UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2009, 11:55:16 pm » |
|
Cùng với việc cày tịch điền của các nhà vua thời này, sử còn chép vào năm 1056 đời Lý Thánh Tông, nhà vua đã hạ ‘Chiếu khuyến nông” 1.
Trong sản xuất nông nghiệp, sau ruộng đất, nước là yếu tố hàng đầu đảm bảo cho năng suất cây trồng (nước, phân, cần, giống). Ở vị trí địa lý nhiệt đới gió mùa như nước ta vào các thế kỷ X - XIII, khí hậu không khác mấy so với ngày nay. Tương quan nhiệt ẩm với chỉ số khô hạn thấp (khoảng 1) là điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển 2.
Tuy nhiên nắng lắm, mưa nhiều cũng có những khó khăn, thường gây nên hạn hán và lũ lụt. Vì vậy từ rất sớm đê đập ngăn lũ và hệ thống tưới tiêu “mương phai lái lịn” đã xuất hiện. Vào thời này, tuy tài liệu hiếm hoi, nhưng ít nhất biên niên sử cũng cung cấp cho ta về việc đắp đê đã bắt đầu tiến hành vào năm 1077, đời vua Lý Nhân Tông: “mùa thu, tháng 9, đắp đê sông Như Nguyệt (tức sông Cầu) dài 67.380 bộ (= 134,760 km) 3 ; năm 1108 “mùa xuân, tháng 2, đắp đê ở phường Cư Xá” 4.
Cùng với việc đắp đê, hệ thống đập cũng đã được nhà nước quan tâm. Sách Việt sử lược cho biết, đời Lý Nhân Tông vào năm 1076 “mùa xuân, tháng 3, vua đi xem đập ngăn nước” 5 ; năm 1103 nhà vua lại “xuống chiếu cho trong ngoài thành đắp đê ngăn nước” 6; năm 1192 đời Lý Cao Tông lại khơi sông Tô Lịch, xây đê bằng đá 7.
Vào thời kỳ này, cùng với sự hiện diện phổ biến của nông cụ sắt, sức kéo bằng trâu bò là nguồn bổ sung rất lớn cho sức cơ bắp của con người. Sử chép rõ vào thời này “mấy nhà cày chung một con trâu” 8, và trâu bò được nhà nước đặc biệt quan tâm bảo vệ.
Sử chép vào thời các vua Lý Nhân Tông (1072-l128), Lý Anh Tông (1138-1175), nhà nước đã nhiều lần ra lệnh cấm giết trâu vào các năm 1117, 1123, 1143. Người giết trộm trâu cả vợ lẫn chồng đều bị phạt 80 trượng, tội đồ hàng xóm biết chuyện mà không tố giác cũng bị phạt 80 trượng . Sự quan tâm của nhà nước quân chủ thời này đến nông nghiệp cùng những hình thức cày tịch điền, chiếu khuyến nông, đắp đê, đập, bảo vệ sức kéo đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển với năng suất cao. Sử sách từng chép hiện tượng một gốc lúa chiêm có đến chín bông xuất hiện vào các năm 1032 đời Lý Thái Tổ và năm 1117 đời Lý Nhân Tông.
Nông nghiệp phát triển không chỉ cung cấp cho đời sống của dân. nuôi quân mà còn tạo được một nguồn dự trữ lương thực dồi dào. Người ta sẽ không khỏi băn khoăn về hiện tượng xảy ra sáu năm sau khi Lý Thái Tổ lên ngôi, tức vào năm 1016, nhà vua đã có thể xá thuế ba năm cho cả nước; năm 1017 xá tô ruộng; 1018 xá ½ tô ruộng; tha ½ tiền thuế vào năm 1044 đời vua Lý Thái Tông 9. Có thể giải thích rằng nguồn chi tiêu cho bộ máy nhà nước trong buổi đầu thời này chưa lớn lắm. Dầu sao hiện tượng tha tô thuế trên là một sự thực được sử sách ghi chép lại, ít nhất những thông tin trên cho phép ta hình dung được cảnh phồn thịnh của kinh tế nông nghiệp thời Lý. Đây là một cơ sở khá quan trọng để có được một lực lượng vũ trang hùng mạnh theo phương châm “quốc phú binh cường”, “thực túc binh cường” của quốc gia nông nghiệp Đại Việt.
__________________________ 1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 282; Cương mục, t.3, Sđd, tr.81. 2. Xem thêm Lê Bá Thảo - Thiên nhiên Việt Nam, Nxb. Khoa học ky thuật, Hà Nội, 1977, tr. 17-19. 3. Việt Sử lược . Sđd, tr . 112 . 4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.299. 5,6,7. Việt Sử lược, Sđd, tr.III, 121, 162. 8. Toàn thư, Sđd, t. 1, tr. 302, 307, 333, 334. 9. Toàn thư, Sđd, t.I, tí. 248, 249, 277.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 12:07:07 am » |
|
Thủ công nghiệp
Là đứa con song sinh với nông nghiệp và gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp, thủ công nghiệp ở nước ta xuất hiện từ khá sớm. Cho đến những thế kỷ đầu của thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài, nền thủ công nghiệp của quốc gia Đại Cồ Việt (thế kỷ X), rồi Đại Việt (từ 1054 trở đi thủ công nghiệp có điều kiện phát triển hơn.
Tuy nhiên tải liệu về thủ công nghiệp rất khan hiếm, không đủ để khôi phục lại diện mạo rất phong phú và sinh động của nó. Mặc dù vậy, bằng cách “lội ngược dòng”, tức từ những sản phẩm thủ công nhu cầu về thủ công được sử sách ghi chép. người ta có thể hình dung sự phong phú về ngành nghề và tinh xảo về kỹ thuật của nó.
Người ta đã từng nhìn nhận ở các trung tâm Cổ Loa, Hoa Lơ, Thăng Long thời này phần “đô” vẫn là hạt nhân. chiếm một vị trí khá lớn và giữ vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại. phát triển hoặc chuyển dời của nó. Mặc dù vậy. người ta cũng phải thừa nhận bên phần “đô” còn có phần “thị” với nhu cầu của thủ công nghiệp và trao dối phục vụ cho đời sống của trung tâm là rất lớn và có tác dụng kích thích đối với thủ công nghiệp.
Nếu như ở Cổ Loa, thủ công nghiệp hầu nhủ không để lại dấu vết cụ thể thì Hoa Lư, Thăng Long lại khác 1. Không còn nghi ngờ gì về sự tồn tại của một nền thủ công nghiệp phong phú ở Hoa Lư thời Đinh, Tiền Lê và ở Thăng Long thời Lý. Người ta có thể qua những di vật phát hiện được ở Hoa Lư Thăng Long để lập nên một danh mục về các nghề thủ công đương thời đã từng tập trung ở chốn đế đô.
Chỉ riêng ở kinh đô Hoa Lư đó là các ngành nghề: đục đá, thổ mộc qua viện đắp thành, xây cất cung điện, chùa chiền, kho tàng, đóng thuyền chiến . . . Nghề khai thác và chế biến kim loại quý hẳn đã phát triển qua việc dựng cột điện Bách bảo thiên tuế có dát vàng dát bạc, các lầu Đại Vân, điện Trường Xuân, điện Long Lộc lợp ngói bạc.
Để đúc nên hàng vạn mũi tên đồng, chế tạo nên mũ đầu mâu bằng kim loại, đúc tiền, rèn chiến cụ vũ khí trang bị cho quân đội thì nghề rèn đúc kim loại phải hiện diện phổ biến và đạt đến một trình độ khá hoàn thiện. Với nghề gạch, gốm người thợ thủ công thời bấy giờ đã có thể nung được các loại gạch, xây thành, làm cầu cống, lát đường và đặc biệt là các loại gạch có hoa văn đẹp, có hình đôi chim phượng mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Hoa Lư, ấy là chưa kể đến nghề gốm phục vụ cho đời sống hàng ngày qua các loại bát, đĩa, nồi, chum vại.
Nếu như nghề dệt từng cung cấp vải lụa cho các loại trang phục của nhà vua, quan lại, binh lính, nhân dân thì nghề đan lát bằng nguyên liệu mây, tre, nứa . . . các loại có từ lâu đời hẳn đã trở thành khá phổ biến ở mọi nơi. Bên cạnh việc cung cấp các mặt hàng thông dụng hàng ngày, nghề đan lát còn góp phần quan trọng trong phục vụ giao thông và chiến đấu trên sông nước qua việc chế tạo thuyền nan và đóng bè các loại.
Cùng với việc mở mang của đất nước, Thăng Long thời Lý đã hiện ra với hai khu vực rõ rệt. Đó là khu vực “đô” gồm các cấm tử thành, hoàng thành, và khu vực “thị” gồm 61 phố phường. Các ngành nghề đã xuất hiện ở Hoa Lư, đến đây hẳn là được phát triển vượt bậc để phục vụ cho việc xây dựng thành trì cung điện, chùa tháp, đúc chuông, tô tượng khá rầm rộ vào đầu thời Lý.
Việc xây cất ở Thăng Long trong buổi đầu này nhiều đến nỗi sử gia Lê Văn Hưu phải than phiền: “tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể ...” 2.
Bên cạnh tổ chức Cục Bách tác sản xuất các mặt hàng phục vụ cho đời sống khốn cung đình, các ngành nghề thủ công hiện diện phong phú ở Thăng Long đã thỏa mãn nhu cầu của nhiều tầng lớp nhân dân quy tụ sinh sống ở giữa phố phường. Riêng về ngành dệt, tại kinh đô Thăng Long đã dệt được gấm vóc, thay thế cho gấm vóc của nhà Tống. Sử chép vào năm 1040 “vua đã dạy cung nữ dệt được gấm vóc (. . . . .) , xuống chiếu phát hết gấm vóc của nước Tống ở trong kho ra để may áo cho các quan (. . . . .) để tỏ là vua không dùng gấm vóc của nước Tống nữa” 3 .
_____________________ 1. Nguyễn Doãn Tuân: Tìm hiểu lịch sử khu di tích Cổ Loa, luận án PTS khoa học lịch sử Hà Nội 1996, bản lưu tại Viện Sử học, tr. 81-83. 2. Toàn thư, Sđd, t.1. tr. 242. 3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 269.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 12:51:05 pm » |
|
Tình hình thủ công nghiệp ở các địa phương ra sao, ta không có tài liệu để khôi phục rõ nét. Riêng ở ngoại vi Thăng Long đã hình thành các phường thủ công chuyên nghiệp như dệt ở Trích Sài, Nghi Tàm, Nhược Công, giấy Hồ Khẩu, Yên Thái.
Việc chuyển đô từ Hoa Lư ra Thăng Long vào năm 1010 ghi nhận một bước phát triển mọi mặt của đất nước. Riêng về kinh tế thủ công nghiệp tuy có phong phú, đa dạng thêm các nghề, nhưng chắc hẳn vẫn còn kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp đang được mở mang thêm về diện tích canh tác cũng như về thâm canh tăng vụ.
Tình hình này còn tồn tại lâu dài. Đó là đặc điểm của thủ công nghiệp ở nước ta, đồng thời đó cũng là tác nhân khá quan trọng làm cho thủ công nghiệp không vượt khỏi hàng rào nông nghiệp để hình thành một ngành kinh tế độc lập, có sức mạnh từ thúc đẩy đến mở đường cho những bước phát triển đột biến của xã hội.
Thương nghiệp
Trong bối cảnh một nền sản xuất hàng hóa thủ công hạn hẹp đó, hoạt động thương nghiệp cũng diễn ra chậm chạp. Tiền tệ với tư cách là một vật ngang giá trong trao đổi ở thị trường cũng đã xuất hiện phổ biến trong thời kỳ này.
Thời Đinh có tiền Thái Bình, thời Lê Đại Hành có tiền Thiên Phúc trấn bảo. Sang thời Lý, tiền xuất hiện nhiều hơn. Các vua Lý Thái Tổ (lolo-l028) có tiền Thuận Thiên đại bảo; Lý Thái Tông 1028-1054 có các loại tiền Minh Đạo thông bảo, Càn Phù nguyên bảo; thời Lý Nhân Tông (1072 - li28) có tiền Thiên Phù nguyên bảo; đời Lý Thần Tông (1128 - 1138) có tiền Thiên Thuận thông bảo; đời Lý Anh Tông (1138-1175) có tiền Đại Đình thông bảo, Thiên Cảm thông bảo. Lý Cao Tông (l176-1210) có tiền Thiên Tư thông bảo, Trị Bình nguyên bảo, Trị Bình thông bảo 1.
Hiện tượng tiền tệ xuất hiện ngày một nhiều với mật độ dày đặc hơn cho phép nghĩ đến sự mở rộng của thị trường. Nếu như tình hình chợ búa ở Hoa Lư ra sao chưa rõ lắm, thì ở Thăng Long thời Lý, theo sử sách, đã có những chợ nổi tiếng: chợ Cửa Đông, chợ Tây Nhai, chợ Đông Tây, chợ Nam.
Tuy nhiên hoạt động thương nghiệp có được mở mang trên cơ sở nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp vào thời này thì nó vẫn mang tính chất nhỏ hẹp tự cấp, tự túc của một xã hội đang lấy công xã nông thôn làm cơ sở. Sở hữu ruộng đất tư nhân tuy đã có, nhưng phải từ thế kỷ XI mới xuất hiện phổ biến. Trong tình hình đó, việc trao đổi hàng hóa nhìn chung còn giới hạn ở từng địa phương nhỏ hẹp .
Đến như Thăng Long, mặc dù có nhiều phố phường với khu vực “thị”’ bên ngoài khu vực “đô” là thế, nhưng 61 phố phường vẫn mang tính chất hỗn hợp của cấu trúc xã hội nông nghiệp. Ở đây mối liên hệ giữa hoạt động nông - công - thương còn gắn bó chặt chẽ, lấy đơn vị gia đình làm cơ sở. Cái gọi là phố phường cũng chỉ là một biến thể theo phương thức chuyển dịch của làng, xã vào nơi đô hội. Mặt khác cũng cần nhìn nhận rõ vị trí thuận tiện trong giao lưu tiếp xúc của đất nước trong mối liên hệ với các quốc gia khác trong khu vực. Do đó, quan hệ trao đổi với nước ngoài, tuy còn hạn chế, nhưng cũng đã xuất hiện như một nhu cầu tất yếu.
Sử sách đã ghi lại mối quan hệ buôn bán với Trung Hoa tấp nập ở các chợ vùng biên xuất hiện dọc biên giới Việt-trung gọi là bạc dịch trường. Có thể kể đến các điểm buôn bán lớn thời này như: Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Tô Mậu, Hoành Sơn, Giang Đông để cho dân địa phương và cả phu thương phía Trung Hoa đến buôn bán, trao đổi hàng hóa.
______________ 1. Đỗ Văn Ninh: Tiền cổ thời Lý - Trần; Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số6 (189) tháng 11-12-1979.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 12:54:02 pm » |
|
Về các bạc dịch trường này, ông Hoàng Xuân Hãn đã nhận định: “trên những chỗ đường thông lộ lớn, qua biên giới, sự buôn bán khá thịnh và có tổ chức. Tống cũng như Lý, sợ người ngoài giả mạo vào buôn bán để do thám cho nên lúc thường, tuy cho đi lại thông thương, nhưng chỉ được tụ họp tại một nơi nhất định, gọi là bạc dịch trường” 1.
Cùng với các bạc dịch trường, thời Lý còn có trang Vân Đồn. Sử chép: “Vào năm Kỷ Tỵ (1149) mùa Xuân, tháng 2, thuyền buôn ba nước Trao Oa (Java - Indonêxia), Lộ Lạc (thuộc vùng Thái Lan?), Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú buôn bán bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương” 2. Sự xuất hiện của trang Vân Đồn, một mặt phản ánh mối quan hệ giao lưu thương mại giữa Đại Việt với các quốc gia trong khu vực, mặt khác cũng phản ánh tinh thần cảnh giác của Nhà nước Đại Việt.
Hẳn rằng nhà nước quân chủ thời này đã thấy được yêu cầu cần thiết phải thiết lập thông thương với các quốc gia lân cận. dù mới chỉ ]à bước đầu, giới hạn ở một số điểm vùng biên cũng như hải đảo. Đồng thời, nhà nước cũng ý thức rõ ràng về cảnh giác trước con mắt dòm ngó, hoạt động thăm dò nội tình của người nước ngoài, vì mục tiêu bao vệ độc lập chủ quyền của dân tộc.
Với việc thiết lập các bạc dịch trường, tụ điểm buôn bán ở ngoài đảo, nhà nước quân chủ thời Lý trong mở mang kinh tế thương mại đã kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ quốc phòng. Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp là những hoạt động kinh tế quan trọng nhằm xây dựng đất nước và đảm bảo, thỏa mãn nhu cầu đời sống thường nhật của cơ dân.
Trong bối cảnh của một quốc gia nông nghiệp tồn tại và phát triển không bình thường với quá trình lịch sử hàng thiên niên kỷ trước thế kỷ X, tiếp đến những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Đại Việt, các mặt hoạt động kinh tế diễn ra chậm chạp, lấy nông nghiệp làm cơ sở. Quan niệm “dĩ nông vi bản” (lấy nông làm gốc) về mặt ngôn từ là du nhập, phản ánh mặt tiếp thu hội nhập văn hóa nói chung, ngôn ngữ văn tự nói riêng.
Tuy nhiên, đó cũng là sản phẩm bản địa đính thực, là tư duy của một xã hội nông nghiệp đã hình thành và đúc kết dần từ buổi bình minh của lịch sử. Quan niệm này đã chi phối mọi hoạt động, sinh hoạt của từng cá nhân đến cả cộng đồng.
Cũng từ quan niệm này, các nhà nước quân chủ độc lập từ thế kỷ X đã đưa ra những chủ trương, chính sách và hoạt động cụ thể. Dù không đưa ra những văn bản giải thích, thuyết minh, hướng dẫn, nhưng bằng những hành động có tính chất chỉ đạo, nêu gương, hoặc bằng pháp luật người ta dễ dàng nhận ra các nhà nước quân chủ thời kỳ này đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp. Những tổ chức hoạt động công thương nghiệp xuất hiện nhiều từng tồn tại và mở mang từ bệ đỡ của nông nghiệp, nếu không muốn nói là bám chặt vào nông nghiệp.
Tất cả mọi hoạt động kinh tế của đất nước trong các thế kỷ này đều diễn ra trên cơ sở của một kết cấu ruộng đất còn tương đối đơn giản, trong đó sở hữu ruộng đất công do công xã quản lý và sử dụng còn chiếm ưu thế.
Hiển nhiên từ sau khi khôi phục được độc lập tự chủ, toàn bộ lãnh thổ, đất đai thuộc quyền quản lý của người đứng đầu Nhà nước Đại Cồ Việt rồi Đại Việt. “Đất vua” chính là khải niệm phản ánh sở hữu ruộng đất chung của nhà nước thời trung đại.
Tuy nhiên, người đứng đầu quốc gia là các nhà vua không trực tiếp quản lý, trừ một bộ phận nhỏ mà sử sách còn thép là “ruộng tịch điền”, “ruộng quốc khố”, còn lại tuyệt đại bộ phận ruộng đất do các công xã nông thôn quản lý, sử dụng và có nghĩa vụ phải nộp tô thuế cho nhà nước theo hình thức cống nạp.
____________________ 1. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, bản in lại của Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1994, tr. 7980. 2. Toàn thư, Sđd, i.l, tr. 337, 338.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 12:59:37 pm » |
|
Nói rõ hơn, chủ sở hữu danh nghĩa là thuộc nhà nước do nhà vua đứng đầu, còn trong thực tế là giao quyền cho công xã quản lý, phân phối sử dụng, lấy gia đình làm đơn vị sản xuất. Ruộng tư đã từng xuất hiện dưới thời Bắc thuộc với các điền trang của bọn quan lại đô hộ và một bộ phận giàu có người bản địa.
Hẳn rằng từ đầu thế kỷ X, theo chân bọn thống trị đô hộ, điền trang của chung bị quét sạch. Nhưng điền trang của thổ hào bản địa hoặc của người ngoại tộc đã Việt hóa thì sao? Hẳn nó còn tồn tại như những mảnh sót trong cái biển ruộng công mênh mông. Ta có thể hình dung về loại ruộng này qua các trường hợp Lê Lương, Dương Đình Nghệ ở châu Ái, qua trang trại của 12 sứ quân ở những vùng “có máu mặt” của đồng bằng châu thổ.
Mặt khác, với người nông dân công xã, ít nhất những mảnh vườn riêng, những diện tích khai phá còn ẩn lậu của họ là mầm mống đầu tiên của ruộng đất tơ hữu. Nhưng số ruộng đất sở hữu tơ nhân này chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong toàn bộ ruộng đất. Vào thế kỷ X, thời Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa có biểu hiện về tính năng động của loại sở hữu tư nhân trong kết cấu ruộng đất.
Tình hình này phải đợi đến hai thế kỷ sau, vào thời Lý Thần Tông (từ 1128 đến 1138), Lý Anh Tông (từ 1138 đến 1175) ruộng tư từ những mầm mống ban đầu đã phát triển thành vấn đề buộc nhà nước quân chủ quan tâm can thiệp.
Mở đầu cho hiện tượng này là việc xảy ra vào năm Mậu Thân (1128), vua Lý Thần Tông lên ngôi, hạ chiếu: “phàm dân có ruộng đất bị sung công cùng là bị tội phải làm điền nhi thì đều được tha cả” 1 . Ruộng đất bị sung công ở đây chính là ruộng tư mà chủ của nó bị tước quyền sở hữu. Qua thông tin này ta có thể nghĩ rằng ruộng tư hữu đã xuất hiện nhiều và được nhà nước quân chủ tôn trọng.
Cũng vào đời Thần Tông, năm Ất Mão (1135), nhà vua lại xuống chiếu: “Những người đã bán ruộng ao không được tăng tiền lên mà chuộc lại, làm trái thì phải tội” 2. Dường như tình hình mua bán, tranh chấp ruộng đất vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, gay gắt cho nên sau Thần Tông, tiếp đến Anh Tông vào năm Nhâm Tuất (1142) đã phải xuống chiếu quy định việc mua bán và chuộc ruộng đất như sau: "những người cầm đợ ruộng thục (tức ruộng đất đang canh tác) trong vòng 20 năm thì cho phép chuộc lại, việc tranh chấp ruộng đất trong vòng năm năm hay mười năm còn được tâu kiện. Ai có ruộng đất bỏ hoang bị người khác cày cấy trồng trọt trong vòng một năm thì được kiện mà nhận, quá hạn ấy thì cấm. Làm trái thì xử 80 trượng. Nếu tranh nhau ruộng mà lấy đồ binh khí nhọn sắc đánh chết hay làm bị thương người thì đánh 80 trượng, xử tội đồ, đem ruộng ao ấy trả lại cho người chết hay người bị thương”. . . “Những người bán đoạn ruộng hoang hay ruộng thục đã có văn khế rồi thì không được chuộc lại nữa, ai làm trái bị phạt đánh 80 trượng” 3.
Hai năm sau, vào năm Ất Sửu (1145), vua Lý Anh Tông lại xuống chiếu: “Những người tranh nhau ruộng ao của cải không được cậy nhà quyền thế làm trái thì đánh 80 trượng, xử tội đồ” 4.
Nếu như việc tranh chấp đi kèm với nó là mua bán ruộng đất giữa các cá nhân đã thành phổ biến vào đầu thế kỷ XII thì trước đó - thế kỷ X - XI chưa thấy sử ghi chép. Duy nhất có một hiện tượng, đó là trường hợp tranh nhau địa giới, thực chất là ruộng đất, xảy ra vào đầu thế kỷ XI. Nhưng việc tranh chấp này lại xảy ra giữa hai thôn Cổ Bi và Đàm Xá tức giữa hai cộng đồng công xã nông thôn, ở châu Ái (Thanh Hóa). Nhờ sự can thiệp của Lê Phụng Hiểu phần thắng thuộc về thôn Cổ Bi 5. Điều này nói lên ruộng đất vào lúc này còn thuộc quyền sở hữu chung, do làng xã, tức công xã nông thôn lệ thuộc, quản lý và sử dụng. Như vậy là từ thế kỷ XII trở đi, kết cấu ruộng đất đơn giản với sự thống trị của ruộng công bắt đầu có những rạn nứt lớn. Bên cạnh ruộng đất công, có một bộ phận cấu thành mới - ruộng tư, đã hiện diện đáng kể và tỏ ra năng động, buộc nhà nước quân chủ thời Lý phải quan tâm.
_______________________ 1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 314. 2. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 326. 3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 333. 4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 334. 5. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 253.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 01:01:34 pm » |
|
Hiển nhiên một khi thứ bất động sản có giá trị số một gắn liền với cuộc sống của cơ dân nông nghiệp, đồng thời là cơ sở của công, thương nghiệp, trở thành hàng hóa thì lập tức kéo theo đó sự phân hóa xã hội là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên trong bối cảnh phát triển ở một mức độ còn khiêm tốn của công thương nghiệp như đã trình bày, thì thứ hàng hóa bất động sản số một này có được nhà nước quan tâm tôn trọng, cũng vẫn tồn tại chưa phải với quy mô lớn trong xã hội.
Phải đợi đến thế kỷ XIII với việc nhà nước bán ruộng công cho dân, cho phép vương hầu quý tộc lập điền trang vào các năm 1254, 1266, thì một tầng lớp chủ sở hữu lớn về ruộng đất (địa chủ quý tộc và địa chủ bình dân) mới thực sự xuất hiện. Nhưng đó lại là tình hình của thời Trần.
2. Kết cấu xã hội
Bước vào thế kỷ X, xã hội của cộng đồng các dân tộc quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt tồn tại và phát triển trong một bối cảnh hoàn toàn khác. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc trước thế kỷ X, xã hội này tồn tại chủ yếu với hình thức co cụm lại trong các tụ điểm cơ dân nhỏ hẹp - công xã nông thôn - để khả dĩ đương đầu có hiệu quả đối với bộ máy thống trị ngoại bang.
Cho dù trong xã hội công xã lúc này đã có sự phân hóa nhất định, nhưng nhìn chung cả tầng lớp nắm quyền quản lý, cũng như tuyệt đại bộ phận người lao động đều bị dồn về một tuyến của người dân mất nước, chịu kiếp sống nô lệ. Đối lập với họ là một tuyến khác gồm các quan lại phương Bắc cũng như bản địa, nắm quyền thống trị ở các cấp châu, quận, huyện. Nói rõ hơn quan đô hộ và dân bị đô hộ là hai tầng lớp xã hội rõ rệt.
Quan - một thiểu số nắm quyền lực cai trị và bóc lột; dân - tuyệt đại đa số trong xã hội. Tất nhiên kết cấu này không hoàn toàn ngừng đọng trong hơn một thiên mền kỷ thời Bắc thuộc. Trong quá trình vận động của xã hội cũng như trong quá trình tích tụ quyền lực và tài sản, tầng lớp giàu có ngoại tộc cũng như bản địa đã xuất hiện, có thể là các chủ trang trại mà ta thấy bóng dáng của họ ở tầng lớp quan, đầu mục, hào trưởng với số lượng biết được còn đếm trên đầu ngón tay vào những thế kỷ cuối thời Bắc thuộc.
Trên cơ sở này từ thế kỷ X trở đi, với việc khôi phục, bảo vệ độc lập tự chủ, phục hưng đất nước, xã hội Đại Cồ Việt - Đại Việt vận động phát triển trong điều kiện thuận lợi. Mọi dồn nén, áp đặt, cưỡng bức từ phía bọn đô hộ đã được tháo gỡ.
Tuy nhiên, trên cơ sở một nền kinh tế nông, công, thương nghiệp như đã trình bày, không phải một sớm một chiều đã có thể tạo nên những biến động lớn trong kết cấu xã hội. Nếu như về chính trị, thế kỷ X là một bước ngoặt lớn từ bị nô dịch đến độc lập tự chủ, thì về kết cấu xã hội cũng như về kinh tế, trong giới hạn của nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn đương thời là một bước tịnh tiến có mang ít nhiều tính đảo lộn.
Nhìn chung, trong bối cảnh giành đại được và bảo vệ thành công nền độc lập tự chủ vào thời này, điều trước hết là bài học lịch sử của hơn một ngàn năm chống đô hộ cho thấy mối gắn kết cả cộng đồng thành một khối là điều kiện tiên quyết cho mọi thắng lợi. Vấn đề không chỉ là suy lý, mà được rút ra từ thực tế qua những sự kiện, hiện tượng lịch sử phong phú, sinh động. Không phải không có cơ sở khi người ta nói nhiều đến một xã hội đơn giản với nhà nước thô phác, mộc mạc, dân dã ở thời kỳ này.
Nhưng dầu sao với sự ra đời của bộ máy nhà nước độc lập tự chủ, thì xã hội cũng được phân chia thành hai tầng lớp rõ rệt. Đó là tầng lớp cầm quyền quản lý đất nước mọi mặt và tầng lớp lao động nuôi sống xã hội nói chung và chịu sự quản lý của tầng lớp cầm quyền.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 01:02:24 pm » |
|
Tuy nhiên ở đây có sự khác biệt về chất trong kết cấu xã hội thời kỳ đang xem xét với xã hội thời Bắc thuộc. Các tầng lớp xã hội - nắm quyền quản lý và chịu sự quản lý - đều đứng cùng một tuyến. Họ đều là chủ nhân thực sự của đất nước.
Lịch sử đã chứng minh họ cùng xây dựng đất nước thành công và bảo vệ đất nước thắng lợi. Như đã trình bày, xã hội này tồn tại trên cơ sở kinh tế nông nghiệp với kết cấu ruộng đất công thuộc quyền sở hữu của nhà nước, giao cho công xã - hương giáp trực tiếp quản lý, phân phối và sử dụng.
Sẽ không thấy được tính đa dạng, phức tạp của một xã hội đang vận động và phát triển mạnh mẽ ở thời kỳ này nếu chỉ dừng ìại ở nhìn nhận một cách đơn giản về kết cấu xã hội như trên.
Do đó, một vấn đề thứ hai cần được quan tâm khi đề cập đến xã hội thời Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý, từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII. Đó là vấn đề xác định hướng xây dựng và phát triển xã hội sau khi giành được độc lập tự chủ từ tay kẻ thù đô hộ.
Hẳn rằng quá trình vận động của lịch sử đòi hỏi không thể dậm chân mãi ở một xã hội nông nghiệp với những mảnh rời rạc của các công xã nông thôn, liên minh công xã, hầu như tự trị, tự quản ở thời kỳ bị đô hộ. Sau khi lật đổ ách thống trị của ngoại bang, con đường đặt ra trước mắt là phải khôi phục, xây dựng và củng cố một nhà nước độc lập tự chủ có nguồn gốc từ thời Văn Lang - Âu Lạc.
Thế kỷ X là thế kỷ mò mẫm thử nghiệm đi đến định hướng cho một nhà nước quân chủ do nhà vua đứng đầu kể từ Ngô quyền xưng vương tiếp đến Đinh Bộ Lĩnh xưng đế. Lịch sử đã chứng minh việc định hướng, lựa chọn này là phù hợp và tỏ ra có tính ưu việt của nó.
Cho dù chế độ quân chủ với bộ máy nhà nước thời đó eòn đơn giản, thô phác, nghĩa là còn mang tính chất của một bộ máy quản lý tự trị của công xã mở rộng trên phạm vi cả nước thì cũng đã có sự phân chia xã hội thành hai tầng lớp thống trị và bị trị, mặc dù đều đứng cùng một tuyến như đã trình bày.
Tầng lớp thống trị ở đây bao gồm đội ngũ cầm quyền gồm vua, quý tộc và quan lại các cấp. Còn lại hầu hết là nông dân bao gồm một số ít chủ sở hữu ruộng đất, nông dân công xã, gia nô, nô tỳ... là những người lao động nuôi sống mình và nuôi sống dội ngũ cầm quyền phi sản xuất.
Còn lại phải kể đến một tầng lớp trung gian mà vai trò của họ còn in khá đậm trong lịch sử thời Kỳ này. Đó là tầng lớp tăng lử xuất hiện từ thời Đinh, nho sĩ các loại chứ yếu xuất hiện từ thời Lý. Họ xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau và phục vụ đời sống tinh thần, văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng cho xã hội.
Một phác hoạ về kết cấu xã hội gồm ba tầng lớp như trên mới chỉ là nhận thức trên những nét lớn. Thực ra xã hội thời này cũng không đơn giản hoàn toàn khuôn vào cái khung cứng nhắc như vậy.
Ngay trong tầng lớp thống trị cũng ngày một phân cấp mạnh mẽ: vua. quý tộc, quan lại. không chỉ về danh phận, chức vụ mà còn đi kèm với quyền lực và cả về lợi ích hưởng thụ. Tầng lớp bị trị cũng vậy.
Sự xuất hiện của hàng hoá bất động sản ruộng đất cùng với tình hình mở mang của nông công Thương nghiệt theo thời gian đã có tác động phân chia cộng đồng xã hội của những người bị trị này thành những “cấu kiện” riêng biệt. Cho đến tầng lớp trung gian cũng không tránh khỏi tình trạng phân hóa.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 01:19:38 pm » |
|
Sự phát triển và vai trò độc tôn của Phật giáo suốt thời này sự tiếp thụ và bước đầu đặt cơ sở cho Nho giáo thâm nhập vào thế kỷ XI thời Lý cũng đã đem lại cho tầng lớp này một biến động không ngừng trong các môi trường hoạt động: chính trị, văn hóa xã hội, đời sống tâm linh của họ. Quá trình vận hành lịch sù từ đầu thế kỷ X cho đến đầu thế kỷ XIII đồng thời cũng là quá trình phân hoá dẫn đến bộ mặt sinh động của xã hội theo hướng phát triển phức tạp và đa dạng hơn. Chúng ta lần lượt tìm hiểu sâu về các tầng lớp cơ bản trên.
Vua - quan
Tuy được xếp chung vào tầng lớp thống trì nhưng thực ra ở đây gồm hai bộ phận rõ rệt. Đó là vua, quý tộc bao gồm hoàng tử. công chúa, phò mã thân tộc của nhà vua, và tầng lớp quan lại các cấp thu nhận thêm từ nguồn phì tông thất, tức từ tầng lớp bình dân.
Kết cấu này xem ra cũng tựa hồ là kết cấu chung của tầng lớl thống trị trong lịch sử thời trung đại ở nước ta. chứng thực ra ở thời này nó có nhiều điểm khác so với các thời kỳ sau.
Vua thì thời nào cũng vậy. là người đứng đầu thiên hạ, cầm đầu bộ máy nhà nước. Nhúng vua và tiếp đến quý tộc thời kỳ này cũng mang những nét khác biệt. Trước hết về nguồn gốc các bậc vua mở đầu vương triều, kể cả thời “tiết độ sứ”, đều xuất thân từ nghiệp võ.
Đó là Ngô Quyền - bộ tướng đồng thời là con rể của họ Dương, Đinh Bộ Lĩnh - người cầm đầu đội quân dẹp loạn; Lê Hoàn là Thập đạo tướng quân của vương triều Đinh: Lý Công Uẩn là Thân vệ tướng quân điện tiền chỉ huy sứ thời Lê Long Đỉnh. Đó là các vua sáng nghiệp, còn các vua kế nghiệp thì chính bản thân nhà vua cũng trực tiếp tham gia dẹp loạn và chống giặc. Nghĩa là họ cũng thạo về binh nghiệp.
Nguồn gốc võ tướng và binh nghiệp của các vua thời này từng khiến người ta nghĩ đến vai trò của các thủ lĩnh quân sự từng xuất hiện ở thời kỳ thị tộc bộ lạc. Từ thế kỷ X trở đi, cái gọi là chất “thủ lĩnh quân sự” của các bậc đế vương chỉ phản ánh nhu cầu của một thời mà hoạt động quân sự xuất hiện với một tần số cao, nhằm giành lại nền độc lập dân tộc, xây dựng và củng cố một nhà nước quân chủ tập quyền, tổ chức chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc còn nổi lên hàng đầu.
Đó là bối cảnh của một xã hội đòi hỏi phải có những hoạt động quân sự mạnh mẽ với vai trò của binh nghiệp. Vào thời này xã hội đã tiến được một bước dài. Quyền lực của các bậc đế vương không chỉ tồn tại và dựa hoàn toàn vào uy tín cá nhân, vào tài năng quân sự của cá nhân như các thủ lĩnh thời thị tộc, bộ lạc. Sự tồn tại của quyền lực đế vương còn phải có sự hỗ trợ của tổ chức bộ máy nhà nước cùng với pháp luật, dù còn dân dã như thời Đinh hoặc đã thành văn bản như Hình thư thời Lý. Tóm lại, quyền lực đế vương phải dựa vào sức mạnh của bạo lực.
Mặt khác, ta thấy rất rõ vào thời kỳ này, các vua cũng mang danh thiên tử, nhưng trong đời thường họ còn rất dân dã. Giữa nhà vua và dân chưa dựng lên một bức tường ngăn cách đến khủng khiếp. Nhà vua còn trực tiếp cầm quân tham gia dẹp loạn, chống giặc, cày ruộng, dự lễ hội. . . Nói đến mối quan tâm gần gũi với dân của các bậc đế vương thời này, người ta không thể không nhắc tới một số trường hợp điển hình có ý nghĩa hướng dẫn hành vi đầy lòng nhân ái thân dân của các vua Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông và lời trăng trối của Lý Nhân Tông.
Sử chép vào năm Thuận Thiên thứ 3 (1012), vua Lý Thái Tổ đã làm cung Long Đức ở ngoại thành cho Khai Thiên vương Phật Mã ở với mục đích cho thái tử hiểu biết được mọi việc của dân 1. Chính Thái tử Phật Mã khi nối ngôi tức Lý Thái Tông, đã đặt lầu chuông ở hai bên sân rồng vào năm 1029 để cho dân chúng ai có việc oan uổng thì đánh chuông để nhà vua trực tiếp xem xét 2. Việc làm này còn được vua kế nghiệp là Lý Thánh Tông lặp lại vào năm Nhâm Thìn (1052) “đúc chuông lớn để ở Long Trì, cho dân ai có oan ức gì không được bày tỏ thì đánh chuông ấy để tâu lên” 3.
____________________________ 1. Toàn thư, Sđd, 1.1, tr. 244. 1. Toàn thư, t.l, Sđd, tr. 259. 2. Toàn thư, t.l. Sđd, tr.279.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 09:37:04 pm » |
|
Sử Còn chép, vừa mới lên ngôi, vua Lý Thánh Tông vào năm ất Mùi (1055) nhân trời rét, nói với cáo quan tả, hữu rằng: “Trẫm ở trong cung, nào lò sưởi ngự, nào áo lót hồ cầu còn rét như thế này, nghĩ đến người tù giam trong ngục khổ sở về gông cùm, chưa biết rõ ngay gian mà ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa” 1.
Lại vào năm Giáp Thìn (1065) nhân lúc xử kiện ở điện Thiên Khánh có công chúa Động Thiên đứng hầu, vua Lý Thánh Tông chỉ vào công chúa bảo với lại ngục rằng: "ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm” 2 .
Nếu như Lý Thánh Tông (từ 1054 - 1072) bắt đầu đế nghiệp của mình đã nghĩ đến các việc làm khoan thư đối với dân thì Lý Nhân Tông (1072 - 1128) lại khác. Đời làm vua gồm 56 năm, ông đã được tôi luyện, trưởng thành và lập được kỳ tích phá Tống, bình Chiêm. Ông từng được sử chép là “sáng suốt thần võ trí tuệ hiếu nhân, thần giúp người theo . . . . dân được giàu đông, mình được thái bình, là vua giỏi của triều Lý " 3.
Ấy vậy mà trước lúc lâm chung, nhà vua để di chiếu khi ai tốn tự nhận, ta: . . . “Ta ít đức không lấy gì cho trăm họ được yên, đến khi chết lại khiến cho thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế làm cho lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào?.... Việc tang thì chỉ ba ngày bỏ áo trở nên thôi thương khóc, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh tiên đế” 4.
Lời trăng trối này được vua Lý Thần Tông kế vị thực hiện. Việc làm này bị sử gia Lê Văn Hưu, thế kỷ XIII, đem quan điểm lễ giáo Nho giáo phê phán: “Con nhỏ lên ba tuổi rồi mới rời khỏi lòng ôm ẵm, mới khỏi [gọi là] mất mẹ, cho nên từ thiên tử cho đến dân thường, tuy sang hèn khác nhau mà tình thương nhớ ba năm thì là một (....). Thần Tông còn nhỏ tuổi, bề tôi trong triều cũng lấy việc để tang ngắn làm may, không ai có một lời nói đến. Có thể bảo là trong triều không có người vậy” 5.
Việc phê phán của Lê Văn Hưu càng cho ta một ý niệm rõ ràng về tính “dân dã”, “thuần phác” của các vua thời Lý.
Có thể kể thêm ví dụ điển hình về hành vi thuộc loại quan tâm đến dân của bậc thái hậu. Cũng vào thời Lý Nhân Tông, năm Quý Mùi (1103), trước tình hình trong dân gian có nhiều người phải bán mình đi ở đợ đến nỗi không có vợ, có chồng, Thái hậu Linh Nhân (mẹ Lý Nhân Tông) phát tiền ở kho nội phủ để chuộc lại rồi gả chồng cho họ 6. Sử thần Ngô Sĩ Liên đã bình việc làm này: “Thái hậu đổi đời cho họ cũng là việc làm nhân chính vậy”.
Hãy khoan nói đến cái “từ bi bác ái” của nhà Phật đã in đậm trong nhân sinh quan thời này, chỉ xét về mặt gắn bó giữa tầng lớp cầm quyền với dân chúng, thì hiện tượng trên quả là hiếm thất có thể nói là không còn ở các vua chúa sau này.
Tuy nhiên sẽ là sai lầm cực đoan khi quá nhấn mạnh đến tính thân dân của tầng lớp vua chúa, quý tộc thời này mà bỏ qua bức tường rào, dù chưa phải đã kiên cố, ngăn cách giữa tầng lớp thống trị và bị trì đã thực sự xuất hiện dể ngày càng rõ nét cùng với sự phân hoá xã hội.
Riêng về trang phục, sự phân biệt giữa vua quan không phải đợi đến thời Lý, mà ngay từ thế kỷ X, theo sử sách thời Ngô quyền đã có quy định về triều nghi phẩm phục. Cho đến đầu thế kỷ XI, thời Lê Long Đỉnh vào năm 1006 đã “đổi lại quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống 7.
____________________ 1. Toàn thư, t.1. Sđd, tr.279. 2,3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 284, 288. 4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 312. 5. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.313. 6. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.298. 7. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 232, 335.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 09:40:41 pm » |
|
Vua Lý Anh Tông vào năm 1145 có lệnh “cấm các thợ bách tác không được làm đồ dùng theo kiểu nhà nước tự tiện bán cho dân gian” 1. Đến như Lý Nhân Tông là ông vua anh minh, võ công văn trị rạng rỡ, cho đến lúc qua đời còn ôm mối lo “không lấy gì làm cho trăm họ được yên”, nhưng cũng là ông vua rất có ý thức tạo nên một sự cách biệt trong sinh hoạt của dân với các tầng lớp trên. Sử chép năm Đinh Sửu (1097) “cấm dân bách tính không được xây nhà ngói, làm thuyền lớn”, hoặc năm Kỷ Mão (1099) “cấm phụ nữ ở kinh thành không được bắt chước lối ăn mặc trong cung”.
Về phương diện kinh tế qua sử sách, một bức tranh hiện ra tuy mờ nhạt nhưng cũng đủ để phân rõ các mảng mầu đen trắng phản ánh lợi ích của tầng lớp thống trị so với trăm họ.
Như đã trình bày, với một quốc gia nông nghiệp, công thương nghiệp yếu ớt ở thời kỳ đang đề cập tới thì ruộng đất và hoa lợi sinh ra từ ruộng đất là nguồn lợi kinh tế cơ bản để nuôi sống xã hội và xây dựng đất nước. Thời Ngôi Đinh, Tiền Lê, toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước thể hiện qua tô thuế mà các công xã phải nộp cho nhà nước. Tổ chức thu nạp thuế thời này ra sao sử không chép, từ thời Lý trở đi, có chép đôi điều.
Sử chép vào năm Quý Sửu (1013), tức bốn năm sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã quy định về thuế khóa trong nước, chia làm sáu loại như sau:
1- Ao hồ, ruộng đất,
2- Tiền và thóc về bãi dâu,
3- Sản vật ở núi nguồn các phiên trấn,
4- Cáo quan ải xét hỏi về mắm muối,
5- Sừng tê, ngà voi, hương liệu của người Man Lão,
6- Các thứ gỗ và hoa quả ở đầu nguồn.
Tất cả đều đặt rõ lệ ngạch để đánh thuế. . . Cho các vương hầu, công chúa được quản các thứ thuế theo thứ bậc khác nhau 2. Rất có thể đây là một hình thức chuyển tiếp trong việc thu thuế ở buổi đầu của thời kỳ này. Ta biết thời Tiền Lê, Lê Hoàn đã phong vương cho 11 người con và chia nhau đi quản giữ các nơi. Điều đó cũng có nghĩa là họ được quyền quản lý và hưởng quyền lợi từ nhân tài, vật lực ở địa phương được phân bổ.
Sang thời Lý, nhà nước cũng quy định như trên, có nghĩa là vương hầu công chúa được quyền trơng thu các loại thuế và nộp lại cho nhà nước theo một tỷ lệ nhất định. Dù dưới hình thức nào thì vương hầu quý tộc vẫn là người được chia sẻ phần tô thuế mà cộng đồng công xã phải nộp dưới hình thức cống nạp.
Dường như tình hình này không kéo dài bao lâu. Bởi vì vào năm 1042, đời Lý Thái Tông, sử có chép đến một loại quan lại thu thuế với phép “hoành đầu”, cho phép được hưởng không quá 1/10 tổng số nhập kho 3. Và vào năm 1092 đời Lý Nhân Tông mới thực sự lập sổ ruộng gọi là “điền tịch”, thu thuế mỗi mẫu ba thăng 4. Qua nguồn thông tin trên, ta có thể nhận định được rằng vào thời Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý, trong tầng lớp thống trị, vua, quý tộc, tông thất tạo thành một khối, là hạt nhân của bộ máy nhà nước quân chủ. Họ chia nhau trách nhiệm và quyền lợi trong những thế kỷ đầu của quốc gia Đại Việt.
Cái tính chất quý tộc cũng như ý thức thân dân của bộ máy nhà nước quân chủ thời này còn tỏ ra ưu việt và phát huy hiệu lực trong dựng nước và giữ nước ở vài thế kỷ sau thuộc nửa đầu thời Trần.
Cuối cùng, trong đội ngũ tham gia cầm quyền, quản dân, giữ nước thời này ta còn phải kể đến tầng lớp quản lý cấp cơ sở. Có nhiều khả năng ở thời kỳ này cầm đầu cấp cơ sở, giữ nhiệm vụ cầu nối giữa dân công xã lệ thuộc với nhà nước là các bậc bô lão đạo cao đức trọng, có nhiều kinh nghiệm và do đó có uy tín trong dân chúng và được nhà nước giao phó trách nhiệm quản lý làng xã. Tình hình này cũng chỉ là sự kế thừa chế độ tự quản và phát huy truyền thống trọng lão, lão quyền vốn có trong công xã.
Cho đến đầu thời Trần ta mới thấy nhà nước đặt chức xã quan vào năm 1242, tức bên cạnh bộ phận quản lý cổ truyền, nhà nước quân chủ đã đặt một bộ phận nắm quyền lực do nhà nước cắt cử. Trong tình hình đó người ta dễ dàng nhận thấy ở cấp cơ sở, hay nói rõ hơn là đội ngũ nắm quyền ở cấp cơ sở thời này (từ thế kỷ X - đầu XIII) thật sự là của dân, từ dân mà ra. Chính họ có vai trò quan trọng trong việc gắn bó bộ máy cầm quyền nói không với cộng đồng dân chúng chịu sự quản lý của một bộ máy nhà nước quân chủ còn thô phác.
______________________ 1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 232, 335. 2. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 245. 3.4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 271, 296.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
|