tinh thần chủ động, tự tin. Lý Thường Kiệt nói: “Ngồi đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc” 1.

Quyết kế của Lý Thường Kiệt thể hiện rõ sự tự tin của ông và triều đình nhà Lý thể hiện rõ rằng công cuộc xây dựng đất nước, chăm lo binh bị và theo dõi động thái của đối phương đã được triển khai rất tốt.

Quyết kế ấy cũng tỏ ra triều Lý và quân dân ĐạI Việt có quyết tâm cao trong công cuộc bảo vệ nền độc lập, tự chủ. Quyết kế ấy thường được gọi là “tiên phát chế nhân”.

Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt chỉ huy đại quân bất ngờ tập kích vào các căn cứ quân sự, hậu cần của quân Tống ở Ung, Khâm, Liêm. Sau 42 ngày vây hãm và công phá, giải quyết được mục tiêu căn cứ xuất phát tiến công của đối phương, Lý Thường Kiệt thu quân về nước.

Hoạt động quân sự tiến công kể trên (có ý kiến xem như một chiến dịch tiến công) 2 nằm trong chiến lược tiến công (có tác giả coi đây là chiến lược phản công vì đối phương đang triển khai chiến lược tiến công) 3 của Lý Thường Kiệt. Điều đó không có gì mâu thuẫn vì thực chất của phản công là tiến công. 

Sau khi rút đại quân về nước, Lý Thường Kiệt cho bố trí các trận địa phòng ngự. Mặt đường thuỷ, ông cho đóng cọc dọc sông Đông Kênh và đặt thuỷ binh nhằm ngăn chặn việc hợp binh giữa quân thuỷ - bộ của địch. Mặt đường bộ, ông sử dụng quân các châu, động giáp miền biên ải và thượng du, bố trí chặn địch theo hướng đông - bắc: Quảng Nguyên (Cao Bằng), Hạ Liên - Cổ Động (Bắc Cạn), Giáp Khẩu (Chi Lăng), Tiên Yên, Đình Lập. v.v...

Đặc biệt, Lý Thường Kiệt tập trung lực lượng lập phòng tuyến Như Nguyệt (sông Cầu).  Dựa vào thế hiểm của sông - chướng ngại tự nhiên, tại bờ nam ông cho đóng cọc tre nhiều lớp làm dậu, dựng luỹ, đào hố đặt chông. . . Cấu trúc dựa vào thế thiên hiểm kết hợp với chướng ngại nhân tạo đó biến nơi đây thành một chiến tuyến có giá trị rất lớn về quân sự, có thể phòng ngự vững chắc đồng thời cũng có thể bố trí kín đáo đội dự bị chiến lược ở phía sau sẵn sàng chuyển sang tiến công.

Chiến tuyến Như Nguyệt kết hợp chặt chẽ với hệ thống thành quách, đồn ải ở phía bắc và lực lượng thuỷ binh trên sông Đông Kênh tạo thành một thế trận phòng ngự vừng chắc, có chiều sâu, thuỷ bộ hỗ trợ được cho nhau, trung du và đồng bằng chi viện được cho miền núi.

Cuối năm 1076, quân Tống vượt biên giới tiến công vào Vĩnh An và Quảng Nguyên, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Quân và dân Đại Việt dựa vào thế đất hiểm, các cửa ải và đồn trại bố trí từ trước, đánh trả mạnh mẽ. 

Đầu năm 1077, đại quân Tống ào ạt tiến sang đất ta. Chiến sự diễn ra quyết liệt ở Quảng Nguyên, Quyết Lý, Chi Lăng. . .  Vừa sử dụng lực lượng lớn tạo thế tiến công mạnh mẽ, vừa áp dụng kế ly gián nên tuy bị tổn thất lớn, quân Tống vẫn tiến tới bắc ngạn sông Cầu.

_____________________________
1. Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh, bản dịch, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960.
2,3. Xem: Nghiên cứu lịch sử, số 6 (177), tháng 11 và 12-1977.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #129 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 09:06:12 am »

Chặn được quân Tống bên bờ bắc sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt chủ động điều binh đánh địch. Đó là trận chặn quân Miêu Lý ở vùng Yên Phụ, Thuỷ Lôi (Đông Anh ngày nay). Bị tổn thất nặng, Miêu Lý thu tàn quân chạy thoát qua sông. Đây là thắng lợi mở màn của quân ta trên chiến tuyến sông Như Nguyệt.

Tiếp đó, chờ mãi không thấy thuỷ binh (trên thực tế đã bị ta chặn đứng ở ngoài bờ biển), quân Tống dùng bè tiến sang bờ nam. Quân Lý liên tiếp bẻ gãy các đợt tiến công của địch. Khả năng tiếp tục đột phá phòng tuyến quân ta không còn, phía sau vẫn thường xuyên bị nhân dân các dân tộc thiểu số, dân binh và các đội quân nhỏ của ta đánh lén, đánh vào lực lượng tiếp viện, quấy rối; kế hoạch hiệp đồng giữa bộ binh và thuỷ binh bị phá vỡ, Quách Quỳ rơi vào thế lúng túng, tiến lui đều khó. Quân Tống buộc phải chuyển hẳn sang phòng ngự bị động về chiến lược. Chiến lược tiến công đánh nhanh thắng nhanh của chúng thất bại hoàn toàn.

Sau khi làm cho địch không còn khả năng tiến công, phải co vào phòng ngự, Lý Thường Kiệt tổ chức những trận đánh lớn vào các cụm quân của chánh tướng Quách Quỳ và phó tướng Triệu Tiết ở bờ bắc sông Như Nguyệt. Cụm quân của Quách Quỳ bị tổn thất nặng, còn cụm quân Triệu Tiết “mười phần chết đến năm sáu”.

Theo cách nói hiện đại. với hai đòn đánh lớn kể trên, ta đã làm nhụt ý chí xâm lược của địch. Kế đó, Lý Thường Kiệt phái biện sĩ đến bản doanh Quách Quỳ đề nghị “giảng hoà”, kết thúc chiến tranh. 

Vậy là trong kháng chiến lần thứ hai, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy hiệp đồng ăn ý giữa lực lượng bộ binh và thuỷ binh, giữa tác chiến trên sông và sông biển, phá vỡ việc hợp binh giữa hai lực lượng này của địch, tạo ra thuận lợi cho chiến thắng sông Cầu.

Lần này cũng như cuộn chống Tống ở thời Tiền Lê các nhà cầm quân đã ý thức đầy đủ và thực hiện được việc phối hợp giữa quân triều đình, quân địa phương và dân binh, thổ binh các làng xã. động bản. Đó chính là một trong những nhân tố cơ bản khiến các ý định chiến lược kể trên có hiệu quả trong thực tiễn.

Ví như trong lần kháng chiến thứ hai, mũi tiến công trên bộ sang đất địch chủ yếu do quân địa phương đảm nhiệm, còn mũi đánh vào Khâm. Liêm do quân chủ lực của triều đình tiến hành. Hoặc như để các tuyến phòng thủ liên hoàn có chính diện rộng và chiều sâu lớn tạo thành thế hiểm, phát huy tác dụng mạnh mẽ phải có sự phối hợp tác chiến và hoạt động của mọi lực lượng, vừa bao vây, ngăn chặn phía trước, vừa dành nhỏ lẻ, quấy rối phía sau và khắp nơi mới đẩy quân địch vào thế khó khăn.

Trên tinh thần chủ động chiến lược, kết hợp tác chiến của cáe loài quân, kết hợp đánh nhỏ tiêu hao, cầm chân với đánh lớn tiêu diệt, tạo thời tạo thế phản công tiêu diệt địch là phương pháp tác chiến thích hợp, có hiệu quả trong cả hai lần kháng chiến chống Tống.

Một khía cạnh khác thuộc phạm trù chỉ đạo chiến tranh và cũng thuộc lĩnh vực chỉ đạo chiến lược quân sự đó là kết hợp giữa chiến đấu trên chiến trường với bàn bạc, thương lượng.

Suốt quá trình chiến tranh, cho đến trận Kháo Túc, quân Lý giành nhiều thắng lợi song cũng chịu tổn thất lớn. Lý Thường Kiệt cũng thấy rõ quân Tống bị tổn thất nặng, hết sức lúng túng, mỏi mệt. Nhân đó, Thường Kiệt chủ trương giảng hoà nhằm giảm bớt hy sinh, tổn thất và bảo vệ được tông miếu.

Đúng như đánh giá của Lý Thường Kiệt, sau thời gian dài tiến hành xâm lược, bị chặn lại ở bắc ngạn sông Cầu, gặp nhiều khó khăn, Quách Quỳ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Đánh tiếp thì khả năng bị tiêu hao, tiêu diệt đã rõ và mùa nắng đã tới gần, rút lui thì các mục tiêu chưa đạt. Chán chường và bị động khiến Quách Quỳ đã ra lệnh: “Ai bàn đánh sẽ chém”.

Ở tình thế như vậy, Quách Quỳ sẵn sàng nắm đầu gậy ngoại giao mà Lý Thường Kiệt đưa ra, chấp nhận điều kiện giảng hoà, rút quân về nước. Ở đây, cũng cần lưu ý gia thiết về thực chất chủ trương giảng hoà của Lý Thường Kiệt.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM